1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn vai trò của ý thức pháp luật đối với thực hiện pháp luật

115 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 660,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý thức pháp luật được xem là yếu tố quan trọng, là tiền đề tư tưởng trựctiếp cho việc thực hiện pháp luật, xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thốngpháp luật; là cơ sở hình thành văn h

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 13

1.1 KHÁI NIỆM Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ CẤU TRÚC CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT 13

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ý thức pháp luật 13

1.1.2 Cấu trúc và hình thức của ý thức pháp luật 18

1.2 KHÁI NIỆM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 21

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật 21

1.2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật 22

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý THỨC PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA 23

1.3.1 Ảnh hưởng của lệ làng truyền thống 24

1.3.2 Ảnh hưởng của những yếu tố lịch sử 30

1.3.3 Ảnh hưởng của chiến tranh 38

1.3.4 Ảnh hưởng của cơ chế hành chính tập trung, quan liêu, bao cấp 41

1.3.5 Công cuộc đổi mới và sự thay đổi của ý thức pháp luật 44

1.4 TÁC ĐỘNG CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA 47

Kết luận Chương 1 58

Trang 2

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA SỰ TÁC ĐỘNG Ý

THỨC PHÁP LUẬT LÊN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 59

2.1. ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG PHÁP LUẬT 59

2.2 ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TUÂN THEO PHÁP LUẬT 64

2.3 ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THI HÀNH PHÁP LUẬT 68

2.4 ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 75

Kết luận Chương 2 83

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIÚP NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 84 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 84 3.2 GIẢI PHÁP GIÚP NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 87 3.2.1 Giải pháp chung 87

3.2.2 Các giải pháp cụ thể 88

Kết luận Chương 3 101

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

BHXH: Bảo hiểm xã hộiCNXH: Chủ nghĩa xã hộiHĐND: Hội đồng nhân dânSTT: Số thứ tự

TBCN: Tƣ bản chủ nghĩaUBND: Ủy ban nhân dânXHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1: Khảo sát tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm

2 Bảng 2.2: Khảo sát tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực bảo vệ tài sản của nhà nước, của cộng cộng 74

3 Bảng 2.3: Khảo sát vai trò của kiến thức pháp luật của đối

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN

ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình thựchiện pháp luật, trong đó ý thức pháp luật là yếu tố rất quan trọng

Ý thức pháp luật được xem là yếu tố quan trọng, là tiền đề tư tưởng trựctiếp cho việc thực hiện pháp luật, xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thốngpháp luật; là cơ sở hình thành văn hoá pháp lý của các chủ thể pháp luật, tạo chochủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng có hiệu quả cơ chế điều chỉnh pháp luật

để bảo vệ lợi ích chính đáng cho bản thân mình, cho nhà nước và cho xã hội,đồng thời có những xử sự đúng đắn, phù hợp với pháp luật Ý thức pháp luật cóảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp của chủ thể vàgóp phần nâng cao phẩm chất, nhân cách con người, từ đó hình thành tráchnhiệm của mỗi người với bản thân, với gia đình và với xã hội

Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy: trong xã hội ta nhà nước là củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân còn “pháp luật là thể chế hoá đường lối,chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân ” nên cả nhà nước vànhân dân cùng quan tâm tới việc thực hiện pháp luật nghiêm minh Mặc dùvậy, thái độ bất tuân pháp luật đã trở thành thói quen, đã ăn sâu trong ý thứccủa một bộ phận người dân, do vậy trong họ luôn tiềm ẩn khuynh hướng tìmmọi cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách luật”, tìm ra những kẽ hở,những hạn chế của pháp luật để hễ có cơ hội thì vụ lợi

Trong nhiều hoạt động nhà nước ở nước ta vẫn còn biểu hiện của tâm

lý cửa quyền, quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân Tình trạng nhânnhượng, nể nang của một số cơ quan chức năng và cán bộ, công chức nhànước trong việc bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự pháp luật chính là những yếu

Trang 7

tố góp phần tạo ra tâm lý chây ỳ, thách thức chính quyền, coi thường phápluật của một số kẻ bất tuân pháp luật.

Đồng thời người dân do không hiểu biết đầy đủ về pháp luật đã dẫn đếntâm lý thiếu tự tin trong các hoạt động Điều này, một mặt làm giảm khả năngcủa người dân trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm hại, mặt khác

có thể góp phần làm tăng khả năng khiếu kiện bừa bãi, không đủ căn cứ, khôngđúng thủ tục dẫn tới bất ổn định xã hội Tình trạng kém hiểu biết về pháp luậtcũng dễ tạo nên tâm lý thờ ơ, lãnh đạm, thậm chí coi thường pháp luật, dẫn đếnngười dân có những hành vi xử sự không đúng với quy định của pháp luật

Tình trạng này có nguyên nhân từ ý thức pháp luật thấp kém, pháp luậtchưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa trở thành cái không thể thiếu khi điềuchỉnh các quan hệ xã hội Ý thức pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế

và bản thân hệ thống pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của xã hội, mặtbằng dân trí thấp, trình độ văn hóa pháp lý còn thấp kém

Do vậy, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiệnnay vai trò của ý thức pháp luật có sự tác động vô cùng quan trọng đến việcthực hiện pháp luật Bởi nếu ý thức pháp luật thấp thì khó có thể xây dựng vàhoàn thiện được một hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp, đồng thời với

ý thức pháp luật thấp thì các chủ thể cũng khó có thể nhận thức, thực hiện và

áp dụng pháp luật chính xác, có hiệu quả cao được Để xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Vấn đề thực hiện pháp luậtnghiêm minh là trách nhiệm không những chỉ ở phía Nhà nước, mà còn ở cảphía nhân dân, trong đó ý thức pháp luật đóng vai trò quan trọng hàng đầukhông thể thiếu

Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Vai trò của ý thức pháp luậtvới việc thực hiện pháp luật” làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học, chuyênngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những nội dung liên quan đến lĩnh vực ý thức pháp luật, thời gian qua

đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu Trong những năm gần đây ở nhữnggóc độ khác nhau, các tác giả đã cho ra mắt bạn đọc các công trình nghiên cứucủa mình, dưới các hình thức như đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận vănthạc sĩ, sách, các bài viết trên các tạp chí, các báo Chẳng hạn, một số côngtrình sau đây:

2.1.1 Đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước

- Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật,chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07, đề tài KX-07-17(1995), do GS.TSKH Đào Trí Úc làm chủ nhiệm

- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong côngcuộc đổi mới, Đề tài khoa học cấp bộ năm 1995 của Bộ Tư pháp

- Logic khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật

ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân, năm 2001

2.1.3 Sách, báo, tạp chí

- Chính sách pháp luật và ý thức pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nước

và pháp luật, số 4/1993, của tác giả Nguyễn Như Phát

Trang 9

- Bàn về ý thức pháp luật Tạp chí Luật học, số 1/2003, của TS HoàngThị Kim Quế.

- Vai trò của Ý thức pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật Tạp chíLuật học, số 3/2011, của Ths Nguyễn Văn Năm

- Vai trò của ý thức pháp luật đối với hoạt động xây dựng và thực hiệnpháp luật Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8/ 2005, của Ths Trần Thị Nguyệt

Công trình nghiên cứu này đã có những đóng góp nhất định, chủ yếutập trung luận giải về bản chất và vai trò của ý thức pháp luật ở hai phươngdiện: xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật

- Bài viết: Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở ViệtNam Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật, của GS.TSKH Đào Trí Úc…

Bài viết này đã có những đóng góp đáng kể, chủ yếu bàn về các vấn đềsau: Bản chất, vị trí và vai trò của thực hiện pháp luật trong hệ thống phápluật; các hình thức thực hiện pháp luật; cơ chế thực hiện pháp luật và nhữngđiều kiện bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật

Theo Ths.Trần Thị Nguyệt, ý thức pháp luật dù được thể hiện ở dạngthức nào, thang bậc nào,ở hệ tư tưởng pháp luật hay tâm lý pháp luật thì cũngđều giữ vai trò là tiền đề trực tiếp cho hoạt động xây dựng và ban hành phápluật Ý thức pháp luật cao cho phép đánh giá đúng đắn tầm quan trọng pháp lýcủa các quan hệ xã hội cần điều chỉnh, bảo đảm cho hoạt động soạn thảo, thảoluận, thông qua các văn bản pháp luật có chất lượng cao Xu hướng vận động

và sự thể hiện vai trò của ý thức pháp luật ngày càng đa dạng, càng có thêmnhiều yếu tố mới cả trên hai phương diện hệ tư tưởng pháp luật và tâm lýpháp luật, nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và nội dung của văn bảnpháp luật và đó cũng chính là một trong những biểu hiện của xã hội công dântrong điều kiện nhà nước pháp quyền, tôn trọng, đề cao giá trị của dân chủthực sự

Trang 10

Trong qúa trình thực hiện pháp luật, ý thức pháp luật có một vai trò và ýnghĩa quan trọng Nó thuộc nhân tố chủ quan, gắn liền với tư duy, tình cảm vàhành vi của cá nhân Quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động thực hiệnpháp luật trên nhiều góc độ và ở nhiều phương diện Ý thức pháp luật tốt sẽ làtiền đề quan trọng bảo đảm thực hiện pháp luật tốt Trong đó, mối quan hệ hữu

cơ giữa tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật cũng thể hiện vai trò thúc đẩyhoặc kìm hãm các hành vi tuân thủ, thi hành, vận dụng và áp dụng pháp luật.Theo tác giả, chúng ta phải coi giáo dục, hình thành và nâng cao ý thức pháp luậtcho toàn xã hội là một quá trình liên tục, thường xuyên, nhất quán chứ khôngphải là hoạt động mang tính phong trào Bên cạnh đó còn phải thực hiện đồng bộcác giải pháp như mở rộng và bảo vệ dân chủ; công khai hóa các hoạt động lậppháp; chú ý hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát việc tuân thủ, chấp hành phápluật ở mọi lúc, mọi nơi, mọi đối tượng; tạo điều kiện cho nhân dân tiếp cận vàtiếp cận được một cách dễ dàng

Hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luậtchính là các phương thức chủ yếu nhất của cơ chế điều chỉnh pháp luật, mà ở

đó ý thức pháp luật có vai trò to lớn trong việc hình thành thái độ ứng xử, hìnhthành động cơ, mục đích bên trong của các hành vi pháp luật Nó có khả năngbiến cải và thôi thúc quá trình thực hiện hành vi xử sự của con người Tổngthể những yếu tố đó trở thành cơ sở khoa học cho việc hình thành lối sốngtuân thủ pháp luật ở nước ta trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN hiện nay

Theo GS.TSKH Đào Trí Úc, bản chất của việc thực hiện pháp luật là sựchuyển hóa các yêu cầu chung được xác định trong các nguyên tắc và quy phạmpháp luật vào trong các hành vi cụ thể của các chủ thể Nói thực hiện pháp luật lànói đến một kết quả tích cực của quá trình điều chỉnh pháp luật, mà điều chỉnhpháp luật thì hướng tới hai yêu cầu: thực hiện hành vi hợp pháp

Trang 11

hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật Bên cạnh đó, quá trình và kết quảcủa việc thực hiện pháp luật là thước đo hiệu quả điều chỉnh pháp luật Vớinhững yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của quá trình thực hiện pháp luậtcũng như các yếu tố mang tính tác nhân của quá trình đó, có thể thấy rõ vị trí

và tầm quan trọng của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp lý Bởi lẽ, thứnhất, thực hiện pháp luật là một phạm vi độc lập với những hình thức gắn vớihoạt động của các chủ thể tương ứng và theo đó là những nguyên tắc, nhữngphạm vi thẩm quyền nội dung phương pháp và trình tự, thủ tục thực hiệnpháp luật tương ứng và thích hợp Thứ hai, thực hiện pháp luật là tổng thểnhững hoạt động và hành vi hết sức đa dạng ở những cấp độ khác nhau, từhành vi của cá nhân công dân trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủthể pháp lý của mình, việc thực hiện các điều kiện tổ chức và hoạt động củamột pháp nhân, thực hiện các thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quancông quyền… cho đến hoạt động lập pháp của Quốc hội Thực hiện pháp luật

dù hiểu theo nghĩa là một quá trình hay theo nghĩa là kết quả của quá trình đóđều đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành ý thức pháp luật và vănhóa pháp luật Như vậy, ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật với tính cách lànhững tác nhân thúc đẩy hiệu quả thực hiện pháp luật cũng chịu sự tác động

mà chính quá trình và kết quả của việc thực hiện pháp luật tạo ra

Theo tác giả Đào Trí Úc, việc sử dụng pháp luật thông qua việc sử dụngcác thẩm quyền luật định cũng không thể là một sự tùy tiện mà ngược lại cầnphải được cân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng Hoạt động áp dụng pháp luật cũnggóp phần bổ sung pháp luật, làm phong phú các nguồn sáng kiến pháp luật,gắn bó chặt chẽ với nhu cầu giải thích pháp luật, có tiềm năng đối với việc bổsung sửa đổi pháp luật hoặc ban hành pháp luật mới

Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra vấn đề cơ chế thực hiện pháp luật vànhững điều kiện bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật Trong đó, thực hiện

Trang 12

pháp luật là hành vi và hoạt động của con người, dù họ là cá nhân công dânhay là công chức của bộ máy công quyền Đối tượng của việc thực hiện phápluật cũng không có gì khác ngoài con người Nhận thức về pháp luật, mức độchia sẻ những giá trị và đòi hỏi của các quy định pháp luật cần được thực hiệncũng là tiền đề quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với thực hiện pháp luật.Như vậy, ý thức pháp luật có vai trò quan trọng và có mối liên hệ mật thiết vớithực hiện pháp luật Do đó, không thể bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luậtnếu không có những bảo đảm về ý thức và văn hóa pháp luật của cá nhân, của

xã hội Đồng thời, cơ chế thực hiện pháp luật vận hành thông qua các hìnhthức thực hiện pháp luật và được cụ thể bởi các hình thức đó Để vận hành cơchế thực hiện pháp luật trong các hình thức mà công dân là chủ thể thì cácđiều kiện cần thiết là thủ tục thực hiện pháp luật, hoạt động tuyên truyền, phổbiến pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý – tức là toàn bộ những hoạtđộng hướng vào mục đích tiếp cận thông tin, tiếp cận pháp luật

Trong khi đó, đối với việc thi hành và áp dụng pháp luật của các thiết chếcông quyền thì điều kiện đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật là kiểm tra,giám sát quá trình thực hiện pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng quyền conngười, quyền công dân và ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, trình độchuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức bộ máy côngquyền Có thể thấy rằng, bài viết đã có những đóng góp đáng kể trong việcthực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ý thức pháp luật là vấn đề cơ bản của lý luận pháp luật, đã nhận

được rất nhiều sự nghiên cứu ở những góc độ, bình diện khác nhau Ở bìnhdiện nghiên cứu của tác giả ngoài nước, trong phạm vi khả năng, tác giả luậnvăn đã chọn 03 văn bản, công trình nghiên cứu cơ bản sau về chủ đề ý thứcpháp luật

Trang 13

- Tư tưởng về ý thức pháp luật của phái Pháp gia (Trung Hoa cổ đại).Đây có thể coi là tư tưởng sớm nhất đề cập tới nội dung của ý thức pháp luậttrên thế giới nói chung và ở phương Đông nói riêng (trên bình diện thời gian

và sự ảnh hưởng) Những người đề xuất và phát triển tư tưởng này khôngphải là các nhà nghiên cứu luật học, mà là các tướng lĩnh, quan chức của nhànước phong kiến ở Trung Quốc, tiêu biểu là Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn

Phi Tử, Lý Tư (thời chiến quốc), với tác phẩm tiêu biểu là Hàn Phi Tử (đã

được dịch sang tiếng Việt)

Nội dung cơ bản của tư tưởng về ý thức pháp luật (nghĩa chung nhất)trong tư tưởng của phái Pháp gia là quan điểm pháp trị (dùng pháp luật để caitrị) Theo đó, pháp trị đòi hỏi phải rạch ròi về luật, lệnh, về hình, về chính.Luật phải minh bạch, phải hợp lý đối với đời sống nhân dân theo nguyên tắc:thiên thời, địa lợi, nhân hòa; muốn thi hành pháp luật thì phải chuẩn bị chodân trước pháp luật rồi mới áp dụng; pháp luật ban ra phải được cân nhắc kỹ,không được nay sửa mai đổi; việc xử án phải chí công vô tư, không khoandung người mình yêu, không khắc nghiệt với người mình ghét

Quan điểm pháp trị của phái Pháp gia đối lập với quan điểm đức trị củaphái Nho gia Đây là hai quan điểm đối lập tồn tại dai dẳng trong xã hộiphương Đông Hiện nay, quan điểm pháp trị vẫn chứa đựng những giá trị hợp

lý cần được vận dụng, phát triển

- Nghiên cứu về ý thức pháp luật trong tác phẩm Triết học pháp luật

của tác giả Raymond Wacks (Phạm Kiều Tùng dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội,2011) Tác phẩm thể hiện kết quả nghiên cứu về ý thức pháp luật ở góc độ nhậnthức khoa học về pháp luật dưới góc nhìn của triết học Đây được xem là tácphẩm căn bản, nền tảng khi nghiên cứu luật học hiện đại (trên bình diện lý luậnchung) Tác giả đã góp phần trả lời câu hỏi: “luật pháp là gì?” bằng luận giải vềthuyết luật tự nhiên, thuyết thực chứng, thuyết phê phán Tác phẩm

Trang 14

cũng trình bày rõ tư tưởng của nhiều tác giả, cùng với những tác phẩm tiêubiểu của mình cho mỗi thuyết về pháp luật Việc nghiên cứu pháp luật nóichung, nội dung ý thức pháp luật nói riêng không thể ở bên ngoài những lýthuyết nghiên cứu này.

- Nghiên cứu về ý thức pháp luật của học giả Liên Xô qua tác phẩm Ý thức pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của tác giả E.A

LuKaSeva (viết năm 1980, bản dịch của Viện thông tin Khoa học xã hội ViệtNam năm 1997) (trên bình diện một hệ tư tưởng cụ thể: hệ tư tưởng Nga –Xô) Tác giả nghiên cứu ý thức pháp luật ở mức độ cụ thể, bao gồm các nộidung: 1, Khái niệm và bản chất ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN); 2,

cơ cấu ý thức pháp luật XHCN; 3, ý thức pháp luật XHCN và việc làm luật; 4,

ý thức pháp luật XHCN và việc thực hiện pháp luật; 5, giáo dục pháp luật vàvăn hóa pháp lý

Tác phẩm ra đời trong bối cảnh Đảng cộng sản Liên Xô đẩy mạnh giáodục pháp luật cho nhân dân lao động, nên nó thể hiện rõ nét tư tưởng chính trị -pháp lý nổi trội giai đoạn này Trên thực tế, khoa học pháp lý của Liên Xô đã cóảnh hưởng sâu sắc tới khoa học pháp lý ở Việt Nam Hiện nay, nghiên cứu cụ thể

về ý thức pháp luật ở Việt Nam cũng theo các nội dung cơ bản nêu trên

Trên đây là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả tham khảo

và hoàn thành luận văn của mình Tuy nhiên, cho tới nay chưa có một côngtrình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về vấn đề: “ vai trò của ýthức pháp luật với việc thực hiện pháp luật ” Đó chính là vấn đề tác giả quantâm và giải quyết trong đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

- Làm rõ mối liên hệ giữa ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật Chỉ rathực trạng chung của ý thức pháp luật ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật;

Trang 15

- Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà NướcPháp Quyền ở nước ta hiện nay.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Làm rõ mối liên hệ giữa ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật Từ

đó chỉ ra thực trạng chung của vấn đề ý thức pháp luật ảnh hưởng tới việcthực hiện pháp luật;

- Đề xuất phương hướng, giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp luật chocông dân, đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng nhà nước Pháp quyền ở Việt nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu vai trò của ý thức pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành luận văn, tôi đã sử dụng nguồn tài liệu: Giáo trình lý luận

Trang 16

chung về Nhà nước và pháp luật, các văn kiện, Nghị quyết của Đảng Cộng sảnViệt Nam có liên quan; Các sách, báo, tạp chí viết về ý thức pháp luật và thựchiện pháp luật; Cuốn giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hànhchính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Đây là nguồn tưliệu cơ bản để thực hiện đề tài và những tư liệu đó được khai thác bằng nhiềunguồn khác nhau nhưng chủ yếu là tại Thư viện Đại học Quốc Gia,…

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các công trình khoa học, các chuyênluận, chuyên khảo, các luận văn, luận án, các bài nói, bài viết của các GS,TSLuật học xung quanh vấn đề vai trò của ý thức pháp luật với việc thực hiệnpháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống của nghiêncứu luật học bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,phương pháp lịch sử và phương pháp logic; ngoài ra trong một số trường hợpluận văn còn sử dụng kết hợp các phương pháp như thống kê, so sánh, điềutra xã hội học, mô tả,

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Việc thực hiện nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những nhân tố ảnhhưởng tới ý thức pháp luật, tác động của ý thức pháp luật đối với việc thựchiện pháp luật ở nước ta

- Khẳng định sự ảnh hưởng của ý thức pháp luật đối với việc thực hiệnpháp luật ở các hoạt động thi hành, tuân theo, sử dụng và áp dụng pháp luật

- Đề tài đưa ra những phương hướng và giải pháp giúp nâng cao ýthức pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựngnhà nước Pháp quyền ở nước ta hiện nay

- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các học viên khác, ngoài racòn phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn giáo dục pháp luật tại các

Trang 17

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của ý thức pháp đối với thực hiện

pháp luật

- Chương 2: Thực trạng về vai trò của sự tác động ý thức pháp luật lên

thực hiện pháp luật

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp luật

đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng nhà nước Pháp quyền ở nước ta hiện nay

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT

ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

1.1 KHÁI NIỆM Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ CẤU TRÚC CỦA ÝTHỨC PHÁP LUẬT

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật là một trong những bộ phận tạo thành nên đời sốngpháp luật bên cạnh các lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật Trong xã hộihiện nay, ý thức pháp luật giữ vai trò hết sức quan trọng đối với việc hìnhthành nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của con người Do vậy các hoạtđộng của con người đều phải dựa vào ý thức của mình Các hành vi pháp luật,các mối quan hệ pháp luật của con người đều được thực hiện dựa trên cơ sởtâm lý pháp luật, tư tưởng pháp luật và quan điểm, quan niệm về pháp luậtcủa con người thông qua các thời kỳ khác nhau Vì vậy, việc thực hiện phápluật của con người trong xã hội có liên quan chặt chẽ đến yếu tố tâm lý phápluật và tư tưởng pháp luật

Ý thức pháp luật là tổng thể những quan điểm, quan niệm về pháp luật,

là tình cảm và tâm trạng của con người đối với pháp luật Do vậy, ý thức phápluật được hình thông qua những quan điểm, quan niệm của con người từ sựcần thiết phải có các quy tắc xử sự phù hợp

Ý thức pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển về từ nhu cầu khách quancủa đời sống xã hội, khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định (đó làgiai đoạn bắt đầu có sự phân chia về giai cấp), đó là khi các phương tiện điềuchỉnh xã hội như: đạo đức, tôn giáo, tập quán, niềm tin… không còn phù hợpnữa, nó không còn đủ khả năng để quản lý xã hội có hiệu quả Lúc này cầnphải có một công cụ mới ra đời, đó là pháp luật, để thiết lập ra một trật tự xã

Trang 19

hội mới ổn định, kỷ cương Từ nhu cầu khách quan này của đời sống xã hội,con người đã nhận thức được xã hội (đã phản ánh được tồn tại xã hội) và đãtạo nên ở họ những tư tưởng, quan điểm, quan niệm về sự cần thiết phải điềuchỉnh các quan hệ trong xã hội bằng pháp luật, một phương tiện điều chỉnhhữu hiệu nhất.

Về mặt Triết học, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xãhội, nó thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, nó chịu sự quy định của cơ sở kinh

tế Tuy nhiên, ý thức pháp luật còn chịu sự ảnh hưởng của các hình thái ý thức

xã hội khác ở những mức độ khác nhau Như vậy, ý thức pháp luật là sự phảnánh những điều kiện xã hội (vật chất, chính trị, lịch sử…), đó là những

điều kiện cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật, thông qua những quanđiểm, quan niệm, tư tưởng, học thuyết, tình cảm, tâm trạng và niềm tin pháp lý

Từ sự phân tích như trên, thì ý thức pháp luật có thể định nghĩa như sau:

Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết, quan điểm,thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về pháp luật trên các phươngdiện, tiêu chí cơ bản như: Về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò,chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắnhay không đúng đắn của các quy định pháp luật hiện hành, pháp luật đã quatrong quá khứ, pháp luật cần phải có Về tính hợp pháp hay không hợp pháptrong hành vi của các cá nhân, nhà nước, các tổ chức xã hội[49, tr.430]

Là một hình thái của ý thức xã hội, ý thức pháp luật cũng có đầy đủnhững đặc điểm của ý thức xã hội sau đây:

* Ý thức pháp luật chịu sự quyết định của tồn tại xã hội.

Như vậy ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, nó chịu sự quyđịnh của tồn tại xã hội Vào các thời kỳ khác nhau thì thái độ, nhận thức, tìnhcảm, quan niệm, quan điểm của con người về pháp luật là do những điều kiệnkhách quan của các thời kỳ đó quy định Các Mác đã khẳng định: “ Không

Trang 20

phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại chính sự tồn tại

xã hội của họ, quyết định ý thức của họ” [3, tr.15] Tuy nhiên, tồn tại xã hội và ýthức pháp luật luôn có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời nhau

Ý thức pháp luật chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội, tồn tại xã hội có vai trò chiphối, quyết định ý thức pháp luật Do đó khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thứcpháp luật cũng thay đổi theo Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội nhưthế ấy Ví dụ, ý thức pháp luật của người dân trong thời kỳ phong kiến chịu sựquyết định và chi phối của các điều kiện như kinh tế, tập quán, đạo đức… hàkhắc, bóc lột nhân dân nên người dân ở vào thời kỳ này họ thường có tâm lý

“Phép Vua thua lệ làng”, thờ ơ đối với pháp luật, chống đối và coi thường phápluật Tuy nhiên trong điều kiện xây dựng nhà nước Pháp quyền XHCN như ởViệt Nam hiện nay, là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”, với một nền kinh

tế thị trường mở, quyền con người được đề cao đã có tác động mạnh

đến ý thức pháp luật của mỗi công dân Để đảm bảo quyền lợi cho mỗi côngdân và để hội nhập thành công thì ý thức pháp luật của mỗi công dân đangngày càng được nâng cao

* Ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội

Ý thức pháp luật luôn chịu sự chi phối của tồn tại xã hội, tuy nhiên nóluôn có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội, tính độc lập tương đốinày được thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội Ý thức phápluật là sự phản ánh tồn tại xã hội, nên tồn tại xã hội luôn là cái có trước ý thứcpháp luật Do vậy, lịch sử đã cho thấy khi tồn tại xã hội cũ đã mất đi nhưng ýthức xã hội (trong đó có ý thức pháp luật cũ) do nó sản sinh ra vẫn còn tồn tại daidẳng trong một thời gian khá dài Nhiều tư tưởng, tâm lý, quan điểm, quan niệm

và thói quen của quá khứ vẫn tồn tại trong nếp sống, suy nghĩ và hành động củanhiều người dân trong xã hội Ví dụ như tư duy “ tham gia giao

Trang 21

thông đi xe gắn máy công dân phải đội mũ bảo hiểm”, nhiều người dân hiệnnay vẫn luôn có tư tưởng cho rằng đội mũ bảo hiểm là để không bị công an

xử phạt Họ không cho rằng đội mũ bảo hiểm là tuân thủ pháp luật, là bảo vệmình và người khác.Thái độ coi thường, không tôn trọng pháp luật vẫn còntồn tại Hay hiện nay có nhiều ý kiến của nhân dân và dư luận cho rằng: việcphát hiện và xử lý các hành vi phạm pháp luật về chức vụ và tham nhũngchưa tốt, trong đó chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn mới có hành vi

vi phạm này Vậy phải chăng họ nghĩ rằng đối với những người này thì cầnnương tay Tỷ lệ các bị cáo trong lĩnh vực này được Tòa án tuyên cho hưởng

án treo còn nhiều, dẫn đến sự hoài nghi của quần chúng nhân dân và dư luận

xã hội về tính nghiêm minh của pháp luật

Ý thức pháp luật trong những điều kiện nhất định có thể vượt trước tồntại xã hội Trong những điều kiện xã hội nhất định, ý thức pháp luật có thể tồntại cả những quan điểm, quan niệm về pháp luật vượt lên trước sự phát triểncủa tồn tại xã hội và nó có tính chất định hướng cho sự phát triển của xã hộisau này Ví dụ như quan điểm của các nhà tư tưởng lớn trên thế giới CácMác - Ăng ghen về các vấn đề triết học, chính trị, pháp lý những tư tưởngnày đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị về thời đại

Tính kế thừa của ý thức pháp luật trong quá trình phát triển Trong quátrình phát triển của mình, ý thức pháp luật luôn giữ lại những tư tưởng, quanđiểm pháp lý của các thời kỳ trước Đặc biệt nếu là những tư tưởng, quanđiểm tiến bộ thì nó sẽ tạo điều kiện cho xã hội phát triển, cho nền chính trị,pháp lý được hoàn thiện và ngược lại sẽ cản trở những nhân tố tích cực trong

xã hội phát triển Ví dụ như tư tưởng “phân chia quyền lực” của Arixtôt từthời cổ đại là một trong những tư tưởng tiến bộ và nó có sự ảnh hưởng sâusắc tới tư tưởng chính trị, pháp lý ngày nay

Sự tác động trở lại của ý thức pháp luật đối với tồn tại xã hội và tác

Trang 22

Ý thức pháp luật có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội theo haihướng tích cực và tiêu cực, nó có sự tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đờisống xã hội Nếu chúng ta có sự nhận thức đúng đắn, có tình cảm, niềm tin vàtôn trọng pháp luật sẽ giúp hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật, tạo ramột trật tự xã hội ổn định và phát triển, giúp cho xã hội phát triển toàn diện vềmọi mặt (kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học…) Ngược lại, nếu chúng tanhận thức không đúng về pháp luật, coi thường pháp luật, không tin tưởngvào pháp luật sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật, trật tự xã hội sẽ rơi vào tình trạngbất ổn, đồng thời ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống chính trị, pháp lý.

Ý thức pháp luật cũng có tác động qua lại đối với các hình thái ý thức

xã hội khác, bao gồm ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thứcvăn hóa… Sự tác động này có thể là tích cực hoặc tác động tiêu cực tùy thuộcvào từng lĩnh vực và giai đoạn cụ thể

Thể chế chính trị của mỗi quốc gia là khác nhau vì vậy ở mỗi quốc giachỉ tồn tại một hệ thống pháp luật duy nhất Những quốc gia theo chế độ

Phong kiến thì có hệ thống pháp luật Phong kiến, còn những quốc gia theochế độ xã hội chủ nghĩa thì có hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Tuy nhiêntrong mỗi quốc gia đó lại cùng tồn tại rất nhiều hệ thống ý thức pháp luật khácnhau, như ý thức pháp luật của các giai cấp (giai cấp thống trị, giai cấp bị trị),các bộ phận, tầng lớp khác nhau trong xã hội Do đó các giai cấp khác nhauthì có ý thức pháp luật khác nhau Mặc dù vậy, nhưng chỉ có ý thức pháp luậtcủa giai cấp thống trị mới được phản ánh trong pháp luật và trở thành ý thứcpháp luật thống trị của mỗi quốc gia Nội dung của ý thức pháp luật phảnánh những nhu cầu về chính trị, thể hiện mối quan hệ của các lực lượng đối vớicác quy định của pháp luật có liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế, chính trị -

xã hội Chẳng hạn, những quan điểm về hình thức nhà nước, chế độ bầu cử vàquyền bầu cử, nguyên tắc làm việc của bộ máy nhà nước…, ý thức

Trang 23

pháp luật cũng thể hiện những nhu cầu về kinh tế, đạo đức văn hóa của giaicấp thống trị và của cả xã hội [19, tr.18].

1.1.2 Cấu trúc và hình thức của ý thức pháp luật

…) đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có Dovây, nếu chủ thể có thái độ đúng đắn đối với pháp luật, tin tưởng vào phápluật thì họ sẽ luôn có ý thức tôn trọng pháp luật, tự giác chấp hành pháp luật

và ngược lại

Tâm lý pháp luật là một bộ phận của tâm lý con người, cho nên nócũng có những đặc điểm chung giống với tâm lý con người Nó được hìnhthành một cách tự phát qua quá trình con người tham gia vào các quan hệpháp luật mà nhà nước đặt ra, nó chịu sự tác động mạnh mẽ từ các yếu tố chủquan và khách quan như môi trường sống, từ văn hóa, từ gia đình, từ nhàtrường…, nó có tính lan truyền từ người này sang người khác, đồng thời nóthường thiếu tính ổn định (nay thích, mai ghét)

1.1.2.2 Hệ tư tưởng pháp luật

Là tổng thể các tư tưởng, học thuyết, trường phái lý luận, quan điểmkhoa học về pháp luật Nội dung phản ánh, luận giải trong tư tưởng pháp luậtbao quát hầu hết các lĩnh vực cơ bản của đời sống nhà nước và pháp luật: Vaitrò, giá trị, chức năng của pháp luật; cách thức xây dựng, kỹ thuật xây dựng

Trang 24

pháp luật và áp dụng pháp luật; quan điểm về các loại nguồn pháp luật; cácquyền và nghĩa vụ pháp lý; hoạt động đào tạo, giáo dục pháp luật… Tư tưởngpháp luật của nhân loại đã có bề dày lịch sử và thường xuyên có sự kế thừa,

bổ sung hoàn thiện phù hợp với sự tiến bộ xã hội [49, tr.440] Tư tưởng phápluật được biểu hiện thông qua hệ thống các khái niệm, định nghĩa, các lýthuyết, học thuyết về pháp luật như: học thuyết về nhà nước pháp quyền, vềquyền con người, quyền công dân, thuyết phân chia quyền lực… của một sốcác nhà tư tưởng lớn trong lịch sử như: Arixtôt, Monteskiơ, Hêghen, Khổng

Tử, Hàn Phi Tử… Hệ tư tưởng pháp luật thường được hình thành một cách

tự giác thông qua con đường nghiên cứu, học tập, tìm tòi Nó mang tính ổnđịnh, bền vững, mang tính khoa học và có hệ thống Hệ tư tưởng pháp luậtthực chất đó là nhận thức, đó là sự hiểu biết của con người về pháp luật

Giữa tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biệnchứng, tác động lẫn nhau Đây là mối quan hệ giữa tình cảm với nhận thức,thông thường nếu tâm lý pháp luật đúng đắn sẽ là cơ sở, tiền đề để thúc đẩyviệc nghiên cứu pháp luật, qua đó nâng cao trình độ hệ tư tưởng pháp luật,tức là nâng cao nhận thức về pháp luật của con người Đồng thời nếu có một

hệ tư tưởng pháp luật đúng đắn sẽ là cơ sở về mặt nhận thức để định hướngcho việc hình thành tâm lý pháp luật, tức là nếu có nhận thức đúng sẽ có tìnhcảm tốt đối với pháp luật Do đó, trong việc nâng cao ý thức pháp luật, chúng

ta phải chú trọng nâng cao cả tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật

Các hình thức cơ bản của ý thức pháp luật

Theo tiêu chí về mức độ, trình độ và phạm vi nhận thức pháp luật, cóthể chia thành ba loại ý thức pháp luật sau:

Ý thức pháp luật thông thường: Là những quan niệm, nhận thức, tri thức;tình cảm, thái độ của con người, hình thành một cách trực tiếp trong hoạt độngthực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa Ý thức

Trang 25

pháp luật thông thường nhìn chung mới chỉ phản ánh những hiện tượng pháp

lý – xã hội bên ngoài, chưa đi sâu vào bản chất, nội dung bên trong của cáchiện tượng pháp luật [49, tr.442]

Ý thức pháp luật mang tính lý luận: Tồn tại dưới dạng các quan điểm,học thuyết, trường phái khác nhau về pháp luật Phản ánh những mối quan hệbên trong, bản chất của pháp luật Ý thức pháp luật lý luận thể hiện sự nhậnthức về pháp luật và các hiện tượng pháp lý một cách sâu sắc, toàn diện cả vềbản chất, nội dung và hình thức [19, tr.30] Nó có tính ổn định, khoa học và hệthống hơn ý thức pháp luật thông thường

Ý thức pháp luật nghề nghiệp: là ý thức pháp luật của một bộ phậnchuyên sâu về pháp luật như luật sư, kiểm sát viên, thẩm phán… Đó là ý thứccủa những người hoạt động có liên quan trực tiếp đến pháp luật trong các lĩnhvực xây dựng pháp luật, giải thích pháp luật, áp dụng pháp luật… Là loại ýthức pháp luật có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, nó mang tínhchuyên sâu về một lĩnh vực pháp lý nhất định

Theo tiêu chí về chủ thể mang ý thức pháp luật, có thể chia ý thức phápluật thành ba loại sau:

Ý thức pháp luật cá nhân: Là những quan điểm, quan niệm, thái độ,tình cảm, hiểu biết pháp luật của mỗi cá nhân [49, tr.444] Như vậy mỗi cánhân đều có ý thức pháp luật khác nhau, đều có những quan điểm, thái độ,tình cảm khác nhau dành cho pháp luật Ý thức pháp luật cá nhân được hìnhthành và phát triển trên cơ sở các yếu tố như điều kiện sống, kinh tế, chính trị,văn hóa, giáo dục… Ý thức pháp luật cá nhân là sự hiểu biết, là thái độ vềpháp luật của mỗi cá nhân Do vậy, người có ý thức pháp luật đúng đắn, tíchcực sẽ là cơ sở giúp người đó thực hiện pháp luật tốt Ngược lại những ngườicoi thường pháp luật, không tôn trọng pháp luật sẽ dễ dẫn tới các hành vi tiêucực vi phạm pháp luật Hiện nay, hầu hết các quan hệ xã hội (trong đó có cả

Trang 26

cho nên ý thức pháp luật của cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cho các quan xã hội được thực hiện có hiệu quả.

Ý thức pháp luật nhóm: Nhóm được hiểu đó là tập hợp những người cócùng mục đích, nhu cầu và lợi ích… họ có cùng ý chí, cùng thái độ, cùngquan điểm với nhau Do vậy, ý thức pháp luật nhóm chỉ phản ánh những quanđiểm, tư tưởng, thái độ của một nhóm người nhất định đối với pháp luật Cácnhóm xã hội khác nhau thì có ý thức pháp luật khác nhau, như ý thức phápluật của nhóm học sinh khác với ý thức pháp luật của nhóm sinh viên

Ý thức pháp luật xã hội: Là ý thức pháp luật của bộ phận tiên tiến đạidiện cho xã hội Nội dung của ý thức pháp luật xã hội thể hiện các tư tưởng,quan điểm, tư duy khoa học về pháp luật trên tất cả các hiện tượng pháp lý Ýthức xã hội luôn vận động theo xu hướng phát triển của xã hội, thể hiện cơ sở

lý luận, khoa học, tính đại diện, chính thức hóa cho toàn xã hội[49, tr.445].Như vậy, ý thức pháp luật xã hội chứa đựng toàn bộ những tư tưởng, quanđiểm pháp lý về những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật Nó có tính khái quátcao và có sự ảnh hưởng rộng nên nó giữ vai trò định hướng và quyết định đốivới ý thức pháp luật cá nhân và ý thức pháp luật nhóm

Các loại ý thức pháp luật trên đều có những vai trò nhất định đối vớitừng đối tượng trong việc đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật Ýthức pháp luật cao của nhân dân sẽ trở thành một trong những động lực mạnh

mẽ, thúc đẩy tiến bộ xã hội, là cơ sở đảm bảo thi hành pháp luật nghiêm túc,tăng cường và phát triển nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện choviệc hội nhập thành công

1.2 KHÁI NIỆM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC HÌNH THỨC

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật

Xét trong quy trình điều chỉnh pháp luật, thì thực hiện pháp luật là sự

Trang 27

đã rất quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quan

hệ xã hội có hiệu quả, song nếu chỉ chú trọng tới việc ban hành nhiều các loạivăn bản pháp luật thì chưa đủ, bên cạnh đó chúng ta cần phải tổ chức việcthực hiện pháp luật, phải đưa những yêu cầu, quy định của pháp luật đi vàothực hiện trong đời sống, làm cho những yêu cầu và những quy định đó trởthành hiện thực Như vậy, thực hiện pháp luật là phải đưa pháp luật vào thựchiện trong đời sống và làm cho nó pháp huy được vai trò là phương tiện điềuchỉnh các quan hệ xã hội quan trọng nhất Thực hiện pháp luật là hành vikhông phải của riêng cá nhân mà nó bao gồm cả hoạt động của mọi chủ thểtrong xã hội (bao gồm: hoạt động của các cơ quan nhà nước,các tổ chức kinh

tế - xã hội và các đoàn thể…) Nó là một hoạt động có mục đích, được thựchiện một cách tự giác bởi các chủ thể có đủ năng lực chủ thể Từ sự phân tíchtrên, có thể đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật như sau:

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm chonhững quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực

tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật [49, tr.494]

1.2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật

Để hoạt động thực hiện pháp luật đạt hiệu quả, thì các hình thức thựchiện pháp luật, nhằm đưa những quy định của pháp luật vào thực hiện trongđời sống cũng phải rất đa dạng và phong phú Căn cứ vào tính chất và đặcđiểm của hoạt động thực hiện pháp luật thì có các hình thức thực hiện phápluật sau đây:

Tuân theo (tuân thủ) pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật,trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt đ-ộng màpháp luật ngăn cấm

Thi hành (chấp hành) pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật,trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành

Trang 28

động tích cực Những quy phạm pháp luật bắt buộc (những quy phạm quyđịnh nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi tích cực nhất định) được thựchiện ở hình thức này.

Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó cácchủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi

mà pháp luật cho phép) Những quy phạm pháp luật quy định các quyền và tự

do dân chủ của công dân được thực hiện ở hình thức này Hình thức sử dụngpháp luật khác với hình thức chấp hành pháp luật ở chỗ chủ thể pháp luật cóthể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chícủa mình, chứ không bị bắt buộc phải thực hiện

Áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật Trong đó Nhànước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức chocác chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mìnhcăn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, thayđổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Trong trườnghợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự canthiệp của Nhà nước [49, tr.496]

Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật quan trọng, vìluôn có sự tham gia của Nhà nước, thông qua các tổ chức hoặc chủ thể đượcNhà nước trao quyền

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý THỨC PHÁP LUẬT

Ở NƯỚC TA

Ý thức pháp luật là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội chịu ảnhhưởng sâu sắc của các hệ tư tưởng và quan niệm trong xã hội Khi xét đến cácnhân tố ảnh hưởng tới ý thức pháp luật chúng ta phải xét một cách đầy đủ quacác thời kỳ lịch sử, để thấy được sự ảnh hưởng của từng nhân tố tới việc hìnhthành ý thức pháp ở nước ta hiện nay Ý thức pháp luật là biểu hiện trình độ

Trang 29

pháp lý của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, nó được tạo thành bở-i hai bộphận: tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật.

Ở Việt Nam, quá trình hình thành ý thức pháp luật không chỉ tuân thủtheo quy luật chung mà còn mang đặc điểm riêng của quá trình dựng nước vàgiữ nước Việt Nam với nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, liên tục phải đốiđầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược Sự hình thành ý thức pháp luật ởViệt Nam không chỉ được quy định bởi điều kiện kinh tế - xã hội và sự tácđộng qua lại của các hình thái ý thức xã hội khác như đạo đức, chính trị, vănhóa, nghệ thuật mà còn chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng ý thức pháp luậtnước ngoài Do Việt Nam phải đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lượccủa các nước như Trung Quốc, Pháp, Mỹ Nên việc chịu ảnh hưởng của các

hệ tư tưởng ý thức pháp luật của nước ngoài là không tránh khỏi

1.3.1 Ảnh hưởng của lệ làng truyền thống

Lệ làng vốn được xem là công cụ quản lý xã hội trong các làng xãtruyền thống Bên cạnh giá trị tích cực trong việc điều chỉnh mối quan hệ xãhội trên quy mô nhỏ hẹp của làng xã, nhìn chung, lệ làng còn có nhiều yếu tốảnh hưởng tiêu cực tới việc hình thành ý thức pháp luật của mọi tầng lớp nhândân trong xã hội Đó là những cản trở đáng kể cho việc thiết định trong thực tếnguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật, một chuẩn mực của xã hội dân

chủ văn minh, hiện đại

Lệ làng truyền thống là toàn bộ những quy định, lề lối, phép tắc, nhữngphong tục tập quán được hình thành trong các hoạt động của dân làng

trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội văn hóa tín ngưỡng của từnglàng Lệ làng truyền thống quy định điều chỉnh hành vi, ứng xử của conngười trong các hoạt động đó Trước Cách mạng Tháng Tám, ở các làng

xã người Việt đều có những lệ làng thành văn với những tên gọi riêngnhư: Hương ước, Hương biên, Khoán ước, Hương khoán, Hương lệ, Điều lệ

Trang 30

v.v Nhưng dù gọi tên gì chăng nữa thì những văn bản đó đều bao gồmnhững quy ước liên quan đến các lĩnh vực đời sống của từng làng, từng cộngđồng dân cư, mà người ta quen gọi bằng tên phổ biến nhất là Hương ước, tức

là các điều quy ước của làng

Vào thời kỳ này người dân chỉ có thói quen thực hiện theo phong tục,tập quán, lệ làng Tuy còn tản mạn nhưng đã bước đầu hình thành hệ tưtưởng bao gồm những quan điểm, quan niệm pháp luật chủ yếu liên quan tớiviệc phải tập hợp các lực lượng để xây dựng nên một Nhà nước độc lập, tựchủ nhằm chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, phát triển kinh tế xã hộicủa các làng xã thời kỳ đó

Lệ làng truyền thống có sự ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức pháp luậtcủa các tầng lớp nhân dân trong xã hội, đặc biệt là ở yếu tố tâm lý pháp luật.Dân tộc Việt nam ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự hình thành của nềnvăn minh sông Hồng với đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp và canh táclúa nước là chủ yếu Tâm lý duy tình đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ và tưtưởng của con người Việt Nam Do sống quần cư với nhau trong các đơn vịlàng xã với quan hệ “phi nội tắc ngoại” cho nên có mối liên hệ gắn bó khá mậtthiết trên cơ sở của sự gần gũi về huyết thống Quan hệ giữa các thành viênxảy ra trong một phạm vi hẹp và chủ yếu diễn ra trong từng làng, họ sống gắn

bó, gần gũi và hết sức quan tâm lẫn nhau nhưng cũng rất dễ can thiệp vào đời

tư của nhau Nhưng thiết chế làng xã này tạo ra sự độc lập rất cao với cáccộng đồng dân cư khác, giữa làng nọ với làng kia có sự độc lập, có sự táchbiệt riêng rẽ Truyền thống đoàn kết cộng đồng đã giúp cho cộng

đồng người Việt nam giữ gìn được bản sắc của mình, bảo vệ được mìnhtrước sự xâm lược và nguy cơ bị đồng hoá bởi các thế lực ngoại bang Tuynhiên việc tạo ra cố kết bền chặt đó lại tạo nên tính bảo thủ, trì trệ của conngười vì những lý do [46] :

Trang 31

Thứ nhất, sự cố kết cộng đồng đó làm cho con người trở nên -lệ thuộcvào nhau, lệ thuộc vào tập thể, ít có sự độc lập Điều này làm cho con ngườitrở nên thụ động trong các quan hệ, ít dám làm và cũng không dám chịu tráchnhiệm trước tập thể và cá nhân Do vậy dẫn tới sự trì trệ, thiếu tính sáng tạo

và cũng dễ nảy sinh tâm lý ỷ lại, né tránh, không dám đối mặt với thử thách,với những cái mới, với những sự thay đổi cần phải thích nghi Yếu tố cá nhâncàng ngày càng mờ nhạt, không được quan tâm Cũng chính vì vậy mà ý thức

về cộng đồng của con người thì rất cao (do tâm lý e ngại dè dặt, sợ dư luậnnên luôn phải để ý xung quanh) nhưng ý thức về lợi ích cá nhân lại rất thấp.Đây là hai mặt đối lập của một thể thống nhất Ví dụ như trong quan hệ mộtgia đình, một dòng tộc, con người ràng buộc nhau bằng gia quy, gia pháp vì sĩdiện với các dòng họ khác, với làng, với xã nên cá nhân trong gia đình haydòng họ ấy phải tự khép kín, ai về phận nấy với bổn phận của con cái hay củamột thành viên Nhưng thực ra người ta không thực sự quan tâm đến cộngđồng mà làm như vậy cốt để yên thân và khỏi bị ai động đến Đây là nguyênnhân dẫn đến tâm lý thờ ơ, lẩn tránh pháp luật Rõ ràng, đối với việc hìnhthành ý thức pháp luật (mà cụ thể ở đây là yếu tố tâm lý pháp luật), thì đây làmột yếu tố tiêu cực làm hạn chế sự chủ động của con người khi tham gia vàocác quan hệ pháp luật Còn nếu có tham gia vào các quan hệ pháp luật thìcũng là do a dua mà theo nhau một cách tự phát thiếu ý thức, không hiểu gì vềnhững hành vi mà mình đang tham gia Họ dường như không biết đến nhữnghậu quả xấu có thể xảy ra như những hành vi “đánh hội đồng” hoặc tham giavới thái độ tò mò, hiếu kỳ mà không có sự xét đoán độc lập để có thể táchmình ra khỏi cộng đồng để nhìn nhận vấn đề một cách khách qu-an Đâychính là lý do chủ yếu hình thành nên quan niệm trọng lệ hơn luật Lệ chỉ làcái có tính chất cục bộ trong phạm vi hẹp, trong khi đó xã hội càng văn minhthì luật càng có ý nghĩa quan trọng [46]

Trang 32

Thứ hai, người ta dễ chấp nhận tha thứ, bỏ qua cho nhau những lỗi lầm

có thể gây ra sự thiệt hại cho cả cộng đồng, thậm chí cho bản thân Với tâm lý

“dĩ hoà vi quý” Con người ta vì sợ tai tiếng, sợ đụng chạm mà ngại đấu tranhvới những hiện tượng tiêu cực xảy ra với chính mình và với cộng đồng vì sợcộng đồng lên án, sợ bị trả thù Câu tục ngữ “một điều nhịn, chín điều lành” làmột minh chứng cho điều này Về tính tích cực, có thể nói đây là nhân tố thểhiện sự ổn định, đoàn kết của tập thể Nhiều khi người ta chấp nhận một lờixin lỗi, coi trọng lời xin lỗi hơn là việc bồi thường thiệt hại Hẳn nhiên điềunày đã được các nhà lập pháp quan tâm để có quy định bắt buộc trong tố tụngdân sự là thủ tục hoà giải Nhưng xét về tính tiêu cực, thực ra con người làmnhư vậy vì sợ và cũng ngại các thủ tục pháp lý rắc rối khi phải “đáo tụngđình” đặc biệt là tâm lý “được vạ thì má cũng sưng” Mặt khác, người ta làmnhư thế cũng vì muốn bấu víu vào cộng đồng như một chỗ dựa chắc chắn vớitâm lý “xấu chàng hổ ai?” nên không muốn “vạch áo cho người xem lưng”.Tâm lý này không chỉ xảy ra ở trong các cộng đồng dân cư mà còn xảy ra đốivới cả các quan chức khi giải quyết các tranh chấp phát sinh trong xã hội kéotheo việc nghi ngờ các kết quả giải quyết khi cho rằng “con kiến mà kiện củkhoai” nên người ta càng không ý thức về việc phải sử dụng pháp luật nhưmột biện pháp để bảo vệ mình [46]

Thứ ba, tính bảo thủ, trì trệ làm cho người ta nghi ngờ tất cả những gìđến từ bên ngoài, trong đó có cả những những yếu tố tích cực và từ đó sẽ cótâm lý chống đối những gì không phải là của mình, của cộng đồng mình Từchỗ nghi ngờ các giá trị đến từ bên ngoài, người ta có thái độ chống đối,bảothủ, không thừa nhận sự tiến bộ từ bên ngoài, không tiếp nhận hoặc chỉ tiếpnhận khi bị cưỡng bức, cái gì của mình cũng là nhất nên có chuyện “ta về tatắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Ví dụ về phương diện pháp luật,chính sách của các triều đình phong kiến nhiều khi cũng có những mặt tích

Trang 33

cực nhưng đã không được tiếp nhận bởi các làng xã nên “p-hép vua” phải

“thua lệ làng” bởi nói chung quan niệm của các nhà cầm quyền là dùng pháp luật

để cai trị, còn người dân Việt nam cũng như một số dân tộc phương Đông kháccoi pháp luật là hình phạt Một minh chứng cho điều này là các bộ luật lớn củacác nhà nước phong kiến Việt nam đều được gọi là “Quốc triều hình luật” Từ đócon người Việt Nam trở nên bảo thủ, trì trệ và không chịu đổi mới Tâm lýtruyền thống này chắc chắn sẽ trở thành lực cản để cho văn hoá pháp lý Việt nam

có thể đến với và tiếp nhận những thành tựu khoa học pháp lý hiện đại của cácnước tiên tiến trong thời kỳ hội nhập Việc xây dựng nhà nước pháp quyền vớiyêu cầu ngày càng cao về việc các quan hệ xã hội phải

được điều chỉnh bằng pháp luật phải gắn liền với việc hình thành một nền vănhoá pháp lý hiện đại đó, đặc biệt trong quá trình hội nhập như hiện nay [46]

Thứ tư, truyền thống này không khuyến khích người ta sáng tạo ranhững giá trị mới Sáng tạo là chìa khoá của thành công không chỉ đối với các

cá nhân mà còn đối với cả một cộng đồng hay nhân loại Các bộ luật lớn tồntại trong lịch sử của Việt nam có rất ít tính chất độc lập như một sản phẩmthuần tuý do dân tộc Việt nam sáng tạo trừ Bộ luật Hồng Đức có một số phầntương đối độc lập và phản ánh tinh thần dân tộc Bộ luật Gia long gần như là

sự sao chép nguyên xi luật nhà Thanh Vì mối quan hệ họ hàng, anh em, làngxóm nên con người sống theo tình cảm hơn lý trí, vì người ta coi “một trămcái lý không bằng một tý cái tình” cho nên ngay trong hoạt động của các cơquan công quyền cũng rơi vào tình trạng cả nể, từ đó mà sinh ra tâm lý coithường pháp luật [46]

Do lối sống giản đơn cùng với đặc điểm ưa sống hoà bình, không thíchtranh chấp, cho nên pháp luật cũng không đòi hỏi ở mức độ quá phức tạp do

đó không hình thành một nền văn hoá pháp lý có mức độ phát triển cao như ởcác dân tộc hay quốc gia mà các điều kiện kinh tế có sự phát triển phức tạp

Trang 34

Cùng với tư tưởng độc lập dân tộc càng làm cho mức độ nghi ngờ đối với tưtưởng pháp luật đến từ bên ngoài tăng lên Từ tâm lý này, người Việt nam trởnên co cụm lại trong một phạm vi hẹp để tự vệ và cũng từ đó mà hình thànhnên phương thức sản xuất, sinh hoạt có tính chất manh mún nhỏ lẻ và hìnhthành nên tình trạng cục bộ địa phương.

Thứ năm, với xuất phát điểm thấp, là một nước thuần nông nghiệp, conngười chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật Sự thiếu kỷ luật củacon người Việt nam được thể hiện ở thói quen sinh hoạt tuỳ tiện, ít chịu tuânthủ những gì là quy tắc, ràng buộc con người, như không tuân thủ giờ giấcsinh hoạt trong các cuộc họp Người Việt nam chỉ thực sự tuân thủ các quytắc sống khi có sự cưỡng bức Ví dụ khi tham ra giao thông, nếu có cảnh sátgiao thông mọi người chấp hành pháp luật rất nghiêm túc, nhưng nếu không

có cảnh sát giao thông, mọi người sẵn sàng vượt đèn đỏ [46]

Về việc xây dựng một nền văn hoá pháp lý, không thể không nói tớimột sự định hướng cơ bản bằng các chính sách, bằng những quan điểm và ởmức độ cao hơn là một hệ tư tưởng và cũng không thể thiếu một nền dân trítương đối đồng đều được hình thành từ một nền giáo dục quốc dân căn bản.Văn hoá pháp lý không nên và không chỉ được xây dựng trên cơ sở của tâm

lý pháp lý vì tính chất không hệ thống, thiếu ổn định nhưng lại có tính chấtbảo thủ Nó không tạo ra được sự thống nhất trên phương diện xã hội cho vănhoá pháp lý của đất nước Những hạn chế trong tâm lý của người Việt nhưphân tích ở trên càng không phải là nguyên liệu tốt cho việc xây dựng một nềnvănhoá pháp lý hiện đại Hiện nay, có một sự thuận lợi là sự hội nhập của Việtnam với thế giới ngày càng sâu rộng Yếu tố tâm lý cũng đã có nhiều sự thayđổi theo xu hướng tích cực Sự truyền bá các giá trị phổ biến, tốt đẹp của thếgiới và có sự kiểm nghiệm ở Việt nam, trong đó có giá trị của pháp luật nhưgiá trị công bằng, giá trị nhân đạo và giá trị nhân văn mà hầu như cả thế

Trang 35

giới đã thừa nhận ngày càng nhiều và thuận lợi hơn Với Việt n-am, các giá trịđạo đức cũng có nhiều điều khá gần gũi với những giá trị đó như các mụcđích phấn đấu của loài người là chân, thiện, mỹ Do vậy, việc xây dựng vănhoá pháp lý phải có sự dung nạp các yếu tố ngoại lai, qua đó mà làm hìnhthành nên một “thương hiệu” cho văn hoá pháp lý Việt nam như niềm tự hàocủa người Đức về tính kỷ luật, người Nhật về tính cẩn thận, cần cù… để Việtnam hội nhập thêm toàn diện hơn và người Việt nam cũng trở thành một dântộc đáng được kính trọng hơn trong quá trình hội nhập [46].

Từ những phân tích trên có thể thấy, tuy còn những mặt hạn chế, nhưngthực tế lệ làng, văn hóa truyền thống cũng đã có vai trò nhất định góp phần quản

lí xã hội Những mặt tích cực và hạn chế của lệ làng, văn hóa truyền thống đã cóảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành ý pháp luật Việt Nam là một quốc giasống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp truyền thống, mang tính chất tự cấp, tự túc.Tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, do đó, hiển nhiên đặt ra cho chúng

ta nhiều khó khăn, thách thức Từ điểm xuất phát thấp về kinh tế xã hội, ngườidân với truyền thống "phép vua thua lệ làng" và những quan hệ anh em, họ hàng,làng xóm, nên chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật đã ăn sâu vàotiềm thức của mọi tầng lớp nhân dân

Để xây dựng thành công nhà nước Pháp quyền XHCN, thực hiện côngcuộc đổi mới vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh Bởi vậy, cùng với việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần chomọi tầng lớp nhân dân, chúng ta phải tìm cách làm thay đổi nếp sống, thóiquen, ý nghĩ và những thành kiến hàng ngàn năm lịch sử đ-ể xây dựng vànâng cao ý thức và năng lực thực hành pháp luật cho họ Đây là một tất yếukhách quan và cũng là một yêu cầu cấp bách cần đặt ra

1.3.2 Ảnh hưởng của những yếu tố lịch sư

Việt Nam trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, dưới ách đô hộ của

Trang 36

các triều đại phong kiến Trung Quốc, cùng với âm mưu đồng hóa dân tộc ViệtNam Nền văn hóa Trung Hoa là một nền văn hóa lớn trên thế giới, nó có sựảnh hưởng tới nhiều nước trong đó Việt Nam Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởngcòn tùy thuộc vào bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc Việt Nam, nhờ có bản sắc

và sức sống mạnh mẽ của văn hóa dân tộc, đã ngăn cản sự xâm nhập, đồnghóa của tư tưởng pháp luật Trung Quốc, cho nên tuy có bị ảnh hưởng bởi tưtưởng phong kiến Trung Quốc nhưng chúng ta không bị đồng hóa và tưtưởng ngoại bang đó cũng chỉ ảnh hưởng ở một mức độ nhất định, tới cáctầng lớp dân cư nhất định chứ không phải tất cả Chính vì vậy, người dân ViệtNam khi bắt đầu tiếp xúc với pháp luật, hiểu biết sơ khai về pháp luật thì cũngxuất hiện tư tưởng, tâm lý chống lại pháp luật của nhà nước đ’ô hộ Như vậy

tư tưởng pháp luật của người Việt Nam đã có từ thời kỳ Nhà nước sơ khai vànhận thức, hiểu biết về pháp luật chính thức ra đời vào thời kỳ nhà nước bịgiai cấp phong kiến Trung Quốc đô hộ Người Việt Nam với đặc điểm yêunước, tính từ cường dân tộc cao nên đã tìm mọi cách chống lại tư tưởngpháp luật của Trung Quốc

Với chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã giúp Việt Namtrở thành một quốc gia phong kiến độc lập Giai đoạn đầu của chế độ phongkiến độc lập thì Phật giáo lúc này được coi là quốc giáo, đến khoảng thế kỷ

XV, hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị là Nho giáo Có thể khẳngđịnh rằng tư tưởng phong kiến Trung Quốc đã có sự ảnh hưởng đậm nét đến

sự hình thành ý thức pháp luật trong lịch sử Việt Nam, chủ yếu là hai hệ tưtưởng “đức trị” và “pháp trị”

Đức trị là tư tưởng của phái Nho gia là tư tưởng triết học Trung Hoa(cổ đại), với nội dung lấy đức để cai trị đất nước, người trị nước phải họcđạo đức và phải có đạo đức Đại biểu của phái Nho gia là Khổng Tử, ông chủtrương dùng đạo đức làm công cụ trị nước Tư tưởng đạo đức đó đã

Trang 37

ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành ý thức pháp luật trong xã hội phongkiến Việt Nam.

Ở Việt Nam giai đoạn đầu xây dựng nền độc lập quốc gia tư tưởng

“đức trị” thời nhà Lý mang màu sắc Phật giáo, thể hiện: Trọng tu thân, giúpdân, thương yêu và chăm lo cho dân, ý dân là chỗ dựa của vương triều Sangđến đời Trần, tư tưởng “đức trị” mang màu sắc Nho giáo, tư- tưởng “khoanthư sức dân” của Trần Hưng Đạo là phương châm trị nước Chính tư tưởngNho giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến thời kỳ này Nội dung cơ bản của Nhogiáo là lấy đức để cai trị đất nước, do vậy tư tưởng đức trị được thể hiện qua

ý thức pháp luật đương thời

Sang đời nhà Lê, xuất hiện tư tưởng của Nguyễn Trãi là dùng “nhânnghĩa” để trị nước với nội dung là trọng dụng nhân tài, khoan dung sức dân,

sự gương mẫu của người cầm quyền… Bên cạnh đó tư tưởng coi trọng tậpquán, luật tục địa phương vẫn tồn tại và ngày càng được sử dụng rộng rãi.Đây là những nét rất đặc thù so với các dân tộc khác, là ý thức luôn coi lệ lànghơn phép nước [27]

Pháp trị là một hệ tư tưởng lớn của triết học Trung Hoa cổ đại và HànPhi là đại diện của phái Pháp gia (pháp trị) Nội dung của tư tưởng pháp trị làdùng hình phạt nặng nề để trị nước và chu chương dùng pháp luật nghiêm.Trên cơ sở đó lấy pháp luật làm tiêu chí để phân biệt đúng sai, phải coi trọngpháp luật, pháp luật là công cụ quan trọng nhất để trị nước [27]

Tư tưởng pháp trị đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành ý thứcpháp luật ở các triều đại phong kiến Việt Nam Trần Thủ Độ thời nhà Trần đã có

tư tưởng dùng pháp luật để cai trị đất nước, ông chủ chương bảo đảm tínhnghiêm minh, công bằng, bình đẳng trong pháp luật Hồ Quý Ly thời nhà Hồ coipháp luật là công cụ hàng đầu để trị nước, pháp luật triều đại này mang tínhnghiêm khắc, nặng nề hơn so với các triều đại khác trong xã hội phong

Trang 38

kiến Việt Nam Đến thời kỳ Minh Mạng rất coi trọng tính nghiêm minh củapháp luật, kiên quyết và công bằng trong việc xử phạt Ông đề cao vai trò củapháp luật trong việc trị nước, song ông cũng quan tâm đến việc khoan dung,

độ lượng trong xử phạt, tư tưởng của ông là “quân pháp bất vị thân” Đến LêThánh Tông thời nhà Lê, phương châm cai trị đất nước là kết hợp cả hai tưtưởng “đức trị” và “pháp trị” Bộ Luật Hồng Đức ra đời là bộ luật đầu tiên cócác quy phạm pháp luật, đặc biệt là quy phạm pháp luật về hình sự Các quyđịnh của bộ luật này tương đối chặt chẽ, rõ ràng, kết cấu điều luật hầu như có

đủ cả ba yếu tố cấu thành đó là giả định, quy định và chế tài Bộ luật này cáchình phạt rất nghiêm khắc nhưng toát lên một số quy định mang tính chấtnhân đạo như việc xác định quyền và địa vị pháp lý của trẻ em gái, người giàbệnh tật và góa phụ Đây là bộ luật phù hợp và tiến bộ nhất thời bấy giờ [27]

Cùng với sự biến đổi của xã hội từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độphong kiến, tư tưởng pháp luật phong kiến một mặt kế thừa quan điểm thời cổđại, mặt khác hình thành dưới ảnh hưởng sâu sắc của giáo lý và thần quyền Tưtưởng phong kiến bảo vệ một cách triệt để chế độ đẳng cấp đặc quyền phongkiến với những hình phạt tàn bạo đối với hành vi xâm phạm trật tự xã hội Dướithời kỳ của chúa Nguyễn thế kỷ XVI đến XVIII có nhà nước, có pháp luậtnhưng lối sống theo pháp luật còn manh nha, nhận thức pháp luật và tình cảmđối với pháp luật còn nhiều hạn chế Các thành viên trong cộng đồng hầu nhưkhông quan tâm tới pháp luật, phần lớn là tự quản theo phong tục, tập quán, lệlàng và cũng ít được học hành nên người nông dân am hiểu pháp luật khôngnhiều Pháp luật chỉ đến với các quan viên làng xã, giai cấp địa chủ phong kiến

và pháp luật ấy ủng hộ, bảo vệ lợi ích cho các tầng lớp quan chức phong kiến,giai cấp địa chủ Sang thế kỷ XIX thời nhà Nguyễn, mâu thuẫn giữa giai cấpnông dân với chính quyền phong kiến và giai cấp địa chủ ngày càng trở nênquyết liệt Đó là nguyên nhân dẫn đến sự phản kháng của người

Trang 39

nông dân chống lại chế độ phong kiến cùng với pháp luật của nó Dưới thời

kỳ nhà Nguyễn, Nhà nước và pháp luật ngày càng chặt chẽ hơn, do bản chấtcủa pháp luật luôn chống lại đa số lợi ích của người nông dân, nên sự phảnứng, chống đối của nông dân ngày một dâng cao, đặc biệt có hàng loạt cáccuộc nổi dậy Vì vậy, ý thức pháp luật thời kỳ này là ý thức phản kháng,chống đối pháp luật, chống đối chế độ phong kiến suy đồi, pháp luật chủ yếutác động vào ý thức của tầng lớp bên trên, tầng lớp có lợi ích gắn bó với chế

độ phong kiến Còn tầng lớp bên dưới, đa số người lao động là nông dân, họvừa chấp nhận, vừa chống đối quyết liệt ý thức hệ phong kiến, pháp luậtphong kiến Tình cảm của người dân đối với nhà Nguyễn là sợ hãi, thiếu niềmtin Càng về sau pháp luật nhà Nguyễn càng mang tính phản động, hà khắc, dãman, mở rộng hình sự và hình phạt, thi hành pháp luật một cách tùy tiện

Như vậy, dưới thời các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn người dân chưa

có thói quen sống theo pháp luật Chính sự tàn khốc về hình phạt đã làm xuấthiện trong người dân tâm lý, ý thức sợ hãi pháp luật, né tránh pháp luật.Người dân không vi phạm pháp luật là vì họ sợ hãi pháp luật chứ không phải

vì họ ý thức được quyền và nghĩa vụ trong việc tuân thủ pháp luật Do đó, ýthức tuân thủ pháp luật xuất hiện trong giai đoạn này một phần cũng do ngườidân quá sợ hãi với những hình phạt của pháp luật

Tóm lại, tư tưởng pháp luật Trung Quốc nói chung, tư tưởng “đức trị”

và “pháp trị” nói riêng đã ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành ý thức phápluật trong xã hội phong kiến Việt nam Tư tưởng “đức trị” và “pháp trị” đều

có những ưu điểm và những hạn chế lịch sử, phương trâm trị nước chung củacác triều đại phong kiến Việt Nam là kết hợp cả hai tư tưởng “đức trị” và

“pháp trị” Song, xét trên tổng thể thì tư tưởng “đức trị” thường được đónnhận nhiều hơn và áp dụng nó vào công việc trị nước thành công hơn “pháptrị” Cũng có lẽ tư tưởng “đức trị” phù hợp với truyền thống, tập quán phong

Trang 40

Sự phân tích trên cho thấy, tư tưởng pháp luật phong kiến Trung Quốcảnh hưởng đến sự hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam, tiêu biểu là tưtưởng coi trọng “ hình” mà coi nhẹ “luật”, dùng hình phạt hà khắc, tàn bạo đểrăn đe, chứ không quan tâm tới việc giáo dục qua hình phạt đối với nhân dân,việc xử án cũng không theo luật mà theo thị hiếu và theo mức độ lễ lạt rất tùytiện, không nghiêm minh Những việc làm ấy ảnh hưởng tiêu cực đối với sựhình thành ý thức tuân thủ pháp luật, tình cảm đối với pháp luật của nhân dân

ta Đồng thời nó còn ảnh hưởng khá nặng nề đến sự hình thành ý thức phápluật ở Việt Nam hiện nay Nếu gạt bỏ được những hạn chế trong tư tưởng

“đức trị” và “pháp trị”, đồng thời kế thừa những tiến bộ của nó thì tư tưởng

đó lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình hình thành ý thức phápluật Chủ tịch Hồ Chí Minh là tâm gương tiêu biểu cho việc làm này, trên cơ

sở thế giới quan và phương pháp luận mác – xít, Người đã tiếp thu có chọnlọc những nội dung tiến bộ trong tư tưởng “đức trị” và “pháp trị” và vận dụngmột cách tài tình vào công cuộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, xâydựng, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật và đạo đức cho cán bộ,nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và quản lý đất nước nói riêng

Ngày 1- 9 - 1958 thực dân Pháp nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà(Đà Nẵng), mở đầu cuộc xâm lược của Pháp vào Việt Nam Vua quan nhàNguyễn nhu nhược đã để cho thực dân Pháp thống trị nước ta ở Đông Nam

Kỳ, Tây Nam Kỳ đến 25 - 8 - 1883 nhà Nguyễn ký hiệp ước thừa nhận sựthống trị của Pháp trên toàn đất nước Việt Nam Với chính sách cai trị bằngthủ đoạn “chia để trị” Thời kỳ đầu chúng áp dụng cả hai hệ thống pháp luật:Pháp luật nhà nước Phong Kiến Việt Nam (của nhà Nguyễn) và pháp luật củathực dân Pháp áp đặt, cả hai đều giống nhau về bản chất, đều là công cụ để nôdịch và bóc lột người dân Việt Nam Nhưng trên thực tế, chỉ sau một thời gian(đến khoảng 1887) thì pháp luật nhà Nguyễn không còn hiệu lực trên đất nước

Ngày đăng: 17/08/2020, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tổ chức TW Đảng (2002), Tài liệu bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, công chức đảng, đoàn thể ngạch cao cấp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban tổ chức TW Đảng (2002), "Tài liệu bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ,công chức đảng, đoàn thể ngạch cao cấp
Tác giả: Ban tổ chức TW Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chính trị (2005)
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2005
4. Công an tỉnh Phú Thọ (2012), Báo cáo của công an tỉnh Phú Thọ, ngày 26.11.2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công an tỉnh Phú Thọ (2012)
Tác giả: Công an tỉnh Phú Thọ
Năm: 2012
5. Công an tỉnh Phú Thọ (2012), Số liệu thống kê của ngành Công an, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công an tỉnh Phú Thọ (2012)
Tác giả: Công an tỉnh Phú Thọ
Năm: 2012
6. Lê Thị Kim Chung (2006), Vi phạm pháp luật trong giải quyết các vụ án hình sự, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Kim Chung (2006), "Vi phạm pháp luật trong giải quyết các vụán hình sự
Tác giả: Lê Thị Kim Chung
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2006
7. Hà Chuyên (1992), “Nghĩ về đổi mới tƣ duy trong Văn hóa nghệ thuật hiện nay”, Tạp chí triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Chuyên (1992), “Nghĩ về đổi mới tƣ duy trong Văn hóa nghệ thuậthiện nay”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Hà Chuyên
Năm: 1992
8. Lương Thanh Cường (2004), “Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước”, Dân chủ và pháp luật, (6), tr. 21 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lương Thanh Cường (2004), “Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũcán bộ, công chức nhà nước”, "Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Lương Thanh Cường
Năm: 2004
9. Diurighin (1986), Pháp luật, chính trị, đạo đức và ý thức pháp luật xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diurighin (1986), "Pháp luật, chính trị, đạo đức và ý thức pháp luật xãhội
Tác giả: Diurighin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
10. Phan Đại Doãn – Nguyễn Toàn Minh (1997), Một số vấn đề làng xã Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Đại Doãn – Nguyễn Toàn Minh (1997), "Một số vấn đề làng xãViệt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn – Nguyễn Toàn Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
11. Phan Hồng Dương (2009), “Giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên:Thực trạng và giải pháp”, Nghiên cứu lập pháp, (6), tr.36 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Hồng Dương (2009), “Giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên:Thực trạng và giải pháp”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Phan Hồng Dương
Năm: 2009
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam (1987), "Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
13. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (giữa nhiệm kỳ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII (giữa nhiệm kỳ)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
14. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. Bùi Xuân Đính (1998), Quản lý làng xã, Nxb Khoa học xã hội, tr.137 – 153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý làng xã
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
18. Nguyễn Minh Đoan (2004), “Yếu tố tâm lý pháp luật trong quá trình nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học pháp luật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố tâm lý pháp luật trong quá trìnhnâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Khoa học phápluật
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2004
19. Nguyễn Minh Đoan (2011), Ý thức pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức pháp luật
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia -sự thật
Năm: 2011
20. Trần Ngọc Đường – Dương Thanh Mai (1996), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về giáo dục phápluật
Tác giả: Trần Ngọc Đường – Dương Thanh Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
21. Trương Thị Hằng (2012), “Tăng cường giáo dục pháp luật về phòng, chống tội phạm nhằm nâng cao ý thức pháp luật của công dân về bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở”, Dân chủ và pháp luật, (10), tr. 12 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường giáo dục pháp luật về phòng,chống tội phạm nhằm nâng cao ý thức pháp luật của công dân về bảo vệan ninh trật tự ở cơ sở”, "Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Trương Thị Hằng
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w