Hơn nữa, Trong khái niệm tác giả nêu khái quát những căn cứ theo luậtđịnh để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó là: Sự kiện làm cho đối tượng của vụ án không còn có thể là các sự kiện n
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 9
1.1 Cơ sở lý luận: 9
1.1.1 Khái niệm về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: 9
1.1.2 Phân loại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: 14
1.1.3 Đặc điểm của Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 17
1.1.4 Mục đích và ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: 21
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giải quyết vụ án dân sự 23
1.3 Khái quát Lịch sử phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Việt Nam về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 24
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 24
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 25
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 28
1.3.5 Từ năm 2015 đến nay 32
CHƯƠNG 2.NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM VÀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 33
2.1 Nội dung các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 33
2.1.1 Căn cứ đình chỉ 33
Trang 22.1.2 Thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo
thủ tục sơ thẩm 64
2.1.3 Thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 65
2.1.4 Hậu quả của việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: 72
2.2 Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở cấp phúc thẩm: 75
2.2.1 Căn cứ đình chỉ giải quyết VADS ở cấp phúc thẩm 75
2.2.2 Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS ở cấp phúc thẩm 78
2.2.3 Hình thức của quyết định đình chỉ giải quyết VADS ở cấp phúc thẩm 79
2.2.4 Hậu quả pháp lí: 79
2.3 Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm 80 CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 81
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay 81
3.1.1 Công tác triển khai thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật: 81
3.1.2 Về công tác giải quyết vụ việc: 82
3.1.3 Những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc khi áp dụng quy định mới về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS 2015 82
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 105
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
DTBLTTDS : Dự thảo BLTTDS sửa đổi trình Quốc hội tại Phiên
họp thứ 40, Quốc hội khóa XIII, tháng 8/2015
LSĐBSBLTTDS : Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004
NQ 05/2012/NQ-HĐTP : Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012
của TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung
theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS
NQ 06/2012/NQ-HĐTP : Nghị quyết số 06/2012/NQ-HDTP hướng dẫn thi hành
một số quy định trong phần thứ ba: “Thủ tục giải quyết
vụ án tại tòa cấp phúc thẩm của Bộ luật Tố tụng dân
sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự”.
PLTTGQCVADS : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994PLTTGQCTCLĐ : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
năm 1996TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
HĐTPTANDTC : Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vấn đề ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiệnnay là cải cách tư pháp với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vữngmạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụnhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động xét xử củaTòa án được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, cải cách tư pháp sẽ khắcphục những bất cập, hạn chế của công tác tư pháp nhằm bảo vệ tốt hơn quyềncon người, quyền công dân Theo đó, Đảng đã ban hành hai Nghị quyết quantrọng đó là Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị vớinhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trong đó đặc biệt Nghị quyết số 49/NQ-TW đã nhấn mạnh: “Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” và “Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh” Như vậy, theo tinh thần
cải cách thì Đảng ta đã đặt ra chủ trương hoàn thiện các thủ tục tố tụng nóichung và thủ tục tố tụng dân sự nói riêng để nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi íchhợp pháp của con người và của công dân
Để cụ thể hóa các chính sách của Đảng nêu trên và cũng như qua tổng kết
10 năm thi hành BLTTDS đã bộ lộ nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện
tố tụng cụ thể như: Quy định trong BLTTDS chưa rõ ràng, thiếu cụ thể làm
Trang 5cho người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khó hiểu hoặc hiểukhác nhau, Hội đồng Thẩm phán TANDTC phải ban hành nhiều nghị quyết,TANDTC phối hợp với VKSNDTC ban hành nhiều thông tư hướng dẫnnhưng đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc, khó thực hiện Quyền và nghĩa vụcủa người tham gia tố tụng, nhất là quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tốtụng dân sự chưa được quy định đầy đủ nhằm thể hiện tính công khai dân chủcông bằng trong quá trình tố tụng; đồng thời trách nhiệm của đương sự trongviệc thực hiện nghĩa vụ, những yêu cầu của Tòa án chưa được quy định đầy
đủ, rõ ràng Trong đó, vấn đề Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự – đây là mộttrong những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến quyền và lợi íchhợp pháp của công dân Trong nhiều trường hợp sau khi thụ lý vụ án thì Tòa
án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do những căn cứ phát sinhtheo luật định như đối tượng tranh chấp không còn hoặc suy đoán là khôngcòn tồn tại, người khởi kiện chết,….Việc đình chỉ giải quyết vụ án là cần thiếtnếu những căn cứ phát sinh đó là hợp pháp và không trái luật định, đạo đức xãhội để không gây tốn kém, lãng phí về mặt thời gian và chi phí tố tụng chocác đương sự và cơ quan Nhà nước như Tòa án dẫn đến gây thiệt hại lợi íchcho các đượng sự Tuy nhiên, nếu việc đình chỉ không đúng sẽ dẫn đến quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được xem xét và giải quyết vàquyền khởi kiện, yêu cầu của họ bị mất Điều này đòi hỏi những quy định vềđình chỉ, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án trong BLTTDS phải được quy địnhrõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng để bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi ích hợp pháp củangười dân, đồng thời cũng là tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, giúp chocác cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đúng để từ đó nâng cao chất lượng hoạtđộng tư pháp
Trong thực tế, qua thời gian với nhiều quan hệ dân sự phức tạp đã làmphát sinh nhiều tình huống mới mà Bộ luật chưa có điều luật để áp dụng do đó
Trang 6cần phải có điều chỉnh cho phù hợp và thích nghi với tình hình qua mỗi giaiđoạn Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nói riêng cũng đã được quyđịnh trong nhiều các văn bản pháp luật của nước ta qua các thời kỳ; đánh dấuquan trọng nhất là BLTTDS 2004 và SĐBS năm 2011 đã được quy định trong
Bộ luật này tương đối đầy đủ, hoàn thiện về pháp lý Mặc dù vậy, trong quátrình áp dụng cũng đã không tránh khỏi những vướng mắc khó khăn mới
Để tháo gỡ những vướng mắc đó, thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã
ra đời với những sửa đổi bổ sung nhiều quy định nhằm làm cho việc khởi kiệnyêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự được thuận lợi, dễ dàng; việcgiải quyết của Tòa án rõ ràng, công khai minh bạch, nhanh chóng, đúng phápluật Việc nghiên cứu, phân tích những quy định mới, những quy định đượcsửa đổi, bổ sung của BLTTDS 2015 là cần thiết có ý nghĩa quan trọng trongthực tiễn xét xử góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo vệ tốt quyền và lợiích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức nói chung và việc nghiên cứu toàndiện về vấn đề đình chỉ, cơ sở khoa học và thực tiến về đình chỉ giải quyết vụ
án là rất cần thiết để từ đó làm rõ việc áp dụng trong thực tiễn pháp luật vềđình chỉ để từ đó đưa ra được những hạn chế của pháp luật hiện hành và đưa
ra đề xuất các biện pháp khắc phục để góp phần vào công cuộc hoàn thiệnpháp luật
Từ những lý do trên mà tác giả lựa chọn đề tài: “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một trong những vấn đềquan trọng trong tố tụng dân sự và được sự nhiều nhà Luật học, luật gia quantâm nghiên cứu theo chiều sâu để nâng cao hơn nữa các quy định của phápluật cho phù hợp với thực tiễn tình hình kinh tế xã hội Trước khi BLTTDS
2015 được ban hành và có hiệu lực thi hành thì đã nhiều tác giả nghiên cứu và
Trang 7có bài viết về vấn đề này như: Tác giả Nguyễn Bá Châu với bài viết “Vì sao những bản án kinh tế bị hủy, bị sửa phải xét xử lại vụ án, phải đình chỉ việc giải quyết vụ án”đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2000 Sau khi
BLTTDS 2004 được soạn thảo và ban hành thì tiếp tục có nhiều nhà nghiêncứu, nhà Luật học đã đưa ra thảo luận và đống góp ý kiến bằng các bài viết
như:“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Triều Dương – Tạp chí Luật học số đặc san; Tiếp đến là Bài viết “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
7 (tháng 7/2005); Bài “Quy định về đình chỉ trong BLTTDS” đăng trên Tạp
chí Khoa học pháp lý số 4 (41)/2007 của tác giả Tống Công Cường; Bài
viết“Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp phúc thẩm”của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên Tạp chí Luật học số
7/2010;
Trước những vướng mắc, khó khăn trong áp dụng điều luật trên thực tế
và trước những đóng góp thì Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS 2011 được banhành Và cho đến nay thì có các công trình nghiên cứu như Luận văn thạc sĩ
“Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ VDS theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004” của tác giả Phạm Hải Tâm được bảo vệ tại Trường Đại
học Luật Hà Nội năm 2010 Và gần đây nhất là Luận văn của tác giả Trần Thị
Ngọc Trang với đề tài: “Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” được bảo vệ tại Khoa Luật trường Đại học quốc
gia Hà Nội năm 2015
Mỗi bài viết trên đều có những đóng góp nhất định vào tiến trình pháttriển và hoàn thiện pháp luật tố tụng nói chung và về vấn đề đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự nói riêng Tuy nhiên, với sự ra đời của BLTTDS 2015 vớinhững sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề mới liên quan đến vấn đề đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự và qua ba năm áp dụng những quy định mới vào thực tiễn
Trang 8cuộc sống và pháp luật thì có nhiều vấn đề nảy sinh, vướng mắc nên vì vậy rấtcần thiết có nhiều các công trình tiếp tục nghiên cứu tới vấn đề này Và cụ thể
từ khi BLTTDS 2015 được ban hành và có hiệu lực thi hành cho tới nay, chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủnhững quy định mới về đình chỉ giải quyết VVDS trong Tố tụng dân sự
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về đình chỉ giảiquyết VADS; pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải quyếtVADS và thực tiễn thi hành, áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự về đình chỉ giải quyết VADS ở các Toà án Việt Nam
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu làmrõ một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết VADS như khái niệm, phânloại, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của đình chỉ giải quyết VADS; nhữngquy định của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành về đình chỉ giảiquyết VVDS
Và hơn nữa, tác giả sẽ đưa ra và phân tích những bấp cập của những quyđịnh về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hiện hành vẫn còn tồn tại và nhữngkhó khăn, vướng mắc, các phát sinh khi áp dụng những quy định mới vàothực tiễn Còn những liên hệ, đối chiếu với những quy định về vấn đề đình chỉgiải quyết vụ án dân sự ở các nước trên thế giới sẽ tiếp tục được nghiên cứukhi có điều kiện
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận và cơ sở thựctiễn về đình chỉ giải quyết VADS; nội dung các quy định đình chỉ giải quyếtVADS ở từng giai đoạn tố tụng và việc thực hiện chúng trên thực tế, từ đóđánh giá đúng thực trạng, nhận diện được những bất cập và tìm ra các giảipháp khắc phục
Trang 9Để đạt được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụsau đây:
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận khoa học về đình chỉ giải quyếtVADS như khái niệm, đặc điểm, phân loại, mục đích và ý nghĩa của việc đìnhchỉ giải quyết VADS; Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các quy định về đìnhchỉ giải quyết VADS; sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam vềđình chỉ giải quyết VADS qua các giai đoạn, thời kỳ
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng những quy định của pháp luật tốtụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VADS; Đồng thờicũng phân tích, đánh giá, so sánh những điểm mới, quy định mới về đình chỉgiải quyết VADS trong BLTTDS hiện hành
- Khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VADS tại các Toà án, phát hiệnnhững bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng;
- Tìm được các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập, vướng mắc
về đình chỉ giải quyết VADS
5 Phương pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luậncủa Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước vàpháp luật, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, việcnghiên cứu đề tài cũng được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứukhoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, so sánh, tổnghợp Từ đó, rút ra những đánh giá, kết luận và đề xuất các kiến nghị
6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liênquan đến đình chỉ giải quyết VADS, có những điểm mới và đóng góp cho khoahọc chuyên ngành luật dân sự và tố tụng dân sự ở những điểm sau đây:
Trang 10- Làm rõ cơ sở lý luận khoa học Hoàn thiện khái niệm, làm rõ đặcđiểm, phân loại đình chỉ và mục đích và ý nghĩa của việc đình chỉ giải quyếtVADS; cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các quy định về đình chỉ giải quyếtVADS; sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giảiquyết VADS từ năm 1945 đến nay
- Phân tích, so sánh những điểm mới của quy định về đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự trong tố tụng dân sự hiện hành Đồng thời, đánh giá đúngthực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành vềđình chỉ giải quyết VADS trong việc áp dụng vào thực tiễn thực hiện tại cácTòa án Việt Nam trong những năm gần đây khi áp dụng BLTTDS mới năm2015
- Phát hiện được những vướng mắc, bất cập trong các quy định củapháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VADS vàthực tiễn thực hiện đồng thời đề xuất được những giải pháp cụ thể nhằm hoànthiện và thực hiện chúng có hiệu quả trên thực tế
Luận văn là tài liệu có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện và thựchiện các quy định của BLTTDS về đình chỉ giải quyết VADS Kết quảnghiên cứu của luận văn còn cung cấp thêm một nguồn tài liệu phục vụ choviệc nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam tronggiai đoạn tiếp theo
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu bởi 3 phần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận.Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận khoa học và cơ sở thực tiễn về vấn đề đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự
Chương 2: Nội dung các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
theo thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm
Trang 11và đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự trong bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam và những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Cơ sở lý luận:
1.1.1 Khái niệm về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:
Từ “Đình chỉ” theo Từ điển Tiếng Việt nêu nghĩa đó là: “Đình chỉ là ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian hay vĩnh viễn”.Như vậy, từ đình chỉ là động từ được dùng cho một vật, một việc thể
hiện việc ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại không tiếp tục thực hiện nữatrong một khoảng thời gian nhất định, cụ thể hoặc vĩnh viễn Còn cụ thể từ
“đình chỉ” dùng trong tố tụng nói chung thì được hiểu là việc giải quyết vụ án,
vụ việc được ngừng lại trong thời gian vĩnh viễn khi có những căn cứ màpháp luật quy định; điều này để phân biệt rõ ràng với việc “tạm đình chỉ” làchỉ ngừng việc giải quyết trong khoảng thời gian nhất định, cụ thể và sau đó
vụ án, vụ việc lại tiếp tục được giải quyết khi đủ điều kiện hoặc lý do tạmđình chỉ không còn nữa Theo đó, trong tố tụng dân sự nói riêng thì cụm từ
“đình chỉ” được hiểu theo nghĩa là vấn đề giải quyết vụ án, vụ việc dân sự
được cơ quan tiến hành tố tụng ngừng lại và không tiếp tục tiến hành thựchiện các thủ tục cần thiết để giải quyết vụ việc đó nữa hay nói cách khác đó làcác cơ quan tiến hành tố tụng ra Quyết định kết thúc vụ án vĩnh viễn nếu cócăn cứ luật định Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một trong bốnQuyết định mà khi rơi vào các trường hợp do Pháp luật quy định, thì Thẩmphán - người tiến hành tố tụng được phân công để giải quyết vụ án dân sựphải ban hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và góp phần vào việc hoàn thiệncác quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề đình chỉ vụ án dân sự thì cónhiều Luật gia và các nhà nghiên cứu Luật học đã đưa ra những khái niệm,
Trang 13cách hiểu của mình và giải thích cho ý hiểu của mình đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự Cụ thể:
Tác giả Tống Công Cường có đưa ra quan điểm của mình về đình chỉ
đó là: “Đình chỉ là một phương thức giải quyết đặc biệt của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự” và “Đình chỉ giải quyết vụ án là chấm dứt tố tụng dân sự khi có những căn cứ nhất định mà không thông qua xét xử hay hòa giải” Như vậy, tác giả Tống Công Cường đã nêu khái quát được việc đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án và đình chỉ là một trongnhững phương thức giải quyết của Tòa đối với vụ việc cần giải quyết bao gồm:
Ra Bản án thông qua xét xử hay ra quyết định thỏa thuận thông qua phương thứchòa giải Tác giả đã giải thích được rằng việc đình chỉ sẽ dẫn đến hậu quả pháp
lý đó là làm chấm dứt các thủ tục tố tụng dân sự, nghĩa là Tòa án sẽ chấm dứtviệc thực hiện công việc theo trình tự, thủ tục tố tụng quy định của mình để giảiquyết vụ việc dân sự Tuy nhiên, quan điểm của tác giả Tồng Công Cương chưanêu được đầy đủ về thời gian của việc ngừng lại, chấm dứt hoạt động tố tụng dễgây khó hiểu và nhầm lẫn với khái niệm Tạm đình chỉ Đồng thời, cách hiểu vềviệc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là làm chấm dứt hoạt động tố tụng khi cócăn cứ luật định mà không cần thông qua xét xử và hòa giải là không đúng Bởi
lẽ, việc đình chỉ giải quyết vụ án có thể được tiến hành ở giai đoạn phúc thẩm,sau khi đã có bản án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hoặc có thể Tòa án ra quyếtđịnh đình chỉ ngay tại phiên toà xét xử khi có căn cứ luật định; Ngoài ra, Tòa án
ra quyết định đình chỉ trong trường hợp hòa giải thành mà một trong các bên yêucầu dừng giải quyết vụ án (Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, khi Tòa án hòa giải hành
vợ chồng đã đoàn tụ thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án)
Còn theo quan điểm của các Luật gia khác như Tiến sỹ Nguyễn Công
Bình thì đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc “Tòa án ngừng việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý Việc đình chỉ giải quyết vụ án có thể được tiến
Trang 14hành ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm” [4 tr 191] Tiến sĩ Hoàng Ngọc Thỉnh cho rằng: “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
190-là việc Tòa án quyết định ngừng việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định”[1 tr 270] Cũng theo tác giả này, “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án chấm dứt hoàn toàn các hoạt động tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án [11.tr 354] Hai tác giả này đều nêu
lên một khía cạnh của bản chất đình chỉ vụ án dân sự; đều nêu lên những quanniệm, cách hiểu khác nhau về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tuy khôngđược đầy đủ nhưng cơ bản đã nêu lên nội dung và bản chất về đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự
Bên cạnh đó, theo PGS.TS Trần Anh Tuấn thì “ Đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự là việc Tòa án quyết định ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự
đã thụ lý và sau khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có hiệu lực pháp luật thì về nguyên tắc đương sự không có quyền khởi kiện lại để Tòa án giải quyết vụ án đó nữa Việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể dựa trên
cơ sở phát sinh sự kiện làm cho đối tượng của vụ án cần giải quyết ở Tòa án không còn hoặc được suy đoán là không còn tồn tại; vụ án dân sự đã thụ lý sẽ được giải quyết cùng với các quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác;
có sự sai lầm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án” Như vậy, có thể thấy tác
giả Trần Anh Tuấn có cái nhìn, đưa ra quan điểm khá toàn diện và khái quát
về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Tác giả đã nêu được toàn bộ về thẩmquyền, nội dung, căn cứ và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án.Khác với những tác giả nêu trên, thì tác giả Trần Anh Tuấn chỉ ra cụ thể, dễhiểu hơn về đình chỉ vụ án dân sự đó là: Thứ nhất, việc đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự thuộc thẩm quyền của cơ quan quan tiến hành tố tụng trực tiếp làTòa án- cơ quan duy nhất có thẩm quyền này Bởi Hiến pháp và pháp luật đãquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đó là cơ quan tư pháp
Trang 15và có nhiệm vụ “ Xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ
về tài sản, quyền nhân thân” Do đó, Tòa án có chức năng giải quyết các vụ
án dân sự, và trong quá trình giải quyết có đủ căn cứ thì Tòa án buộc đình chỉgiải quyết vụ án dân sự Và tác giả cũng nêu rõ là đình chỉ giải quyết vụ ándân sự là “ngừng hẳn” việc giải quyết vụ án dân sự sau khi đã “thụ lý”.Đồng thời, trong khái niệm đã nêu rõ được đặc điểm, bản chất của đình chỉgiải quyết vụ án dân sự khác với việc tạm đình chỉ là ngừng giải quyết trongmột thời gian, khi đủ điều kiện thì tiếp tục giải quyết Việc ra Quyết định đìnhchỉ giải quyết vụ án chỉ được thực hiện kể từ sau khi Tòa án đã thụ lý vụ ánvào sổ thụ lý, để phân biệt với những trường hợp khác đó là Tòa án trả lại đơn
khởi kiện như trường hợp “hết thời hạn được thông báo để nộp tiền tạm ứng
án phí mà người khởi kiện không nộp hoặc không đến Tòa án làm thủ tục thụ
lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng” thì Tòa án không đình chỉ được
vì chưa thụ lý vụ án hoặc Tòa án chuyển thẩm quyền cho Tòa án khi phát hiện
không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình
Hơn nữa, Trong khái niệm tác giả nêu khái quát những căn cứ theo luậtđịnh để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó là: Sự kiện làm cho đối tượng của
vụ án không còn có thể là các sự kiện như đương sự chết mà quyền và nghĩa
vụ không được thừa kế do tính chất của quan hệ pháp luật mà Tòa án cần giảiquyết (quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng); sự việc đã được giải quyếtbằng bản án , quyết định có hiệu lực pháp luật; người có nghĩa vụ chết nhưngkhông để lại di sản thừa kế; đương sự là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, bị
Trang 16tuyên bố phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; chủthể khởi kiện đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; các đương sự tự hòa giải Sựkiện dẫn tới suy đoán đối tượng của vụ án không còn tồn tại là trường hợpnguyên đơn được coi như là từ bỏ yêu cầu khởi kiện của vụ án dân sự do đượctriệu tập lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng Sự kiện dẫntới quan hệ pháp luật là đối tượng của vụ án dân sự đã được thụ lý sẽ đượcgiải quyết cùng với quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác là trườnghợp đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp,hợp tác xã mà một bên đương sự trong vụ án dân sự mà việc giải quyết vụ ánnày có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó Việckiện yêu cầu thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ tài sản mà Tòa án thụ lý sẽđược giải quyết trong vụ án về giải quyết yêu cầu phá sản cùng với các chủ nợkhác để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ Có sự sai lầm của Tòa án trongviệc thụ lý vụ án là trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mặc dù không thỏamãn các điều kiện thụ lý mà pháp luật quy định, nhưng vì một lý do nào đó
mà Tòa án vẫn thụ lý để sữa chữa những sai sót này thì Tòa án ra quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án dân sự Và một điểm mới mà tác giả Trân Anh Tuấnnêu được đó là, hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ngoài việcchấm dứt việc xem xét, quyết định về toàn bộ các quan hệ pháp luật cần phảigiải quyết trong vụ án theo thủ tục tố tụng thì còn hậu quả pháp lý nữa là cácđương sự trong vụ án không có quyền khởi kiện lại yêu cầu Tòa án giải quyếtlại vụ án đó nữa; Tuy nhiên, ngoại trừ những trường hợp khác mà pháp luật
có quy định thì có quyền khởi kiện lại
Trên là những quan điểm, cách hiểu trên nhiều phương diện, góc độkhác nhau của các nhà Luật gia trong quá trình nghiên cứu góp phần hoànthiện pháp luật Các nhà luật gia đã nêu lên được đầy đủ về khái niệm đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, vẫn có sự hạn chế là mỗi tác giả đều
Trang 17không nêu được đầy đủ, toàn diện về khái niệm chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Và trong Bộ luật tố tụng dân sự cũng chưa có quy định cụ thể nêu về kháiniệm như thế nào là đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Vì vậy qua tổng kết, nghiên cứu, tổng hợp các quan điểm của các nhànghiên cứu, các luật gia nêu trên thì có thể đưa ra được kết luận khái quát vềkhái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó là:
“ Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc của Tòa án quyết định chấm dứt hoàn toàn hay ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý khi có những căn cứ do pháp luật quy định như trên cơ sở phát sinh sự kiện làm cho đối tượng của vụ án cần giải quyết ở Tòa án không còn hoặc được suy đoán là không còn tồn tại; vụ án dân sự đã thụ lý sẽ được giải quyết cùng với các quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác; có sự sai lầm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án; Được tiến hành ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và sau khi quyết định đình chỉ giải quyết VADS có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc đó nữa, trừ những trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định khác”.
1.1.2 Phân loại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:
Theo tác giả Trần Ngọc Thỉnh thì: “Có thể chia vụ án dân sự ra làm hai loại: Loại thứ nhất là việc kiện dân sự Loại thứ hai là việc dân sự” Như vậy, trong tố tụng dân sự thì có vụ án dân sự và vụ việc dân sự Trước đây,
khi chưa có sự ra đời của BLTTDS thì khái niệm vụ án dân sự và vụ việc dân
sự chưa có sự tách bạch mà vẫn quy định chung đó là VADS – bao gồm cảcác vụ việc có tranh chấp và vụ việc không có tranh chấp Tại 03 (ba) pháplệnh về thủ tục tố tụng (PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT,PLTTGQCTCLĐ) chỉ đề cập tới thuật ngữ vụ án dân sự (VADS), vụ án kinh
tế (VAKT) và vụ án lao động (VALĐ) Trong đó, VADS là bao gồm những
Trang 18vụ việc có tranh chấp giữa các đương sự và những vụ việc không có tranhchấp, chỉ là những yêu cầu Tòa án công nhận quyền và nghĩa vụ cho ngườiyêu cầu; VAKT là những tranh chấp về kinh tế; VALĐ là những tranh chấp
về Lao động cá nhân và lao động tập thể
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền lập pháp thì BLTTDS đã cóphân định rõ ràng về vụ án và việc dân sự Mà theo Điều 1 Dự thảo BLTTDSsửa đổi trình Quốc hội tại Phiên họp thứ 40, Quốc hội khóa XIII, tháng
8/2015 (DTBLTTDS) có quy định về VVDS như sau: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự)
và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung
là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án ”
Như vậy, hiện nay BLTTDS năm 2015 đã có quy định rõ ràng về việc phân biệtgiữa vụ án và vụ việc dân sự thể hiện rất rõ qua việc có những quy định riêng về thủtục giải quyết vụ án dân sự và có quy định riêng về thủ tục giải quyết vụ việc dân
sự Vụ án dân sự theo Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự có đề cập đến vụ án dân
sự, theo đó các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,thương mại, lao động được gọi chung là vụ án dân sự Có thể hiểu một cáchđơn giản, vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theoquy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì cá nhân, tổ chức tự mình hoặc thôngqua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêucầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Còn việc dân sự theoBLTTDS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêucầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, là căn cứ
Trang 19phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân, kinh doanh thương mại, lao độngcủa mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, yêu cầu tòa án công nhâncho mình về quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại vàlao động.
Do đó, Đối tượng cần phải giải quyết trong VADS hoặc VDS chính là cácquan hệ pháp luật nội dung được xác định trên cơ sở các yêu cầu của đương
sự trong VADS hoặc VDS Chính việc quy định riêng rẽ về VADS hay VDS
sẽ dẫn đến đến trình tự, thủ tục giải quyết hai loại này sẽ được BLTTDS quyđịnh khác nhau
Nên việc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự bao gồm đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự và đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự Đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự được hiểu là đình chỉ giải quyết những việc kiện có tranh chấp về quyền,nghĩa vụ giữa các đương sự mà Tòa án đã thụ lý; Có nghĩa là Tòa án chấmdứt việc xem xét, quyết định về toàn bộ các quan hệ pháp luật có tranh chấpcần phải giải quyết trong vụ án Còn đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự là đìnhchỉ giải quyết những việc không có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của cácđương sự và đình chỉ giải quyết những yêu cầu Tòa án công nhận quyền,nghĩa vụ của họ; có nghĩa là Tòa án chấm dứt việc xem xét, quyết định vềtoàn bộ các quan hệ pháp luật không có tranh chấp cần phải giải quyết trong
vụ việc
Tuy có sự phân loại thành hai loại đó là: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
và đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự nhưng những căn cứ để đình chỉ hai loạiđình chỉ này giống nhau ở điểm đó là: Có thể do những sai lầm hoặc nhầm lẫncủa Tòa án mà Tòa án đã không biết đã thụ lý vụ án, sau khi thụ lý mới pháthiện ra được lỗi và sự nhầm lẫn thì Tòa án chỉ còn giải pháp là đình chỉ giảiquyết vụ án, vụ việc Hay như khi Tòa án thụ lý vụ án theo đúng quy định củapháp luật nhưng trong quá trình giải quyết mới phát sinh những căn cứ, cơ sở
Trang 20để ngừng giải quyết vụ án như đối tượng khởi kiện, yêu cầu không còn nữa,hoặc được suy đoán là không còn nữa; đối tượng khởi kiện được giải quyếtbằng một bản án, vụ việc khác, thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ việc.
1.1.3 Đặc điểm của Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải do Tòa án tiến hành.
Trước khi mở phiên tòa xét xử thì Thẩm phán được phân công tiến hành giảiquyết vụ án ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tại phiên tòa xét xử vụ
án thì Hội đồng xét xử có quyền quyết định việc đình chỉ vụ án và ra quyếtđịnh đình chỉ vụ án
Luật đã quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án trongviệc giải quyết vụ án dân sự liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân;
Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án có những phát sinh làm căn cứ đểngừng và chấm dứt việc giải quyết thì Tòa án chính là cơ quan có trách nhiệmphải thực hiện việc đình chỉ vụ án, hay nói cách khác Đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự là một trong những phương thức giải quyết vụ án của Tòa án cáccấp Để cụ thể hóa và dễ áp dụng tránh việc lúng túng trong việc áp dụng thìLuật quy định thẩm quyền thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án có quyền quyết định việc chấm dứt hay ngừng hẳn việc giải quyết vụ án
và ra quyết định đình chỉ trong giai đoạn từ sau khi thụ lý đến trước khi mởphiên tòa xét xử Còn tại phiên tòa xét xử thì một mình thẩm phán – Chủ tọaphiên tòa không được quyết định việc có ngừng việc giải quyết vụ án và raquyết định đình chỉ mà đến giai đoạn này thì việc quyết định đình chỉ vụ án
và ra quyết định phải có sự đồng ý, nhất trí của Hội đồng xét xử khi phát hiện
có căn cứ để cho đình chỉ vụ án Việc đình chỉ giải quyết VVDS có thể đượctiến hành ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm hay ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.Việc đình chỉ giải quyết VADS ở Tòa án cấp sở thẩm, phúc thẩm có thể thựchiện trước hoặc trong phiên tòa
Trang 21Thứ hai, Đình chỉ giải quyết VVDS phải dựa trên những căn cứ mà
pháp luật đã quy định trước chứ không được tiến hành tùy tiện theo ý chí chủquan của Tòa án
Việc các đương sự có yêu cầu khởi kiện ra Tòa án là nhằm mục đíchbảo vệ quyền lợi ích của mình; Vì vậy, khi Tòa án xác định căn cứ đình chỉgiải quyết vụ việc không hợp lý có thể dẫn tới quyền lợi hợp pháp của ngườikhởi kiện, người yêu cầu sẽ không được Tòa án xem xét giải quyết và hơnnữa, quyền tiếp cận công lý của công dân không được đảm bảo nếu như trongtrường hợp việc khởi kiện, yêu cầu lại của đương sự không được pháp luậtchấp nhận Do đó, để đảm bảo việc giải quyết vụ án được khách quan, côngbằng và bảo đảm công lý cho người dân khởi kiện thì phải quy định căn cứđình chỉ phải rõ ràng, hợp lý tránh gây khó hiểu, khó áp dụng cho người dân
và người tiến hành tố tụng và mất quyền lợi ích của đương sự trong vụ án.Cũng như tránh việc lạm dụng những quy định của việc đình chỉ vụ án củacác đương sự và người tiến hành tố tụng dẫn đến vụ án bị ngừng giải quyếtdẫn đến quyền lợi của công dân, đương sự bị mất Bên cạnh đó, vụ án có thểđược tiến hành giải quyết ở cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm, thủ tục giám đốcthẩm và tái thẩm; việc giải quyết ở các cấp này khác nhau do vậy dẫn đếntrình tự, thủ tục giải quyết cũng khác nhau nên việc đình chỉ giải quyết vụ áncũng phải được quy định khác nhau và những căn cứ đình chỉ giải quyết vụ áncũng không giống nhau
Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì khi Tòa án quyếtđịnh đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải xác định những phát sinh trong vụ
án đó phải có căn cứ theo luật định, dựa trên những căn cứ luật định thì mới
có quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án không được áp dụngtùy tiện, không có cơ sở luật định để ra quyết định đình chỉ, những quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án không đúng căn cứ luật định sẽ là vi phạm pháp luật
Trang 22và sẽ bị hủy quyết định này và vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết theo trình tự,thủ tục luật định.
Thứ ba, Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là ngừng hẳn các hoạt động
tố tụng để giải quyết một vụ án cụ thể Lúc này sẽ kết thúc cả về mặt thủ tục
tố tụng lẫn giải quyết nội dung vụ án dân sự; không được khôi phục lại, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác
Đặc điểm này của ĐCGQVADS là đặc điểm quan trọng, thể hiện rõ nétnhất bản nhất của đình chỉ vụ án Đây là nét đặc trưng mấu chốt, rõ ràng nhất
để phân biệt ĐCGQVADS với “Tạm đình chỉ” giải quyết vụ án dân sự Việcđình chỉ giải quyết vụ án dân sự là Tòa án “ ngừng hẳn” hay chấm dứt hoàntoàn công việc của Tòa là áp dụng trình tự, thủ tục để giải quyết yêu cầu khởikiện, những tranh chấp của đương sự (hay còn gọi là vụ án) Nghĩa là vụ ánđược thụ lý sẽ bị ngừng lại với thời gian vĩnh viễn, không hạn định và theo
đó, người khởi kiện, người yêu cầu sẽ không được tiếp tục khởi kiện lại tạiTòa án về vụ án mà mình đã bị đình chỉ trước đó, trừ những trường hợp cábiệt khác do pháp luật quy định thì đương sự có quyền được khởi kiện lại mặc
dù đã bị đình chỉ trước đó Còn tạm đình chỉ vụ án dân sự thì vụ án dân sự saukhi có quyết định tạm đình chỉ sẽ bị “tạm ngừng” một thời gian khi có căn cứtheo luật định, việc tạm ngừng sẽ chấm dứt khi lý do tạm đình chỉ không còn
và Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án đó theo quy định của pháp luật Vềnguyên tắc thì việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án là hoạt động tố tụng của Tòa
án về mặt thủ tục, chứ không phải là quyết định chấm dứt việc giải quyết vềmặt nội dung của vụ án và nó chỉ làm tạm ngưng tiến trình tố tụng đang đượctiến hành do xuất hiện những tình tiết, sự kiện nhất định; ĐCGQVADS thìngừng hẳn mọi hoạt động tố tụng của tòa án và không tiếp tục giải quyết nộidung của của vụ án Điều này sẽ dẫn đến sự khác nhau về hậu quả pháp lý đólà:
Trang 23Sau tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì vụ án dân sự được tiếp tụcgiải quyết và tính chất gián đoạn, tạm thời của đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự đem lại sẽ được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng sẽ được phục hồi khinguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa Vụ án sau khi có quyếtđịnh đình chỉ giải quyết sẽ bị chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết về cả thủ tục
và việc giải quyết về mặt nội dung; hơn nữa, đương sự trong vụ án không cóquyền khởi kiện vụ án tại Tòa án trừ trường hợp khác mà luật quy định
Thứ tư, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tuy làm chấm dứt
việc giải quyết VADS ở một giai đoạn tố tụng nào đó nhưng nó không phải làmột quyết định giải quyết về nội dung của vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý
Chúng ta có thể hiểu là vụ án dân sự được thụ lý tại Tòa án được giảiquyết bằng Bản án, quyết định công nhận thỏa thuận hoặc quyết định đình chỉgiải quyết vụ án Trong đó, Bản án và quyết định công nhận sự thỏa thuận củaTòa án là đã giải quyết về mặt nội dung là yêu cầu khởi kiện của đương sự,quan hệ tranh chấp được nhận định và được Tòa án quyết định theo quy địnhcủa pháp luật; Theo đó, khi nội dung vụ án đã được giải quyết thì dẫn đếnviệc giải quyết vụ án đó của Tòa án được chấm dứt Còn đối với quyết đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự thì khi có những căn cứ theo quy định của phápluật dẫn đến Tòa án phải ra quyết định đình chỉ có nghĩa là Tòa án không tiếnhành các thủ tục để giải quyết yêu cầu khởi kiện, xác định quan hệ tranh chấp,làm rõ sự thật của vụ án, áp dụng các quy định của pháp luật để ra hướng giảiquyết vụ án (thuộc về giải quyết nội dung vụ án) nữa
Thứ năm, Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể được tiến hành ở cấp
sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Trong tố tụng dân sự thì đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể đượctiến hành ở các cấp sơ thẩm, ở cấp phúc thẩm và cả cấp giám đốc thẩm, táithẩm Do có những sự kiện phát sinh trong quá trình giải quyết mà vụ việc
Trang 24dân sự có thể bị ngừng lại và buộc Tòa án phải ra quyết định đình chỉ và vụ
án đó không bị giới hạn là ở giai đoạn tố tụng nào mới có thể được ban hànhquyết định Đình chỉ mà có thể ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng Điểm khác biệt cơ bản của đình chỉ và tạm đình chỉ đó là Tạm đình chỉgiải quyết VADS chỉ có thể được tiến hành ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm; cònđình chỉ giải quyết VADS thì được tiến hành ở cả cấp sơ thẩm, phúc thẩm vàGiám đốc thẩm, tái thẩm
1.1.4 Mục đích và ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:
Những quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được các nhà làm luậtđưa ra mục đích nhằm dự liệu những trường hợp bắt buộc phải chấm dứt vàngừng giải quyết vụ án dân sự như có thể có sự sai lầm của Tòa án trong quátrình thụ lý vụ án, những vụ việc tuy không thỏa mãn các điều kiện để đượcthụ lý nhưng Tòa án vì lý do nào đó đã thụ lý vào, sau khi phát hiện ra đượcđiều này thì Tòa án không được trả lại đơn khởi kiện, yêu cầu không vì đã vào
sổ thu lý mà trong trường hợp này đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ ándân sự Điều này có ý nghĩa quan trọng là khắc phục được những sai lầm củaTòa án cho việc thụ lý vụ án không đúng đem lại và đồng thời cũng góp phầnlàm cho giải quyết vụ án được khách quan, chính xác, đúng quy định củapháp luật
Ngoài ra, đối với những trường hợp vụ án đã được Tòa án thụ lý theođúng quy định của pháp luật nhưng trong quá trình tiến hành các trình tự, thủtục để giải quyết vụ án thì phát sinh những căn cứ như đối tượng khởi kiệnkhông còn hoặc suy đoán là không còn tồn tại thì Tòa án phải ra quyết địnhđình chỉ vụ án Việc này có ý nghĩa giúp cho Tòa án đưa ra phương hướng vàquyết định nhanh chóng để kết thúc vụ án, kết thúc nghĩa vụ về tố tụng củađương sự và giải phóng cho các đương sự đặc biệt là bị đơn, người có quyềnlợi và nghĩa vụ liên quan không phải tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp
Trang 25Quyết định ĐCGQVADS làm giảm bớt chi phí tố tụng cho đương sựkhi việc tiến hành tố tụng không còn cần thiết nữa; đối với vụ án mà trong quátrình giải quyết các đương sự có thể tự hòa giải với nhau, hoặc được Tòa ánhòa giải mà các bên đã tự tìm được phương hướng giải quyết cho vụ việc vàkhông cần thiết phải bằng quyết định hay bản án của Tòa án thì các bên tựnguyện rút yêu cầu khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án ở Tòa án; điều này
có ý nghĩa tạo điều kiện cho các đương sự không tốn kém về mặt thời gian đilại, làm việc; đặc biệt là tốn kém và mất chi phí tố tụng, án phí, lệ phí phảinộp vào ngân sách nhà nước (đối với những tranh chấp về tài sản thì khoảntiền chi phí tố tụng và án phí, lệ phí phải nộp cũng không hề nhỏ)
Bên cạnh đó, cũng còn ý nghĩa bảo đảm quyền tự định đoạt của cácđương sự, đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân
sự Đối với vụ án dân sự thì về bản chất đó là sự thỏa thuận của các bên và
như câu nói “việc dân sự cốt ở đôi bên”; vì vậy trên tinh thần đó thì trong tố tụng dân sự các đương sự có quyền tự định đoạt Theo “1 Ðương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự….2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.”( Điều 5 BLTTDS 2015);Khi đương sự tự nguyên chấm các yêu cầu của mình và rút
yêu cầu khởi kiện của mình thì làm cho đối tượng khởi kiện tại Tòa án khôngcòn nữa nên Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để đảm bảonguyên tắc trên
Việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng có ý nghĩa thực tiễn giúpcho Nhà nước mà cụ thể là Tòa án tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí KhiTòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết VVDS một cách đúng đắn sẽ làm quátrình giải quyết vụ việc nhanh gọn, Tòa án không phải kéo dài thời giải giải
Trang 26quyết vụ việc, thậm chí không phải mở phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụviệc Nhờ đó gánh nặng về số VVDS cần phải giải quyết được giảm tải, Tòa
án có điều kiện tập trung giải quyết các vụ việc cần thiết khác để nâng caochất lượng, hiệu quả công tác xét xử
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giải quyết vụ án dân sự
Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhưng cũng phản ánhthực tiễn của cuộc sống Giá trị thi hành của pháp luật không chỉ ở chỗ thểhiện ý chí của giai cấp thống trị mà còn phải phù hợp, phản ánh được đờisống xã hội và điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội Các quy định củapháp luật muốn được thi hành có hiệu quả trên thực tế phải xuất phát từ yêucầu của đời sống xã hội, nếu xa rời đời sống xã hội sẽ không có tính khả thi
và vướng mắc trong thực hiện Theo đó, pháp luật tố tụng dân sự của ViệtNam không những phải thể hiện, cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng
và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách
tư pháp vào quá trình giải quyết các VADS mà còn phù hợp, phản ánh thựctiễn giải quyết các VADS của các Tòa án nước ta
Thực tiễn giải quyết các VADS của Tòa án nước ta đã cho thấy có rấtnhiều trường hợp Tòa án không thể tiếp tục giải quyết được mà phải ngừnghẳn việc giải quyết VADS (hay đình chỉ giải quyết VADS) như trường hợpTòa án đang giải quyết VADS mà nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân chết màquyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; trường hợp Tòa án đang giảiquyết VADS cơ quan, tổ chức là đương sự đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phásản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụngcủa cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, cơquan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơnhoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; trường hợp cácđương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án;trường hợp VADS không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án v.v…
Trang 27Ngoài ra, liên quan đến việc Tòa án phải đình chỉ việc giải quyếtVADS cũng có rất nhiều vấn đề khác nhau như thẩm quyền đình chỉ việc giảiquyết VADS, thủ tục việc giải quyết VADS, hậu quả pháp lý của việc giảiquyết VADS, quyền khởi kiện, yêu cầu lại của đương sự v.v nên rất phứctạp Thực tế, đó đòi hỏi pháp luật phải quy định tất cả những vấn đề liên quanđến đình chỉ giải quyết VADS.
1.3 Khái quát Lịch sử phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Việt Nam về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Sau Cách mạng tháng 8/1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47ngày 10/10/1945 cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ Tại
Điều thứ 1 có quy định: “Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này ” Tiếp đó, ngày 24/01/1946 ban
hành Sắc lệnh số 13 tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán, ngày
17 tháng 04 năm 1946 ban hành Sắc lệnh số 51 phân công thẩm quyền giữcác Tòa án và nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán; Sắc lệnh số 130 ngày19/7/1946 về ấn định thể thức thi hành án, Sắc lệnh số 185-SL ngày26/5/1948 về ấn định thẩm quyền của các Tòa án sơ cấp và đệ nhị cấp; Sắclệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Sắclệnh số 159/SL ngày 17/01/1950 quy định đề ly hôn v.v Ngoài các văn bảnnày hầu như Nhà nước không có ban hành văn bản nào quy định về thủ tục tốtụng dân sự và do vậy, cũng không có những quy định riêng về vấn đề đìnhchỉ giải quyết VVDS Có thể hiểu đây là giai đoạn trong tình hình khẩntrương của cuộc kháng chiến chống Pháp, các Tòa án chỉ tập trung xét xử các
vụ án về hình sự mà không giải quyết các tranh chấp về dân sự Tuy nhiên,
Trang 28vấn đề đình chỉ giải quyết các việc hộ và thương mại trong tình thế đặc biệt đãđược đề cập trong Thông lệnh số 12 – NV-CT ngày 29/12/1946 của Bộ Tư
pháp về tổ chức tư pháp, theo đó: “ Nếu vì một lẽ gì, Tòa án thường không thể tiếp tục công việc xử án được, việc xét xử những phạm pháp sẽ do quyết định của Ủy ban bảo vệ khu và giao cho Tòa án quân sự Còn xử các việc hộ hoặc thương mại sẽ đình chỉ, trừ những việc cấp tốc thì sẽ do Hội thẩm chuyên môn Tòa án quân sự xét xử bằng mệnh lệnh ”
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc đượchoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam lúc đó là củng cố Nhànước dân chủ nhân dân, khôi phục và cải tạo kinh tế ở miền Bắc và đấu tranhthống nhất đất nước, Nhà nước ta đã cho xây dựng và ban hành các văn bảnpháp luật nhằm đáp ứng tình hình lúc đó Để chấm dứt việc áp dụng các luật
lệ cũ ban hành trước năm 1945 còn được tạm giữ theo Sắc lệnh 47 ngày10/10/1945, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 19-VHH ngày 30/6/1955 vàThông tư số 2140-VHH/HS ngày 6/12/1955; Tòa án nhân dân Tối cao đã raChỉ thị số 772-NC ngày 10/7/1959 đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của đếquốc, phong kiến Tuy nhiên, thời kỳ này có rất ít các văn bản quy định về thủtục tố tụng dân sự và nếu có thì cũng chỉ là một số hướng dẫn thủ tục về giảiquyết việc ly hôn, mà không có những quy định riêng về vấn đề đình chỉ giảiquyết VVDS
Ở miền Nam chính quyền Sài Gòn vẫn cho áp dụng luật lệ cũ được banhành từ thời Pháp thuộc Tuy nhiên, có ban hành một số văn bản để quy định,giải thích những chỗ trống và vướng mắc
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989
Sau khi Hiến pháp năm 1959 được ban hành thì Luật Tổ chức Tòa ánnhân dân 1960 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cũng được ban hành.Trong thời kỳ này, các văn bản pháp luật tố tụng được coi là cơ sở pháp lý
Trang 29cho hoạt động giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án, chủ yếu dưới dạng các côngvăn, chỉ thị và đặc biệt là các thông tư do Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC)ban hành Ví dụ như Thông tư số 1080-TC ngày 25/9/1961 của TANDTChướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền mới của Tòa án nhân dân thuộc tỉnh, thị
xã, huyện, khu phố; Thông tư số 2421-TC ngày 29/12/1961 của TANDTC vềviệc thực hiện chế định Hội thẩm nhân dân Vấn đề đình chỉ giải quyết VVDS
đã được quy định tại Thông tư số 39-NCPL ngày 21/1/1972 của TANDTChướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những vụ kiện về hôn nhân vàgia đình, tranh chấp về dân sự (thời kỳ này vụ án dân sự bao hàm cả vụ kiện
về hôn nhân gia đình, tranh chấp về dân sự và những việc không có tranhchấp; xếp việc kiện được hiểu như đình chỉ giải quyết vụ kiện) Trong Thông
tư này quy định rất cụ thể những trường hợp phải xếp vụ kiện, thẩm quyền vàthủ tục xếp vụ kiện Theo Mục A của Thông tư này thì Tòa án được xếp vụkiện trong trường hợp đương sự đi kiện về một việc mà trước đó Tòa án đãgiải quyết rồi, có một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vụkiện sau không khác vụ kiện trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ tranhchấp; đương sự tự nguyện rút đơn khởi kiện trong phiên tòa và việc rút đơn
đó được Tòa án công nhận; một bên đương sự chết mà quan hệ pháp luậtkhông được phép thừa kế Hậu quả của việc xếp một vụ kiện về dân sự là Tòa
án xóa sổ thụ lý vụ kiện và sau đó đương sự không có quyền đi kiện lại vềviệc đó nữa, nếu việc kiện sau không khác gì việc kiện trước về nguyên đơn,
bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp Đây là những quy định mang tính tiền
đề cho việc xây dựng các quy định về đình chỉ giải quyết VVDS của pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam sau này
Ở miền Nam, ngày 20 tháng 12 năm 1972, chính quyền Sài Gòn banhành Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật
Dân sự và Thương sự tố tụng năm 1972 của chính quyền Sài Gòn thì: “Nếu
Trang 30nguyên đơn từ trần sau khi nạp đơn khởi tố, vụ kiện sẽ được bôi bỏ, ngoại trừ trường hợp có thừa kế của người quá cố tự ý dự sự để tiếp tục vụ kiện, hoặc
có bị đơn phản tố đòi họ ra dự sự ” Đây là trường hợp Tòa án chấm dứt
việc giải quyết vụ kiện do nguyên đơn chết mà không có người thừa kế tiếptục tham gia tố tụng
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004
Trên tinh thần của Đại hội VI của Đảng về tăng cường sự quản lý nhànước bằng pháp luật, bảo vệ những lợi ích hợp pháp của công dân, khắc phục
sự tản mạn của các quy định pháp luật tố tụng trước đây, PLTTGQCVADS đãđược ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp vềdân sự Pháp lệnh này đã kế thừa và phát triển những quy định về thủ tục tốtụng dân sự trước đó Vấn đề đình chỉ giải quyết VADS được quy định tạiĐiều 46 của Pháp lệnh này Ngoài ra, TANDTC cũng ban hành những vănbản hướng dẫn áp dụng các quy định của PLTTGQCVADS trong đó có quyđịnh đình chỉ giải quyết VADS Cụ thể là Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày19/10/1990 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định củaPLTTGQCVADS, Công văn số 124/NCPL ngày 13/12/1991 của TANDTCgiải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự, Công văn số 517/NCPLngày 9/10/1993 của TANDTC về việc ly hôn với một bên đang ở nước ngoài
Điều 46 PLTTGQCVADS đã khái quát được các trường hợp mà Toà án
có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS Theo nghiên cứu thì các trườnghợp này tương đối phù hợp với cơ sở khoa học của việc xây dựng các căn cứđình chỉ giải quyết VVDS đã trình bày ở phần trên Theo đó, Toà án có thể raquyết định đình chỉ giải quyết VVDS khi có một trong những căn cứ sau đây:
- Đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
- Các đương sự đã tự hoà giải, người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Việnkiểm sát rút đơn khởi tố vụ án trong trường hợp không có nguyên đơn hoặcnguyên đơn không yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án;
Trang 31- Nguyên đơn đã được triệu tập lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có
lý do chính đáng
- Những trường hợp lẽ ra phải trả lại đơn khởi kiện nhưng do nhầm lẫnnên Toà án đã thụ lý như thời hiệu khởi kiện đã hết; sự việc đã được giảiquyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án; sự việckhông thuộc thẩm quyền của Toà án
Hậu quả của việc đình chỉ được hướng dẫn tại Mục IX Nghị quyết số03/NQ- HĐTP nêu trên Cụ thể: Nếu Toà án đã đình chỉ giải quyết VADS đốivới các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 46 của Pháp lệnh thìđương sự không có quyền khởi kiện lại nữa, nếu Toà án đã đình chỉ do đương
sự đã tự hoà giải được, người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Viện kiểm sát rútquyết định khởi tố vụ án trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyênđơn không yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án; nguyên đơn được triệu tập hợp lệđến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do chính đáng thì sau đó đương sự
có thể khởi kiện lại nhưng phải nộp tiền tạm ứng án phí như mới khởi kiện lầnđầu
Vấn đề đình chỉ giải quyết VAKT, VALĐ cũng được quy định tương đốichi tiết tại Điều 39 PLTTGQCVAKT và Điều 41 PLTTGQCTCLĐ Tuy nhiên,
về cơ bản thì việc xây dựng các căn cứ đình chỉ giải quyết VAKT, VALĐ cũngđược dựa trên nguyên lý chung của việc đình chỉ giải quyết VVDS theoPLTTGQCVADS Điều 39 PLTTGQCVAKT và Điều 41 PLTTGQCTCLĐ có
bổ sung thêm một căn cứ về đình chỉ giải quyết VAKT, VALĐ đó là “Đã có quyết định của Toà án mở thủ tục giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó là đương sự của vụ án.”
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015
Năm 2004, nhằm góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giảiquyết các vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
Trang 32động và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, ngày15/6/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ
5 khoá XI đã thông qua BLTTDS Các quy định của BLTTDS về vấn đề đìnhchỉ giải quyết các VVDS được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát triển các quyđịnh của ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó Vấn đề đình chỉ giải quyếtVVDS được quy định tương đối cụ thể tại các điều từ Điều 192 đến Điều 194
và Điều 311 BLTTDS Ngoài ra, vấn đề đình chỉ giải quyết các VVDS cũngđược hướng dẫn tại các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC như:
- Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn thi hành
một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004.”
- Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của
HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS.
- Nghị quyết số 05/2006/NQ- HĐTP ngày 04/8/2006 của
HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ ba “ thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS.
Nhằm khắc phục những hạn chế trong quy định tại BLTTDS, tại Kỳhọp thứ 9 thông qua ngày 29/3/2011, Quốc hội khoá XII đã thông quaLSĐBSBLTTDS và Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012.Những quy định về đình chỉ giải quyết VVDS cũng được sửa đổi một cáchđáng kể LSĐBSBLTTDS đã sửa đổi căn cứ đình chỉ giải quyết VADS quy
định tại Điểm e Khoản 1 Điều 192 BLTTDS: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng.” Theo quy định của
BLTTDS, nếu Tòa án đã triệu tập hợp lệ và đã thực hiện việc triệu tập đến lần
Trang 33thứ hai mà nguyên đơn vẫn vắng mặt, thì cơ bản có thể hiểu rằng nguyên đơn
đã từ bỏ việc khởi kiện của mình Vì vậy, nếu Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết
vụ án thì việc giải quyết vụ án sẽ không có ý nghĩa
Hơn nữa, LSĐBSBLTTDS đã có những sửa đổi nhằm bảo đảm tínhkhả thi và tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật Cụ thểLSĐBSBLTTDS đã có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với căn cứ tạiĐiều 168 Do căn cứ trả lại đơn khởi kiện theo Khoản 1 Điều 168 BLTTDS:
“Thời hiệu khởi kiện đã hết” đã bị bãi bỏ Tuy nhiên, nếu sau khi Tòa án thụ
lý vụ án mới xác định được căn cứ “đã hết thời hiệu khởi kiện” thì đây chính
là một trong những căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án Bởi vậy,
LSĐBSBLTTDS thêm căn cứ: “Thời hiệu khởi kiện đã hết” và “Các trường
hợp quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý” làcác căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án Quy định này mang tính liệt
kê, chi tiết, cụ thể giúp cho Tòa án dễ áp dụng khi xác định chính xác căn cứnày trong việc giải quyết vụ án
Ngoài ra, nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dânLSĐBSBLTTDS đã có những sửa đổi, bổ sung khi quy định về quyền khởikiện lại khi Tòa án đã quyết định đình chỉ giải quyết VADS Điều 193BLTTDS quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết VADS, theo đó thìsau khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đương sự không có quyềnkhởi kiện lại, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước vềnguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợpquy định tại các điểm c, e và g Khoản 1 Điều 192 BLTTDS Nhằm đảm bảoquyền lợi của đương sự, LSĐBSBLTTDS đã mở rộng các trường hợp đương
sự được quyền khởi kiện lại khi đã thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quyđịnh Chẳng hạn như trường hợp Tòa án đình chỉ vụ án do chưa đủ điều kiệnkhởi kiện, người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng dân sự
Trang 34(NLHVTTDS)… Trong những trường hợp này, đương sự sẽ có quyền khởikiện lại khi đã khắc phục được những lý do trên Và sau khi Tòa án đình chỉgiải quyết vụ án thì việc đương sự khởi kiện lại tuy vẫn cùng nguyên đơn, bịđơn và quan hệ tranh chấp nhưng có tình tiết mới khác với lần khởi kiện banđầu ở chỗ người khởi kiện hoặc đã có quyền khởi kiện hoặc đã có đủNLHVTTDS hoặc đã nộp tiền tạm ứng án phí hoặc đã có đủ điều kiện khởikiện Vì vậy, LSĐBSBLTTDS quy định về không có quyền khởi kiện lại, trừcác trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 168, các điểm c, e và g Khoản 1Điều 192 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của phápluật.
Bên cạnh đó, các quy định về việc xử lý tiền tạm ứng án phí mà đương
sự đã nộp khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong LSĐBSBLTTDSthể hiện sự rõ ràng, khoa học hơn so với BLTTDS; tùy thuộc từng trường hợpkhác nhau mà việc xử lý tiền tạm ứng án phí đó cũng khác nhau
Cùng với việc ban hành LSĐBSBLTTDS, HĐTPTANDTC đã kịp thờiban hành các nghị quyết hướng dẫn thực hiện đối với Luật này:
- Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ hai:“Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa cấp sơ thẩmcủa Bộ luật
Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự” (Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP).
- Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ ba:“Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa cấp phúc thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự ” (Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP).
Mặc dù đã có những sửa đổi phù hợp hơn, qua quá trình áp dụng thựctiễn cho thấy LSĐBSBLTTDS vẫn còn một số hạn chế nhất định khiến việc
Trang 35thực thi pháp luật không đồng nhất và gặp nhiều khó khăn Do vậy việc tiếptục nghiên cứu và sửa đổi BLTTDS trong thời gian gần nhất là điều cần thiết.
1.3.5 Từ năm 2015 đến nay
Hiện nay, sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành và có hiệu lực
đã đặt ra yêu cầu cần phải sửa đổi, bổ sung toàn diện BLTTDS nhằm thể chếhóa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thểhóa các quy định của Hiến pháp nhằm đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thốngpháp luật, đặc biệt là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, khắc phục các hạn chế,tăng cường tranh tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ, công bằng, tạo thuậnlợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quátrình tham gia tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình Dovậy, Nhà nước ta đã cho ban hành BLTTDS năm 2015 Trong BLTTDS sửađổi các quy định về đình chỉ giải quyết VADS được quy định khá cụ thể vàchi tiết tại các điều 214, 215, 217,289 Về cơ bản, những quy định này đãkhắc phục được những thiếu sót, hạn chế trong quy định về đình chỉ giảiquyết VADS so với những quy định cũ
Trang 36CHƯƠNG 2.NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT
VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM VÀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG
DÂN SỰ VIỆT NAM
2.1 Nội dung các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm
2.1.1 Căn cứ đình chỉ
Điều 217 cuarBLTTDS 2015 đã kế thừa cơ bản các căn cứ, thủ tục đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sư tại Điều 192 BLTTDS 2004, sửa đổi năm 2011,quy định về việc gửi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án tại khoản 2 Điều
194 BLTTDS 2004 cũng như kế thừa các quy định về đình chỉ đối với yêucầu một phần , thay đổi địa vị tố tụng tại khoản 2 Điều 218, Điều 219BLTTDS 2004, sửa đổi 2011 Tuy nhiên, Điều 217 BLTTDS 2015 cũng đã bổsung những quy định mới về căn cứ đình chỉ như trường hợp đương sự có yêucầu tố tụng nhưng không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá và chi phí kháctheo quy định; bổ sung tại khoản 3 về việc Tòa án phải sao chụp và lưu lạiđơn khởi kiện;, các tài liệu chứng cứ kèm theo khi đình chỉ giải quyết vụ án;
bổ sung quy định tại khoản 4 về việc Tòa án xét xử sơ thẩm lại vụ án (sau khi
có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm) phải đồng giải quyết hậu quả của việcthi hành án, các vấn đề khác có liên quan khi có quyết định đình chỉ giảiquyết vụ án; bổ sung quy định về trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiệnhoặc được triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thì phải
có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Sau đây làcác căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:
a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế (điểm a, khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015):
Trang 37Trường hợp “Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa
vụ của họ không được thừa kế’ được hiểu là: Trong quá trình giải quyết vụ ánnguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ tố tụng gắnliền với quyền nhân thân của họ theo quy định của pháp luật không đượcchuyển giao lại cho những người thừa kế, khi đó chủ thể tham gia tố tụngkhông còn tồn tại và Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Do nhữngquyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyểngiao lại cho người khác nên khi nguyên đơn hoặc bị đơn tham gia tố tụngtrong vụ án dân sự liên quan đến quyền nhân thân là cá nhân đã chết thì dù cóngười thuộc các hàng thừa kế nhưng những người này cũng không được kếthừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, trong trường hợp này Tòa án sẽ raquyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Ví dụ một số loại tranh chấp dân sự mà quyền và nghĩa vụ của đương sự gắnliền với quyền nhân thân như: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con, tranh chấp vềthay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; tranh chấp về xác định cha, mẹcho con hoặc xác định con cho cha, mẹ …
Quy định trên xuất phát từ cơ sở lý luận là xuất hiện sự kiện đương sựchết mà quyền và nghĩa vụ không được thừa kế do tính chất quan hệ pháp luật
mà Toà án cần giải quyết như vụ việc phát sinh từ quan hệ nhân thân, quan hệcấp dưỡng Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015, trongquá trình Toà án đang tiến hành giải quyết vụ án, nếu nguyên đơn hoặc bị đơn
là cá nhân chết sẽ làm cho đối tượng xét xử, giải quyết vụ án của Toà ánkhông còn nên Toà án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Về phương diện lý luận thì đây là trường hợp đặc biệt do phát sinh sựkiện đương sự chết nhưng do tính chất đặc biệt của quan hệ pháp luật tranhchấp (quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng) nên quyền, nghĩa vụ của họkhông được chuyển giao cho chủ thể khác Quy định này phù hợp với các vụ
Trang 38việc có một hay nhiều quan hệ nhân thân cần giải quyết như ly hôn, giải quyếtvấn đề nuôi con và cấp dưỡng,… Còn đối với vụ việc nhiều quan hệ pháp luậtnhân thân (như nhiều nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải cải chính, xin lỗi do đãxúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của họ ) hay trong đó vừa có quan hệnhân thân mà vừa có quan hệ tài sản cần giải quyết (yêu cầu xin ly hôn và yêucầu chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu của các chủ nợ đối với vợchồng), thì việc các đương sự chết cũng không làm chấm dứt được giảiquyết vụ việc.
Một điểm đáng lưu ý là điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS chỉ được ápdụng khi giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự gắn liền với quyền nhân thâncòn các vụ án tranh chấp dân sự gắn liền với quyền tài sản (quyền chiếm hữu,quyền sử dụng, quyền định đoạt, quyền khác đối với bất động sản liền kề,quyền hưởng dụng, quyền bề mặt) mà xảy ra trường hợp nguyên đơn hoặc bịđơn là cá nhân đã chết thì Tòa án không được áp dụng điểm a khoản 1 Điều
217 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án
Ví dụ một số loại tranh chấp dân sự mà quyền và nghĩa vụ của đương
sự gắn liền với quyền tài sản như: Kiện đòi tài sản, tranh chấp hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng vay tài sản……
Đối với trường hợp khi giải quyết vụ án tranh chấp dân sự gắn liền vớiquyền tài sản mà nguyên đơn (hoặc bị đơn) là cá nhân chết và cá nhân nàykhông có người thừa kế tức là không có một trong những người thuộc hàngthừa kế thứ nhất (gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ,con nuôi của người chết ), không có một trong những người thuộc hàng thừa
kế thứ hai (gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, emruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bànội, ông ngoại, bà ngoại) và cũng không có một trong những người thuộchàng thừa kế thứ ba (gồm cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột,
Trang 39cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà ngườichết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết
mà người chết là cụ nội, cụ ngoại); hoặc có những người thừa kế nhưngnhững người thừa kế thuộc trường hợp người không được quyền hưởng di sảnthừa kế (bị tước quyền thừa kế) theo quy định tại Điều 621 BLDS 2015 (gồm:Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành
vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêmtrọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa
vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạmtính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần disản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; Người có hành vi lừa dối, cưỡng éphoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửachữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn
bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản) hoặc người thừa kế từ chốinhận di sản thừa kế (Điều 620 BLDS 2015) Khi xảy ra trường hợp trên, Tòa
án không được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo điểm akhoản 1 Điều 217 BLTTDS với lý do không có, không xác định được ai làngười kế thừa quyền và nghĩa vụ cho nguyên đơn (hoặc bị đơn) đã chết theoquy định tại Điều 74 BLTTDS, trong trường hợp này Tòa án vẫn phải tiếp tụcgiải quyết vụ án bởi khi giải quyết vụ án tranh chấp dân sự gắn liền với quyềntài sản mà nguyên đơn (hoặc bị đơn) là cá nhân chết và cá nhân này không cóngười thừa kế, hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận
di sản thì căn cứ theo Điều 622 BLDS 2015 thì di sản thừa kế thuộc về nhànước; và trường hợp này Tòa án phải đưa Nhà nước cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam vào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Tùy từng loại di sảnthừa kế cụ thể mà Nhà nước ở đây chính là các cơ quan nhà nước trung ương,địa phương có liên quan sẽ cử đại diện trực tiếp tham gia quá trình tố tụng tại
Trang 40Tòa án với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn (hoặc
bị đơn) đã chết
Ví dụ: A (nguyên đơn) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc B (bị đơn) phải trả
lại cho mình quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà B đang sử dụng trái phép.Quá trình giải quyết vụ án, A chết Tòa án tiến hành xác minh và xác định Akhông có người thừa kế (không có người thừa kế ở các hàng thừa kế) Theoquy định tại Điều 622 BLDS 2015 thì di sản thừa kế thuộc về Nhà nước.Trong trường hợp này, Tòa án có thể đưa UBND huyện nơi có thửa đất đangtranh chấp vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng cho nguyên đơn trong vụ án
b) Đối với căn cứ cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có
cơ quan tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó (điểm b, khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015):
Trong quá trình giải quyết vụ án mà một trong bên đương sự là cơ quan, tổchức đã bị giải thể hoặc phá sản thì sẽ làm chấm dứt tư cách pháp lý, chấmdứt mọi hoạt động trên thực tế và chấm dứt quyền, nghĩa vụ của của cơ quan,
tổ chức đó Tùy từng cơ quan, tổ chức mà trình tự thủ tục giải thể, phá sảnđược quy định riêng biệt trong pháp luật chuyên ngành (VD: Luật doanhnghiệp quy định trình tự giải thể đối với các doanh nghiệp bao gồm: công tytrách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tưnhân; Nghị định số 55/2012/NĐ-CP nghị định Chính phủ ngày 28/6/2012 quyđịnh về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; Luật phá sảnnăm 2014 quy định về trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản;xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giảiquyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thihành quyết định tuyên bố phá sản áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã……) Khi cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản,