1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu chương trình giáo dục phổ thông mới và hệ thống kiến thức hóa đại cƣơng trong chương trình hóa học mới (KLTN k41)

68 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 165,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hóa học đại cương là một ngành hóa học nghiên cứu các kiến thức tổng quát, cơ bản về Hóa học như: cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, tốc độ phản ứng,...Môn Hóa học đại cương phát triển

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2019

NGUYỄN HƯƠNG GIANG

rÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI VÀ HỆ THỐNG KIẾN THỨC HÓA ĐẠI CƯƠNG

TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC MỚI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Hóa học Vô cơ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2019

NGUYỄN HƯƠNG GIANG

TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI VÀ HỆ THÔNG KIẾN THỨC HÓA ĐẠI CƯƠNG

TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC MỚI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Hóa học Vô cơ

Người hướng dẫn khoa học

TS ĐĂNG THỊ THU HUYỀN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Hóahọc trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong tổ Hóa vô cơ - Đại cương

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt thời gian em theo học tại khoa

và trong thời gian em làm khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đăng Thị Thu Huyền

-người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, luôn tận tâm chỉ bảo những kiến thức vềchuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quí báu, giúp đỡ em trong quátrình em làm khóa luận

Em xin cảm ơn gia đình, anh chị em, bạn bè, là những người đã luôn ở bênchia sẻ, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình em làm khóa luận tốt nghiệp

Đẻ thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, mặc dù đã rất cố gắng, songnhững ngày đầu làm quen, tiếp cận và học hỏi để nghiên cứu khoa học sẽ khôngtránh khỏi những hạn chế và thiếu sót về mặt kiến thức cũng như kinh nghiệm, emrất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành từ quý thầy cô và bạn bè đểkhóa luận của em trở nên hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Hương Giang

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tuợng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Giả thuyết khoa học 2

7 Phuơng pháp nghiên cứu 2

8 Đóng góp mới của đề tài 2

PHẦN 2: NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN 3

1.1 Lí do đổi mói chuông trình giáo dục phổ thông 3

1.1.1 B ối cảnh trong nuớc 3

1.1.2 Bối cảnh quốc tế 4

1.1.3 Luợc sử ra đời chuơng trình phổ thông mới 5

1.2 Những điểm mới của chưong trình phổ thông tổng thể 7

1.2.1 Phuơng pháp xây dụng chuơng trình 7

1.2.2 Chuơng trình theo huớng trang bị năng lục, phẩm chất cho học sinh 11

1.2.3 Chuơng trình mới chú trọng định huớng nghề nghiệp 17

1.2.4 Chuơg trình phổ thông mới có tính tích hợp và phân hóa 19

1.2.5 Chuơng trình mới có môn học bắt buộc và tự chọn 22

1.2.6 Chuơng trình giáo dục mới định huớng về phuơng pháp dạy học 24

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ 27

2.1 Điểm mói/thay đổi của chưomg trình môn Hóa học 27

2.1.1 Bớt những tính toán theo kiểu “toán học hoá” 27

2.1.2 Chuơng trình mới có 3 mạch nội dung cốt lõi 28

2.1.3 Nội dung chuơng trình đuợc thiết kế theo hệ thống chủ đề 30

2.2 So sánh chưomg trình Hóa học phổ thông mói và cũ 32

2.3 So sánh nội dung kiến thức Hóa học đại cưomg trong chưomg trình Hóa học phổ thông mói và cũ 43

KẾT LUẬN 60

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời đại chúng ta đang sống là thời đại diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt vềkhoa học công nghệ giữa các quốc gia Trong bối cảnh đó, quốc gia nào không pháttriển được năng lực khoa học công nghệ sẽ tụt hậu, chậm phát triển Do vậy, mộtnền giáo dục tiên tiến tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao là đích đến mà rấtnhiều quốc gia hướng tới Chính vì vậy mà Hội nghị Trung Ương 8 (Khóa XI, tháng11-2013) đã ban hành Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo nước ta Từ đó đến nay đã có rất nhiều các đổi mới như về phương pháp dạyhọc, hình thức tổ chức dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, Nhưng quan trọng nhất, Bộ Giáo dục và đào tạo đã trình Quốc hội về việc thay đổichương trình và sách giáo khoa mới, bắt đầu từ năm học 2020 - 2021 Là một sinhviên năm thứ 4 khoa Hóa học, sắp ra trường, sắp tham gia thực sự vào hệ thống giáodục nước nhà, em có những băn khoăn, trăn trở về công việc tương lai như tại saolại phải đổi mới chương trình, chương trình cũ và mới khác nhau điểm gì,

Hóa học đại cương là một ngành hóa học nghiên cứu các kiến thức tổng quát,

cơ bản về Hóa học như: cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, tốc độ phản ứng, Môn Hóa học đại cương phát triển phẩm chất và năng lực học sinh thông qua nộidung giáo dục với cốt lõi là những kiến thức cơ bản, thiết thực, thể hiện tính hiệnđại, cập nhật; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề tronghọc tập và đời sống; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục pháthuy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh; các phương pháp kiểm tra, đánhgiá phù hợp với mục tiêu giáo dục Môn học này luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầucủa cuộc sống hiện đại, do vậy đòi hỏi giáo dục phổ thông cũng cần phải liên tụccập nhật những thành tựu khoa học mới, tích hợp nhiều tiến bộ mới nhất của cácngành khoa học, công nghệ và kỹ thuật

Với những lí do trên, em lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu chương trình giáo dục phổ thông mới và hệ thống kiến thức Hóa đại cương trong chương trình Hóa học mới”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu về hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nóiriêng trong chương trình Hóa học phổ thông mới, giúp sinh viên sư phạm Hóa học

Trang 8

hiểu rõ hơn và nắm bắt được những điểm mới trong chương

thông để qua đó chuẩn bị được hành trang trở thành một giáo viên

tương lai

3 Đối tượng nghiền cứu

Hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nói riêng trongchương trình Hóa học phổ thông cũ và mới

4 Phạm vi nghiền cứu

Chương trình phổ thông tổng thể nói chung và chương trình môn Hóa họcnói riêng

5 Nhiệm vụ nghiền cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc xây dựng chương trình phổthông mới

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc xây dựng chương trình Hóahọc mới và cũ

6 Giả thuyết khoa học

Nếu tìm hiểu được những điểm mạnh của chương trình phổ thông mới cũngnhư hệ thống được kiến thức Hóa đại cương trong chương trình Hóa học mới sẽgóp phần tạo dựng hành trang vững chắc hơn cho những sinh viên khoa Hóa họctrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng chính là những thầy cô giáo tương lai củađất nước

7 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Sử dụng phương pháp phân tích,tổng hợp, hệ thống hóa để tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đóng góp của thầy cô giáo đề hoànthiện đề tài nghiên cứu

8 Đóng góp mới của đề tài

Hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nói riêng trongchương trình Hóa học phổ thông mới

Trang 9

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÃ THựC TIỄN 1.1 Lí do đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

1.1.1 Bối cảnh trong nước

Nước ta đang trong quá trình xây dựng thành tựu 30 năm đổi mới với những tiến bộ nhất định.

30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng có ý nghĩa trọng đạitrong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt củaĐảng, Nhà nước và nhân dân ta, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là

sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọngtrong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ một nền kinh tế nôngnghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sởvật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút cho nguồn lực xã hội phát triển

So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tếduy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡngthu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ranhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũdoanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiệnđường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bên cạnh những thành tựu thì nước ta vẫn có những hạn chế về kinh tế, chẩt lượng nguồn nhân lực và vãn hóa - xã hội.

Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp Sự không đồng đều về chất lượngnhân lực trong nước và so với các nước trong khu vực trong điều kiện yêu cầu cao

về kỹ năng nghề và đổi mới nhanh chóng về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Khoahọc, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động,năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Chưa có giải pháp đủ mạnh

để khuyến khích doanh nghiệp và thu hút đầu tư tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới vàứng dụng khoa học, công nghệ

Trang 10

Chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh

tế trong giai đoạn suy giảm, tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kếtquả giải quyết việc làm cho người lao động Nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm thấp,chưa đảm bảo để thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm.Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nôngnghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao; chất lượng lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạochung 51,6%, trong đó qua đào tạo từ 3 tháng trở lên (có bằng cấp chứng chỉ) mớiđạt khoảng 21,9%

Thị trường lao động trong nước và thế giới đòi hỏi người lao động phải đạtđược chuẩn nghề nghiệp, nhưng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đangxây dựng và bước đầu hướng tới chuẩn khu vực và thế giới

Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên vàcác nguồn lực xã hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện sản xuất đểtạo ra cùng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng Ket quả, đã kéo theo sự thay đổi cơcấu của nền sản xuất xã hội cũng như những mối tương quan giữa các khu vực I(nông - lâm - thủy sản), II (công nghiệp và xây dựng) và III (dịch vụ) của nền sảnxuất xã hội Làm thay đổi tận gốc các lực lượng sản xuất, cuộc Cách mạng Khoahọc và Công nghệ hiện đại đã tác động tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người,nhất là ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển vì đây chính là nơi phát sinh của cuộccách mạng này

Người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới mang đếncái nhìn đơn giản hơn về Cách mạng Công nghiệp 4.0 như sau: "Cách mạng côngnghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Cuộccách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cách

Trang 11

mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động

giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tu đang nảy nở từ cuộc cách

Cạn kiệt tài nguyên: một khi nguồn tài nguyên thiên nhiên tích lũy hàng tỷnăm cạn kiệt thì không cách nào tái tạo đuợc, đặc biệt nguồn năng luợng hóa thạch.Thế giới đang đứng truớc nỗi lo một khi các mỏ dầu, mỏ khí đốt tụ nhiên, than đácạn kiệt, nhân loại sẽ xoay xở ra sao để duy trì cuộc sống

Ô nhiễm môi truờng: Ô nhiễm môi truờng sẽ phá hủy môi truờng, mất cănbằng sinh thái, tạo điều kiện cho sinh vật có hại phát triển, gây đột biến cho các sinhvật, gây một số bệnh di truyền và bệnh ung thu, ảnh huởng tới sức khỏe của sinh vật

và con nguời

Từ bối cảnh của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đòi hỏi nuớc taphải đổi mới một nền giáo dục tiên tiến để tạo ra đuợc nguồn nhân lục chất luợngcao với mong muốn có thể đuổi kịp các quốc gia phát triển trên thế giới [1]

1.1.3 Lược sử ra đời chương trình phổ thông mới

Cuối tháng 2/2017, dự thảo chương trình phổ thông mới đã được Hội đồng thẩm định xem xét, thông qua với khuyến nghị sửa chữa, bổ sung một sổ chi tiết.

Trang 12

Ngay sau đó, Bộ GD&ĐT đã ra quyết định thành lập Ban phát triển cácchuơng trình môn học và hoạt động giáo dục Ban này đã bắt tay vào khởi thảo cácchuơng trình và cho tới nay đã hoàn thành dụ thảo lần một.

Trang 13

Đồng thời, ban tổ chức hội thảo để lấy ý kiến của chuyên gia tư vấn quốc tế

và trong nước về 18 chương trình môn học và hoạt động giáo dục, trên cơ sở đóchỉnh lý, hoàn thành dự thảo lần thứ hai

Dự thảo lần này sẽ tiếp tục xin ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lýgiáo dục và giáo viên để hoàn thiện trước khi trình Ban chỉ đạo đổi mới chươngtrình, giáo dục phổ thông của Bộ GD&ĐT

Nếu được đồng ý, các dự thảo chương trình môn học và hoạt động giáo dục

sẽ được công bố trên cổng thông tin điện tử của Bộ GD&ĐT và các phương tiệnthông tin đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia và các tầng lớp nhândân (dự kiến vào khoảng nửa cuối 10/2017)

Chiều ngày 3/5/2018, Bộ GD&ĐT và Ban soạn thảo Chương trình phổ thông mới đã công bố các thông tin ĩỉên quan đến kết quả thực nghiệm và khảo sát

ý kiến các giáo viên, cán bộ quản ĩý giáo dục về Dự thảo các chương trình môn học mới.

Ban soạn thảo Chương trình phổ thông mới cho biết: Phần lớn các bài họcthực nghiệm đã xác định đúng những yêu cầu cần đạt; chú trọng tổ chức các hoạtđộng học tập, tương tác cho học sinh

Tuy nhiên, quá trình thực nghiệm cũng cho thấy: Một số yêu cầu cần đạt củachương trình còn cao so với trình độ của học sinh; nội dung một số bài thực nghiệmtương đối khó; vẫn còn nặng về trang bị kiến thức, nên chưa tạo điều kiện cho họcsinh thực hiện các hoạt động khám phá, luyện tập và vận dụng kiến thức vào đờisống

Ban phát triển chương trình đã phân tích kết quả thực nghiệm, để tiếp thu vàchỉnh sửa chương trình từng môn học cho phù hợp với tình hình thực tế

Quá trình thực nghiệm cũng cho thấy: Nhiều giáo viên đã vận dụng tốtphương pháp tổ chức hoạt động, trao quyền chủ động cho học sinh, sử dụng hìnhthức trò chơi, hình thức thảo luận nhóm, thảo luận cặp đôi để học sinh học mộtcách thoải mái, hứng thú

Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể được Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông thông qua ngày 27/7/2018'.

Thay đổi lớn nhất so với dự thảo cũ nằm ở kế hoạch giáo dục, đặc biệt là ở tên gọicác môn học cũng như thời lượng học tập của từng môn Đây là căn cứ để xây dựng

dự thảo các chương trình môn học và hoạt động giáo dục

Trang 14

Chiều ngày 27/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức họp báo công bố việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.

Theo Nghị quyết 51: "Thời gian bắt đầu triển khai áp dụng chuơng trình,sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, đảm bảo tuần tụ trong từng cấp học, chậmnhất từ năm học 2020-2021 đối với lớp đầu cấp của cấp tiểu học, từ năm học 2021-

2022 đối với lớp đầu cấp của cấp trung học cơ sở và từ năm học 2022-2023 đối vớilớp đầu cấp của cấp trung học phổ thông"

Cuối tháng 9/2018 vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định sẽ lùi thờigian thục hiện đổi mới chuơng trình sách giáo khoa đối với lớp 1 từ năm học 2020-

2021 thay vì 2019-2020 nhu dụ kiến

Thay vào đó, chuơng trình mới sẽ đuợc áp dụng vào thời hạn chậm nhất màQuốc hội cho phép, tức là từ năm học 2020-2021

Lý do Bộ Giáo dục và Đào tạo đua ra là truớc mắt, vẫn còn hàng loạt côngviệc tiếp theo phải thục hiện nhu thông báo để các tổ chức, cá nhân tham gia đăng

ký viết sách giáo khoa; nghiên cứu chuơng trình để biên soạn sách; thẩm định, phêduyệt rồi mới phát hành sách giáo khoa

Chua kể, sau khi có sách giáo khoa cũng cần có thời gian để các nhà truờng,giáo viên, học sinh và phụ huynh tìm hiểu, dạy học thủ nghiệm để có thể lụa chọn

bộ sách phù hợp nhất [1]

1 2 Những điểm mới của chương trình phổ thông tổng thể

1.2.1 Phương pháp xây dựng chương trình

a Chương trình phổ thông mới vận dụng phương pháp sơ đồ ngược mapping).

(Back-Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông thường, khi xây dựng chương trình theođịnh hướng tiếp cận nội dung, các chuyên gia xuất phát từ hệ thống kiến thức củamôn học, từ đó những kiến thức được cho là cần thiết đối với học sinh phổ thông sẽđưa vào chương trình Nhưng với định hướng tiếp cận năng lực theo yêu cầu mới,việc xây dựng chương trình đã xuất phát từ phân tích bối cảnh trong nước và quốc

tế Trên cơ sở đó, Ban phát triển chương trình giáo dục phổ thông đã xác định nănglực cần hình thành, phát triển ở học sinh, tức là chuẩn đầu ra của chương trình Từchuẩn đầu ra, xác định những nội dung cần dạy, từ đó phân bổ thời lượng dạy học,xác định phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục Đó là

Trang 15

phương pháp sơ đồ ngược, thường được áp dụng trong xây

dục theo định hướng tiếp cận năng lực:

Phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá.

Nội dung dạy học.

Yều cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực.

Mục tiêu giáo dục phổ thông.

Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực.

Nhu cầu phát triển đất nước.

Bối cảnh thời đại.

Điểm hoàn toàn mới trong chương trình đổi mới giáo dục sắp được triểnkhai là lần đầu tiên, ngành giáo dục đưa ra được mô hình “sản phẩm” tương lai củamình

Cụ thể, theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, chương trình giáo dục

sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi

b Chương trình phổ thông mới vận dụng RIA (Regulatory Impact Assessment).

về phương pháp xây dựng chương trình, chương trình phổ thông mới còn áp

dụng phương pháp đánh giá tác động chính sách (RIA);

Trang 16

Đánh giá chính sách

Dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật (Regulatory ImpactAssessment - RIA) là phuơng pháp đánh giá nhũng tác động có thể xảy ra từ sụthay đổi chính sách hoặc pháp luật, đuợc thục hiện trong quá trình xây dụng luật,sủa đổi bổ sung các quy định của pháp luật hoặc ban hành chính sách mới

Đây thục chất là quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá các giải pháp, lụachọn chính sách, cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, để có thể lụa chọn giảipháp tốt nhất Nhà quản lý cần phải biết quy định mới tác động đến các đối tuợngđiều chỉnh nhu thế nào, có đạt đuợc mục tiêu của quy định pháp lý và chính sáchchung hay không Nhà hoạch định chính sách cũng cần phải biết khi chính sáchđuợc ban hành sẽ thúc đẩy hay kìm hãm sụ phát triển kinh tế Sẽ ảnh huởng đếnmôi truờng, xã hội nhu thế nào, dụ tính cái đuợc và cái mất nếu áp dụng quy định.RIA sẽ giúp làm việc đó Xét cho cùng, dụ báo tác động điều chỉnh của quy phạmpháp luật là quá trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Có cần ban hành một văn bảnquy phạm để giải quyết vấn đề đặt ra hay không? Nếu có, nội dung của văn bản đó

là gì? Neu không, giải pháp nào có thể thay thế? Các nhà hoạch định chính sách cóthể lụa chọn các giải pháp thay thế nhu: Không ban hành hoặc thục thi bất kỳ quyphạm pháp luật nào đối với vấn đề đã xác định; Không ban hành quy định mớinhung thục thi tốt hơn, hiệu quả hơn những quy định hiện hành liên quan đến vấn

đề đó; Thay đổi cách thức điều tiết, quản lý nhà nuớc

Tầm quan trọng của RIA:

Nhu vậy, dụ báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật có ý nghĩa rấtlớn đối với việc cải thiện hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nuớc và nền kinh tế, bởi

lẽ quá trình này giúp phân tích, xác định chi phí và lợi ích của các giải pháp quản lý

Thực thi chính sách

Đê xuất chính sách mới

Ban hành chính sách

Đánh giá tác động

Trang 17

nhà nước, từ đó, sử dụng các biện pháp hợp lý với chi phí thấp

nguy cơ thất bại của chính sách

Bên cạnh đó, trong quá trình dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm phápluật, cơ quan chịu trách nhiệm dự báo sẽ tham vấn và trao đổi với các nhóm lợi íchkhác nhau liên quan đến chính sách, pháp luật Điều đó sẽ giúp tăng cường tínhminh bạch của chính sách, giúp củng cố niềm tin của người dân vào pháp luật vàhoạt động quản lý nhà nước

Quá trình dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật còn giúp và cảithiện phối hợp chính sách giữa các bộ và cơ quan Chính phủ, giúp liên kết và thốngnhất về mục tiêu của các chính sách ban hành trong các lĩnh vực (kinh tế, xã hội vàmôi trường), qua đó, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của chính sách

Một trong những tác động quan trọng nhất của quá trình dự báo tác động điềuchỉnh của quy phạm pháp luật là giúp thay đổi văn hóa và tư duy quản lý nhà nước

Cơ quan hoạch định có thể giảm những can thiệp không cần thiết và các quy địnhmang tính hình thức, qua đó, tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước đốivới dân chúng và xã hội Điều đó đã thúc đẩy văn hoá quản lý nhà nước theo hướngphục vụ hơn là kiểm soát và xây dựng một Chính phủ năng động; sử dụng cácphương pháp quản lý hợp lý hơn, phù hợp hơn với điều kiện thực tế

Nếu được thực hiện tốt, RIA cũng sẽ nâng cao hiệu quả của các quyết định liênquan đến quản lý nhà nước, qua đó, giảm các quy định chất lượng thấp và khôngcần thiết

Áp dụng RIA vào xây dựng chương trình phổ thông mới:

Chương trình GDPT là một văn bản có giá trị pháp lý nhằm điều chỉnh hành

vi xã hội để giải quyết một vấn đề lớn liên quan đến nhiều người dân trong một giaiđoạn xác định, đó là chính sách Vì vậy, Chương trình giáo dục phổ thông mới cũngđược xây dựng theo quy trình của xây dựng chính sách, nghĩa là có nghiên cứu đánhgiá tác động Bất cứ điểm mới của chương trình đều phải có nghiên cứu đánh giá tácđộng tới giáo viên, học sinh, ngân sách và xã hội thì mới có thể quyết định.Vì vậy,chương trình giáo dục phổ thông cần được vận dụng phương pháp RIA để đánh giáđược những tác động có thể xảy ra từ sự thay đổi chính sách này Quy trình này có 5bước: đánh giá việc thực thi chính sách hiện hành; đề xuất chính sách mới; đánh giátác động của chính sách mới; điều chỉnh và ban hành chính sách mới; chỉ đạo thựcthi chính sách Trong lần thay đổi chương trình năm 2001, chúng ta xây dựng

Trang 18

chương trình xong mới viết sách giáo khoa thực nghiệm, dạy

trình, như vậy sẽ bảo đảm tính khả thi của chương trình và rút ngắn

dạy thực nghiệm [1]

1.2.2 Chương trình theo hướng trang bị năng lực, phẩm chất cho học sinh

a Phẩm chất và chương trình giáo dục phát triển phẩm chất

Khái niệm phẩm chất

Theo nghĩa hẹp, phẩm chất là khái niệm sinh lý học, chỉ đặc điểm sẵn có của

cơ thể như hệ thần kinh, các giác quan và cơ quan vận động Đặc điểm sẵn có là cơ

sở tự nhiên để con người tiếp nhận những hiện tượng tâm lý và thuộc tính tâm lý

Theo nghĩa rộng, phẩm chất chỉ các đặc điểm tâm lý như: tính cách, ý chí,hứng thú, tính khí, phong cách của con người

Có 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành ở người học: Yêu nước; Nhân ái;

Chăm chỉ; Trung thực; Trách nhiệm

Các phẩm chất đều được cụ thể hóa bằng những biểu hiện cụ thể của họcsinh cần đạt được ở từng cấp học, được ghi trong Chương trình phổ thông tổng thểban hành ngày 28/7/2017

Ví dụ: Phẩm chất Trung thực:

Ở cấp tiểu học biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được là: Thật thà, ngaythẳng trong học tập và lao động; mạnh dạn nói lên ý kiến của mình trước ngườithân, bạn bè, thầy cô và những người khác Không nói dối; luôn giữ lời hứa vớingười thân, bạn bè, thầy cô và những người khác; mạnh dạn nhận lỗi, nhận thiếu sótcủa bản thân Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người thân, bạn bè, thầy cô vànhững người khác Không đồng tình với các hành vi thiếu trung thực trong học tập

và trong cuộc sống

Trang 19

Ở cấp THCS biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được là: Luôn thống nhấtgiữa lời nói với việc làm Nghiêm khắc nhìn nhận những khuyết điểm của bản thân

và chịu trách nhiệm về mọi lời nói, hành vi của bản thân Tôn trọng lẽ phải; bảo vệ

Trang 20

điều hay, lẽ phải trước người thân, bạn bè, thầy cô và mọi

của công Phê phán các hành vi thiếu trung thực trong học tập vàtrong cuộc sống

Ở cấp THPT biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được là: Nhận thức vàhành động theo lẽ phải, sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt, điềutốt Có ý thức tham gia và vận động người khác tham gia phát hiện, đấu tranh vớicác hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống

Căn cứ xác định phẩm chất

Nghị quyết 5/ TW khóa VIII (1998)

Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc vàCNXH, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết vớinhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội

Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhânnghĩa, tôn trọng kỉ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ vàcải thiện môi trường sinh thái

Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật, sáng tạo, năngsuất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội

Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độthẩm mĩ và thể lực

Như vậy từ Nghị quyết 5/ TW khóa VIII (1998) rút ra được những phẩmchất cần hình thành là: Yêu nước, Nhân nghĩa, cần kiệm, Trung thực, Kỉ cương

Nghị quyết 33/ TW khóa XI (2014)

Nêu lên 7 đặc tính: Yêu nước, Nhân ái, Nghĩa tình, Trung thực, Đoàn kết,Cần cù, Sáng tạo

Bao gồm cả năng lực (Sáng tạo)

Một số đặc tính trùng nhau: Nhân ái - Nghĩa tình - Đoàn kết

Như vậy từ Nghị quyết 33/ TW khóa XI (2014) rút ra được những phẩm chấtcần hình thành là: Yêu nước, Nhân ái, cần cù, Trung thực

Năm điều Bác Hồ dạy

Trang 21

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào;

ý thức trên hành tinh chúng ta, tức là giúp họ hiểu rằng: sống và lao động để làmgì? Đánh giá đúng giai đoạn lịch sử nhân loại và dân tộc mình ” Do vậy, mônLịch sử ở truờng phổ thông có vị trí chức năng và nhiệm vụ quan trọng để đào tạo,giáo dục thế hệ trẻ có lòng yêu nuớc và có trách nhiệm với tuơng lai đất nuớc

Môn Giáo dục công dân ở truờng trung học phổ thông đề cập và giải quyếtmột cách toàn diện hệ thống tri thức cơ bản, cần thiết của một công dân Việt Namtrong thời đại mới Chủ đề mà môn Giáo dục công dân đề cập bao hàm từ những cáigần gũi, thiết thục trong đời thuờng cá nhân, công dân, gia đình, xã hội, đếnnhững vẫn đề lớn hơn nhu quốc gia, nhân loại; từ những vấn đề thuờng nhật đếnnhững vấn đề mang tính lý luận, trừu tuợng khái quát nhu triết học, logic học, từnhững hiểu biết về cuộc sống đến thế giới quan, nhân sinh quan, lý tuởng xã hội chủnghĩa, cộng sản chủ nghĩa Cùng với việc hình thành thế giới quan một cách trụctiếp, môn Giáo dục công dân giúp học sinh trả lời một cách khoa học đúng đắn câuhỏi: Sống để làm gì? sống nhu thế nào cho xứng đáng với vai trò, vị trí của nguờicông dân của nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do vậy, môn Giáo dụccông dân ở truờng phổ thông giúp hình thành ở học sinh những phẩm chất nhu yêunuớc, nhân ái, trung thục, trách nhiệm

Trang 22

b Năng lực và chương trình phát triển năng lực

Khái niệm năng lực

Theo Chương trình phổ thông tổng thể thì năng lực là thuộc tính cá nhânđược hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, chophép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhânkhác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhấtđịnh, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

Có 10 năng lực cốt ỉõỉ cần hình thành ở học sinh gồm 3 năng lực chung và 7 năng lực chuyên môn.

Các năng lực chung là năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợptác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực này sẽ được tất cả cácmôn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển

Ví dụ: Năng lực tự chủ và tự học được biểu hiện cụ thể qua các khả năng củahọc sinh như: Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự kiểmsoát tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Tự định hướng nghề nghiệp và Tự học, tựhoàn thiện Cụ thể, khả năng Tự lực của học sinh được biểu hiện như sau:

Ở cấp tiểu học: Tự làm được những việc của mình ở nhà và ở trường theo sựphân công, hướng dẫn

Ở cấp THCS: Biết chủ động, tích cự thực hiện những công việc của bản thântrong học tập và trong cuộc sống, không đồng tình với những hành vi sống dựadẫm, ỷ lại

Ở cấp THPT: Biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để có lối sống tự lực.Các năng lực chuyên môn gồm năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, nănglực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm

mỹ, năng lực thể chất Các năng lực chuyên môn này được hình thành, phát triểnchủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định

Ví du: Năng lực tính toán được biểu hiện cụ thể qua các khả năng của họcsinh như: Khả năng hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản, khả năng biếtcách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các công

cụ tính toán và dụng cụ đo, ;đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có

ý nghĩa toán học Cụ thể, khả năng hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bảncủa học sinh được biểu hiện như sau:

Trang 23

Ở cấp tiểu học: Có những kiến thức và kỹ năng toán học cơ bản ban đầu về:

Số học (số tự nhiên, phân số, số thập phân) và thực hành tính toán với các số; Cácđại lượng thông dụng và đo lường các đại lượng thông dụng; Một số yếu tố hìnhhọc và thống kê đơn giản

Ở cấp THCS: Có những kiến thức cơ bản về số và hệ thống số; về ngôn ngữ

và ký hiệu đại số; về ngôn ngữ và ký hiệu hàm số Biết thực hiện các phép tính(cộng, trừ, nhân, chia, luỹ thừa, khai căn) trong học tập và trong cuộc sống Cónhững kiến thức cơ bản về hình học và biết sử dụng chúng để mô tả các đối tượngcủa thế giới xung quanh Có hiểu biết về đo lường, ước lượng trong tính toán vớicác tình huống quen thuộc Có những kiến thức cơ bản về biểu diễn và phân tích sốliệu thống kê; về khái niệm xác suất cổ điển và ý nghĩa trong thực tiễn

Ở cấp THPT: Có những kiến thức cơ bản về số và hệ thống số; biết sử dụngthành thạo các phép tính và các công cụ tính toán Có những kiến thức cơ bản vềĐại số Hiểu biết một cách có hệ thống các hàm số quen thuộc; biết khảo sát hàm số

và vẽ đồ thị hàm số bằng công cụ đạo hàm Biết sử dụng tích phân để tính toán diệntích hình phẳng và thể tích vật thể trong không gian Có những kiến thức cơ bản vềhình học và biết sử dụng chúng để mô tả các đối tượng của thế giới xung quanh.Hiểu các phương pháp cơ bản của thống kê và xác suất cổ điển

Tương tác trong các nhóm không đồng nhất, bao gồm: khả năng duy trì cácmối quan hệ tốt với những người khác; khả năng hợp tác; khả năng giải quyết cácxung đột

Khả năng hành động tự chủ, bao gồm: khả năng hành động trong các nhómphức hợp; khả năng tổ chức và thực hiện các kế hoạch về cuộc sống và dự án cánhân; khả năng nhận thức các quyền, lợi ích, giới hạn và nhu cầu cá nhân

Tài liệu của Liên minh Châu Ẳu EU (2006) (Các năng lực cốt lõi để học tập suốt đời - Một khung tham chiếu châu Ấu).

Trang 24

Đưa ra 8 năng lực cốt lõi: Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; Giao tiếp bằng tiếngnước ngoài; NL toán học và NL trong khoa học tự nhiên và công nghệ; NL kĩ thuậtsố; NL học tập (học cách học); NL xã hội và công dân; Sáng kiến và tinh thần kinhdoanh; Ý thức văn hóa và khả năng biểu đạt văn hóa.

Tài liệu của Diễn đàn Kỉnh tế Thế giới WEF (2015) (Tầm nhìn mới về giáo dục: Mở khóa cho tiềm năng công nghệ) Đưa ra ba nhóm kỹ năng của thế kỷ 21:

Văn hóa nền tảng, bao gồm: văn hóa nền tảng về đọc viết, văn hóa nền tảng

về tính toán, văn hóa nền tảng về khoa học, văn hóa nền tảng về công nghệ thôngtin, văn hóa nền tảng về tài chính, văn hóa nền tảng về công dân và xã hội

Năng lực, bao gồm: tư duy phản biện/giải quyết vấn đề, sáng tạo, giao tiếp,hợp tác

Phẩm chất, bao gồm: ham tìm hiểu, sáng kiến, kiên trì/dũng cảm, thích ứng,lãnh đạo, hiểu biết về xã hội và văn hóa

Nhóm (1): tương tự 8 năng lực của EU (2006)

Nhóm (2): tương tự 3 nhóm của OECD (2005)

Nhóm (3): lẫn lộn phẩm chất, năng lực (sáng kiến, thích ứng, lãnh đạo, hiểubiết) [1]

Các môn học có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành năng lực cho học sinh theo đặc thù của từng môn.

Ví dụ:

Chương trình Hóa học phổ thông cung cấp cho học sinh một hệ thống kiếnthức PT cơ bản thiết thực về Hóa học, hình thành ở các em một số kĩ năng thựchành Hóa học cơ bản nhất Học sinh có được một hệ thống kiến thức phổ thông, cơbản, thiết thực đầu tiên về Hóa học bao gồm những khái niệm cơ bản, định luật, họcthuyết, một số chất Hóa học quan trọng Hình thành một số kĩ năng thao tác với chấthóa học, với dụng cụ, thiết bị hóa học đơn giản Biết quan sát và giải thích một sốhiện tượng hóa học trong tự nhiên Biết giải bài toán hóa học theo công thức vàphương trình hóa học Có thói quen học tập và làm việc khoa học Như vậy, ngoàicác năng lực chung và chuyên môn, môn Hóa học còn góp phần hình thành cácnăng lực đặc thù của Hóa học như: Năng lực nhận thức kiến thức hóa học, năng lựctìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học và năng lực vận dụngkiến thức hóa học vào thực tiễn

Trang 25

1.2.3 Chương trình mới chú trọng định hướng nghề nghiệp

Trong Chương trình phổ thông hiện hành, việc định hướng nghề nghiệp chưađược chú trọng, khiến cho một số học sinh không xác định được ngành nghề mìnhyêu thích để chuẩn bị hành trang vững chắc từ ban đầu Dẩn đến nhiều em phải thayđổi khối thi vào phút chót, chọn nhầm ngành nghề không mong muốn, tình trạngthất nghiệp và làm trái ngành sau đại học nguyên nhân chủ yếu đều là do các emkhông có đam mê với ngành nghề mình đã chọn Tại một số trường phổ thông cũng

có một số hoạt động mang tính định hướng nghề nghiệp như các buổi ngoại khóahướng nghiệp cho học sinh, tổ chức cho học sinh lớp 12 nghe hướng nghiệp và traođổi những thắc mắc về quá trình xét tuyển vào đại học tại các trường đại học, địnhhướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khối 10 và phân chia các lớp theo nguyệnvọng chọn khối thi của học sinh, Tuy nhiên, những hoạt động mang tính địnhhướng nghề nghiệp này chỉ được áp dụng tại một số trường chứ chưa phải toàndiện, tích cực và không mang tính bắt buộc Do vậy, trong Chương trình phổ thôngmới, việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh sẽ mang tính chất bắt buộc

Chương trình giáo dục phổ thông mới dự kiến bắt đầu triển khai từ năm học2020-2021 sẽ được chia làm hai giai đoạn: giáo dục cơ bản (9 năm, gồm bậc tiểuhọc và trung học cơ sở) và giáo dục định hướng nghề nghiệp (ba năm trung học phổthông)

Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh sẽ phải học bắt buộc 11 nội dung giáodục, gồm 10 môn học và hoạt động trải nghiệm, và hai môn tự chọn là Ngoại ngữ vàTiếng dân tộc thiểu số

Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12),bên cạnh một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh được lựa chọnnhững môn học và chuyên đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướngnghề nghiệp của mình (5 môn học bắt buộc nhưng học sinh sẽ phải chọn 5 môntrong số các môn tự chọn) Chương trình GDPT mới bảo đảm định hướng thốngnhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồngthời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việclựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục, triển khai kế hoạch giáo dục phù hợpvới đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục

Cụ thể, lớp 10 sẽ được coi là lớp dự hướng giúp học sinh có được sự chuẩn

bị để chọn hướng nghề nghiệp cho đúng Lớp 11 và 12 là giáo dục định hướng nghề

Trang 26

nghiệp, đảm bảo học sinh tiếp cận nghề nghiệp, đào tạo có

buộc cũng thiên về hoạt động thực tế hơn là học lý thuyết

Nội dung cơ bản của hoạt động hướng nghiệp xoay quanh các mối quan hệgiữa cá nhân học sinh với bản thân, giữa học sinh với người khác, cộng đồng và xãhội; giữa học sinh với nghề nghiệp Từ đó hình thành nên định hướng ban đầu vềnghề nghiệp tương lai mà các em theo đuổi để lên bậc Đại học các em có thể chọnđúng trường, đúng ngành

Ví dụ:

Trong Chương trình trung học phổ thông, ngoài các môn học bắt buộc, họcsinh được tự chọn các tổ hợp môn như: Tự chọn 1 bao gồm môn Nghiên cứu khoahọc kỹ thuật, Ngoại ngữ 2 hay Tự chọn 3 bao gồm Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao,Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (lớp 10, 11, 12) và Chuyên đề học tập (lớp 11, 12).Như vậy, tùy theo sở trường và sở thích về công việc tương lai mà các em chọn thìcác em có thể chọn tổ hợp môn tương ứng Ví dụ các em muốn làm kỹ sư, kiến trúc

sư hay phiên dịch viên các em có thể chọn tổ hợp Tự chọn 1; các em muốn làm

ca sĩ, học sĩ, vận động viên thì các em có thể chọn tổ hợp Tự chọn 3

Trong các chuyên đề học tập của các môn cũng mang tính định hướng nghềnghiệp trong đó Ví dụ như môn Hóa học có các chuyên đề như: Chuyên đề Hóahọc và Công nghệ thông tin; Chuyên đề Trải nghiệm, thực hành: Tìm hiểu quá trìnhthủ công tái chế nhôm và tạo vật dụng từ nhôm tái chế, Tìm hiểu công nghiệpsilicate, Như vậy, mỗi chuyên đề sẽ định hướng cho các em những nghề nghiệpkhác nhau cùng với những lĩnh vực khác nhau như Công nghệ thông tin hay Côngnghiệp

Trong Chương trình phổ thông mới có thêm một nội dung hoàn toàn mới đó

là giáo dục của địa phương, nội dung này cũng góp phần định hướng nghề nghiệpcho học sinh Ví dụ như ở địa phương các em có nhiều khu công nghiệp, nhiều nhàmáy lớn thì sẽ định hướng các em theo ngành công nghiệp; nếu địa phương các

Trang 27

của các em có truyền thống theo nghề làm nông thì sẽ định hướng các em theongành nông nghiệp

Trang 28

1.2.4 Chươg trình phổ thông mới có tính tích hợp và phân hóa

a Tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Trong tự nhiên và xã hội, mọi sự vật và hiện tượng là một thể thống nhất.Việc chia ra các lĩnh vực khoa học (hay các môn học) là để nghiên cứu sâu sự vật vàhiện tượng ở từng phương diện nhất định Tuy nhiên, khi giải quyết một vấn đề củathực tiễn (tự nhiên hay xã hội) thì không chỉ cần tới hiểu biết về một phương diệnnào đó mà cần kiến thức tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Mặtkhác, kho tàng kiến thức của nhân loại càng ngày càng tăng trong khi thời gian họctập ở nhà trường phổ thông thì có hạn, giáo dục phổ thông cần có giải pháp thíchhợp để giải quyết mâu thuẫn này Chính vì vậy, từ hàng chục năm nay, các nước cónền giáo dục tiên tiến đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có dạy học tích hợp, màmức cao nhất là xây dựng các môn học tích hợp Giải pháp này phù hợp với yêu cầuphát triển năng lực của người học, bởi vì năng lực là kết quả huy động tổng hợp cácnguồn lực để thực hiện thành công các hoạt động thực tiễn, dạy học tích hợp giúphọc sinh rút ngắn quá trình tổng hợp này, đồng thời góp phần "giảm tải" chươngtrình

Nghị quyết 88 của Quốc Hội 13 đã xác định rõ yêu cầu tích hợp trongchương trình giáo dục phổ thông mới: “Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở thựchiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục,một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp; thựchiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, ” Việc dạy học tích hợp cầnthực hiện đồng bộ, từ xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa, phươngpháp dạy học và kiểm tra, đánh giá Ở đây chỉ nói về tích hợp trong chương trình.Chủ trương dạy học tích hợp trong chương trình mới có một số điểm khác sovới chương trình hiện hành như: tăng cường tích hợp nhiều nội dung trong cùngmột môn học, xây dựng một số môn học tích hợp mới ở các cấp học, tinh thầnchung là tích hợp mạnh ở các lớp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học trên; yêucầu tích hợp được thể hiện cả trong mục tiêu, nội dung, phương pháp và thi, kiểmtra, đánh giá giáo dục

Trước hết, định hướng tích hợp được thể hiện ngay trong nội bộ mỗi mônhọc, chẳng hạn trong chương trình môn Ngữ văn sẽ có sự tích hợp giữa các kỹ năngđọc, viết, nói và nghe; tích hợp giữa kiến thức văn học và kiến thức tiếng Việt trongquá trình dạy học các kỹ năng này Các môn học khác cũng tùy vào đặc điểm và

Trang 29

tính chất môn học mà thực hiện yêu cầu tích hợp giữa các phân

Chuơng trình cấp Trung học cơ sở lần này khác chuơng trình hiện hành là cómột số môn tích hợp, đó là môn Lịch sử và Địa lý và môn Khoa học tụ nhiên Việcthục hiện tích hợp đuợc thiết kế ở mức thấp Cụ thể các phân môn trong Khoa học

tụ nhiên cũng nhu trong Lịch sử và Địa lý không phải là sụ lắp ghép cơ học Trongchuơng trình của mỗi môn, các mạch nội dung có sụ kết nối ở mức có thể để: tránhtrùng lặp; kiến thức và kỹ năng của phân môn này giúp làm sáng rõ hơn kiến thức

và kỹ năng của phân môn kia; giúp học sinh vận dụng các kiến thức, kỹ năng củatừng phân môn để giải quyết các vấn đề đòi hỏi cách tiếp cận liên môn

Với chuơng trình môn Khoa học tụ nhiên, nội dung sẽ cố gắng tập trung thiết

kế thành các chủ đề lớn nhu vật chất, vật sống, năng luợng và sụ biến đổi, trái đất

và bầu trời Các kiến thức và kỹ năng Vật lý, Hóa, học, Sinh học đều đuợc triểnkhai trong phạm vi những chủ đề này

Với chuơng trình môn Lịch sử và Địa lý, nội dung cũng đuợc thiết kế thànhhai mạch tuơng đối độc lập, nhung cố gắng kết nối để giáo viên và học sinh thấyđuợc mối liên hệ giữa lịch sử và địa lý thông qua việc tìm hiểu, khám phá các sụkiện trong thời gian và không gian Ngoài ra tính chất tích hợp của môn học này cònđuợc thể hiện ở một số chủ đề chung nhu Khám phá các dòng sông lớn trên thếgiới, Văn minh châu thổ sông Hồng, Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam, Đôthị,

Cuối cùng việc tích hợp trong chuơng trình giáo dục mới thể hiện ở yêu cầutất cả các môn đều phải lồng ghép một số nội dung (chủ đề xuyên môn) giáo dụcmang tính cấp thiết, có ý nghĩa dân tộc và toàn cầu nhu giáo dục bình đẳng giới,giáo dục tài chính- kinh doanh, chủ quyền biển đảo, môi truờng và phát triển bềnvững [1]

Trang 30

b Phân hóa ở chương trình giáo dục phổ thông mới

Vì sao cần phân hóa trong chương trình giáo dục? Có thể nêu lên một vài lí

do chính sau đây:

Thứ nhất, mỗi học sinh là một cá nhân không hoàn toàn giống nhau, cónhững sở thích, năng lực, sở trường khác nhau; với những động lực, điều kiện, hoàncảnh học tập khác nhau Nhà trường cần trang bị cho mọi học sinh những tri thứcphổ thông nền tảng, cốt lõi; đồng thời có nhiệm vụ giúp mỗi học sinh phát triển tối

đa tiềm năng cá nhân của mình Dạy học phân hóa tốt sẽ đáp ứng được yêu cầu vừanêu

Thứ hai, phân hóa là để đáp ứng yêu cầu phân công lao động trong xã hội vàphân luồng học sinh Do yêu cầu phát triển khoa học và đòi hỏi của thị trường laođộng buộc nhà trường phổ thông, nhất là bậc THPT cần dạy học phân hóa để cungcấp nguồn nhân lực cho thị trường lao động, nguồn học sinh cho giáo dục đại học,cao đẳng cũng như các trường nghề đáp ứng được yêu cầu đào tạo chuyên sâu vềmột lĩnh vực khoa học hoặc ngành nghề chuyên biệt

Quán triệt yêu cầu đã nêu trong Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành TW vềxây dựng và chuẩn hoá nội dung giáo dục phổ thông theo hướng “tích hợp cao ở cáclớp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăngmôn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn”, chương trình GDPT mới thể hiệnyêu cầu phân hóa trên hai bình diện lớn:

Phân hóa trong (vỉ mô) tiếp tục được quán triệt ở tất các các cấp, ĩớp học, tẩt cả các môn học/hoạt động giáo dục: Để thực hiện hướng phân hóa này, việc

thiết kế yêu cầu cần đạt (chuẩn) của chương trình và đặc biệt cách biên soạn sáchgiáo khoa cần chú ý đến các yêu cầu và mức độ khác nhau của cùng một vấn đề/ đềtài Ngoài ra để phân hóa trong có hiệu quả cần đề cao phương pháp dạy học củagiáo viên và cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Phân hóa ngoài (vĩ mô) được thể hiện ở các cấp theo 2 hình thức:

Xây dựng một số môn học theo các học phần (module) và các chủ đề khácnhau để học sinh tự chọn cho phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổchức của nhà trường Theo hướng này, các môn học như Giáo dục thể chất, Hoạtđộng trải nghiệm ở Tiểu học; các môn Công nghệ, Tin học, Giáo dục thể chất vàhoạt động trải nghiệm ở THCS đều được thiết kế thành các học phần và chủ đề đểhọc sinh tự chọn

Trang 31

Phân hóa bằng dạy học tự chọn ở Trung học phổ thông (giai đoạn giáo dụcđịnh hướng nghề nghiệp) theo hướng: Học sinh học một số môn học bắt buộc(Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh,Hoạt động trải nghiệm); còn lại sẽ được tự chọn 5 môn trong 3 nhóm môn (mỗinhóm ít nhất 1 môn) gồm: Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân)

; Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học); Công nghệ và nghệ thuật (Côngnghệ, tin học, Nghệ thuật)

Ở nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật, nội dung các môn học cũng đượcbiên soạn theo các học phần để học sinh lựa chọn cho phù hợp Ngoài ra chươngtrình THPT của hầu hết các môn học còn có hệ thống các chuyên đề học tập nhằmphân hóa sâu, giúp học sinh tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành, vận dụngkiến thức giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hướng nghiệp Ở mỗilớp cấp THPT, học sinh được chọn 3 cụm chuyên đề của 3 môn học phù hợp vớinguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường

Chương trình GDPT mới còn thực hiện phân hóa ở các nội dung địa phương

và các môn học tự chọn là Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ được thực hiện ở tất

cả các cấp học [1]

1.2.5 Chương trình mới có môn học bắt buộc và tự chọn

Các môn học ở cả 3 cấp học được chia thành môn học bắt buộc (BB) và mônhọc tự chọn (TC) Các môn học tự chọn gồm 3 loại: Tự chọn tuỳ ý: học sinh có thểchọn hoặc không chọn (TC1); tự chọn trong nhóm môn học: học sinh buộc phảichọn một hoặc một số môn học trong nhóm môn học theo quy định trong chươngtrình (TC2); tự chọn trong môn học: học sinh buộc phải chọn một số nội dung trongmột môn học (TC3) Tỷ lệ môn học tự chọn hoặc nội dung học tự chọn tăng dần từlớp dưới lên lớp trên Xét về hình thức, tên gọi các môn học bắt buộc và tự chọn đã

có trong CTGDPT hiện hành Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu mới, CTGDPTmới có nhiều bổ sung, thay đổi về hệ thống các môn học BB và TC: Từ quan niệm,tên gọi, nguyên tắc lựa chọn đến sắp xếp, phân bổ thời lượng và các hình thức tổchức dạy học

a Ở cấp tiểu học

Các môn học bắt buộc gồm: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Thể dục, Giáodục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu xã hội

Các môn tự chọn bao gồm:

Trang 32

Tự chọn 1: Tiếng dân tộc, Ngoại ngữ 2 (chỉ dành cho các lớp 3, 4, 5).

Tự chọn 3: Thể thao, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Hoạt động trải nghiệmsáng tạo

Hệ thống các môn học được thiết kế theo định hướng bảo đảm cân đối nộidung các lĩnh vực giáo dục, phù hợp với từng cấp học, lớp học; thống nhất giữa cáclớp học trước với các lớp học sau; tích hợp mạnh ở các lớp học dưới, phân hoá dần

ở các lớp học trên; tương thích với các môn học của nhiều nước trên thế giới Têncủa từng môn học được gọi dựa theo các môn học trong chương trình hiện hành, cóđiều chỉnh để phản ánh tốt nhất nội dung, tính chất, ý nghĩa giáo dục của môn họctrong từng cấp học, do đó tên một môn học có thể thay đổi ở từng cấp học Chẳng hạn:

Môn học cốt lõi của lĩnh vực giáo dục đạo đức - công dân có các tên: Giáodục lối sống (tiểu học), Giáo dục công dân (trung học cơ sở) và Công dân với Tổquốc (trung học phổ thông)

Cốt lõi trong lĩnh vực giáo dục khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học xãhội) chỉ có 1 môn học Cuộc sống quanh ta (các lớp 1, 2, 3); tách thành 2 môn họcTìm hiểu Xã hội và Tìm hiểu Tự nhiên (các lớp 4, 5); tương ứng với 2 môn họcKhoa học Xã hội và Khoa học Tự nhiên (trung học cơ sở)

b Ở cấp THCS

Các môn học bắt buộc gồm: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Thể dục, Giáo dụcCông dân, Cuộc sống quanh ta, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội

Ngoài các môn học bắt buộc, học sinh được tự chọn:

Tự chọn tuỳ ý (TC1) gồm: Ngoại ngữ 2, Tiếng dân tộc, Nghiên cứu khoa học

kỹ thuật (ở lớp 8, 9)

Tự chọn trong môn học (TC3) gồm: Kỹ thuật/Công nghệ, Tin học, Thể thao,

Âm nhạc, Mỹ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Tự học có hướng dẫn là thời gian học sinh tự học trên lớp (để thay thế tự học

ở nhà) có sự kèm cặp, giúp đỡ của giáo viên Hoạt động này chỉ có ở các lớp tiểuhọc học 2 buổi/ngày

c Ở cấp THPT

Lên trung học phổ thông, để hài hoà giữa học phân hoá định hướng nghềnghiệp với học toàn diện, môn Khoa học Xã hội cùng với các môn Vật lý, Hoá học,

Trang 33

Sinh học sẽ dành cho học sinh định hướng khoa học tự nhiên,

Ngoài các môn học bắt buộc, học sinh được tự chọn:

Tự chọn tuỳ ý (TC1) gồm: Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Ngoại ngữ 2

Tự chọn trong nhóm môn học (TC2) gồm 4 môn (lớp 10, 11) và 3 môn (lớp12) trong các môn: Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn 2, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Tin học,Công nghệ, Toán 2, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội Nếu chọn môn Khoa học

Tự nhiên thì không chọn các môn: Vật lý, Hoá học, Sinh học; nếu chọn môn Khoahọc Xã hội thì không chọn các môn: Lịch sử, Địa lý Các môn Khoa học Tự nhiên

1.2.6 Chương trình giáo dục mới định hướng về phương pháp dạy học

Các phương pháp giáo dục chủ yếu được lựa chọn theo các định hướng:

Định hướng hoạt động: Các hoạt động học tập của học sinh dựa trên các

hoạt động trải nghiệm, vận dụng, gắn kết với thực tiễn và định hướng giải quyết cácvấn đề thực tiễn nhằm nâng cao sự hứng thú của học sinh, góp phần hình thành vàphát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh mà môn học đảm nhiệm

Các hoạt động bao gồm khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt độngthực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề cóthực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của Thiết bị dạy học tối thiểu, đồ

Trang 34

dùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự độnghóa của kỹ thuật số.

Ngày đăng: 18/08/2020, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w