1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn pháp luật về gia đình từ góc độ lý luận và thực tiến theo luật HNGĐ năm 2014

143 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 174,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nóicách khác, quan hệ gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng, Trước thực tiễn đó đòi hỏi phải nghiên cứu để làm sáng tỏ về gia đình từ đóxây dựng những quy phạm pháp luật điều chỉnh các

Trang 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH

1.1 Khái niệm gia đình

1.1.1 Gia đình dưới góc độ triết học

1.1.2 Gia đình dưới góc độ xã hội học

1.1.3 Gia đình dưới góc độ Luật học

1.1.3.1 Gia đình theo pháp luật một số nước trên thế giới

1.1.3.2 Gia đình theo pháp luật Việt Nam

1.2 Khái niệm thành viên gia đình

1.3 Các chức năng cơ bản và đặc điểm của gia đình trong điều kiện kinh tế

xã hội hiện nay

1.3.1 Các chức năng cơ bản của gia đình

1.3.2 Đặc điểm của gia đình Việt Nam

1.4 Những yếu tố chi phối đến sự hình thành và phát triển của gia đình

trong các giai đoạn lịch sử

1.4.1 Đạo đức 1.4.2 Văn hóa, phong tục tập quán 1.4.3 Kinh tế - xã hội – khoa học kỹ thuật

Trang 2

tháng Tám đến nay

1.6 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về gia đình

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH VỀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

2.1 Quan hệ giữa vợ và chồng

2.1.1 Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

2.1.2 Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng

2.1.3 Quyền đại diện giữa vợ và chồng

2.1.4 Chấm dứt hôn nhân

2.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con

2.2.1 Việc xác định cha, mẹ, con

2.2.2 Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con

2.3 Quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình

2.3.1 Quan hệ giữa anh, chị, em với nhau

2.3.2 Mối quan hệ giữa ông bà và cháu

2.3.3 Quan hệ giữa cô, dì, chú, bác, cậu ruột và cháu ruột

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIA ĐÌNH

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIA ĐÌNH

Trang 3

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về gia đình

3.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Số thứ

tự

1 Luật HN&GĐ Luật hôn nhân và gia đình

7 Nghị định

126/2014/NĐ-CP

Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng

12 năm 2014 Quy định chi tiết một số điều

và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và

Trang 5

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Lời nói đầu của Luật HN&GĐ năm 2000 đã thể hiện tầm quan trọng của gia

đình: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”.

Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Mỗi ngành khoahọc có cách nhìn khác nhau, nghiên cứu về gia đình với những mục tiêu khác nhau.Nói đến gia đình là nói đến các thành viên gia đình cùng chung sống, đùm bọc vàgiúp đỡ nhau Dưới góc độ pháp lý, nghiên cứu về gia đình nhằm xác định thànhviên gia đình, mối quan hệ giữa những thành viên gia đình để từ đó quy định nghĩa

vụ và quyền tương ứng đối với mỗi thành viên Trải qua các thời kỳ, thành viên giađình cũng có sự thay đổi nhất định Tuy nhiên, xác định quan hệ gia đình vẫn dựatrên các mối quan hệ chính là quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệnuôi dưỡng Gia đình cơ bản được xây dựng trên cơ sở nền tảng của các mối quan

và các con của người nhận nuôi với người con nuôi Pháp luật HN&GĐ Việt Namhiện hành không sử dụng các thuật ngữ mà trong đời sống hàng ngày người ViệtNam vẫn sử dụng như quan hệ họ hàng, thân thuộc

Trang 6

Gia đình được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa các thành viên gia đình.Khái niệm gia đình và khái niệm thành viên gia đình có mối liên hệ mật thiết, chặtchẽ với nhau Tuy nhiên, có thể nhận thấy có sự không phù hợp giữa lý luận và đờisống thực tiễn trong việc xác định thành viên gia đình Dưới góc độ pháp lý, cácmối quan hệ giữa các thành viên gia đình chưa được điều chỉnh đầy đủ, chưa rõràng và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Ví dụ: Trong quan hệ nuôi dưỡng, mốiquan hệ giữa người được nhận nuôi với những thành viên khác trong gia đình cha

mẹ nuôi, quan hệ chung sống giữa những người họ hàng trong cùng gia đình, quan

hệ cụ và chắt, quan hệ giữa con dâu và cha mẹ chồng Từ việc không có quyphạm pháp luật điều chỉnh nên không định hướng cho hành vi của các thành viêntrong gia đinh, dẫn đến các thành viên gia đình có thể có những hành vi xâm phạmquyền và lợi ích hợp pháp của nhau Hơn nữa, Việt Nam hiện đang hội nhập vớinền kinh tế thế giới, trong đó sự tương đồng của các quy phạm pháp luật cũng làđiều cần thiết và tạo điều kiện tốt hơn cho hội nhập Tìm hiểu quy định của phápluật một số nước ở Châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, In-Đô-Nê-Xi-a cũng dễdàng nhận ra quy định về thành viên gia đình của những nước này rất rộng Nóicách khác, quan hệ gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng,

Trước thực tiễn đó đòi hỏi phải nghiên cứu để làm sáng tỏ về gia đình từ đóxây dựng những quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình,sao cho các hành vi của các thành viên gia đình phù hợp đúng chuẩn mực đạo đức

xã hội Nghiên cứu đề tài “Gia đình trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”

nhằm phục vụ cho mục đích đó

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trang 7

Hiện nay đã có nhiều học giả nghiên cứu về gia đình, không chỉ có riêngngành luật mà nhiều ngành khoa học khác cũng nghiên cứu vấn đề này Trong lĩnhvực pháp luật, chuyên ngành Luật HN&GĐ đã có nhiều bài viết về các khía cạnhcủa gia đình như: Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng; quan hệ cha mẹ con, … Một

số công trình nghiên cứu đã đề cập đến thành viên gia đình như: Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập I – Gia đình , NXB Trẻ TP.HCM của TS.Nguyễn Ngọc Điện (2002); Việt Nam dân luật lược giảng – Luật gia đình.

Quyển tập 1, tập 1 của Vũ Văn Mẫu (1973); Ngoài ra còn có các cuốn sách chuyên

khảo về những vấn đề liên quan đế hôn nhân và gia đình: Hỏi đáp về chế độ kết hôn và ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình 2000 do tác giả Lê Thi biên soạn, NVB Khoa học xã hội (2004); Gia đình Việt Nam quan hệ quyền lực và xư hướng biến đổi do tác giả Vũ Hào Quang do NXB Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm

2006 PGS.TS Nguyễn Văn Cừ đã viết nhiều cuốn sách khác nhau như: Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (NXB Tư Pháp), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình 2000 xuất bản

năm 2002 (NXB Chính trị quốc gia) Bên cạnh đó còn có nhiều luận văn, luận ánhay những khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về những vấn đề khác nhau trong hônnhân và gia đình Tuy nhiên, những tác phẩm này mới chỉ phân tích một số quan

hệ cụ thể trong gia đình chưa có cách nhìn một cách hệ thống về gia đình

Đây là công trình nghiên cứu về gia đình một cách có hệ thống và hoàn chỉnhtheo luật HN&GĐ 2014, có sự so sánh đối chiếu với công trình nghiên cứu củamột số ngành khoa học khác, có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để đánh giá sựđiều chỉnh của pháp luật về gia đình một cách phù hợp nhất Công trình là cái nhìnxuyên suốt các quy phạm pháp luật quy định về thành viên gia đình, mô hình giađình trong hệ thống pháp luật HN&GĐ Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 8

Mục đích của đề tài là nghiên cứu vấn đề lý luận chung về gia đình, cơ sở đểphát sinh, hình thành gia đình, mối quan hệ, quyền và nghĩa vụ của các thành viêngia đình theo quy định của pháp luật HN&GĐ Đồng thời nghiên cứu thực tiễn ápdụng pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên gia đình, từ đó làm rõnhững điểm đã đạt được, vướng mắc hạn chế cần khắc phục, hoàn thiện

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận gia đình từnhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là từ góc độ luật HN&GĐ Nghiên cứu về cácmối quan hệ tạo thành gia đình theo luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014, trên cơ sởphân tích, so sánh với các quy định điều chỉnh quan hệ gia đình trong các văn bảnpháp luật trước đây Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định điềuchỉnh về gia đình trong cuộc sống hiện tại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về gia đình theo quan điểm luậthọc; những quy định của pháp luật HN&GĐ điều chỉnh về gia đình và các mốiquan hệ giữa các thành viên trong gia đình; Thực tiễn thực hiện các quy định củapháp luật về gia đình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của luận văn, vấn đề gia đình được xem xét, nghiên cứu theoLuật HN&GĐ năm 2014 theo 3 mối quan hệ cơ bản tạo thành gia đình là quan hệgiữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên kháctrong gia đình Trong quá trình nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu với các quyđịnh điều chỉnh về gia đình trong hệ thống pháp luật HN&GĐ Việt Nam Trên cơ

sở đó đánh giá về hiệu quả điều chỉnh, việc áp dụng các quy định hiện hành về gia

Trang 9

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin với phép biện chứng duy vật và lịch sử, gắn kết tư tưởng Hồ Chí Minh vàquan điểm đường lối của Đảng và pháp luật nhà nước về vấn đề gia đình trongpháp luật HN&GĐ

Mác-Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sửdụng để thực hiện đề tài cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đốichiếu, hệ thống, diễn giải, quy nạp để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra

6 Tính mới và đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tương đối toàn diện, có hệthống về sự điều chỉnh của pháp luật về gia đình từ góc độ lý luận và thực tiếntheo Luật HN&GĐ năm 2014

Luận văn đã phân tích khái quát trên cơ sở khoa học để xây dựng khái niệmgia đình và thành viên gia đình, cũng như khắc họa được những chức năng cơ bảncủa gia đình trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, để từ đó làm rõ cơ sở xâydựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình hiện naymột cách hiệu quả

Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh gia đình về quyền

và nghĩa vụ giữa các thành viên gia đình, tính khả thi, hiệu quả điều chỉnh cũngnhư những vướng mắc, bất cập còn tồn tại cần khắc phục, sửa đổi và đề xuấthướng hoàn thiện

7 Kết cấu của Luận văn

Trang 10

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về gia đình

Chương 2 Nội dung điều chỉnh về gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2014

Chương 3 Thực tiễn thực hiện các quy định về gia đình và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH 1.1 KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH

1.1.1 Gia đình theo quan điểm triết học

Triết học nghiên cứu gia đình trong quá trình phát triển của lịch sử và các hìnhthái kinh tế - xã hội Theo quan điểm triết học, hôn nhân và gia đình không ngừngvận động và phát triển Theo C.Mac – Ph.Anghen thì quan hệ hôn nhân tương ứng

có với ba giai đoạn phát triển của nhân loại: Ở thời đại mông muội có chế độ quầnhôn; ở thời đại dã man có chế độ hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh có chế độmột vợ một chồng [2; tr.55 - 129]

Gia đình là một phạm trù lịch sử, các hình thái và chức năng của gia đình là

do tính chất của quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội cũng như trình độ phát triển vănhóa của xã hội quyết định Trong lịch sử của xã hội loài người đã trải qua bốn hìnhthái gia đình, đó là gia đình huyết tộc, gia đình pu-na-lu-an, gia đình cặp đôi, giađình một vợ một chồng

Gia đình huyết tộc là hình thái gia đình đầu tiên trong lịch sử Lúc này các

quan hệ hôn nhân hình thành theo thế hệ: Trong phạm vi gia đình, tất cả ông và bàđều là vợ chồng với nhau; các con của ông bà tức là các người cha và các bà mẹcũng là vợ chồng với nhau; đến lượt con cái của những người này tức là cháu củaông bà cũng hợp thành một nhóm vợ chồng thứ ba; đến lượt con cái của nhữngngười con ấy là chắt của ông bà lại hợp thành nhóm vợ chồng thứ tư Như vậy,những người cùng thế hệ là vợ chồng của nhau, những người khác thế hệ không cóquyền và không có nghĩa vụ vợ chồng với nhau Quan hệ hôn nhân được ngăn cấmlần đầu tiên theo hệ dọc giữa các thế hệ Các nhóm hôn nhân được hình thành theo

Trang 12

thế hệ và chỉ được phép quan hệ tính giao với nhau trong phạm vi nhóm đó Vìcấm quan hệ tính giao theo hệ dọc trên cơ sở huyết thống trực hệ giữa các thế hệvới nhau, nên gia đình này được gọi là gia đình huyết tộc.

Gia đình pu-na-lu-an: Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, một

hay nhiều nhóm chị em gái trở thành vợ chung của cộng đồng những người đànông khác không cùng họ mẹ; còn những anh em trai cùng mẹ của họ lại trở thànhchồng chung của cộng đồng và những chị gái khác Bằng cách này mà từ hình tháigia đình huyết tộc đã xuất hiện hình thái gia đình pu-na-lu-na Theo hình thái giađình pu-na-lu-an, một số chị em gái cùng mẹ hay xa hơn đều là vợ chung của một

số người chồng, trừ những anh em trai cùng mẹ của những người chị em gái này.Ngược lại, một số người anh em trai sẽ là người chồng chung của các chị em gái,trừ những chị em gái do cùng một mẹ đẻ ra Lúc đó, những người này gọi nhau là

“người bạn đường” hay “người cùng hội cùng thuyền” Một cách tương tự, một số

anh em trai cùng mẹ hoặc xa hơn, đều lấy chung một số vợ không phải là chị emgái của họ và những người vợ ấy đều gọi nhau là pu-na-lu-a Đây là hình thức cổđiển của một kết cấu gia đình có đặc trưng là: Chung chồng, chung vợ với nhautrong phạm vi nhất định, nhưng phải loại trừ những anh em trai của các người vợ,đồng thời cũng loại trừ những chị em gái của những người chồng

Gia đình cặp đôi: Là một loại hình thức kết hôn từng cặp, lúc bấy giờ, trong

số những người vợ của mình, người đàn ông có một vợ chính, và trong số nhiềungười chồng khác, anh ta là người chồng chính của người đàn bà ấy Do thị tộc

ngày càng phát triển và những nhóm “anh em trai” và “chị em gái” không còn có

thể lấy nhau được nữa ngày càng nhiều, càng mở rộng và phát triển hơn nữa thì tất

cả những người bà con họ hàng cùng dòng máu đều không được lấy nhau Trongtình trạng cấm kết hôn ngày càng phức tạp thì chế độ quần hôn ngày càng khôngthể thực hiện được, chế độ ấy đang bị gia đình cặp đôi ngày càng lấn át và thay thế

Trang 13

Một người đàn ông sống với một người đàn bà với một sự gắn bó với nhau rất lỏnglẻo, mối liên hệ vợ chồng vẫn có thể bị bên này hay bên kia cắt đứt một cách dễdàng và con cái lúc này cũng chỉ thuộc về người mẹ.

Gia đình một vợ một chồng: Gia đình một vợ một chồng nảy sinh từ gia đình

cặp đôi, nó đánh dấu cho buổi ban đầu của thời đại văn minh Gia đình ấy dựa trên

sự thống trị của người chồng, nhằm chủ đích là làm cho con cái sinh ra phải có cha

đẻ rõ ràng không ai tranh cãi được và sự rõ ràng về dòng dõi đó là cần thiết, vìnhững đứa con đó sau này sẽ được thừa hưởng tài sản của người cha với tư cách làngười kế thừa trực tiếp Gia đình một vợ một chồng khác với gia đình cặp đôi ởchỗ là quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn nhiều, hai bên không còn có thể tùy ý bỏnhau được nữa

Qua bốn hình thái gia đình trên ta thấy triết học nghiên cứu gia đình trong sựvận động và phát triển của nó theo các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Cáchình thái gia đình cũng vận động và phát triển theo quy luật tự nhiên và của sự vậnđộng phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội

1.1.2 Gia đình theo quan điểm xã hội học

Các ngành nghiên cứu về gia đình cố gắng đưa ra khái niệm về gia đình nhưcác nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học, văn hóa… nhưng chưa có ngành nàonghiên cứu về gia đình nhiều như ngành xã hội học Tuy nhiên đến nay vẫn chưa

có một khái niệm thống nhất về gia đình Tùy vào từng lĩnh vực nghiên cứu màmỗi nhà khoa học lại có một khái niệm gia đình riêng phù hợp với lĩnh vực màmình nghiên cứu Có thể nói, chưa có ngành nào lại đưa ra nhiều khái niệm giađình như ngành xã hội học

Trong Tập bài giảng Xã hội học của Trường Đại học Luật Hà nội, nhóm tác

Trang 14

Gia đình là một thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống) Gia đình là một phạm trù biến đổi mang tính lịch

sử và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại Gia đình là trường học đầu tiên

có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội [34; tr.335]

Gia đình – đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung [34; tr.335]

Môn Xã hội học được giảng dạy ở trường Đại học Luật là môn học nhằm mụcđích giúp người học hiểu biết hơn về xã hội nhằm nhanh chóng tiếp cận hiểu biếtpháp luật từ đó thực hiện ba chức năng cơ bản là chức năng nhận thức, chức năngthực tiễn và chức năng tư tưởng Khái niệm gia đình được các tác giả đưa ra cũngkhông nằm ngoài ba chức năng trên Vì vậy, có thể thấy hai khái niệm trên chưaphản ánh một cách đầy đủ về khái niệm gia đình Ngoài hai khái niệm trên thì còn

có những khái niệm khác nhau của các tác giả xã hội học khác khi nghiên cứu vềgia đình

Trong cuốn “Gia đình trong bối cảnh đổi mới”, gia đình được định nghĩa như

sau: Gia đình là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có chung ngân sách Do trong thực tiễn tồn tại nhiều loại mô hình gia

đình nên việc nghiên cứu gia đình và giới trong thời kỳ đổi mới nhằm thực hiệnquản lý xã hội của các nhà quản lý cũng chỉ nghiên cứu những gia đình mang tínhchất tiêu chuẩn Do vậy, khái niệm nêu trên cũng chưa thực sự đầy đủ và bao quáthết mọi gia đình trong xã hội

Trang 15

Khi nghiên cứu xã hội học về “Một số lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học”,nhóm tác giả là GS Phạm Tất Long – TS Lê Ngọc Hùng đã đưa ra khái niệm về

gia đình cho lĩnh vực mình nghiên cứu như sau: Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù,một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi,bởi tính cộng đồng

về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người Khái niệm do nhóm tác giả đưa cũng chưa phản ánh đầy đủ về gia đình

bởi hình thức gia đình rất đa dạng Khái niệm này khá tương đồng với quy định tạikhoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Mặc dù chưa có một khái niệm chung về gia đình nhưng các nhà xã hội họcđều ghi nhận gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, trong đó các thành viên có quan hệquan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng, cùng chung sống.Bởi tính đa dạng của gia đình mà làm cho bất cứ một khái niệm nào về gia đìnhcũng trở nên lỏng lẻo, điều này đã tạo nên nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học,

nó đã và đang thách thức các nhà xã hội học đưa ra một khái niệm về gia đình

Xã hội học coi gia đình là một thể chế xã hội luôn vận động và phát triển Vìgia đình là một thể chế nên mỗi con người từ khi sinh ra đã đặt vào những quan hệnhất định Gia đình là một cơ thể sống, nằm trong quá trình phát triển khôngngừng, gắn với sự phát triển chung của xã hội Khi xã hội phát triển, sự phân chialao động càng được đẩy mạnh, gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa

sẽ dẫn đến sự xé nhỏ gia đình, từ gia đình lớn trong đó có nhiều thế hệ chuyển sanggia đình nhỏ chỉ có bố mẹ và con cái Sự phát triển từ gia đình gia trưởng sang giađình hạt nhân trở thành một quá trình có tính quy luật

Nhìn chung thì các nhà xã hội học vẫn nhìn nhận gia đình là một thiết chế xã

Trang 16

quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng mà chưa có nhà xã hội học nào mởrộng ba mối quan hệ trên khi nghiên cứu về gia đình

1.1.3 Gia đình theo quan điểm luật học

1.1.3.1 Gia đình theo luật một số nước trên thế giới

Gia đình theo luật La Mã:

Nhà nước La Mã rộng lớn ra đời, phát triển và tồn tại trong một thời kỳ dàicủa lịch sử Sự xuất hiện gia đình La Mã là một hiện tượng xã hội tự nhiên mà theo

đó Nhà nước luôn có những quy định nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và giađình theo từng thời kỳ phát triển của lịch sử Do trải qua nhiều thời kỳ khác nhaunên những quy định trong các thời kỳ cũng có nhiều sự khác nhau

Qua nghiên cứu của nhiều học giả, gia đình La Mã là loại hình gia đình phụ hệvới quyền lực của người chủ Pater familias Đó là sự thống nhất giữa vợ, con cái,

họ hàng, kẻ làm thuê và nô lệ dưới sự điều khiển của gia chủ Pater familias – chủ

hộ theo chế độ hôn nhân và gia đình La Mã – là thể nhân có toàn quyền (manus)duy nhất trong gia đình Pater familias tập trung trong tay mọi quyền lực và quyếtđịnh tất cả mọi vấn đề liên quan đến mọi thành viên gia đình Chủ gia – Paterfamilias trong gia đình La Mã là công dân đầy đủ quyền hạn Thuật ngữ familia lúcđầu được dùng để chỉ nô lệ trong thành phần kinh tế gia đình, sau đó được dùng đểgọi tất cả những gì thuộc về kinh tế gia đình: Tài sản và lực lượng lao động, lựclượng lao động trong gia đình La Mã bao gồm vợ, con, họ hàng, nô lệ, kẻ làm thuê.Chế độ gia đình La Mã cổ xưa cũng như chế độ quyền sở hữu lúc đó cònmang dấu ấn của một hình thái đầu tiên, tiền nhà nước – chế độ công xã nguyênthủy mà đặc điểm cơ bản là sở hữu chung về phương tiện sản xuất và sản phẩm laođộng Cùng với sự xuất hiện của nhà nước đã xảy ra sự phân hóa tài sản trong thị

Trang 17

đình này là các gia chủ đầy quyền lực Lúc đầu gia chủ có quyền lực như nhau(manus) đối với vợ, con, nô lệ, đồ vật Sau đó quyền lực nói trên được tách riêngthành quyền lực đối với vợ (manus mariti) và quyền đối với con cái (manus patriapotertas) Gia đình đối ngẫu với sự phụ thuộc vào một gia chủ đã là sự biểu hiện rõnhất về quyền lực gia chủ Pater familias

Vào thời cổ xưa quyền lực của gia chủ là vô hạn Tuy nhiên, dần dần quyềnlực đó cũng bắt đầu có những giới hạn nhất định, manus Pater familias – nội dungquyền lực của chủ hộ qua từng thời kỳ tồn tại phát triển của nhà nước La Mã cũngthay đổi Tư cách của những người phụ thuộc vào gia chủ đã được công nhận trongluật dân sự, những thành viên gia đình về sau đã có quyền tư pháp Sự suy yếuquyền lực của gia chủ là hậu quả của những biến đổi các quan hệ sản xuất của sựtan rã gia đình phụ hệ, sự phát triển thương mại và tiếp theo là sự khẳng định vaitrò của những thành viên lớn tuổi trong gia đình, những người này đã có sự độc lậptương đối Quan hệ họ hàng dần dần đã thay thế cho các quan hệ đối ngẫu Nhưvậy, hình thái gia đình La Mã là hình thái chuyển tiếp của chế độ gia đình phụ hệvới đặc thù quyền lực tập trung trong tay chủ hộ

Với các đặc trưng của thời kỳ bấy giờ nên khái niệm gia đình trong thời kỳ La

Mã theo các tư liệu lịch sử cổ đại là sự liên minh, liên kết giữa chồng, vợ, con, những người thân thuộc ruột thịt và cả nô lệ dưới quyền của chủ hộ[33; tr.39].

Từ khái niệm trên của gia đình La Mã cho thấy trong gia đình của người La

Mã có các thành viên: Chủ hộ, vợ, con cái, họ hàng, nô lệ và người làm thuê.Trong đó chủ hộ (pater familias) là người có quyền lực tuyệt đối, những thành viênkhác trong gia đình như vợ, con cái, những người thân thuộc ruột thịt và nô lệ đượccoi là lực lượng lao động trong gia đình

Trang 18

Gia đình theo pháp luật Mỹ:

Luật gia đình Mỹ có đặc điểm là luật tiểu bang, với nghĩa là mỗi tiểu bang

có luật lệ riêng qui định về hôn nhân và gia đình, chứ không có luật gia đình Mỹtheo nghĩa luật quốc gia và đồng nhất cho toàn liên bang Tuy nhiên, trong ba thậpniên qua các tòa án liên bang cũng như tiểu bang đã đưa Hiến pháp Mỹ, tức hiếnpháp chung cho toàn liên bang, vào lĩnh vực luật gia đình, việc này bắt đầu khiếncho luật lệ về hôn nhân và gia đình một phần nào có tính cách đồng nhất trênphương diện quốc gia

Thực vậy, ở Mỹ, suốt trong chiều dài của lịch sử, quan hệ gia đình, nhất làquan hệ hôn nhân và ly dị, bao giờ cũng do tiểu bang kiểm soát và qui định, căn cứtrên mối giàng buộc quan trọng của tiểu bang đối với gia đình và trên phúc lợi tổngquát của công dân trong tiểu bang Hôn nhân không phải chỉ là quan hệ khế ướcgiữa một người nam và một người nữ, mà là một thân trạng căn cứ trên khế ước và

do luật lệ thiết lập Nó tạo thành một định chế có liên hệ tới những lợi ích cao nhấtcủa xã hội và vì vậy phụ thuộc vào pháp qui của tiểu bang đặt cơ sở trên nền tảngphúc lợi tổng quát của công dân tiểu bang Chẳng hạn, điều 71.003 bộ Luật GiaĐình Texas (2004) đã định nghĩa “gia đình” như sau: “Gia đình gồm những cánhân có liên hệ do huyết thống hay hôn nhân…, những cá nhân là những ngườiphối ngẫu trước của nhau, những cá nhân là cha mẹ của cùng người con, bất luận

đã kết hôn hay chưa, và con nuôi và cha, mẹ nuôi, bất luận những cá nhân đó cósống chung với nhau hay không.”

Vì Mỹ là một quốc gia do nhiều chủng tộc và dân tộc tạo thành nên, mô hình

cư trú và gia đình điển hình thay đổi rất nhiều tùy theo các chủng tộc và dân tộcthành phần đó Mặt khác, mô hình gia đình cũng thay đổi tùy theo tình trạng xã hội

và kinh tế Ví dụ như: Đối với những cặp vợ chồng có lợi tức dưới mức nghèo của

Trang 19

toàn thể dân số thì tỉ số ly dị gần gấp đôi hoặc các người con ngoại hôn cũng cóliên hệ rất chặt chẽ với mức lợi tức thấp kém

Theo định nghĩa truyền thống, luật gia đình bao hàm những quan hệ pháp lýgiữa vợ và chồng và giữa cha mẹ và con cái như là một đơn vị xã hội, chính trị vàkinh tế Trong những năm gần đây, phạm vi của luật gia đình Mỹ đã nới rộng vàbao gồm cả những quan hệ pháp lý giữa những người sống chung với nhau không

có hôn thú, thường được gọi là gia đình phi truyền thống Những phương diệnpháp lý về quan hệ gia đình, dù là truyền thống hay phi truyền thống, bao gồm cảnhững nguyên tắc của luật hiến pháp, luật tài sản, luật khế ước, luật trách nhiệmdân sự, dân sự tố tụng, các qui định thành văn, các phương pháp bổ cứu công bình,hôn sản, quyền cấp dưỡng, v.v Ngoài ra, phạm vi của luật gia đình còn bao gồm cảluật thừa kế không di chúc và kiểm nhận di ngôn, thụ ích an sinh xã hội, bồithường tai nạn lao động, các chương trình tiền dưỡng lão, các lợi ích y tế, tiền bảohiểm, các tố tụng về tổn thất kết hợp, luật thuế khóa tiểu bang và liên bang, v.v., tất

cả đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của hiệu lực một hôn thú, mặc dù một vài lợi ích

kể trên cũng được bao gồm trong pháp qui về cộng đồng hợp tác gia đình trong vàitiểu bang và thành phố

Từ việc phân tích tính đa dạng trong pháp luật hôn nhân và gia đình Mỹ đãcho chúng ta cái nhìn đa chiều và rõ nét hơn gia đình trong xã hội hiện đại Từ đó,giúp ta chắt lọc những ưu điểm, hạn chế những khuyết điểm về việc đưa ra đượckhái niệm chung nhất về gia đình

1.1.3.2 Gia đình theo pháp luật Việt Nam

Luật học nhìn nhận gia đình là sự liên kết của nhiều người có quan hệ vớinhau do có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng

Trang 20

Hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng, là tiền đề để xây dựng gia đình.

Khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích: “Hôn nhân là quan hệ giữa

vợ và chồng sau khi kết hôn” Quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam, nữ được xác

lập khi tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về điều kiện kếthôn và phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn Như vậy,khi một người nam và một người nữ kết hôn với nhau thì giữa hai người này tồn tạiquan hệ hôn nhân và hai người trở thành những thành viên của gia đình

Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con; ông bà và cháu; cụ vàchắt; cô, dì, chú, bác, cậu và cháu; anh chị em với nhau… phát sinh do sự kiệnsinh đẻ Cụ là người sinh ra ông bà và các anh em của ông bà, thế hệ ông bà là thế

hệ tiếp theo của cụ; ông bà là người sinh ra cha mẹ và các anh em của cha mẹ như

cô dì chú bác cậu, thế hệ này lại là thế hệ tiếp theo của ông bà; đến lượt cha mẹ làngười sinh ra các con, các con trở thành thế hệ tiếp theo của cha mẹ Sự nối tiếpgiữa các thế hệ dựa trên sự kiện sinh đẻ để tạo ra thế hệ tương lai, các thế hệ nàyđược sinh ra từ một gốc, nên giữa họ có quan hệ huyết thống với nhau

Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ phát sinh do sự kiện nuôi con nuôi Do việcnhận nuôi con nuôi, người nhận con nuôi được gọi là cha mẹ nuôi và người đượcnhận làm con nuôi được gọi là con nuôi Người con nuôi trở thành thành viên giađình của người nuôi, bình đẳng với những người con đẻ của người nuôi Theo quyđịnh trên người con nuôi có đầy đủ quyền và nghĩa vụ với các thành viên gia đìnhcủa cha mẹ nuôi theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và giađình Người con nuôi sẽ bình đẳng với mọi người con khác trong gia đình về quyền

và nghĩa vụ Những người này có quan hệ với nhau do cùng quan tâm, chăm sóc vàgiúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, cùng nhau xây dựng kinh tế gia đình vàcũng cùng nhau vun đắp phát triển khối tài sản chung của gia đình Trong trườnghợp, nếu một trong số những người này có khối tài sản riêng thì người đó phải

Trang 21

đóng góp tài sản để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thựctiễn của mình Những thành viên gia đình là những người tích cực trong việc giúp

đỡ nhau về mặt tinh thần, là chỗ dựa tinh thần của nhau, là nơi động viên, an ủinhững thành viên khác tốt nhất khi gặp khó khăn, thất bại trong cuộc sống Đồngthời, gia đình cũng là nơi để các thành viên gia đình chia sẻ thành công của nhaumột cách chân tình nhất Các thành viên gia đình có quyền và nghĩa vụ tương ứngvới nhau, nghĩa vụ của người này là quyền của người kia và ngược lại

Không phải gia đình nào cũng có đầy đủ các mối quan hệ nêu trên, trongtừng trường hợp cụ thể, gia đình có thể chỉ có một mối quan hệ như chỉ có quan hệhôn nhân hoặc chỉ có quan hệ nuôi dưỡng, cũng có thể có hai, ba hoặc có nhiềumối quan hệ

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình năm

1986 không giải thích về gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại khoản

10 Điều 8 đã giải thích: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa

vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”.

Theo Từ điển luật học thì gia đình là: “Tập hợp những người gắn bó với nhau

do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình.Gia đình Việt nam thường bao gồm nhiều thế hệ cùng chung sống như: ông

bà, cha mẹ, con cháu… Họ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, sinh đẻ hay nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt nam Gia đình có các chức năng cơ bản: 1) chức năng sinh đẻ; 2) chức năng giáo

Trang 22

hiện chức năng quan tâm và chăm sóc người cao tuổi” [2; tr.282] Giải thích trên

về gia đình tương đồng với khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Từ điển đã giải thích ngắn gọn về gia đình Việt Nam trong đó có các thành viêncủa nhiều thế hệ chung sống, chăm sóc và giúp đỡ nhau, cùng với đó là nêu lênchức năng cơ bản của gia đình

Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Trường Đại học luật Hà Nội đã đưa

khái niệm về gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình như sau: “Gia đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội” Khái niệm gia đình phù

hợp với quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình

Như vậy các khái niệm gia đình trên đều chưa bao quát được các trường hợptrong thực tiễn khi nghiên cứu về thành viên gia đình Trong thực tiễn, gia đìnhkhông chỉ có ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng mà còn cónhững mối quan hệ khác như cấp dưỡng,… nhằm thể hiện sự gắn kết giữa cácthành viên trong gia đình Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả mạnh dạnđưa ra khái niệm gia đình của mình:

“Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống quan hệ nuôi dưỡng hoặc những người ừ ba mối quan hệ đó mà cùng sống chung với nhau, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.”

1.2 KHÁI NIỆM THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH

Tìm hiểu gia đình trong thưc tế cho thấy thành viên gia đình được xác định

Trang 23

hơn so với quy định của pháp luật Thực tiễn xác định thành viên gia đình dựa trên

ba cơ sở

Quan hệ hôn nhân trong thực tiễn không chỉ những người có đăng ký kết hôn

mà bao gồm cả những người chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng

ký kết hôn Giữa những người này có tổ chức đám cưới hoặc không tổ chức đámcưới, họ chung sống với nhau với mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình lâu bền.Người thân của những người có quan hệ hôn nhân sống cùng nhà với nhau vẫnđược xem là thành viên của gia đình Một trong những quan hệ phổ biến của quan

hệ này là con dâu sống cùng cha mẹ chồng, con rể sống cùng bố mẹ vợ Có thể hônnhân giữa người con dâu và người con trai đã chấm dứt khi một trong hai ngườichết hoặc mất tích không làm chấm dứt hôn nhân, nhưng người con dâu vẫn đượccoi là con trong gia đình và là thành viên của gia đình Thực tiễn ghi nhận có nhiềutrường hợp sau khi chồng chết con dâu đã sống cùng cha mẹ chồng, chăm sóc cha

mẹ chồng cho đến khi cha mẹ chồng chết để trọn đạo làm con thay cả cho chồng.Cũng có trường hợp cha mẹ chồng không còn thì người con dâu còn về nhà anhtrai chồng sinh sống để nhờ cậy chăm sóc con cái Trong quan điểm người ViệtNam cho rằng khi đã lấy chồng là thuộc về nhà chồng và là người của dòng họchồng, nếu chồng chết thì anh em bên nhà chồng sẽ có nghĩa vụ thay chồng chămsóc nuôi dạy các cháu Khi đó, người con dâu và các con trở thành thành viên giađình trong nhà anh trai chồng Như vậy, từ quan hệ hôn nhân dẫn đến những ngườiđược xem là thành viên gia đình bao gồm: những người có quan hệ hôn nhân,những người đang tồn tại hôn nhân thực tế và quan hệ giữa những người do quan

hệ hôn nhân mang lại

Quan hệ huyết thống, do đặc điểm của người Việt Nam là tính cộng đồng rấtlớn nên những người thuộc chi, nhánh, họ đều được xem là có cùng huyết thống.Theo quy khoản 17 và 18 Điều 3 luật HN&GĐ 2014 quy định về những người

Trang 24

cùng dòng máu trực hệ và những người có họ trong phạm vi ba Những người cùngdòng máu trực hệ hiển nhiên được xem là thành viên gia đình nếu họ có nơi sinhsống chính ở trong gia đình đó Trong trường hợp nhưng người có cùng dòng máutrực hệ này chuyển đi đến nơi khác sống một thời gian thì tư cách thành viên tronggia đình chính không bị mất đi, như con cái đi học đại học, bố mẹ đi công tác mộtthời gian nhất định Những người có họ trong phạm vi ba đời, những người trong

họ hàng (trừ những người trên) thì chỉ được xem là thành viên gia đình khi họ cùngsống chung trong gia đình Như vậy tư cách thành viên gia đình của những người

có cùng dòng máu trực hệ thì luôn được ghi nhận, từ các thành viên gia đình củanhững người còn lại có quan hệ huyết thống chỉ được ghi nhận khi họ cùng sốngchung trong một gia đình Những người có quan hệ huyết thống trực hệ, trongphạm vi ba đời, họ hàng ở trên suy cho cùng thì họ có chung nguồn gốc

Quan hệ nuôi dưỡng Người con nuôi là thành viên của gia đình người nhậnnuôi con nuôi, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật vềnuôi con nuôi Nhưng nếu trường hợp con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tựnguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi thì quan hệ con nuôi chấm dứt Nhưng thựctiễn thì người con này vẫn là thành viên của gia đình nếu người con này vẫn sốngvới những thành viên còn lại trong gia đình Như vậy những người có quan hệ nuôidưỡng hay đã từng có quan hệ nuôi dưỡng khi sống cùng nhau thì tư cách thànhviên gia đình vẫn được thừa nhận trong thực tiễn

Pháp luật dân sự và hôn nhân gia đình của các nước quy định quan hệ thânthuộc, họ hàng mà không quy định thành viên gia đình Tuy nhiên, Luật phòngchống bạo lực gia đình của một số nước thì có quy định thành viên gia đình

Tại khoản 2 Điều 2 Luật đặc biệt về trừng phạt hành vi bạo lực trong gia đình

của Hàn Quốc giải thích thành viên gia đình như sau: “Các thành viên trong gia

Trang 25

a) Vợ, chồng (bao gồm cả người có hôn nhân thực tế) hoặc bất cứ người nào có quan hệ hôn nhân;

b) Bất cứ người nào đang có quan hệ hoặc đã từng có quan hệ tổ tiên (bao gồm những người có chung huyết thống hoặc những người được nhận làm con nuôi một cách hợp pháp);

c) Bất cứ người nào có quan hệ là con với cha kế hay mẹ kế hoặc là con ngoài giá thú của người phụ nữ mà người này lại kết hôn hợp pháp với cha của người đó;

d) Bất cứ người nào có quan hệ họ hàng và chung sống cùng nhau.”

Phải nói rằng quan điểm của luật pháp Hàn Quốc về thành viên gia đình rấtrộng Ngoài công nhận hôn nhân có đăng ký kết hôn thì luật Hàn Quốc đã côngnhận hôn nhân thực tế, tức là công nhận khi người đàn ông và người đàn bà chungsống với nhau như vợ chồng thì họ được pháp luật công nhận là vợ chồng củanhau Không những thế, luật Hàn Quốc còn công nhận bất cứ người nào có quan hệhôn nhân, điều này có nghĩa là những người đã từng có quan hệ hôn nhân nhưngnay đã không còn nữa thì cũng được xem là thành viên của gia đình khi họ sốngcùng nhau Thành viên gia đình còn được thừa nhận đối với những người đang cóquan hệ hoặc từng có quan hệ tổ tiên hoặc những người có quan hệ họ hàng vàchung sống cùng nhau Khi quy định về thành viên gia đình, luật Hàn Quốc đưa racác điều kiện để được coi là thành viên của gia đình, khi một người thỏa mãn điềukiện do luật định thì trở thành thành viên của gia đình Với cách quy định này, thìviệc xác định thành viên gia đình tương đối dễ dàng Nhìn chung quy định củapháp luật Hàn Quốc về các mối quan hệ để xác định thành viên gia đình rất rộng

Tại Điều 3 Luật phòng ngừa và hiệu chỉnh bạo lực gia đình B.E – Thái Lan

quy định: “Thành viên gia đình gồm có vợ, chồng hoặc vợ chồng đã ly hôn, vợ chồng theo hôn nhân thực tế, con trong giá thú, con nuôi, thành viên trong gia

Trang 26

đình cũng bao gồm bất kỳ người nào sống trong cùng gia đình, trừ trường hợp đó

là người thuê nhà” Theo quy định này cũng cho thấy thành viên gia đình của luật

Thái Lan cũng được quy định rộng hơn thành viên gia đình theo quy định pháp luậtViệt Nam Cũng giống như quy định về thành viên gia đình trong pháp luật HànQuốc thì vợ chồng đã ly hôn và những người sống với nhau như vợ chồng (là hônnhân thực tế theo cách quy định của điều luật) cũng được xem là thành viên của giađình Pháp luật Thái Lan còn thừa nhận thành viên gia đình bao gồm bất kỳ ngườinào sống trong cùng gia đình, trừ trường hợp đó là người thuê nhà Cũng với cáchquy định chung này thì cho ta thấy thành viên của gia đình trong pháp luật TháiLan còn rộng hơn cả pháp luật Hàn Quốc

Quy định về khái niệm thành viên gia đình có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu

đề tài bởi lẽ việc xác định mối quan hệ giữa các thành viên gia đình tạo nên giá trịgia đình Việt Nam với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắcvăn hóa dân tộc Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đìnhViệt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn tồn tại

và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinhtế- xã hội của đất nước Tại Khoản 16 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 quy định

“Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ

kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị,

em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.” Quy định trên liệt kê những người

được coi là thành viên của gia đình dù họ sống chung hay không sống chung vớinhau Những người này được xác định từ trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, huyếtthống, nuôi dưỡng và những người do quan hệ hôn nhân hợp pháp mang lại Thiết

Trang 27

nghĩ với một khái niệm về thành viên gia đình mang tính chất liệt kê như trên sẽhạn chế tính chất của sự phát triển mang tính truyền thống của gia đình Việt Dựatrên những phân tích trên, tác giả rút ra khái niệm về thành viên gia đình như sau:

“Thành viên gia đình bao gồm những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng và những người có mối quan

hệ với nhau do quan hệ hôn nhân hợp pháp mang lại cùng sống chung hoặc không cùng sống chung với nhau nhưng quan tâm, giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần”

1.3 CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA GIA ĐÌNH TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI HIỆN NAY

1.3.1 Các chức năng cơ bản của gia đình

Gia đình là một hiện tượng xã hội có tính chất tự nhiên Bất cứ xã hội nào cũngđều quan tâm tới gia gia đình, tập hợp các gia đình để hình thành nên xã hội.Ngược lại, xã hội muốn tồn tại và phát triển thì cần dựa trên nền tảng gia đình.Theo quy luật tự nhiên, mỗi người khi sinh ra đều có gia đình, lớn lên trong giađình đó Khi trưởng thành lại thành lập một gia đình mới Gia đình có địa vị rấtquan trọng và thường được coi là nền tảng quốc gia Về nguyên tắc để điều chỉnhcác vấn đề liên quan đến gia đình pháp luật thường sử dụng các quy phạm, quyđịnh có tính chất hướng dẫn: Các thành viên gia đình không thể tự ý thỏa thuận gạt

bỏ các điều khoản ấy được Mỗi gia đình được coi là một tế bào của xã hội Để gópphần xây dựng quốc gia vững mạnh thì mỗi gia đình phải vững mạnh Để xây dựnggia đình vững mạnh thì mỗi thành viên gia đình phải có cách xử sự phù hợp Đểmọi người trong gia đình nói riêng và trong cả cộng đồng xã hội nói chung có cách

xử sự phù hợp thì cần có những quy định chung cho cách xử sự đó Do đó, bất kỳquốc gia nào cũng đều dùng pháp luật để điều chỉnh vấn đề gia đình và bắt buộcmọi người trong xã hội phải tuân theo Khi có thành viên không tuân theo thì phải

Trang 28

chịu những chế tài do pháp luật dự liệu Chẳng hạn, Luật Hôn nhân và gia đình quyđịnh nữ từ đủ 18 tuổi trở lên được đăng ký kết hôn thì khi nữ chưa đủ 18 tuổi thìkhông được thỏa thuận kết hôn khi chưa đạt độ tuổi luật định.

Trong gia đình, luân thường đạo lý là yếu tố quan trọng giữ vững trật tự giađình mà ở đó mỗi thanh viên gia đình phải tuân theo Trong mỗi cộng đồng haydân tộc đều đỏi hỏi phải có đạo đức, luân thường đạo lý của cộng đồng, dân tộc đó,song chưa có nơi nào luân thường đạo lý lại được thể hiện rõ nét như trong giađình Lịch sử nhân loại chứng tỏ rằng nền tảng và tổ chức gia đình chỉ bền vững,nếu dựa trên một nền đạo lý nghiêm chỉnh Cũng vì lẽ ấy, ở các quốc gia mà giađình có một tổ chức bền vững, các điều khoản trong luật gia đình thường cũng cóthể coi như những quy chế trong đạo lý Các điều được quy định trong luật có tínhchất luân thường đạo lý như vợ chồng chung thủy, con cái phải thương yêu kínhtrọng ông bà, cha mẹ đã nói lên điều đó

Ở bất kỳ thiết chế xã hội nào thì gia đình cũng có các chức năng cơ bản sau:

Chức năng sinh đẻ (hay còn gọi một cách khác là chức năng tái sản xuất con

người): Là chức năng quyết định, đảm bảo duy trì và phát triển thế hệ tương lai.Gia đình, là nơi các thế hệ tiếp theo được sinh ra, tồn tại và phát triển, là nơi tái sảnxuất ra con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội Chứcnăng sinh đẻ giúp con người duy trì nòi giống từ thế hệ này sang thế hệ khác, đảmbảo một mạch sống liên tục của con người trên hành tinh, duy trì sự phát triển và

ổn định của xã hội loài người Nếu không thực hiện chức năng sinh đẻ, gia đìnhmột ngày nào đó bị tuyệt vong do thế hệ trước chết đi, không còn thế hệ sau pháttriển để thay thế Nhìn rộng ra cả một dân tộc, nếu các gia đình không thực hiệnchức năng sinh đẻ thì các gia đình dần dần sẽ bị lụi tàn, dẫn đến dân tộc đó cũngkhông thể tồn vong Tương tự như vậy, quốc gia bị diệt vong nếu các gia đình

Trang 29

năng sinh đẻ có tính chất quyết định sự tồn vong của một dân tộc, một quốc gia vàcủa cả loài người.

Chức năng giáo dục: Là chức năng chủ yếu của gia đình, nó rất quan trọng

trong việc hình thành, phát triển nhân cách của các thế hệ trong gia đình, đặc biệt

là thế hệ trẻ Giáo dục trong gia đình phải kết hợp với giáo dục nhà trường và giáodục ngoài xã hội Tuy nhiên, gia đình là môi trường giáo dục, môi trường xã hộihóa đầu tiên đối với mỗi con người Gia đình là nơi mỗi con người từ khi sinh rađược học những bài học đầu tiên, trong quá trình hình thành và phát triển conngười được các thành viên gia đình giáo dục, chỉ dạy những điều đúng, sai để nhậnthức và hình thành nên nhân cách của con người Do vậy, gia đình thực hiện chứcnăng giáo dục có hiệu quả hay không phụ thuộc vào nhận thức của các thế hệ đitrước Trong mỗi gia đình, nhận thức về các sự vật, hiện tượng trong xã hội cũng

có thể không giống nhau, đặc biệt là các thế hệ đi trước Thế hệ trước nhận thứcmột cách đúng đắn thì sẽ truyền lại cho thế hệ sau sự nhận thức đó, thế hệ sau có

cơ hội tiếp thu tư tưởng đúng đắn Ngược lại, nhận thức sai lầm của thế hệ trước cóthể dẫn đến việc truyền thụ những nhận thức sai lầm đó cho thế hệ sau Do đó,nhân cách của con người được hình thành và phát triển thông qua chức năng giáodục của gia đình, gia đình có chức năng giáo dục để hình thành tư duy của cácthành viên gia đình đó một cách đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực của xã hội

Chức năng kinh tế: Gia đình được coi như một đơn vị kinh tế cơ bản, độc lập

của xã hội Mỗi gia đình trong xã hội điều tham gia vào quá trình lao động sản xuất

để tạo ra của cải vật chất Của cải vật chất này trước hết dùng để nuôi sống cácthành viên gia đình, làm giàu cho xã hội Mỗi gia đình đều thực hiện các chức năngkinh tế, trong đó đa phần các thành viên gia đình tham gia vào quá trình sản xuất

để tạo ra tài sản cho xã hội và khối tài sản chung cho gia đình Khối tài sản chungnày trước hết được dùng vào việc phục vụ nhu cầu chung của tất cả các thành viên

Trang 30

gia đình, tạo ra tài sản dự trữ cho gia đình Các thành viên gia đình tùy theo khảnăng và năng lực của từng người có trách nhiệm tạo dựng khối tài sản ngày cànglớn hơn Trong một cộng đồng cùng chung sống nhưng các gia đình đều có cáchtạo dựng kinh tế để bảo đảm sự độc lập về kinh tế cho gia đình của mình Ngoàiđảm bảo cơ sở vật chất, kinh tế gia đình còn góp phần tích cực vào việc gia đìnhthực hiện các chức năng xã hội như sinh đẻ, nuôi dạy, giáo giục các thành viên giađình Như vậy, chức năng kinh tế giúp gia đình tạo dựng cơ sở vật chất để đảm bảocuộc sống của các thành viên, giúp thực hiện tốt các chức năng khác của gia đình.

1.3.2 Đặc điểm và mục tiêu của gia đình Việt Nam

* Đặc điểm của gia đình Việt Nam

Có thể nói gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại Đặc biệt trong vàinăm trở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu được cả giớihàn lâm và giới chính trị quan tâm Nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa – đôthị hóa với quy mô và tốc độ ngày càng gia tăng Đồng thời với quá trình này là sựchuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường Cố nhiên, những biến chuyển kinh tế –

xã hội mạnh mẽ đó không thể không tác động sâu sắc đến thiết chế gia đình, mộtthiết chế lâu đời và bền vững song cũng hết sức nhạy cảm với mọi biến đổi đachiều của xã hội Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới vàthích ứng với nhu cầu của thời đại

Đặc điểm của gia đình Việt Nam truyền thống được cho là loại gia đình chứanhiều yếu tố dường như bất biến, ít đổi thay, ra đời từ nôi văn hóa bản địa, đượcbảo lưu và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Là sản phẩm của nền văn minh ÁĐông chịu ảnh hưởng của Khổng giáo: chẳng hạn như trọng nam kinh nữ, con trainối dõi tông đường nhằm lưu truyền nòi giống và thờ phụng, nhớ ơn sinh thành của

Trang 31

tổ tiên, tôn sư trọng đạo, kính trên nhường dưới… Nhưng tựu chung lại có thể kể

ra những đặc điểm mang tính chất truyền thống trong gia đình Việt Nam như sau:

+ Đề cao tính cộng đồng: Gia đình truyền thống được coi là đại gia đình màcác thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống Trong gia đìnhnày có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái màngười ta quen gọi là "tam, tứ, ngũ đại đồng đường" Kiểu gia đình này khá phổbiến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ Nền kinh tế tiểu nông là cơ sởphát sinh và tồn tại của nó Về mặt tâm lý, người Việt Nam luôn có xu hướng quần

tụ con cái xung quanh mình Điều đó thể hiện địa vị chi phối tuyệt đối của tập thểgia đình đối với mỗi thành viên Tinh thần vì lợi ích chung, vừa coi trọng đúngmức vai trò cá nhân đồng thời vừa coi trọng tập thể gia đình

+ Gia đình mang tính Phụ quyền, gia tường được đề cao, chi phối các thànhviên khác của gia đình: ngoài tư tưởng trọng nam khinh nữ, con cái trong gia đìnhthường được mang họ bố Người nam giới trong gia đình có vai trò, vị trí quantrọng trong việc quyết định các vấn đề lớn trong gia đình Trong một cộng đồnglớn mang tính chất huyết thống như gia tộc (dòng họ) người đứng dầu được chọn lànam giới

+ Đặc điểm duy tình: Tình nghĩa trong gia đình người Việt được đề cao nhưtình nghĩa vợ chồng, cha mẹ với con cái, anh trong nhà, tình nghĩa gia đình với họtộc, làng xóm láng giềng…trong cách xử sự thường trọng tình mà ít trọng lý

*Mục tiêu xây dựng gia đình Việt nam trong giai đoạn hiện nay

Gia đình Việt Nam đang trong bước chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đạitrên nhiều phương diện và xu hướng khác nhau Đó là sự chuyển đổi hết sức phứctạp và trong xã hội còn tồn tại những quan niệm khác nhau về giá trị, chuẩn mực

Trang 32

thống nhưng cũng luôn cập nhật, tiếp thu những giá trị văn hóa hiện đại của xuhướng toàn cầu hóa Mục đích hướng tới để phát triển gia đình trong xã hội hiệnnay là xây dựng gia đình: Bình đẳng, no ấm, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững xâydựng trên cơ sở gắn bó tình yêu thương.

Về yếu tố “bình đẳng”: Trước hết, cơ sở của bình đẳng là nhận thức của các thành

viên gia đình theo hướng các gia đình tạo cơ hội bình đẳng và công bằng cho tất cảcác thành viên, trong đó có bình đẳng nam nữ Cơ hội bình đẳng là sự điều hòagiữa văn hóa cá nhân và văn hóa tập thể, giữa nhu cầu của cá nhân và điều kiệnthực tế của gia đình, giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của các thành viên,giữa cơ hội của cá nhân cụ thể với sự nhường nhịn của các thành viên khác Nhậnthức đúng về bình đẳng trong cơ hội sẽ tạo điều kiện cho tất cả các thành viêntrong gia đình được phát triển, không lạm dụng sự hy sinh vô điều kiện của thànhviên này và ưu đãi đặc biệt cho thành viên khác, không tạo sự kỳ thị, phân biệt đối

xử giữa các thành viên Gia đình nào có xử sự công bằng đối với các thành viên sẽtạo được sự đoàn kết bền vững, tính hợp tác tự nguyện và có hiệu quả của cácthành viên Bình đẳng giới là quan điểm hiện đại đối lập với chủ nghĩa nam quyền

“trọng nam, khinh nữ” trong chế độ phong kiến Sự tôn trọng phụ nữ khiến chongười phụ nữ có vai trò chủ động, sáng tạo trong các hoạt động sản xuất, hoạt độnggia đình và cộng đồng

Về yếu tố “no ấm”: No ấm là việc các thành viên trong gia đình bảo đảm sự chu

cấp đầy đủ cho nhau về vật chất nhằm tạo điều kiện cho mọi người phát triển vềthể chất, tinh thần Mặc dù có sự phân tầng xã hội nhưng nhìn chung kinh tế củanhiều gia đình Việt Nam đang tăng lên, đây là cơ sở cho việc thực hiện các tiêu chí

“no ấm” Sự phục hồi nền kinh tế có ảnh hưởng tới cuộc sống của các gia đình.Điều tra xã hội học của Viện Nghiên cứu Giới và Phát triển (năm 2014) về tiêu chí

Trang 33

đẹp” Mức sống kinh tế và văn hóa của nhiều gia đình đã đạt ngang bằng nhiềunước trên thế giới Trên thực tế, hai tiêu chí “ít con” và “no ấm “ đã gắn bó khôngthể tách rời.

Về yếu tố “hạnh phúc”: Để đạt được hạnh phúc, hầu hết những người được hỏi

đều thừa nhận gia đình Việt Nam hiện nay cần phải được kế thừa các giá trị truyềnthống Đó là tình thương yêu trong gia đình, các chuẩn mực về cha mẹ nhân từ, concái hiếu thảo, anh em như thể tay chân, vợ chồng hòa thuận Gia đình là nơi thựchiện giáo dục kiến thức, văn hóa, đạo đức; là nơi các thành viên gắn bó, yêuthương và cùng xây dựng hạnh phúc Bên cạnh đó, gia đình Việt Nam phải kết hợpvới tinh hoa của nhân loại Đó là quyền cá nhân, trong đó có quyền của phụ nữ vàtrẻ em, bình đẳng giới và các tiêu chí văn minh khác Gia đình có hạnh phúc thìmới đảm bảo sự bền vừng, ngược lại, bền vững sẽ củng cố hạnh phúc gia đình vàcác thành viên trong gia đình

Qua phân tích, có thể đi đến kết luận rằng, gia đình Việt Nam đã và đangbiến đổi dưới sự tác động của những biến đổi về kinh tế, xã hội và giao lưu văn hoátoàn cầu Sự biến đổi đó không tách rời hoàn toàn với những đặc trưng của giađình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với những hoàn cảnh và điềukiện xã hội mới Thực tế, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều tháchthức và phải lựa chọn cho mình một khuôn mẫu phù hợp, trong đó có sự cân bằnggiữa việc bảo lưu những yếu tố truyền thống bền vững với những thay đổi khôngngừng của xã hội hiện đại Với khả năng thích ứng cao trên nền tảng văn hoátruyền thống, gia đình Việt Nam vẫn hoàn toàn có khả năng gìn giữ được nhữngnét bản sắc đặc trưng của nó ngay trong điều kiện phát triển của thế giới hiện đại

Trang 34

1.4 NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIA ĐÌNH TRONG CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ

1.4.1 Đạo đức

Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, lương tâm, lối sống, danh

dự, trách nhiệm, và những quy tắc đánh giá mang tính phổ biến chung của mộtcộng đồng xã hội, làng, xã, hay thậm chí là trong phạm vi dân tộc Xã hội loàingười từ trước đến nay luôn luôn tồn tại quan niệm về đạo đức, lối sống mang đặctrưng riêng cửa từng hình thái, kiểu mẫu gia đình, dòng tộc, làng xã Do đó, đạođức được xem như luật bất thành văn của cộng đồng người nhất định nào đó Ởmỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, đặc trưng của cộng đồng xã hội có sự khácnhau về quan niệm đạo đức, lối sống Nhưng, ở bất kỳ giai đoạn nào, cộng đồnghay dân tộc nào quan niệm về đạo đức, sự tồn tại của đạo đức luôn có sự tác động,chi phối tới sự hình thành và phát triển của gia đình - tế bào xã hội Sự tác động,chi phối của đạo đức tới sự hình thành và phát triển của gia đình trong các giaiđoạn lịch sử được thể hiện cụ thể qua các khía cạnh như:

+ Đạo đức là nền tảng cho văn hóa gia đình: Trong một cộng đồng xã hội,dòng tộc, các quan niệm về đạo đức đã được thừa nhận chung luôn luôn tồn tại vàtác động tới sự hình thành của gia đình Gia đình không thể tách rời xã hội, càngkhông thể đi ngược lại văn hóa chung của xã hội Do đó sự tồn tại của đạo đức nhưsợi chỉ kết nối cộng đồng, kết nối các gia đình Các hình thái gia đình cũng bị chiphối bởi đạo đức, quan niệm về cái hay cái đẹp mà hình thành, phát triển qua cácgiai đoạn lịch sử

+ Đạo đức tạo nên điểm chung của cộng đồng, làng xã: Sự hình thành củagia đình từ trước tới nay luôn nằm trong mối quan hệ với xã hội, cộng đồng Đạođức là quan niệm chung về lối sống, thiện ác, tốt, xấu nói chung của xã hội, được

cả cộng đồng, xã hội đó công nhận và tuân theo Gia đình trong sự tồn tại và pháttriển của mình không thể đi ngược lại với những gì đã được công nhận đó

Trang 35

+ Đạo đức điều chỉnh hành vi ứng xử của các thành viên gia đình trên cơ sở

tự giác, phù hợp với tình cảm Do đó đạo đức tác dụng giáo dục con người, xâydựng gia đình theo nền tảng đạo đức chủ đạo trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định

Sự tác động của đạo đức tới sự phát triển và hình thành của gia đình tồn tại ởnhững hướng và khía cạnh đối lập nhau Có những quan niệm đạo đức tồn tại và là

cơ sở cho các quan hệ gia đình tốt đẹp, bên cạnh đó luôn tồn tại những quan niệm

về đạo đức mang tính cổ hủ, lạc hậu sẽ tác động tiêu cực tới gia đình Do đó, tronggiai đoạn lịch sử nào cũng cần phát huy những quan niệm tốt, hợp lý về đạo đức vàxóa bỏ dần những quan niệm có tính tiêu cực để gia đình không ngừng hoàn thiện

và tốt đẹp

1.4.2 Yếu tố văn hóa, phong tục tập quán

Trong mối quan hệ qua lại, yếu tố văn hóa, xã hội, phong tục tập quán cũngđóng một vai trò tác động vô cùng to lớn đến gia đình Văn hóa, phong tục tậpquán thường có sự phân hóa, khác biệt hơn đạo đức Do đó, sự tác đông của nócũng để lại những dấu ấn sâu sắc riêng biệt

Yếu tố văn hóa thể hiện trình độ của xã hội tại thời điểm, không gian, địađiểm nhất định bao gồm nhiều gia đình, xã hội tạo nên những gia đình mang đặctrưng văn hóa trong thời điểm và địa điểm nhất định đó Nền văn hóa phát triểnchung tự thân mỗi gia đình trong nền văn hóa đó là một giá trị văn hóa riêng cộnglại Ngược lại văn hóa đặc sắc, lối sống riêng của từng gia đình có sự tiến bộ, pháttriển mang tính tích cực cho sự phát triển cho nền văn hóa xã hội nói chung Cácnền văn hóa, đặc trưng làng xã tồn tại ở nước ta từ trước đến nay đã tác độngkhông nhỏ tới ý thức, lối sống sinh hoạt của từng gia đình Đó chính là sự tác độngcủa yếu tố văn hóa tới sự hình thành, tồn tại của gia đình nói chung

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với nhiều tập quán tốt đẹp, đa dạng, phongphú Yếu tố phong tục tập quán được hiểu như những sinh hoạt chung được lặp đi

Trang 36

lặp lại truyền từ đời này sang đời khác ở một vùng miền, một khoảng thời gianriêng biệt Như vậy, phong tục, tập quán thực chất là những qui tắc xử sự mangtính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trongmột cộng đồng tự quản (làng, xã, khu vực) Các qui tắc này được sử dụng để điềuchỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng mangtính tộc người hoặc mang tính khu vực Với vai trò như vậy, phong tục, tập quán

và việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình mang những ý nghĩa

cơ bản như phong tục, tập quán là một bộ phận cấu thành căn bản của truyền thống

văn hoá và giá trị đạo đức trong gia đình Việt nam Áp dụng phong tục, tập quán làmột trong các biện pháp cần thiết để bảo vệ các bản sắc văn hoá và chuẩn mực đạođức truyền thống của gia đình Việt nam hiện đang có nguy cơ bị mất dần dưới tácđộng của mặt trái nền kinh tế thị trường và sự mở rộng giao lưu quốc tế

1.4.3 Yếu tố kinh tế - xã hội – khoa học kỹ thuật

Việc xây dựng gia đình hạnh phúc và bền vững là một quá trình không đơngiản mà là một sự khẳng định giá trị của nhiều thành viên, của những trụ cột giađình với hàng lọat các yêu cầu có tính nguyên tắc, trong đó, các yếu tố tâm lý-giáo dục có vai trò không nhỏ Thông thường, gia đình hạnh phúc luôn thể hiệnđược tính bền vững của nó, tuy vậy xây dựng gia đình hạnh phúc và bền vữngvẫn có những yếu tố tác động qua lại cần chú ý Trong quá trình phát triển, giađình luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội Sựhạnh phúc hay nguy cơ tan vỡ của các gia đình có thể bắt đầu từ nhiều nguyênnhân bên trong và bên ngòai gia đình

Gia đình là những hình thức phản ánh đặc thù của trình độ phát triển kinh tế.Trong tiến trình lịch sử nhân loại, các phương thức sản xuất lần lượt thay thế nhau,dẫn đến sự biến đổi về hình thức tổ chức, quy mô và kết cấu gia đình Tất cảnhững bước tiến trong gia đình đều phụ thuộc vào những bước tiến trong sản xuất,

Trang 37

trong trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi thời đại lịch sử.

Đi vào hội nhập và toàn cầu hóa, xã hội Việt Nam đang chịu những tác động tíchcực và tiêu cực, cả về mặt kinh tế và văn hóa xã hội Gia đình, tế bào cơ sở của xãhội, tất yếu có những biến động khi xã hội đang thay đổi, có những đổi mới trongquan hệ giữa các thành viên gia đình, giữa cá nhân và gia đình

Ví dụ sự ảnh hưởng của Internet đối với gia đình, quá trình hội nhập giaolưu, thúc đẩy công nghiệp hoá hiện hoá đang làm thay đổi mọi mặt về kinh tế,chính trị, xã hội đem lại cho cuộc sống người dân Việt một sức sống mới Chínhnhững cám dỗ về chủ nghĩa tiêu thụ vật chất đang huỷ hoại, xói mòn truyền thốngnền luân lý đạo đức của gia đình và xã hội Việt Nam Điều đó đã tác động đến sựbiến chuyến của các thiết chế, các khuôn mẫu văn hoá trong cấu trúc xã hội chẳnghạn như gia đình, nhà trường và các định chế xã hội khác Những thay đổi nàyđang đi vào mọi ngõ ngách trong đời sống con người, in dấu ấn lên từng cá nhân,trong nhận thức và quan niệm sống của họ

1.4.4 Yếu tố tôn giáo

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Như vậy,

tôn giáo có thể được xem như một nguồn lực cả về tinh thần, vật chất và có ảnhhưởng nhất định tới sự phát triển xã hội, chi phối nội tâm và qua đó điều chỉnhhành động cư xử của con người Quan hệ giữa gia đình Việt Nam và tôn giáo, tínngưỡng thể hiện ở ba phương diện:

- Gia đình là một đơn vị xã hội trực tiếp thực hành các sinh hoạt tôn giáo, tínngưỡng;

- Gia đình lưu giữ, bảo lưu các hình thức sinh hoạt tôn giáo thông qua chứcnăng giáo dục, nuôi dưỡng, bảo vệ và hình thành nhân cách cho con người;

- Gia đình tham gia vào quá trình điều chỉnh, định hướng tư duy tôn giáo, pháttriển các giá trị tôn giáo cho các thành viên của mình

Trang 38

Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những hoạt động gắn liền với tâmlinh mà gia đình thường xuyên và liên tục tiến hành để chăm lo cho đời sống tinhthần và tâm linh của mỗi con người, như là điểm tựa tinh thần cho con người mỗikhi lâm vào khủng hoảng Vì vậy, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo phổ biến tronghoạt động tâm linh, tinh thần của gia đình Việt Nam Điều này có yếu tố lịch sử lâuđời từ ứng xử của người Việt Nam là cầu quốc thái dân an, nó có nguồn gốc từ bốicảnh nền văn minh nông nghiệp lệ thuộc vào tự nhiên; xã hội lại chịu nhiều biếnđộng của nạn binh đao, xâm lược; đất nước nằm ở khu vực vành đai biển TháiBình Dương là nơi ngã tư của các luồng khí hậu ảnh hưởng đến môi trường sốngcủa con người Việc tổ chức các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng từ quy mô gia đìnhđến quy mô quốc gia là một trong những hoạt động hướng đến sự an lành, yên ổncủa người Việt Nam Các sinh hoạt này được tổ chức từ khi một con người đượcsinh ra đến khi mất đi; trong các sự kiện lớn của gia đình như xây nhà, lễ cưới,đám ma, giỗ ; khi trong nhà có người bị bệnh, cũng như trong các sự kiện củaquốc gia, làng xã, dân tộc như xuất quân đánh giặc, cầu quốc thái dân an, cầu mùamàng bội thu, cúng Thành hoàng, cúng cơm mới Phần lớn các gia đình Việt Namđều thờ cúng tổ tiên, thờ thổ thần hoặc thổ công, thờ ở nhà mồ Các tôn giáo nhưPhật giáo, Thiên chúa giáo, đã tồn tại ở Việt Nam trong nhiều thế kỷ với sự thamgia của những dòng họ, gia đình qua nhiều thế hệ Chính vì vậy, gia đình cũng lànơi lưu giữ các hình thức sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và lưu truyền nó qua nhiềuthế hệ.

Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trong gia đình Việt Nam không chỉ nhằm củng

cố niềm tin của con người với thần linh, cầu mong sự che chở của các lực lượngphi phàm mà còn có vai trò như sợi dây kết nối giữa quá khứ với hiện tại, giữa conngười với môi trường thiên nhiên, giữa các thành viên trong gia đình với gia tộc,giữa gia đình với cộng đồng làng xã, giữa các vùng lãnh thổ, và làm thành nét nổi

Trang 39

bật trong phương thức ứng xử giữa con người với tự nhiên và xã hộị, hình thànhnét đặc trưng của gia đình Việt Nam

1.5 KHÁI QUÁT SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VỀ GIA ĐÌNH QUA CÁC THỜI KỲ

1.5.1 Gia đình theo quy định của pháp luật phong kiến Việt Nam

Nước ta đã trải qua một thời kỳ dài lịch sử với nhiều triều đại phong kiến thaythế nhau cai trị Các tư liệu về luật cổ đến nay không còn nhiều do nhiều nguyênnhân khác nhau Trong thời kỳ phong kiến nước ta có hai bộ luật tiêu biểu là Bộluật Hồng Đức được ban hành dưới thời Lê và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộluật Gia Long) được ban hành dưới thời Nguyễn Trong thời kỳ này, pháp luật chịu

sự chi phối của một số yếu tố và có đặc điểm chung sau:

Thứ nhất, pháp luật thời kỳ này được quyết định bởi điều kiện kinh tế - xã hội

phong kiến Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nên nó chịu ảnhhưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội của thời kỳ này Trong xã hội phong kiến, sựphân hóa giàu nghèo rất sâu sắc, đặc biệt là hai giai tầng trong xã hội lúc bấy giờ,giai cấp phong kiến và giai nông dân Điều này dẫn đến thành viên gia đình của haigiai tầng xã hội này cũng rất khác nhau Cùng với sự phân hóa giàu nghèo trong xãhội là chế độ trọng nam khinh nữ đã ảnh hưởng đến pháp luật thời kỳ này là bấtbình đẳng giữa nam và nữ, vai trò của người chồng được đề cao và quyền lực giađình tập trung trong tay người chồng

Thứ hai, pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng không nhỏ của Nho giáo và

pháp luật Trung Hoa Nho giáo đã vào Việt Nam rất sớm, nhưng mãi đến nhữngnăm 1460 nhờ vua Lê Thánh Tông mà Nho giáo đã trở thành Quốc giáo và trởthành nền tảng tư tưởng thời bấy giờ Nho giáo đã giúp giai cấp thống trị củng cốđịa vị thống trị được vững chắc hơn Tư tưởng của Nho giáo đã được nhà làm luật

Trang 40

của thời kỳ này đưa vào các quy định của pháp luật và các chế định về hôn nhân vàgia đình cũng không nằm ngoài quy luật đó Do đó, các quy định về hôn nhân vàgia đình cũng chịu chung tư tưởng này Trong thời kỳ phong kiến, nước ta nhiềulần bị Trung Hoa đô hộ, thêm vào đó nhà làm luật cũng đã tham khảo hệ thống luậtTrung Hoa để soạn thảo nên đã bị ảnh hưởng những tư tưởng của luật này, nhưngcác Bộ luật của ta thời bấy giờ đã được lọc bỏ, sửa đổi và sáng tạo đi rất nhiều đểphù hợp với văn hóa, phong tục tập quán của người Việt Nam Cũng vào thời kỳnày, văn hóa Trung Hoa đang có ảnh hưởng rất lớn đối với rất nhiều nước trong đó

có Việt Nam

Thứ ba, pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán Phong

tục tập quán ảnh hưởng đến pháp luật không kém gì ảnh hưởng của Nho giáo vìnhiều nguyên nhân khác nhau như trình độ dân trí thấp, người dân gắn liền vớiđồng ruộng và lũy tre làng nên ít giao lưu với thế giới bên ngoài Những kiến thứcthế hệ sau có được là do học hỏi từ ngay chính những người của thế hệ trước tronglàng về các quy phạm đạo đức, lối sống… nên hệ tư tưởng của họ trở thành phongtục tập quán điều chỉnh các hành vi trong gia đình

Do những yếu tố ảnh hưởng trên mà pháp thời kỳ này có những nét đặc trưng

có ảnh hưởng đến thành viên gia đình là thừa nhận và bảo vệ chế độ đa thê cùngvới bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông trong gia đình

Ở nước ta, tục nhiều vợ (đa thê) đã có từ lâu đời Điều này là do quan niệm cónhiều con là có phúc và phúc là điều đầu tiên để chúc nhau; cần con trai để nối dõitông đường; để có thêm lao động, gia đình quan lại giàu có thì đây là hãnh diện.Trong quan niệm của người xưa, việc người đàn ông có nhiều vợ là chuyện bình

thường “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” Do đó, trong

nhà vào thời bấy giờ, nhất là những nhà giàu có, thường có rất nhiều vợ; không chỉ

Ngày đăng: 17/08/2020, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp, Từ điển luật học, Hà Nội: NXB Từ điển bách khoa Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa Hà Nội
2. C.Mác và Ph.Ăng-Ghen toàn tập, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước - tập 21, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu "và của Nhà nước - tập 21
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
3. TS. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội: NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và "gia đình Việt Nam
Nhà XB: NXB Tư pháp
4. TS. Nguyễn Văn Cừ, Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình - trường Đại học Luật Hà Nôi, Hà Nội: NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình - trường Đại học "Luật Hà Nôi
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
5. Phạm Trọng Cường , Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Hà Nội: NXB Tư pháp, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và "gia đình
Nhà XB: NXB Tư pháp
6. Nguyễn Ngọc Điện, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam: Bình luận khoa học, Hồ Chí Minh: NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam: Bình luận khoa học
Nhà XB: NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh
7. Đỗ Thị Hoa - Hương Lê, Hỏi đáp về chế độ kết hôn và ly hôn: Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội: NXB Công an nhân dân, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về chế độ kết hôn và ly hôn: Theo Luật hôn "nhân và gia đình Việt Nam
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
8. Huỳnh Thị Trúc Giang, Vài suy nghĩ về quy định mang thai hộ trong luật Hôn nhân và gia đình 2014, Cần Thơ: Tạp chí khoa Luật - Đại học Cần Thơ, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về quy định mang thai hộ trong luật Hôn "nhân và gia đình 2014
9. Nguyễn Thị Hạnh, Luận văn Thạc sĩ: Đại diện giữa vợ và chồng theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành. Hà Nội: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ: Đại diện giữa vợ và chồng theo quy định "pháp luật Việt Nam hiện hành
10. Hà Thị Mai Hoa, Luận văn Thạc sĩ: Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình 2000, Hà Nội: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ: Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn "theo luật Hôn nhân và gia đình 2000
11. TS. Ngô Thị Hường, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
12. Đặng Phương Kiệt, Gia đình Việt Nam: Những giá trị truyền thống và các vấn đề tâm - bệnh lý xã hội, Hà Nội: NXB Lao động, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam: Những giá trị truyền thống và các vấn "đề tâm - bệnh lý xã hội
Nhà XB: NXB Lao động
13. Lê Vĩnh Châu - Lê Thị Mận, Tuyển tập bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về hôn nhân gia đình, NXB Lao động, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam"về hôn nhân gia đình
Nhà XB: NXB Lao động
14. Bùi Thị Mừng, Luận án Tiến sĩ: Chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân - vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội: Trường đại học Luật Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sĩ: Chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân - vấn đề "lý luận và thực tiễn
15. Nguyễn Văn Nam, Luật hôn nhân và gia dình và những văn bản có liên quan, Hà Nội: NXB Tư pháp, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia dình và những văn bản có liên quan
Nhà XB: NXB Tư pháp
16. Nghị định 10/2015/NĐ-CP, Quy định về kỹ thuật sinh con trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về kỹ thuật sinh con trong ống nghiệm và
17. Nghị định 126/2014/NĐ-CP, Quy địn chi tiết một số điêu và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 126/2014/NĐ-CP, "Quy địn chi tiết một số điêu và biện pháp thi hành
18. Trần Thu Phương, Luận văn Thạc sĩ: Xác định cha mẹ con theo pháp luật Việt Nam, Hà Nội: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ: Xác định cha mẹ con theo pháp luật Việt "Nam
19. Vũ Hào Quang, Gia đình Việt Nam quan hệ quyền lực và xư hướng biến đổi, Hà Nội: NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam quan hệ quyền lực và xư hướng biến đổi
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
20. Quốc hội nước CHXHCNVN, Bộ Luật dân sự 2005, Hà Nội: NXB Lao động, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật dân sự 2005
Nhà XB: NXB Lao động

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w