Chế định “đại diện” được quyđịnh tại nhiều điều luật, tương đối đầy đủ và chi tiết trong BLDS và BLTTDS.Theo những quy định này, người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sựTTDS là n
Trang 1TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
SL : Sắc lệnh
VVDS : Vụ việc dân sự
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mà mọi cá nhân, tổ chức trong xãhội phải có nghĩa vụ tuân thủ và do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện.Tiếp theo, pháp luật là một hiện tượng xã hội vừa mang tính giai cấp vừa mangtính xã hội có quan hệ mật thiết với nhau Vì pháp luật do nhà nước ban hành,đại diện chính thức của toàn xã hội, mang tính chất xã hội, ở mức độ nhiều hay
ít (tùy vào hoàn cảnh cụ thể) pháp luật còn thể hiện ý chí, lợi ích của các giaitầng khác trong xã hội Vì vậy, việc mở rộng nghiên cứu các vấn đề pháp luật
để đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm định hướng luật hóa đúng đắn các quan
hệ xã hội luôn là yêu cầu cần thiết
Cùng với Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015), Bộ luật Tố tụngdân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyềncon người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dụcmọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Chế định “đại diện” được quyđịnh tại nhiều điều luật, tương đối đầy đủ và chi tiết trong BLDS và BLTTDS.Theo những quy định này, người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự(TTDS) là người do pháp luật quy định hay được đương sự ủy quyền mà thamgia TTDS, thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự mà mình đại diện trước Tòa án Vìnhiều lý do khác nhau như năng lực hành vi, thời gian, vị trí địa lý, trình độchuyên môn, ngôn ngữ, đương sự phải thông qua cá nhân, tổ chức khác đểthực hiện các quyền tố tụng Sự tham gia TTDS của người đại diện của đương
sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sựcũng như việc làm rõ sự thật của vụ việc dân sự Vì vậy, việc nghiên cứu mộtcách đầy đủ, chuyên sâu là rất cần thiết đối với vấn đề này
Bên cạnh đó, thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự như: hôn nhân giađình, kinh doanh thương mại, yêu cầu dân sự và lao động thời gian qua cho thấy
Trang 3người đại diện hợp pháp của đương sự còn gặp nhiều khó khăn trong việc thamgia tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình Việc nghiên cứulàm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về người đại diện của đương sựtrong TTDS trong bối cảnh BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015 mới cóhiệu lực được ba năm với những quy định hoàn thiện hơn có ý nghĩa rất lớn cảphương diễn lý luận lẫn phương diện thực tiễn Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS” làm luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu
Người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS là một trong nhữngvấn đề mà đã có nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu ở những phương diện khácnhau Các bài viết, luận văn, luận án, sách tham khảo có thể kể đến như: Luận
văn tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong TTDS” của tác giả Nguyễn Công Bình năm 2006; Luận văn thạc sĩ luật học “Người đại diện của đương sự trong TTDS” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học “Ủy quyền trong TTDS” của tác giả Tô Ngọc Lâm năm 2016; Luận văn thạc sĩ luật học “Người đại diện của đương sự trong TTDS” của
tác giả Ngô Thị Lộc năm 2016; Luận văn thạc sĩ luật học “Đại diện theo ủyquyền của đương sự trong TTDS Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thu Hoàinăm 2016; Luận văn thạc sĩ luật học “Người đại diện theo ủy quyền trongBLTTDS năm 2015” của tác giả Vương Quốc Hải năm 2017
Ngoài ra, còn có các bài viết đăng trên các báo và tạp chí như: bài viết
“Quyền người đại diện của đương sự được quy định tại Điều 243 BLTTDS” của
tác giả Nguyễn Văn Dũng đăng trên tạp chí Nghề luật số 04/2006; bài viết
“Người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong TTDS” của tác giả Hoàng Thu Yến, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 05/2006; “Một vài suy nghĩ về đại diện trong TTDS” của tác giả Tưởng Duy Lượng trên tạp chí khoa học pháp lý (số 1/2007); bài viết “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam - nhìn từ góc độ Luật so sánh” của tác giả Ngô Huy Cương, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 04/2009; bài viết “Một số vấn đề về
Trang 4người đại diện theo pháp luật của đương sự trong TTDS” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 03/2010; bài viết “Một vài ý kiến về người đại diện của đương sự trong BLTTDS năm 2015” của tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà, đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 09/2016
Mặc dù những công trình nghiên cứu và các bài viết trên ở mức độ, phạm
vi khác nhau đã góp phần phát triển các quy định về người đại diện của đương
sự trở nên hoàn thiện hơn qua các lần sửa đổi BLTTDS Tuy nhiên, với mongmuốn nghiên cứu về đề tài người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDStác giả vẫn muốn tiếp tục khai thác vấn đề này để tìm hiểu sâu hơn nữa nhữngvấn đề lý luận, đánh giá, bình luận các quy định của pháp luật hiện hành, từ đóthấy được những hạn chế, bất cập và đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiệnpháp luật về người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thựctiễn áp dụng quy định về người đại diện hợp pháp của đương sự, đánh giá thựctrạng pháp luật hiện hành về vấn đề này, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghịnhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật TTDS về người đại diện hợppháp của đương sự
Với mục đích đó, nhiệm vụ chủ yếu của luận văn là:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về người đại diện hợp pháp của đương sựnhư: Khái niệm, ý nghĩa và cơ sở của quy định về người đại diện hợp pháp củađương sự trong TTDS, phân loại người đại diện hợp pháp của đương sự và lược
sử hình thành và phát triển của pháp luật TTDS về người đại diện hợp pháp củađương sự
- Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về ngườiđại diện hợp pháp của đương sự và thực trạng áp dụng các quy định đó trongthực tế
- Trên cơ sở thực trạng, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện phápluật TTDS về người đại diện hợp pháp của đương sự
Trang 54 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản; nhữngquy định của pháp luật TTDS và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật
về người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS
Phạm vi nghiên cứu: Người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS
là một vấn đề nghiên cứu tương đối lớn, có phạm vi nghiên cứu rộng nên có thểđược nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau và với nhiều nội dung khácnhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, luận văn tập trung nghiên cứu vềngười đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình Tòa án giải quyết VVDStheo thủ tục tố tụng thông thường, không nghiên cứu về người đại diện hợppháp của đương sự trong THADS
5 Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội cho nên trong luận văn sửdụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau Bên cạnhnhững phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác - Lê Nin, luận văn còn dựa một số phương pháp nghiên cứu chủđược áp dụng:
Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, khái quát nhằm đi sâutìm hiểu về khái niệm, đặc điểm về người đại diện của đương sự trong TTDS
Phương pháp đánh giá, phương pháp mô tả kết hợp so sánh, đối chiếu:những phương pháp này giúp tác giả tìm hiểu các quy định về người đại diệnhợp pháp của đương sự trong TTDS theo từng thời kỳ ở Việt Nam, tìm ra nhữngđiểm mới tiến bộ của pháp luật đồng thời so sánh với pháp luật của một số nướctrên thế giới về người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS để tìm ranhững điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam cũng như những quy định cầntiếp thu
Ngoài những biện pháp trên tác giả còn sử dụng một số phương phápkhác như: phương pháp nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu quá trình hình thành,phát triển của pháp luật Việt Nam về người đại diện hợp pháp của đương sự
Trang 6trong TTDS qua các thời kỳ; phương pháp khảo sát thực tế từ đó đưa ra nhữngvướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Từ việc nghiên cứu, kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏnhững phương diện pháp lý và phương diện thực tiễn về người đại diện hợppháp của đương sự trong TTDS
- Làm rõ được những vấn đề lý luận về người đại diện hợp pháp củađương sự trong TTDS;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định vềngười đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS, rút ra những vướng mắc,bất cập trong quy định của pháp luật;
- Đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiệncác quy định về người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS
Ngoài ra, việc tác giả nghiên cứu đề tài này có thể xây dựng được mộtnguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy Hơn nữa,người đọc có thể tự nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết và có thể áp dụng vào thực tế
để giải quyết những khó khăn, vướng mắc của mình trong việc tham gia TTDSliên quan đến người đại diện từ đó tạo nền tảng cho việc thực hiện pháp luật mộtcách đầy đủ, chính xác, mang lại quyền và lợi ích chính đáng cho mình để nângcao hiệu quả của hoạt động TTDS
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn gồm 3 chương, cụ thể là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về người đại diện hợp pháp của đương
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA
ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự
Để đưa ra được khái niệm người đại diện hợp pháp của đương sự cần giảithích được các khái niệm: TTDS và đương sự trong TTDS
Thứ nhất, về khái niệm TTDS
Trong khoa học pháp lý, theo Từ điển Luật học Việt Nam, TTDS là trình
tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự vàthi hành án Trong từ điển Luật học của Anh thì tố tụng (procedure) là nhữngbước tiến hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiện được giải quyết.Trong từ điển Luật học của Pháp thì tố tụng là toàn bộ những thể thức phải theo
để đệ trình một yêu cầu trước thẩm phán Như vậy đa số các nước đều thừanhận TTDS là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để Tòa án giải quyết một
vụ kiện dân sự [28] Ở Việt Nam vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về việcxác định thi hành án dân sự có phải là một giai đoạn của TTDS hay không Tuynhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu về
người đại diện trong quá trình Tòa án giải quyết VVDS, không nghiên cứu về người đại diện trong THADS.
Có thể thấy, ở giai đoạn thi hành án dân sự, nhiệm vụ của cơ quan thihành án và chấp hành viên là tổ chức, thi hành bản án, quyết định của Tòa án,quyết định của cơ quan, tổ chức khác chứ không giải quyết về nội dung VVDS,nên TTDS chỉ là quá trình Toà án giải quyết VVDS, quyết định quyền và nghĩa
vụ dân sự của các đương sự Như vậy, TTDS là trình tự, thủ tục được pháp luậtquy định để Tòa án giải quyết VVDS do các cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quyđịnh của pháp luật yêu cầu
Trang 8Thứ hai, về khái niệm đương sự trong TTDS
Đương sự là một trong những chủ thể không thể thiếu trong quá trình tòa
án giải quyết VVDS, việc tham gia tố tụng của họ có thể làm phát sinh, thayđổi, hoặc đình chỉ tố tụng Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt
thì đương sự là “là người là đối tượng trực tiếp của một việc đang được giải quyết” [16] Còn trong cuốn Từ điển Hán Việt, đương sự được định nghĩa là
người “có liên quan trực tiếp đến một việc”[17] Như vậy, dưới góc độ chungnhất, đương sự là người có liên quan trực tiếp trong một vụ việc nào đó xảy rađang được đưa ra xem xét, giải quyết Dưới góc độ pháp lý, theo cuốn Từ điển
Luật học năm 2006 thì đương sự được hiểu là “Cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, Viện kiểm sát, người làm chứng, người phiên dịch” [26, tr.278-279] Theo Từ điển Luật học của Mỹ, đương sự được định
nghĩa là “người đưa ra hoặc chống lại người đưa ra việc kiện” [42] Như vậy,
đương sự trong một vụ việc là những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụviệc đang được xem xét, giải quyết Tùy thuộc vào tính chất của từng loại vụviệc được Tòa án giải quyết mà có đương sự trong VVDS, đương sự trong vụ ánhành chính và đương sự trong vụ án hình sự Trong đó, đương sự trong VVDS
“là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách
do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến VVDS”[23] Các đương sự trong VVDS cóthể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, tham gia tố tụng với tư cách là nguyênđơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự;người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự
Thứ ba, về khái niệm người đại diện của đương sự trong TTDS
Trang 9Trong quá trình tòa án giải quyết VVDS, để bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của mình thì các đương sự thường tự mình thực hiện các quyền và nghĩa
vụ tố tụng của họ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các đương sự có thể lànhững người không có hoặc khó có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình hoặc cần phải bảo vệ tài sản của đương sự và những người cóliên quan hoặc vì những lý do khác nhau như do sức khỏe, công việc, lũ lụt,thiên tai, hỏa hoạn, thiếu kiến thức hiểu biết pháp luật, kinh nghiệm tham gia tốtụng… mà họ không thể hoặc khó có thể tham gia tố tụng tại Tòa án nên cần cóngười đại diện thay mặt đương sự tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự[30,tr.28]
Về mặt ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt người đại diện là ngườiđược cử thay mặt cho cá nhân, tập thể làm việc gì [25]; còn theo Từ điển Từ
Hán Việt năm 2001 đại diện được hiểu là “thay mặt”[20] Như vậy, theo nghĩachung nhất người đại diện là người thay mặt cho cá nhân, cơ quan, tổ chức thựchiện một công việc nhất định
Dưới góc độ pháp lí, Theo Từ điển Luật học thì người đại diện được hiểu
là “Người nhân danh và vì lợi ích của một người khác xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện” [26,tr.575] Như vậy, trong
TTDS người đại diện của đương sự là người “thay mặt” đương sự tham gia tố
tụng thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự
Tác giả Nguyễn Thuỳ Dương đưa ra khái niệm đại diện dưới dạng là mộthành vi, trong đó tồn tại hai chủ thể: người đại diện và người được đại diện,người đại diện nhân danh người được đại diện thực hiện các giao dịch dân sựtrong phạm vi thẩm quyền đại diện[19]
Theo quy định về đại diện tại Điều 134 BLDS 2015 thì những trường hợp
cá nhân, pháp nhân không có hoặc không đủ điều kiện để xác lập và thực hiệngiao dịch dân sự thì có thể thông qua cá nhân, pháp nhân khác xác lập và thựchiện giao dịch đó Vì vậy đại diện là quan hệ giữa một bên là người đại diện với
Trang 10bên kia là người được đại diện, theo đó người đại diện nhân danh và vì lợi íchcủa người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm viđại diện
Vì vậy khi tham gia tố tụng tại Tòa án, các đương sự có thể tự mình thựchiện quyền và nghĩa vụ TTDS được pháp luật quy định nhưng có thể thông quangười khác thay mặt mình tham gia tố tụng là người đại diện theo pháp luậthoặc người đại diện theo ủy quyền Ngoài ra, có những trường hợp trong quátrình tham gia tố tụng tại Tòa án, các đương sự rơi vào tình trạng không thể tựmình tham gia tố tụng tại Tòa án thì Tòa án có quyền chỉ định người thay mặtđương sự tham gia tố tụng Việc chỉ định này để nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp chính đáng của đương sự
Tất cả những người được thay mặt cho đương sự trước Tòa án để thựchiện quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự là người đại diện của đương sựtrong TTDS Người đại diện của đương sự là người nhân danh và vì lợi ích củangười được đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại Tòa
án
Như vậy, có thể hiểu người đại diện của đương sự trong TTDS là ngườitham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án
Trong quá trình tham gia TTDS tại Tòa án, tuỳ thuộc vào năng lực hành
vi TTDS của các đương sự, kinh nghiệm tham gia tố tụng, ý chí của các đươngsự… mà có các loại đại diện khác thay mặt đương sự tham gia tố tụng tại Tòa
án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đó là, người đại diệntheo pháp luật, người đại diện theo uỷ quyền và người đại diện do Toà án chỉđịnh
* Người đại diện theo pháp luật là người tham gia TTDS để bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo quy định của pháp luật
Người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng theo những nguyên tắc đãđược pháp luật đề ra Những đương sự được đại diện trong trường hợp này có
Trang 11thể là cá nhân không có năng lực hành vi TTDS, không thể tự mình tham giaquan hệ tố tụng hoặc đương sự là pháp nhân Do đó, người đại diện theo phápluật trong phạm vi đại diện tham gia tố tụng thay mặt người được đại diện đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà họ đại diện Người đại diệntheo pháp luật có quyền và nghĩa vụ của đương sự mà họ đại diện trong phạm viđại diện
Đối với đương sự là cá nhân là người chưa thành niên, người mất nănglực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi thì
họ là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự nên phải có người đạidiện theo pháp luật tham gia TTDS tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các chủ thể này
Đối với đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì việc họtham gia TTDS tại Toà án có cần phải có người đại diện theo pháp luật khôngvẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau
Cách hiểu thứ nhất: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người
không có năng lực hành vi TTDS trong phạm vi những vụ việc về giao dịch dân
sự liên quan đến tài sản Do đó, trong những vụ việc này người bị hạn chế phải
có người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng
Cách hiểu thứ hai: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người có
năng lực hành vi TTDS nên việc tham gia tố tụng tại Toà án do chính người bịhạn chế thực hiện mà không cần người đại diện theo pháp luật
Theo quan điểm của tôi thì đương sự là người bị hạn chế NLHVDS vẫncần có người đại diện theo pháp luật tham gia TTDS tại Tòa án trong vụ việcdân sự về giao dịch dân sự liên quan đến tài sản bị Tòa án tuyên bố hạn chế Bởi
vì, đương sự trong trường hợp này không thể tự mình bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của mình trước Tòa án Bên cạnh đó, sự tham gia của người đại diện sẽgiúp cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, thuận lợi, đặcbiệt khi người đại diện có thể là luật sư hoặc là người hiểu biết pháp luật, họ sẽ
Trang 12giúp Toà án giải quyết vụ việc dân sự một cách đúng đắn hơn ngăn chặn kịpthời các hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
* Người đại diện theo ủy quyền là người tham gia tố tụng để bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự ủy quyền của đương sự Do đó,đương sự trong trường hợp này là người có đầy đủ năng lực hành vi TTDS, họ
có ý chí muốn nhờ người khác thay mặt mình tham gia tố tụng Người đại diệnchỉ được tham gia quan hệ tố tụng khi được đương sự ủy quyền Người được uỷquyền có thể là cá nhân, pháp nhân có năng lực chủ thể và không thuộc nhữngtrường hợp pháp luật cấm không được làm người đại diện theo uỷ quyền Vềphạm uỷ uỷ quyền, đối với việc ly hôn, do gắn liền với yếu tố nhân thân củađương sự nên đương sự cũng không được ủy quyền cho người khác tham gia tốtụng Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện hợp pháp thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình
Như vậy, khác với người đại diện theo pháp luật thì đương sự được đạidiện là người có năng lực hành vi TTDS nên người đại diện theo ủy quyền chỉđược tham gia tố tụng khi được đương sự ủy quyền thay mặt họ trong TTDS
Cơ sở làm phát sinh người đại diện theo uỷ quyền là theo ý chí của các bênđương sự, còn cơ sở làm phát sinh người đại diện theo pháp luật là theo quyđịnh của pháp luật Người đại diện theo uỷ quyền có quyền và nghĩa vụ TTDStrong phạm vi uỷ quyền, còn người đại diện theo pháp luật có quyền và nghĩa
vụ TTDS của đương sự mà họ đại diện trong phạm vi đại diện Người đại diệntheo pháp luật có thể tham gia trong tất cả các vụ việc dân sự nhưng người đạidiện theo uỷ quyền không được tham gia trong vụ án ly hôn
* Người đại diện do Tòa án chỉ định: là người đại diện tham gia tố tụng
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự chỉ định của Tòa án.Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, các đương sự mới bị rơi vào tìnhtrạng không thể tự mình tham gia tố tụng tại Tòa án như người bị hạn chế hoặc
bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức và làmchủ hành vi mà không có ai thay mặt họ để tiếp tục tham gia tố tụng hoặc có
Trang 13người đại diện theo pháp luật thay mặt đương sự tham gia tố tụng nhưng họ lại
là những người mà pháp luật quy định không được làm người đại diện thì Tòa
án có quyền chỉ định người thay mặt đương sự tham gia tố tụng Việc chỉ địnhnày để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đương sự Ngườiđại diện do Tòa án chỉ định tham gia tố tụng từ khi có quyết định của Tòa án chỉđịnh họ đại diện cho đương sự Phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện doTòa án chỉ định không bị hạn chế trong các loại việc
Tuy nhiên, người được Toà án chỉ định sẽ tham gia tố tụng với tư cách
người đại diện theo pháp luật có đúng không? Có quan điểm cho rằng, người
được Toà án chỉ định được tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theopháp luật
Theo quan điểm của tôi, người được Toà án chỉ định trong trường hợpnày chỉ tham gia trong vụ án được chỉ định này thôi Nếu có những vụ việc khácphát sinh liên quan đến quyền lợi của người được đại diện thì người đại diện doToà án chỉ định không được tham gia mà người đại diện theo pháp luật củangười được đại diện đã được cử, chỉ định hoặc theo quy định của pháp luật sẽtiếp tục tham gia trong vụ việc mới phát sinh nếu người đại diện theo pháp luậtkhông thuộc những trường hợp bị cấm không được làm người đại diện theopháp luật
Ví dụ: Ông A có 3 người con là B, C, D, trong đó D là người bị bệnh tâmthần Ông A khi chết có để lại di sản thừa kế là một ngôi nhà diện tích 100m2
Do D bị bệnh tâm thần nên B yêu cầu Toà án xác định D là người mất năng lựchành vi dân sự Toà án đã ra quyết định tuyên bố D là người bị mất năng lựchành vi dân sự Sau đó, B và C có tranh chấp với nhau về chia di sản thừa kế Bkhởi kiện yêu cầu chia di sản thưa kế Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà ánphát hiện cả B, C đều có ý định chiếm đoạt phần kỷ phần thừa kế của D nêntrong trường hợp này, B hoặc C đều không được làm người đại diện theo phápluật cho D do B, C đều thuộc trường hợp không được làm người đại diện theopháp luật cho D trong vụ án thừa kế này Để bảo vệ quyền lợi cho D, Toà án chỉ
Trang 14định ông E là bác họ xa của D làm người đại diện cho D để E tham gia tố tụngbảo vệ quyền lợi cho D trong vụ án chia thừa kế Với quyết định củ Toà án, Echỉ được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho D trong vụ án nàythôi.
Tuy nhiên, nếu D bị F gây thiệt hại thì người khởi kiện để yêu cầu bồithuường thiệt hại cho F và tham gia tố tụng tại Toà án vẫn là B (anh trai cả củaD) với tư cách là người đại diện theo pháp luật của D
Do đó, cần phải xác định trong TTDS, ngoài người đại diện theo phápluật và người đại diện theo uỷ quyền thì còn có người đại diện do Toà án chỉđịnh Người này có đặc điểm khác biệt so với người đại diện theo pháp luật và
người đại diện theo uỷ quyền Đó là, thứ nhất, người đại diện do Toà án chỉ
định chỉ tham gia trong TTDS khi người đại diện theo pháp luật không thuộc
những trường hợp bị cấm không được làm người đại diện theo pháp luật Thứ hai, cơ sở làm phát sinh người đại diện do Toà án chỉ định dựa trên quyết định
của Tòa án, còn cơ sở làm phát sinh người đại diện theo pháp luật là theo quyđịnh của pháp luật, cơ sở làm phát sinh người đại diện theo uỷ quyền là dựa trên
ý chí của các bên đương sự Thứ ba, người đại diện do Toà án chỉ định có quyền
và nghĩa vụ của đương sự mà họ đại diện trừ quyền uỷ quyền Điều này cónghĩa là trong trường hợp vì một lý do nào đó người đại diện do Toà án chỉ địnhkhông tham gia tố tụng được thì họ không được uỷ quyền cho người khác màToà án chỉ định người khác Người đại diện theo pháp luật có quyền và nghĩa vụcủa đương sự mà ho đại diện trong phạm vi đại diện Người đại diện theo uỷquyền có quyền và nghĩa TTDS của đương sự trong phạm vi uỷ quyền
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa cho khái niệm người đại
diện hợp pháp của đương sự như sau: người đại diện của đương sự trong TTDS
là người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự mà họ đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án
Trang 15Người đại diện theo pháp luật là người tham gia tố tụng đương nhiên được thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án.
Người đại diện theo ủy quyền là người tham gia tố tụng thay mặt đương
sự thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự theo sự ủy quyền của đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án.
Người đại diện do Tòa án chỉ định là người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự theo sự chỉ định của Tòa án trong trường hợp đương sự là người không thể tự mình tham gia tố tụng
mà không có người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện thuộc trường hợp pháp luật quy định không được làm người đại diện cho đương sự.
1.1.2 Đặc điểm của người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS
- Cơ sở làm phát sinh người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS
là theo quy định của pháp luật hoặc trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người đại diện và người được đại diện hoặc trên cơ sở một quyết định của cơ quan có thẩm quyền
- Người đại diện hợp pháp của đương sự là cá nhân hoặc pháp nhân có
đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi TTDS và không thuộc những trường hợp pháp luật cấm không được làm người đại diện hợp pháp trong TTDS
Người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS với chức năng ngườithay mặt cho đương sự tham gia quan hệ pháp luật TTDS, trực tiếp thực hiệncác quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, vì vậy người đại diện hợp phápcủa đương sự trong TTDS cần thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Cá nhân, pháp nhân có năng lực chủ thể (năng lực pháp luật vàNLHVTTDS) Theo đó, cá nhân phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không bịmất năng lực hành vi dân sự Còn đối với pháp nhân thì pháp nhân đó phải có
Trang 16năng lực pháp luật, năng lực hành vi TTDS phù hợp với công việc đại diện Haynói cách khác, pháp nhân là người đại diện hợp pháp trong TTDS phải có đăng
ký kinh doanh hoặc trong nhiệm vụ, quyền hạn của pháp nhân quy định rõ vềviệc có thẩm quyền dịch vụ tư vấn pháp lý; đại diện trong hoặc ngoài tố tụng
+ Cá nhân, pháp nhân không thuộc các trường hợp không được làm ngườiđại diện hợp pháp
Đây là các trường hợp mà những người đại diện hợp pháp của đương sựkhông vì lợi ích của người được đại diện hoặc sự tham gia tố tụng của các chủthể này có thể tác động đến những người tiến hành tố tụng, ảnh hưởng đến quátrình giải quyết khách quan vụ án nên họ không được tham gia với tư cáchngười đại diện trong TTDS
- Người đại diện hợp pháp của đương sự nhân danh đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự
Người đại diện hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng là do pháp luậtquy định trong một số trường hợp cụ thể hoặc do đương sự trao cho người đạidiện thông qua cơ chế đại diện hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền Người đại diện hợp pháp đồng thời tham gia hai quan hệ pháp luật, một làquan hệ đại diện, hai là quan hệ tố tụng Quan hệ đại diện là tiền đề để người đạidiện hợp pháp tham gia tố tụng, nếu không có quan hệ đại diện thì người đạidiện hợp pháp không hình thành và không có ai có tư cách tố tụng của đương sựthay đương sự tham gia tố tụng
Như vậy, người đại diện sẽ thay mặt người được đại diện thực hiện cácquyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự Tuy nhiên, người đại diện thực hiệncác quyền và nghĩa vụ tố tụng đó dưới danh nghĩa của đương sự, vì quyền lợicủa đương sự Điều này phân biệt người đại diện với người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự tham gia tố tụng song song cùng với đương sự Khi tham gia tố tụng, ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có vị trí pháp lý độc lập vớiđương sự, không bị ràng buộc bởi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng
Trang 17của đương sự như người đại diện mà chủ yếu tham gia tố tụng bằng việc hỗ trợ,giúp đỡ đương sự về mặt pháp lý và bằng việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tốtụng của mình.
Người đại diện thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụngcủa đương sự thông qua quan hệ đại diện cho nên quyền và nghĩa vụ của ngườiđại diện phụ thuộc vào nội dung quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự Quyền,nghĩa vụ tố tụng của những đương sự ở vị trí tố tụng khác nhau thì khác nhau,theo đó người đại diện của từng loại đương sự khác nhau thì thực hiện cácquyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau Ngoài ra, quan hệ đại diện có nhiều dạngkhác nhau, mỗi dạng quan hệ đại diện lại mở ra những phạm vi đại diện khácnhau cho người đại diện theo đó người đại diện sẽ được thực hiện các quyền vànghĩa vụ tố tụng của đương sự ở mức độ khác nhau Mục đích của người đạidiện xác lập quan hệ với người thứ ba là vì lợi ích của người được đại diện Cònlợi ích của người đại diện, trong quan hệ đại diện theo ủy quyền, họ có thể đượchưởng tiền thù lao nếu có thỏa thuận, còn trong quan hệ đại diện theo pháp luậtthì đó là nghĩa vụ của người đại diện và không được hưởng các lợi ích vật chất
cụ thể từ quan hệ này
1.1.3 Vai trò của người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS
- Sự tham gia của người đại diện của đương sự trong TTDS góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Mục đích của TTDS là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơquan, tổ chức và lợi ích của nhà nước Muốn bảo vệ được quyền và lợi ích hợppháp của mình thì đương sự phải tham gia tố tụng trước Tòa án hay nói cáchkhác là phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình thì mới bảo vệđược quyền và lợi ích hợp pháp Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, đương sựkhông thể tự mình tham gia tố tụng vì họ là người chưa thành niên, người mấtnăng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người cókhó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặcngười đại diện theo pháp luật của họ thuộc trường hợp không được làm người
Trang 18đại diện đây là những trường hợp đương sự không đáp ứng điều kiện có đầy
đủ năng lực hành vi TTDS theo quy định pháp luật nên không thể tham gia tốtụng Nếu không thể tham gia tố tụng thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽkhông được đảm bảo Vì vậy, muốn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mìnhthì họ phải thông qua việc tham gia tố tụng của người đại diện Bên cạnh đó,trong trường hợp mặc dù đương sự là người có năng lực hành vi TTDS, có thể
tự mình tham gia tố tụng trước Tòa án nhưng do trình độ hiểu biết pháp luật cònhạn chế hoặc vì một lý do khách quan nào đó mà không tham gia tố tụng đượckhi đó đương sự sẽ ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệquyền, lợi ích cho mình một cách tốt hơn, thuận tiện hơn Vì vậy, sự tham giacủa người đại diện của đương sự đã giúp cho việc tham gia TTDS của đương sựđược thuận tiện hơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ
- Sự tham gia của người đại diện của đương sự còn góp phần làm cho việc giải quyết VVDS của Tòa án được thuận lợi, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người đại diện giúp họ kết nối đượcvới đương sự một cách thuận lợi và hiệu quả nhất Người đại diện theo phápluật của đương sự thay mặt đương sự là người chưa thành niên, người mất nănglực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khókhăn trong nhận thức và điều khiển hành vi mà không có người đại diện nênTòa án phải chỉ định người đại diện, nếu không thông qua người đại diện thìđương sự trong những trường hợp này sẽ không thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của mình trước Tòa án, bên cạnh đó cũng gây khó khăn cho quá trình giảiquyết VVDS của Tòa án Sự tham gia tố tụng của người đại diện sẽ giúp choquá trình giải quyết VVDS được nhanh chóng, thuận lợi Vì khi tham gia quátrình tố tụng người đại diện sẽ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong tố tụngcủa đương sự mà mình đại diện Trong những quyền, nghĩa vụ tố tụng đó cónhững quyền quan trọng có ý nghĩa lớn tới việc giải quyết VVDS như quyềnchứng minh cho yêu cầu của mình, quyền cung cấp chứng cứ qua đó Tòa án
Trang 19có cơ sở để giải quyết VVDS được nhanh chóng, thuận lợi hơn Ngoài ra, trongmột số trường hợp họ không đủ kiến thức hay một vài lý do chủ quan khác mà
có thể không trực tiếp tham gia tố tụng Trong trường hợp đó, để giải quyếtđược vụ việc liên quan đến những chủ thể đó, họ đã sử dụng cơ chế ủy quyền đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Nhờ vậy, cơ quan tiến hành tố tụng
có thể nhanh chóng tiếp cận được với vụ việc một cách khách quan, giải quyết
vụ việc một cách khách quan, chính xác và đúng pháp luật
Như vậy, chính từ sự tham gia tố tụng của người đại diện của đương sựtrong TTDS làm cho quá trình giải quyết VVDS được nhanh chóng, thuận lợinên đã giúp ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợppháp của người khác, buộc họ khắc phục hậu quả kịp thời Qua đó pháp luậtđược tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh, giúp nâng cao nhận thức pháp luật.Việc quy định về người đại diện của đương sự trong pháp luật TTDS chính là
cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tham gia tố tụng của người đại diện để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án
1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TTDS.
1.2.1 Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong TTDS
Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự là một trong những biểu hiện củadân chủ trong TTDS, là sự bảo đảm quan trọng cho hoạt động xét xử được tiếnhành một cách khách quan và thành công
Nội dung của nguyên tắc này xác định phải đảm bảo cho các đương sự tựthực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ; bảo đảm cho đương sự thực hiệnđược việc ủy quyền hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củahọ; tòa án có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định củapháp luật tạo điều kiện cho các đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.Việc thực hiện quyền bảo vệ của đương sự có thể do đương sự tự tiến hành hoặcnhờ người khác tiến hành
Trang 20Quyền bảo vệ của đương sự trong TTDS là quyền của đương sự trongviệc chống lại các hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình Dovậy, để đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì việcđảm bảo cho các đương sự thực hiện được các quyền TTDS là rất cần thiết Tuynhiên, không phải lúc nào đương sự cũng tự mình tham gia tố tụng và thực hiệncác quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.Đương sự có thể là người không có NLHVDS, người chưa thành niên, người bịhạn chế NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi màkhông có người đại diện hoặc người đại diện không đủ điều kiện trở thànhngười đại diện Vì vậy, nếu đương sự không thể tham gia tố tụng thì sẽ ảnhhưởng đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính họ Bên cạnh đó, cótrường hợp đương sự hoàn toàn có thể tự mình tham gia tố tụng để bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp cho mình nhưng do họ còn thiếu hiểu biết pháp luật,muốn người có hiểu biết pháp luật tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp cho mình nên đương sự lại ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng cho
họ trước Tòa án Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong TTDS là bảo đảmcho đương sự thực hiện được quyền ủy quyền cho người khác đại diện, nhờngười khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc được Tòa án chỉ địnhngười đại diện trong trường hợp đương sự không thể tự mình tham gia tố tụng
mà không có người đại diện hoặc người đại diện thuộc trường hợp không đượclàm người đại diện
1.2.2 Đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự:
Trong TTDS quyền tự định đoạt của đương sự được hình thành và bắtnguồn từ bản chất của các quan hệ dân sự, đó là các quan hệ xã hội được xác lậptrên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện, cam kết và thỏa thuận Quyền tự địnhđoạt có thể nói là một trong những quyền năng đặc trưng của chủ thể tham giaquan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ pháp luật TTDS nói riêng, chophép đương sự trong TTDS được lựa chọn phương thức tham gia tố tụng theocách mà họ cho rằng đó là thuận lợi nhất và tốt nhất cho việc bảo vệ quyền, lợi
Trang 21ích hợp pháp của mình Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự có ý nghĩaquan trọng trong việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Khitham gia vào các quan hệ dân sự và xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, các chủ thể
có thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết hay quyết định việc có khởikiện hay không khởi kiện ra trước Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củamình Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của đương sự và chỉgiải quyết trong phạm vi đương sự yêu cầu tức là phụ thuộc vào ý chí củađương sự từ đó đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự Trong quá trìnhTòa án giải quyết VVDS, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêucầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái phápluật và đạo đức xã hội Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trongTTDS giúp xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tự địnhđoạt của đương sự
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS giúp ổn địnhtrật tự xã hội, giữ vững kỉ cương xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân.Pháp luật TTDS ghi nhận và bảo đảm cho các chủ thể trong quan hệ dân sự thựchiện quyền tự định đoạt của mình đã góp phần làm giảm bớt áp lực giải quyếtcác tranh chấp của Toà án, giúp cho việc giải quyết tranh chấp được nhanhchóng, tiết kiệm được chi phí và thời gian của Tòa án và của đương sự
Nguyên tắc quyền tự định đoạt giúp đương sự quyết định phương thứcgiải quyết vụ việc thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả Những tác dụng này có
ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của ngườidân Tuy nhiên, trong một số trường hợp để bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợppháp của mình thì đương sự có thể ủy quyền cho người khác thay mình thamgia tố tụng, đây là một trong những nội dung của việc đảm bảo quyền tự địnhđoạt của đương sự Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Tuy vậy, do tínhchất, yêu cầu của việc giải quyết VVDS sau khi ủy quyền cho người đại diện
Trang 22đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng để bổ sung cho hoạt động của ngườiđại diện.
1.2.3 Đảm bảo quyền con người, quyền lợi của những người không có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Về nguyên tắc này, khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi bị xâm hạihoặc tranh chấp thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức này sẽ tự mình bảo vệ quyềnlợi và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, trong đời sống xã hội có một nhómngười mà khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại thì họ không đủhiểu biết để biết rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại và cũngkhông có khả năng tự vệ chống trả lại sự xâm phạm của các cá nhân, cơ quan, tổchức khác như: người có khuyết tật về nhận thức, hay chưa đủ tuổi tham gia cácquan hệ pháp luật tố tụng, hay mắc những căn bệnh làm giảm sút khả năng kiểmsoát bản thân, khả năng nhận thức mà không thể tham gia một cách trực tiếpvào quan hệ tố tụng theo quy định của pháp luật hay là vì những hạn chế về hiểubiết mà chủ thể không đủ tự tin tham gia tố tụng nên họ là những người phảichịu thiệt thòi từ sự xâm hại của những cá nhân, cơ quan, tổ chức khác Do đó,cần phải có những thiết chế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhữngngười không có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Mộttrong những thiết chế mà Nhà nước đặt ra để bảo vệ quyền lợi của những ngườinày là sự trợ giúp của người đại diện[33]
1.2.4 Đảm bảo sự tham gia tố tụng của đương sự một cách thuận lợi, nhanh chóng.
Sự tham gia tố tụng của người đại diện sẽ giúp cho quá trình giải quyếtVVDS được nhanh chóng, thuận lợi Vì khi tham gia quá trình tố tụng người đạidiện sẽ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng của đương sự mà mìnhđại diện Trong những quyền, nghĩa vụ tố tụng đó có những quyền quan trọng
có ý nghĩa lớn đối với đương sự về việc giải quyết VVDS như chứng minh choyêu cầu của mình, quyền cung cấp chứng cứ qua đó Tòa án không phải mấtthời gian thu thập chứng cứ mà căn cứ vào chứng cứ của đương sự nộp cho Tòa
Trang 23án để Tòa án có cơ sở giải quyết VVDS nhanh chóng, thuận lợi hơn Bên cạnh
đó, sự tham gia của người đại diện mà người đại diện có thể là luật sư hoặc làngười hiểu biết pháp luật cũng giúp cho quá trình giải quyết VVDS một cáchkhách quan, tránh được sự chủ quan của Tòa án từ đó VVDS sẽ được giải quyếtmột cách đúng đắn hơn Chính vì vậy sự tham gia tố tụng của người đại diệncủa đương sự trong TTDS làm cho quá trình giải quyết VVDS được nhanhchóng, thuận lợi nên đã giúp ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm đếnquyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như của người khác
Việc quy định pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luậttạo điều kiện cho pháp nhân nhanh chóng, thuận lợi trong xác lập, thực hiện cáchành vi pháp lý, các hợp đồng giao dịch của pháp nhân, nhất là đối với phápnhân hoạt động trên nhiều lĩnh vực hoặc ở nhiều địa bàn khác nhau[18,tr.115]
1.2.5 Đảm bảo mối liên hệ giữa các quy định về người đại diện trong quan hệ pháp luật nội dung và người đại diện trong TTDS.
Mục đích hình thành quan hệ đại diện trong luật dân sự và TTDS là đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, trong đó chủ yếu là những đốitượng thiệt thòi trong xã hội Vì tình hình kinh tế hiện nay ngày càng phát triểnnên đời sống dân sự đang ngày một phức tạp, nhiều dạng quan hệ ra đời vớinhững nội dung vô cùng đa dạng, phong phú Có những trường hợp, nếu đương
sự không chuyên sâu về pháp lý chuyên ngành thì rất khó khăn để hiểu về vụviệc của chính mình Đương sự ngày càng khó khăn trong việc tự mình bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, từ đó đẩy nhu cầu được trợ giúp pháp
lý ngày càng tăng cao Quy định người đại diện của đương sự là mở ra chođương sự con đường giải quyết nhu cầu cấp thiết đó
Các quy định về người đại diện hợp pháp trong pháp luật nội dung chính
là cơ sở cho việc tham gia tố tụng của người đại diện hợp pháp trong TTDS, cácquy định về người đại diện trong TTDS cũng phải phù hợp với tính chất của quátrình tố tụng để đảm bảo quá trình giải quyết được thuận lợi Những người đạidiện cho các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp trong các quan hệ dân sự, hôn
Trang 24nhân gia đình, lao động, thương mại thông thường sẽ tiếp tục là người đạidiện trong TTDS khi có tranh chấp, yêu cầu được đưa ra Tòa án giải quyết theothủ tục TTDS Quan hệ đại diện trong TTDS chỉ xuất hiện khi có những căn cứnhất định, rất có thể khi tham gia tố tụng thì căn cứ này mới phát sinh và khi đóđại diện trong TTDS sẽ không đồng nhất với đại diện trong quan hệ dân sự, hônnhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động[33].
1.3 SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TTDS.
1.3.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1989
Cơ sở cho việc pháp luật sau này của nước ta ban hành các quy định vềngười đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình tố tụng nói chung vàTTDS nói riêng là căn cứ vào Sắc lệnh số 33 ngày 13/09/1945 của Chủ tịch HồChí Minh ký về việc thành lập tòa án quân sự, trong đó khẳng định “bị cáo cóthể tự bào chữa hay nhờ người khác bênh vực cho mình” Từ đó đến nay tinhthần của điều này luôn được kế thừa và phát triển đối với quy định về người đạidiện
Ngày 22/12/1949, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 144/SL quy định mởrộng quyền bào chữa cho các bị cáo trước Tòa án ( sửa đổi Sắc lệnh số 69/SLngày 18/06/1949 về việc những bị can có thể nhờ một công dân không phải làluật sư cho trước Tòa án thường và Toàn án đặc biệt xử việc tiẻu hình và đạihình ): “Điều 1 Trước các tòa án nguyên cáo, bị cáo, bị can có thể nhờ mộtngười công dân không phải luật sư bênh vực mình” Tiếp đến ngày 22/5/1950,Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tốtụng, Điều 2 có quy định “Luật sư có thể được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho đương sự”
Năm 1954, kể từ khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng hòa bình lập lại mộtloạt các văn bản pháp luật quan trọng đã được ban hành trong đó văn bản phápluật cao nhất là Hiến pháp 1959 đã được ban hành thay thế cho Hiến pháp 1946.Riêng trong lĩnh vực TTDS, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm
Trang 25pháp luật quy định, hướng dẫn về trình tự, thủ tục giải quyết các VVDS trong
đó có các văn bản liên quan đến quyền nhờ người khác thay mặt mình bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án như Thông tư 2225/HCTP ngày24/10/1956 quy định về chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào chữa; Thông tư số22/HCTP ngày 18/02/1957 trả lời một số điểm về bào chữa của Bộ Tư pháp.Khi Hiến pháp 1959 và Luật tổ chức TAND có hiệu lực thi hành, TANDTC đãxây dựng và ban hành nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục giảiquyết các VVDS như Thông tư số 614/DS ngày 24/04/1963 hướng dẫn một sốthủ tục tố tụng cho Tòa án địa phương; Thông tư số 06/TATC ngày 25/02/1974hướng dẫn về việc hòa giải trong TTDS Các văn bản này đều có những quyđịnh tới việc nhờ người khác bảo vệ của đương sự trong TTDS
Năm 1972, Chính quyền Ngụy Sài Gòn ban hành BLDS và Thương sựquy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, trong đó có các quyđịnh tiến bộ như thừa nhận quyền tự bảo vệ của đương sự, quyền nhờ Luật sư,tôn thuộc, ty thuộc, vợ chồng, anh em thay mặt tham gia quá trình tố tụng Sauchiến thắng của Cuộc tổng tiến công năm 1975, đất nước ta thống nhất
Năm 1980, Hiến pháp được ban hành, trong đó có ghi nhận “tổ chức luật
sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về pháp lý” và được cụthể hóa trong Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987, theo đó một trong những hìnhthức giúp đỡ pháp lý của luật sư là “đại diện cho các bên đương sự trong vụ ándân sự, hôn nhân và gia đình, lao động” (khoản 1 Điều 13)
1.3.2 Giai đoạn từ 1989 đến năm 2004
Sau năm 1986, đất nước bắt đầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, mở cửađất nước Các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực dân sự, thương mại, laođộng diễn ra phong phú, đòi hỏi pháp luật phải có các quy định để điều chỉnhphù hợp, đặc biệt là trong lĩnh vực dân sự Trong giai đoạn này có nhiều vănbản pháp luật quan trọng được ban hành trong đó có ba pháp lệnh đã được banhành quy định nhiều vấn đề liên quan đến người đại diện của đương sự trongTTDS là PLTTGQCVADS năm 1989; PLTTGQCVAKT năm 1994;
Trang 26PLTTGQCTCLĐ năm 1996 Nếu những quy định về người đại diện của đương
sự trong giai đoạn trước quy định chưa cụ thể về chủ thể đại diện, quyền vànghĩa vụ của họ, việc thay đổi và chấm dứt đại diện thì đến nay các văn bản nàynhững quy định về người đại diện của đương sự đã được sửa đổi và bổ sung khánhiều, tạo điều kiện cho việc áp dụng trong thực tế
Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 PLTTGQCVADS năm 1989 thìngười được đại diện bao gồm: người chưa thành niên (trừ trường hợp ngườichưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợpđồng được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ laođộng, nhưng khi cần thiết, Toà án có thể triệu tập người đại diện của họ thamgia tố tụng), đương sự là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần màkhông thể tham gia tố tụng được thì phải có người đại diện tham gia tố tụng.Người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, ngườivắng mặt không có tin tức không có ai đại diện thì Tòa án cử một người thânthích của đương sự hoặc một thành viên của một tổ chức xã hội làm người đạidiện của họ Tại Điều 22 của Pháp lệnh này quy định về người đại diện theo ủyquyền, theo đó, đương sự là công dân, người đại diện của đương sự theo quyđịnh tại Điều 21 của Pháp lệnh có thể ủy quyền cho luật sư hoặc người khácthay mặt mình trong tố tụng (trừ việc ly hôn và hủy kết hôn trái pháp luật) Đốivới pháp nhân, tham gia tố tụng thông qua người lãnh đạo của mình hoặc ngườiđại diện được pháp luật ủy quyền bằng văn bản
Năm 2001, Pháp lệnh Luật sư 2001 được ban hành thay thế Pháp lệnhLuật sư 1987 để đội ngũ luật sư phát triển đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhậpmạnh mẽ cũng như đáp ứng nhu cầu bào chữa của bị can, bị cáo, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự Pháp lệnh Luật sư 2001 tiếp tục khẳng địnhluật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp cho các đương sự tại các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hànhchính (Điều 14)
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Trang 27Trên cơ sở kế thừa các pháp lệnh về thủ tục trước đó đồng thời tiếp thunhững thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Pháp, Nga, TrungHoa, đồng thời kết hợp với những nguyên tắc cơ bản của quan hệ đại diện hợppháp trong pháp luật dân sự được quy định tại BLDS năm 1995, Quốc hội ViệtNam đã xây dựng BLTTDS được thông qua ngày 15/5/2004 và chính thức cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005 Quy định về người đại diện hợp pháp củađương sự được ghi nhận tại 5 điều từ Điều 73 đến Điều 78, trong các điều nàypháp luật đưa ra các quy định liệt kê loại người đại diện, định nghĩa về từng loạingười đại diện đó, quy định về quyền và nghĩa vụ của người đại diện, nhữngtrường hợp không được làm người đại diện, các trường hợp chỉ định người đạidiện, quy định về chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý của chấm dứt đại diện.Đây là lần đầu tiên chế định người đại diện của đương sự được thể hiện cụ thểtrong hệ thống pháp luật TTDS Sau 7 năm thi hành BLTTDS năm 2004, năm
2011 Quốc hội thực hiện sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004.Tuy nhiên, quy định về chế định người đại diện không có bất cứ sửa đổi, bổsung nào
Và đến ngày 25/11/2015 Quốc hội đã ký thông qua BLTTDS năm 2015thay thế BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 có hiệu lực thihành từ ngày 01/7/2016 Trong BLTTDS năm 2015, quy định về người đại diện
đã có những thay đổi phù hợp với các luật chuyên ngành
Ở BLTTDS năm 2015 đã có những bổ sung làm rõ hơn, cụ thể hơn vềchế định người đại diện hợp pháp của đương sự Đó là người đại diện hợp phápcủa đương sự được quy định có thể là cá nhân hoặc tổ chức, điều này đã giảiquyết vướng mắc trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của cơ quan tổchức khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng như đểphù hợp với những đổi mới trong các hệ thống pháp luật chuyên ngành.BLTTDS năm 2015 bổ sung thêm quy định về việc tham gia tố tụng của tổ chứcđại diện tập thể lao động, theo khoản 3 Điều 85 BLTTDS năm 2015: “Tổ chứcđại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao
Trang 28động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi íchhợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm; tổ chức đại diện tập thể laođộng đại diện cho người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng khiđược người lao động ủy quyền.Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêucầu đối với người sử dụng lao động, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họđược ủy quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt
họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án”
Để phù hợp và thống nhất với quy định mới của Luật Hôn nhân và Giađình 2014 về quyền yêu cầu ly hôn của cha mẹ, người thân thích của vợ/chồngtrong một số trường hợp: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầuTòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của minh, đồng thời
là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ” BLTTDS năm 2015
đã có sự bổ sung về tư cách tham gia TTDS của cha, mẹ, người thân thích khácđứng ra yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 85: “Trường hợp cha,
mẹ người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tạikhoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện”
Điều này tháo gỡ cho nhiều trường hợp muốn xin ly hôn cho người thân
bị mất năng lực hành vi mà không được do luật cũ chỉ quy định việc ly hôn phải
do chính đương sự (vợ, chồng) yêu cầu, trong khi họ lại bị mất năng lực hành vidân sự dẫn đến không có năng lực hành vi TTDS để xin ly hôn Để tương thích
về mặt nội dung, pháp luật tố tụng đã kịp thời bổ sung phù hợp trường hợp này.Hơn nữa, BLTTDS năm 2015 cũng đã có những bổ sung đầy đủ hơn về cáctrường hợp cần phải chỉ định người đại diện: “Khi tiến hành TTDS, nếu cóđương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bịhạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ
Trang 29thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật nàythì Tòa án chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng.
Đối với vụ việc lao động mà có đương sự thuộc trường hợp quy định tạikhoản 1 Điều này hoặc người lao động là người chưa thành niên mà không cóngười đại diện và Tòa án cũng không chỉ định được người đại diện theo quyđịnh tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao độngđại diện cho người lao động đó.”
Trong khi, BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011 chỉ dừng lại ở người hạnchế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diệntheo pháp luật của họ mà ở trường hợp không được làm người đại diện hợppháp theo quy định của pháp luật
BLTTDS năm 2015 đã chính thức được thông qua và có hiệu lực với những bổsung quan trọng, đây là lần sửa đổi có tính đột phá trong quy định về người đạidiện của đương sự trong TTDS
Như vậy, việc nghiên cứu các quy định về người đại diện của đương sựtrong tố tụng dân sự qua các giai đoạn hình thành và phát triển ta thấy các quyđịnh này không ngừng được phát triển, hoàn thiện Qua đó, giúp cho việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được thuận lợi cũng như giúp cho các
cơ quan tố tụng giải quyết VVDS thuận lợi
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc tìm hiểu các vấn đề lý luận cơ bản về người đại diện hợp phápcủa đương sự trong TTDS ta thấy được bản chất của quan hệ đại diện, ý nghĩacủa đại diện trong TTDS Nắm rõ được khái niệm người đại diện hợp pháp củađương sự là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng, thực hiện các quyền vànghĩa vụ tố tụng của đương sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự trong quá trình giải quyết vụ việc Người đại diện là cá nhân, pháp nhân vàphải có NLHVTTDS, nhân danh đương sự tham gia tố tụng theo quy định củapháp luật hoặc trên cơ sở quan hệ ủy quyền hoặc theo sự chỉ định của Toà án
Sự tham gia tố tụng của người đại diện góp phần nâng cao hiệu quả của việc
Trang 30bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thuận lợi hơn cho hoạt động tốtụng Trải qua quá trình hình thành và phát triển thì chế định người đại diện củađương sự ngày càng hoàn thiện, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp củangười dân theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và nhanh chóngtìm ra sự thật khách quan, thực thi công lý trên thực tế, bảo vệ pháp chế xã hộichủ nghĩa.
Trang 31CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI
ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1.1 Người được đại diện và người đại diện theo pháp luật
Khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 quy định: Đại diện là việc cá nhân, phápnhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhânhoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thựchiện giao dịch dân sự Ngoài ra, khoản 2 Điều 85 BLTTDS 2015 tiếp tục kếthừa quy định tại khoản 2 Điều 73 BLTTDS năm 2004 về việc người đại diệntheo pháp luật theo quy định của BLDS là người đại diện theo pháp luật trongTTDS, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật.Như vậy, khi tham gia TTDS tại Tòa án thì tùy thuộc vào từng loại người đượcđại diện là cá nhân, pháp nhân hay các chủ thể khác mà việc xác định người đạidiện theo pháp luật của đương sự khác nhau[30,tr.28-37]
* Người được đại diện là cá nhân: đương sự phải là người không có
NLHVTTDS, đó là người chưa thành niên, người mất, hạn chế NLHVDS,người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi Đây là những trườnghợp cá nhân không đáp ứng đủ điều kiện NLHVTTDS theo quy định của phápluật
Theo quy định của pháp luật thì cá nhân phải đạt một độ tuổi nhất địnhmới có NLHVDS đầy đủ và độ tuổi này theo quy định của BLDS và BLTTDSđạt từ 18 tuổi trở lên và không bị mất NLHVDS thì đương sự sẽ tự mình thamgia TTDS Còn nếu cá nhân không có đủ NLHVDS thì sẽ không thể bằng hành
vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ trong TTDS được, họ phải thôngqua người đại diện để thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong TTDS Tuy nhiênvẫn có trường hợp cá nhân là người chưa đủ 18 tuổi nhưng họ vẫn có thể tựmình tham gia TTDS mà không cần người đại diện đó là: đương sự là người từ
Trang 32đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợpđồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mìnhtham gia TTDS về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệdân sự đó (khoản 6 Điều 69 BLTTDS 2015)
Bên cạnh đó tại Điều 23 BLDS 2015 có bổ sung quy định mới về ngườikhó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi Đây là trường hợp Tòa án chỉđịnh người giám hộ, xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
Như vậy, đương sự là cá nhân thì những người sau đây cần có người đạidiện theo pháp luật:
- Người chưa thành niên trừ người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mườitám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sựbằng tài sản riêng của mình;
- Người mất NLHVDS;
- Người bị hạn chế NLHVDS;
- Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi của mình
Khi đương sự là cá nhân thuộc các trường hợp trên thì người đại diệntheo pháp luật tham gia TTDS tại Toà án là những chủ thể sau đây:
+ Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên: trước tiên,cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên (Điều 136BLDS 2015) Nếu người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xácđịnh được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mấtNLHVDS; cha,mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹđều bị hạn chế NLHVDS; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đốivới con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầungười giám hộ (Điều 47 BLDS 2015) thì người giám hộ là người đại diện theopháp luật cho người chưa thành niên tham gia TTDS tại Toà án Người giám hộcủa người chưa thành niên bao gồm những người theo thứ tự sau đây: ngườigiám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015; người giám
hộ do UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử
Trang 33người giám hộ và người giám hộ do Tòa án chỉ định khi có tranh chấp giữanhững người giám hộ quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015 về người giám hộhoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ (Điều 54 BLDS năm 2015)
+ Người đại diện theo pháp luật của người mất NLHVDS: chính là ngườigiám hộ đương nhiên của họ Trường hợp không có người giám hộ theo quyđịnh tại khoản 2 Điều 48 của BLDS năm 2015 thì người giám hộ đương nhiêncủa người mất năng lực hành vi dân sự được xác định theo Điều 53 BLDS 2015như sau: trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là ngườigiám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giámhộ; trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mấtnăng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám
hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiệnlàm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ làngười giám hộ; trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa
có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làmngười giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ Người giám hộ trong tất cả cáctrường hợp trên đều là người đại diện theo pháp luật của người mất NLHVDS.Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đươngnhiên theo quy định tại Điều 53 của BLDS 2015 thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ Trường hợp
có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 53 BLDS 2015 vềngười giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ địnhngười giám hộ
+ Người đại diện theo pháp luật của người có khó khăn trong nhận thức
và làm chủ hành vi:
Theo quy định tại Điều 23 BLDS năm 2015 những trường hợp được xác
định là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu
Trang 34cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”
Như vậy người đại diện hợp pháp của người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi là người giám hộ và phải có sự đồng ý của người đượcgiám hộ nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu (quyđịnh tại Điều 46 BLDS năm 2015) Theo quy định tại khoản 4 Điều 54 trừtrường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 của BLDS năm 2015, ngườigiám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉđịnh trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của BLDS năm 2015.Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định ngườigiám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ, người giám hộ củangười có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sẽ được thực hiện cácquyền theo quyết định của Tòa án
+ Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế NLHVDS:
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người thành niên có năng lựchành vi dân sự, tuy nhiên do họ bị nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khácdẫn đến phá tán tài sản của gia đình nên họ có thể bị yêu cầu tuyên bố là người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự chỉ được thực hiện bởi người có quyền, lợi ích liênquan, cơ quan, tổ chức hữu quan có mối quan hệ với người đó Tòa án cũng là
cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố một người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự Người đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vidân sự nhất thiết phải có đủ điều kiện như một người giám hộ, dù luật khôngquy định rõ, bởi người này sẽ đảm nhận các chứ năng tương tự người giám hộ.Người này được chỉ định theo một quyết định của Toà án (Khoản 1 Ðiều 24BLDS năm 2015) Thông thường, nếu người bị hạn chế năng lực hành vi có vợ
Trang 35(chồng), thì người đại diện là vợ chồng; trong trường hợp người này không có
vợ (chồng) thì người đại diện là một người thân thuộc
* Người được đại diện là pháp nhân: do cơ cấu tổ chức phức tạp không
thể trực tiếp tham gia TTDS nên việc xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụTTDS đều phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật
Trong BLDS 2015 để thống nhất với Điều 13 Luật doanh nghiệp 2014 làpháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật thì Điều 137 BLDS
2015 quy định: “Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật
và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều
140 và Điều 141 của Bộ luật này” Có thể nói, “quy định mới này nhằm bảo đảm quyền của thành viên pháp nhân trong việc họ thỏa thuận, lựa chọn nhiều người đại diện theo pháp luật cho pháp nhân của mình đồng thời tạo điều kiện cho pháp nhân nhanh chóng, thuận lợi trong xác lập, thực hiện các hành vi pháp lý, các hợp đồng, giao dịch của pháp nhân, nhất là đối với pháp nhân hoạt động trên nhiều lĩnh vực hoặc ở nhiều địa bàn khác nhau” [30,tr.28-37].Tuy nhiên, để tránh việc giao kết, thực hiện các giao dịch với người không cóthẩm quyền thì Điều 141 BLDS năm 2015 và Điều 13 Luật doanh nghiệp năm
2014 quy định mỗi người đại diện theo pháp luật có quyền đại diện cho phápnhân trong phạm vi đại diện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theođiều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật Như vậy, người đạidiện theo pháp luật của pháp nhân là cá nhân được quy định là người đại diệntheo pháp luật cho pháp nhân trong điều lệ khi thành lập Điều lệ của pháp nhânđược xây dựng và ban hành theo quy định của pháp luật chuyên ngành, nó cógiá trị bắt buộc thực hiện trong phạm vi quy mô của pháp nhân đó Điều lệ vàvăn bản pháp lý xác định tư cách cho một cá nhân cụ thể là người đại diện theopháp luật cho pháp nhân, nhân danh pháp nhân tham gia TTDS Người đại diệntheo pháp luật của pháp nhân sẽ thay mặt pháp nhân thực hiện việc tham giaTTDS tại Tòa án Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể
là do pháp luật quy định hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền
Trang 36* Người được đại diện là người lao động, tập thể lao động: Để phù hợp
với pháp luật nội dung là Bộ luật Lao động năm 2012, Luật công đoàn năm
2012 và Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 chi tiết thi hành Điều 10của Luật Công đoàn năm 2012 thì khoản 3 Điều 85 BLTTDS 2015 bổ sung quyđịnh Tổ chức đại diện tập thể lao động (Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặcBan chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập côngđoàn cơ sở) là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởikiện vụ án lao động, tham gia TTDS tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp củatập thể người lao động bị xâm phạm Quy định này nhằm bảo vệ tối đa cácquyền và lợi ích chính đáng của người lao động phát sinh từ quan hệ lao động
* Người được khởi kiện là cá nhân cần được bảo vệ trong vụ việc dân sựthì cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác là người đại diện theo pháp luật
Theo Điều 186 BLTTDS năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân
có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sauđây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình” Như vậy, ta có thể hiểu người đại diệnhợp pháp cũng có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của người khác.Các trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khácđược quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015 như sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ
em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình có quyền khởi kiện, yêu cầu vụ việc về hôn nhân và gia đình theo quyđịnh tại khoản 2 Điều 10, khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 86, khoản 3 Điều 102,khoản 2 Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Theo đó, các cơ quannày có quyền khởi kiện, yêu cầu về huỷ việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu thayđổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹđối với con chưa thành niên, tranh chấp xác định cha, mẹ, con, tranh chấp vềnghĩa vụ cấp dưỡng
Trang 37- Cơ quan lao động, thương binh và xã hội, hội liên hiệp phụ nữ có quyềnyêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Điều 26 Luật nuôi con nuôi.
- Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao độngtrong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người laođộng
- Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đạidiện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định khoản 2 Điều 10, khoản 5Điều 84, khoản 2 Điều 86, khoản 3 Điều 102, khoản 2 Điều 119, khoản 2 Điều
51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 26 Luật nuôi con nuôi Trongtrường này thì các cá nhân như sau có quyền khởi kiện:
+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác;cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của ngườikết hôn trái pháp luật
+ Người thân thích có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi consau khi ly hôn
+ Người thân thích có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹđối với con chưa thành niên
+ Cha, mẹ, con, người giám hộ có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha,
mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sựtrong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật hôn nhân giađình
+ Người thân thích có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyệnthực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó
+ Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lyhôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà khôngthể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo
Trang 38lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tínhmạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
+ Cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộcủa con nuôi có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
2.1.2 Căn cứ phát sinh và chấm dứt người đại diện theo pháp luật
2.1.2.1 Căn cứ phát sinh người đại diện theo pháp luật
Quan hệ đại diện theo pháp luật phát sinh dựa trên cơ sở quy định củapháp luật Theo quy định của BLDS thì người đại diện theo pháp luật là ngườiđại diện theo pháp luật trong TTDS, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diệntheo quy định của pháp luật Quy định này được quy định tại Điều 85 BLTTDS
2015 cũng là một quy định kế thừa lại từ BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011
Tại Điều 135 BLDS 2015 quy định: “Quyền đại diện được xác lập… theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)” Do vậy, có thể hiểu rằng quyền đại diện được xác lập theo quyết
định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy địnhcủa pháp luật là đại diện theo pháp luật Tức là có ba căn cứ làm phát sinh quan
hệ đại diện theo pháp luật:
- Quy định của pháp luật
- Điều lệ của pháp nhân
- Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Như vậy, trong những trường hợp mà cá nhân không đủ khả năng, nhậnthức, làm chủ hành vi của mình để tham gia giao dịch dân sự nói chung hoặctham gia TTDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nói riêng thì họphải thông qua người đại diện do pháp luật quy định BLDS quy định khá cụ thể
về diện những người được coi là người đại diện theo pháp luật trong trường nàydựa trên cơ sở người đại diện có quan hệ có tính bền vững, ổn định với ngườiđược đại diện như quan hệ huyết thống, hôn nhân, hoặc quan hệ pháp lí khácđược pháp luật ghi nhận
Trang 39Còn đối với trường hợp pháp nhân do cơ cấu tổ chức nên không thể trựctiếp thực hiện hành vi TTDS cụ thể mà nhất thiết phải thông qua một chủ thể cókhả năng thực hiện hành vi đó là cá nhân để nhân danh pháp nhân tham giaTTDS thực hiện các hành vi TTDS cụ thể Theo quy định của BLDS năm 2015,Luật doanh nghiệp năm 2014 thì cơ sở làm phát sinh người đại diện theo phápluật của pháp nhân dựa trên quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơquan nhà nước có thẩm quyền.
2.1.1.2 Căn cứ chấm dứt người đại diện theo pháp luật
Quan hệ đại diện cũng như các quan hệ pháp luật khác trong TTDS nókhông tồn tại mãi mãi và có thể chấm dứt khi xuất hiện những sự kiện pháp lýnhất định Theo quy định tại Điều 89 BLTTDS 2015 thì người đại diện theopháp luật trong TTDS chấm dứt việc đại diện theo quy định của BLDS Nhưvậy, muốn biết căn cứ chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật trong TTDS taphải căn cứ vào các quy định pháp luật trong BLDS
Trường hợp người được đại diện là cá nhân thì quan hệ đại diện sẽ chấmdứt khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 4 Điều 140BLDS 2015 Đó là các trường hợp:
- Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc NLHVDS đã đượckhôi phục Đây là trường hợp người được đại diện có NLHVDS đã đầy đủ thìngười được đại diện đã tự có thể bằng chính hành vi của mình xác lập, thực hiệncác quyền, nghĩa vụ của mình trong TTTDS Vì vậy, khi đạt điều kiện về nănglực hành vi thì người được đại diện trước đây sẽ không cần người đại diện nữa
- Người được đại diện là cá nhân chết Khi cá nhân chết thì tư cách chủthể trong mọi quan hệ pháp luật của họ sẽ chấm dứt, trong đó có quan hệ đạidiện
- Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan
Có một số căn cứ chấm dứt khác làm chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luậtcho đương sự như hoàn thành nhiệm vụ đại diện đối với những trường hợpngười đại diện trong những vụ việc cụ thể như trường hợp cơ quan, tổ chức, cá
Trang 40nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.Trongnhững trường hợp này, người đại diện chỉ thay mặt đương sự tham gia tố tụngtrong một vụ việc cụ thể, khi vụ việc được giải quyết xong, quá trình tố tụngchấm dứt thì tư cách đại diện cũng đồng thời chấm dứt.
Quy định này của BLDS 2015 là kế thừa toàn bộ từ BLDS 2005 Ngườiđược đại diện là chủ thể đặt ra đòi hỏi cần được đại diện, do vậy khi đối tượngnày chấm dứt sự tồn tại của mình thì đòi hỏi đó sẽ mất và người đại diện khôngcòn cần phải tồn tại để thực hiện hoạt động đại diện kia Sau khi chấm dứt quan
hệ đại diện, đương sự tự mình tham gia TTDS, tự mình thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật; người đại diện mất tư cách đại diện, không được tham gia TTDSnhân danh đương sự, không còn có quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự
Trường hợp người được đại diện là pháp nhân thì người đại diện theopháp luật của pháp nhân chấm dứt khi có căn cứ tại điểm c khoản 4 Điều 140BLDS 2015, theo đó căn cứ chấm dứt người đại diện theo pháp luật của phápnhân là khi pháp nhân chấm dứt tồn tại Lúc này, mọi hoạt động của pháp nhâncũng chấm dứt nên người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng chấm dứtmọi hoạt động tố tụng tại Toà án
Ngoài ra, một số căn cứ khác làm chấm dứt quan hệ đại diện theo phápluật cho đương sự như hoàn thành nhiệm vụ đại diện đối với những trường hợpngười đại diện trong những vụ việc cụ thể như cơ quan, tổ chức, cá nhân khởikiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Những trường hợpnày, người đại diện chỉ đứng ra làm người đại diện trong một vụ việc cụ thể khi
vụ việc được giải quyết xong, chấm dứt TTDS thì tư cách đại diện cũng đồngthời chấm dứt
Như vậy, đại diện theo pháp luật sẽ chấm dứt khi việc đại diện trở nênkhông cần thiết hoặc không thể thực hiện được việc đại diện
2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
Người đại diện theo pháp luật trong TTDS thực hiện quyền, nghĩa vụTTDS của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện (Điều 86 BLTTDS 2015)