1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn pháp luật về tranh tụng trong tố tụng dân sự việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

106 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 693,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn pháp luật về tranh tụng trong tố tụng dân sự việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tranh tụng trong tố tụng dân sự 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tranh tụng trong tố tụng dân sự 6

1.2 Cơ sở khoa học của việc quy định tranh tụng trong tố tụng dân sự 15

1.3 Điều kiện đảm bảo thực hiện tranh tụng trong tố tụng dân sự 19

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về tranh tụng 23

1.5 Tranh tụng theo pháp luật tố tụng dân sự một số nước trên thế giới 29

Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật việt nam hiện hành về tranh tụng trong tố tụng dân sự 35

2.1 Quy định về các nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự 35

2.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, người tham gia tố tụng khác để thực hiện tranh tụng 41

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

HĐTPTANDTC : Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

LTCTAND : Luật tổ chức Tòa án nhân dân

PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

PLTTGQCTCLĐ : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp

lao động TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

VADS : Vụ án dân sự

VKS : Viện kiểm sát

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

Trang 2

2.3 Quy định về chứng minh và chứng cứ 52

2.4 quy định về phiên họp xem xét chứng cứ 57

2.5 Tranh tụng tại phiên tòa 58

2.6 Trách nhiệm của tòa án trong việc bảo đảm thực hiện tranh tụng trong tố tụng dân sự 65

2.7 Trách nhiệm của viện kiểm sát trong việc kiểm sát hoạt động tranh tụng trong tố tụng dân sự 69

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật việt nam về tranh tụng trong tố tụng dân sự và một số kiến nghị 71

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật việt nam về tranh tụng trong tố tụng dân sự 71

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả của tranh tụng trong tố tụng dân sự 92

kết luận chương 3 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế, quá trìnhcông nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêuxây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN của dân do dân và vì dân Muốnvậy, chúng ta phải thực hiện nghiêm túc công cuộc cải cách tư pháp

Nghị quyết 08 - NQ/TƯ ngày 21/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh định hướng mới trong

hoạt động của các cơ quan tư pháp: “Khi xét xử, các Tòa án phải đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan… Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: nghiên cứu hồ sơ, tranh luận dân chủ tại phiên tòa” Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ

Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm

2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ cần phải “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp…” Các Nghị quyết trên có đề cấp đến nhiều nội dung

trong chiến lược cải cách tư pháp, nhưng tăng cường tranh tụng trong xét xử được coi

là điểm nhấn của cải cách tư pháp

Để thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta, lần đầu tiênHiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử Đây là nguyêntắc đặc biệt quan trọng để công lý và công bằng của quốc gia được thực hiện đồng thời tạobước đột phá cho việc lựa chọn và đổi mới mô hình tố tụng tư pháp ở Việt Nam1 Vì vậy,BLTTDS 2015 với tư cách là ngành luật hình thức có nhiệm vụ thể chế hóa quy định Hiến

1 Viện chính sách công và pháp luật, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2014), Bình luận khoa

Trang 4

pháp năm 2013 đã quy định bảo đảm tranh tụng trong xét xử là một nguyên tắc của tố tụngdân sự (TTDS) Tuy nhiên, để nguyên tắc này thực hiện được trên thực tế thì cần phải làm

rõ những vấn đề như khái niệm, bản chất, phạm vi, nội dung tranh tụng trong TTDS Nhữngvấn đề này được thể hiện trong pháp luật TTDS như thế nào? Các quy định về tranh tụngtrong BLTTDS 2015 đã đầy đủ, hợp lý chưa, đã rõ ràng, cụ thể chưa? Ngoài ra, khi đổi mới

mô hình tố tụng như vậy thì cần phải có những biện pháp nào để đảm bảo quyền tranh tụngcủa các đương sự Như vậy, một vấn đề cấp thiết được đặt ra cần phải nghiên cứu tranhtụng trong TTDS dưới góc độ lý luận và thực tiễn nhằm thực hiện thành công chiến lược cảicách tư pháp cũng như đảm bảo các đương sự thực hiện quyền tranh tụng và các thẩm phán

áp dụng các quy định về tranh tụng trong TTDS một cách thống nhất

Với các lý do nêu trên đây, tác giả đã chọn đề tài “Tranh tụng trong TTDS Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ” để làm luận văn thạc sỹ luật học.

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết, sách chuyên khảo đề cậpđến vấn đề tranh tụng trong TTDS như: Luận văn Thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị

Thu Hà với nội dung: “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2002); Luận văn thạc sĩ luật học của Đoàn Thị Xuân Sơn về Bảo đảm tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015; Luận văn thạc sỹ luật học của Trịnh Văn Chung “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam” (2016).

Đề tài cấp cơ sở tại Trường Đại học Luật Hà Nội “Tranh tụng trong TTDS Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp” do chủ nhiệm đề tài Nguyễn Thị Thu Hà thực hiện

năm 2011… Các công trình này đã nghiên cứu, xem xét tranh tụng trong TTDS dướicác góc độ khác nhau và khá toàn diện Ngoài ra còn có một số bài viết như:

- “Tranh tụng trong TTDS - một số vấn đề lý luận cơ bản” của tác giả Nguyễn

Thị Thu Hà đăng trên Tạp chí Nghề Luật số 5/2003;

- “Vấn đề tranh tụng trong TTDS” của tác giả Nguyễn Công Bình đăng trên

tạp chí Luậthọc số 6/2003;

- “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa” của tác giả Trần Văn Độ đăng trên

tạp chí Khoa học Pháp lý số 4/2004;

- “Một số vấn đề về tranh tụng trong TTDS” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà

đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2010;

- Kỷ yếu hội thảo của Nhà pháp luật Việt – Pháp ngày 18/01/2002 về “Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng Kinh nghiệm của Pháp trong

Trang 5

việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm và quản lý Thẩm phán”…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã cung cấp nhiều thông tin quantrọng, hữu ích về vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề tranh tụng Tuynhiên, vẫn có nhiều ý kiến trái ngược nhau xung quanh ý tưởng đổi mới hoạt động xét

xử đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và yêu cầu thực tiễn Đặc biệt, với sự ra đời củaBLTTDS 2015 cùng nhiều quy định mới về tranh tụng đòi hỏi phải có nghiên cứuchuyên sâu về tranh tụng trong TTDS

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về tranhtụng trong TTDS, phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật TTDS về tranhtụng, thực tiễn áp dụng pháp luật TTDS về tranh tụng và đề xuất những kiến nghịnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng trong TTDS

Với mục đích đó, nhiệm vụ chủ yếu của luận văn là:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tranh tụng trong TTDS như: Khái niệm, đặcđiểm, ý nghĩa của tranh tụng trong TTDS, cơ sở khoa học của việc quy định tranh tụngtrong TTDS, điều kiện đảm bảo thực hiện tranh tụng trong TTDS, lịch sử hình thành

và phát triển các quy định của pháp luật TTDS về tranh tụng và nghiên cứu quy địnhcủa một số nước trên thế giới về tranh tụng từ đó rút một số bài học kinh nghiệm cóthể tiếp thu trong quá trình hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam về tranh tụng

- Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành vềtranh tụng và thực trạng áp dụng pháp luật TTDS về tranh tụng trong thực tế

- Trên cơ sở phân tích những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luậtTTDS về tranh tụng, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTDS

về tranh tụng và nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng trong TTDS

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận cơ bản về tranh tụng trongTTDS; định hướng cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta về tranh tụng; các quyđịnh của pháp luật TTDS Việt Nam về tranh tụng; thực tiễn áp dụng tranh tụng tại cácTòa án Việt Nam trong những năm gần đây

Tranh tụng trong TTDS là vấn đề lớn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau

và có nhiều nội dung khác nhau Vì vậy, trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ, tácgiả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Luận văn chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu tranh tụng trong quá trình giải

quyết vụ án dân sự tại Tòa án Còn tranh tụng trong quá trình giải quyết VADS theo thủ

Trang 6

tục rút gọn và thủ tục giải quyết việc dân sự sẽ được nghiên cứu ở công trình tiếp theo

- Trong khái niệm tranh tụng trong TTDS, luận văn nghiên cứu tranh tụng

dưới góc độ là một “quá trình tố tụng” Luận văn không nghiên cứu tranh tụng dưới

góc độ là một nguyên tắc TTDS cũng như không nghiên cứu tranh tụng là một phươngthức giải quyết tranh chấp tại Tòa án

- Do luận văn được viết vào giai đoạn có sự chuyển tiếp giữa việc áp dụngBLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 và BLTTDS 2015 nên luận văn sẽ phântích những quy định có liên quan đến tranh tụng theo quy định tại BLTTDS 2015 để chỉ

rõ những quy định mới, những sửa đổi bổ sung quan trọng về tranh tụng và đưa ra nhữnggiải pháp để góp phần áp dụng có hiệu quả các quy định của BLTTDS 2015 vào thực tiễn

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về về phápluật TTDS và cải cách tư pháp

Mác Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử hìnhthành và phát triển các quy định pháp luật tranh tụng trong TTDS

Ngoài ra còn sử dụng nhiều phương pháp khác như thống kê, phân tích, tổnghợp… để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu

5 NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Nguyên tắc “đảm bảo tranh tụng trong xét xử” lần đầu tiên được ghi nhận

trong Hiến pháp năm 2013 và BLTTDS 2015 đã có quy định mới nhằm đảm bảo thựchiện hoạt động tranh tụng trong TTDS Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu vềtranh tụng trong TTDS theo quy định của BLTTDS 2015 Việc nghiên cứu đề tài

“Tranh tụng trong TTDS Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn” sẽ có

những điểm mới như sau:

- Luận văn làm sáng tỏ những lý luận cũng như thực tiễn của tranh tụng trongTTDS, góp phần nâng cao nhận thức về tranh tụng trong TTDS

- Phân tích các quy định của pháp luật về tranh tụng trong TTDS, chỉ ra nhữnghạn chế còn tồn tại, những nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó, từ đó đưa

ra những kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng trong TTDS

- Luận văn đã hệ thống và tổng hợp đầy đủ quan điểm của Đảng và Nhà nước

ta về cải cách thủ tục tư pháp nói chung, phân tích khách quan các điều kiện và hoàn

Trang 7

cảnh thực tế cần mở rộng tranh tụng trong TTDS Đề xuất các định hướng, giải phápgóp phần thực hiện có hiệu quả hoạt động tranh tụng trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thểcủa TTDS Việt Nam.

Ngoài ra, luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảngdạy, nghiên cứu…

6 CƠ CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn có kết cấu 3 chương, gồm:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tranh tụng trong TTDS

- Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tranhtụng trong TTDS

- Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về tranh

tụng trong TTDS và một số kiến nghị.

Trang 8

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRANH TỤNG

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA TRANH TỤNG TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1.1 Khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự

Tranh tụng là thuật ngữ gắn liền với hai truyền thống pháp luật cơ bản của thếgiới, một khái niệm quen thuộc được áp dụng phổ biến ở các nước thuộc hệ thốngpháp luật án lệ (common law) và hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (continental law).Trong xã hội hiện đại, ở các nước dù có tổ chức hệ thống tư pháp khác nhau, hệ thốngluật án lệ (common law), hệ thống luật lục địa (legal law) hay hệ thống luật xã hội chủnghĩa, thì ít hay nhiều, bằng cách thể hiện khác nhau đều có yếu tố tranh tụng Đây là

cơ chế tố tụng có hiệu quả cho tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyếtđúng đắn vụ việc, đảm bảo sự công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bêntham gia tố tụng 2

Ở nước ta, “tranh tụng” là một vấn đề còn mới mẻ, ít được đề cập trong khoa

học pháp lý Những năm gần đây các nhà khoa học nghiên cứu về tranh tụng với rấtnhiều quan điểm khác nhau Tranh tụng lần đầu tiên được đề cập chính thức trongNghị quyết 08/-NQ/TW ngày 02 tháng 1 năm 2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Vì vậy, cần hiểu rõ về khái niệmtranh tụng để góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật TTDS, đổi mới mô hình

tố tụng ở nước ta

Theo từ điển Hán Việt thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”3 còn theo từ điển tiếng Việt thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng”4 Như vậy,theo cách hiểu chung nhất thì tranh tụng là quá trình mà các bên tham gia xét xử đưa racác quan điểm của mình và tranh luận để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm củaphía bên kia Trên cơ sở kết quả tranh tụng, Tòa án đưa ra phán quyết cuối cùng đảmbảo tính khách quan của vụ án

Về mặt lý luận, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về tranh tụng trongTTDS

2 https://luatminhkhue.vn/tu-van-luat-hinh-su/ban-chat-cua-tranh-tung-tai-phien-toa-pgs-ts-tran-van-do.aspx

3 Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt nam Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa

-thông tin, Hà Nội, tr 621.

4 Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 1025.

Trang 9

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng trong TTDS là phương pháp giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án và kết quả của quá trình này được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án”5

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tranh tụng trong TTDS là việc các bên đương

sự đưa ra, trao đổi về chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý, lập luận đối lập, tranh luận với nhau dựa trên những thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước sự giám sát của Tòa án Sự tranh tụng chứa đựng trong chính hành vi khởi kiện”6

Quan điểm thứ ba cho rằng: “Tranh tụng là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án Quá trình này phải được diễn ra liên tục từ khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cho đến khi tòa án ra quyết định giải quyết VADS Theo đó các bên chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển của tòa án được đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định Tòa án ra phán quyết VADS căn cứ vào kết quả tranh tụng của các chủ thể tranh tụng” 7

Qua nghiên cứu đề tài cho thấy, tranh tụng trong TTDS được hiểu như quanđiểm thứ nhất là chưa đầy đủ, quan điểm này mới chỉ coi tranh tụng là phương pháp

giải quyết tranh chấp tại Tòa án, các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ,

căn cứ pháp lý để chứng minh…chưa nói lên được bản chất, ý nghĩa của tranh tụng.

Tranh tụng là cả một quá trình nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án

Nếu tranh tụng trong TTDS được hiểu theo quan điểm thứ hai tuy phần nàonói lên được bản chất của tranh tụng nhưng nội hàm của chúng lại quá hẹp Nội dungquan điểm đã chỉ ra được bản chất của tranh tụng nhưng lại không chỉ ra được giới hạncủa quá trình tranh tụng, nó được bắt đầu và kết thúc ở thời điểm nào trong quá trình giảiquyết vụ án dân sự Tranh tụng trong TTDS là một loại tranh tụng trong tố tụng, bao hàm

cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa và tranh trụng sau

5 Trịnh Văn Chung (2016), Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà

Trang 10

khi có quyết định giải quyết VADS Bởi vì, TTDS là quá trình giải quyết VADS cho nêntranh tụng trong TTDS là tranh tụng trong quá trình giải quyết VADS có thời điểm bắtđầu và thời điểm kết thúc.

Quan điểm thứ ba về tranh tụng là khá toàn diện Quan điểm đã chỉ rõ được bảnchất của tranh tụng cũng như giới hạn của hoạt động tranh tụng Tranh tụng trong TTDS

là việc các bên đương sự được đưa ra, trao đổi các chứng cứ, các căn cứ pháp lí, lậpluận, đối đáp lại nhau, tranh luận với nhau trên cơ sở các quy định của pháp luật TTDS

để bảo vệ quyền lợi của mình dưới sự giám sát của Tòa án Thông qua việc tranh tụng,các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, Tòa án nhận thức được sự thật khách quancủa vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng để đưa ra phán quyết

Tuy nhiên, để làm rõ khái niệm tranh tụng cần phân biệt rõ “ tranh tụng” với

“chứng minh”và “ tranh tụng” với “tranh luận”

Tranh tụng không hoàn toàn đồng nhất với chứng minh Chứng minh có thểdiễn ra một cách đơn chiều, chỉ tồn tại một mối quan hệ giữa các đương sự với Tòa ánkhi đương sự cung cấp các chứng cứ, tài liệu cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu,phản yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình là đúng và Tòa án tiếp nhận các chứng cứ.Chứng minh cũng có thể có sự tham gia của rất nhiều các chủ thể, trong đó Tòa án làmột chủ thể chứng minh có trách nhiệm chứng minh các bản án, quyết định mà mìnhđưa ra là có căn cứ và hợp pháp Khác với chứng minh, trong quá trình tranh tụng Tòa

án là người trọng tài, người điều khiển quá trình tranh tụng, đảm bảo quá trình tranhtụng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật TTDS và căn cứ vào kết quảtranh tụng để ra phán quyết giải quyết vụ án

Tranh tụng là một quá trình được diễn ra từ khi có tranh chấp dân sự được thểhiện thông qua việc nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết, kếtthúc khi giải quyết xong tranh chấp dân sự, tức khi Tòa án ra quyết định, bản án giảiquyết vụ việc đó, còn tranh luận chỉ là một phần của phiên toà dân sự, nó là sự biểuhiện tập trung nhất của tranh tụng

Tóm lại, theo quan điểm tác giả có thể đưa ra khái niệm tranh tụng trong

TTDS như sau: Tranh tụng trong TTDS là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ

án Quá trình này phải được diễn ra liên tục từ khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa

án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cho đến khi tòa án ra quyết định giải quyết VADS Theo đó các bên đương sự được đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn

Trang 11

cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định Tòa án ra phán quyết VADS căn cứ vào kết quả tranh tụng của các chủ thể tranh tụng.

1.1.2 Đặc điểm tranh tụng trong tố tụng dân sự

Từ khái niệm tranh tụng nêu trên, ta có thể đưa ra một số đặc điểm của tranhtụng trong TTDS như sau:

- Bản chất của tranh tụng trong TTDS là các chủ thể tranh tụng được đưa ra, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận, đối đáp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định

Khi tham gia tố tụng thì các bên đương sự đều nhằm mục đích bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời khi Tòa án giải quyết VADS thì luôn muốnxác định sự thật khách quan của VADS và ra phán quyết chính xác và đúng đắn Hay

nơi cách khác, “sự thật chỉ được xác định, công lý chỉ được thiết lập khi có sự tranh

tụng giữa các bên trong tố tụng tư pháp, nhất là trong xét xử các vụ án”8 Điều này cónghĩa là, các bên được tranh tụng với nhau về yêu cầu, căn cứ pháp lý, chứng cứ, đềxuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình Tùy theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi tranh tụng,

đề xuất ý kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau

Có thể nói, thông qua quá trình tranh tụng giúp Tòa án hiểu rõ yêu cầu của cácđương sự, có được các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để xác định chân lý khách quancủa vụ kiện trên cơ sở đó Tòa án giải quyết các yêu cầu của đương sự, xác lập lại chođúng các quan hệ pháp luật dân sự mà các bên tham gia hoặc những quan hệ mà phápluật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên khi có sự kiện pháp lý xảy ra, xácđịnh đúng các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật Quá trìnhtranh tụng trong TTDS thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo nhằm bảo vệ các quyềncon người Bên cạnh đó, tranh tụng không chỉ bảo đảm sự công bằng, bình đẳng vềmặt pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức mà còn tạo điều kiện cho việc đạt được sự bìnhđẳng, công bằng về thực tế của các cá nhân, tổ chức đó

- Các bên đương sự là chủ thể tranh tụng và là người giữ vai trò chủ động, quyết định kết quả tranh tụng

8 Viện chính sách công và pháp luật, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2014), Bình luận khoa

học Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, tr 507

Trang 12

Đương sự trong VADS là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bịđơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Đương sự có vai quan trọng nhất trong hoạt động tranh tụng và có tính chấtquyết định đến hoạt động tranh tụng của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụngkhác Tính quan trọng của đương sự được khẳng định vì đương sự chính là các chủ thểcủa quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp, họ hiểu vụ án hơn bất kỳ chủ thể nàokhác tham gia tố tụng Tòa án chỉ có thể nhận thức được vụ án thông qua những chứng

cứ, lập luận do đương sự cung cấp Những chủ thể tham gia tố tụng khác thì xuất phát

từ vị trí, chức năng tố tụng của mình mà có những quyền và nghĩa vụ phối hợp làm rõmột phần vụ án như người làm chứng, người giám định… Còn đương sự hiểu rõ vụ ánhơn bất kỳ ai nên có thể tiếp cận một cách dễ dàng các chứng cứ đang có trong taycũng như biết được cần thiết phải lấy các chứng cứ khác ở đâu khi có yêu cầu Tranhtụng buộc các đương sự phải nỗ lực, tích cực trong việc tham gia tố tụng

Trong các đương sự thì chủ thể tranh tụng trước hết và chủ yếu là nguyên đơn

và bị đơn Họ là những chủ thể có mâu thuẫn về quyền và lợi ích, họ đứng ở vị trí tốtụng đối lập nhau Trong suốt quá trình tranh tụng, nguyên đơn và bị đơn bình đẳngvới nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lí để chứngminh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy địnhcủa pháp luật TTDS Ngoài nguyên đơn và bị đơn, tham gia vào quá trình tranh tụngcòn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp này họ cũng đượccoi là chủ thể tranh tụng, bởi họ cũng có lợi ích liên quan đến vụ án, tham gia tranhtụng để bảo vệ quyền lợi của mình Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng cóquyền đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn Do vậy họ cũng đượcđưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lí, lý lẽ và lập luận để chứng minh cho yêu cầu của mìnhhay phản đối yêu cầu của các đương sự khác9

Tuy nhiên, trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, có những đương sựkhông có khả năng để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc đương sự cóthể tự tham gia tố tụng nhưng vì những lý do nhất định như ốm đau, tai nạn, công táchoặc họ cho rằng không có kinh nghiệm tham gia tố tụng, hiểu biết pháp luật hạnchế… nên họ cần có người đại diện hợp pháp (người đại diện theo pháp luật và ngườiđại diện theo ủy quyền) thay mặt họ tranh tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích

9 Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2011), Tranh tụng trong TTDS Việt Nam trước yêu cầu của cải cách

tư pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Mã số: LH - 2010 - 09/ĐHL - HN, Hà Nội, tr 10.

Trang 13

hợp pháp của đương sự Như vậy, với tư cách là người thay mặt đương sự thì ngườiđại diện hợp pháp của đương sự là chủ thể tranh tụng được thực hiện các quyền vànghĩa vụ tố tụng của đương sự mà mình đại diện để tranh tụng với đương sự phía bênkia trong phạm vi đại diện

Bên cạnh đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự thì người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng là một chủ thể tranh tụng quan trọng.Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờtham gia tố tụng, hỗ trợ đương sự về mặt pháp lý và cùng với đương sự tranh tụng tạiTòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, khác với ngườiđại diện hợp pháp của đương sự được tranh tụng dự trên quyền và nghĩa tố tụng củađương sự thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (luật sư hoặcnhững người khác) với kỹ năng tham gia tranh tụng, sự am hiểu pháp luật sẽ đượctranh tụng trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ của mình để giúp đương sự bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp

Ngoài ra, khi đề cập đến chủ thể tranh tụng, không thể không đề cập đến chủthể rất đặc biệt đó là VKS Ở các nước theo truyền thống pháp luật án lệ (như Anh,Hợp chủng quốc Hoa Kỳ…), do tôn trọng nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sựnên Viện công tố (VKS) hầu như không tham gia trong quá trình giải quyết các VADS

và đương nhiên không là chủ thể tranh tụng Ở các nước theo truyền thống pháp luậtdân sự như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Nga, Nhật Bản…) với mục đích là đểđại diện cho lợi ích chung và bảo vệ trật tự công nên VKS có thể tham gia tố tụng với

“tư cách là một bên đương sự hoặc với tư cách là người giám sát” (10) Khi VKS thamgia tố tụng với tư cách là một bên đương sự (VKS khởi tố VADS) thì VKS là chủ thểtranh tụng và có các quyền và nghĩa vụ tố tụng như đương sự trừ quyền hoà giải vànghĩa vụ trả án phí, lệ phí

Ở Việt Nam, VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trongquá trình giải quyết VADS của Tòa án, các bên đương sự và những người tham gia tốtụng khác Khi thực hiện chức năng này, VSK có quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghịphúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và tham gia phiên tòa, phiên họp Có thể nói, khiVKS thực hiện chức năng nhiệm vụ này thì VKS là cơ quan tiến hành tố tụng và kiểm sátviên là người tiến hành tố tụng trong TTDS Tuy nhiên, trong trường hợp khi VKS kháng10() Trần Văn Trung, "Vai trò của VKS trong TTDS", Tài liệu toạ đàm Dự thảo BLTTDS, Câu lạc bộ luật gia Việt

- Đức và văn phòng Viện Konard Adenauer, 11/2003.

Trang 14

nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì để chứng minh kháng nghị củamình là đúng thì VKS vẫn trở thành một chủ thể tranh tụng Như vậy, VKS chỉ là chủ thểtranh tụng trong TTDS trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định đồngthời VKS là chủ thể quan trọng thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằmđảm bảm cho hoạt động tranh tụng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

- Trong quá trình tranh tụng Thẩm phán đóng vai trò là người trọng tài để phân xử giữa hai bên tranh tụng và ra phán quyết về việc giải quyết VADS căn cứ vào kết quả tranh tụng.

Trong quá trình tranh tụng, Tòa án quyết định trong việc bảo đảm sự bìnhđẳng của các chủ thể tranh tụng và giải quyết đúng đắn vụ kiện Để bảo đảm sự côngbằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong TTDS đòi hỏi Tòa ánphải khách quan, thái độ vô tư và công minh đối với cả hai bên

Tòa án có vai trò quan trọng trong việc điều khiển quá trình tranh tụng, bảmđảm quá trình tranh tụng diễn ra một cách rõ ràng, trung thực và được thực hiện theođúng quy định của pháp luật TTDS đồng thời là trọng tài và có quyền áp dụng nhữngquy định của pháp luật để phân xử tranh chấp giữa các bên đương sự trong VADS.Nhiệm vụ của Tòa án tiếp nhận chứng cứ của vụ án do các bên dương sự cung cấp và

hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ để giải quyết đúng đắn VADS, điều khiển phiêntòa Trên cơ sở kết quả tranh tụng, Tòa án ra quyết định về từng vấn đề phải giải quyếttrong vụ án và công bố công khai tại phiên tòa

- Quá trình tranh tụng được tiến hành một cách công khai, trực tiếp

Quá trình tranh tụng trong TTDS được bắt đầu từ khởi kiện, theo đó, các bênđương sự không chỉ được trực tiếp trình bày các yêu cầu mà còn đưa ra, đối đáp với

nhau về các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý trong suốt quá trình tố tụng Tuy nhiên, thời

điểm thể hiện rõ nét nhất của việc tranh tụng là ở tại phiên tòa Trên cơ sở phân tích,đánh giá các chứng cứ, tài liệu về vụ án, các bên đương sự đối đáp, lập luận và viện dẫncác quy phạm pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời trìnhbày quan điểm về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án giúp Hội đồng xét xử giải quyếtcác yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án

- Phạm vi tranh tụng là giới hạn những vấn đề mà chủ thể tranh tụng phải làm

rõ bằng các chứng cứ, căn cứ pháp lý và các lý lẽ, lập luận

Phạm vi tranh tụng được xác định là giới hạn mà ở đó các chủ thể tiến hành

Trang 15

tranh tụng làm rõ các chứng cứ, căn cứ pháp lý, đưa ra lập luận để xác định sự thậtkhách quan của vụ án Trong TTDS, đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, được biết và ghichép, sao chụp các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập

Do đó, đương sự phía bên này nếu chấp nhận yêu cầu và nhận thấy yêu cầu, chứng cứ

mà đương sự phía bên kia cung cấp là hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở và họ thừa nhậnchứng cứ đó thì sẽ giải phóng cho đương sự phía bên kia khỏi nghĩa vụ chứng minh.Ngược lại, nếu những yêu cầu mà các bên hoặc một bên không chấp nhận và nhữngthông tin, tài liệu mà các bên không đồng ý hoặc một bên đương sự không đồng ý làchứng cứ thì khi phiên tòa diễn ra chỉ tập trung vào những vấn đề các bên hoặc mộtbên không công nhận Những vấn đề khác nếu các bên không từ chối thì coi như đãgiải quyết và những chứng cứ nào các bên đương sự đã thừa nhận thì cũng không tranhluận nữa Do đó, các chủ thể tranh tụng chỉ tranh luận với nhau những vấn đề mà cácbên đương sự có những yêu cầu, chứng cứ, chứng minh không thống nhất

Việc xác định rõ phạm vi tranh tụng có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho cácbên đương sự có thể biết tất cả các yêu cầu, các chứng cứ, căn cứ pháp lí và các lí lẽ,lập luận của đối phương cũng như có đủ thời gian để chuẩn bị các chứng cứ, căn cứpháp lí, lí lẽ để phản bác lại yêu cầu, chứng cứ của đương sự phía bên kia

- Các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định

Pháp luật ‘TTDS là cơ sở pháp lý của hoạt động TTDS, khi thực hiện quyền vànghĩa vụ của mình các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng phải tuân theo đúngtrình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định Tuân thủ đúng trình tự, thủ tục vàthời hạn do pháp luật quy định nhằm mục đích để cho việc điều hành công lý được phânminh, có hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức

1.1.3 Ý nghĩa tranh tụng trong tố tụng dân sự

1.1.3.1 Ý nghĩa về trính trị - xã hội

- Thứ nhất, tranh tụng là thực hiện dân chủ, công bằng trong TTDS

Hoạt động tranh tụng trong TTDS thể hiện rõ nhất tính dân chủ và công bằngcủa TTDS Khi thực hiện tranh tụng tất các các chủ thể tiến hành tranh tụng đều đượcbình đẳng về quyền và nghĩa vụ, chủ động và công khai đưa ra các chứng cứ pháp lý,được trực tiếp tranh luận, đối đáp với nhau để xác định sự thật khách quan của vụ án.Tòa án đóng vai trò là trọng tài trung gian, giám sát quá trình tranh tụng, căn cứ vào

Trang 16

kết quả tranh tụng để đưa ra quyết định, bản án để giải quyết vụ án theo đúng sự thậtkhách quan tạo ra sự công bằng đúng pháp luật.

- Thứ hai, thực hiện tranh tụng trong TTDS là đáp ứng những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền

Trong Nhà nước pháp quyền thì quyền tư pháp là một bộ phận quan trọng củaquyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan tư pháp Tòa

án là cơ quan xét xử - thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan duy nhất được quyền nhândanh Nhà nước đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham giaquan hệ TTDS, thể hiện nền công lý, sự công bằng và bình đẳng của các chủ thể trướcpháp luật Dựa trên các quy định của pháp luật TTDS, Tòa án bảo đảm cho đương sựthực hiện quyền tranh tụng để bảo vệ tốt quyền lợi hợp pháp của mình Do đó, bảođảm quyền tranh tụng của các đương sự cũng chính là góp phần đáp ứng thực hiệnmục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước hiện nay Nếu tranh tụngđược thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết các VADS từ đó tăngcường lòng tin của công dân vào chế độ, đường lối chính sách và pháp luật của Đảng

và nhà nước Bên cạnh đó nó còn góp phần giáo dục nâng cao ý thức tôn trọng phápluật, đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền, tăng cường pháp chế XHCN

- Thứ ba, tranh tụng trong TTDS là để các đương sự thực hiện quyền con người, quyền công dân trong TTDS

Trong tranh tụng đương sự đóng vai trò trung tâm, ở đó, đương sự có thể tựmình định đoạt đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chủ động và tích cực

tham gia các quan hệ tố tụng Tranh tụng tạo môi trường bình đẳng giữa các bên

đương sự, tạo điều kiện cho các bên thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của mình Tòa án phải đảm bảo quyền bình đẳng, sự công khai, minh

bạch tôn trong quyền tranh tụng của các đương sự Qua đó quyền con người của cácđương sự trong TTDS được bảo vệ

1.1.3.2 Ý nghĩa pháp lý

Thứ nhất, tranh tụng đã tạo ra cơ hội cho các bên đương sự bảo vệ quyền lợi

và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án

Thông qua tranh tụng các đương sự có điều kiện nỗ lực, tích cực hơn trongviệc tham gia tố tụng, trong việc trình bày, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ chứng minh choquyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình Trên cơ sở tranh tụng Toà án quyết định giải

Trang 17

quyết vụ án nên đương phải tìm mọi cách để thu thập chứng cứ và tìm ra căn cứ pháp

lí để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp và bác bỏ yêu cầucủa đương sự phía bên kia

Thứ hai, tranh tụng góp phần bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên là có căn cứ và hợp pháp.

Tranh tụng không những tạo điều kiện cho đương sự thực hiện các quyền vànghĩa vụ của mình mà qua quá trình tranh tụng Tòa án xác định được sự thật kháchquan của VADS Khi các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền TTDS của mìnhnhư quyền đề đạt yêu cầu để Tòa án bảo vệ, quyền đưa ra chứng cứ và chứng minh đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình v.v các tình tiết của vụ án được làm sáng

tỏ, Tòa án có đầy đủ các căn cứ để giải quyết VADS một cách chính xác, công minh

và đúng pháp luật Đúng như Ông Nguyễn Huy Đẩu đã nhận xét: “nguyên tắc cho hai người đi kiện đối tụng nhau trước Thẩm phán là một yếu tố an toàn cho họ và cũng là một điều kiện khiến cho tòa hiểu rõ nội tình”(11)

Tóm lại, tranh tụng trong TTDS góp phần rất quan trọng để Tòa án xét xử đúngtheo sự thật khách quan của vụ án, đảm bảo công bằng cho các bên đương sự từ đó bảođảm cho nền tư pháp nước ta là một nền tư pháp dân chủ, công bằng và công lý

1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Tranh tụng trong TTDS đã được áp dụng từ rất lâu trên thế giới, tùy vàotruyền thống, lịch sử và điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước mà có quy định về vấn

đề tranh tụng sao cho phù hợp Tranh tụng trong TTDS là loại hình tố tụng có nhiều ưuđiểm như: đề cao được vị trí, vai trò của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp,bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, giúp Toà ánnhận thức được các tình tiết của vụ án mà không phải tốn nhiều công sức trong việcxác đinh sự thật khách quan của VADS Đặc biệt, có thể khẳng định nó cũng là mộtloại hình TTDS dân chủ nhất, thể hiện được sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại

Trang 18

Pháp luật TTDS Việt Nam về cơ bản được xây dựng trên cơ sở thủ tục tố tụngxét hỏi của các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa nhưng có kết hợp các yếu tốcủa thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống pháp luật án lệ Cụ thể làBLTTDS Việt Nam hiện nay vẫn coi hồ sơ vụ án là tài liệu quan trọng làm cơ sở choviệc giải quyết vụ án nhưng đề cao hơn nghĩa vụ tự chứng minh của đương sự so vớicác quy định trước kia, trong trường hợp xét thấy chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ cơ sở

để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ Toà án chỉtiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thậpđược và có yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ (12)

Việc thừa nhận tranh tụng trong TTDS phải xuất phát từ các căn cứ khoa họcsau đây:

1.2.1 Xuất phát từ bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự

Quyền con người trong TTDS xuất phát từ những quyền tự nhiên của conngười, các quyền đó được thừa nhận với những giá trị mang tính phổ quát nhất, quyềncon người trong TTDS xuất phát từ hệ thống pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn Thế giới

về quyền con người và các Công ước quốc tế về quyền con người và một số Nghịquyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

Trên thế giới tuy tương ứng với hai truyền thống pháp luật (Common law vàCivil law) là hai loại hình tố tụng tranh tụng và xét hỏi nhưng không bao giờ có một hệthống hoàn toàn đề cao thẩm phán hay hoàn toàn đề cao các bên đương sự (13) Hai hệthống pháp luật này tiến tới nhập chung làm một (14) Tranh tụng là một loại hình tốtụng cơ bản được áp dụng từ lâu tại các Tòa án nhiều nước trên thế giới Ngay ở cácnước theo truyền thống pháp luật, theo các nhà luật học tranh tụng sở dĩ được áp dụngtrong TTDS vì đối tượng của TTDS thường là quan hệ về quyền có thể được định đoạt

tự do giữa các cá nhân nên các bên phải được quyết định về sự tồn tại hay không tồntại của nó trong điều kiện, hoàn cảnh và trên cơ sở của các chứng cứ, tài liệu Việc xácđịnh quan hệ về quyền này là có tồn tại hay không phải được dành cho các bên lànhững người biết rõ, vì nó không chỉ là đường ngắn nhất biết ra sự thật mà còn là các

12() Xem Điều 6 và các điều từ Điều 85 đến Điều 98 BLTTDS năm 2004 hoặc theo Điều 91 đến Điều 110 BLTTDS năm 2015.

13 () Xem: Nhà pháp luật Việt - Pháp (2001), Hội thảo pháp luật về TTDS, ngày 29,30/10/2001, Hà Nội, Tr 7.

14 () Xem: TANDTC (2002), “Pháp luật TTDS của một số nước châu Âu, châu Mỹ la tinh và Đông á”, Kỷ yếu dự án

VIE/95/017, Tr 92.

Trang 19

bên sẽ thoả mãn hơn với kết quả Tuy vậy, loại hình tố tụng tranh tụng chỉ có thể ápdụng đối với các VADS trong đó có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bênđương sự Vì mâu thuẫn về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các bên đương sự là tiền đề và làđộng lực thúc đẩy quá trình tranh tụng và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bộtrong lịch sử tư tưởng nhân loại Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần,

mà cao hơn nó là thành tựu của sự phát triển tư tưởng, của nền văn minh nhân loại

Thời gian vừa qua, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế liên quanđến quyền con người như Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, Công ước quốc

tế về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, Công ước xóa bỏ mọi sự phân biệt đối với phụnữ… và được cụ thể hóa thành các quyền của công dân quy định trong Hiến Pháp vàpháp luật của nhà nước Ngày 8/5/2009, tại Geneva (Thụy Sĩ) lần đầu tiên Việt Namtrình bày báo cáo các vấn đề về quyền con người tại kỳ họp thứ V của Hội đồng nhânquyền của Liên Hợp Quốc với sự tham dự của 192 quốc gia thành viên và đã nhậnđược những sự phản hồi tích cực thể hiện sự quan tâm ngày càng cao của Việt Nam tới

vấn đề này Như trong báo cáo đã nêu “nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu

và động lực cho mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc bảo đảo và thúc đẩy các quyền con người”15 Việt Nam luôn coi trọng quyền conngười trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đảm bảo thực hiện trên thực tế bằngnhững cơ chế, chính sách cụ thể Là một bộ phận của hệ thống chính trị quốc gia theo

tiến sỹ Đinh Ngọc Hiện “hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực tư pháp nói chung và trong hoạt động TTDS của Tòa án nói riêng không nằm ngoài nguyên lý chung và trên

cơ sở quyền con người về dân sự đã được khẳng định trong Hiến Pháp và Bộ luật dân sự” Do đó, Nhà nước trao cho con người những phương tiện cần thiết để bảo vệ các

quyền con người Một trong phương thức đó chính là các đương sự được thực hiệnquyền tranh tụng trong TTDS

1.2.2 Bảo đảm bình đẳng, công bằng, dân chủ trong hoạt động tố tụng dân sự

Các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có quyền tự do tự nguyện, bìnhđẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ phục vụ cho lợi ích của mình phù hợpvới lợi ích chung của xã hội Điều 10 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm

1948 đã khảng định: “Mọi người đều có quyền trình bày sự việc của mình một cách vô

15

Trang 20

http://uprvietnam.vn/&op/detailsnews/276/94/bao-cao-quoc-gia-ve-thuc-hien-quyen-con-nguoi-o-viet-nam-tư và công khai với sự bình đẳng hoàn toàn, trước một Tòa án độc lập và không thiên

vị, để Tòa án này quyết định các quyền hay nghĩa vụ của họ …” (16); Điều 14 Công ước

quốc tế về quyền dân sự và chính trị: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước Tòa án

và cơ quan tài phán Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên

cơ sở pháp lí để… xác định về quyền và nghĩa vụ trong TTDS” (17) Bình đẳng, côngbằng, bảo vệ quyền con người là yếu tố quan trọng mà pháp luật bất cứ một quốc gianào trên thế giới đều phải ghi nhận trong đạo luật của mình Pháp luật Việt Nam cũngkhông nằm ngoài những yêu cầu đó Do đó, bản chất và phương pháp để đạt đến sựdân chủ, công bằng, vô tư và khách quan trong TTDS chính là qua con đường tranhtụng Chỉ có thông qua tranh tụng thì Tòa án mới có thể ra được bản án công khai,minh bạch Thẩm phán sẽ xét xử theo pháp luật và bằng pháp luật, còn các đương sựbảo vệ lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở các chứng cứ được đánh giá một cáchkhách quan, công khai và rõ ràng

1.2.3 Xuất phát từ bảo đảm Tòa án ra phán quyết đúng đắn, chính xác

Để đương sự có thể thực hiện đầy đủ các quyền tranh tụng của mình thì Tòa ánphải bảo đảm cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác hiểu biết và đủ điềukiện thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của

họ theo quy định của pháp luật Tranh tụng có vai trò quan trọng góp phần giải quyếtkhách quan, toàn diện vụ án Trực tiếp, công khai là một trong những nguyên tắc xét

xử tại phiên tòa đã được Hiến pháp ghi nhận Tại phiên tòa, các chứng cứ được xemxét công khai bằng thủ tục xét hỏi; các bên tranh luận, đưa ra quan điểm của mình vềđánh giá chứng cứ được xem xét, về các điều khoản luật pháp cần áp dụng để giảiquyết vụ án và đề xuất các biện pháp cụ thể cho việc giải quyết vụ án Trong tố tụngbao giờ cũng có sự tham gia của các bên có quyền hoặc lợi ích trái ngược nhau yêucầu Tòa án phân xử Để có cơ sở cho Tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định chocác bên tham gia tố tụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước Tòa án, chứng minh và tranhluận để bảo vệ yêu cầu của mình Như vậy, tranh tụng bao giờ cũng gắn liền với hoạtđộng tài phán của Tòa án Xét xử là hoạt động phân xử vụ kiện giữa các bên có quyền

và lợi ích khác nhau Tại phiên tòa, Tòa án tiến hành xác định sự thật của vụ án bằngcách điều tra công khai, chính thức về vụ việc, nghe các bên tranh luận về giải quyết16() Xem: Viện thông tin Khoa học Xã hội (1998), Quyền con người – Các văn kiện quan trọng, Hà Nội, tr 148

17() Xem: Viện thông tin Khoa học Xã hội (1998), Sđd, tr 236,

Trang 21

vụ án từ góc độ nội dung cũng như pháp luật áp dụng để ra phán quyết.

Tòa án không được phép định kiến với bất cứ đương sự nào vì bất cứ lý do gìtrong quá trình giải quyết vụ án Việc không bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đương

sự trong quá trình TTDS sẽ dẫn đến việc giải quyết vụ án thiếu đúng đắn, không bảo

vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

Ngoài ra, thẩm phán chỉ được đưa ra phán quyết dựa vào những chứng cứ, căn

cứ pháp lí, lý lẽ chứng minh đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa

Tóm lại, tranh tụng là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo đảm cho Toà án xác định

sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo sự công bằng vàbảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng

1.3 ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO THỰC HIỆN TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.3.1 Các quy định của pháp luật về tranh tụng trong tố tụng dân sự

Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Nó là công cụquản lý nhà nước và xã hội, xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, màcòn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có quyền conngười, quyền công dân Đảng nhà nước và nhân dân ta đang phấn đấu xây dựng, hoànthiện nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Vì vậy, nhà nước takhông ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tốtụng nói riêng

Hoạt động tranh tụng trong TTDS muốn thực hiện có hiệu quả phải được thựchiện dưới sự điều chỉnh của pháp luật Pháp luật quy định trình tự, thủ tục, nội dung,cách thức thực hiện hoạt động tranh tụng, quyền nghĩa vụ của các chủ thể tham giatranh tụng trong TTDS Như vậy, quy định của pháp luật TTDS tạo hành lang pháp lýxác định rõ nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể tham gia tranh tụng

1.3.2 Vai trò của Tòa án khi giải quyết vụ án

Trong tố tụng nói chung và TTDS nói riêng Tòa án là cơ quan thực hiện chứcnăng xét xử Tòa án thực hiện chức năng như một trọng tài có địa vị độc lập với cácbên để phân xử một cách khách quan, theo pháp luật Trong TTDS, tòa án là ngườiđứng ra phân xử giữa bên khởi kiện và bên bị kiện để ra phán quyết về vụ án Nói đếnvai trò của Tòa án thực chất là nói đến vai trò của Thẩm phán Thẩm phán đóng vai trò

là người trọng tài để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng

Trang 22

Để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sựtrong TTDS đòi hỏi Tòa án phải khách quan, thái độ vô tư và công minh đối với cả haibên Đương sự có thể thực hiện đầy đủ các quyền tranh tụng của mình hay không hoàntoàn phụ thuộc vào Tòa án Tòa án phải bảo đảm cho đương sự, những người tham gia

tố tụng khác hiểu biết và đủ điều kiện thực hiện quyền tranh tụng của mình theo quyđịnh của pháp luật

Tòa án phải tôn trọng quyền tranh tụng của các đương sự Tòa án không đượcphép định kiến với bất cứ đương sự nào vì bất cứ lý do gì trong quá trình giải quyết vụ

án Mọi đương sự đều phải được Tòa án triệu tập một cách hợp lệ để thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của mình Tòa án phải bảo đảm quyền bình đẳng cho các đương sựtham gia vào quá trình TTDS điều đó có nghĩa Tòa án phải bảo đảm cho đương sựđược bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu, bổ sung yêu cầu, cung cấp chứng cứ, căn cứpháp lí, lý lẽ, được đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ về những tình tiết cụthể mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làmchứng, được biết chứng cứ, căn cứ pháp lí, lý lẽ chứng minh do bên kia cung cấp hoặcchứng cứ do Tòa án thu thập và được tranh luận trước Tòa án

Tòa án có vai trò quan trọng và quyết định trong việc bảo đảm sự bình đẳngcủa các chủ thể tham gia tranh tụng và giải quyết đúng đắn vụ kiện Chức năng chủyếu của Thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên thamgia tranh tụng, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh tụng giữa hai bên, hướng quátrình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn

và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luậtdân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự Tòa án có quyền thẩm vấncác bên hoặc các nhân chứng trong trường hợp đặc biệt cần thiết để làm rõ thêm lờitrình bày của họ

Như vậy, Toà án Tòa án bảo đảm cho các đương sự thực hiện quyền tranh

tụng trong TTDS một cách bình đẳng, công khai và đúng pháp luật Bản án, quyết địnhcủa Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa

1.3.3 Sự hỗ trợ đương sự tranh tụng của các cá nhân, cơ quan, tổ chức

Đương sự có vai trò quan trọng nhất để thực hiện việc tranh tụng Để đương

sự có điều kiện tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích của mình cũng như góp phần quan

Trang 23

trọng giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của vụ án thì đương sự cần nhận được sự

hỗ trợ, giúp đỡ từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức

Sự hỗ trợ này trước tiên từ người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đặc biệt là các Luật sự Bởi trongnhiều trường hợp đương sự là người không có khả năng để tự bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình hoặc không có hiểu biết pháp luật, kỹ năng tranh tụng kém… nênvới sự hỗ trợ của người đại diện, người bảo vệ sẽ giúp đương sự bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình, thực hiện quyền tranh tụng một cách hiệu quả

Ngoài ra, để thực hiện tranh tụng thì các bên đương sự phải có đầy đủ chứng

cứ, nếu các bên không có chứng cứ thì không thể tranh tụng hiệu quả Tuy nhiên,nhiều khi chứng cứ không do bản thân các đương sự lưu giữ mà lại do các đương sựkhác, người tham gia tố tụng khác hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nắmgiữ Chính vì vậy, sự giúp đỡ tích cực của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việccung cấp chứng cứ cho đương sự khi họ yêu cầu là một điều kiện rất quan trọng đểđương sự thực hiện tranh tụng

1.3.4 Cơ chế kiểm sát, giám sát hoạt động tranh tụng

Tranh tụng là một hoạt động quan trọng trong tố tụng nói chung và TTDSnóiriêng Để hoạt động tranh tụng hiệu quả và tuân thủ đúng quy định của pháp luật cần có

cơ chế kiểm sát, giám sát nhằm đảm bảo cho hành vi xử sự của các chủ thể tham giavào quá trình tranh tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, nhằm giảiquyết được VADS Mặt khác, những sai sót, vi phạm trong tranh tụng luôn có nhữngkhả năng hạn chế quyền của đương sự, gây thiệt hại cho người khác, làm giảm niềm tincủa nhân dân vào công lý Chính vì vậy, hoạt động này cần thiết phải chịu sự kiểm tra,giám sát Một trong những hình thức của cơ chế kiểm tra, giám sát đối với hoạt độngtranh tụng là hoạt động của VKSND Viện kiểm sát sẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong toàn bộ quá trình tố tụng nói chung và hoạt động tranh tụng nói riêng Viện kiểmsát sẽ tham gia phiên tòa trong một số trường hợp nhất định, kiểm sát hoạt động tuânthủ pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án từ đó ngăn chặn kịp thờicác hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự

Giám sát hoạt động tranh tụng còn được thực hiện bởi cơ quan quyền lực nhànước Quốc hội, các cơ quan đại diện cho nhân dân cùng cấp (Hội đồng nhân dân, Mặttrận tổ quốc) thông qua việc nghe báo cáo tại các kỳ họp của ngành Tòa án Ngoài ra,

Trang 24

cơ chế kiểm tra giám rát còn được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan truyềnthông, công luận như báo, đài tham dự phiên tòa, truyền hình Qua sự kiểm tra, giámsát đó sẽ đảm bảo tranh tụng hiệu quả, đúng pháp luật.

1.3.5 Sự hiểu biết pháp luật của các đương sự

Đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án Đương sự chính là các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp,

họ hiểu vụ án hơn bất kỳ chủ thể nào khác tham gia tố tụng Tòa án chỉ có thể nhậnthức được vụ án thông qua những chứng cứ, lập luận do đương sự cung cấp Cònđương sự họ có mặt từ đầu khi xác lập các mối quan hệ pháp lý về nội dung, quá trìnhvận động của quan hệ đó dẫn đến phát sinh tranh chấp Họ hiểu vụ án nên có thể tiếpcận một cách dễ dàng các chứng cứ đang có trong tay cũng như biết được cần thiếtphải lấy các chứng cứ khác ở đâu khi có yêu cầu Như trong một tranh chấp về thừa kếtài sản thì các bên sẽ là người biết rõ nhất có hay không có di chúc, tài sản để lại là baonhiêu, ở đâu, hình thành như thế nào?… tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thì đương

sự sẽ biết rõ nhất có hay không hợp đồng này, bên vay đã trả tài sản cho bên cho vaychưa, trả bao nhiêu, thời gian nào, phương thức thanh toán ra sao?… Nên khẳng địnhrằng đương sự là người hiểu VADS hơn ai hết là một lập luận hoàn toàn chính xác

Hoạt động tranh tụng trong TTDS không gì khác là tái hiện lại sự thật kháchquan vốn đã phát sinh giữa các bên đương sự để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp phápcủa họ Tái hiện lại sự thật đã qua đi thì không thể phủ nhận được vai trò tích cực vàquan trọng hàng đầu của những người hiểu vụ án hơn ai hết Vai trò của đương sựtrong tranh tụng quan trọng nhất trong hoạt động tố tụng và có tính chất quyết địnhđến hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng khác Tính quantrọng của đương sự được thể hiện thông qua những hành vi tố tụng cụ thể được phápluật quy định Trong giai đoạn hiện nay, khi những yếu tố mới trong và ngoài nướcđang hình thành và tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội thì vài trò củađương sự trong tranh tụng cũng bị chi phối và càng trở lên quan trọng hơn

Trang 25

Vì vai trò tích cực và chủ động của đương sự trong tranh tụng nên đòi hỏiđương sự phải có sự hiểu biết pháp luật nhất định mới có thể tranh tụng như đương sựđưa ra yêu cầu gì, cần phải biết thu thập chứng cứ ở đâu, bằng những biện pháp pháp

lý nào, cung cấp những chứng cứ nào cho Tòa án, tranh tụng tại phiên tòa thì đặt cáccâu hỏi như thế nào với đương sự phía bên kia, chuẩn bị bản luận cứ để tranh luận, đốiđáp với đương sự phía bên kia… Có như vậy thì đương sự mới có thể bảo vệ đượcquyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như giúp Tòa án ra phán quyết đúng đắn,chính xác và đúng pháp luật

1.4 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TRANH TỤNG

1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989

Năm 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - nhà nước dân chủ đầu tiên ởkhu vực Đông Nam á được thành lập, đánh dấu sự thay đổi toàn diện về mọi mặt trongđời sống xã hội, trong lĩnh vực tư pháp, tố tụng Vấn đề tranh tụng được pháp luậtTTDS Việt Nam ghi nhận rất sớm, như theo qui định tại Điều 1 Sắc lệnh 144/SL ngày

22/12/1949 về mở rộng quyền bào chữa cho các đương sự trước Tòa án: “Trước các Tòa án xử việc hộ và thương mại, trước các Tòa án thường và Tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình, trừ Tòa án binh tại mặt trận, nguyên cáo, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bên vực cho mình Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận” (18);

Tiếp theo đó, nhà nước ban hành nhiều quy định khác nhau liên quan đến hoạtđộng TTDS ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Sắc Lệnh số 13/SL ngày24/1/1946 về tổ chức các tòa án và các ngạch thẩm phán, Sắc Lệnh 15/SL ngày17/4/1946 quy định về thẩm quyền của tòa án các cấp, Sắc Lệnh 112/SL ngày28/6/1946 bổ xung sắc lệnh số 15, Sắc Lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy

tư pháp và luật tố tụng, v.v Các quy định về vai trò chứng minh của đương sự đượcquy định khá nhiều thể hiện sự quan tâm của nhà nước và vai trò của nhân dân ngàycàng được chú trọng

Tại Thông tư số 2386 - NCPL ngày 19/12/1961 của TANDTC hướng dẫn:

“Trong bản án sơ thẩm phải chỉ ra: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết những vấn

đề cụ thể gì và nêu ra những bằng chứng gì làm căn cứ - ý kiến của bị đơn đối với những

Trang 26

lời thỉnh cầu của nguyên đơn: có chấp nhận hay không lời thỉnh cầu đó hoặc chỉ chấp nhận đến mức nào thôi, dẫn những bằng chứng gì làm căn cứ cho những ý kiến đó”

Tại thông tư số 06 - TATC ngày 25/2/1974 hướng dẫn điều tra trong TTDS quy

định “Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình …trong điều kiện hiện nay, trình độ hiểu biết pháp luật và trình độ văn hóa của đại đa số các đương sự còn thấp, các đơn kiện và lời trình bày của họ không rõ ràng và đầy đủ, cho nên các tòa án phải tích cực giúp đỡ cho các đương sự hiểu rõ những quyền lợi hợp pháp của họ để họ có thể đề xuất được những yêu cầu và giúp cho họ biết đề xuất những chứng cứ để chứng minh.”

Quy định trên đã cho thấy vai trò đương sự ngày càng được khẳng định tronghoạt động tố tụng, tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn yêu cầu, giúp đỡ đương sựhiểu biết pháp luật và có thể đưa ra được những yêu cầu chính đáng cũng như hỗ trợ

họ thu thập chứng cứ, đây là những bước tiến quan trọng góp phần khẳng định quyềnđược tham gia tranh tụng của đương sự

Trong bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo thông tư

số 96 - NC/PL ngày 8/2/1977 của TANDTC hướng dẫn: “Để bảo vệ quyền lợi của mình các đương sự có nhiệm vụ đề xuất chứng cứ nhưng TAND không được phép chỉ dựa vào lời khai của đương sự và những giấy tờ mà họ xuất trình làm căn cứ cho việc xét xử mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật.”

Trên cơ sở đề xuất những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình củađương sự, tòa án với vị trí của cơ quan xét xử không được thiên vị bất cứ bên nào, phảixem xét một cách toàn diện tìm mọi biện pháp để có thể làm sáng tỏ sự thật kháchquan của vụ án bảo vệ quyền lợi của các bên

Tóm lại, trong giai đoạn này, nhiều văn bản pháp luật TTDS được ban hành

nhằm phát huy dân chủ, đề cao vai trò của các bên đương sự và của luật sư Nhiều quyđịnh tiến bộ về quyền bình đẳng trong tố tụng, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, tranh luận tạiphiên tòa, trách nhiệm của TAND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cácđương sự được ghi nhận

1.4.2 Giai đoạn từ 1990 đến năm 2004

Giai đoạn này có những phát triển vượt bậc về quy định trong tố tụng nóichung và tranh tụng nói riêng Năm 1989 được đánh dấu bằng sự ra đời củaPLTTGQCVADS, tiếp theo đó là PLTTGQCVAKT năm 1994 và PLTTGQCTCLĐ

Trang 27

năm 1996 Đây là ba pháp lệnh tiền thân của BLTTDS hiện nay, nó đã bước đầu khắcphục được tính chất tản mạn của các quy phạm pháp luật, thu trình tự giải quyết vụviệc về những văn bản thống nhất và có giá trị cao

Tranh tụng được thể hiện thông qua quy định về nghĩa vụ chứng minh của

đương sự, nó được quy định thành một nguyên tắc cụ thể “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình” (Điều 3 PLTTGQVAKT)

nguyên tắc này đã tạo cơ sở quan trọng để đương sự chủ động thực hiện nghĩa vụchứng minh của mình Các quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động chứng minhcủa đương sự đã được cụ thể hóa:

“Điều 20 Quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự

2- Các đương sự có quyền:

a) đưa ra tài liệu, chứng cứ, được đọc, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ

do bên đương sự khác cung cấp;

e) tranh luận tại phiên tòa

nội dung theo quy định cũng như nội dung các tài liệu chứng cứ để làm cơ sở cho yêucầu của mình Nếu không đầy đủ sẽ là một trong những căn cứ để trả lại đơn khởi kiệntheo quy định tại Điều 33 PLTTGQTCLĐ Bị đơn có quyền được biết nội dung đơn kiệncủa nguyên đơn cũng như có quyền được đưa ra ý kiến của mình về đơn kiện đó, nếukhông đồng ý thì có nghĩa vụ chứng minh phản yêu cầu đó (Điều 34 PLTTGQVAKT )

Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có thể tự mình hoặc nhờ người

khác thay mặt mình tham gia quá trình giải quyết “Đương sự là công dân, người đại diện của đương sự theo quy định tại Điều 21 của pháp lệnh này có thể ủy quyền cho luật sư hoặc người khác thay mặt mình trong tố tụng, trừ việc ly hôn và hủy việc kết hôn trái pháp luật” (Điều 22 PLTTGQVADS) Quy định này nhằm khắc phục tình

trạng hạn chế về khả năng tố tụng của đương sự, giúp họ có thể bảo vệ được tốt nhấtcác quyền và nghĩa vụ của mình trong điều kiện còn hạn chế nhiều về hiểu biết

Trang 28

Quá trình nghiên cứu, đánh giá chứng cứ diễn ra chủ yếu tại phiên tòa, các bênđương sự có quyền tham gia phiên tòa, được quyền trình bày quan điểm của mình vànghe trình bày của phía bên kia, được quyền đề xuất các câu hỏi thông qua hội đồngxét xử, được quyền tranh luận tại phiên tòa …Quá trình xét xử sơ thẩm kết thúc,đương sự có quyền kháng cáo Đơn kháng cáo phải ghi rõ nội dung kháng cáo và lý

do Các bên đương sự có quyền cung cấp, bổ xung chứng cứ ở giai đoạn phúc thẩm, cóquyền tham gia phiên tòa phúc thẩm, nghe trình bày, tham gia hỏi, tranh luận nhưphiên tòa sơ thẩm… tại thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm “Nếu tòa án đó triệu tập ngườitham gia tố tụng thì họ được trình bày ý kiến trước khi kiểm sát viên trình bày ý kiến

về kháng nghị” (khoản 3 Điều 76 PLTTGQCVADS)…

Hiến pháp năm 1992, tiếp tục khẳng định các quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân cũng như tổ chức luật sư được thành lập để giúp các đương sự bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình LTCTAND tại Điều 9 quy định: “Tòa án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự” Những quy định này một lần nữa lại được khẳng định trong LTCTAND 2002 Để

đáp ứng những chuyển biến to lớn về mọi mặt trong đời sống xã hội, chủ động hộinhập kinh tế khu vực và thế giới Pháp lệnh luật sư năm 2001 ra đời thay thế Pháp lệnh

tổ chức luật sư năm 1987 Việc ban hành Pháp lệnh luật sư năm 2001 tạo cơ sở pháp lýcho sự phát triển đội ngũ luật sư chuyên nghiệp có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyênmôn, phát huy vai trò của luật sư trong tư vấn và tố tụng

Tóm lại, Kể từ khi có PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAK, PLTTGQCTCLĐ

thì các quyền cơ bản của công dân được mở rộng hơn, cụ thể hơn đồng thời khẳngđịnh Tòa án phải thực hiện đầy đủ những biện pháp pháp lý cần thiết bảo đảm cho cácđương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, phát huy được tính tích cực chủđộng của các đương sự và của luật sư Ngoài ra, mặc dù pháp luật Việt nam không sử

dụng thuật ngữ “tranh tụng” nhưng những quy định của pháp luật Việt nam vừa phân

tích ở trên là gần gũi với những quy định về tranh tụng của các nước trên thế giới

1.4.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2015

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức hoạt động của các cơ quan

tư pháp tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số

nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”; Xác định

Trang 29

Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm trong cải cách tư pháp”…

Ngày 27/5/2004 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã cho ra đời BLTTDSnăm 2004 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005 BLTTDS năm 2004 và các hướngdẫn của HĐTPTANDTC đã thể hiện sự tiến bộ có tính đột phá và định hướng về lâudài với xu hướng là hạn chế vai trò của loại hình tố tụng thẩm vấn, đề cao vai trò củaloại hình tố tụng tranh tụng trên cơ sở kết hợp hài hòa và phát huy tối đa những ưuđiểm của hai loại hình tố tụng này BLTTDS 2004 đã có những quy định liên quan đếnquá trình tranh tụng như: nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh của người khởi kiện(Điều 6), nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự (Điều 9), các quy định vềquyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự (từ Điều 58 đến Điều 62) quyền phản tố của

bị đơn, quyền yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan (Điều 177)…Các quy định về thủ tục tranh luận tại phiên tòa cũng đề cao vai trò của tranh luận, tạođiều kiện cho người tham gia tranh luận trình bày ý kiến của họ góp phần bảo đảm chotranh tụng trong TTDS có cơ sở thực hiện Đây là bước tiến quan trọng về kỹ thuật lậppháp do với các văn bản pháp luật trước đây

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược

cải cách tư pháp đến năm 2020” một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”; Nghị

quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống viphạm pháp luật và tội phạm, công tác của VKS, của TAND và công tác thi hành án

năm 2013 đã khẳng định yêu cầu: “TANDTC chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa” Trên cơ sở chỉ đạo này, tại kỳ họp thứ 9 ngày

29/3/2011, Quốc hội khóa XII đã thông qua LSĐBS một số điều của BLTTDS, có hiệulực từ ngày 01/01/2012 Trong đạo luật này đã có những quy định liên quan đến việcđảm bảo quyền tranh tụng của các đương sự Điều 23a đã ghi nhận nguyên tắc đảmbảo quyền tranh luận trong TTDS

Kết quả tổng kết 10 năm thi hành BLTTDS cho thấy BLTTDS năm 2004 vàđược sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập cần được khắcphục như: các quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án chưa hợp lý; quy định vềchứng cứ, cung cấp và thu thập chứng cứ chưa bảo đảm để thực hiện nguyên tắc tranhtụng trong xét xử; các quy định về định giá, thẩm định giá còn có những bất cập; thủtục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm còn có những hạn chế cần tiếp tục được bổ sung, hoàn

Trang 30

thiện; căn cứ, thẩm quyền kháng nghị trong thủ tục giám đốc thẩm, thẩm quyền củaHội đồng xét xử giám đốc thẩm chưa thực sự phù hợp dẫn đến việc giải quyết vụ án bịkéo dài gây tốn kém thời gian và chi phí cho các đương sự và Nhà nước; đồng thời,gây ra tình trạng quá tải trong việc xem xét, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm củacác Tòa án; thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài, thẩm quyền của Tòa án

và thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài còn chưa cụ thể, chưađáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng; (19)

Ngoài ra, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp mới,theo đó nhiều nội dung quan trọng về quyền con người, quyền công dân; về vị trí, vaitrò, chức năng, nhiệm vụ và các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của TAND cũng

đã có những thay đổi căn bản nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng vềcải cách tư pháp Ngày 24 tháng 11 năm 2014, Quốc hội cũng đã thông quaLTCTAND mới để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp

Các quy định của Hiến pháp năm 2013 và LTCTAND năm 2014 nêu trên đãthể chế hóa một bước các quan điểm, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp, cầntiếp tục được cụ thể hóa trong các luật tố tụng, trong đó có BLTTDS mới Đặc biệt, tại

khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 cũng đã quy định rõ: “Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa được bảo đảm” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để BLTTDS quy định về

tranh tụng trong TTDS

1.4.4 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay

Ngày 24/11/2015, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã bỏ phiếu thông quaBLTTDS 2015, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổsung căn bản và hoàn thiện, đảm bảo thực hiện hoạt động tranh tụng trong TTDS bằngviệc quy định đầy đủ nội dung, cơ sở và những đảm bảo cho hoạt động tranh tụng.Theo đó: Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm,giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này

Nhằm thể chế hóa quan điểm cải cách tư pháp của Đảng về nâng cao chấtlượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư19( ) Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành bộ luật TTDS của TANDTC ngày 26/02/2015.

Trang 31

pháp20 Đồng thời cụ thể hóa "nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" đãđược Hiến pháp quy định21, theo tinh thần đó BLTTDS 2015 đã sửa đổi, bổ sung

nguyên tắc “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” xem đây là một trong những nội dung

quan trọng của việc sửa đổi, bổ sung của BLTTDS Ngoài ra BLTTDS 2015 còn bổsung nhiều quy định nhằm thực hiện tranh tụng như: mở rộng quyền và nghĩa vụ củađương sự, về phiên hợp xét chứng cứ, Tòa án phải bảo đảm mọi tài liệu chứng cư đượcxem xét công khai

1.5 TRANH TỤNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.5.1 Tranh tụng trong hệ thống pháp luật án lệ (common law)

Pháp luật Anh - Mỹ ra đời ở Anh, sau này phát triển ở Mĩ và những nướcthuộc địa của Anh, Mĩ trước đây Đây là hệ thống pháp luật phát triển từ những tậpquán (custom), hay còn được gọi là hệ thống pháp luật tập quán, hay hệ thống pháp luậtcoi trọng tiền lệ (precedents/ judge made law) Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ phát triểnhình thức tố tụng tranh tụng Khi xét xử, các nước theo hệ thống Common Law rất coitrọng nguyên tắc Due process Đây là nguyên tắc được nhắc đến trong từ chính án thứ 5

và 14 của Hoa Kỳ Nội dung chính của nguyên tắc này nói đến ba yêu cầu chính: yêu

cầu bình đẳng của các đương sự trong việc đưa ra chứng cứ trước Toà (equal footing);

yêu cầu qui trình xét xử phải được tiến hành bởi một Thẩm phán độc lập có chuyên

môn, cùng một bồi thẩm đoàn vô tư, khách quan (fair trial and impartial jury); yêu cầu

luật pháp phải được qui định sao cho một người dân bình thường có thể hiểu được hành

vi phạm tội (Laws must be written so that a reasonable person can understand what is criminal behavior) Đặc điểm nổi bật của hệ thống pháp luật Anh - Mỹ là loại hình tố

tụng tranh tụng Trong quá trình tranh tụng vai trò chủ động trong việc dẫn dắt nêu câu

hỏi và tranh luận thuộc về các đương sự và luật sư các bên.

Theo hệ thống này, hoạt động tư pháp thực chất được bó gọn trong hoạt độngxét xử tại phiên tòa với các quy định nghiêm ngặt (nhiều khi đến mức máy móc) về thủtục tố tụng Tính tranh tụng trong xét xử vụ án được thực hiện một cách triệt để Sự

20 Nghị quyết số: 49/TW Bộ chính trị “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”.

21 Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.

Trang 32

thật chỉ được xác lập tại phiên tòa Các chức năng tố tụng (công tố - bào chữa - xét xử,nguyên kiện - bị kiện - xét xử) được quy định và thực hiện minh bạch và hoàn toàn chếước, kiểm tra lẫn nhau Tòa án đóng vai trò là người trọng tài và qua phiên tòa xácđịnh xem “sự thật” của ai (bên nguyên và bên bị) thuyết phục hơn để qua đó phán xét.Quyết định của tòa án dường như được thực hiện không phải trên cơ sở sự thật kháchquan của vụ án mà là trên cơ sở sự thật được các bên chứng minh tại phiên tòa có tínhthuyết phục cao hơn.22

Luật sư ở các nước theo pháp luật Anh – Mỹ rất quan trọng, do thủ tục trong

tố tụng luôn để cao vai trò của tranh tụng Các bên tham gia thủ tục tố tụng được coi là

có địa vi pháp lý bình đẳng với nhau Thẩm phán chỉ có vai trò trung gian trong phân

xử, không tham gia vào quá trình tranh tụng nhưng lại là người đưa ra quyết định phánxét cho vụ án Họ chủ yếu dựa vào sự thật do các luật sư nêu

1.5.2 Tranh tụng trong hệ thống pháp luật dân sự (civil law)

Hệ thống pháp luật lục địa (Continetal Law), hệ thống Luật dân sự (Civil

Law), hay gọi đơn giản hơn là hệ thống pháp luật Pháp - Đức.

Đây là hệ thống pháp luật có nền tảng bắt nguồn từ hệ thống pháp luật củaPháp, Đức và pháp luật của một số nước lục địa Châu Âu Trong đó pháp luật củaPháp, Đức là quan trọng nhất và có ảnh hưởng lớn tới pháp luật của các nước kháctrong hệ thống pháp luật này Hệ thống pháp luật của các nước này nhìn chung đềuchịu ảnh hưởng của Luật La Mã Ngày nay, phạm vi ảnh hưởng của hệ thống CivilLaw tương đối rộng bao gồm các nước Châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Italia…), Quebec(Canada), Louisiana (Mỹ), Nhật Bản và một số nước Châu Mỹ Latinh (Brazin,Vênêduêla…(23) Trong hệ thống pháp luật này pháp luật của Pháp là quan trọng nhất

và có ảnh hưởng lớn tới pháp luật của các nước khác trong hệ thống pháp luật này

Thật xác đáng khi người Pháp có câu thành ngữ “từ tranh luận sẽ phát sinh ánhsáng” Do vậy, trong tố tụng, hoạt động chứng minh vụ án cần phải tổ chức một cáchkhoa học cho phép xác định sự thật của vụ án, từ đó toà án sẽ ra được phán quyếtchính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Cho nên, về mặt kĩ thuật,nguyên tắc tranh tụng là giải pháp tối ưu cho yêu cầu đó và nó được xếp vào hàngnguyên tắc chung của luật tố tụng Ở Pháp, nguyên tắc này thực chất đã được đề cập

22 Xem: Bộ tư pháp (1999), Tư pháp hình sự so sánh, Thông tin khoa học pháp lý, số chuyên đề, Nxb Tư Pháp,

tr 133, 177; Bộ tư pháp (20033), Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi, Thông tin khoa học pháp lý, số chuyên

đề (1), Nxb Tư Pháp, tr 3 - 6

23 http://luathoc.cafeluat.com/threads/hai-he-thong-phap-luat-common-law-va-civil-law.20155/#ixzz49wGQTfDr

Trang 33

trong Tuyên ngôn nhân quyền và quyền công dân năm 1789 và được hoàn thiện ngaythời kì đầu thế kỉ XIX Toà phá án Pháp trong bản án năm 1828 đã nhấn mạnh: “Biện

hộ là một quyền tự nhiên, không ai bị xét xử nếu không được chất vấn và chuẩn bị choviệc tự biện hộ” Có thể nói trong hệ thống pháp luật của Pháp, tầm quan trọng củanguyên tắc này được ghi nhận chính thức tại Điều 6 Công ước châu Âu về quyền conngười; tiết 6 từ Điều 14 đến Điều 17 BLTTDS mới (BLTTDSM) và các quy địnhchuyên biệt khác có liên quan, đặc biệt là án lệ

Một số tố tụng gia của Pháp nhấn mạnh rằng nguyên tắc tranh tụng phải đượcđặc biệt tôn trọng khi một bên thứ ba (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) tham gia

tố tụng theo yêu cầu của một trong các bên đương sự trong vụ án (24)

Thẩm phán phải đảm bảo tôn trọng nguyên tắc tranh tụng bằng cách bảo đảmrằng mỗi bên đã thông báo những kết luận của họ với đương sự phía bên kia, buộcđương sự phải thông báo cho đối phương những yêu cầu và chỉ xét xử trên cơ sởnhững tình tiết, sự kiện đã được tranh luận theo thủ tục tranh tụng trước Thẩm phán(25)

Trong Liên minh Châu Âu, hệ thống pháp luật TTDS của Pháp được coi làmột điển hình mẫu mực Trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa các nguyên tắc truyềnthống, sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp, bêncạnh thủ tục tố tụng thông thường các nhà lập pháp của Pháp đã xây dựng được nhữngthủ tục xét xử nhanh áp dụng đối với những tranh chấp mang tính đặc thù riêng

Thủ tục tranh tụng giữa các đương sự được quy định tương đối cụ thể nhưĐiều 445 BLTTDS mới thì “Sau khi kết thúc tranh luận, các bên đương sự không thểxuất trình bất cứ bản ghi chép nào nữa để chứng minh cho những nhận xét của mình,trừ khi để đáp lại các lý lẽ của Viện Công tố hoặc theo yêu cầu của chủ toạ phiên toàtrong những trường hợp được quy định tại các điều 442 và 444”

1.5.3 Tranh tụng theo pháp luật một số nước Châu Á

Đối với các nước Châu Á pháp luật nổi bật có Trung Quốc, Nhật Bản…đaphần áp dụng loại hình tố tụng xét hỏi, pháp luật TTDS đề cao vai trò chủ động củathẩm phán trong việc chứng minh sự việc Thẩm phán là người điều khiển phiên tòa,đảm bảo phiên Tòa được tiến hành theo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên quyền tham gia tranh tụng của đương sự vẫn được đảm bảo như :

24() Giáo sư Jean Vincent và giáo sư Serge Guinchard, “Procédure civile”, Nxb DALLO 2001, tr 504.

Trang 34

- Quyền được thông tin: Theo Điều 113 BLTTDS Trung Quốc thì trong vòng

5 ngày từ ngày lập án, TAND phải phân phát bản sao đơn khởi kiện cho các bị đơn,trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn khởi kiện bị đơn phải nộp bản

tự bảo vệ Khi bị đơn nộp bản tự bảo vệ, Toà án phải gửi bản sao bản tự bảo vệ chonguyên đơn trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được bản tự bảo vệ;

- Quyền được tham gia tranh luận của đương sự: Điều 127 BLTTDS Trung

Quốc như sau:

- Nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn phát biểu;

- Bị đơn và người đại diện của bị đơn đáp lại;

- Người thứ ba và đại diện của người thứ ba phát biểu hoặc đáp lại;

- Các đương sự đối đáp lẫn nhau…

Đối với Nhật Bản là quốc gia chịu ảnh hưởng của hai hệ thống pháp luậttiêu biểu trên thế giới nhưng xét về bản chất, cũng là một thành viên của hệ thốngpháp luật dân sự - nơi có thể tìm thấy hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hộiđều được điều chỉnh bởi pháp luật thông qua các bộ luật, nghị định, thông tư củaNghị viện và Chính phủ trung ương hay các văn bản quy phạm pháp luật khácnhau được ban hành bởi chính quyền địa phương(26) Pháp luật TTDS Nhật Bảnphát triển theo xu hướng coi trọng vai trò của Thẩm phán trong tiến trình giải quyết vụkiện Thủ tục tố tụng chính thức tại phiên toà công khai hoặc “tố tụng bằng lời nói”(koto beron) thường bắt đầu trong vài tuần lễ sau khi đơn kiện được nộp, bắt đầu chomột vụ kiện Có thể có thủ tục tố tụng sơ đẳng hay “tố tụng chuẩn bị” (jumbi tet-suzuki) nếu vụ kiện phức tạp mà tại đó Thẩm phán và các bên gặp gỡ để xác định rõnhững vấn đề, thu hẹp những điểm xung đột và mặt khác cố gắng xúc tiến phiên toà

Tóm lại, việc nghiên cứu vấn đề tranh tụng trong pháp luật một số nước trênthế giới cho thấy mỗi quốc gia khác nhau có các thủ tục tố tụng khác nhau mang yếu tốđặc trưng cũng như truyền thống của mình Trên thế giới tuy tương ứng với hai truyềnthống pháp luật (Common law và Civil law) là hai loại hình tố tụng tranh tụng và xét hỏinhưng không bao giờ có một hệ thống hoàn toàn đề cao thẩm phán hay hoàn toàn đề caocác bên đương sự (27) Hiện nay, để khắc phục những hạn chế của mỗi loại hình tố tụng,pháp luật TTDS các nước đang có xu hướng qui định xâm nhập, đan xen giữa hai loại

26 Phạm Hồng Quang (2011), Nguồn luật và một số kinh nghiệm giải thích pháp luật Nhật Bản, Tạp chí Luật học

số 8/2011, trang 73

27 Xem: Nhà pháp luật Việt - Pháp (2001), Hội thảo pháp luật về TTDS, ngày 29,30/10/2001, Hà Nội, Tr 7.

Trang 35

hình tố tụng này Xem chừng hai hệ thống pháp luật này tiến tới nhập chung làm một.Trong xã hội dân chủ, tiến bộ hiện nay, nguyên tắc hai cấp xét xử được thực hiện ở tuyệtđại đa số các nhà nước trên thế giới Tranh tụng là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo đảmcho tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo

sự công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, sự trao đổi và tiếp thu những thành tựu tốtụng của các nước là một tất yếu khách quan Việc tiếp thu những thành tựu khoa học

tố tụng của các nước phát triển cần phải phù hợp với điều kiện, kinh tế xã hội của ViệtNam BLTTDS Việt Nam về cơ bản được xây dựng trên cơ sở thủ tục xét hỏi của cácnước theo hệ thống luật Châu âu lục địa Hiện nay, việc thực hiện mô hình tố tụng

“xét hỏi kết hợp với tranh tụng” là một yêu cầu cấp thiết và cần coi đây là khâu đột

phá của hoạt động tư pháp 28

28 Nghị quyết số: 49/TW Bộ chính trị “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”.

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trong Chương 1 tác giả đã đi vào nghiên cứu, xây dựng những khái niệm cơbản nhất liên quan đến hoạt động tranh tụng như khái niệm tranh tụng, đặc điểm củatranh tụng trong TTDS… làm cơ sở cho việc nghiên cứu cụ thể về vai trò của tranhtụng trong TTDS Có thể thấy rằng TTDS luôn bao gồm những trình tự thủ tục luậtđịnh nhằm giải quyết những tranh chấp, bất đồng về các quan hệ pháp luật nội dunggiữa những chủ thể tham gia Khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình haycủa người khác bị xâm hại và trong phạm vi quyền hạn pháp luật trao cho họ có thểthực hiện việc tự bảo vệ bằng một trình tự tố tụng, trình tự này được gọi là TTDS Khi

tự bảo vệ, đương sự không còn cách nào khác ngoài việc thực hiện bằng hoạt độngtranh tụng – một quyền và nghĩa vụ tố tụng đặc thù đã được quy định thành mộtnguyên tắc trong BLTTDS 2015

Qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau dưới ảnh hưởng của những chế độ chínhtrị, pháp luật khác nhau nên các quy định liên quan đến vấn đề tranh tụng của đương

sự cũng khác nhau và dần đi đến việc cụ thể hóa, từng bước hoàn thiện

Trang 37

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1 QUY ĐỊNH VỀ CÁC NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Thuật ngữ nguyên tắc (principium) được sử dụng lần đầu dưới thời La Mã cổ

đại có nghĩa là cơ sở, cốt lõi nền tảng Theo Đại từ điển tiếng Việt thì nguyên tắc “là những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm chỗ dựa để xem xét, làm việc”29 Khi thựchiện một công việc nhất định cần tuân thủ một cách triệt để các nguyên tắc thì mới cóthể đạt được những mục đích mong muốn

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật thìnguyên tắc của pháp luật là nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cơ bản, có tính chất xuất phátđiểm, cấu thành một bộ phận quan trọng nhất, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt, thấmnhuần toàn bộ nội dung cũng như hình thức của hệ thống pháp luật, là cơ sở chỉ đạotoàn bộ hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật

Nguyên tắc được đúc rút ra từ hoạt động thực tiễn và chỉ đúng khi phù hợp vớithực tiễn Trong hệ thống khoa học pháp lý hiện đại nguyên tắc được hiểu là những tưtưởng chỉ đạo, định hướng cơ bản trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.Các nguyên tắc trong pháp luật nói chung và luật TTDS nói riêng chỉ đúng khi nó phù hợpvới bản chất của ngành luật, với thực tế các quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh

Nhận thức được tầm quan trọng của tranh tụng trong TTDS nên BLTTDS córất nhiều quy định về tranh tụng Đặc biệt, ngay tại hệ thống các nguyên tắc củaBLTTDS đã có rất nhiều nguyên tắc nhằm đảm bảo thực hiện tranh tụng Các nguyêntắc này được xây dựng trên truyền thống pháp luật cũng như tính chất của luật TTDScùng với quá trình đúc rút kinh nghiệm thực tế, xây dựng, áp dụng và hoàn thiện phápluật tố tụng trong những năm qua Trong các nguyên tắc được quy định trongBLTTDS thì những nguyên tắc sau đây đảm bảo thực hiện tranh tụng trong TTDS

2.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử

Nhằm thể chế hóa quan điểm cải cách tư pháp của Đảng về nâng cao chấtlượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tưpháp và thực hiện "nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" được quy định

Trang 38

trong Hiến pháp năm 2013, BLTTDS 2015 ghi nhận nguyên tắc “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” Nguyên tắc này xác định các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng từ khi khởi kiện VADS và thụ lýVADS cho đến khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cho đến khixét xử sơ thẩm, phúc thẩm Theo đó, các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của đương sự có quyền đưa ra yêu cầu; có quyền và nghĩa vụ cung cấp, thuthập chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; có quyềnyêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu trữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tàiliệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án; có quyền yêu cầu Tòa án áp dụngcác biện pháp khẩn cấp tạm thờihoặc các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau này khó có thể thu thập được ; có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng

cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tậpngười làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá; có quyền được biết,ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thuthập (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai); có quyền tham gia phiên tòa; cóquyền trình bày về các yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu; có quyền tranhluận về chứng cứ, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án; cóquyền bác bỏ những lập luận của các đương sự khác, đưa ra quan điểm của mình vềhướng giải quyết vụ án; đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án;được đối chất với nhau hoặc người làm chứng; có quyền kháng cáo bản án, quyết định

sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tụcphúc thẩm, có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, táithẩm; đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của

họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án (trừ tài liệu,chứng cứ không được công khai)

Nguyên tắc xác định rõ trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương

sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thực hiện quyền tranh tụng Trong các trườnghợp xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự theo quy định của BLTTDS thìTòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ Để bảo đảm mọi chứng cứ đều được côngkhai Tòa án phải tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ cùng với việc hòa giải Đối với những vụ án không được hòa giải hoặc hòa giải

Trang 39

không được vẫn phải tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khaichứng cứ trước khi đưa vụ án ra xét xử Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứphải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp khôngđược công khai theo quy định tại Khoản 2 Điều 109 của BLTTDS 2015 Tòa án điềuhành việc tranh tụng, HĐXX chỉ hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranhtụng để ra bản án, quyết định.

2.1.2 Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

Trong TTDS, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện ở khả năngnhững người tham gia tố tụng tự do định đoạt các quyền dân sự của mình và cácphương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại Theo nguyên tắcnày quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện nội dung của quyền tranh tụng, đương

sự có quyền đưa ra yêu cầu, phản yêu cầu để Tòa án xem xét giải quyết, quyền thayđổi, bổ sung yêu cầu, rút yêu cầu, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết VADS…

Hoạt động tranh tụng thể hiện sự tự chủ, chủ động của đương sự, Toà án chỉ cótrách nhiệm tạo điều kiện cho các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự thực hiện quyền tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự còn việc các đương sự có thực hiện được quyền tranh tụng hay không là phụthuộc và sự chuẩn bị của từng bên đương sự Quyền tự định đoạt bao hàm nội dungquyền tranh tụng bởi khi thực hiện quyền tự định đoạt như quyền đưa ra yêu cầu, đưa ra

lý lẽ, chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu, hay phản đối yêu cầu của đương sự phía bênkia Việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS sẽ quyết định phạm vicủa những vấn đề cần tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Như vậy, nguyên tắc quyền tự định đoạt là cơ sở, điều kiện để đương sự thựchiện được quyền tranh tụng của mình Hay nói cách khác nguyên tắc quyền tự định

đoạt của đương sự là cơ sở để đương sự thực hiện tranh tụng trong TTDS.

2.1.3 Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Hoạt động xét xử các VADS là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấpquan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng vềđịa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự: người nào

đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải chứng minh Điều 6 BLTTDS 2015 quyđịnh nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS Theo nguyên tắc này,mỗi bên đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh những tình tiết mà mình đã viện dẫn

Trang 40

làm cơ sở cho những yêu cầu và phản đối của mình, hay nói một cách giản đơn hơn: “Ai khẳng định một sự việc gì thì phải chứng minh sự việc ấy” (he who affirms must prove).

Nghĩa vụ này cũng được áp dụng trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện

để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của ngườikhác Nội dung của nguyên tắc này xác định thu thập, giao nộp chứng cứ và chứng minhvừa là quyền và nghĩa vụ của đương sự nhằm chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầuhay phản đối yêu cầu của người khác đối với mình là có căn cứ và hợp pháp

Toà án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh trongtrường hợp họ không thể tự mình thực hiện được và trong những trường hợp pháp luật

quy định Đây là một trong những điểm mới quan trọng của nguyên tắc này Toà án sẽ

không chủ động thu thập chứng cứ mà chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong một sốtrường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật Điều này sẽ đảm bảo tính khách quan,

vô tư và công minh của Tòa án trong vai trò của người trọng tài khi giải quyết vụ án

Như vậy, nguyên tắc này đã quy định các điều kiện căn bản cho việc tranh tụng.Thực hiện tranh tụng đương sự ngoài tranh luận với nhau về các yêu cầu, phản yêu cầu,đương sự còn tranh luận về chứng cứ để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án

2.1.4 Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự.

Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS phản ánh tư tưởngpháp lý tiến bộ của nhân loại về sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật đãđược ghi nhận trong hai văn bản quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc là Tuyênngôn nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm

1966 Nội dung nguyên tắc này được khẳng định tại điều 8 BLTTDS 2015

Nguyên tắc này xác định các đương sự được bình đẳng với nhau trong việcthực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS Trường hợp các đương sự có vị trí tố tụngkhác nhau (chẳng hạn như vị trí nguyên đơn và vị trí bị đơn), các đương sự vẫn có cơhội và khả năng bình đẳng như nhau trong việc thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án, như quyền đưa ra yêu cầu, quyền phảnđối yêu cầu, quyền kháng cáo, khiếu nại, xuất trình chứng cứ, tranh luận, quyền tự bảo

vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ… Đồng thời, các đương sự cũng bình đẳng với nhautrong việc thực hiện các nghĩa vụ tố tụng, như nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, nghĩa vụtôn trọng Toà án, chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụán…; Toà án giải quyết vụ việc dân sự phải khách quan, vô tư, không thiên vị và độc

Ngày đăng: 17/08/2020, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w