Uber góp phần tạo lập nền kinh tế chia sẻ – một mô hình kinh doanh toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ. Họ tạo ra một sân chơi mới mà ở đó, thương hiệu là người tiên phong. Uber là đơn vị khởi nghiệp đầu tiên cung cấp ứng dụng gọi taxi qua các thiết bị thông minh bằng hình thức chia sẻ, Công ty Công nghệ Uber (trụ sở chính tại Hà Lan) đạt được những thành công lớn chỉ trong một thời gian ngắn.Từ khi thành lập đến nay, Uber đã và đang không ngừng phát triển và mở rộng. Tuy nhiên, do có mặt tại Việt Nam muộn hơn các đối thủ khác như GrabTaxi, Easy Taxi cũng như các rào cản về chính trị , pháp luật, văn hóa đã khiến Uber đã gặp nhiều khó khăn để xâm nhập thị trường. Bằng những kiến thức được học từ môn Marketing quốc tế, cùng với kiến thức thực tế từ việc việc nghiên cứu, tìm hiểu nhóm chúng em đã cùng nhau thực hiện đề tài: “Chiến lược Marketing của Uber để thâm nhập vào thị trường Việt Nam”
Trang 1Chiến lược Marketing của Uber để thâm nhập vào thị trường Việt Nam
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, mô hình “nền kinh tế chia sẻ” đang là một mô hình kinh doanh mới và có tốc độ phát triển rất nhanh.Với mô hình này, các cá nhân cùng chia sẻ việc sở hữu , dịch vụ qua bên thứ ba là bên cung ứng các ứng dụng công nghệ trên smartphone Thực chất, kinh tế chia sẻ chính là “chia sẻ có kèm chi phí”, khai thác tối đa tài sản mà mình sở hữu, dựa trên việc cho thuê, trao đổi với những người có nhu cầu nhằm mang lại lợi nhuận với đại diện tiêu biểu là Uber và Grab taxi Nhữngthương hiệu này thành công nhờ biết vận dụng quy luật “To be the first” – “Quy luật tiên phong” trong Marketing
Uber góp phần tạo lập nền kinh tế chia sẻ – một mô hình kinh doanh toàn cầuđang phát triển mạnh mẽ Họ tạo ra một sân chơi mới mà ở đó, thương hiệu là ngườitiên phong Uber là đơn vị khởi nghiệp đầu tiên cung cấp ứng dụng gọi taxi qua các thiết bị thông minh bằng hình thức chia sẻ, Công ty Công nghệ Uber (trụ sở chính tại Hà Lan) đạt được những thành công lớn chỉ trong một thời gian ngắn.Từ khi thành lập đến nay, Uber đã và đang không ngừng phát triển và mở rộng Tuy nhiên,
do có mặt tại Việt Nam muộn hơn các đối thủ khác như GrabTaxi, Easy Taxi cũng như các rào cản về chính trị , pháp luật, văn hóa đã khiến Uber đã gặp nhiều khó khăn để xâm nhập thị trường
Bằng những kiến thức được học từ môn Marketing quốc tế, cùng với kiến thức thực tế từ việc việc nghiên cứu, tìm hiểu nhóm chúng em đã cùng nhau thực
hiện đề tài: “Chiến lược Marketing của Uber để thâm nhập vào thị trường Việt Nam”
Với đề tài này, chúng em muốn tìm hiểu thêm về chiến lược marketing đã đưa cái tên Uber đến với thị trường Việt Nam từ đó rút ra những bài học, kinh nghiệm cho bản thân cũng như các doanh nghiệp Việt Nam
Do thời gian chuẩn bị có hạn, bài tiểu luận của nhóm sẽ không tránh khỏi saisót Rất mong sẽ được cô thông cảm và nhiệt tình góp ý để chúng em có điều kiệnhoàn thiện tốt tiểu luận này!
Trang 3I Cơ sở lý thuyết
1.1 Chiến lược Marketing là gì?
- Theo Carl Von Clausewitez, chiến lược là việc xác định những nguồn lực cần thiết về con người và vật chất trong một thời gian và không gian nhất định nhằm đạt được những mục tiêu đã định
- Theo Jean Pierre Lacour, trong cuốn Lexique du Marketing (Từ điển
Marketing), khái niệm chiến lược được trình bày ngắn gọn : Chiến lược Marketing
là tập hợp các quyết định của doanh nghiệp cần thực hiện cho cả một thời gian nhất định trong môi trường hoạt động nhất định
Như vậy, có thể nóim chiến lược gồm 4 thuộc tính sau : tầm nhìn, các quyết định, thời gian và không gian cụ thể
1.2 Chiến lược Marketing quốc tế là gì ?
Chiến lược Marketing quốc tế (IMS) là tập hợp các quyết định kinh doanh của công ty trong một thời gian và không gian nhất định để sử dụng tối ưu các nguồn lực nhằm thực hiện những mục tiêu đã định
Nhìn chung, chiến lược mar keting quốc tế (IMS) cũng có những nét cơ bản của một chiến lược marketing Ngoài ra cũng có những nét đặc trưng riêng của chiến lược Marketing quốc tế như :
- Môi trường hoạt động mở rộng trên cấp độ quốc tế hoặc toàn cầu Các yếu tốmôi trường và các phân đoạn thị trường nước ngoài có xu hướng tăng rát nhanh trong quá trình mở rộng phạm vi hoạt động của công ty, do đó trở nên phức tạp hơn
- Chủ thể giao dịch là các bên có quốc tịch khác nhau, trong đó các giao dịch bán hàng (xuất khẩu) thường áp dụng theo điều kiện thương mại quốc tế (Incoterm)
- Hành trình phân phối kéo dài
- Cơ hội và thách thức nhiều hơn Vì vậy, mọi quyết định chiến lược phải được phân tích toàn diện và cẩn trọng hơn
Trang 41.3 Chiến lược thâm nhập thị trường thế giới
1.3.1 Khái quát chiến lược thâm nhập thị trường thế giới
Chiến lược thâm nhập thị trường thế giới là một tiến trình mà doanh nghiệp vận dụng toàn bộ các điều kiện tài nguyên của mình để khai thác những cơ hội trên thị trường thế giới
Chiến lược thâm nhập thị trường thế giới nhằm mục tiêu lựa chọn phương thức thâm nhập hợp lý nhất để đưa ra chính sách marketing thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ và phạm vi hoạtđộng, kéo dài chu kì sản phẩm và giảm bớt rủi ro trong kinh doanh
1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thâm nhập thị trường thế giới
- Đặc điểm thị trường : những điều kiện thâm nhập, sự cạnh tranh, nguồn nănglực của doanh nghiệp
- Đặc điểm của sản phẩm
- Khả năng của doanh nghiệp
- Đặc điểm của khách hàng : trình độ nhận thức, thu nhập, sự phân vùng địa lý…
1.3.3 Các yếu tố cần thiết khi quyết định lựa chọn chiến lược thâm nhập thị trường thế giới
- Dung lượng của thị trường tiềm năng và thị phần mà doanh nghiệp mong muốn
- Điểm hòa vốn ở nhiều mức độ của các chiến lược
- Nhu cầu về vốn và tài sản cần thiết cho mỗi chiến lược
- Khả năng sinh lời tối ưu
- Các nhân tố rủi ro tại thị trường thâm nhập
Trang 5- Khả năng chuyển đổi từ phương thức thâm nhập này sang phương thức thâm nhập khác.
1.3.4 Các chiến lược thâm nhập thị trường thế giới
- Chiến lược xuất khẩu (gồm có xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp qua trung gian)
- Chiến lược cấp giấy phép (Licensing)
- Chiến lược liên doanh (JVs)
- Chiến lược Franchising (nhượng quyền thương mại hay hợp đồng đặc quyền)
- Các chiến lược thâm nhập khác (chiến lược chủ sở hữu, Công- Xoóc-xi-om, sản suất ở nước ngoài…)
II Chiến lược marketing của Uber để thâm nhập vào thị trường Việt Nam 2.1 Tổng quan về công ty Uber
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty Uber
Uber là một công ty kinh doanh mạng lưới giao thông vận tải và công ty taxidựa trên ứng dụng, ra đời năm 2009 tại San Francisco bởi hai nhà sáng lập là TravisKalanick và Garrett Camp Ban đầu, Ryan Graves được bổ nhiệm làm giám đốcđiều hành (CEO), tuy nhiên một năm sau Kalanick đã thay thế anh trong vai trò đó
và Graves bước xuống để trở thành giám đốc tác nghiệp (COO) của công ty
Sau một phiên bản dùng thử vào mùa hè năm 2010, dịch vụ Uber và ứng dụng Ubertrên điện thoại di động đã được công ty chính thức ra mắt tại San Francisco vào năm
2011 Uber là tên gọi của một phần mềm đặt xe taxi thông qua điện thoại thôngminh trên nền tảng google map có sử dụng dịch vụ định vị toàn cầu Uber cũng làtên công ty chủ quản kinh doanh dịch vụ vận tải với chức năng làm cầu nối trunggian giữa người có xe và người có nhu cầu đi xe
Công ty sử dụng một ứng dụng điện thoại thông minh để nhận được yêu cầu
đi xe và sau đó gửi các yêu cầu đi đến lái xe Khách hàng sử dụng các ứng dụng yêucầu xe đón và theo dõi vị trí chiếc xe dành riêng cho mình
Trang 6Sau khi thành lập, Uber chỉ cung cấp xe cho thuê sang trọng đầy đủ, và danhhiệu "UberBlack" đã được thông qua cho dịch vụ chính của công ty (được đặt têntheo dịch vụ vận tải tư nhân "chiếc xe màu đen" ở Thành phố New York) Việc ramắt Uber đã tạo ra một sự gia tăng đáng kể trong các công ty cạnh tranh với môhình kinh doanh Uber, một xu hướng đã đến để được gọi là "Uberification" (Uberhóa)
Năm 2012, công ty đã phát động chương trình "UberX" của mình, trong đó
mở rộng các dịch vụ cho bất kỳ tài xế nào có trình độ với một chiếc xe thể chấp nhận được Do thiếu các quy định, Uber có thể cung cấp chi phí thấp hơn, do đó, các dịch vụ đã trở thành cực kỳ cạnh tranh với dịch vụ taxi truyền thống, mở rộng tính hấp dẫn Uber của một mặt cắt ngang rộng hơn của thị trường
Tính đến 16 tháng 12 năm 2014, dịch vụ Uber đã có tại 53 quốc gia và hơn 200 thành phố trên toàn thế giới với hơn 1 triệu tài xế đang hợp tác với nền tảng này Tại
Mỹ, thu nhập bình quân của mỗi tài xế Uber gấp 3 lần tài xế các hãng taxi thông thường Hiện tại tài sản của Uber là 41 tỷ đô la, doanh thu năm năm 2015 vào khoảng 10 tỷ đô la
2.1.2 Triết lý kinh doanh
Uber hoạt động với triết lý của thỏa mãn nhân viên của mình đầu tiên để tối ưu hóa lợi ích của khách hàng Uber hỗ trợ nhân viên của mình một cách tối đa bằng nhiều nguyên tắc:
• Bình đẳng: không phân biệt đối xử
• Bền vững : sự quan tâm đến từng nhu cầu của mọi người và hỗ trợ lẫn nhau
• Trung thực và chia sẽ thông tin
• Môi trường làm việc vui vẻ
• Tính linh hoạt , đáp ứng và khả năng thích ứng dễ dàng giữa các thành viên trong nhóm và hướng tới khách hàng
• Hoàn thiện hiệu suất vượt quá mong đợi của khách hàng
nhằm mục đích: thành lập một công ty thuộc sở hữu của các nhân viên của mình thông qua sự công bằng và dân chủ và thiết lập những liên kết mạnh với các nhân viên và khách hàng của mình
Trang 72.1.3 Lĩnh vực hoạt động
Đầu tiên, Uber không phải công ty vận tải mà là công ty công nghệ Vì vậy,giấy phép kinh doanh của Uber tại Việt Nam là giấy phép kinh doanh công ty côngnghệ
Về bản chất, Uber không cung cấp dịch vụ vận tải mà chúng tôi cung cấp nềntảng (platform) cho khách hàng Để dễ hình dung, các bạn có thể coi Uber giống vớiAgoda trong lĩnh vực khách sạn, Expedia trong lĩnh vực đặt vé máy bay hayFoodpanda trong lĩnh vực đồ ăn Chúng tôi chỉ kết nối giữa cung và cầu Cầu có thể
là khách sạn, là vé máy bay, là đồ ăn Với trường hợp của Uber, cầu ở đây là xe.Uber làm nhiệm vụ kết nối giữa cung và cầu, từ đó tối ưu hóa chi phí và tránh đượclãng phí xã hội.Cũng cần nói rõ là tất cả các đối tác Uber tại Việt Nam đều phảiđăng ký kinh doanh vận tải
2.1.4 Các kênh phân phối
Uber là dịch vụ kết nối giữa các chủ phương tiện, tài xế với người cần dichuyển dưới dạng một ứng dụng di động Cụ thể, người cần di chuyển chỉ cần dùngứng dụng Uber trên smartphone của mình để đăng ký hành trình Hệ thống của Uber
sẽ hiển thị bản đồ các phương tiện trong khu vực, ước tính thời gian và chi phí dichuyển và sau đó kết nối người này với một chủ xe phù hợp Tuy nhiên, điểm khácbiệt giữa Uber và Agoda hay Expedia là ở chỗ Uber quyết định giá cước vận chuyểnchứ không phải là chủ xe
Uber có khả năng tối ưu hóa dịch vụ và chi phí cho cả hành khách và tài xế.Đối với hành khách, Uber giúp họ quản lý hành trình một cách dễ dàng, minh bạch
do hệ thống sẽ hiển thị đầy đủ thông tin về chiều dài quãng đường, giá cước, biển
số, thông tin của tài xế… trên màn hình điện thoại của hành khách Đối với chủ xe,Uber cho phép họ có thể tìm kiếm khách hàng dễ dàng, tăng thu nhập thông quaviệc chở thêm khách Không chỉ vậy, tỉ lệ phân chia trên doanh thu giữa Uber vàchủ xe cũng được cho là hấp dẫn hơn so với các hãng taxi vì Uber không phải đầu
tư xe hay hệ thống tổng đài điều phối Mô hình doanh thu chung của Uber trên toànthế giới là khi khách hàng thanh toán (đều thông qua thẻ tín dụng), số tiền này sẽđược chuyển cho Uber trước Sau đó, Uber sẽ giữ lại 20% và 80% còn lại được trảcho các chủ xe
Trang 8Sau 5 năm hình thành và phát triển, với một phần mềm đơn giẩn và một ý tưởngkinh doanh táo bạo trên Internet, giờ đây Uber đã tập hợp được hàngchục triệu nhân viên và phương tiện vận tải mà không tốn kém chi phí bảo hiểm,trả lương, bảo dưỡng xe… Uber cũng đang dần chiếm lĩnh thị trường taxi tại hơn
200 thành phố thuộc 53 quốc gia trên toàn cầu Không những thế, Uber cũng đãnhận hơn 300 triệu USD từ các công ty đầu tư mạo hiểm như Google Ventures,Benchmark, cùng các nhà đầu tư cá nhân như Jeff Bezos – CEO của Amazon.com
2.1.5 Cơ cấu tổ chức của Công ty Uber
Travis Kalanick CEO&Co – Founder at Uber Technologies Inc Người sánglập Công ty Uber Technologies Inc năm 2009 Ông là một doanh nhân thành công, hiện nay ông sở hữu khoản 13 khoản đầu tư vào 10 công ty
Ryan Graves – Head of global operations,ông có bằng cử nhân Kinh tế Đạihọc Miami Ông là người giải quyết vấn đề chiến lược của công ty và đã góp phầnbiến hoạt động nhóm của Uber từ một nhân viên duy nhất trở thành một lực lượnglao động quốc tế
Garrett Camp - Co-Founder & Chairman,ông có bằng thạc sĩ về Công nghệ phần mềm Đại học Calgary, nghiên cứu giao diện cho hệ thống hợp tác, các thuật toán tiến hóa và thông tin Garret đồng sáng lập Uber.com trong năm 2009 với Travis Kalanick
Salle Yoo - Tổng cố vấn Cô là một người tốt nghiệp ngành Luật ở Đại học Boston.Salle chịu trách nhiệm về việc mở rộng thị trường của Uber trên toàn cầu và duy trì tốc độ tăng trưởng
Than Pham – Giám đốc công nghệ Ông có bằng Cử nhân Khoa học và Kỹ thuật máy tính Ông chịu trách nhiệm giải quyết bất kỳ thách thức nào mà Uber phảiđối mặt về sự tăng trưởng của nó
Brent Callinicos - Giám đốc tài chính, ông tốt nghiệp Đại học Bắc Carolina,ông cũng đồng thời là thủ quỹ và kế toán trưởng tại Google
Jeff Holden – Giám đốc sản phẩm, ông đã từng là Phó chủ tịch quản lý sản phẩm của Tập đoàn từ tháng 4 năm 2011 và cũng từng là Giám đốc điều hành và đồng sáng lập củaPelago
Trang 92.1.6 Hợp tác vận chuyển
Phương thức vận hành của Uber thông qua ứng dụng phần mềm, tài xế Uber
sẽ tiếp nhận yêu cầu của khách Việc thu cước được thực hiện qua thẻ thanh toán quốc tế
Trang 102.1.7 Mô hình hoạt động
Uber hoạt động dựa trên nguyên tắc “mạng lưới” Uber tự định nghĩa mình là “một công cụ để gọi xe” chứ không phải là một công ty cung cấp dịch vụ vận tải taxi Cụ thể không hề sở hữu bất kỳ chiếc xe chạy taxi dịch vụ nào, cũng không có nhân viênlái taxi cơ hữu, không phải trả lương tài xế
Mô hình của Uber là giúp cho cung và cầu gặp nhau một cách tối đa, thế nên chi phí
cố định trên mỗi cây số giảm đi rất là nhiều Một chiếc xe thương mại tại Việt Nam
có hiệu quả chỉ 10-20% trên thời gian thực tế có thể sử dụng thôi
Trong khi đó, với Uber và ứng dụng của công nghệ con số đấy sẽ tăng rất nhiều lần.Đây là câu trả lời cho bài toán giá thấp của Uber Đơn giản vì xe được sử dụngnhiều hơn, cùng chi phí đấy, doanh thu tăng rất nhiều thì doanh nghiệp có thể giảmgiá đi mà vẫn có lợi nhuận Có thể nói, nhờ công nghệ người ta có thể thay đổi hoàntoàn cả mô hình kinh doanh
Đối với việc bảo vệ tài sản cá nhân và quyền lợi người tiêu dùng, Uber cung cấpchế tài quản lý đặc trưng nhờ vào dữ liệu tài xế và người dùng Giả sử hành kháchquên đồ trên taxi, họ sẽ phải gọi lên tổng đài Vì hầu hết đều không nhớ được biển
số xe, nên tổng đài sẽ báo cho toàn hệ thống và tài xế nào trả thì trả, không thì coinhư hành khách mất không
Một điểm nữa mà Uber mang lại đó là minh bạch trong thị trường thanh toán Tất cảnhững giao dịch trên thị trường đều phải qua thẻ hết, dù là nhỏ nhất Bạn có đi hết5.000 – 10.000 đồng cũng đều được lưu lại trên hệ thống Người tiêu dùng và nhàquản lý đều có thể kiểm soát được Hiện nay Uber đã cung cấp thêm cả dịch vụ
Trang 11thanh toán bằng tiền mặt để tạo thêm sự thuận lợi và đa dạng hóa trong phương thứcthanh toán của khách hàng.
2.1.8 Uber tại Việt Nam
Chính phủ đã ra công văn số 2248/VPCP-KTN đồng ý với Bộ GTVT về hoạt động kinh doanh taxi Uber tại Việt Nam
Uber xuất hiện tại Sài Gòn từ tháng 6/2014 và đến tháng 11/2014 đã có mặt tại Hà Nội Đây là hình thức kinh doanh ngành taxi khá mới mẻ và tại Việt Nam, nhiều người còn chưa biết đến nó Có 3 loại hình xe được sử dụng phổ biến và thông dụng
ở Việt Nam hiện nay là Uber X cung cấp các dòng xe thông thường với mức giá bình dân, Uber Back là các dòng xe hạng sang cao cấp với mức giá cao hơn và UberMoto được sử dụng tương tự hình thức “xe ôm” tại Việt Nam
Bảng giá cước dịch vụ Uber tại Việt Nam
Trang 122.2 Những rào cản và khó khăn của Uber khi thâm nhập thị trường Việt Nam 2.2.1 Rào cản khi gia nhập
Uber cung cấp dịch vụ kết nối giữa người có xe và người có nhu cầu đi xe dựa trên nền tảng công nghệ, thoạt nhìn tưởng như về bản chất Uber cũng giống như các hãng cung cấp dịch vụ taxi, nhưng thực sự cách vận hành kinh doanh của Uber là của một đơn vị kinh doanh giải pháp công nghệ Nếu như với ngành kinh doanh taxi, rào cản gia nhập ngành khá cao, đến từ chi phí đầu tư lớn cho từng chiếc
xe cũng như đào tạo đội ngũ lái xe Bên cạnh đó là những khoản đầu tư cho trang thiết bị quản lý cước phí và lộ trình, các chi phí duy trì như phí bãi xe, bảo hiểm, bảo trì và lệ phí Ngoài ra, thời hạn để được cấp phép kinh doanh taxi cũng được cơ quan nhà nước thẩm định khá lâu
Nhưng với Uber, khi thâm nhập một thị trường mới, các rảo cản lại đến từ nhữngnguồn khác hẳn
2.2.1.1 Tâm lý khách hàng
Đây là điểm yếu đầu tiên và cơ bản mà Uber đối mặt tại thị trường ViệtNam Một chuyên gia giao thông nhìn nhận: Thói quen sử dụng phương tiện cánhân khi đi lại ở các đô thị, vẫn là ưu tiên số một của mọi người Tại thời điểm Uberbắt đầu tấn công vào thị trường Việt Nam, mà cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh(cuối năm 2014) số người dùng phương tiện vận tải công cộng tại đây chưa quá 3%,trong đó taxi chiếm ưu thế Nếu nghĩ người dân sẽ chuyển qua Uber thì họ sẵn sàngchọn xe máy Thậm chí khi đánh giá cơ hội của Uber tại Hà Nội, thành phố có nhiềungười sử dụng phương tiện công cộng hơn, nhiều chuyên gia cũng xác định rất ít cơhội cho Uber Bởi lẽ trong mắt số đông, taxi dù sao vẫn là dịch vụ nghiêm túc chínhthức Nếu đi cùng 1 đối tác làm ăn, người ta sẽ gọi taxi, dễ tạo hình ảnh, hơn làđứng chờ Uber chỉ để mong rẻ hơn 20% giá
Những người ủng hộ Uber, theo phân tích, chủ yếu là giới trẻ và chính họ lại
là những đối tượng sử dụng xe máy đi lại phổ biến nhất Sử dụng Uber hay taxi chỉ
là lựa chọn có tính nhất thời của họ
Trang 132.2.1.2 Thách thức từ chính sách quản lý
Một rào cản không hề nhỏ nữa với Uber là trong quy định luật pháp hiện hành tại Việt Nam chưa có khung pháp lý rõ ràng về ứng xử cho dịch vụ chạy xe trên nền tảng công nghệ
Sở dĩ Uber có nhiều lợi thế hơn và trở thành mối đe dọa đối với các hãng taxi khôngphải nằm ở vấn đề công nghệ mà nằm ở mô hình kinh doanh Uber là giải pháp kết nối giữa những người chủ xe với những người có nhu cầu đi xe Các xe của Uber không có phù hiệu taxi, không logo, không đồng hồ tính cước như những xe taxi khác và tất nhiên cũng không phải đóng (hoặc khó cho các cơ quan quản lý tiến hành thu) các loại phí, thuế tương ứng với dịch vụ vận chuyển mà các hãng taxi truyền thống khác phải đóng
Như vậy, vấn đề mâu thuẫn lớn nhất không phải nằm ở sự cạnh tranh giữa Uber với các hãng taxi mà là mâu thuẫn giữa sự tiến hóa của các mô hình kinh doanh mới vớichính sách quản lý kinh tế hiện tại của Việt Nam Việc chấp nhận và hợp thức hóa
mô hình kinh doanh của Uber đồng nghĩa với hoặc sẽ kéo theo việc chấp nhận nền kinh tế chia sẻ dựa trên các thỏa thuận dân sự mà không có sự giám sát, quản lý và thu phí/thuế của chính quyền
Lúc đó, tất cả các hãng taxi truyền thống sẽ chuyển đổi mô hình kinh doanh theo hướng này và chính quyền sẽ mất đi các khoản thuế, phí so với trước đây Và mô hình này sẽ không chỉ dừng ở dịch vụ taxi mà còn sẽ lan ra các hình thức dịch vụ vận tải khác, hình thức kinh doanh khách sạn mini, thậm chí cả những hình thức thương mại hàng hóa Đó là những tiềm ẩn tiếp nối sự thành công mở rộng của Uber khiến bất cứ một quốc gia hay thị trường nào cũng đều e ngại, khiến Uber khó
có thể nhận được góc nhìn đầy đủ, thấu đáo và cởi mở với công nghệ của mình.Uber là Công ty cung cấp công nghệ không phải taxi, đây là hiểu nhầm lớn nhất, gây ra khó khăn cho Uber tại nhiều thị trường, kể cả các nước phát triển với hệ thống pháp luật chặt chẽ Một bản thống kê từ nguồn GlobalPost cho thấy số lượng quốc gia chấp nhận Uber không nhiều Cụ thể như: Tại Paris (Pháp), Bỉ, Indonesia, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Hà Lan, Tây Ban Nha… hoạt động của Uber hoàn toàn bị cấm Chỉ có 3 nước chính thức cho phép loại hình này được hoạt động là