TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ THU LÝ PHÁT TRIỂN NẰNG Lực TU DUY CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC GIẢI CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU KHÓA LUẬN TÔT
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ THU LÝ
PHÁT TRIỂN NẰNG Lực TU DUY
CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC GIẢI CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
KHÓA LUẬN TÔT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ờ Tiểu học
HÀ NỘI - 2019
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC _• •
NGUYỄN THỊ THU LÝ
PHÁT TRIỂN NẢNG Lực TƯ DUY
CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC GIẢI CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
KHÓA LUẬN TÔT NGHIỆP ĐẠI HỌCChuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ NGỌC SƠN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, TS Lê NgọcSơn người trực tiếp hướng dẫn khóa luận, tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốtquá trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong khoa giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng các bạn sinh viên trong khoa đã tạo điều kiệnthuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
-Do thời gian và vốn kiến thức có hạn, khóa luận không tránh khỏi có nhữnghạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy/Cô đểkhóa luận được hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04, năm 2019
Sinh viên thực hiện
« •
Nguyễn Thị Thu Lý
Trang 5Viết tẳt Viết đầy đủ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: đề tài “Phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 5 thôngqua dạy học giải các bài toán về chuyển động đều” là kết quả nghiên cứu của cá nhântôi dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy hướng dẫn và có tài liệu tham khảo
Khóa luận không sao chép từ bất kì tài liệu sẵn có nào
Ket quả nghiên cứu không trùng lặp với các tác giả khác
Hà Nội, thảng 04, năm 2019
Sinh viên thực hiện
« •
Nguyễn Thị Thu Lý DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG Lực TƯ DUY CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC GIẢI CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYÊN ĐỘNG ĐỀU 5
1.1 Cơ sở lý luân của vấn đề phát triển năng lực tư duy 5
1.1.1.Tư duy và một số vấn đề về tư duy 5
1.1.1.1 Khái niệm 5
1.1.1.2 Đặc điểm 5
1.1.1.3 Các thao tác tư duy 6
1.1.1.4 Những hình thức cơ bản của tư duy 7
1.1.2.Năng lực và vấn đề phát triển năng lực tư duy 7
1.1.2.1 N ăng lực và năng lực tư duy 7
1.1.2.2 Cấu trúc của năng lực, năng lực tư duy 8
1.2 Thực trạng phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 5 trong dạy học các bài toán về chuyển động đều 9
1.2.1.So sánh chương trình môn Toán hiện hành và chương trình mới 9
1.2.2 Đặc điểm môn Toán lớp 5 nói chung và các bài toán về chuyển động đều nói riêng 13
1.2.2.1 Mục tiêu 13
1.2.2.2 Nội dung 14
1.2.2.3 Phương pháp dạy học 16
1.2.2.4 Đánh giá kế quả học tập 18
1.2.3.Đặc điểm tư duy của học sinh lớp 5 18
1.2.4 Tình hình phát triển năng lực tư duy của học sinh lớp 5 trong dạy học các bài toán về chuyển động đều 19
Trang 82.1 Nhóm biện pháp 1: Tập luyện một số thao tác tư duy cho học sinh lớp 5
trong dạy học giải toán chuyển động đều 23
2.1.1 Biện pháp 1: Tập luyện thao tác tư duy “phân tích” khi tìm lời giải của bài toán 23
2.1.2 Biện pháp 2: Tập luyện thao tác “tổng hợp” khi trình bày lời giải bài toán chuyển động đều 25
2.2 Nhóm biện pháp 2: Đe xuất một số bài tập chuyển động đều phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 5 28
2.2.1 Biệ n pháp 3: Bài toán chuyển động ngược chiều “gặp nhau” 28
2.2.2 Biệ n pháp 4: Bài toán chuyển động cùng chiều “đuổi kịp” 32
TIÊU KẾT CHƯƠNG 2 36
Chương 3 THựC NGHIỆM SƯ PHẠM 37
3.1 Kh ái quát về thực nghiệm sư phạm 37
3.1.1.Mục đích thực nghiệm 37
3.1.2.Nội dung thực nghiệm 37
3.1.3.Đối tượng thực nghiệm 37
3.1.4.Thời gian thực nghiệm 37
3.1.5.Tổ chức thực nghiệm 37
3.1.5.1 Ch ọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 37
3.1.5.2 Tra o đổi với giáo viên giảng dạy 38
3.1.5.3 Tiế n hành thực nghiệm 38
3.2 Kết quả thực nghiệm 39
3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 40
3.3.1 Đán h giá định lượng 40
3.3.2 Đán h giá định tính 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 41
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng so sánh chương trình môn Toán hiện hành và chương trình mới 9Bảng 1.2 Bảng nội dung chương trình toán lớp 5 14Bảng 3.1 Kết quả bài kiểm tra lớp 5A1 và 5A2 tạitrường Tiểu học Định Trung 39
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ tầm quan trọng của tư duy
Tư duy có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động nhận thức và hình thànhnhân cách con người “Nó giúp con người nhận thức được quy luật khách quan”, đưa
ra những phán đoán về xu thế vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng để từ đó đưa
ra kế hoạch tác động, cải tạo hiện thực khách quan Ngoài ra tư duy còn giúp conngười lĩnh hội được nền văn hóa xã hội để hình thành và phát triển nhân cách củamình, đóng góp những thành quả lao động của mình vào kho tàng văn hóa xã hội loàingười
Tư duy của loài người là cơ sở, nền tảng của mọi tri thức khoa học Nó chính là
“chìa khóa” để đưa thế giới phát triển không ngừng Chỉ có tư duy mới có thể giúp conngười khám phá, phát minh ra những công trình vĩ đại làm thay đổi xã hội, giúp xã hội
có những bước tiến dài trong lịch sử Chính vì vậy mà phát triển tư duy là nhiệm vụcần thiết, lâu dài và cần được thực hiện ngay từ bậc Mầm non, Tiểu học
1.2 Xuất phát từ vai trò của giáo dục Tiểu học trong việc phát triển năng lực tư duy cho học sinh Tiểu học
Giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗidân tộc Điều này đã được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Non sông Việt Nam cótrở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vaicùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở cônghọc tập của các em” (HCM toàn tập, 1995, tập 4, tr 33) Chính vì vậy mà Đảng và Nhànước rất quan tâm đến giáo dục, tại NQTW 8, khoá XI Đảng có đưa ra: “Giáo dục vàđào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”
“Trong hệ thống giáo dục thì Tiểu học được coi là cấp cơ sở, tạo nền tảng choviệc phát triển trí tuệ cũng như nhận thức của học sinh” Đe học sinh
1
Trang 11có tư duy và nhận thức tốt sau này thì ngay tại bậc Tiểu học chúng ta cần quan tâm tớivấn đề đó “Phát triển năng lực tư duy cho học sinh tiểu học không chỉ đon thuần là đểcác em phát triển nhận thức mà nó còn là cầu nối giúp các em phát triển toàn diện vềnhân cách”.
1.3 Xuất phát từ vai trò của môn Toán và dạng toán chuyển động trong phát triển năng lực tư duy cho học sinh Tiểu học
Ở trường Tiểu học, mỗi môn học đều góp phần phát triển năng lực tư duy chohọc sinh, trong đó có môn Toán giữ vị trí quan trọng và được giành nhiều thời gian hơn
cả Môn Toán là môn không thể thiếu trong nhà trường để “góp phần rèn luyện, pháttriển năng lực tư duy cho học sinh và hình thành các phẩm chất tốt đẹp cần có của conngười lao động: cần cù, tỉ mỉ, ý thức vượt khó và làm việc có kế hoạch” Neu không có
tư duy, học sinh sẽ gặp khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề trong học tập cũngnhư trong cuộc sống Vì vậy, phát triển năng lực tư duy cho học sinh tiểu học là nhiệm
vụ cần thiết trong mục tiêu giáo dục
Môn Toán ở Tiểu học có nhiều dạng toán khác nhau như: các bài toán về số vàphép tính, các bài “toán có nội dung hình học, các bài toán về tỉ số phần trăm, trong
đó có một dạng toán rất thú vị đó là dạng toán về chuyển động đều” Dạng toán này cótính thực tiễn, tính trừu tượng cao, nhờ đó mà thông qua việc tiếp cận, tìm hiểu về nó
mà học sinh có thêm nhiều kiến thức trong thực tế hơn cũng như rèn luyện và pháttriển năng lực tư duy hơn
1.4 Xuất phát từ thực trạng dạy học toán chuyển động ở Tiểu học
Đây là một dạng bài tập khó vì là lần đầu học sinh lớp 5 được tiếp xúc với dạngtoán chuyển động đều này Hơn thế nữa, đa phần các bài toán về chuyển động đều đều
là toán có lời vãn và đôi khi kết hợp thêm các dạng toán điển hình khác nên học sinhthường hay gặp khó khăn trong việc trình bày lời giải, phân tích xem nên tính gì trước,tính gì sau và mối quan hệ giữa các đại lượng quãng đường, vận tốc và thời gian Dạngtoán này khá lý thú để phát triển năng lực tư duy cho học sinh, tuy nhiên thực tế giảngdạy cho thấy, dạng toán này vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn cho mình đề tài: “Phát triển năng lực tư
duy cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học giải các bài toán về chuyển động đều
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
“Đề xuất biện pháp nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 5 thôngqua dạy học giải các bài toán về chuyển động đều”
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Dạy và học toán chuyển động lớp 5
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tư duy cho học sinh lớp 5
4 Phạm vỉ và giói hạn nghiên cứu
- Các vấn đề về năng lực tư duy cho học sinh lớp 5
- Các biện pháp phát triển một số thao tác tư duy cho học sinh lớp 5
- Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 5thông qua giải các bài toán về chuyển động đều
5 Giả thuyết khoa học
“Neu đưa ra được các biện pháp phát triển thao tác tư duy và xây dựng được hệthống bài tập toán chuyển động phù hợp thì sẽ phát triển được năng lực tư duy chohọc sinh lớp 5”
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định “cơ sở lý luận và thực trạng” của việc “phát triển năng lực tư duycho học sinh lớp 5 thông qua giải các bài toán về chuyển động đều”
- Đe xuất một số giải pháp phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông quadạng toán này
- Thực nghiệm sư phạm
7 Phương pháp nghiền cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát tình hình học tập và sự chuyển biến củahọc sinh sau khi áp dụng các biện pháp phát triển năng lực tư duy trong khi học vàgiải bài tập về dạng toán chuyển động đều
- Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng vấn đề phát triển năng lực tư duycho học sinh trong dạy học môn Toán lớp 5 ở giáo viên và học sinh để từ đó có nhữngbiện pháp phù hợp nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh
3
Trang 13- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, tổng quan các tài liệu trongnước và nước ngoài về lý luận có liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân loại hệ thống hóa lý thuyết Nghiên cứu các tài liệu tâm
lý học, lý luận dạy học, năng lực tư duy và các biện pháp phát triển năng lực tư duy
8 Cấu trúc của khóa luận
“Ngoài phần Mở đầu, Ket luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục”, khóa luậnđược chia thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề phát triển năng lực tư duycho học sinh lớp 5 thông qua dạy học giải các bài toán về chuyển động đều
Chương 2 Phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học giảicác bài toán về chuyển động đều
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NẤNG Lực TƯ DUY CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC GIẢI CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển năng lực tư duy
1.1.1 Tư duy và một số vẩn đề về tư duy
1.1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tư duy:
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đisâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật những hình thức như biểutượng, khái niệm, phán đoán và suy lý”
Theo từ điển triết học: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổchức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quantrong các khái niệm, phán đoán, suy luận, Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạtđộng sản xuất của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, pháthiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại”
Theo M.N Sacđacôp: “Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật vàhiện tượng trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng”.Theo Nguyễn Quang cẩn: “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộctính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật vàhiện tượng mà trước đó ta chưa biết Tư duy giúp con người hiểu biết sự vật, hiệntượng một cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ hơn”
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về tư duy, nhưng nhìn chung chúng đềuchỉ ra rằng tư duy là quá trình nhận thức, phân tích và đưa ra quyết định
1.1.1.2 Đặc đỉểm
- Tư duy phản ánh khái quát, phản ánh hiện thực khách quan nhờ đó mà “quátrình tư duy bổ sung cho nhận thức và giúp con người nhận thức toàn diện hơn”
5
Trang 15- “Tư duy phản ánh gián tiếp, giúp chúng ta có khả năng hiểu biết những đặcđiểm bên trong, những đặc điểm bản chất mà các giác quan không phản ánh được”.
- Quá trình nhận thức tư duy bắt đầu từ nhận thức cảm tính nên tư duy khôngtách rời quá trình nhận thức cảm tính
- Tính có vấn đề, tư duy chỉ xuất hiện khi con người gặp vấn đề cần giảiquyết
- Tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là phương tiện đềcon người tư duy cũng vừa là sản phẩm tư duy của con người từ thế hệ này sang thế hệkhác Neu không có ngôn ngữ thì ta không thể tư duy Ngược lại, nếu không có tư duythì ngôn ngữ cũng trở nên vô nghĩa
1.1.1.3 Các thao tác tư duy
- Phân tích' “Phân chia đối tượng thành các phần, các bộ phận khác nhau để
tìm ra những thuộc tính, đặc điểm của đối tượng”
- Tổng họp: “Hợp nhất, sắp xếp, hay kết hợp các bộ phận, thành phần, thuộc
tính của đối tượng đã được tách rời nhờ thao tác phân tích thành một chỉnh thể đểnhận thức đối tượng một cách bao quát, toàn diện hơn”
- So sảnh: “Xác định sự giống và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng của
hiện thực” để từ đó tìm ra dấu hiệu bản chất của chúng
- Cụ thể hỏa: “Hoạt động tư duy tái sản sinh ra sự vật, hiện tượng với các
thuộc tính bản chất của nó”
- Trừu tượng hóa: “Gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, mối quan hệ thứ
yếu, chỉ giữ lại các yếu tố bản chất, đặc trưng của đối tượng”
- Khái quát hóa: “Hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một
loại theo các thuộc tính, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng cho ra đặctính chung của hàng loạt đối tượng cùng loại, tạo nên nhận thức mới dưới hình thứckhái niệm, định luật, quy tắc”
Trang 161.1.1.4 Những hình thức cơ bản của tư duy
- Khải niệm- “Phản ánh dấu hiệu bản chất của sụ vật, hiện tuợng đuợc diễn tả
bằng ngôn ngữ duới dạng một từ hay một cụm từ” Khái niệm đuợc xây dụng trên cơ
sở của những thao tác tu duy, là điểm tụa cho tu duy phân tích, là cơ sở để đào sâukiến thức tiến tới xây dụng khái niệm mới
- Phản đoản: Tìm hiểu về mối quan hệ và “sụ phối hợp giữa các khái niệm,
thục hiện theo một nguyên tắc và quy luật bên trong”
- Suy lỷ: “Là hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán lại với nhau để tạo một
phán đoán mới”
1.1.2 Năng lực và vẩn đề phát triển năng lực tư duy
1.1.2.1 Năng lực và năng lực tư duy
Năng lực đuợc hiểu theo nhiều cách khác nhau dụa trên các dấu hiệu khác nhau
của chúng
- Theo chuơng trình giáo dục phổ thông của Quecbec - Canada thì “Năng lục
là sụ kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm,giá trị, động cơ cá nhân nhằm giải quyết hiệu quả một nhiệm vụ cụ thể trong bốicảnh nhất định”
- Theo F.E Weinert (2001) thì “Năng lục gồm những khả năng và kĩ xảo họcđuợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhu sụ sẵnsàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách cótrách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”
Nhu vậy có thể hiểu năng lục mang dấu ấn cá nhân, thể hiện tính chủ quantrong hành động và có thể có đuợc nhờ sụ bền bỉ, kiên trì học tập, rèn luyện, hoạt động
và trải nghiệm Năng lục là sụ tích hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm cánhân, thục hiện có trách nhiệm, hiệu quả và giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong cáctình huống khác nhau
Có hai loại năng lục cơ bản là năng lực chung và năng lực chuyên biệt.
7
Trang 17Chương trình hiện hành Chương trình mới
“Năng lực chung là những năng lực cần cho nhiều hoạt động khác nhau Là
điều kiện cần thiết giúp cho nhiều lĩnh vục hoạt động có kết quả”
Năng lực riêng biệt là những năng lục thể hiện độc đáo các sản phẩm riêng biệt
có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vục hoạt động chuyên biệtvới hiệu quả cao Năng lục chung và năng lục riêng biệt luôn bổ sung, hỗ trợ chonhau
Năng lực tư duy “là sản phẩm của quá trình phát triển ngày càng cao yếu tố tụ
nhiên, lịch sủ của con nguời và nhân loại” Nhung nó “không phải là một quá trình tụphát mà là cả một quá trình tụ giác” Nói cách khác nghĩa là con nguời tụ giác rènluyện, nâng cao năng lục tu duy của mình
Năng lục tu duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tuợng hóa,khái quát hóa, tuởng tuợng, suy luận, xủ lý trong quá trình phản ánh, phát triển tri thức
và vận dụng chúng vào thục tiễn
Năng lục tu duy phải đuợc rèn luyện, đổi mới và bổ sung không ngừng Tuynhiên, tùy vào từng bộ phận cấu thành của tu duy mà có sụ rèn luyện, đổi mới khácnhau trên cơ sở các quy luật của tu duy và quy luật tồn tại
Năng lục tu duy có những biểu hiện sau:
- Năng lục ghi nhớ, tái hiện, vận dụng những tri thức đã tiếp thu Không cónăng lục này thì không có cơ sở cho sụ suy nghĩ và tu duy
- Trừu tượng hóa, khái quát hóa trên tiềm lực phân tích và tổng hợp
- Liên tưởng, tưởng tượng, suy luận là một năng lực bậc cao của tư duy
Trong đó năng lực trừu tượng hóa, suy luận và tưởng tượng là quan trọng nhất,cần phải có biện pháp bồi dưỡng các yếu tố năng lực tư duy này
7.7.2.2 Cấu trúc của năng lực, năng lực tư duy
Theo Bemd Meier - Nguyễn Vãn Cường, ở Đức người ta đưa ra mô hình cấu
trúc chung của năng lực bao gồm bốn năng lực thành phần: “Năng lực chuyên môn',
Năng lực phương pháp', Năng lực xã hội', Năng lực cá thể”.
Nàng lực chuyên môn “là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng
như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chínhxác về mặt chuyên môn”
Năng lực phương pháp là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định
hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề
Năng lực xã hội ‘là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao
tiếp ứng xử xã hội cũng như những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ vớinhững thành viên khác”
Năng lực cả thể “là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cá
nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành
vi ứng xử”
Năng lực tư duy luôn luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hoặc
quan hệ nhất định nào đó cấu trúc của năng lực tư duy gồm ba phần: Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ đó; H năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó; Những điều kiện tâm li để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng đó
trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng
1.2 Thực trạng phát triển năng lực tư duy cho học sinh lóp 5 trong dạy học
các bài toán về chuyển động đều
1.2.1 So sánh chương trình môn Toán hiện hành và chương trình mới
Bảng 1.1 Bảng so sánh chương trình môn Toán hiện hành và chương trình mới
Trang 18TIÊU
a) Có những kiến thức cơ bản, ban
đầu về số tự nhiên, phân số, số thập
phân, các đại lượng thông dụng,
tư duy ở mức độ đơn giản; đặt vàtrả lời câu hỏi khi lập luận, giảiquyết vấn đề đơn giản; sử dụngđược các phép toán và công thức số
Trang 19trong đời sống”.
c) Bước đầu phát triển năng lực tư
duy, khả năng suy luận hợp lý và
diễn đạt đúng (nói và viết), cách
phát hiện và cách giải quyết vấn đề
đơn giản, gần gũi trong cuộc sống
Kích thích trí tưởng tượng, chăm
học và hứng thú học tập toán Hình
thành bước đầu phưong pháp tự học
và làm việc có kế hoạch khoa học,
chủ động, linh hoạt, sáng tạo
học để trình bày, diễn đạt (nói hoặcviết) được các nội dung, ý tưởng,cách thức giải quyết vấn đề; sửdụng ngôn ngữ toán học kết hợp vớingôn ngữ thông thường, động táchình thể để biểu đạt các nội dungtoán học ở những tình huống khôngquá phức tạp; sử dụng được cáccông cụ, phưong tiện học toán đongiản để thực hiện các nhiệm vụ họctập
b) Có những kiến thức và kĩ năngtoán học cơ bản ban đầu, thiết yếuvề: số và thực hành tính toán vớicác số; Các đại lượng thông dụng và
đo lường các đại lượng thông dụng;Một số yếu tố hình học và yếu tốthống kê - xác suất đơn giản “Trên
cơ sở đó, giúp học sinh sử dụng cáckiến thức và kĩ năng này trong họctập và giải quyết các vấn đề gần gũitrong cuộc sống thực tiễn hằngngày, đồng thời làm nền tảng choviệc phát triển năng lực và phẩmchất của học sinh”
c) Phát triển hứng thú trong họctoán; góp phần hình thành bước đầucác đức tính kỉ luật, chăm chỉ, kiêntrì, chủ động,
Trang 20linh hoạt, sáng tạo, thói quen tự học.
NỘI DUNG
Lớp Số Tiết/tuần
“Chương trình môn Toán được thiết
kế theo cấu trúc tuyến tính kết hợpvới “đồng tâm xoáy ốc” (đồng tâm,
mở rộng và nâng cao dần), xoayquanh và tích hợp ba mạch kiếnthức: Số, Đại số và Một số yếu tốgiải tích; Hình học và Đo lường;Thống kê và Xác suất”
PHƯƠNG
PHÁP
a) “Phương pháp giáo dục TH phảiphát huy được tính tích cực, tự giác,chủ động, sáng tạo của HS”; “phùhợp với đặc trưng môn học, hoạtđộng giáo dục, đặc điểm đối tượng
HS và điều kiện của từng lớp học”;
“bồi dưỡng cho HS phương pháp tựhọc, khả năng hợp tác”; “rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn”; “tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui, hứng thú học tậpcho”
a) Áp dụng các phương pháp tíchcực hoá hoạt động của học sinh,trong đó giáo viên đóng vai trò tổchức, hướng dẫn hoạt động cho họcsinh, tạo môi trường học tập thânthiện và những tình huống có vấn
đề để khuyến khích học sinh tíchcực tham gia vào các hoạt động họctập, tự phát hiện năng lực, nguyệnvọng của bản thân, rèn luyện thóiquen và khả năng tự học, phát huytiềm năng và những kiến thức, kĩnăng đã
10
Trang 21b) Sách giáo khoa và phương tiện
dạy học phải đáp ứng yêu cầu của
phương pháp giáo dục tiểu học
tích luỹ được để phát triển
b) Các hoạt động học tập của họcsinh bao gồm hoạt động khám phávấn đề, hoạt động luyện tập và hoạtđộng thực hành (ứng dụng nhữngđiều đã học để phát hiện và giảiquyết những vấn đề có thực trongđời sống), “được thực hiện với sự
hỗ trợ của thiết bị dạy học, đặc biệt
“Đánh giá bằng điểm kết hợp với
nhận xét của giáo viên”
“Đánh giá bằng các hình thức địnhtính và định lượng thông qua đánhgiá thường xuyên, định kì ở cơ sởgiáo dục, các kì đánh giá trên diệnrộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương
và các kì đánh giá quốc tế”
Việc đánh giá thường xuyên “dogiáo viên phụ trách môn học tổchức, kết hợp đánh giá của giáoviên, của cha mẹ học sinh, của bảnthân học sinh được đánh giá và củacác học sinh khác”
Việc đánh giá định kì “do cơ sởgiáo dục tổ chức để phục vụ côngtác quản lí các hoạt động dạy học,bảo đảm chất lượng ở cơ sở giáodục và phục vụ
Trang 22phát triển chương trình”.
Việc đánh giá trên diện rộng ở cấpquốc gia, cấp địa phương “do tổchức khảo thí cấp quốc gia hoặc cấptỉnh, thành phố trực thuộc trungương tổ chức để phục vụ công tácquản lí các hoạt động dạy học, bảođảm chất lượng đánh giá kết quảgiáo dục ở cơ sở giáo dục, phục vụphát triển chương trình và nâng caochất lượng giáo dục”
12
Trang 23Sổ học Đại lượng và đo đại lượng Yếu tổ hình học Giải toán Thống kê
1 “Bổ sung về phân số thập 1 Cộng, trừ, 1 Giới Giải các 1 Ôn
phân, hỗn số Một số dạng nhân, chia số thiệu hình bài toán tập
bài toán về “quan hệ tỉ lệ”” đo thời gian hộp chữ có đến củng cố
2 Số thập phân Các phép 2 Vận tốc nhật, hình bốn bước các kĩ
tính về số thập phân Quan hệ giữa lập tính, trong năng
a) Khái niệm ban đầu về “số vận tốc, thời phương, đó có các như:
thập phân” Đọc, viết, so gian chuyển hình trụ, bài toán Đọc
sánh các số thập phân Viết động và hình cầu đơn giản bảng số
và chuyển đổi các số đo đại quãng đường 2 Tính về quan liệu;
lượng dưới dạng số thập đi được diện tích hệ tỉ lệ; tỉ Nhận
phân 3 Đơn vị đo hình tam số phần xét trên
1.2.2 Đặc điểm môn Toán lớp 5 nói chung và các bài toán về chuyển động đều nói riêng
1.2.2.1 Mục tiêu
Toán là môn học có vị trí quan trọng, giúp học sinh nhận biết được các hìnhhình học tồn tại trong không gian, biết được mối quan hệ số lượng lớn hon, bé hon, hay mối quan hệ giữa các đại lượng thời gian, chuyển động, “Môn Toán còn giúp họcsinh rèn luyện năng lực tư duy” Thông qua môn Toán, học sinh còn được rèn luyện cácthao tác phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, Những kiến thức và kĩnăng học tập môn Toán sẽ “giúp các em học tập các môn khác tốt hơn cũng như là cơ sở
để các em học lên cấp học cao hơn”
Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học quy định mục tiêu môn Toán lớp
5 ở trường Tiểu học nhằm giúp học sinh:
- “Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, các số thậpphân, phân số, các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học, thống kê đơn giản”
- “Hình thành và rèn kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiềuứng dụng thực tế trong cuộc sống”
- Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trítưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả năng suy luận và diễnđạt đúng (bằng lời, bằng viết các suy luận đơn giản, ) góp phần rèn luyện phươngpháp học tập làm việc khoa học linh hoạt sáng tạo
“Ngoài ra môn Toán góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất các đạo đứccủa người lao động trong xã hội hiện đại”
Toán chuyển động là dạng toán khó trong chương trình toán lớp 5, mục tiêu củachúng giúp học sinh:
- “Nhận biết được vận tốc của một chuyển động đều, tên gọi, kí hiệu của một số đơn vị đovận tốc: km/giờ; m/phút; m/giây”
- Giải quyết được một số vấn đề gắn với việc giải các bài toán liên quan đến chuyển độngđều (tìm vận tốc, quãng đường, thời gian của một chuyển động đều)
1.2.2.2 Nội dung
Bảng 1.2 Bảng nội dung chương trình toán lớp 5
5 tiết/ tuần X 35 tuần = 175 tiết
Trang 24b) Phép cộng và phép trừ các diện tích: đề- giác và trăm; các biểu
số thập phân có đến ba chữ ca-mét hình bài toán đồ;
số ở phần thập phân, có nhớ vuông thang đơn giản Tính sốkhông quá ba lần (dam2), héc- “Tính chu về chuyển trungPhép nhân các số thập phân tô-mét vuông vi và diện động đều; bình
có tới ba tích riêng và phần (hm2), mi-li- tích hình các bài cộng.thập phân của tích có không mét vuông tròn Tính toán ứng 2
quá ba chữ số (mm2); bảng diện tích dụng kiến ĐượcPhép chia các số thập phân, đơn vị đo xung thức đã giớitrong đó số chia có không diện tích Ha quanh, học để thiệuquá ba chữ số (cả phần Quan hệ giữa diện tích giải về biểunguyên và phần thập phân), m2 và ha toàn phần, quyết một đồ hìnhthuong có không quá bốn 4 Đơn vị đo thể tích số vấn đề quạt vàchữ số, với phần thập phân thể tích: hình hộp của đời ý nghĩacủa thuơng có không quá ba xăng-ti-mét chữ nhật, sống; các thực tếchữ số khối (cm3), hình lập bài toán của nó.Tính chất giao hoán và kết đề-xi-mét phương” có nội Tậphợp của phép cộng và phép khối (dm3), dung hình đọcnhân, nhân một tổng với một SỐ
Thục hành tính nhẩm trong một
số trường hợp đon giản Tính giá
trị biểu thức số thập phân có
không quá ba dấu phép tính
c) Giới thiệu bước đầu về cách sử
và biết vẽ một số biểu đồ dạng
14
Trang 25trăm; nhân, chia tỉ số phần trăm
với một số tự nhiên khác 0
d) Mối quan hệ giữa tỉ số phần
trăm với phân số thập phân, số
thập phân và phân SỐ
đơn giản
Trang 26“Nội dung chương trình Toán lớp 5, đặc biệt là dạng toán chuyên độngđều mang lại nhiều cơ hội phát triển năng lực cho học sinh, đặc biệt là nănglực tư duy”.
Ở lớp 5, học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán chuyển động đều Cácnội dung mang tính khái quát, trừu tượng cao, đòi hỏi ở học sinh các quá trình tư duy
và khả năng suy diễn, lập luận “Đe giải được bài toán, học sinh phải phối hợp nhiềukiến thức đã học với kết quả của quá trình suy luận để tìm ra cách giải của bài toán”
Nội dung toán chuyển động đều lớp 5 gần gũi, thiết thực với cuộc sống Vì vậy
nó “tạo cơ hội cho các em có những trải nghiệm trong việc giải quyết các tình huốngđặt ra trong cuộc sống” “Toán học đến với các em không chỉ là những lí thuyết xa vời
mà nó gần gũi, thân thuộc”
1.2.2.3 Phương pháp dạy học
Quá trình dạy học Toán phải góp phần thiết thực vào việc hình thành phươngpháp suy nghĩ, phương pháp học tập và làm việc tích cực, chủ động, khoa học, sáng tạocho học sinh Định hướng đổi mới phương pháp dạy học tạo môi trường thuận lợi chogiáo viên “làm việc chủ động, có điều kiện lựa chọn, vận dụng các phương pháp dạyhọc, các kĩ thuật dạy học tích cực để tổ chức các hoạt động học tập, các tình huống cóvấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề bằng cáchhướng dẫn và tổ chức cho học sinh tìm hiểu kĩ các vấn đề đó, huy động các công cụ đã
có và tìm con đường hợp lí nhất” để giải đáp từng câu hỏi đặt ra trong quá trình giảiquyết vấn đề, diễn đạt các bước đi trong cách giải, tự mình kiểm tra lại các kết quả đãđạt được, cùng các bạn rút kinh nghiệm về phương pháp giải Đó là cơ hội để rèn ngônngữ toán học và tập dượt cho học sinh suy luận, hình thành
16
Trang 27phương pháp học tập, làm việc khoa học; giúp học sinh “tự phát hiện và chiếm lĩnhtri thức mới Tự kiểm tra và tự khẳng định những tiến bộ của mình”.
“Ở lớp 5, vừa dựa vào kinh nghiệm sống của các em, vừa dựa vào những kiếnthức, kĩ năng đã hình thành ở các lớp dưới, sử dụng đúng mức các phương tiện trựcquan và các hình thức tổ chức hoạt động học tập có tính chủ động, sáng tạo hơn đểgiúp học sinh làm quen với các nội dung có tính khái quát hơn, có cơ sở lí luận hơn,tăng cường việc vận dụng các kiến thức đã học vào học tập cuộc sống”
Khi giải các bài toán có nội dung về chuyển động đều ta cần vận dụng hầu hết
các phương pháp giải, trong đó phải kể đến các phương pháp điển hình như: “phương
pháp sơ đồ đoạn thắng, phương pháp rút về đơn vị, phương pháp tỉ sổ, phương pháp khử, phương pháp suy luận, ”
- Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng' “Dùng các đoạn thẳng thay cho các số trong
bài toán để minh họa mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các đại lượng (quãngđường, thời gian, vận tốc) trong bài toán Thông qua sơ đồ, tạo một hình ảnh cụ thểgiúp ta suy nghĩ, tìm tòi cách giải bài toán”
- Phương pháp rút về đơn vị' “Trong các bài toán chuyển động đều, các yếu tố
xoay quanh ba đại lượng quãng đường, vận tốc và thời gian Ba đại lượng này, đôi một
có quan hệ tỉ lệ với nhau (tỉ lệ nghịch hoặc thuận)” Một số bài toán người ta cho biếthai giá trị của đại lượng thứ nhất và một giá trị của đại lượng thứ hai, yêu cầu tìm giátrị chưa biết của đại lượng thứ hai Với dạng bài tập này, ở Tiểu học “thường sử dụngphương pháp rút về đơn vị và phương pháp tỉ số để tìm giá trị chưa biết”
- Phương pháp tỉ số' Với dạng bài này, ta xác định hai giá trị đã biết của đại
lượng thứ nhất, giá trị này gấp (hoặc kém) giá trị kia bao nhiêu lần Sau đó tìm giá trịchưa biết của đại lượng thứ hai
- Phương pháp khử: “Là phương pháp nói về mối quan hệ giữa nhiều đại
lượng mà mỗi cặp gồm hai giá trị tương ứng của một đại lượng giống nhau mà ta phảitìm một giá trị chưa biết” Với dạng bài này, ta cần điều chỉnh cho hai giá trị của mộtđại lượng trong hai cặp là như nhau, dùng
Trang 28phương pháp khử, khử đi đại lượng đó và dựa vào sự chênh lệch giữa hai đại lượngcòn lại, ta tìm giá trị tương ứng với một đơn vị của đại lượng này.
- Phương pháp suy luận' Là phương pháp mà học sinh “vận dụng những kiến
thức cơ bản và kinh nghiệm sống đa dạng của mình để giải bài tập”
I.2.2.4 Đánh giá kế quả học tập
“Tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đãhọc”
Đánh giá kết quả học tập Toán của học sinh là một trong những giải pháp quantrọng để động viên, khuyến khích, hướng dẫn học sinh chăm học, biết cách tự học cóhiệu quả, tin tưởng vào sự thành công trong học tập; góp phần rèn luyện các đức tínhtrung thực, dũng cảm, khiêm tốn,
“Đánh giá kết quả học tập Toán phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng củamôn học, phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và định kì, giữa đính giá bằng điểm vàbằng nhận xét, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, ”
1.2.3 Đặc điểm tư duy của học sinh lớp 5
Từ 10 - 11 tuổi, tư duy của học sinh đã chuyển sang hoạt động hình thức haycòn gọi là hoạt động giả thuyết - suy diễn, không còn bám giữ vào đối tượng cụ thể
mà căn cứ vào “giả thuyết”
Các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa còn
sơ đẳng ở các lớp đầu tiểu học, chủ yếu tiến hành tri giác trực tiếp đối tượng Nhưng
“học sinh lớp 5 có thể nhận thức về đối tượng thoát dần những dấu hiệu trực quan, bềngoài, phân tích đối tượng mà không cần đến những hành động thực tiễn đối với đốitượng đó” Các em dần có thể tìm ra những dấu hiệu bản chất của đối tượng, khái quátchúng thành một hệ thống, có thể phân biệt những dấu hiệu, khía cạnh khác nhaucủa đối tượng dưới dạng ngôn ngữ
“Hoạt động tư duy của học sinh tiểu học có nhiều biến đổi cơ bản theo thờigian” Tư duy của học sinh lớp 5 đã tương đối phát triển, tư duy trừu
18
Trang 29tượng, khái quát chiếm ưu thế hơn tư duy hình tượng cụ thể Tuy nhiên, “tư duy hìnhtượng cụ thể, trực quan không mất đi mà nó tồn tại và phát triển đồng thời giữ vai tròquan trọng trong cấu trúc tư duy của lứa tuổi này”.
Từ những đặc điểm trên có thể thấy rõ, tư duy của học sinh lớp 5 ưu thế hơncác lớp đầu tiểu học, đây là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tổ chức dạy học theohướng phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực tư duy
1.2.4 Tĩnh hình phát triển năng lực tư duy của học sinh lớp 5 trong dạy học các bài toán về chuyển động đều
Dạng toán chuyển động đều là một dạng toán mới, lần đầu tiên các em đượctiếp xúc và được học trong chương trình lớp 5 Đây là dạng toán khó, đa dạng và phứctạp nhưng thời lượng dành cho loại toán này lại rất ít, 3 tiết bài mới, 3 tiết luyện tậpsau bài mới và 3 tiết luyện tập chung Các bài ôn tập cuối năm có một số nội dung vềtoán chuyển động đều nhưng lại được đan xen với các nội dung khác
“Toán chuyển động đều là dạng toán phát triển năng lực tư duy rất tốt cho các
em nhưng thời lượng chương trình Toán lớp 5 dành cho nó lại quá ít” Nên khó tránhkhỏi việc học sinh không được củng cố và rèn luyện nhiều nên đôi khi các em còn mắcmột số sai lầm trong việc giải bài toán loại này như:
- Thời gian luyện tập quá ít nên việc rèn luyện kĩ năng giải các bài tập loại nàychưa được sâu sắc, hệ thống Các em chưa hiểu rõ được mối quan hệ giữa ba đạilượng, khiến cho việc phát triển năng lực tư duy còn hạn chế
- Khi làm bài, các em không đọc kĩ đề bài, hấp tấp nên có thể bỏ sót các dữkiện bài toán đưa ra Bên cạnh đó các em còn không chú ý đến sự tương ứng giữa cácđơn vị đo của các đại lượng, nên khi thay vào công thức sẽ dẫn đễn kết quả sai
- Học sinh không nắm vững được kiến thức cơ bản, vốn ngôn ngữ còn hạnchế, vẫn nặng về trí nhớ máy móc nên việc tư duy của các em vẫn chưa linh hoạt Đôilúc các em áp dụng sai công thức đối với các dạng bài khác nhau
Việc dạy học giải các bài toán chuyển động đều nhằm phát triển tư duy cho họcsinh lớp 5 hiện nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Trang 30Thực trạng việc dạy của giáo viên:
về ưu điểm: “Giáo viên có sự soạn giảng, chuẩn bị đồ dùng dạy học đầy đủtrước khi đến lớp, cung cấp đúng, đầy đủ kiến thức cho học sinh, có tổ chức cho họcsinh ôn luyện các kiến thức vừa được học, có sự phân chia thời gian đối với từng giaiđoạn học hợp lý”
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế nhất định:
- Một số giáo viên dạy dạng toán này vẫn theo phương pháp truyền thống,giáo viên là người truyền thụ, là trung tâm của quá trình dạy học nên chưa hình thành
và phát huy được năng lực tư duy và giải toán của các em
- Việc khai thác thế mạnh của bài toán vẫn chưa được chú ý, giáo viên thườngcho học sinh áp dụng công thức giải đối với các dạng toán mà chưa làm rõ bản chấtcủa bài toán cho các em hiểu Đôi khi các em áp dụng công thức giải đúng được bàitoán nhưng không hiểu được tại sao lại làm như vậy Điều này ảnh hưởng đến việcphát triển năng lực tư duy cho các em
- Chưa quan tâm hết được tất cả các em học sinh trong lớp, chưa chú ý đến sựphân tích, so sánh sự giống và khác nhau giữa các dạng bài nên chưa khắc sâu đượckiến thức cho học sinh
- Nội dung một số bài toán dạng chuyển động không có đồ dùng trực quan,nên việc dạy học “chay” như vậy dễ khiến các em cảm thấy nhàm chán, mất tập trung.Quá trình tư duy của các em bắt đầu từ nhận thức cảm tính, nên đồ dùng và phươngtiện trực quan là yếu tố cần thiết để giúp các em tư duy dễ dàng và thuận tiện hơn
Thực trạng việc học tập của học sinh:
về ưu điểm: Nhìn chung các em đều có sự cố gắng, nỗ lực trong học tập, nhiều
em chú ý, lắng nghe cô giảng bài nên vận dụng làm được bài tập ngay
Bên cạnh đó vẫn còn một vài vấn đề thường xảy ra:
- Trên lớp, một số bạn chưa chú ý nghe giảng, đôi khi chưa hiểu nhưng khôngdám thắc mắc hay hỏi lại giáo viên nên làm cho lỗ hổng kiến thức ngày các nhiều
20
Trang 31- Do đặc điểm của học sinh tiểu học mải chơi, thiếu tập trung, vốn sống nghèonàn nên mau quên.
Khi dạy học giải các bài toán về chuyển động đều, tôi phát hiện các em rất hay
“nhầm lẫn” giữa hai dạng bài tập “Bài toán chuyển động nguợc chiều” và “Bài toánchuyển động cùng chiều” “Nguyên nhân chủ yếu là do học sinh vận dụng một cáchmáy móc các công thức, bài tập mẫu mà không hiểu bản chất của bài toán” Điều nàythể hiện rõ nhất khi xen kẽ các yếu tố khác trong bài toán (áp dụng nguyên tắc tíchhợp)
về phía giáo viên, tôi cho rằng đa số là do thói quen, chủ quan, xem nhẹ khâuphân tích bài toán, lệ thuộc vào sách giáo khoa quá nhiều nên cách dạy còn dậpkhuôn, máy móc làm cho học sinh chua hiểu lõ và khắc sâu kiến thức
Truớc thục trạng này, tôi nghĩ cần phải có giải pháp cụ thể để giúp học sinhtránh đuợc các sai lầm nói trên và giúp các em phát triển đuợc năng lục tu duy thôngqua các bài toán về chuyển động đều
Trang 32Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiểu “thực trạng vấn đề phát triển tư duy của họcsinh lớp 5 hiện nay”, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm “phát triển năng lực tư duycho các em thông qua dạy học giải các bài toán về chuyển động đều”.
22