Để tồn tại và phát triển, Xi măng KiệnKhê phải tìm mọi cách để vươn lên, đứng vững trong cuộc cạnh tranh.Thực tế hoạt động trong thời gian qua của Công ty cổ phần Xi măng KiệnKhê cho thấ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-BÙI VĂN HOÀNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-BÙI VĂN HOÀNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các kết quảnghiên cứu trong luận văn là xác thực và chưa từng được công bố trong kỳ bất côngtrình nào khác trước đó
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia HàNội, học viên đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Nhà trường và quýthầy, cô giáo Đặc biệt học viên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS LêThị Anh Vân - người đã tận tình hướng dẫn và giúp cho học viên hoàn thành đượcbản Luận văn Thạc sĩ kinh tế này
Học viên xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến Ban Giám đốc Công ty cổ phần
Xi măng Kiện Khê, các anh/chị đồng nghiệp đã nhiệt tình hỗ trợ thông tin, góp ý vàcác phân tích sâu sắc những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trân trọng!
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH VẼ iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 4
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 7
1.2.1 Cạnh tranh của doanh nghiệp 7
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
2.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN 32
2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
Chương 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ 34
3.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ 34
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 34
3.1.2 Ngành, nghề kinh doanh chính của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 35
3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 35
3.2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ 39
3.2.1 Thực trạng môi trường cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 39
3.2.2 Kết quả cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 48
3.2.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 53
Trang 63.2.4 Sử dụng mô hình phân tích năng lực cạnh tranh trong sản xuất vật liệu
xây dựng của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 78
3.3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ 81
3.3.1 Điểm mạnh trong năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 81
3.3.2 Điểm yếu và nguyên nhân của điểm yếu trong năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 82
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ 85
4.1 ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ ĐẾN NĂM 2020 85
4.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG KIỆN KHÊ 86
4.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực tài chính 86
4.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 90
4.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ 93
4.2.4 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản lý doanh nghiệp 94
4.2.5 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm 96
4.2.6 Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách giá 98
4.2.7 Nhóm giải pháp hoàn thiện kênh phân phối và dịch vụ kèm theo 100
4.2.8 Nhóm giải pháp cải thiện thương hiệu 104
4.2.9 Nhóm giải pháp khác 106
4.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 107
4.3.1 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước 107
4.3.2 Kiến nghị đối với Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam 109
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CBCNV Cán bộ công nhân viên
2 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
3 CTCP Công ty cổ phần
4 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
5 HĐQT Hội đồng quản trị
6 NLCT Năng lực cạnh tranh
7 ROA Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản
8 ROE Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn
chủ sở hữu
9 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
10 UBND Ủy ban nhân dân
11 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 1.2 Bảng mẫu ma trận hình ảnh cạnh tranh 30
3 Bảng 3.1 Dự báo nhu cầu xi măng của Việt Nam đến năm 2030 39
4 Bảng 3.2 Thị phần các doanh nghiệp xi măng trên địa bàn tỉnh Hà
5 Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng thị phần của các doanh nghiệp xi măng
6 Bảng 3.4 Tổng hợp báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty
cổ phần Xi măng Kiện Khê giai đoạn 2012-2014 51
8 Bảng 3.5
So sánh một số chỉ tiêu về tài chính của Công ty cổ phần Ximăng Kiện Khê và một số đối thủ cạnh tranh giai đoạn2011-2014
54
9 Bảng 3.6 Cơ cấu lao động và thu nhập bình quân của người lao động
tại Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê giai đoạn 2011-2014 59
10 Bảng 3.7 Cơ cấu lao động theo cấp bậc của Công ty cổ phần Xi măng
11 Bảng 3.8 So sánh nguồn nhân lực của Công ty cổ phần Xi măng Kiện
Khê với các doanh nghiệp cạnh tranh năm 2014 61
12 Bảng 3.9 Danh mục các máy móc thiết bị phục vụ sản xuất của CTCP
Xi măng Kiện Khê tính đến 31/12/2014 65
13 Bảng 3.10 Công nghệ sản xuất xi măng của một số doanh nghiệp cạnh
14 Bảng 3.11 Bố trí lao động theo quy trình làm việc 68
15 Bảng 3.12 Tiêu chuẩn chất lượng xi măng PCB 30 của CTCP XM
16 Bảng 3.13 Tiêu chuẩn chất lượng xi măng PCB 40 và PC 40 của CTCP
Trang 917 Bảng 3.14 So sánh chất lượng sản phẩm xi măng của CTCP Xi măng
Kiện Khê với các doanh nghiệp cạnh tranh 72
18 Bảng 3.15 Giá các sản phẩm xi măng của CTCP Xi măng Kiện Khê
với các doanh nghiệp cạnh tranh (trên thị trường miền Bắc) 73
19 Bảng 3.16 Tổng hợp kết quả khảo sát sự hài lòng của khách hàng đối với
sản phẩm xi măng của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 77
21 Bảng 3.18 Ma trận hình ảnh cạnh tranh - 2014 80
DANH MỤC HÌNH VẼ
1 Hình 2.1 Khung lý thuyết nghiên cứu luận văn 33
2 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê 36
3 Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng GDP và nhu cầu tiêu thụ xi măng
ở Việt Nam giai đoạn 2005-2013 40
4 Hình 3.3 Sản lượng xi măng, sắt thép Việt Nam giai đoạn
52
8 Hình 3.7 Cơ cấu lao động của CTCPXi măng Kiện Khê giai đoạn
9 Hình 3.8 Cơ cấu lao động theo cấp bậc CTCP Xi măng Kiện Khê 60
10 Hình 3.9 Năng suất lao động của CTCP Xi măng Kiện Khê và 62
Trang 10các doanh nghiệp cạnh tranh giai đoạn 2011-2014
11 Hình 3.10 Quy trình sản xuất xi măng tại CTCP Xi măng Kiện
12 Hình 3.11 Sơ đồ kênh phân phối sản phẩm của CTCP Xi măng
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coicạnh tranh là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là yếu tố quan trọnglàm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải sảnxuất và cung cấp sản phẩm mà thị trường cần để đáp ứng nhu cầu ngày càng đadạng và phong phú của người tiêu dùng Trong quá trình cạnh tranh doanh nghiệpcần khẳng định vị trí và uy tín của mình trên thương trường
Hiện nay, với chính sách ngày càng thông thoáng, môi trường đầu tư ở ViệtNam ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tếđược tự do phát triển Không chỉ có các doanh nghiệp trong nước mà ngày càng cónhiều các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh tạiViệt Nam Điều đó đặt tất cả các doanh nghiệp trong một môi trường cạnh tranh đầyphức tạp và rủi ro Hình thái và tính chất của cạnh tranh đang có sự thay đổi rõ rệt.Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa doanh nghiệp trongnước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giữa các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài với nhau, giữa các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam với cácdoanh nghiệp các nước trong khu vực Trong điều kiện tự do hoá thương mại, cạnhtranh giữa các doanh nghiệp, về bản chất, là cuộc đua tranh giành giật thị phần Để
có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp buộc phải áp dụng hàng loạt các giảipháp như đổi mới công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất, mở rộng thị phần vv đểnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong những năm vừa qua, với sự mở cửa của nền kinh tế, đầu tư nước ngoài
ồ ạt vào Việt Nam ở mọi lĩnh vực, trong đó có sản xuất và tiêu thụ xi măng, một vậtliệu xây dựng đang có nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Lĩnh vực này đangdiễn ra cuộc cạnh tranh với quy mô và cường độ ngày càng tăng Ngành sản xuất ximăng Việt Nam đã và đang chấp nhận sự cạnh tranh quyết liệt giữa một bên là cácCông ty xi măng của Việt Nam, một bên là các liên doanh nước ngoài tại Việt Nam
Trang 12và rộng hơn nữa là ngành xi măng của các nước trong khu vực Trong những nămqua, do chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước, đầu tư nước ngoài vào lĩnh vựcsản xuất và tiêu thụ xi măng ở Việt Nam ngày càng gia tăng Thêm vào đó, lượng ximăng nhập khẩu từ bên ngoài vào nước ta bằng mọi con đường đã làm cho cuộccạnh tranh trong lĩnh vực này trở nên nóng bỏng và gay gắt Công ty cổ phần Ximăng Kiện Khê cũng nằm trong trào lưu đó Để tồn tại và phát triển, Xi măng KiệnKhê phải tìm mọi cách để vươn lên, đứng vững trong cuộc cạnh tranh.
Thực tế hoạt động trong thời gian qua của Công ty cổ phần Xi măng KiệnKhê cho thấy sự nỗ lực của Ban lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ công nhân viêntrong việc đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, hoàn thiện sản phẩm nhằmtăng cường năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường Tuy nhiên, với sức épcạnh tranh ngày càng lớn từ phía các đối thủ cạnh tranh, hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty đã và đang cho thấy những hạn chế, yếu kém Điều này thể hiện
ở doanh thu và lợi nhuận sau thuế của công ty trong giai đoạn 2012-2014 có sựgiảm sút lớn Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm kiếm giải pháp nâng cao năng lựccạnh tranh là yêu cầu cấp thiết nhằm cải thiện tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê trong thời gian tới
Chính vì những lý do đó, cùng với mong muốn đóng góp một phần sức lựcvào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong thời gian tới, học viên
mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
Xi măng Kiện Khê ” làm đối tượng nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
2 Câu hỏi nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu luận văn tập trung vào việc trả lời câu hỏi: Công ty cổphần Xi măng Kiện Khê cần thực hiện những giải pháp nào để nâng cao căng lựccạnh tranh của mình trong thời gian tới?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê Để đạt đượcmục đích đó, luận văn xác định một số nhiệm vụ cụ thể sau đây trong quá trình
Trang 13nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Ximăng Kiện Khê trong giai đoạn 2011-2014
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổphần Xi măng Kiện Khê trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Nghiên cứu những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh củaCông ty cổ phần Xi măng Kiện Khê
+ Về không gian: Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê
+ Về thời gian: Số liệu được thu thập, xử lý và phân tích trong giai đoạn2011-2014; các giải pháp được đề xuất đến năm 2020
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu.
Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi
măng Kiện Khê
Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty cổ phần Xi măng Kiện Khê
Trang 14Chương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
ra một số nghiên cứu sau:
- Sách tham khảo: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay”, do TS Nguyễn Hữu Thắng chủ biên,
Viện quản lý kinh tế - Học viện chính trị Quốc gia Hà Nội, 2008
Cuốn sách này đã làm rõ các vấn đề:
+ Một số vấn đề lý luận chung về NLCT của doanh nghiệp trong kinh tế thịtrường và hội nhập kinh tế hiện nay
+ Thực trạng doanh nghiệp và NLCT của doanh nghiệp Việt Nam
+ Một số quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao NLCT của doanhnghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Sách “Chính sách kinh tế và NLCT của doanh nghiệp”, do TS Đinh Thị
Nga chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011
Trang 15- Sách: “Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO”, PGS.TS Vũ Văn Phúc chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011
Cuốn sách phản ánh thực trạng NLCT của doanh nghiệp Việt Nam sau 5năm gia nhập WTO qua nhiều cách tiếp cận theo ngành, theo lĩnh vực, theo loạihình doanh nghiệp Đây là một thời gian không quá dài nhưng cũng đủ để đánh giásức mạnh nội lực của các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngàycàng gay gắt, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp, kiến nghị và bài học kinhnghiệm để giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao NLCT một cách lành mạnh vàbền vững
Phần I: Những vấn đề chung
Phần II: Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhậpWTO - Thực trạng, giải pháp, kiến nghị
Phần III: Kinh nghiệm từ thực tiễn
- Bài viết: “Nâng cao NLCT của doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập số
2(12) -tháng 1-2/2012
Bài viết này đã chỉ rõ bản chất của cạnh tranh là tối đa hoá lợi nhuận Cạnhtranh kinh tế ở cả 3 cấp độ: nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm Năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp và sản phẩm “kiến tạo”nên NLCT của nền kinh tế Năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp đã được đề cập nhiều song hiện vẫn còn chưa có sựthống nhất cao, bởi: nói đến NLCT là cần xem xét điều kiện, bối cảnh phát triển đấtnước trong từng thời kỳ cụ thể, đồng thời NLCT phải thể hiện khả năng “đuatranh”, “tranh giành”giữa các doanh nghiệp và phải thể hiện bằng phương thức haycách thức cạnh tranh phù hợp Tác giả cũng chỉ rõ cần phải nghiên cứu cạnh tranhdiễn ra cả ở trong lĩnh vực sản xuất lẫn trong lĩnh vực trao đổi và trên thị trường
- Bài viết: “Khủng hoảng kinh tế - Cơ hội nâng cao NLCT của doanh nghiệp”TS Lê Chí Hiếu.
Trong bài viết này, tác giả đã chỉ rõ: doanh nghiệp Việt Nam là một lựclượng còn rất non trẻ, chỉ mới thực sự xuất hiện trong hơn 30 năm gần đây nhờ vào
Trang 16chính sách đổi mới của Nhà nước Bởi vậy, doanh nghiệp Việt Nam có những đặcđiểm như những thiếu niên mới chập chững bước ra thế giới cạnh tranh kinh tế thìphải đương đầu ngay với sóng gió, giông bão của biển khơi trong quá trình hộinhập, chưa kể những tàn phá khủng khiếp của các đợt khủng hoảng kinh tế tài chínhđang xảy ra
Tuy nhiên vấn đề nào cũng có tính 2 mặt, khủng hoảng vừa là thách thứcnhưng cũng chính là cơ hội để các doanh nghiệp thay đổi, tồn tại và phát triển Cầnbiết phát huy điểm mạnh và chủ động cải cách, tái cơ cấu lại bộ máy, sửa đổi khắcphục các yếu kém; thay đổi để thích nghi với môi trường mới giúp doanh nghiệp tồntại, vượt qua khủng hoảng và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Trong đó,các doanh nghiệp trong nước cần chú trọng 4 vấn đề lớn sau: nguồn vốn, công nghệ,nguồn nhân lực và các giá trị vô hình
- Bài viết: “Phân tích một số yếu tố cấu thành NLCT của doanh
nghiệp”-ThS Ngô Thanh Hoa bộ môn Quản trị kinh doanh khoa Vận tải - Kinh tế trườngĐại học Giao thông vận tải
- Bên cạnh đó, có rất nhiều tác giả chọn đề tài NLCT làm đối tượng nghiêncứu luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Trong đó, có thể kể ra những công trình sau:
+ Luận án tiến sĩ của Ngô Thị Tuyết Mai năm 2007: Nâng cao sức cạnh
tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Quang Trung: Nâng cao NLCT của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Bắc Giang từ năm 2006 - 2010.
+ Luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Thị Thanh Hòa: Nâng cao NLCT của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Các công trình trên đã tiếp cận NLCT với những góc độ và cấp độ khác nhauđồng thời làm rõ phần nào lý luận và thực tiễn NLCT và nâng cao NLCT của doanhnghiệp nói chung và năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ cụ thể của doanhnghiệp Tuy nhiên cho đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu về nâng cao NLCTcủa Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê
Trang 171.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh có nhiều cách hiểu khác nhau Xét một cách khái quát
và dễ hiểu, cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân haycác nhóm, các loài vì mục đích giành sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa
vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay các thứ khác Xét trên cấp độ doanh nghiệp,cạnh tranh là sự cố gắng chiếm lấy nhiều thị phần về doanh nghiệp mình từ các đốithủ cạnh tranh Cạnh tranh là yếu tố tất yếu khách quan trong kinh doanh nhằm đàothải những thành viên yếu kém trên thị trường, giữ lại những thành viên có nănglực Nhờ có cạnh tranh mà các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng, đổimới sản phẩm, đa dạng hóa dịch vụ nhằm mang lại sự hài lòng cho khách hàng.Cạnh tranh chính là môi trường, là động lực của sự phát triển xã hội
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.
Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Theo quan điểm của Diễn đàn OECD (2000) thì: Cạnh tranh được hiểu là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế,
ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủđoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình Mặc dù còn có thể dẫn ra nhiều cáchdiễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể rút
Trang 18ra những nét chung về cạnh tranh:
Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một
nhóm) người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự Cạnhtranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà
các bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án haymột thị trường, một khách hàng ) với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc
chung mà các bên tham gia buộc phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường,các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh…
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, những chủ thể tham gia cạnh tranh có thể
sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩmdịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêuthụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); dịch vụ bán hàng, hình thức thanh toán …
Qua đó, có thể khái quát khái niệm cạnh tranh như sau:
Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh, tìm mọi biện pháp, phương thức và
các cách thức tiến hành với mục đích là giành được sự tồn tại, khẳng định được ưu thế, hơn hẳn đối thủ, nhà cung cấp khác về lợi thế, kết quả, danh tiếng, lợi nhuận, địa vị hay những thứ khác mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Như vậy, công cụ cạnh tranh được nhắc đến như là những yếu tố tối quantrọng trong cạnh tranh của doanh nghiệp Điều này khẳng định, để đạt được mụctiêu sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải chú trọng hoàn thiện các công cụcạnh tranh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
1.2.1.2 Phân loại cạnh tranh
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và dựa vào các căn cứ khác nhau, cạnh tranh
có thể được phân loại theo nhiều phương pháp khác nhau Trong luận văn, tác giảchỉ đề cập đến một số phương pháp có liên quan đến nội dung đề tài, những phươngpháp đó là:
Trang 19- Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế hay mục tiêu kinh tế của chủ thể:
+ Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất,
cung ứng dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỷsuất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư ban đầu Cạnh tranh giữa các ngành dẫnđến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất nên vốnđầu tư sẽ chuyển từ ngành ít lợi nhuận hơn sang ngành có thể thu được nhiều lợinhuận hơn Sau một thời gian nhất định, việc di chuyển dòng đầu tư theo khả năngsinh lời cao hơn sẽ hình thành sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuấttrong nền kinh tế quốc dân
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng
sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hay cùng cung ứng một loại dịch vụ nào đó.Loại cạnh tranh này dẫn đến việc hình thành giá cả thị trường đồng nhất đối vớihàng hoá, dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá và dịch vụ đó
- Căn cứ vào phạm vi địa lý có cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế:
Cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay trên thị trường nội địa, đó là cạnh giữa hàngnhập khẩu và hàng thay thế nhập khẩu Trong hình thức cạnh tranh này, các yếu tố nhưchất lượng sản phẩm tốt, giá bán thấp, thời gian đưa hàng hoá ra thị trường đúng thờiđiểm và điều kiện dịch vụ bảo hành, sửa chữa tốt là mối quan tâm hàng đầu
- Căn cứ theo cấp độ có cạnh tranh quốc gia, ngành/công ty và sản phẩm:
+ Cạnh tranh ở cấp độ quốc gia thường được phân tích theo quan điểm tổng
thể, chú trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và thể hiện vai trò của chính phủ
Theo Uỷ ban Cạnh tranh Công nghiệp của Mỹ thì “Cạnh tranh đối với mộtquốc gia là mức độ mà ở đó, dưới điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thểsản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế,đồng thời duy trì và nâng cao được thu nhập thực tế của người dân nước đó”
Các chủ thể kinh tế ở đây là các quốc gia do vậy đều quan tâm đến các vấn
đề kinh tế-xã hội trên cơ sở tận dụng những điều kiện trong nước và quốc tế Tuynhiên chủ thể liên quan trực tiếp đến cạnh tranh quốc tế là các doanh nghiệp
+ Cạnh tranh ở cấp độ ngành: Theo quan niệm cạnh tranh dựa trên yếu tố
Trang 20năng suất toàn bộ, một ngành công nghiệp được coi là cạnh tranh khi mức độ yếu tốnăng suất toàn bộ bằng hoặc cao hơn mức nào đó của đối thủ cạnh tranh
+ Cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm: Có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh
tranh ở cấp độ sản phẩm, tuy nhiên đều có điểm chung là nghiên cứu cạnh tranh ởcấp độ vi mô
Theo Keinosuke Ono và Tatsuyuki (2001), “Sản phẩm cạnh tranh tốt là sảnphẩm hội tụ đủ các yếu tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ trong vàsau khi bán hàng Trong đó yếu tố quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm”
Chính vì vậy, sản phẩm cạnh tranh phải là những sản phẩm đem lại giá trịtăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình chứkhông phải lựa chọn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh không phảimang tính chất nhất thời mà là một quá trình thường xuyên, liên tục của các doanhnghiệp trong tiến trình phát triển
1.2.1.3 Vai trò của cạnh tranh
a) Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường:
Cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế hàng hoá, đảm bảo tự
do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hình thức sở hữu, sử dụng có hiệu quảnhất các nguồn lực xã hội Trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trườngquốc tế nói riêng, các doanh nghiệp luôn đưa ra các biện pháp tích cực và sáng tạonhằm đứng vững trên thị trường và sau đó tăng khả năng cạnh tranh của mình Đểđạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng tạo ra nhiều ưu thế cho sảnphẩm của mình và từ đó có thể đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận
b) Cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của khoa học - công nghệ:
Để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừngnghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanhnhờ đó mà tình hình sản xuất của đất nước được phát triển, năng suất lao động đượcnâng cao Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nước
sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có thể lựa chọn được
Trang 21những sản phẩm có chất lượng và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu.
c) Cạnh tranh sẽ tạo ra những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng:
Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thực sự thì các doanh nghiệp mới có sựđầu tư nhằm nâng cao sự cạnh tranh và nhờ đó sản phẩm hàng hoá ngày càng được
đa dạng hơn, phong phú hơn, có chất lượng cao hơn và đáp ứng tốt hơn những yêucầu của người tiêu dùng trong xã hội Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàngtrong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình Nhữnglợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao nhờ có các dịch vụtrước, trong và sau khi bán hàng, được quan tâm nhiều hơn Đây là những lợi íchlàm người tiêu dùng có được từ cạnh tranh
Khi sản tiến hành xuất kinh doanh một sản phẩm, hàng hoá nào đó, lợi
nhuận mà doanh nghiệp thu được được xác định như sau:
Pr = P.Q - C.Q
Trong đó: Pr: Lợi nhuận của doanh nghiệp; P: Giá bán hàng hoá; Q: Lượng
hàng hoá bán được; C: Chi phí một đơn vị hàng hoá
Như vậy để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có các cách như: tăng giábán P, tăng lượng bán Q, giảm chi phí C và để làm được những việc này doanhnghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trường bằng cách áp dụng cácthành tựu khoa học công nghệ, các phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại nhằmtạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp và tốn ít chi phí nhất Bên cạnh đó,các doanh nghiệp phải có những chiến lược Marketing thích hợp nhằm quảng bá sảnphẩm, hàng hoá của mình tới khách hàng giúp họ có thể nắm bắt được sự có mặtcủa những hàng hoá đó và những đặc tính, tính chất, giá trị và những dịch vụ kèmtheo của chúng
Cạnh tranh bao giờ cũng mang tính sống còn, gay gắt và nó còn gay gắt hơnkhi cạnh tranh trên thị trường quốc tế Hiện nay thị trường quốc tế có nhiều doanhnghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ramột sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép các doanh nghiệp hành động theo
Trang 22ý muốn của mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc thúc đẩy khả năng
cạnh tranh của mình theo hai xu hướng: Tăng chất lượng của sản phẩm và hạ chi phí sản xuất Những điều này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia, các nguồn
lực sẽ được tận dụng triệt để cho sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật của đất nước
sẽ không ngừng được cải thiện
Như vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợpmột cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội Tuy nhiên, trong cuộccạnh tranh khốc liệt này không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lợi Nhưng cạnhtranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế các doanh nghiệp làm ănthua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực xã hội bằng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả,nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển
Tóm lại, cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc
gia cũng như của từng doanh nghiệp
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Hiện nay do chưa có một sự thống nhất về cách tiếp cận các khía cạnh củacạnh tranh nên cách hiểu về khái niệm năng lực cạnh tranh cũng khác nhau Thuậtngữ năng lực cạnh tranh đang được sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh chungcho tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia… Khả năng cạnh tranh gọi lànăng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh
Vì vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận và thị phần về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường Khi xem xét khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp
trong điều kiện hội nhập quốc tế cần tính đến tiềm năng sản xuất một mặt hàng cóchất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giáphổ biến trên thị trường thế giới mà không có trợ cấp
Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những
năm 1990 Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và
Trang 23giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”.
Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranhcủa Vương quốc Anh” (1994) Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đưa
ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác” Tuy
nhiên, khái niệm NLCT đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủtất cả những yêu cầu của khách hàng Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhậnbiết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có đểđáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bêntrong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếucủa doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị,
Qua đó, có thể khái quát khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tận
dụng các lợi thế so sánh, đặc biệt là tận dụng các lợi thế khác biệt của một số yếu
tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong những điều kiện nhất định để duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp được coi là tốt hơn doanh nghiệp khácnếu xét về mặt tổng thể doanh nghiệp đạt các kết quả kinh doanh tài chính (như
Trang 24doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, doanh số bán hàng…) hay các kết quả phitài chính (văn hóa doanh nghiệp, sự gắn bó đoàn kết, hình ảnh doanh nghiệp đối với
xã hội, vị thế, thương hiệu) cao hơn doanh nghiệp khác và có thể nói là cao hơnmức trung bình chung của các doanh nghiệp khác
Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không có nghĩa là chỉtăng cường các yếu tố làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn đưa
ra các giải pháp làm giảm hoặc loại bỏ các yếu tố tác động bất lợi tác động đến nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp và đồng thời nâng cao hoặc bổ sung các yếu tốnâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.2.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Do định hướng phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp của Nhà nước:
Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ nỗ lực phát huy những kết quả đạt được; rasức khắc phục những hạn chế, yếu kém; thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải phápnâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế thành công, phát triển nhanh vàbền vững, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu như: Bảo đảm tăng cườngtính ổn định của kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát tốt hơn; điều hành lãi suất, tỷ giátheo tín hiệu thị trường; tăng dự trữ ngoại tệ; v.v
Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng,hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo tháo gỡcác khó khăn, vướng mắc, tạo mọi điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp trong vàngoài nước có thêm thuận lợi để phát triển Những quan điểm, định hướng pháttriển hết sức tích cực này của Chính phủ trong thời gian tới chính là cơ hội pháttriển, cơ hội cải thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh của tất cả doanh nghiệp trongnền kinh tế
- Do tác động của hội nhập kinh tế quốc tế:
Trong điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, để tồn tại và đứngvững trên thị trường các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh gay gắt với không chỉvới các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các Công ty, Tập đoànxuyên quốc gia Quá trình cạnh tranh sẽ đào thải các doanh nghiệp không đủ năng
Trang 25lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường Do vậy các doanh nghiệp phải đi sâunghiên cứu thị trường, phát hiện ra những nhu cầu mới của khách hàng để qua đó cóthể lựa chọn phương án phù hợp với năng lực kinh doanh của doanh nghiệp để đáp ứngnhu cầu khách hàng Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hộinhập là điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Do tâm lý khách hàng:
Khách hàng là những người quyết định sự tồn tại hay diệt vong của mộtdoanh nghiệp Do đó, làm hài lòng khách hàng luôn là mục tiêu phấn đấu của cácdoanh nghiệp trên thị trường Tuy nhiên, tâm lý của khách hàng thường rất đa dạng,
nó phụ thuộc vào đặc điểm của các loại hàng hóa, dịch vụ, phụ thuộc vào giới tính,
độ tuổi, yếu tố địa lý, v.v… Doanh nghiệp cần cung cấp sản phẩm, dịch vụ phù hợpvới tâm lý của khách hàng, và điều quan trọng hơn là phải làm khách hàng thỏa mãnhơn so với việc tiêu dùng hàng hóa của các doanh nghiệp khác Làm được điều đócũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
1.2.2.3 Những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
a) Năng lực tài chính
Tài chính là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp nói chung, của doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất nguyên vậtliệu xây dựng nói riêng Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, vốn không chỉ đầu tư để trang trải các hao phí trả lương nhân viên mà còndùng để trang bị mua sắm cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm nguyên vật liệu phục
vụ sản xuất kinh doanh Có thể khẳng định, một doanh nghiệp mạnh là một doanhnghiệp có tiềm lực tài chính cao Vì vậy trong quá trình hoạt động của mình, doanhnghiệp phải có biện pháp quản lý vốn, quay vòng vốn một cách linh hoạt sao chovốn ban đầu đó được thu hồi nhanh và có khả năng sinh lời lớn nhất Việc bảo toàn
và phát triển vốn là một đòi hỏi cấp thiết của mỗi doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhucầu ngày càng cao của khách hàng, phản ứng tốt với sự cạnh tranh từ phía đối thủ,tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong quá trình hội nhậpkinh tế khu vực và thế giới của đất nước
Trang 26Về mặt định lượng, năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở các chỉtiêu nguồn vốn, tài sản; năng lực quản lý tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở cácchỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, các chỉ tiêu ROA (Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản),ROE (Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu), cổ tức, v.v…
Đối với các doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất nguyên vật liệu xây dựngthì lao động là một yếu tố đầu vào quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp Bởi vì chính con người là chủ thể tiến hành mọi hoạt động sản xuất,kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp có 2loại lao động: lao động gián tiếp và lao động trực tiếp
Lao động gián tiếp bao gồm: giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp, trưởng
các phòng chức năng, trưởng các bộ phận tác nghiệp và các quản trị viên
Lao động trực tiếp: Lao động trực tiếp gồm những người trực tiếp tiến hành
hoạt động sản xuất, kinh doanh hay trực tiếp thực hiện các công việc nhất định
Việc xác định số lượng và chất lượng lao động để bố trí sử dụng hợp lý gópphần quan trọng vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việc quản lý sử dụnglao động cũng như việc phân bổ tổ chức lao động hợp lý sẽ kích thích khả năngsáng tạo của người lao động, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt độngsản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
c) Năng lực cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ
Năng lực cơ sở vật chất, kỹ thuật và trình độ công nghệ thể hiện ở tình trạng
Trang 27văn phòng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và công nghệ, đây là một yếu tố có ảnhhưởng một cách sâu sắc đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nó là yếu tố vậtchất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của mỗi doanh nghiệp và tácđộng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến giá thành và giá bán sản phẩm
Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra sảnphẩm ngắn, tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạtcao, chất lượng sản phẩm tốt, ít gây ô nhiễm môi trường
Ngày nay, các doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất nguyên vật liệu xâydựng cần lựa chọn công nghệ thích hợp, nắm bắt được chu kì sống của công nghệ,thời gian hoàn vốn của công nghệ phải ngắn, đào tạo đội ngũ nhân viên có đủ trình
độ để điều khiển và kiểm soát công nghệ nhằm phát huy tối đa năng suất thiết kếcủa công nghệ Do đó, năng lực nghiên cứu phát minh và các phương thức giữ gìn
bí quyết là yếu tố quan trọng tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Ngày nay,các doanh nghiệp đều có xu hướng thành lập các phòng thí nghiệm, nghiên cứungay tại doanh nghiệp; đề ra các chính sách hấp dẫn để thu hút người tài làm việccho doanh nghiệp và tạo môi trường thuận lợi cho từng người lao động phát huysáng kiến cá nhân trong công việc của họ
d) Năng lực quản lý doanh nghiệp
Quản lý, theo định nghĩa chung nhất, là sự tác động có ý thức của chủ thểquản lý lên đối tượng quản lý, nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xãhội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp vớiquy luật khách quan Lĩnh vực khai khoáng và sản xuất nguyên vật liệu xây dựng làlĩnh vực nhạy cảm Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này được quyết định bởi
sự linh hoạt của các nhà quản lý doanh nghiệp để đáp ứng nhanh với biến động củathị trường Sự linh hoạt này sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sảnxuất, kinh doanh của doanh nghiệp
+ Trình độ của đội ngũ lãnh đạo: Các tiêu chí để đánh giá là trình độ chuyên
môn, năng lực quản lý, mức độ chuyên nghiệp, tư tưởng, chính trị, đạo đức của độingũ lãnh đạo
Trang 28+ Sáng kiến, cải tiến, đổi mới được ứng dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh: Các tổ chức đánh giá quốc tế thường sử dụng tiêu chí này để đánh giá năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tiêu chí này có thể chia thành các nhóm tiêu chí
phụ là: nhóm sáng kiến, nhóm cải tiến và nhóm đổi mới Trong mỗi nhóm lại phân
ra các bậc số lượng và bậc chất lượng Từng doanh nghiệp tùy điều kiện cụ thể màvận dụng Có thể phân bậc theo số tuyệt đối các sáng kiến, cải tiến, đổi mới, hoặctheo tỷ lệ giữa số sáng kiến, cải tiến, đổi mới với tổng số công nhân viên, cán bộtoàn doanh nghiệp
e) Chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Theo TCVN 5814: Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hoặc các quátrình (Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng - Thuật ngữ và định nghĩa -TCVN 6814-1994)
Cũng theo TCVN 5814-1994 trên cơ sở tiêu chuẩn ISO-9000 đã đưa ra định
nghĩa: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn Như vậy,
“khả năng thỏa mãn nhu cầu” là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá chất lượng sảnphẩm
Thông thường, người ta rất dễ chấp nhận ý tưởng cho rằng cải tiến và nângcao chất lượng sản phẩm là phải tập trung cải tiến và nâng cao đặc tính kỹ thuật, sựhoàn thiện của sản phẩm Song muốn thật sự được người tiêu dùng tín nhiệm, thìcùng với sản phẩm tốt, doanh nghiệp còn phải thực hiện một loạt dịch vụ cần thiếtkhác như: bảo hành, hướng dẫn sử dụng, bảo dưỡng kỹ thuật định kỳ và các dịch vụphụ trợ khác
Chất lượng sản phẩm phải thể hiện thông qua các yếu tố sau:
- Sự hoàn thiện của sản phẩm: đây là yếu tố để giúp chúng ta phân biệt sảnphẩm này với sản phẩm khác, yếu tố này thường thể hiện thông qua các tiêu chuẩn
mà nó đạt được
- Giá cả: thể hiện chi phí để sản xuất (mua) sản phẩm và chi phí để khai thác
và sử dụng nó Người ta thường gọi đây là giá để thỏa mãn nhu cầu
Trang 29- Sự kịp thời, thể hiện cả về chất lượng và thời gian
- Phù hợp với các điều kiện tiêu dùng cụ thể: sản phẩm chỉ có thể được coi làchất lượng khi phù hợp với điều kiện tiêu dùng cụ thể Doanh nghiệp phải đặc biệtchú ý đặc tính này khi tung sản phẩm vào các thị trường khác nhau để đảm bảothành công trong kinh doanh
Quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ là sự sống còn của các doanh nghiệptrong nền kinh tế thị trường Trong cuộc chiến thương trường có nhiều loại vũ khícạnh tranh: chất lượng, giá cả, các hoạt động xúc tiến, dịch vụ bán hàng… nhưng xuhướng của sự phát triển tất yếu là yếu tố chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngày càngtrở thành vũ khí cạnh tranh hàng đầu, là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và pháttriển bền vững
f) Giá cả của sản phẩm, dịch vụ
Giá cả được coi là yếu tố cơ bản phản ánh năng lực cạnh tranh của sản phẩmtrên thị trường Doanh nghiệp được coi là là có sức cạnh tranh và có thể đứng vữngcùng các doanh nghiệp khác (ở trong nước và ngoài nước) khi doanh nghiệp đó cóthể thực hiện các sản phẩm, dịch vụ cùng loại với giá thấp hơn, hoặc bằng cáchcung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ ngangbằng hoặc cao hơn các doanh nghiệp khác
Giá là yếu tố nhạy cảm, phụ thuộc vào giá cả thị trường Căn cứ để xác địnhgiá là: giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, quan hệ cung - cầu, giá củanhà cung cấp, giá của đối thủ cạnh tranh, danh tiếng, uy tín của thương hiệu, các lợithế cộng thêm… Cùng với chất lượng thì giá cả sản phẩm, dịch vụ cũng là công cụcạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp hiện nay Giá cả tác động rất lớn đến cạnhtranh, chúng thường được sử dụng khi doanh nghiệp mới ra thị trường hoặc khimuốn thâm nhập vào một thị trường mới hoặc muốn chống lại một đối thủ cạnhtranh khác trên thị trường
g) Kênh phân phối và dịch vụ kèm theo
- Kênh phân phối:
Phân phối hàng hoá có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để đáp ứng nhu cầu thị
Trang 30trường, củng cố uy tín của doanh nghiệp Đồng thời quá trình phân phối hàng hoáchính xác đảm bảo sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp được vận động hợp lý,giảm chi phí lưu thông giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội chiếm lĩnh, mở rộng thịtrường
Các quyết định về phân phối thường phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp đếntất cả các lĩnh vực khác trong Marketing Sau khi xác định mục tiêu phân phối, lựachọn, thiết lập các kiểu kênh phân phối phù hợp, lựa chọn các trung gian thiết lậpmột liên hệ trong kênh và toàn bộ mạng lưới phân phối, doanh nghiệp đưa ra cácquyết định phân phối vật chất bao gồm các hoạt động:
+ Xử lý đơn đặt hàng
+ Quyết định về kho bãi dự trữ hàng
+ Quyết định khối lượng hàng hoá dự trữ trong kho
+ Quyết định về vận tải
- Dịch vụ kèm theo:
Dịch vụ kèm theo, dịch vụ sau bán hàng hay dịch vụ chăm sóc khách hàngđóng vai trò rất lớn trong việc tạo ra sự hài lòng của khách hàng đối với doanhnghiệp Một khách hàng được chăm sóc tốt nghĩa là một khách hàng hoàn toàn hàilòng về sản phẩm, dịch vụ và vẫn tiếp tục nhận được sự quan tâm của doanh nghiệpngay cả khi họ đã mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Nhữngkhách hàng này hoàn toàn có thể trở thành khách hàng thân thiết hoặc trở thànhkhách hàng thiện cảm của doanh nghiệp và họ chính là cầu nối đưa đến cho doanhnghiệp những khách hàng tiềm năng thông qua sự giới thiệu của họ
Trong lĩnh vực khai khoáng và sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, cụ thể làlĩnh vực sản xuất xi măng thì dịch vụ kèm theo của doanh nghiệp bao gồm các hoạtđộng trước, trong và sau bán hàng như: tư vấn cách sử dụng và hướng dẫn côngthức cấp phối để đảm bảo việc sử dụng được tiết kiệm và hiệu quả nhất; tư vấn và
hỗ trợ những khó khăn vướng mắc của khách hàng; v.v…
Cải tiến dịch vụ kèm theo cũng chính là nâng cao chất lượng hàng hoá củadoanh nghiệp Do đó, phát triển hoạt động dịch vụ kèm theo là rất cần thiết, nó đáp
Trang 31ứng mục tiêu phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo ra sự tín nhiệm, sự gắn bó của kháchhàng đối với doanh nghiệp đồng thời giữ gìn uy tín của doanh nghiệp Từ đó, doanhnghiệp có thể thu hút được khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá củamình trên thị trường.
h) Thương hiệu của doanh nghiệp
Trước xu thế ngày càng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu hiệnnay, vấn đề thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm không chỉ là mối quan tâm củacác doanh nghiệp, doanh nhân mà còn là vấn đề được quan tâm sâu sắc của toàn xãhội Thương hiệu là một khái niệm dùng để chỉ tên doanh nghiệp, một hoặc nhiềunhãn hiệu hàng hoá, thương hiệu còn hàm chứa uy tín doanh nghiệp, chất lượng sảnphẩm, tính chất, đặc thù sản phẩm để nhận biết doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất nguyên vật liệu xây dựng,thương hiệu của doanh nghiệp được tạo nên từ trong quá trình hoạt động kinh tế củamình, các công trình sản phẩm, dịch vụ tốt, tạo được sự hài lòng, sự tin tưởng tronglòng khách hàng thì thương hiệu của doanh nghiệp sẽ dần được cải thiện và ngượclại Thực tế đã chứng minh rằng với các thương hiệu nổi tiếng toàn cầu nhiều khigiá trịcủa thương hiệu đó còn cao hơn cả giá trị tài sản thực của doanh nghiệp
Do vậy, việc xây dựng một thương hiệu mạnh có vai trò rất quan trọng đốivới doanh nghiệp trong chiến lược tạo ra giá trị và hình ảnh của mình trong tâm tríkhách hàng, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.2.4 Các tiêu chí đánh giá kết quả cạnh tranh của doanh nghiệp
a) Thị phần chiếm lĩnh của doanh nghiệp
Thị phần là phần mà thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh hay nói cáchkhác đó là thị trường mà sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ rộng rãi màkhông gặp khó khăn nào Thị phần là tiêu chí thể hiện vị thế cạnh tranh của doanhnghiệp Tiêu chí này được đo bằng tỷ lệ doanh thu trong một giai đoạn nhất định sovới tổng doanh thu hay sản lượng trên thị trường Có thể nói rằng đây là một tiêuchí tổng hợp của các tiêu chí nêu trên Nếu một doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm
có chất lượng với giá bán thấp và phương thức tiêu thụ sản phẩm hợp lý, thì chắc
Trang 32chắn sản phẩm đó sẽ bán chạy và chiếm giữ được thị phần đáng kể trên thị trường
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình chiếm lĩnh và khả năng chi phối thị trườngcủa hàng hoá của doanh nghiệp Tuy nhiên chỉ tiêu này khó xác định vì khó biếtchính xác được hết tình hình kinh doanh của tất cả các đối thủ
b) Doanh thu của doanh nghiệp
Doanh thu là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một doanh nghiệp nào.Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm,cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp.Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sảnlượng Trong đó tiêu chí tỷ lệ tăng trưởng doanh thu là quan trọng nhất Tỷ lệ tăngtrưởng doanh thu cho biết mức tăng trưởng doanh thu tương đối (tính theo phầntrăm) qua các thời kỳ Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm.Trường hợp doanh thu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ
lệ tăng trưởng doanh thu là không xác định (thường chỉ xảy ra nếu kỳ báo cáo làquý, hoặc trong năm hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp)
Doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao thường đang trong giaiđoạn phát triển mạnh, thị phần tăng hoặc đang mở rộng kinh doanh sang các thịtrường hoặc lĩnh vực mới Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng doanh thu ổnđịnh ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm
c) Lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Lợi nhuận của doanh nghiệp là số tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí
mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó Đây là kết quả tài chính cuối cùng
Trang 33của hoạt động sản xuất kinh doanh, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp để đánh giáhiệu quả toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Lợi nhuận sản xuất kinh doanh được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng, đảmbảo tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc Tuy nhiên, không thể coilợi nhuận sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá toàn bộ hoạt độngcủa doanh nghiệp
1.2.2.5 Các yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong điều kiện hiện nay khi mà xu thế nền kinh tế thế giới đang mở cửa hộinhập và toàn cầu hóa, để có thể tồn tại và phát triển doanh nghiệp cần không ngừngnâng cao năng lực cạnh tranh của mình Các doanh nghiệp khai khoáng và sản xuấtnguyên vật liệu xây dựng cần thấy rõ được sự ảnh hưởng của các yếu tố này để cóbiện pháp nhằm phát huy điểm mạnh và giảm thiểu những tiêu cực nhằm tạo dựngnăng lực cạnh tranh của mình ngày càng cao hơn Có thể chia các yếu tố môi trườngbên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh trạnh của doanh nghiệp làm 02 nhóm:
nhóm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô; nhóm yếu tố thuộc môi trường ngành.
a) Nhóm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
- Pháp luật, chính sách, quy định của Nhà nước về lĩnh vực khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng:
Pháp luật là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Đây là yếu tố có tác động lớn đến mọi doanh nghiệp Hệ thống chính sách hoànthiện có sửa đổi bổ sung phù hợp là cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp được ổnđịnh và ngược lại Nếu quốc gia nào có môi trường ổn định, ít biến động, một thểchế minh bạch rõ ràng thì thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài và tạo điềukiện cho các doanh nghiệp yên tâm kinh doanh vì tài sản của họ được đảm bảo, rủi
ro cũng ít hơn
Yếu tố môi trường pháp lý được mọi doanh nghiệp quan tâm vì nó ảnhhưởng trực tiếp đến lợi ích cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp Do vậy, nếu mộtquốc gia có thủ tục pháp lý cồng kềnh, phức tạp, chồng chéo, thủ tục hành chính
Trang 34rườm rà, nhiều tiêu cực, quá nhiều cửa, và đặc biệt hay thay đổi chính sách hoặcchính sách đưa ra còn chưa phù hợp với thực tế thì đây quả thực là rào cản vô cùnglớn cho doanh nghiệp, làm hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trênthương trường
Đối với lĩnh vực khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng ở Việt Nam,trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng, ban hành và thực thi nhiều vănbản luật, thông tư, nghị định… nhằm quản lý, hướng dẫn các doanh nghiệp hoạtđộng đúng pháp luật và hiệu quả Yếu tố này đã và đang trở thành một yếu tố đặcbiệt quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng trên thị trường hiện nay Một sốvăn bản có thể kể ra như: QCVN 16:2014 - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sảnphẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng; Nghị định Số: 124/2007/NĐ-CP của Chính phủ
về Quản lý vật liệu xây dựng; v.v…
- Yếu tố kinh tế:
Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của xã hội vì vậy hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng của những tác động tích cực, cũngnhư những biến đổi bất thường của nền kinh tế vĩ mô Để hoạt động sản xuất kinhdoanh đạt hiệu quả cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, doanh nghiệpcần phải thấy rõ tác động của các nhân tố kinh tế để có biện pháp điều chỉnh phù
hợp Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh gồm có: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát
Thực vậy, tốc độ tăng trưởng khác nhau của nền kinh tế trong giai đoạn thịnhvượng, suy thoái, phục hồi sẽ ảnh hưởng đến mức đầu tư của mỗi doanh nghiệp.Khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cao và ổn định thì tạo cơ hội đầu tư để mởrộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại kinh tế ở tình trạng suythoái, khủng hoảng làm mức thu nhập của người dân giảm khi đó việc sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp gặp khó khăn, cạnh tranh mãnh liệt hơn
Chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái và lãi suất của ngân hàng cũng ảnh hưởnglớn đến hoạt động cung ứng vốn và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, khi mà
Trang 35ngày nay nền kinh tế đang mở cửa hội nhập và quốc tế hóa, ảnh hưởng nhất vẫn làdoanh nghiệp có liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa vật liệu từ nước ngoài.
Lạm phát ảnh hưởng giá cả, tiền công, các doanh nghiệp giảm nhiệt tình đầu
tư vì việc đầu tư trở nên mạo hiểm Như vậy, lạm phát cũng ảnh hưởng đến nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Yếu tố về khoa học công nghệ:
Ngày nay thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ, thời đại của hội nhập kinh tế,của toàn cầu hóa, của công nghệ tự động hóa Việc nắm bắt khoa học công nghệ làđảm bảo cho thành công Khoa học công nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt cho cácdoanh nghiệp nói chung, đặc biệt là các doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất vậtliệu xây dựng Khoa học công nghệ cũng tham gia vào quá trình thu thập, xử lý,truyền đạt thông tin trong nền kinh tế Đồng thời khoa học công nghệ tạo điều kiệncho doanh nghiệp nâng cao năng lực của mình bằng việc chuyển giao công nghệ,vốn, nhân lực có trình độ tay nghề trong sản xuất
- Yếu tố về văn hóa, xã hội:
Văn hóa, xã hội ở đây là phong tục tập quán, lối sống thị hiếu, thói quen tiêudùng, tín ngưỡng, tôn giáo… Đó là cơ sở hình thành những đặc điểm thị trường màdoanh nghiệp phải thỏa mãn Do vậy doanh nghiệp cần phải có chính sách hợp lýphù hợp với điều kiện văn hóa thị trường để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệuquả nhằm tăng năng lực cạnh tranh
Mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố
xã hội đặc trưng Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên một xã hội, có thểvun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển Chính vì thế, các yếu tố văn hóa thôngthường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các yếu tố văn hóa tinhthần Một xã hội muốn trường tồn được với thời gian, cạnh tranh được với các đốithủ, được xã hội chấp nhận thì nhất định phải coi trọng vấn đề văn hóa kinh doanh
- Yếu tố tự nhiên:
Có thể nói rằng, yếu tố này là đầu vào đặc biệt quan trọng đối với các doanhnghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng Yếu tố nguyên liệu sản xuất dồi
Trang 36dào, dễ dàng trong khai thác, chế biến và thuận tiện trong việc vận chuyển thànhphẩm ra phân phối trên thị trường chính là yếu tố quyết định đến giá thành sảnphẩm, quyết định giá bán sản phẩm và từ đó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng.
b) Nhóm yếu tố thuộc môi trường ngành
Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và cũng ảnh hưởng nhiều nhấtđến cạnh tranh Sự thay đổi có thể diễn ra thường xuyên và khó dự báo chính xácđược, khác với môi trường vĩ mô, môi trường ngành không được tổng hợp từ nhữngquy định, quy luật mà mang tính thời điểm nhất định
M Porter đã đưa ra khái niệm cạnh tranh mở rộng, theo đó cạnh tranh trongmột ngành phụ thuộc vào 5 lực lượng Năm lực lượng cạnh tranh này kết hợp vớinhau xác định cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận ngành Lực lượng nào mạnhnhất sẽ thống trị và trở thành trọng yếu theo quan điểm xây dựng chiến lược
- Các đối thủ tiềm ẩn:
Việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới trực tiếp làm giảm tínhchất quy mô cạnh tranh do tăng năng lực sản xuất và khối lượng sản xuất trongngành.Trong lĩnh vực khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng, để chống lại cácđối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp trong ngành thường thực hiện cácchiến lược sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoànthiện dịch vụ sau bán hàng để tạo ra những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội trên thịtrường, hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất
- Sức ép của người cung ứng:
Thường thì các doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng, đặcbiệt là doanh nghiệp sản xuất xi măng được xây dựng khi đã có cơ sở nguyên liệu
có trữ lượng dồi dào và có sự liên kết chặt chẽ với một địa phương nhất định nào đótrong việc khai thác, chế biến sản phẩm Do đó, sức ép của người cung ứng đối vớicác doanh nghiệp này phần lớn chỉ là sức ép từ phía các nhà cung ứng máy móc,công nghệ
- Sức ép của người mua:
Trang 37Người mua tranh đua với ngành bằng cách bắt ép giá giảm xuống, mặc cả để
có chất lượng tốt hơn và được phục vụ nhiều hơn đồng thời còn làm cho các đối thủchống lại nhau Tất cả đều làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành nói chung và củadoanh nghiệp nói riêng Quyền lực của mỗi nhóm khách hàng của doanh nghiệp phụthuộc vào một loạt các đặc điểm về tình hình thị trường của nhóm và tầm quantrọng của các hàng hoá mà khách hàng mua của doanh nghiệp
Trong lĩnh vực doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng màđặc biệt là ngành sản xuất xi măng, người mua có rất nhiều sự lựa chọn về cácthương hiệu xi măng hiện có trên thị trường, kể cả các thương hiệu trong nước lẫncác thương hiệu đến từ nước ngoài
- Sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế:
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biếnđộng của nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú và caocấp hơn và chính đó lại làm giảm khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
Đối với các sản phẩm xi măng, hiện nay trên thị trường đã xuất hiện khánhiều loại xi măng mới có cải tiến rất nhiều về công nghệ cũng như tính thân thiệnvới môi trường trong quá trình sản xuất, ví dụ như: Xi măng Xanh (hay Xi măng địapolime); Xi măng Novacem; Xi măng đặc dụng SC40… Các sản phẩm thay thế này
là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành ở thời điểm hiện tại
- Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành:
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong nhữngyếu tố tất yếu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Cácngành mà có một hoặc một vài doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thì cường độcạnh tranh ít hơn bởi doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò chỉ đạo giá Tuy nhiên,đối với ngành có số lượng doanh nghiệp đông đảo, sản phẩm khá đồng nhất, đặcbiệt trong lĩnh vực sản xuất xi măng thì cường độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệphiện tại trong ngành là lớn, là cơ hội cũng như thách thức đối với sự phát triển củacác doanh nghiệp
Trang 381.2.2.6 Các mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Hiện nay, có nhiều lý thuyết được áp dụng để phân tích năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp, từ việc phân tích môi trường kinh doanh để đánh giá nănglực cạnh tranh, đến việc phân tích lựa chọn các chiến lược cạnh tranh cho doanhnghiệp Tuy nhiên, các ma trận được sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất để phân tích
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: ma trận SWOT; ma trận hình ảnh cạnh tranh Tùy từng hoàn cảnh và giai đoạn cụ thể mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn
mô hình phân tích năng lực cạnh tranh khác nhau
Bảng 1.1 Ma trận SWOT
Nguồn: Internet
Ma trận SWOT được sử dụng để đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
- S/O: chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để tận dụng các cơ hộithị trường
Trang 39- W/O: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các điểm yếu của doanhnghiệp để tận dụng cơ hội thị trường.
- S/T: chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để tránh các nguy cơ củathị trường
- W/T: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các điểmyếu của doanh nghiệp để tránh các nguy cơ của thị trường
Để thực hiện các phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một doanhnghiệp, người ta thường tự đặt các câu hỏi sau:
- Các điểm mạnh: Lợi thế, ưu thế của doanh nghiệp là gì? Công việc nào làmtốt nhất? Đâu là điểm mạnh của doanh nghiệp trên thị trường? Các ưu thế thườngđược hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh
- Các điểm yếu: Doanh nghiệp cần phải cải thiện gì, lĩnh vực nào? Cần tránhlàm gì? Vấn đề gì đang được xem như là điểm yếu của doanh nghiệp so với các đốithủ cạnh tranh trên cơ sở xem xét các vấn đề cả bên trong và bên ngoài Vì sao cácđối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình?
- Các cơ hội: Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mà doanhnghiệp mong đợi? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù
là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước cóliên quan tới lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội,cấu trúc dân số hay xu hướng tiêu dùng, từ các sự kiện diễn ra trong khu vực phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của mình và tự đặt câuhỏi liệu các ưu thế ấy có mở ra cơ hội mới nào không?
- Các nguy cơ: Những trở ngại hiện tại? Có yếu điểm nào đang đe doạ doanhnghiệp? Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì? những đòi hỏi đặc thù về công việc, vềsản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì vớidoanh nghiệp hay không? Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền? Các phân tíchnày thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến điểm yếu thành triển vọng
b) Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Việc xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh được thực hiện qua bước sau:
Trang 40Bước 1 Lập danh sách các yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việc này đòi hỏi người lập ma trận phải nắm chắc được những yếu tố nội bộnào có tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp so sánh Việc xácđịnh các yếu tố này có ý nghĩa to lớn đến chất lượng của ma trận
Bước 2 Phân loại tầm quan trọng:
Dựa vào đặc thù ngành nghề của các doanh nghiệp và ý kiến từ chuyên gia
Bước 3 Đánh giá mức độ phản ứng của doanh nghiệp với các yếu tố:
Việc phân loại để xác định được rằng: cách thức mà các chiến lược của công
ty phản ứng với các yếu tố này quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp
Cty mẫu Công ty cạnh
tranh 1
Công ty cạnh tranh 2 Phân
loại điểm
Tổng điểm
Phân loại điểm
Tổng điểm
Phân loại điểm
Tổng điểm
Tổng số điểm
quan trọng 1.0
Nguồn: Internet