1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu- Định giá doanh nghiệp khởi nghịêp - Nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần Kĩ thuật - Dịch vụ Truyền thông Patyo Việt Nam

72 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 522,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là mà một sinh viên theo học chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng, thay vì tham gia thực tập vào một đơn vị truyền thống trong ngành như các tổ chức tài chính hay ngân hàng, em lại quyết định thử sức bản thân để tham gia Khởi nghịêp vào một lĩnh vực khác xa với ngành học của mình bằng việc khởi nghịêp một doanh nghiệp trong lĩnh vực truyền thông. Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam chính là những tâm huyết và sự cố gắng để thực hiện hóa ý tưởng và khát khao chiếm lĩnh thị trường trong lĩnh vực truyền thông cho những đơn vị tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ mà em và những cộng sự đã và đang ấp ủ. Tính đến thời điểm tháng 3/2017 Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam non trẻ mới có hai tháng tiền đề gây dựng và ba tháng chính thức đi vào hoạt động tuy nhiên công ty đã có những bước tiến và thành tựu đánh kích lệ và tương đối thành công đối với một đơn vị mới, góp một phần nhỏ bé trong sự phát triển chung của ngành truyền thông tại Việt Nam. Sau một thời gian làm việc và điều hành phát triển công ty em đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm cũng như nhìn nhận được rất nhiều vấn đề trong điều hành công ty cũng như các vấn đề trong việc phát triển doanh nghiệp. Một trong số đó chính là việc kêu gọi vốn đầu tư để tăng vốn phát triển doanh nghiệp và trước khi làm được điều đó chính là việc định giá chính doanh nghiệp Khởi nghịêp của mình. Chính vì vậy, em quyết định chọn chủ đề: “Định giá doanh nghiệp khởi nghịêp - Nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần Kĩ thuật - Dịch vụ Truyền thông Patyo Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu. Báo cáo của em gồm ba chương chính như sau: Chương 1: Lý luận chung về định giá doanh nghiệp Khởi nghịêp Chương 2: Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp Khởi nghịêp Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động định giá doanh nghiệp Khởi nghịêp tại Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam Vì thời gian có hạn không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình làm bài, em rất mong nhận được những góp ý của các thầy cô thuộc Viện Tài Chính - Ngân Hàng để em có thể hòan thiện báo cáo của mình hơn. Cũng nhân dịp này em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Minh Huệ và tất cả các cộng sự, đồng nghịêp tại Công ty Cổ phần Kỹ thuật - Dịch vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ em để em có thể hòan thành đề tài này. Trân trọng!

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em muốn bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả những thầy, cô giáo đã giúp đỡ

em trong quá trình làm luận án Đặc biệt, em muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhấttới giảng viên hướng dẫn thực tập PGS TS Nguyễn Thị Minh Huệ đã hỗ trợ emnhiệt tình trong quá trình hoàn thiện chuyên đề thực tập

Cũng nhân dịp này em xin cảm ơn toàn bộ các cộng sự, đồng nghiệp tại Công ty Cổphần Kĩ thuật - Dịch vụ Truyền thông Patyo Việt Nam đã tạo điều kiện, cung cấp

các tài liệu giúp em có thể hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình: “Định giá doanh nghiệp khởi nghịêp - Nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần Kĩ thuật - Dịch

vụ Truyền thông Patyo Việt Nam”.

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảnêu trong chuyên đề thực tập này là do tôi tự thu thập, trích dẫn, tuyệt đối khôngsao chép từ bất kỳ một tài liệu nào

Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Trần Thanh Tùng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHỊÊP 3

1.1 Định giá doanh nghiệp và các phương pháp định giá doanh nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm định giá doanh nghiệp 3

1.1.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp 4

1.1.3 Các phương pháp định giá doanh nghiệp 9

1.1.4 Quy trình thẩm định giá doanh nghiệp 20

1.2 Định giá doanh nghiệp khởi nghiệp 24

1.2.1 Khái niệm về định giá doanh nghiệp KHỞI NGHỊÊP 24

1.2.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp KHỞI NGHỊÊP 24

1.2.3 Các phương pháp định giá KHỞI NGHỊÊP và phạm vi ứng dụng của các phương pháp đó 27

1.2.4 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác định giá doanh nghiệp KHỞI NGHỊÊP 30

1.3 Doanh nghiệp Khởi nghịêp Việt Nam trong giai đoạn mới 35

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHỊÊP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ THUẬT - DỊCH VỤ TRUYỀN THÔNG PATYO VIỆT NAM 40

2.1 Giới thiệu chung về Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam 40

2.1.1 Giới thiệu chung về công ty 40

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 42

2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý và chức năng của các Phòng, Ban trong công ty 43 2.2 Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam 46

2.2.1 Cơ sở pháp lý để xác định giá trị doanh nghiệp 46

2.2.2 Trình tự tiến hành 47

Trang 4

2.3 Tình hình định giá doanh nghiệp theo phương pháp Khởi nghịêp tại công

ty Patyo Việt Nam 48

2.3.1 Tiêu chí để định giá doanh nghiệp theo phương pháp Khởi nghịêp tại công ty Patyo 48

2.3.2 Định giá doanh nghiệp theo phương pháp gọi vốn tại công ty Patyo 49

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHỊÊP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ THUẬT -DỊCH VỤ TRUYỀN THÔNG PATYO VIỆT NAM 57

3.1 Đánh giá chung về công tác xác định giá trị doanh nghiệp của Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam 57

3.1.1 Ưu điểm 57

3.1.2 Nhược điểm 58

3.1.3 Nguyên nhân 58

3.2 Đánh giá của cá nhân về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp của Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam 59

3.3 Một số giải pháp khắc phục nhược điểm và hoàn thiện phương pháp định giá tại Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam60 3.3.1 Nâng cao chất lượng nhân viên 61

3.3.2 Kết hợp các phương pháp định giá 61

3.3.3 Mở rộng cơ hội tham gia định giá với các công ty nước ngoài 61

3.3.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu làm căn cứ định giá 62

3.4 Các kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền 62

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 5

KTV………Kiểm toán viên

TNDN ………Thu nhập doanh nghiệpTSCĐ ……….Tài sản cố định

TNHH ………Trách nhiệm hữu hạnSXKD ……….Sản xuất kinh doanhXDCB……… Xây dựng cơ bản

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ BẢNG

Bảng 1.1 Sự khác biệt giữa DN Khởi nghịêp và DN tư nhân 35

Bảng 1.2 Bảng khảo sát một số Công ty Khởi nghịêp 37

Bảng 2.1 Giả thiết nghiên cứu của đề tài 50

Bảng 2.2 Mã hóa biến 51

Bảng 2.3 Các tham số thống kê trong mô hình 54

Bảng 2.4 Giả thiết và kết qủa phân tích thực nghiệm sự ảnh hưởng của các nhân tố trong mô hình đến định giá doanh nghiệp 55

SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Biểu diễn các dòng tiền của dự án đầu tư 10

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy 43

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Là mà một sinh viên theo học chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng, thay vìtham gia thực tập vào một đơn vị truyền thống trong ngành như các tổ chức tàichính hay ngân hàng, em lại quyết định thử sức bản thân để tham gia Khởi nghịêpvào một lĩnh vực khác xa với ngành học của mình bằng việc khởi nghịêp một doanhnghiệp trong lĩnh vực truyền thông Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ TruyềnThông Patyo Việt Nam chính là những tâm huyết và sự cố gắng để thực hiện hóa ýtưởng và khát khao chiếm lĩnh thị trường trong lĩnh vực truyền thông cho nhữngđơn vị tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ mà em và những cộng sự đã và đang ấp ủ.Tính đến thời điểm tháng 3/2017 Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ TruyềnThông Patyo Việt Nam non trẻ mới có hai tháng tiền đề gây dựng và ba tháng chínhthức đi vào hoạt động tuy nhiên công ty đã có những bước tiến và thành tựu đánhkích lệ và tương đối thành công đối với một đơn vị mới, góp một phần nhỏ bé trong

sự phát triển chung của ngành truyền thông tại Việt Nam Sau một thời gian làmviệc và điều hành phát triển công ty em đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm cũngnhư nhìn nhận được rất nhiều vấn đề trong điều hành công ty cũng như các vấn đềtrong việc phát triển doanh nghiệp Một trong số đó chính là việc kêu gọi vốn đầu tư

để tăng vốn phát triển doanh nghiệp và trước khi làm được điều đó chính là việcđịnh giá chính doanh nghiệp Khởi nghịêp của mình

Chính vì vậy, em quyết định chọn chủ đề: “Định giá doanh nghiệp khởi nghịêp

- Nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần Kĩ thuật - Dịch vụ Truyền thông Patyo Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu Báo cáo của em gồm ba chương chính

như sau:

Chương 1: Lý luận chung về định giá doanh nghiệp Khởi nghịêp

Chương 2: Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp Khởi nghịêp Công Ty

Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động định giá doanh nghiệp Khởi nghịêp

Trang 8

tại Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật - Dịch Vụ Truyền Thông Patyo Việt Nam

Vì thời gian có hạn không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình làm bài, emrất mong nhận được những góp ý của các thầy cô thuộc Viện Tài Chính - NgânHàng để em có thể hòan thiện báo cáo của mình hơn

Cũng nhân dịp này em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Minh Huệ và tất

cả các cộng sự, đồng nghịêp tại Công ty Cổ phần Kỹ thuật - Dịch vụ Truyền ThôngPatyo Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ em để em có thể hòan thành đề tài này

Trân trọng!

Sinh viên

Trần Thanh Tùng

Trang 9

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ

DOANH NGHIỆP KHỞI NGHỊÊP1.1 Định giá doanh nghiệp và các phương pháp định giá doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm định giá doanh nghiệp

Doanh nghiệp :

- Theo Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ 8 do Quốc hộinước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005: “Doanhnghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiệncác hoạt động kinh doanh”

- Theo Tiêu chuẩn Thẩm định giá Quốc tế 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chứcthương mại, công nghiệp, dịch vụ hay đầu tư đang theo đuổi một hoạt động kinhtế”

- Nhìn chung doanh nghiệp là đơn vị kinh tế quy tụ các phương tiện tài chính, vậtchất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sảnphẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua

đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu

xã hội

Giá trị (value):

Giá trị là một khái niệm kinh tế có liên quan đến giá cả, chủ yếu do người mua

và người bán xác định Giá trị là mức giá dự tính sẽ phải trả đối với hàng hoá hoặcdịch vụ tại một thời điểm nhất định

Giá

trị của doanh nghiệp

Giá trị của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền của các khỏan thu nhập màdoanh nghiệp mang lại cho các nhà đẩu tư trong suốt quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp

Thẩm định giá doanh nghiệp:

Thẩm định giá doanh nghiệp là việc ước tính giá trị của doanh nghiệp hay lợi ích

Trang 10

của nó theo một mục đích nhất định bằng cách sử dụng các phương pháp thẩm địnhgiá phù hợp.

Nói cách khác, thẩm định giá doanh nghiệp là quá trình đánh giá hay ước lượnggiá trị thị trường của các quyền và lợi ích mang lại từ sở hữu doanh nghiệp cho chủdoanh nghiệp Quá trình này do thẩm định viên chuyên nghiệp tiến hành

Để xác định được giá trị doanh nghiệp, có thể tiếp cận theo hai cách:

- Tiếp cận trực tiếp: Trực tiếp đánh giá các tài sản của doanh nghiệp, bao gồm cả

tài sản hữu hình, tài sản vô hình và định lượng giá trị các yếu tố về tổ chức, danhtiếng, thị phần của doanh nghiệp

- Tiếp cận gián tiếp: Đánh giá doanh nghiệp thông qua việc lượng hóa các khoản

thu nhập kỳ vọng mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong suốtthời gian hoạt động còn lại của doanh nghiệp

Với hai cách tiếp cận như vậy, trên thế giới hiện nay có nhiều phương pháp xácđịnh giá trị doanh nghiệp khác nhau (sẽ được đề cập cụ thể ở phần sau) Tuy nhiênkết quả xác định giá trị doanh nghiệp thường có sự chênh lệch lớn thậm chí ngay cảkhi sử dụng cùng một phương pháp vì kết quả đó phụ thuộc rất lớn vào độ chínhxác của các tham số tính toán Do vậy mỗi phương pháp đưa ra đều có những thíchứng đối với từng hoàn cảnh cụ thể của mỗi doanh nghiệp và tẩm nhìn của nhà đầu

tư Không thể có một phương pháp chung phù hợp cho mọi doanh nghiệp nên việclựa chọn phương pháp nào đó để áp dụng thống nhất cho mọi doanh nghiệp là điềukhó thực hiện và sẽ nảy sinh nhiều mâu thuẫn Định giá là một môn khoa học cótính nghệ thuật ước lượng cao chứ không hẳn là một khoa học chính xác Kết quảxác định giá trị doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của nhà thẩmđịnh, điều quan trọng là quá trình định giá phải thực hiện một cách thống nhất vàkết quả định giá sẽ được sử dụng một cách hữu ích nhất

1.1.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp

Xác định giá trị doanh nghiệp là sự ước tính với độ tin cậy cao nhất các khoảnthu nhập mà doanh nghiệp có thể tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cơ

sở cho các hoạt động giao dịch thông thường của thị trường

Trang 11

1.1.2.1 Căn cứ vào Hồ sơ định giá doanh nghiệp

a Hồ sơ pháp lý của Doanh nghiệp: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,

văn bản liên quan đến mô hình hoạt động của Doanh nghiệp

b Tài liệu liên quan đến thẩm định giá doanh nghiệp:

- Bảng cân đối kế toán liền kề trước khi xác định giá trị doanh nghiệp và tại thờiđiểm tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp (đã quyết toán thuế nếu có)

- Bảng kết quả hoạt động kinh doanh 3 năm (đối với DN sản xuất) và 5 năm (đốivới DN dịch vụ) liền kề trước khi xác định giá trị doanh nghiệp và tại thời điểmtiến xác định giá trị doanh nghiệp (đã quyết toán thuế nếu có)

- Bảng lưu chuyển tiền tệ

- Bảng cân đối tài khoản tại thời điểm tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp

- Các bảng chi tiết các tài khoản: Tiền mặt: bảng kiểm kê quỹ tiền mặt; Tiền gửingân hàng: Bảng kê tiền gửi Ngân hàng; bảng đối chiếu số dư tiền gửi ngânhàng; Các khoản đầu tư ngắn và dài hạn; Các khoản ký cược, ký quỹ dài hạn;Chi phí trả trước dài hạn; Các khoản phải thu, phải trả; Hàng tồn kho; Công cụdụng cụ; Các khoản vay ngắn và dài hạn (bảng đối chiếu số dư tiền vay tại ngânhàng); Các khoản nợ dài hạn đến hạn trả (bảng đối chiếu); Chênh lệch tỷ giátrong thanh toán (nếu có); Tài sản cố định

- Bảng kiểm kê tài sản của doanh nghiệp Trong đó phân loại rõ những tài sảnthuê mượn, nhận góp vốn liên doanh liên kết; tài sản không cần dùng, ứ đọng,chờ thanh lý và tài sản đang dùng.Bảng kê chi tiết nguồn vốn đầu tư dài hạn vàodoanh nghiệp khác (nếu có) như: vốn góp liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần,góp vốn thành lập Công ty TNHH

- Báo cáo tài chính 5 năm (hoặc 3 năm) đã được kiểm toán.Hợp đồng góp vốn liêndoanh.Điều lệ; Bảng thống kê lãi liên doanh được chia từ khi được thành lập.Chitiết chi phí xây dựng cơ bản dở dang

- Các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản là bất động sản và động sản của doanhnghiệp Đối với đất và công trình xây dựng: như yêu cầu đối với hồ sơ Thẩmđịnh giá Bất động sản Đối với động sản: như yêu cầu đối với hồ sơ Thẩm địnhgiá Động sản

Trang 12

1.1.2.2 Căn cứ vào mục đích các tài sản góp vốn doanh nghiệp :

Theo quy định của Luật doanh nghiệp, tài sản góp vốn doanh nghiệp bao gồm:

- Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàngphải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệpđịnh giá

- Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đôngsáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá caohơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sánglập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củacông ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sảngóp vốn tại thời điểm kết thúc định giá

- Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốnthoả thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốnphải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn đượcđịnh giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổchức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đớichịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng

số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thờiđiểm kết thúc định giá

1.1.2.3 Căn cứ vào mục đích của việc định giá tài sản doanh nghiệp :

- Cổ phần hóa doanh nghiệp

- Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A)

- Liên doanh, thành lập, góp vốn hoặc giải thể doanh nghiệp

- Thế chấp, bảo đảm vay vốn ngân hàng

- Phát hành thêm cổ phiếu

- Phát hành thêm cổ phiếu, Chào bán cổ phiếu ra công chúng

- Chứng minh năng lực tài chính

Ngoài ra, còn phụ thuộc vào các cắn cứ:

Giá trị thị trường

Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên thị

Trang 13

trường vào thời điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua vàmột bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch mua bán khách quan và độclập, trong điều kiện thương mại bình thường:

“Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên thịtrường ” là số tiền ước tính để tài sản có thể được mua, bán trên thị trường trongđiều kiện thương mại bình thường mà sự mua bán đó thoả mãn những điều kiện củathị trường tại thời điểm thẩm định giá

“vào thời điểm thẩm định giá ” là ngày, tháng, năm cụ thể khi tiến hành thẩmđịnh giá, được gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu và sức mua trên thịtrường khi thực hiện thẩm định giá trị tài sản

“giữa một bên là người mua sẵn sàng mua ” là người đang có khả năng thanhtoán và có nhu cầu mua tài sản được xác định giá trị thị trường

“và một bên là người bán sẵn sàng bán ” là người bán đang có quyền sở hữu tàisản (trừ đất), có quyền sử dụng đất có nhu cầu muốn bán tài sản với mức giá tốtnhất có thể được trên thị trường

“Điều kiện thương mại bình thường” là việc mua bán được tiến hành khi các yếu

tố cung, cầu, giá cả, sức mua không xảy ra những đột biến do chịu tác động củathiên tai, địch họa; nền kinh tế không bị suy thoái hoặc phát triển quá nóng…; thôngtin về cung, cầu, giá cả tài sản được thể hiện công khai trên thị trường

Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công khai và cạnhtranh Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thị trường quốc tế, có thểbao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồm một số lượng hạn chế ngườimua, người bán

Giá trị thị trường thể hiện mức giá ước tính mà trên cơ sở đó, bên bán và bênmua thoả thuận tại một thời điểm sau khi cả hai bên đã khảo sát, cân nhắc đầy đủcác cơ hội và lựa chọn tốt nhất cho mình từ các thông tin trên thị trường trước khiđưa ra quyết định mua hoặc quyết định bán một cách hoàn toàn tự nguyện, khôngnhiệt tình mua hoặc nhiệt tình bán quá mức

Giá trị phi thị trường

Giá trị phi thị trường là số tiền ước tính của một tài sản dựa trên việc đánh giáyếu tố chủ quan của giá trị nhiều hơn là dựa vào khả năng có thể mua bán tài sảntrên thị trường

Trang 14

Cơ sở của việc đưa ra khái niệm giá trị phi thị trường cũng xuất phát trực tiếp từkhái niệm giá trị tài sản: là biểu hiện bằng tiền về những lợi ích mà tài sản mang lạicho chủ thể nào đó tại một thời điểm nhất định.

Sau đây một số khái niệm giá trị phi thị trường thường dùng:

- Giá trị còn lại (salvage value): là giá trị của tài sản (bao gồm cả đất đai) không

còn được tiếp tục sửa chữa hay sử dụng nữa Giá trị này có thể coi như giá trịròng của chi phí dỡ bỏ Trong mọi trường hợp, khi định giá tài sản cần xác định

rõ những bộ phận dỡ bỏ và những bộ phận còn lại của tài sản

- Giá trị tài sản bắt buộc phải bán (forcedsale value): là tổng số tiền hợp lý có thể

thu về từ bán tài sản trong phạm vị thời gian quá ngắn so với thời gian trungbình cần có để giao dịch mua bán theo giá trị thị trường Tại một số nước, giá trịtài sản bắt buộc phải bán có thể liên quan đến tình huống người bán tài sản chưasẵn sàng bán và người mua tài sản biết rõ việc chưa sẵn sàng bán đó

- Giá trị đặc biệt (special value): là khái niệm có liên quan đến những yếu tố đặc

biệt có thể làm tăng giá trị tài sản lên vượt quá giá trị thị trường Giá trị đặc biệt

có thể nảy sinh khi một tài sản này có thể gắn liền với một tài sản khác về mặt

kỹ thuật hoặc kinh tế mà sự liên kết đó chỉ thu hút mối quan tâm đặc biệt củamột số ít khách hàng mà không thu hút sự quan tâm của nhiều người Các yếu tốcủa giá trị đặc biệt có thể nảy sinh khi xem xét yếu tố của giá trị tài sản đangquan tâm hoặc giá trị đầu tư Thẩm định viên phải phân biệt rõ ràng những thông

số và nguyên nhân để vận dụng các khái niệm giá trị thị trường nói trên thay vì

sử dụng khái niệm giá trị thị trường

- Giá trị có thể bảo hiểm (insurable value): là giá trị của tài sản quy định trong

hợp đồng bảo hiểm

- Giá trị có thể tính thuế (taxable value): là giá trị trong phạm vi luật pháp liên

quan đến việc thuê mướn hoặc thu thuế tài sản Mặc dù một số văn bản pháp quytrích

- Giá trị đầu tư (investment value): là giá trị của một tài sản đối với một số nhà

đầu tư áp dụng cho một dự án đầu tư nhất định Khái niệm này liên quan đến nhữngtài sản riêng biệt với những nhà đầu tư riêng biệt Không nên nhầm lẫn giữa giá trịđầu tư và giá trị thị trường Giá trị đầu tư của một tài sản có thể cao hơn hoặc thấp

Trang 15

hơn giá trị thị trường của tài sản đó Tuy nhiên giá trị thị trường có thể phản ánh một

số đánh giá cá nhân về giá trị đầu tư Giá trị đầu tư có liên quan đến giá trị đặc biệt

- Giá trị đang sử dụng (Value in use): là giá trị các tài sản khi nói đang được một

người cụ thể sử dụng cho một mục đích nhất định Vì vậy, tài sản đó không liênquan đến thị trường Loại giá trị này đóng góp vào một doanh nghiệp với tư cách

là một bộ phận của tài sản doanh nghiệp, không tính đến giá trị sử dụng tối ưu

và tốt nhất của tài sản cũng như số tiền mà tài sản đó mang lại khi nó được mang

ra bán Xét trên giác độ kế toán, giá trị đang sử dụng là giá trị hiện tại của luồngtiền mặt ước tính có thể mang lại trong tương lai kể từ khi bắt đầu sử dụng tàisản đến khi thanh lý tài sản

- Giá trị doanh nghiệp đang hoạt động (going concern): là giá trị toàn bộ của một

doanh nghiệp Khái niệm này liên quan đến định giá tài sản một doanh nghiệpđang hoạt động mà mỗi bộ phận tài sản cấu thành nên doanh nghiệp đó khôngthể tách rời và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị thị trường

1.1.3 Các phương pháp định giá doanh nghiệp

1.1.3.1 Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF)

* Cơ sở lý luận:

Phương pháp hiện tại hoá dòng tiền thuần là một phương pháp xác định giá trịdoanh nghiệp dựa trên quan điểm đánh giá của nhà đầu tư đa số Trong cách nhìnnhận của những người này thì quan niệm về giá trị doanh nghiệp có những điểmkhác căn bản so với các phương pháp khác, vì:

Đối với nhà đầu tư đa số, việc bỏ tiền ra mua doanh nghiệp không phải nhằm đểtrông đợi một cách thụ động có tính chất may rủi về những khoản lợi tức cổ phần

mà doanh nghiệp “có thể” sẽ trả trong tương lai Theo quan điểm của nhà đầu tư đa

số, mua doanh nghiệp giống như việc đổi lấy một dự án đang được triển khai, giốngnhư việc đổi lấy một cơ hội, để theo đó nhà đầu tư sau khi nắm quyền kiểm soát còn

có thể điều khiển dự án- doanh nghiệp, hoạt động theo những dự định, những ýtưởng và sự tính toán của riêng mình

Trang 16

Đối với nhà đầu tư, quá trình SXKD là một quá trình phát sinh các dòng tiền vào

và các dòng tiền ra (xem sơ đồ 1.1):

Sơ đồ 1.1: Biểu diễn các dòng tiền của dự án đầu tư.

Nhà đầu tư luôn đánh giá mọi việc trên cơ sở các dòng tiền Họ chỉ quyết địnhmua doanh nghiệp trên cơ sở xem xét và đánh giá doanh nghiệp theo tiêu chuẩnhiệu quả của dự án đầu tư Tức là, người ta còn phải xem xét, cân nhắc đến số lượngvốn phải tiếp tục bỏ ra trong tương lai, độ lớn của các khoản thu nhập có thể đạtđược Và đặc biệt, trên quan điểm thời giá của tiền tệ và đầu tư là hoạt động bỏ vốnvới số lượng lớn, trong một khoảng thời gian dài, cho nên, yếu tố mà người takhông thể bỏ qua là thời điểm phát sinh các dòng tiền đó

Do vậy, giá trị hiện tại của dòng tiền thuần mà việc đầu tư vào doanh nghiệp cả

ở thời điểm hiện tại và tương lai đem lại cho đầu tư là tiêu chuẩn thích hợp để xácđịnh giá trị doanh nghiệp

* Phương pháp xác định:

Phương pháp chiết khấu dòng tiền thuần cũng được xây dựng dựa trên công thứctổng quát Nhưng điểm khác biệt căn bản đối với các phương pháp hiện tại hoá lợinhuận thuần và phương pháp hiện tại hoá lợi tức cổ phần là ở chỗ: Các phươngkhoản thu nhập trong tương lai được thay thế bằng dòng tiền thuần của dự án đầu tưvào doanh nghiệp:

(-A) Dòng tiền ra

Dòng tiền thuần của

dự án đầu tư = Dòng tiền vào - Dòng tiền ra

Trang 17

Trong đó:

- “Dòng tiền vào” là các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể đưa lại dướihình thức: Trích khấu hao tài sản cố định, lợi nhuận thuần hàng năm và cáckhoản vốn doanh nghiệp thu được khi dự án đầu tư kết thúc

- “Dòng tiền ra” là những khoản chi đầu tư vào doanh nghiệp, bao gồm các khoảnvốn đầu tư vào tài sản cố định, tài sản lưu động thường xuyên trong tương laiđối với doanh nghiệp

Để dễ dàng phân biệt các yếu tố cấu thành giá trị doanh nghiệp, người ta xâydựng công thức tổng quát (1.3) như sau:

n n n

t o

i

V i

CF V

) 1 ( ) 1 (

Trong đó:

+ Vo: Giá trị doanh nghiệp

+ CFt: thu nhập thuần năm thứ t+ Vn: Giá trị doanh nghiệp ở cuối kỳ đầu tư (năm thứ n)+ i: Tỷ suất hiện tại hoá

Việc xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp này thường được chia rathành các bước cơ bản sau:

Bước 1: Thực hiện dự báo dài hạn về dòng tiền vào và dòng tiền ra có thể phát

sinh trong tương lai, bao gồm:

- Dự báo về doanh thu, chi phí vận hành, các khoản vốn đầu tư bổ sung và cáckhoản vốn rút ra khỏi quá trình luân chuyển trong từng năm

- Dự báo chu kỳ đầu tư (n) và giá trị doanh nghiệp ở thời điểm cuối của chu kỳ đó(Vn) Thông thường thời điểm cuối của chu kỳ đầu tư được xác định khi mà các

số liệu dự báo trong tương lai xa không còn đủ độ tin cậy ở mức độ cần thiết

Bước 2: Xác định tỷ suất chiết khấu dòng tiền.

Tỷ suất chiết khấu được lựa chọn trên nguyên tắc vừa thể hiện được yếu tố thờigiá của tiền tệ vừa tính đến yếu tố rủi ro Đối với phương pháp này, thường người tatìm cách dự tính chi phí sử dụng vốn bình quân- phản ánh chi phí cơ hội đầu tư vốnvào doanh nghiệp

Trang 18

Bước 3: Xác định giá trị hiện tại của dòng tiền thuần theo tỷ suất chiết khấu nói

trên để tìm ra giá trị doanh nghiệp

* Ưu điểm:

- Doanh nghiệp coi như một dự án đầu tư đang triển khai, mỗi nhà đầu tư nhìnnhận tương lai của dư án này khác nhau

- Giá trị doanh nghiệp là mức giá cao nhất nhà đầu tư có thể bỏ thầu

- Quan niệm về dòng tiền tránh được việc điều chỉnh số liệu kế toán sao cho cóthể phản ánh đúng thời điểm phát sinh các khoản tiền

* Nhược điểm:

- Khó khăn trong khi dự báo các tham số: i, n…

- Đối với các doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh hoặc có chiến lượckinh doanh không rõ ràng khó áp dụng phương pháp này

- Đòi hỏi phải có một lượng thông tin lớn

* Đối tượng áp dụng:

Đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh chủ yếutrong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, tư vấn, thiết kế xây dựng,tin học và chuyển giao công nghệ, có tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nướcbình quân 5 năm liền kề trước khi cổ phần hoá cao hơn lãi suất của trái phiếu Chínhphủ có kỳ hạn 5 năm tại thời điểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp

Việc xử lý các khoản dự phòng theo quy định tại Điều 17 Nghị định số109/2007/NĐ-CP thực hiện tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thànhcông ty cổ phần

1.1.3.2 Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức (DDM)

Giá trị doanh nghiệp (đối với chủ sở hữu) bằng tổng giá trị các loại cổ phiếu màdoanh nghiệp đã phát hành

Giá trị doanh nghiệp (tổng thể) bằng tổng giá trị các loại cổ phiếu cộng giá trịcủa các trái phiếu mà doanh nghiệp đang lưu hành và giá trị các khoản nợ khác

* Phương pháp xác định:

Công thức tổng quát xác định giá trị thực của các loại chứng khoán như sau:

Trang 19

t o

i

R i

R i

R i

R V

1 2

2 1

) 1 ( )

1 (

) 1 ( ) 1 (

Trong đó:

+ Vo: Giá trị doanh nghiệp;

+ Rt: Thu nhập từ chứng khoán năm t;

+ i: Tỷ suất hiện tại hoá;

+ n: Số năm nhận được thu nhập

Xác định giá trị thực của trái phiếu:

Nếu lợi tức trái phiếu giữ ổn định hàng năm và bằng R, ta được:

n

n n

i R

i

Pn i

Rt V

) 1 (

) 1 ( 1 )

1 ( ) 1 (

+ Pn: Mệnh giá trái phiếu phải trả vào năm thứ n

Xác định giá trị thực của cổ phiếu

Giả định 1: Doanh nghiệp có thể chi trả lưọi tức cổ phần một cách ổn định hàng năm Tức là mức lợi tức trong tương lai luôn là một hằng số D và Cho t +, ta có:

i

D i

D i

D

t

t n

t o

D V

0Xác định g:

- Lấy của quá khứ

- Dự đoán: g = ROE x tỷ lệ lợi nhuận sau thuế tái đầu tư

Trang 20

Giả định 3:lợi tức cổ phiếu chi trả hàng năm khác nhau cho tới thời điểm n, từ

n+1 trở đi giả thiết tăng đều với tốc độ là g (với g < r):

Với

g i

- Phương pháp này đặc biệt phù hợp với quan điểm nhìn nhận và đánh giá giá trị

doanh nghiệp của các nhà đầu tư thiểu số

- Thích hợp với doanh nghiệp có chứng khoán giao dịch trên thị trường, xác định

giá trị doanh nghiệp bằng phương pháp tài sản thuần gặp nhiều khó khăn và có

giá trị tài sản vô hình được đánh giá là rất cao

* Nhược điểm:

- Việc dự báo lợi tức cổ phần không phải là dễ dàng

- Phụ thuộc vào chính sách phân chia lợi tức cổ phần trong tương lai

- Việc xác định các tham số có tính thuyết phục không cao (t, n, i, g…)

1.1.3.3 Phương pháp tài sản thuần

* Cơ sở lý luận:

Phương pháp này còn gọi là phương pháp giá trị nội tại hay mô hình định giá tài

sản, được xây dựng dựa trên các nhận định:

- Doanh nghiệp về cơ bản giống như một loại hàng hoá thông thường

- Sự hoạt động của doanh nghiệp bao giờ cũng được tiến hành trên cơ sở một

lượng tài sản có thực Những tài sản đó là sự hiện diện rõ ràng và cụ thể về sự

tồn tại của doanh nghiệp, chúng cấu thành thực thể của doanh nghiệp

- Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của các nhà đầu tư

ngay khi thành lập doanh nghiệp và còn có thể được bổ sung trong quá trình

SXKD Cơ cấu nguồn tài trợ để hình thành tài sản là sự khẳng định và thừa nhận

g i

t

i

V i

D V

)1()1(

Trang 21

về mặt pháp lý các quyền sở hữu và lợi ích của các nhà đầu tư đối với tài sản đó.Chính vì vậy, giá trị của doanh nghiệp được tính bằng tổng gía trị thị trường của

số tài sản mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào SXKD

* Phương pháp xác định:

Tổng giá trị tài sản trong doanh nghiệp thường không chỉ thuộc về người chủ sởhữu doanh nghiệp mà chúng còn được hình thành trên các trái quyền khác, như: cáctrái chủ cho doanh nghiệp vay vốn, tiền lương chưa đến kỳ hạn trả, thuế chưa đến

kỳ hạn nộp, các khoản ứng trước của khách hàng, các khoản bán chịu của nhà cungcấp, các tài sản đi thuê…Do vậy, mặc dù giá trị doanh nghiệp được coi là tổng giátrị các tài sản cấu thành, nhưng để thực hiện một giao dịch mua bán doanh nghiệp,người ta phải xác định giá trị tài sản thuần- thuộc chủ sở hữu doanh nghiệp

Theo đó, công thức tổng quát được xây dựng như sau:

V 0 = V t - V N (1.1)

Trong đó:

+ V0: Giá trị tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp

+ Vt: Tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào SXKD.+ VN: Giá trị các khoản nợ

Dựa theo công thức (1.1), người ta suy diễn ra hai cách tính cụ thể về giá trị tàisản thuần (V0) như sau:

Cách thứ nhất:

- Dựa vào số liệu về tài sản và cơ cấu nguồn vốn phản ánh trên bảng cân đối kếtoán tại thời điểm đánh giá để xác định bằng cách: lấy tổng giá trị tài sản trừ đicác khoản nợ phải trả bên nguồn vốn

- Đây là một cách tính toán đơn giản, dễ dàng Nếu như việc ghi chép phản ánhđầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, doanh nghiệp chấp hành tốt các quy địnhcủa chế độ kế toán thì giá trị tài sản thuần tính toán được sẽ là số liệu có độ tincậy về số vốn theo sổ sách của chủ sở hữu đang được huy động vào SXKD Nóchỉ ra mức độ độc lập về mặt tài chính, khả năng tự chủ trong việc điều hànhSXKD của chủ doanh nghiệp, là căn cứ thích hợp để các nhà tài trợ đánh giá khảnăng toàn của đồng vốn đầu tư, đánh giá vị thế tín dụng của doanh nghiệp

- Mặc dù người ta có thể đánh giá giá trị doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau

Trang 22

Song, theo cách này nó cũng minh chứng cho các bên liên quan thấy được rằngđầu tư vào doanh nghiệp luôn luôn được đảm bảo bằng giá trị của các tài sảnhiện có trong doanh nghiệp, chứ không phải bằng cái “có thể” như nhiềuphương pháp khác.

Tuy nhiên, giá trị doanh nghiệp xác định theo phương pháp này cũng chủ lànhững thông tin, số liệu mang tính lịch sử có tính chất tham khảo trong quá trìnhvận dụng các phương pháp khác nhằm định ra giá trị doanh nghiệp một cách sátđúng hơn

Cách thứ hai: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường.

Ngay cả khi doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ kế toán do Nhà nước quy định thìthì số liệu trên bảng cân đối kế toán được lập vào thời điểm nào đó cũng khôngphản ánh đúng giá trị thị trường của toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp vì các lý dosau:

- Toàn bộ giá trị của các tài sản phản ánh trên bảng cân đối kế toán là những sốliệu được tập hợp từ các sổ kế toán, các bảng kê…Các số liệu này phản ánhtrung thực các chi phí phát sinh tại thời điểm xảy ra các nghiệp vụ kinh tế trongquá khứ của niên độ kế toán Đó là những chi phí mang tính lịch sử, không cònphù hợp ở thời điểm định giá doanh nghiệp, ngay cả khi không có lạm phát

- Giá trị còn lại của tài sản cố định phản ánh trên sổ sách kế toán cao hay thấp phụthuộc vào việc doanh nghiệp sử dụng phương pháp khấu hao nào, phụ thuộc vàothời điểm mà doanh nghiệp xác định nguyên giá và sự lựa chọn tuổi thọ kinh tếcủa tài sản cố định Vì vậy, giá trị tài sản cố định phản ánh trên sổ kế toán thườngkhông phù hợp với giá thị trường tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

- Trị giá hàng hoá vật tư, công cụ lao động…tồn kho hoặc đang dùng trong sảnxuất, một mặt phụ thuộc vào cách sử dụng giá hạch toán là giá mua đầu kỳ, cuối

kỳ hay giá thực tế bình quân Mặt khác, còn phụ thuộc vào sự lựa chọn các tiêuthức phân bổ chi phí khác nhau cho số hàng hoá dự trữ Do vậy, số liệu kế toánphản ánh giá trị của loại tài sản đó cũng không được coi là không có đủ độ tincậy ở thời điểm đánh giá doanh nghiệp

Đó là một số lý do cơ bản, nhưng cũng đủ để giải thích: Vì sao trị giá tài sảnphản ánh trên bảng cân đối kế toán chỉ được coi là tài kiệu tham khảo trong quá

Trang 23

trình đánh giá toàn bộ tài sản theo giá thị trường tại thời điểm xác định giá trịdoanh nghiệp.

Để xác định giá trị tài sản theo giá thị trường, trước hết người ta loại ra khỏidanh mục đánh giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứng cácyêu cầu của SXKD Sau đó tiến hành đánh giá số tài sản còn lại trên nguyên tắc sửdụng giá thị trường để tính cho từng tài sản hoặc từng loại tài sản cụ thể, như sau:

- Đối với tài sản cố định và tài sản lưu động là hiện vật thì đánh giá theo giá thịtrường nếu trên thị trường hiện đang có bán những tài sản như vậy Trong thực

tế, thường không tồn tại thị trường tài sản cố định cũ, đã qua sử dụng ở nhiềumức độ khác nhau Khi đó, người ta dựa theo công dụng hay khả năng phục vụsnả xuất của tài sản để áp dụng một tỷ lệ khấu trừ trên giá trị của một tài sản cốđịnh mới

- Đối với tài sản cố định không còn tồn tại trên thị trường thì người ta áp dụngmột hệ số quy đổi so với nhưng tài sản cố định khác loại nhưng có tính năngtương đương

- Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu số dư trên tàikhoản Nếu là ngoại tệ sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo tỷ giá thị trường tạithời điểm đánh giá Vàng, bạc, kim khí, đá quý…cũng được tính toán như vậy

- Các khoản phải thu: Do khả năng đòi nợ của các khoản này có thể ở nhiều mức

độ khác nhau Vì vậy, bao giờ người ta cũng bắt đầu từ việc đối chiếu công nợ,xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản phải thu nhằm loại ranhững khoản mà doanh nghiệp không có khả năng đòi được hoặc khả năng đòiđược là quá mong manh

- Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp: Về mặt nguyên tắc phảithực hiện đánh giá một cách toàn diện về giá trị đối với các doanh nghiệp hiệnđang sử dụng các khoản đầu tư đó Tuy nhiên, nếu các khoản đầu tư này khônglớn, người ta thường trực tiếp dựa vào giá thị trường của chúng dưới hình thứcchứng khoán hoặc căn cứ vào số liệu của bên đối tác liên doanh để xác định theocách thứ nhất đã đề cập ở trên

- Đối với các tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản: tính theo phương phápchiết khấu dòng thu nhập trong tương lai

Trang 24

- Các tài sản vô hình: Theo phương pháp này người ta chỉ thừa nhận giá trị củacác tài sản vô hình đã được xác định trên sổ kế toán và thường không tính đếncác lợi thế thương mại của doanh nghiệp.

Sau cùng giá trị tài sản thuần được tính bằng cách lấy tổng giá trị của các tài sản

đã được xác định trừ đi các khoản nợ phản ánh ở bên nguồn vốn của bảng cân đối

kế toán và khoản tiền thuế tính trên giá trị tăng thêm của tài sản được đánh giá lạitại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

* Ưu điểm của phương pháp xác định giá trị tài sản thuần:

- Nó chứng minh được: Giá trị DN là một lượng tài sản có thật

- Nó chỉ ra được giá trị tối thiểu của doanh nghiệp

- Thích hợp với những doanh nghiệp nhỏ, ít tài sản vô hình

* Nhược điểm của phương pháp xác định giá trị tài sản thuần:

- Đánh giá giá trị doanh nghiệp trong trạng thái tĩnh

- Không xây dựng được những cơ sở thông tin đánh giá về triển vọng sinh lời củadoanh nghiệp

- Trong nhiều trường hợp, kỹ thuật đánh giá quá phức tạp, chi phí tốn kém, thờigian kéo dài

1.1.3.4 Phương pháp hệ số P/E

* Cơ sở phương pháp luận:

Giá cả chứng khoán chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy, giá cảchứng khoán thường không phản ánh đúng giá trị của DN đã phát hành

Nếu thị trường chứng khoán hoàn hảo, tức là thoả mãn 5 điều kiện:

- Có vô số người mua và ngời bán

- Các loại chứng khoán có thể thay thế được cho nhau

- Chứng khoán và thông tin được lưu thông tự do

- Người ta có thể mua bán chúng vào bất kỳ lúc nào và nơi nào

- Mọi thành viên tham gia thị trường đều nắm được các điều kiện giao dịch muabán chứng khoán

Khi đó, giá cả chứng khoán chỉ phản ánh cung cầu thuần tuý, thì có thể được sửdụng để ước lượng giá trị DN

Trang 25

+ P: Giá mua bán cổ phần trên thị trường;

+ EPS: Thu nhập dự kiến của mỗi cổ phần, và bằng lợi nhuận thuần

dự kiến chia cho số lượng cổ phần đang lưu hành

*Ưu điểm:

- Cho kết quả nhanh chóng để ra quyết định kịp thời

- Phương pháp P/E dựa trên cơ sở giá trị thị trường bằng cách so sánh trực tiếp

* Nhược điểm:

- Mang nặng tính kinh nghiệm

- Dựa vào tỷ số P/E không thể giải thích được vì sao cũng là một đồng lợi nhuận,nhưng ở DN này P/E= 20, tức là được trả với giá gấp 20 lần, trong khi với DNkhác, thị trường lại sẵn sàng trả tới 30 lần hoặc hơn nữa

- Phương pháp P/E cũng không đa ra được những cơ sở để các nhà đầu tư phântích, đánh giá về khả năng tăng trưởng và rủi ro tác động tới giá trị DN

*Đối tượng áp dụng:

Phương pháp này áp dụng cho từng loại công ty, từng lĩnh vực công nghiệp vàtừng môi trường của thị trường Theo xu hướng trên thị trường chứng khoán cácnước trên thế giới thì lĩnh vực sau đây thường chấp nhận các chỉ số P/E cao (không

kể các tập đoàn hùng mạnh): ngân hàng, tài chính chứng khoán, công nghệ tin học,viễn thông, công nghệ sinh học, các ngành sản xuất công nghiệp kỹ thuật cao

*Kết luận:

Xác định giá trị doanh nghiệp là một việc làm đặc biệt phức tạp Có rất nhiềuphương pháp khác nhau được sử dụng để xác định giá trị doanh nghiệp Nhưng cácphương pháp đã nêu ở trên là những phương pháp cơ bản, có cơ sở lý luận rõ ràng,vững chắc và có tính khả thi cao trong thực tế Mỗi một phương pháp đã đưa ra đềuthích ứng với những hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp và tầm nhìn nhận của từng

Trang 26

nhà đầu tư Không có một phương pháp nào phù hợp trong mọi hoàn cảnh.

Kết quả xác định về giá trị doanh nghiệp có thể có sự chênh lệch rất lớn khi sửdụng các phương pháp khác nhau, và thậm chí ngay cả khi vận dụng cùng mộtphương pháp Vì, kết quả tính toán được không chỉ phụ thuộc vào khả năng ướclượng với độ chính xác cao và các tham số đưa ra khảo sát, tức là phụ thuộc vào mặt

kỹ thuật của bản thân từng phương pháp, mà còn phụ thuộc vào quan điểm đánh giá

về mặt lợi ích của doanh nghiệp đối với từng nhà đầu tư và dự định riêng của họ đốivới tương lai của doanh nghiệp

Một phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp được coi là tốt nhất nếu nó chỉ rađược những lợi ích thực sự mà doanh nghiệp sẽ mang lại cho nhà đầu tư, đồng thời

nó cho phép người ta có cơ sở thực tiễn để lượng hoá những lợi ích đó Có nghĩa là,

nó được cả người mua và người bán cùng sử dụng như một cơ sở duy nhất để đàmphán về giá cả giữa đôi bên

1.1.4 Quy trình thẩm định giá doanh nghiệp

Quy trình thẩm định giá doanh nghiệp tuân thủ quy trình thẩm định giá tại Tiêuchuẩn TĐG số 05 ban hành theo QĐ số 24/2004/QĐ-BTC ngày 07/10/2005 của BộTài chính

Nhìn chung, quy trình thẩm định giá doanh nghiệp tương tự như quy trình thẩmđịnh giá các tài sản khác, nhưng nội dung cụ thể của các bước cần được điều chỉnhphù hợp với việc thẩm định giá doanh nghiệp

Quy trình thẩm định giá doanh nghiệp gồm có 6 bước:

Trang 27

- Xác dịnh tài liệu cần thiết cho việc thẩm định giá

1.1.4.2 Lập kế hoạch thẩm định giá

Việc lập kế hoạch thẩm định giá nhằm xác định rõ những bước công việc phảilàm và thời gian thực hiện từng bước công việc cũng như toàn bộ thời gian cho việcthẩm định giá

Nội dung kế hoạch phải thể hiện những công việc cơ bản sau: Xác định các yếu

tố cung cầu thích hợp với chức năng, các đặc tính và các quyền gắn liền với doanhnghiệp được mua bán và đặc điểm thị trường; Xác định các tài liệu cần thu thập vềthị trường, về doanh nghiệp, tài liệu so sánh; Xác định và phát triển các nguồn tàiliệu, đảm bảo nguồn tài liệu đáng tin cậy và phải được kiểm chứng; Xây dựng tiến

độ nghiên cứu, xác định trình tự thu thập và phân tích dữ liệu, thời hạn cho phépcủa trình tự phải thực hiện; Lập đề cương báo cáo kết quả thẩm định giá

1.1.4.3 Tìm hiểu doanh nghiệp và thu thập tài liệu

Trong bước này cần lưu ý:

Khảo sát thực tế tại doanh nghiệp: kiểm kê tài sản, khảo sát tình hình sản xuấtkinh doanh thực tế của doanh nghiệp

Thu thập thông tin trước hết là các thông tin, tư liệu từ nội bộ doanh nghiệp: tưliệu về tình hình sản xuất kinh doanh, các báo cáo tài chính - kế toán - kiểm toán, hệthống đơn vị sản xuất và đại lý, đặc điểm của đội ngũ quản lý điều hành, nhân viên,công nhân,… Ngoài ra còn chú ý thu thập thông tin bên ngoài doanh nghiệp đặc biệt

là thị trường sản phẩm của doanh nghiệp, môi trường kinh doanh, ngành kinhdoanh, các đối thủ cạnh tranh, chủ trương của Nhà nước,… Thẩm định viên cần tiếnhành những bước cần thiết để bảo đảm rằng tất cả nguồn dữ liệu làm căn cứ đềuđáng tin cậy và phù hợp với việc thẩm định giá Việc thẩm định viên tiến hành cácbước hợp lý để thẩm tra sự chính xác và hợp lý của các nguồn tư liệu là thông lệtrên thị trường

Trang 28

1.1.4.4 Đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp

Cần đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp trên các mặt: sảnxuất kinh doanh, thiết bị công nghệ, tay nghề người lao động, bộ máy quản lý vànăng lực quản lý, vốn nợ, các chỉ tiêu tài chính, thị trường, môi trường kinh doanh

1.1.4.5 Xác định phương pháp thẩm định giá, phân tích số liệu, tư liệu, và ước tính giá trị doanh nghiệp

Thẩm định viên về giá doanh nghiệp dựa vào ý kiến, kết quả công việc củathẩm định viên khác hay các nhà chuyên môn khác là cần thiết khi thẩm định giádoanh nghiệp Một ví dụ thường thấy là dựa vào kết quả thẩm định giá bất động sản

để thẩm định giá các tài sản bất động sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp Khi dựavào ý kiến, kết quả của thẩm định viên khác hoặc các chuyên gia khác, thẩm địnhviên về giá doanh nghiệp cần tiến hành các bước thẩm tra để bảo đảm rằng nhữngdịch vụ đó được thực hiện một cách chuyên nghiệp, các kết luận hợp lý và đáng tincậy

1.1.4.6 Phần chuẩn bị báo cáo và lập báo cáo thẩm định giá

Phần chuẩn bị báo cáo và lập báo cáo thẩm định giá doanh nghiệp tương tự nhưcác tài sản khác Báo cáo kết quả thẩm định giá doanh nghiệp phải nêu rõ:

- Mục đích thẩm định giá

- Đối tượng thẩm định giá phải được mô tả rõ Cần phải nêu rõ đối tượng thẩmđịnh giá là toàn bộ doanh nghiệp, lợi ích doanh nghiệp hay một phần lợi íchdoanh nghiệp, lợi ích đó thuộc về toàn bộ doanh nghiệp hay nằm trong tài sản cábiệt do doanh nghiệp sở hữu Mô tả doanh nghiệp thẩm định giá, bao gồm nhữngnội dung sau:

 Loại hình tổ chức doanh nghiệp

Trang 29

 Triển vọng đối với doanh nghiệp

 Những giao dịch quá khứ của các lợi ích sở hữu tương tự trong doanhnghiệp

- Cơ sở giá trị của thẩm định giá: định nghĩa giá trị phải được nêu và xácđịnh

- Phương pháp thẩm định giá: Các phương pháp thẩm định giá và lý do áp dụngcác phương pháp này; những tính toán và logic trong quá trình áp dụng một haynhiều phương pháp thẩm định giá; xuất phát của các biến số như các tỷ lệ chiếtkhấu, tỷ lệ vốn hoá hay các yếu tố thẩm định khác; những lập luận khi tổng hợpnhững kết quả thẩm định giá khác nhau để có kết quả giá trị duy nhất

- Những giả thiết và những điều kiện hạn chế khi thẩm định giá, những tiền đề vàgiả thiết quan trọng đối với giá trị phải được nêu rõ

- Nếu có một khía cạnh nhất định của công việc thẩm định giá cần sụ vận dụng sovới những quy định của những tiêu chuẩn hay hướng dẩn mà sự vận dụng đó xétthấy là cần thiết và thích hợp thì nội dung, những lý do vận dụng cần được nêu

rõ trong báo cáo

- Phân tích tài chính:

 Tóm lược bảng tổng kết tài sản và bản báo cáo thu nhập trong một giai đoạnnhất định phù hợp với mục đích thẩm định giá và đặc điểm của doanhnghiệp

 Những điều chỉnh đối với các dữ liệu tài chính gốc (nếu có)

Trang 30

 Những giả thiết cơ bản để hình thành bảng cân đối tài sản và báo cáo thunhập.

 Tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp qua thời gian và so sánh vớicác doanh nghiệp tương tự

- Kết quả thẩm định giá

- Phạm vi và thời hạn thẩm định giá

- Chữ ký và xác nhận: thẩm định viên, người ký vào báo cáo thẩm định giá chịutrách nhiệm đối với những nội dung thực hiện trong báo cáo

1.2 Định giá doanh nghiệp KHỞI NGHỊÊP

1.2.1 Khái niệm về định giá doanh nghiệp KHỞI NGHỊÊP

Định giá Khởi nghịêp là chủ đề luôn được quan tâm Đó là những gì nhà đầu tư(NĐT), các đơn vị thâu tóm, IPO sẽ trả cho công ty của bạn Giá trị công ty của bạnđược xác định dựa vào những tài sản vô hình như chất lượng đội ngũ sáng lập, quy

mô thị trường tiềm năng và cách thức để bạn làm chủ được thị trường mà công tyhướng tới

1.2.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp KHỞI NGHỊÊP

Để xác định được giá trị doanh nghiệp của các công ty Khởi nghịêp và mớithành lập là việc không hề đơn giản, và nó đang gây được sự chú ý không nhỏ, đặcbiệt là từ phía các nhà đầu tư luôn tìm kiếm cơ hội Điển hình như việc nhiều công

ty Khởi nghịêp công nghệ của Việt Nam đã thu hút được vốn từ nhiều cá nhân cũngnhư các quỹ mạo hiểm nước ngoài

Các nhà đầu tư cần chú ý đến những yếu tố nào khi có ý định tham gia vào lĩnhvực được xem là vô cùng hấp đẫn này?

Đa số các quỹ đầu tư và công ty chứng khoán dùng những phiên bản nâng caocủa phương pháp Chiết khấu Dòng tiền Tự do (Discounted Free Cash Flow) để địnhgiá cácdoanh nghiệp muốn mua Phương pháp này dựa trên những giả định về dòng

Trang 31

tiền tương lai.

Tuy nhiên, cách đó rất khó áp dụng cho Khởi nghịêp công nghệ do những công

ty này thường ít khấu hao và luôn phải đầu tư phát triển lâu dài Cũng vì lý do này

mà các phương pháp dựa trên quy chiếu lợi nhuận như P/E, EBITDA cũng khó sửdụng được

Ngoài ra, các phương pháp định giá dựa trên tài sản cố định cũng không khả thi

vì nhiều công ty công nghệ đều không có bất động sản hay máy móc Tài sản chínhcủa họ là chất xám

Vì thế, việc định giá Khởi nghịêp công nghệ cần quy về các chỉ số hiệu suất(KPI) đặc thù cho mỗi mô hình, ví dụ như số người dùng, giá trị trung bình mỗingười dùng hay chỉ số truy cập Các KPI này được so sánh với giá trị thị trường củacác công ty cùng ngành, qua đó ước lượng giá trị công ty

Phải có quan điểm đầu tư dài hạn, Các đầu tư truyền thống có thể chọn chiến

lược dài hạn hoặc chỉ “lướt sóng” Tuy nhiên, ý định đầu tư ngắn hạn vào công tycông nghệ tại Việt Nam sẽ khá khó khăn do đặc thù ngành

Các mô hình công nghệ cao cần rất nhiều tiền đầu tư nghiên cứu và phát triểnban đầu để cho ra sản phẩm Khi sản phẩm đã thương mại hóa thành công, chi phí

cố định sẽ được kìm lại và mức gia tăng chi phí biến đổi cũng không nhanh bằng

mức tăng doanh thu Lợi nhuận đột phá của công ty công nghệ sẽ đến từ đó Và bởi

đặc thù chi phí ban đầu như vậy, nhà đầu tư vào công nghệ cần có quyết tâm và kiênnhẫn cao độ Sự kiên nhẫn của họ thường được đền đáp bằng việc công ty nhận đầu

tư có thể chiếm lĩnh thị trường Đa số các sản phẩm công nghệ thành công sẽ đạtđược điều này nhờ ít phụ thuộc rào cản địa lý Ví dụ, người tiêu dùng ở nông thônhay vùng núi cũng có thể tiếp cận dịch vụ học trực tuyến qua kết nối 3G

Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến tầm nhìn đầu tư là tính thanh khoản.Khác với thời điểm bong bóng internet hồi cuối thế kỷ 20, các công ty công nghệtrong đợt sóng hiện tại đang được giữ ở nguồn vốn tư (private equity) Vì vậy việc

“lướt sóng” tốn rất nhiều chi phí giao dịch

Đầu tư cả hệ sinh thái công nghệ, Trên thực tế, sử dụng sản phẩm công nghệ

không phải là trải nghiệm đơn lẻ, mà là một quy trình nhiều công đoạn Đơn cử như

để tạo điều kiện cho khách mua hàng trực tuyến, ngoài website bán hàng, các công

Trang 32

ty còn phải tạo điều kiện cho khách thanh toán trực tuyến, chuẩn bị công tác khovận để giao hàng đúng hẹn, đầu tư vào các dịch vụ marketing trực tuyến để tái kíchthích nhu cầu mua hàng… Từ đó lại nảy sinh hàng loạt vấn đề cần phải đầu tư chothương mại điện tử như thanh toán điện tử, kho vận, quảng cáo hay hệ thống quản

trị thông tin khách hàng Điều tương tự cũng diễn ra với nhiều mô hình kinh doanh

trực tuyến khác Thế nên, nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực công nghệ cũng cầntính toán hoặc kêu gọi đồng đầu tư cho cả hệ sinh thái Chỉ có như vậy, khả năngthành công mới được nâng cao

Học cách hợp tác với các kỹ sư, Những nhà sáng lập các công ty công nghệ hầu

hết là kỹ sư điện toán, lập trình với những ý tưởng giúp giải quyết vấn đề tồn tạitrong cuộc sống Kỹ sư có thể thức thâu đêm với những dòng lệnh lập trình, nóichuyện lý tính hơn là dùng kỹ thuật giao tế

Vậy nên đầu tư cho công nghệ, nhà đầu tư sẽ phải làm việc cùng những ngườirất khác so với doanh nhân ở những ngành truyền thống như phân phối bán lẻ haybất động sản

Thế giới đang đón nhận một làn sóng công nghệ mới và Việt Nam cũng khôngngoại lệ Người chiến thắng có thể nắm toàn bộ thị trường, nhưng cần đầu tư dàihạn, nghiêm túc và toàn diện Vậy có nên đầu tư vào công nghệ hay không? Theo

em, “Nhảy vào thì rủi ro không biết ai sẽ thắng, nhưng không nhảy vào thì chắcchắn hối hận vì cuối cùng cũng sẽ có người chiến thắng.”

Yêu cầu đặt ra cho các công ty mới thành lập thu hút được nguồn vốn và địnhđược giá doanh nghiệp là:

Thành công của Doanh nghịêp

Khi đã đạt được một thành công nào đó, Khởi nghịêp sẽ được định giá cao hơn,đồng thời tăng cơ hội để gọi vốn từ một quỹ đầu tư

Chất lượng nhân sự

Luôn phải cẩn trọng khi chọn thuê nhân sự, nhất là khi có kế hoạch sẽ trả chonhững cộng sự của mình bằng cổ phiếu của công ty Cần tìm những người giỏichuyên môn, có khả năng lãnh đạo, quản lý lĩnh vực của mình

Những thành tựu nổi bật

Đạt được một số cột mốc quan trọng giúp Khởi nghịêp được định giá cao hơn

Trang 33

sau mỗi vòng gọi vốn Đó có thể là thành công trong kỹ thuật (phiên bản beta haysản phẩm mẫu), mức độ lôi kéo khách hàng, mục tiêu cụ thể của công ty

Khả năng đạt được mục tiêu

Sẽ mất uy tín nếu từng thất hứa hoặc không hoàn thành công việc như cam kết.Một khi đã xác định các mốc phát triển, phải xây dựng ngân sách hợp lý để hoànthành mục tiêu, đúng thời hạn cam kết Luôn dành ra 25% số vốn có để xử lý nhữngkhoản chi cho các sự cố bất ngờ

Khả năng đàm phán

Một phần của cuộc đàm phán là bạn phải biết được NĐT định giá Khởi nghịêpcủa bạn bao nhiêu, có cơ sở để tiếp tục các thỏa thuận Bạn sẽ không có một camkết nào cho đến khi NĐT cho bạn một con số cụ thể

Tất nhiên, Khởi nghịêp càng được định giá cao càng tốt Tuy nhiên, đó cũng cần

là mức giá hợp lý để tránh trường hợp mức giá đó không được hỗ trợ bởi thị trường

1.2.3 Các phương pháp định giá KHỞI NGHỊÊP và phạm vi ứng dụng của các phương pháp đó

1.2.3.1 Phương pháp 1: Cash-Based Valuation (Phương pháp dựa trên tiền mặt)

Các tính toán này dựa trên những kế hoạch tài chính, số lượng doanh thu ướctính và các số liệu tăng trưởng Và cách tính này chỉ áp dụng cho những Khởinghịêp đã có doanh thu từ sản phẩm và có một lượng khách hàng thường xuyên

Ví dụ như: công ty A nhận được 360 triệu đồng trong vòng gọi vốn (tháng 11 năm2012) – gần bằng với mục tiêu là 400 triệu Doanh thu bình quân của công ty trongnăm 2012 ước tính là hơn 35 triệu đồng và lợi nhuận bằng 17.5 triệu đồng (50%doanh thu) Giá trị của công ty ước tính khoảng 350 triệu (bằng 10 lần doanh thumột năm)

Điều này chứng tỏ rằng nhà đầu tư kỳ vọng công ty A sẽ có giá trị tăng lên vàbằng 10 lần doanh thu năm sau đó Cách tính này được xuất phát từ số liệu tăngtưởng doanh thu hiện tại và tăng trưởng doanh thu trên kế hoạch

Tuy nhiên, cách tính giá trị Khởi nghịêp này chỉ trong trường hợp qua mỗi năm,

số liệu từ doanh thu bán sản phẩm đều tăng Nhưng nếu trong trường hợp các nhàđầu tư, họ sẽ không sử dụng cách tính này mãi vì các số liệu chỉ là ước tính Hơn

Trang 34

nữa, những dự án của công ty có thể sẽ bị hoãn hoặc ngưng không tiếp tục vì mộtvài lý do và nếu tính toán giá trị công ty dựa trên những con số này thì hoàn toànkhông thể tin cậy được.

1.2.3.2 Phương pháp 2: Mô hình 7x lợi nhuận hoặc 3x doanh thu

Phương pháp này áp dụng cho những Khởi nghịêp phát triển nhanh hoặc dẫnđầu về số liệu tăng trưởng, hoạt động trong lĩnh vực, thị trường có tốc độ tăngtrưởng cao Lý do để chọn con số 7 hoặc 3 chính là khả năng đáp ứng một lượnglớn nhu cầu thị trường và khả năng thay đổi quy mô sản xuất cho phù hợp Tuynhiên, các tính giá trị này thường tồn tại trong một thời gian rất ngắn, từ vài thángtới 2 năm vì tốc độ tăng trưởng của một Khởi nghịêp hiếm khi giữ vững được nhưgiai đoạn cao trào

1.2.3.3 Phương pháp 3: So sánh với những công ty tương đương

Một cách tham khảo mà nhiều nhà đầu tư hay dùng chính là so sánh với giá trịcủa các công ty tương tự Số liệu của những công ty này hầu như đều được thôngbáo rộng rãi nên cũng không quá khó để tìm kiếm

Trên đây chỉ là những phương pháp phổ biến nhất, thực tế thì còn nhiều phươngpháp khác, sử dụng nhiều mô hình phức tạp để tính toán bởi vì Khởi nghịêp là mộtpháp nhân rất khó định giá chính xác nếu như chỉ thông qua các số liệu kinh doanh

1.2.3.4 Phương pháp 4: Định giá đầu tư mạo hiểm

Ta phân tích lợi ích kinh tế trước tiên Lợi ích kinh tế (không chỉ là giá cả) Cáccuộc thảo luận về giá tập trung xoay quanh giá trị trước khi góp vốn – công ty đánggiá bao nhiêu trước khi nhận được các khoản đầu tư?

Xác định giá trị trước khi góp vốn là một nghệ thuật, chứ không phải là một kỹnăng và nhiều doanh nhân thất vọng với việc này dường như làm theo một quá trìnhkhông rõ ràng Không giống như những gì bạn được học tại lớp học tài chính trong cáctrường kinh doanh, nơi mà bạn tính toán dòng tiền chiết khấu và áp dụng một chi phívốn trung bình trọng số, thì vấn đề này không dựa trên một công thức thần kỳ nào.Việc định giá trị cho các dự án kinh doanh được đưa ra trong một cuộc đàm phán qualại dựa trên ba yếu tố:

(1) Số vốn mà doanh nhân muốn gọi đầu tư để thực hiện các cột mốc quan trọngđầu tiên;

Trang 35

(2) Quyền sở hữu mục tiêu của nhà đầu tư (thường là 20-30%);

(3) Mức độ cạnh tranh của thỏa thuận (có nghĩa là, nếu doanh nhân này đượcnhiều nhà đầu tư theo đuổi, thì họ có thể tăng giá)

Nhưng giá trị trước khi góp vốn không phải là thuật ngữ duy nhất thể hiện vềgiá: Giá trị sau góp vốn cũng đóng một vai trò quan trọng Giá trị sau khi góp vốn làgiá trị trước góp vốn cộng với khoản đầu tư Nghĩa là, nếu một công ty gọi được 4triệu đô-la tiền vốn khi giá trị trước góp vốn của công ty là 6 triệu đô-la, thì giá trịsau khi góp vốn là 10 triệu đô-la Vì vậy, các nhà đầu tư mạo hiểm đã bỏ ra 4 triệuđô-la để sở hữu 40% công ty và đội ngũ quản lý (nhà sáng lập, nhân viên, các giámđốc) sở hữu 60% còn lại

Một thuật ngữ khác có ảnh hưởng tới giá cả là quy mô quyền chọn Hầu hết cácnhà đầu tư mạo hiểm đầu tư vào các công ty cần thuê thành viên ban quản lý bổsung, nhân sự bán hàng và tiếp thị, và nhân tài có chuyên môn để xây dựng doanhnghiệp Một số các công ty mới Khởi nghịêp bắt đầu vòng đời với một đội ngũ sánglập mong muốn thuê một CEO giỏi từ bên ngoài Những nhân sự mới được thuê nàynhận được các quyền chọn cổ phiếu, và việc phát hành quyền chọn cổ phiếu này sẽpha loãng quyền sở hữu của các cổ đông khác

Trong quá trình dự toán các nhu cầu thuê thêm nhân sự, nhiều nhà đầu tư mạohiểm sẽ cần một “chiếc ao quyền chọn” với các quyền chọn cổ phiếu chưa phân bổ,

từ đó hình thành một ngân sách quyền chọn mua cổ phiếu cho các nhân viên mớinày để tránh pha loãng thêm quyền sở hữu Chiếc ao quyền chọn cổ phiếu thường đikèm với việc phân bổ đội ngũ quản lý (ví dụ, ao quyền chọn nằm trong nằm tronggiá trị trước khi góp vốn), độc lập với quyền sở hữu của nhà đầu tư Trong ví dụtrên với 4 triệu đô-la được đầu tư vào 6 triệu đô-la giá trị trước khi góp vốn (hay tỷ

lệ phân chia quyền sở hữu là “4:6”), nếu các nhà đầu tư tham gia vào chiếc aoquyền chọn cố phiếu chưa phân bổ với 20%, thì các nhà đầu tư mạo hiểm vẫn sởhữu 40% cổ phần và 60% còn lại được phân chia giữa một ao quyền chọn cổ phiếuchưa phân bổ 20% theo quyết định của Hội đồng quản trị và 40% cổ phần thuộcquyền sở hữu của đội ngũ quản lý Nói cách khác, đội ngũ quản lý hiện tại/thànhviên sáng lập đã từ bỏ 20% trong 60% quyền sở hữu của họ để dành nó cho đội ngũnhân viên mới

Trang 36

1.2.4 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác định giá doanh nghiệp KHỞI NGHỊÊP

1.2.4.1 Các nhân tố bên trong công ty

- Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp: Khi xác định giá trị doanh nghiệp,

bao giờ người ta cũng quan tâm ngay đến hiện trạng tài sản của doanh nghiệp, vì

2 lý do chủ yếu:

Thứ nhất, Tài sản của một doanh nghiệp là biểu hiện của yếu tố vật chất cần

thiết, tối thiểu đối với quá trình sản xuất kinh doanh Số lượng, chất lượng, trình

độ kỹ thuật và tính đồng bộ của các loạ tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng

và chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra

Thứ hai, Giá trị các tài sản của doanh nghiệp được coi là một căn cứ và là một

sự đảm bảo rõ ràng nhất về giá trị doanh nghiệp Vì thay cho việc dự báo cáckhoản thu nhập tiềm năng thì người sở hữu có thể bán chúng bất cứ lúc nào đểnhận về một khoản thu nhập từ những tài sản đó

Chính vì vậy, người ta thường đánh giá cao các phương pháp có liên quan trựctiếp đến việc xác định giá trị tài sản doanh nghiệp

- Vị trí kinh doanh: Được đặc trưng bởi các yếu tố như: địa điểm, diện tích của

doanh nghiệp và các chi nhánh thuộc doanh nghiệp, yếu tố địa hình, thời tiết…

Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất kinh doanh Ví dụ:Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, được đặtgần đô thị, các nơi đông dân cư, các trung tâm buôn bán lớn và các đầu mối giaothông quan trọng có thể đem lại rất nhiều lợi thế cho doanh nghiệp như: Chi phívận chuyển, bảo quản, chi phí lưu kho, … Đồng thời doanh nghiệp có nhữngthuận lợi lớn để tiếp cận và nắm bắt nhanh chóng nhu cầu, thị hiếu của thịtrường, thực hiện tốt các dịch vụ hậu thương mại… Tuy nhiên, với vị trí đó cũng

có thể kéo theo sự gia tăng một số khoản chi phí như thuê văn phòng giao dịchthuê lao động…

Vì vậy vị trí kinh doanh cần được coi là một trong các yếu tố quan trọng hàngđầu khi đưa ra phân tích, đánh giá giá trị doanh nghiệp

Ngày đăng: 18/08/2020, 06:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Lưu Thị Hương (1998), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Giáo dục Khác
2. TS. Ngô Văn Quế (2001), Công ty cổ phần và Thị trường tài chính, NXB Lao động Khác
3. Đoàn Văn Trường (2007), Tuyển tập các phương pháp thẩm định giá trị tài sản, NXB Khoa học Kỹ thuật Khác
4. Đoàn Văn Trường (2005), Các phương pháp thẩm định giá trị máy móc, thiết bị, NXB Khoa học Kỹ thuật Khác
5. Đoàn Văn Trường (2005), Các phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình, NXB Khoa học Kỹ thuật Khác
6. Ban vật giá chính phủ (2002), Những tiêu chuẩn thẩm định giá năm 2000, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Khác
7. Các website: www.hafi.com.vn www.taichinhviet.com www.vacpa.com.vn www.vnexpress.vn www.vnep.org.vnwww.doanhnhansaigon.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w