1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn - Mô hình gia đình Việt Nam theo Luật hôn nhân và gia đình 2014

95 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 519 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù định nghĩa về Gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có gì thay đổi so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đó là:Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIA ĐÌNH 4

1.1 Các khái niệm 4

1.1.1 Khái niệm gia đình 4

1.1.2 Khái niệm Mô hình gia đình 5

1.2 Bản chất gia đình 6

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình Gia đình và Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam về Gia đình 7

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình Gia đình 7

1.3.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam về Gia đình 11

1.4 Vai trò của Gia đình 17

CHƯƠNG II: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRƯỚC ĐÂY VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 VỀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH 20

2.1 Những quy định của pháp luật trước đây về mô hình gia đình 20

2.1.1 Xác lập quan hệ hôn nhân 20

2.1.2 Thiết lập mối quan hệ giữa cha mẹ và con 27

2.1.3 Chấm dứt quan hệ hôn nhân 34

2.1.4 Nghĩa vụ cấp dưỡng 37

2.2 Những quy định của luật Hôn nhân và gia đình 2014 về mô hình gia đình……… 39

2.2.1 Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình 2014 39

Trang 2

2.2.2 Quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về Mô hình Gia đình 49

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VỀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH THEO LUẬN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN MÔ HÌNH GIA ĐÌNH 62

3.1 Thực trạng mô hình gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 62

3.1.1 Nhìn nhận vấn đề gia đình ở Việt Nam 62

3.1.2 Những sai lầm thường thấy trong các gia đình 71

3.2 Thực trạng trên địa bàn phường Hàng Bột trước khi áp dụng Luật hôn nhân và gia đình 2014 74

3.3 Thực trạng trên địa bàn phường Hàng Bột sau khi Luật hôn nhân và gia đình 2014 được áp dụng 76

3.4 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện Luật hôn nhân gia đình 2014 trên địa bàn phường Hàng Bột 79

3.5 Phương hướng hoàn thiện mô hình gia đình 83

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môitrường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách góp phần vào sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong quan niệm truyền thống, đất nước đượchình dung như một gia đình lớn mà việc tổ chức và vận hành chỉ là sự phóng

to mô hình gia đình nhỏ, gồm những người gắn bó với nhau trên cơ sở quan

hệ huyết thống hoặc hôn nhân

Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành từ khá sớm trong lịch

sử của loài người Ngay từ buổi đầu của lịch sử, khi con người tách khỏi giớiđộng vật và tự tổ chức cuộc sống với tư cách là một cộng đồng độc lập thìcũng là lúc hình thức sơ khai của gia đình ra đời Lúc đầu gia đình chỉ baogồm các thành viên có quan hệ trực huyết với nhau, chủ yếu là những người

mẹ cùng các con, cháu (giai đình mẫu hệ) Sau đó được mở rộng bao gồm cácthành viên khác có thể có cùng huyết thống song cũng có thể không cùnghuyết thống Về quy mô ga đình, lúc đầu số lượng các thành viên gia đìnhtương đối đông có khi lên tới hàng trăm người Về sau, do yêu cầu thích ứngvới cuộc sống ngày càng phát triển của xã hội loài người nên số lượng cácthành viên gia đình giảm dần Mô hình gia đình hiện đại ngày nay, số thànhviên có khi chỉ có từ 01 đến 03 người

Mặc dù định nghĩa về Gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 không có gì thay đổi so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đó là:Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyếtthống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họvới nhau theo quy định của Luật này

Trang 4

Tuy nhiên Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời có rất nhiều điểmmới liên quan đến việc hình thành một gia đình, mối quan hệ giữa nhữngngười trong gia đình sự chấm dứt các mối liên hệ Gia đình Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2014 đã đáp ứng kịp thời các yêu cầu khách quan của đời sốnghôn nhân và gia đình hiện nay, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người,bình đẳng giới và góp phần phát huy các giá trị văn hóa, phong tục tập quántốt đẹp của người Việt Nam

Để có cơ hội được nghiên cứu sâu hơn về mô hình gia đình tôi đã lựa

chọn đề tài “Mô hình gia đình Việt Nam theo Luật hôn nhân và gia đình

2014” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tính mới của đề tài

Do Luật hôn nhân và gia đình 2014 vừa mới có hiệu lực ngày01/01/2015 nên hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu nào về mô hìnhgia đình theo Luật mới Mặt khác đề tài “Mô hình gia đình Việt Nam theoLuật hôn nhân và gia đình 2014” không đi vào nghiên cứu một nội dung cụthể nào mà chỉ đánh giá chung về các quy định của Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2014, tham khảo quy định của một số nước trên thế giới về vấn đề này

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các quy định củapháp luật về mô hình Gia đình hiện nay, xem xét thực trạng quan hệ giữa cácthành viên trong gia đình trong thời gian qua để đưa ra kiến nghị về một sốgiải pháp pháp lý nhằm áp dụng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014một cách hiệu quả

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào các quy địnhcủa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các văn bản hướng dẫn và các tàiliệu trong nước và nước ngoài

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vềNhà nước và Pháp luật, về hôn nhân và gia đình Việc nghiên cứu được thựchiện từ góc độ lý luận chung về hôn nhân và gia đình

Mác-Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích,tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê v.v

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Khái quát chung về Gia đình

Chương II: Những quy định pháp luật nói chung và của Luật hôn nhân

và gia đình 2014 về mô hình Gia đình

Chương III: Thực trạng về Mô hình gia đình theo Luật hôn nhân và gia

đình 2014 và phương hướng hoàn thiện pháp luật

Trang 6

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIA ĐÌNH

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm gia đình

Theo Việt Nam Dân luật lược khảo, so sánh các cách tổ chức gia đìnhtrên thế giới và trong lịch sử, có thể nói rằng trong nhân loại có hai quan niệmchính yếu về gia đình đó là: “Quan niệm cổ ở Đông phương cũng như quanniệm cổ ở La Mã là quan niệm đại gia đình, gồm tất cả các bà con cùng huyếtthống”, trái lại theo quan niệm mới, ở Tây phương cũng như ở Đông phương,gia đình chỉ gồm có hai vợ chồng và các con chưa trưởng thành sống cùng vớicha mẹ”[15]

Theo Từ điển tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người cùng sốngchung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệhôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”[12].Với cách hiểu này, “Gia đình” được cho là một hạt nhân nhỏ nhất để xây dựng

và hình thành nên xã hội Bên trong nội hàm của “Gia đình” thường chỉ baogồm những chủ thể được gắn kết với nhau bằng quan hệ hôn nhân hay quan

hệ trực hệ - có sự liên kết với nhau về huyết thống Do đó, có thể hiểu rằng

“Gia đình” theo Từ điển tiếng Việt là định nghĩa về gia đình theo nghĩa hẹpnhất, không có sự bao hàm các trường hợp thực tế như đối với những gia đình

có quan hệ nuôi con nuôi

Dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào của xã hội[2].Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tốsinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở cáckhía cạnh như: có quan hệ vợ chồng, sinh con và nuôi dạy con cái, lao độngtạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội.Mối liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trênnhững căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát

Trang 7

Dưới góc độ pháp lý, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2014 quy định : Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau hônnhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền

và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của luật này”[6]

Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau vềkhái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những người cùng có tên trong một sổ

hộ khẩu; gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dưới mộtmái nhà…Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia thànhrất nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; giađình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầyđủ…[13,15]

1.1.2 Khái niệm Mô hình gia đình

Đại gia đình là mô hình gia đình được tổ chức theo tộc họ và được đặtdưới chế độ phụ quyền Song quy mô tổ chức của gia đình - tộc họ cũng nhưcách vận hành của chế độ phụ quyền không giống nhau tuy theo gia đìnhđược hình dung ở góc độ kinh tế hay ở góc nghi lễ, tín ngưỡng Ở góc độ kinh

tế, gia đình - tộc họ gồm tất cả những người thuộc các thế hệ khác nhau sốngtrong cùng một nhà (gọi là gia tộc) Gia đình có người đứng đầu gọi là giatrưởng (chủ gia đình) Gia đình, chứ không phải các nhân, là chủ thể củaquyền sở hữu tài sản và việc thực hiện quyền sở hữu đó là của gia trưởng.Cũng chính gia trưởng là người điều hành các công việc thược sinh hoạt nội

bộ của gia đình, kể cả việc dựng vợ, gả chồng cho con, cháu[1]

Ở góc độ nghi lễ, tín ngưỡng, gia đình - tộc họ (còn gọi là dòng họ haytông tộc) gồm tất cả những người có chung một tổ tiên Người đứng đầu giađình gọi là trưởng tộc Các thành viên gia đình có mối quan hệ gắn bó dotrước hết họ có sự quan tâm chung đối với việc thờ cúng tổ tiên cũng như đốivới việc gìn giữ và phát huy truyền thống[13] Những mối quan tâm ấy chỉ

Trang 8

gắn với lợi ích tinh thần Bởi vậy, chế độ phụ quyền xoay quanh nhân vậttrung tâm là trường tộc, có nhiều nét giống với chế độ trưởng giáo của cácgiáo phái Mô hình gia đình - Tộc họ theo chế độ phụ quyền được quyền duytrì trong luật Việt Nam cho đến khi chấm dứt chế độ thuộc địa.

Gia đình - hộ là mô hình gia đình được người làm luật XHCN lựa chọnnhư một biện pháp đấu tranh chống những tàn dư của chế độ hôn nhân và giađình thực dân phong kiến và thúc đẩy quá trình dân chủ hóa trong đời sốnggia đình Việt Nam Tổ chức gia đình gồm cha mẹ và con là đối tượng củanhững quy tắc tạo thành Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Gia đình hộtiếp thục là đề tài chính của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và được chiphố trong Luật này bởi một hệ thống quy tắc khá chi tiết[10,20]

1.2 Bản chất gia đình

Theo Việt Nam dân luật lược khảo:

Về phương diện xã hội, gia đình là nền tảng của quốc gia Theo kinhnghiệm, những người công dân biết làm tron bổn phận đối với Tổ quốc baogiờ cũng là những con người đã hấp thụ một nền giáo dục tốt ở trong gia đình.Trái lại, phần đông những phần tử xấu xa phạm tội lỗi trong xã hội là nhữngngười không có gia đình hoặc bị gia đình ruồng bỏ[15]

Về phương diện chính trị, sự tổ chức gia đình là một vấn đề rất hệtrọng Sự suy vọng hưng thịnh của một quốc gia vốn có liên lạc chặt chẽ vớivấn đề sinh sản tức là vấn đề gia đình Ở nước Pháp chẳng hạn, về đầu thế kỷthứ 20 do sự sinh sản sút kém, dân số đã đứng nguyên trong khi dân số củaĐức đã tăng gia một cách rất đáng lo ngại cho Pháp Vì vậy, chính phủ Pháp

đã phải theo đuổi một chính sách bảo vệ gia đình và từ năm 1939, khuyếnkhích sự lập gia đình và sự sinh sản bằng cách trợ cấp các gia đình đông con

Số tiền trợ cấp cho mỗi gia đình càng lớn nếu số con càng đông Nhờ thế, sựsinh sản sau khi nước pháp được giải phóng đã tăng lên đôi chút [2]

Trang 9

Về phương diện kinh tế, gia đình vón là một đoàn thể kinh tế rất chặtchẽ Hơn nữa, gia đình là một động lực khuyến khích rất mạnh mẽ sự tồn tích

ở trong nước Trong đời sống hàng ngày, có rất nhiều hoạt động kinh tế thíchứng cho khuôn khổ gia đình như: các sự kinh doanh về nông nghiệp, các tiểucông nghệ, các tiểu kỹ nghệ, tiểu thương mại ”[1,11]

Như vậy bản chất của gia đình là dựa trên:

- Quan hệ hôn nhân: là quan hệ giữa người đàn ông với người đàn bà,dựa trên nhu cầu tính giao (sự ham muốn khác giới) được pháp luật công nhậnhoặc không được (không cần) pháp luật công nhận, nhưng có sự thừa nhậncủa cộng đồng theo luật tục (chủ yếu ở những cộng đồng chưa có pháp luật vềgiá thú) hoặc theo các qui định của tôn giáo, tập quán cộng đồng… Quan hệhôn nhân là quan hệ cơ bản của gia đình tạo ra những quan hệ khác và làmnền tảng cho sự bền vững của gia đình

- Quan hệ huyết thống: quan hệ sinh học – xã hội giữa cha mẹ và concái nảy sinh từ quan hệ hôn nhân Quan hệ huyết thống được biểu hiện ở sựgắn bó giữa cha mẹ và con cái và giữa các anh, chị, em cùng cha, mẹ sinh ra

Do sự tiếp nối giữa các thế hệ trong gia đình, ngoài các quan hệ trên còn cócác quan hệ khác: Ông bà và con, cháu, chắt…

- Quan hệ pháp lý và tình cảm: Mối qua hệ giữa các thành viên tronggia đình về quyền lợi, nghĩa vụ, về của cải, tài sản và sự “ cấp dưỡng” nhữngnghĩa vụ tình cảm, những cấm đoán về tính giao giữa những người có cùnghuyết thống gần, hay giữa cha mẹ nuôi và con nuôi…mà pháp luật quy định

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình Gia đình và Sơ lược lịch

sử hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam về Gia đình

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình Gia đình

Theo Ăngghen, các mô hình gia đình trong lịch sử luôn gắn với phươngthức sản xuất và chế độ xã hội nhất định Sự vận động, biến đổi của gia đình

Trang 10

phụ thuộc vào sự vận động và biến đổi của xã hội Gia đình “là sản vật củamột chế độ xã hội nhất định, hình thức đó sẽ phản ánh trạng thái phát triểncủa chế độ xã hội đó”[1.2] Ăngghen cũng vạch rõ nguồn gốc phát triển củacác hình thức gia đình trong lịch sử là do sự tác động của quy luật đào thải tựnhiên và do sự phát triển của những điều kiện kinh tế - xã hội, sự phát triểncủa tâm lý, đạo đức, tình cảm của con người, trong đó sự phát triển của cácđiều kiện kinh tế - xã hội là yếu tố quyết định Những điều kiện kinh tế - xãhội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định có tác dụng quyết định đến hình thức

tổ chức và kết cấu của gia đình “Chế độ gia đình hoàn toàn bị quan hệ sở hữuchi phối” Ngược lại, gia đình và trình độ phát triển của gia đình cũng có tácđộng rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, ảnh hưởng trựctiếp đến việc tái tạo ra bản thân con người để bảo vệ nòi giống cũng như táitạo ra sức lao động cho sản xuất xã hội

Thực tế lịch sử cho thấy, gia đình lần lượt biến đổi tương ứng vớinhững giai đoạn phát triển xã hội khác nhau Theo Ăngghen, trong xã hộicông xã nguyên thủy, trình độ lực lượng sản xuất rất thấp, cá nhân không táchrời tập thể, cuộc sống cộng đồng về nhiều mặt… đã tạo nên hình thức gia đìnhtập thể – quần hôn Mỗi bước tiến của xã hội cộng đồng nguyên thủy và kếtquả do đào thải tự nhiên lại đưa đến những dạng mới, mang sắc thái tiến bộhơn cho hình thái gia đình này Giai đoạn đầu của xã hội cộng đồng nguyênthủy có gia đình cùng dòng máu ( huyết thống ), các tập đoàn hôn nhân đềuphân theo thế hệ Đến giai đoạn giữa của xã hội cộng đồng nguyên thuỷ xuất

hiện gia đình punaluna ( bạn thân), trong đó quan hệ tỉnh giao giữa anh ẹm

trai với chị em gái đã bị hủy bỏ và giai đoạn cuối cùng của xã hội này đã hìnhthành gia đình cặp đôi ( đối ngẫu), trong đó kết hôn từng cặp đã tồn tại ( tuycòn lỏng lẻo); trong số vợ rất đông của mình, người đàn ông có một người vợchính, và trong số nhiều người chồng khác, anh ta lại là người chồng chínhcủa người đàn bà ấy Những kiểu trên cúa gia đình tập thể – quần hôn đều có

Trang 11

đặc trưng là: tính giao tập thể, kinh tế cộng đồng nguyên thủy, chế độ mẫu hệ,không có áp lực và bất bình đẳng giữa các thành viên[2].

Ăngghen cho thấy rằng, trong thời kỳ đầu tiên của lịch sử nhân loại đãtừng tồn tại những hình thức khác nhau của chế độ quần hôn, sau đó xuất hiệnhôn nhân đối ngẫu, kết hợp những đôi riêng lẻ trong một thời kỳ nhất định.Cuối cùng, chế độ hôn nhân một vợ, một chồng xuất hiện Gia đình một vợ,một chồng được nảy sinh từ gia đình cặp đôi vào lúc giao thời giữa giai đoạngiữa và giai đoạn cao của thời đại dã man Thắng lợi của gia đình một vợ, mộtchồng là một trong những dấu hiệu của buổi đầu của thời đại văn minh Giađình một vợ, một chồng được hình thành chủ yếu do sự phát triển của lựclượng sản xuất làm nảy sinh chế độ tư hữu và sự phân chia giai cấp trong xãhội Hình thức này được duy trì cho đến ngày nay và sẽ ngày càng hoàn thiệnhơn khi xuất hiện chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Gia đình một

vợ, một chồng trong chế độ tư hữu trở thành những đơn vị kinh tế của xã hội.Ăngghen viết: Việc chuyển sang chế độ tư hữu hoàn toàn được thực hiện dầndần và song song với việc chuyển từ hôn nhân cặp đôi sang chế độ một vợmột chồng Gia đình cá thể bắt đầu trở thành đơn vị kinh tế của xã hội.Ph.Ăngghen vạch rõ chế độ một vợ một chồng là hình thức gia đình đầu tiênkhông dựa trên những điều kiện tự nhiên mà dựa trên những điều kiện kinh tế,tức là trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng nguyên thủy

và tự phát Sự phân tích toàn diện của Ăngghen về quá trình phát sinh và pháttriển của các hình thức gia đình cho thấy tính liên tục một cách khoa học nhất,đúng đắn nhất của lịch sử nhân loại, điều mà trước kia chưa từng diễn ra Lầnđầu tiên trong lịch sử, bằng những cứ liệu khoa học, Ăngghen đã chỉ ra cáchình thức hôn nhân chính tương ứng với các giai đoạn phát triển khác nhaucủa nhân loại[1]

Khi viết về gia đình, về hôn nhân và tình yêu nam nữ, Ăngghen tánthành quan điểm của Moóc gan cho rằng: “Gia đình là yếu tố năng động, nó

Trang 12

không bao giờ đứng nguyên một chỗ, mà chuyển từ hình thức thấp lên mộthình thức cao, như xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên một giai đoạncao”[2] Các Mác và Ăngghen đã vận dụng quan điểm duy vật về lịch sử đểnghiên cứu xã hội loài người Các ông coi sự vận động phát triển và thay thếlẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình phát triển lịch sử - tựnhiên Các ông cũng dự báo sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sảnchủ nghĩa, mà giai đoạn đầu của nó là “chủ nghĩa xã hội” Điều đó là do quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất, trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất thì con người có vaitrò quyết định, mà con người cụ thể chính là sản phẩm duy trì nòi giống củagia đình.

Trong nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, không chỉ các quan hệ xãhội mà cả quan hệ gia đình cũng bị thay đổi Sự yên ấm của từng gia đìnhcũng có thể bị phá vỡ theo dòng xoáy nền sản xuất tư bản chủ nghĩa: “Chínhnền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại có sứ mệnh phải gây cho lối hôn nhân đómột vết rạn quyết định Biến mọi thứ thành hàng hoá” đồng thời “xé toangtấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ

ấy chỉ còn là những quan hệ tiền nong đơn thuần”[2]

Gia đình của xã hội văn minh được hình thành trên nền tảng của tìnhyêu và hôn nhân, đó cũng là những quyền hết sức cơ bản của con người -quyền được tự do yêu đương và tự do kết hôn, được cộng đồng xã hội tôntrọng và bảo vệ: “Hiện nay chỉ có trong giai cấp vô sản thì tình yêu nam nữmới có thể trở thành một quy tắc”, và muốn thực hiện được điều đó,“tất yếuphải xác lập sự bình đẳng xã hội thật sự giữa hai bên” Dưới chế độ tư hữu,phụ nữ phải chịu đựng một nghịch lý: vai trò lớn nhưng địa vị thấp hèn cảtrong gia đình lẫn ngoài xã hội; luôn chịu cảnh bất bình đẳng với nam giới, bịbóc lột, bị tha hoá Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau, các hình thức bấtbình đẳng tuy có thay đổi nhưng bản chất thì không thay đổi Các Mác còn tố

Trang 13

cáo sự lợi dụng, bóc lột tinh vi, dã man và tàn bạo của chủ nghĩa tư bản Phụ

nữ bị đối xử kém hơn cả so với súc vật, họ phải lao động nặng nhọc trongnhững điều kiện khắc khổ: “để kéo thuyền dọc sông Đào, thỉnh thoảng người

ta vẫn còn dùng phụ nữ thay cho ngựa”[1,2]

Theo Lênin: “Muốn triệt để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho họ thực

sự bình đẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xã hội, phải đểphụ nữ tham gia vào lao động sản xuất chung Như thế, phụ nữ mới có địa vịbình đẳng với nam giới”

Ăngghen viết: “Hiện nay, chúng ta đang tiến tới một cuộc cách mạng

xã hội, trong đó các cơ sở kinh tế từ trước tới nay của chế độ một vợ mộtchồng cũng như cơ sở của điều bổ sung cho nó là nạn mại dâm, đều nhất định

sẽ bị tiêu diệt…các tư liệu sản xuất mà được chuyển thành tài sản xã hội thìchế độ lao động làm thuê, giai cấp vô sản cũng sẽ biến mất, và đồng thời cũng

sẽ không còn một tình trạng một số phụ nữ… cần thiết phải bán mình vì đồngtiền nữa chế độ một vợ một chồng không những không suy tàn, mà cuốicùng lại còn trở thành một hiện thực - ngay cả đối với đàn ông nữa” Tuynhiên nếu gia đình một vợ một chồng không đáp ứng được yêu cầu của xãhội, không tiến triển cùng được với sự tiến triển của xã hội thì tất yếu sẽ cómột hình thức gia đình mới ra đời thay thế nó Vậy là theo quy luật phát triển,loài người tất yếu sẽ tiến một bước cao hơn thời đại xã hội tư bản chủ nghĩa,

đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa mà trước hết phải xây dựng giai đoạn đầu - xãhội xã hội chủ nghĩa Gia đình cũng vậy, cũng phải có những bước tiến đểtheo kịp và phản ánh đúng, tiến triển cùng xã hội xã hội chủ nghĩa[2,10]

1.3.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam về Gia đình

Trang 14

Trước năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến, quan hệhôn nhân gia đình thời kỳ này được điều chỉnh bởi một số bộ luật dân sự được

áp dụng cho từng khu vực Việt Nam như Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931; Bộ luậtdân sự Trung kỳ 1936; Bộ luật giản yếu 1883

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 là thời kỳ Việt Nam bị chia cắtthành hai miền Nam Bắc Miền Bắc làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân, sau đó tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; Miền Namtiến hành cuộc cách mạng giải phóng để thống nhất nước nhà Pháp luật điềuchỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình ở mỗi miền có khác nhau Ở miền Bắc từnăm 1945 - 1958, trong giai đoạn này Bản Hiến pháp được Quốc hội nướcViệt nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 09/11/1946 có ý nghĩa quan trọngtrong đời sỗng xã hội Việt Nam Tại điều 9 Hiến pháp 1946 quy định: “Đàn

bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Nội dung này là cơ sởpháp lý về quyền bình đẳng nam và nữ trong quan hệ hôn nhân, là quyền tắc

để giải quyết các quan hệ hôn nhân trong chế độ mới mà ngay sau đó nguyêntắc này được thể hiện rõ trong một số sắc lệnh liên quan tới hôn nhân và giađình trong thời kỳ này Ví dụ Sắc lệnh số 159 - SL được ban hành ngày17/11/1950 của Chủ tịch nước quy định về vấn đề ly hôn Sắc lệnh số 97 - SLngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước về sử đổi một số quy định về hôn nhân vàgia đình Sắc lệnh số 97 - SL tuyên bố bãi bỏ việc thi hành ba bộ luật Bộ luậtdân sự Bắc Kỳ 1931; Bộ luật dân sự Trung kỳ 1936; Bộ luật giản yếu 1883trên toàn cõi Việt Nam Từ năm 1959 - 1975 trong giai đoạn này, bản Hiếnpháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được quốc hội thông qua tại

kỳ họp thứ 11 ngày 31/12/1959 Về vấn đề liên quan tới quan hệ hôn nhân giađình, đoạn 1 điều 24 Hiến pháp năm 1959 quy định như sau: “ Phụ nữ nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinhhoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” Đoạn 4 điều 24 Hiến pháp

1959 quy định “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” Xuất phát từ tình

Trang 15

hình thực tế về quan hệ hôn nhân và gia đình trong trình hình mới, Luật hônnhân và gia đình Việt Nam được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày29/12/1959 Điểm đáng lưu ý là việc ra đời của Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1959 được xem như dấu mốc cho việc tách quan hệ hôn nhân gia đình rakhỏi ngành luật dân sự thành ngành luật độc lập[16,17].

Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình ở miền Nam Việt Namvẫn chịu sự điều chỉnh của các quy định trong Bộ luật dân sự giản yếu Nam

kỳ 1883 cho đến năm 1959 Ngày 02/01/1959 chính quyền Ngô Đình Diệmcông bố Luật gia đình Tháng 11/1963 chính quyền Ngô Đình Diệm bị phếtruất và Luật gia đình năm 1959 của chế độ đó bị hủy bỏ bởi Sắc luật số15/64 Ngày 20/12/1972 Bộ luật dân sự được ban hành thay thế cho sắc luật

số 15/64 cùng văn bản sửa đổi và bổ sung Sắc luật này trước đó Như vậy từtháng 12/1972 cho đến ngày 30/4/1975 các quan hệ hôn nhân dưới chínhquyền Sài Gòn chịu nhiều sự điều chỉnh bởi các quy phạm quy định trong Bộdân luật này

Giai đoạn từ năm 1975 - 1986: Sau khi thống nhất đất nước, các quan

hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng ở hai miền Nam _ Bắccùng được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật của nhà nước Việt Nam thốngnhất Tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI đặt tên cho nước Việt Namthống nhất là “Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đây là cơ sở pháp

lý để thống nhất về mặt nhà nước và pháp luật trên phạm vi cả nước Quan hệhôn nhân và gia đình trên cả nước trong thời gian này được điều chỉnh bởiLuật hôn nhân và gia đình đang được áp dụng ở miền Bắc, đó là Luật hônnhân và gia đình năm 1959 Sau đó Hiến pháp năm 1980 của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa VI thông qua trong kỳ họpthứ 7 Bản Hiến pháp này quy định nhiều nguyên tắc cho việc ban hành cácvăn bản pháp luật đối với tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực hôn nhân vàgia đình Về vấn đề hôn nhân được quy định tại Điều 63, 64 của Hiến pháp

Trang 16

Theo đó nam nữ có quyền ngang nhau trong quan hệ hôn nhân và gia đình; hônhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bìnhđẳng Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Các nguyên tắc này cùng vớicác quy định của Luật hôn nhân và gia đình 1959 là cơ sở pháp lý để điềuchỉnh quan hệ hôn nhân cho tới khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 cóhiệu lực

Giai đoạn từ năm 1986 - 1993, trong giai đoạn này, Luật hôn nhân vàgia đình năm 1986 được ban hành thay thế cho Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1959 Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, Luật này quy định hướng tới vợchống bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, khuyến khích cácchủ thể tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

Tổ quốc, nhà nước cho rằng cha mẹ nên cùng nhau nuôi dạy con thành nhữngcông dân có ích cho xã hội Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn

và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, Luật Hôn nhân vàgia đình 1986 đã giữ gìn lại những tập quán tốt đẹp của dân tộc, và tiến hànhxoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đìnhphòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản

Giai đoạn từ năm 1993 - 2000, trong giai đoạn này, sự ra đời của Luậthôn nhân và gia đình 2000 kế thừa và phát huy thành tựu của Luật Hôn nhân

và gia đình năm 1959 và năm 1986 của nhà nước ta, Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 ra đời đã góp phần đề cao vai trò của gia đình trong đời sống

xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa đạo đức tốt đẹp của giađịnh Việt Nam, qua đó có những đóng góp đáng kể vào việc phát triển nguồnnhân lực, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương nóiriêng và đất nước nói chung[9]

Thông qua những quy định cụ thể, Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia

Trang 17

đình tiến bộ, ấm no hạnh phúc ở Việt Nam, bảo vệ tốt hơn quyền con người,quyền công dân, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực hônnhân và gia đình, tạo ra hành lang pháp lý góp phần thiết lập và bảo đảm sự

an toàn cho các quan hệ tài sản phát sinh trong nội bộ các thành viên giađình cũng như các giao dịch giữa các thành viên gia đình với các chủ thểkhác trong xã hội; ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trongquan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Tuy nhiên sau 13 năm đi vào cuộc sống, trong bối cảnh đất nước bướcsang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ hôn nhân và gia đình đã cónhững thay đổi đáng kể cần có sự điều chỉnh phù hợp hơn của pháp luật.Trong bối cảnh như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bộc lộ một

số điểm bất cập, hạn chế Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật này là yêu cầucấp thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tế các quan hệ xã hội phát sinhtrong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Sau một thời gian tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các địa phương và

bộ ngành có liên quan và thông qua quá trình tiếp thu, chỉnh lý của cơ quansoạn thảo, ngày 19/6/2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII Luật Hônnhân và gia đình sửa đổi chính thức được thông qua, với 79,52% số phiếután thành, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2015, với

10 chương, 133 điều quan hệ hôn nhân gia đình sẽ có những quy định pháp

lý điều chỉnh về chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cáchứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhànước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình

Cụ thể, Luật quy định những vấn đề như: Kết hôn; quan hệ giữa vợ vàchồng; chấm dứt hôn nhân; quan hệ giữa cha, mẹ và con; quan hệ giữa cácthành viên khác của gia đình; cấp dưỡng; quan hệ hôn nhân và gia đình cóyếu tố nước ngoài

Trang 18

Đất nước ta bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xã hội Việt Namđang chịu những tác động tích cực và tiêu cực, không chỉ về mặt kinh tế màcòn cả về mặt văn hóa, xã hội Gia đình với tư cách là tế bào của xã hội cũngkhông tránh khỏi sự tác động đa chiều đó Một số quan niệm mới về hônnhân, gia đình ở nước ngoài đã du nhập vào Việt Nam và gây ra nhiều hệ lụykhác nhau Trong bối cảnh như vậy, Luật HN&GĐ 2000 đã bộc lộ một số hạnchế, bất cập làm ảnh hưởng đến sự ổn định của các quan hệ HN&GĐ Nhằmtạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho việc xây dựng và hoàn thiệnchế độ HN&GĐ Việt Nam; góp phần xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến

bộ và hạnh phúc Trải qua 3 lần sửa đổi, bổ sung, có tính chất tiếp thu, kế thừa

và phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân vàgia đình năm 1986, luật Hôn nhân gia đình năm 2000 Ngày 19 tháng 6 năm

2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namkhóa XIII đã thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật có hiệulực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 thay thế Luật Hôn nhân và Giađình năm 2000 Luật HN&GĐ 2014 có 9 chương, 133 điều, so với Luật Hônnhân và Gia đình năm 2000 thì luật mới ít hơn 04 chương, nhưng tăng lên 23điều Có thể nói đây là đạo luật được sửa đổi, bổ sung khá đầy đủ, toàn diện,sâu sắc Nó thể hiện ở chỗ có đến 49 điều luật mới, lần đầu tiên được quyđịnh trong luật như vấn đề về hôn nhân giữa những người đồng tính, mangthai hộ vì mục đích nhân đạo, giải quyết hậu quả pháp lý của việc nam nữchung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, thời điểmchấm dứt hôn nhân…; 75 điều được sửa đổi bổ sung trên nền tảng điều luật cũnhư việc xác định độ tuổi kết hôn của nam và nữ, thêm đối tượng được yêucầu giải quyết ly hôn, những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng…; vàchỉ có 9 điều giữ nguyên luật hôn nhân gia đình năm 2000 thể hiện ở các lĩnh

Trang 19

vực như nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn, thuận tình ly hôn,khuyến khích hòa giải ở cơ sở…

1.4 Vai trò của Gia đình

Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tếcủa xã hội Gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước Gia đình có vai trò quyếtđịnh đối với sự hình thành và phát triển của xã hội Những chuẩn mực giá trịtốt đẹp của gia đình được tiếp nhận, phát triển góp phần xây dựng, tô thắm,làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa dân tộc Đại hội XI, Đảng ta khẳng định:Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thànhnhân cách, góp phần chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêunước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, laođộng giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính[23]

Con người Việt Nam chỉ có thể được trang bị những phẩm chất tốt đẹpnếu có một môi trường xã hội tốt Môi trường đó trước hết là từ mỗi gia đình,mỗi tế bào của xã hội Gia đình chịu trách nhiệm trước xã hội về sản phẩmcủa gia đình mình, có trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái, cung cấpcho xã hội những công dân hữu ích Cùng với nhà trường, gia đình tham giatích cực nhiệm vụ “dạy người, dạy chữ”, tạo ra lực lượng lao động tương laichất lượng cao Gia đình chính là “đơn vị xã hội” đầu tiên cung cấp lực lượnglao động cho xã hội Từ những người lao động chân tay giản đơn đến laođộng trí óc đều được sinh ra, nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình

Gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội mà còn làmôi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách contrẻ Gia đình là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quýbáu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã hình thành trong quá trìnhlịch sử dựng nước, giữ nước Đó là lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu

Trang 20

thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù, sáng tạotrong lao động, bất khuất kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách

Gia đình cũng là nơi tiếp thu, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc Thông qua các câu chuyện cổ tích, ca dao, tục ngữ,cha mẹ, ông bà là những người thầy đầu tiên dạy dỗ, nuôi dưỡng tâm hồn,phát triển tư duy và từng bước giáo dục hình thành nhân cách cho mỗi conngười Qua lao động, qua việc xử lý các mối quan hệ hằng ngày, gia đình đãtruyền thụ cho con trẻ những nét đẹp của truyền thống gia đình, dòng họ,truyền thống văn hóa dân tộc[19] Từ đó mỗi cá nhân hình thành và bồi dưỡngtinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tình cộng đồng, lòng nhân ái, tinhthần tự lực, tự cường, anh hùng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòabình, chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất Gia đình cũng giữ vai trò đặcbiệt quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia

Trong mỗi gia đình, vai trò của cha mẹ có vị trí tối quan trọng Theotruyền thống Việt Nam, đàn ông thường là chủ của gia đình Người cha là trụcột, là biểu hiện của nhân cách văn hóa cao đẹp nhất để con cái học tập và noitheo Còn người mẹ là chỗ dựa, là hạt nhân tâm lý chủ đạo, nguồn lửa sưởi ấmyêu thương trong gia đình, nguồn tình cảm vô tận cho các con[17] Vì thế, giađình là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách cho trẻ em Trình độ vănhóa, tri thức và hiểu biết của bố mẹ cũng phần nào tác dộng đến sự hình thànhnhân cách, đạo đức và trí tuệ của thế hệ nối tiếp, đồng thời cũng tác độngkhông nhỏ tới quá trình phát triển và hoàn thiện xã hội tiến tới xã hội vănminh, tiến bộ

Xã hội chuyển động ngày một nhanh hơn, các “tế bào” của xã hội chịuảnh hưởng mạnh mẽ của thế giới bên ngoài, đặc biệt là từ thế giới internet,chịu tác động bởi nền kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường nên văn hóa giađình đang có biểu hiện xuống cấp vì những tác động xấu của đời sống xã hội.Mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã kích thích nhu cầu

Trang 21

ham muốn vật chất, ít chú trọng đời sống tình cảm tinh thần, tình trạng xungđột gia đình dẫn đến đổ vỡ và ly hôn ngày càng gia tăng, làm cho gia đìnhkhông được bền vững[21,22] Vì thế, để tạo dựng nền tảng vững chắc cho thế

hệ tương lai, phải bắt đầu giáo dục con trẻ trong gia đình - trước khi nhữngmầm non ấy đặt chân tới trường và tiếp xúc với môi trường xã hội Đó đượcxem là những viên gạch đầu tiên để xây dựng nên nhân cách của một conngười, một thế hệ

Trang 22

CHƯƠNG II: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRƯỚC ĐÂY VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014

VỀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH

2.1 Những quy định của pháp luật trước đây về mô hình gia đình

2.1.1 Xác lập quan hệ hôn nhân

Theo Việt Nam dân luật lược khảo, giá thú là sự phối hợp, được luậtpháp công nhận, giữa một người đàn ông và một người đàn bà với mục đíchlập gia đình sinh con để nối rõi và thờ phụng tổ tiên[15] Vì mục đích nối rõi

là mục đích cốt yếu của định chế giá thú, cho nên ngày xưa khi lấy vợ không

có con, người chồng có quyền rẫy vợ Ngày nay, theo quan niệm Tây phương,mục đích ấy không có tính cách thiết yếu nữa Vì vậy trong những cớ ly hôn,

sự không có con để phụng sự tổ tiên không được nhà làm luật chấp nhận Hơnnữa, sau khi đã làm giá thú, người chồng không thể tự ý bỏ vợ; gặp trườnghợp nào cũng vậy, muốn bỏ vợ phải theo thủ tục ly hôn đã ấn định trong luật.Bởi vậy, hiện nay có thể định nghĩa giá thú như sự phối hợp giữa một ngườiđàn ông và một người đàn bà, được pháp luật công nhận và không thể tự ýhủy bỏ được Trong việc giá thú, sự ưng thuận của hai vợ chồng là một điềukiện căn bản, vì vậy người ta có thể coi giá thú như một khế ước, do sự thỏathuận của hai bên kết lập mà thành Tuy nhiên, xét cho kỹ, bản chất pháp lýcủa giá thú không giống bản chất của các khế ước khác Hai vợ chồng khôngthể tự mình ấn định hiệu lực của giá thú theo như ý riêng trong các khế ước.Trái lại, hiệu lực của giá thú đối với hai vợ chồng cũng như đối với các con đã

do các điều khoản trong luật quy định sẵn; các sự không thể sửa chữa được,thay đổi theo ý riêng Vì lẽ ấy, một phần học lý đã coi giá thú là một định chếchứ không phải là một khế ước Quan niệm này nâng cao giá thú lên địa vịmột tập thể hữu quan, một đoàn thể trong xã hội vượt ngoài ý chí cá nhân củacác đương sự Một vài luật gia cho rằng vấn đề ấn định rõ bản tính của giá thú

Trang 23

không khỏi ảnh hưởng đến vấn đề quy định việc ly hôn Nếu coi giá thú nhưmột khế ước, tất nhiên sẽ đi đến chỗ chấp nhận thuận tình ly hôn, như trongdân luật của Pháp từ 1804 đến 1816 và trong ba bộ dân luật ban hành tại ViệtNam trong thời kỳ Pháp thuộc, vì ý chí cá nhân có thể tiêu hủy được nhữngđiều gì đã do ý chí ấy lập ra Trái lại với quan niệm giá thú là một định chế,định chế ly hôn phải gạt bỏ, vì một định chế là một cơ quan lâu dài không thểtiêu diệt được Sự thực, giải quyết vấn đề ly hôn trên căn bản yếu tính của giáthú như trên là một điều ngộ nhận Dù giá thú được coi là một định chế, điềunày cũng không phải là một luận cứ vững chắc để gạt bỏ hẳn sự ly hôn Khimột định chế không thể đạt được những mục đích đã trù liệu, định chế ấy chỉcòn là một cái xác không hồn, cần phải tiêu diệt Như vậy quan niệm “giá thúđịnh chế” không phải là bất khả tương hợp với ý niệm ly hôn Thiết tưởng đểlàm nội rã địa vị quan trọng của giá thú, có thể liên hợp cả hai quan niệm trên

để coi giá thú như một định chế được đặt trên sự thỏa thuận của hai vợ chồng.Quan niệm chiết trung này vừa tỏ rõ sự ưng thuận của vợ chồng là thiết yếutrong việc hôn nhâ, vừa nhấn mạnh vào điểm giá thú không phải chỉ là mộthành vi luật pháp thùy thuộc hoàn toàn ý chí của các đương sự

Kết hôn, theo định nghĩa chính thức của Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 tại Ðiều 8 khoản 2, là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theoquy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn[8,13] Nhưvậy Kết hôn là một giao dịch có tính pháp lý chứ không phải là một giao dịch

có ý nghĩa vật chất hoặc tôn giáo; đó là một giao dịch xác lập trong đời sốngdân sự chứ không phải trong đời sống tâm linh và là một giao dịch được xáclập với sự tham gia bắt buộc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Các điềukiện về nội dung của việc kết hôn phải được cơ quan Nhà nước kiểm tra mộtcách chặt chẽ; Kết hôn là một giao dịch long trọng, tuân theo những quy địnhnghiêm ngặt về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Những quy định ấy tạothành tập hợp các điều kiện về hình thức của việc kết hôn Các điều kiện kết

Trang 24

hôn, trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, được xếp vào nhóm cácquy tắc mang tính mệnh lệnh bắt buộc Vi phạm các điều kiện ấy, hôn nhân bịcoi là trái pháp luật và có thể bị hủy Quan hệ vợ chồng mà vi phạm các điềukiện ấy không được coi là quan hệ hôn nhân và không thể làm phát sinh các

hệ quả pháp lý của quan hệ hôn nhân

Ðể có thể kết hôn, người muốn kết hôn phải có năng lực hành vi, phảiđạt đến một độ tuổi nhất định và phải chấp nhận kết hôn một cách tự nguyện

Về Năng lực kết hôn, các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và giađình phải có sự khác biệt về giới tính hay nói cách khác, pháp luật Việt Namtrước đây cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính Việc cấm kết hôngiữa những người cùng giới tính chỉ được chính thức ghi nhận trong luật viết

từ khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Ðiều 10 khoản 5)[8] Tuynhiên, trong tục lệ truyền thống, hôn nhân giữa những người cùng giới tínhkhông bao giờ được thừa nhận ở Việt Nam Trong điều kiện các luật hôn nhân

và gia đình trước đây quy định chưa chặt chẽ ở điểm này, tục lệ thường xuyêncan thiệp thông qua dự luận để ngăn chặn các quan hệ như vợ chồng giữanhững người cùng giới tính hoặc để tạo sức ép đối với những người cùng giớitính nhằm chấm dứt việc duy trì quan hệ như vợ chồng giữa họ Cơ quan hộtịch, về phần mình luôn từ chối việc đăng ký kết hôn giữa những người cùnggiới tính Tuy nhiên, vấn đề là: làm thế nào để xác định giới tính thực củamột người Bằng chứng về sự khác biệt giới tính - Luật Việt Nam hiện hànhcấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính, nhưng lại chưa có quyđịnh rõ ràng về cơ sở pháp lý của việc xác định giới tính của người yêu cầuđăng ký kết hôn Ðơn giản, theo Nghị định số 83-CP ngày 10/10/1998, thì khiđăng ký kết hôn, các bên phải xuất trình khai sinh, sổ hộ khẩu hoặc giấy tờhợp lệ thay thế, cùng với tờ khai đăng ký kết hôn Tờ khai đăng ký kết hôn chỉxác nhận tình trạng hôn nhân, trong khi giấy khai sinh hoặc sổ hộ khẩu lại cóghi nhận giới tính của đương sự Vậy, có thể nghĩ rằng giấy khai sinh hoặc sổ

Trang 25

hộ khẩu là các giấy tờ có giá trị chứng minh giới tính ? Thông thường, nếuviệc ghi nhận giới tính theo cảm quan của viên chức hộ tịch (bằng sự quansát) trùng hợp với việc ghi nhận giới tính trong giấy tờ hộ tịch và phù hợp vớicách xưng hô được cơ quan chức năng sử dụng khi xác nhận tờ khai đăng kýkết hôn, thì việc kiểm tra giới tính coi như hoàn tất.

Đối với vấn đề Tuổi kết hôn, Tảo hôn được xem như một hành vi đingược lại với tiến bộ và văn minh nhân loại, do đó theo Luật Hôn nhân và giađình năm 2000, Ðiều 9 khoản 1 quy định, nam từ 20 tuổi trở lên và nữ từ 18tuổi trở lên mới được kết hôn[18] Giải pháp này đã được chấp nhận ngay từvăn bản luật đầu tiên về hôn nhân và gia đình dưới chế độ xã hội chủ nghĩa(Luật hôn nhân và gia đình năm 1959) và được giữ nguyên cho đến nay Các

lý lẽ của giải pháp chủ yếu mang tính y học: đối với người Việt Nam, sự pháttriển thể chất đủ chín muồìi cho việc thiết lập quan hệ hôn nhân thường đượcghi nhận khi con người đạt độ tuổi đó Trong một dự thảo Luật hôn nhân vàgia đình, người làm luật còn định đưa vào trong luật viết chủ trương khuyếnkhích kết hôn ở độ tuổi muộn; tuy nhiên, văn bản luật được chính thức thôngqua đã không ghi nhận chủ trương đó: kết hôn quá muộn, cũng như kết hônquá sớm, không phải là điều tốt Tất cả những người dưới độ tuổi đó đều ởtrong tình trạng không có năng lực pháp luật kết hôn Khác với luật của nhiềunước, luật Việt Nam hiện hành không dự kiến bất kỳ một trường hợp nào mànam hoặc nữ có thể được phép kết hôn một cách ngoại lệ, dù chưa đạt độ tuổiquy định Kết hôn hoặc chung sống như vợ, chồng với người chưa đến tuổikết hôn, người có hành vi ấy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tảohôn, trong trường hợp cố ý duy trì quan hệ hôn nhân trái pháp luật sau khi đã

có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật(BLHS Ðiều 148)[17] Người tổ chức việc tảo hôn cũng bị truy cứu tráchnhiệm hình sự (cùng điều luật)

Trang 26

Một vấn đề cũng hết sức đáng lưu ý đó là Quyền kết hôn của ngườibệnh trong việc xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình Trước khi có Luật hônnhân và gia đình năm 2000[8,14], người mắc một hoặc một số bệnh truyềnnhiễm được liệt kê trong luật viết không có năng lực pháp luật kết hôn chừngnào bệnh chưa được chữa khỏi Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959,việc kết hôn bị cấm đối với người mắc bệnh hủi hoặc hoa liễu (Ðiều 10) TheoLuật hôn nhân và gia đình năm 1986, người hủi không còn bị cấm kết hôn,nhưng người mắc bệnh hoa liễu vẫn tiếp tục ở trong tình trạng không có nănglực pháp luật kết hôn (Ðiều 7 khoản b) Riêng người nước ngoài hoặc ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được phép đăng ký kết hôn trước nhàchức trách Việt Nam nếu không mắc bệnh hoa liễu hoặc AIDS (Pháp lệnh hônnhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài ngày15/12/1993, Ðiều 6 khoản 1) Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khôngcấm kết hôn vì lý do có bệnh truyền nhiễm, ngay cả trong trường hợp ngườikết hôn là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài vàviệc kết hôn được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của ViệtNam Tất nhiên, Nhà nước không khuyến khích việc kết hôn giữa nhữngngười mắc bệnh hiểm nghèo và có khả năng lây lan qua đường tình dục;nhưng quyền kết hôn của những người này được tôn trọng trong khung cảnhcủa luật thực định

Trong các nguyên tắc của kết hôn, Hôn nhân tự nguyện hay còn đượcgọi là Nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân được ghi nhận trong rất nhiềuvăn bản chứ không chỉ trong luật hôn nhân và gia đình Kết hôn trước hết làmột quyền chứ không phải là một nghĩa vụ; không thể có hôn nhân ngoài ýmuốn của người kết hôn Gọi là kết hôn ngoài ý muốn một khi một bên hoặc

cả hai bên kết hôn không ưng thuận kết hôn hoặc sự ưng thuận kết hôn không

được hoàn hảo Người mất năng lực hành vi - Người mất năng lực hành vi

không thể kết hôn (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Ðiều 10 khoản 2)

Trang 27

[8,14] Người đại diện của người mất năng lực hành vi cũng không có quyềncho phép người được đại diện kết hôn Ta nói rằng, trong luật Việt Nam hiệnhành, người mất năng lực hành vi ở trong tình trạng không có năng lực phápluật kết hôn Người không nhận thức được hành vi của mình - Theo các luậthôn nhân và gia đình năm 1959 và 1986, người mắc bệnh tâm thần mà chưachữa khỏi không được phép kết hôn Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 lạichỉ cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi mà không nhắc đến người

bị bệnh tâm thần, nhưng lại chưa bị đặt vào tình trạng mất năng lực hành vitheo quyết định của Tòa án Dẫu sao, điều đó không có nghĩa rằng luật thừanhận quyền kết hôn cho người không nhận thức được hành vi của mình Cóthể suy nghĩ: Nếu người không nhận thức được hành vi của mình quyết địnhviệc kết hôn trong lúc không nhận thức được hành vi của mình, thì việc kếthôn không có giá trị do sự ưng thuận không tồn tại Nếu người không nhậnthức được hành vi của mình quyết định việc kết hôn trong lúc đang tỉnh táo,thì việc kết hôn có giá trị, dù, có thể sau đóï, người này bị đặt trong tình trạngmất năng lực hành vi theo một quyết định của Tòa án (nếu Tòa án quyết địnhđặt người này trong tình trạng mất năng lực hành vi, thì vợ (chồng) trở thànhgiám hộ đương nhiên); Nếu người không nhận thức được hành vi của mình bịđặt trong tình trạng mất năng lực hành vi, thì việc kết hôn xác lập sau ngày cóquyết định của Tòa án thiết lập tình trạng mất năng lực hành vi, sẽ không cógiá trị, dù người này kết hôn trong lúc đang tỉnh táo[18]

Đảm bảo quyền kết hôn cho Người bị hạn chế năng lực hành vi cũng làmột khí cạnh pháp luật cần xem xét kỹ lưỡng Chế định hạn chế năng lựchành vi chỉ mới được ghi nhận trong luật viết từ khi có Bộ luật dân sự năm

1995 Các luật hôn nhân và gia đình ban hành trước thời điểm đó không cóquy định về mối quan hệ giữa việc kết hôn và tình trạng hạn chế năng lựchành vi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, về phần mình, không cấm kếthôn đối với người bị hạn chế năng lực hành vi[14,18]; bởi vậy, trong khung

Trang 28

cảnh của luật thực định, người bị hạn chế năng lực hành vi có quyền kết hôn,thậm chí, có thể tự mình quyết định việc kết hôn mà không cần phải có sựđồng ý của người đại diện theo pháp luật Sự ưng thuận không hoàn hảo Lừadối - Luật hiện hành chỉ có định nghĩa chung về sự lừa dối, ghi nhận tạiBLDS Ðiều 142 khoản 1 và được áp dụng cho tất cả các giao dịch dân sự,không có định nghĩa riêng về sự lừa dối trong hôn nhân Ta nói rằng lừa dốitrong hôn nhân là việc một bên cố ý làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể,tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch để bên kia chấp nhận xáclập giao dịch kết hôn Ðịnh nghĩa rất chung và khó áp dụng A muốn kết hônvới B; C cố ý làm cho A nhầm tưởng rằng mình là B; cuối cùng, A kết hôn với

C mà cứ ngỡ rằng đã kết hôn với B Trong giả thiết vừa nêu, A có thể yêu cầuhủy hôn nhân do có sự lừa dối Thế nhưng, nếu A muốn kết hôn với B vì tinrằng B giàu có và B cũng cố ý làm ra vẻ giàu có (dù thực ra rất nghèo) để Achấp nhận kết hôn với mình, thì khó có thể nói rằng A có quyền yêu cầu hủyhôn nhân do có sự lừa dối Cũng không thể yêu cầu hủy hôn nhân, nếu A tinrằng B không bị bất lực và B cũng cố ý làm cho A tưởng rằng mình không bịbất lực Trong thực tiễn, việc thuyết phục các thẩm phán về sự tồn tại củahành vi lừa dối trong hôn nhân, của một bên đối với bên kia, không đơn giản;bởi vậy, bên bị lừa dối mà muốn chấm dứt hôn nhân thường xin ly hôn hơn làxin hủy hôn nhân trái pháp luật Cưỡng ép - Cưỡng ép kết hôn là hành vibuộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ (Luật hôn nhân vàgia đình năm 2000 Ðiều 8 khoản 5)[8] Ðiều luật nhắm chủ yếu vào việc đấutranh chống tệ nạn cưới ép, gả ép trong các gia đình Việt Nam còn chịu ảnhhưởng của các hủ tục phong kiến trong hôn nhân Trong trường hợp một bênchấp nhận kết hôn do chịu sức ép của bên kia, ta có một vụ ép buộc (chứkhông phải cưỡng ép) kết hôn Sự ưng thuận rõ ràng không hoàn hảo, một khiviệc kết hôn bị ép buộc; vấn đề sẽ trở nên rất tế nhị, trong trường hợp việc kếthôn được chấp nhận do một bên hoặc cả hai bên tuân theo sự xếp đặt của cha,

Trang 29

mẹ, nói chung, của gia đình mình Nói chung, thực tiễn có xu hướng thừanhận rằng chỉ coi là có tình trạng cưỡng ép kết hôn, nếu sự cưỡng ép đượcthực hiện với động cơ phi đạo đức (ví dụ, cưỡng ép cưới, gả để thu tiền hoặcmột lợi ích vật chất nào đó, cho cá nhân người cưỡng ép); và cũng chính sựcưỡng ép đó tạo thành mặt khách quan của tội cưỡng ép kết hôn được ghinhận tại BLHS Ðiều 146 Nhầm lẫn - Khác với luật của nhiều nước, luật ViệtNam hiện hành không coi sự nhầm lẫn như là một trong những lý do để yêucầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu Nếu do nhầm lẫn mà chấp nhận kết hôn, thìngười nhầm lẫn có thể xin ly hôn Nếu sự nhầm lẫn là do hệ quả của sự lừadối, thì có thể yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật do có sự lừa dối[18]

2.1.2 Thiết lập mối quan hệ giữa cha mẹ và con

Quan hệ cha mẹ - con ruột

Đây làm mối quan hệ có tính chất tự nhiên, quan hệ cha mẹ - con rằngbuộc những người có liên quan một cách tự nhiên và được người thứ 3 nhìnnhận mà không cần sự can thiệp của luật, không cần dựa vào các quy tắc pháp

lý Với tính cách là quan hệ tự nhiên, quan hệ cha mẹ - con có thể được xácđịnh dựa vào một trong hai yếu tố hoạc cả hai yếu tố: sinh học và xã hộihọc[13]

Từ lâu, thực tiễn dân gian vẫn thừa nhận việc sử dụng giấy khai sinh đểchứng minh quan hệ cha mẹ - con trong nhiều trường hợp Trong suy nghĩlành mạnh phù hợp với tâm lý của dân cư, giấy khai sinh là bằng chứng vềviệc có một người được sinh ra vào ngày tháng năm được ghi nhận trên giấy

tờ đó; người này có cha và mẹ lần lượt được ghi tên ở các mục tương ứngtrong Giấy khai sinh

 Xác định quan hệ cha mẹ-con như là quan hệ tự nhiên Với tínhcách là quan hệ tự nhiên, quan hệ cha mẹ-con có thể được xác định dựa vàomột trong hai yếu tố: sinh học và xã hội học Trong quan niệm truyền thống,

Trang 30

con ruột của cha và mẹ là con do người mẹ sinh ra từ một bào thai do người

mẹ cưu mang và bào thai đó là kết quả của sự phối hợp xác thịt của cha và

mẹ Giả sử ngày sinh của con được xác định; làm thế nào để xác định ngàythành thai của con ? Luật viết chưa trả lời câu hỏi này Trước khi có Luật hônnhân và gia đình năm 1986, một số văn bản lập quy của cơ quan hành chínhhoặc cơ quan xét xử có ghi nhận các quy tắc về việc suy đoán khoảng thờigian mà trong khoảng thời gian đó người phụ nữ có thể mang thai Các quytắc ấy không giống nhau và hầu như không được áp dụng một cách phổ biếntrong thực tiễn Y học truyền thống, về phần mình, ghi nhận rằng trong đa sốtrường hợp, khoảng cách về thời gian giữa thời điểm thành thai và thời điểmsinh là chín tháng[16] Bài toán về xác định quan hệ cha mẹ-con bằng dữkiện sinh học được tục lệ giải quyết khá đơn giản: cha mẹ hai bên tổ chức lễcưới cho một cô gái và một chàng trai vào ngày rằm tháng Giêng; Hai vợchồng ly hôn vào ngày 29 tháng Tư; người vợ sinh con vào đêm 30 thángChạp Vậy, con thành thai vào khoảng tháng Ba, nghĩa là trong thời kỳ hônnhân; kết luận: đó là con chung của người vợ và người chồng đã ly hôn.Trường hợp sinh sản nhân tạo Trước Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 luậtViệt Nam chưa có các quy tắc liên quan đến việc xác định quan hệ cha mẹ-con trong trường hợp sinh sản nhân tạo Tuy nhiên, thực tiễn có xu hướngthừa nhận rằng: Nếu sự thụ tinh là kết quả sự phối hợp giữa các yếu tố vậtchất của vợ và chồng, thì trẻ sinh ra có cha và mẹ là chồng và vợ đó, ngườimang thai hộ chỉ đóng vai trò người hỗ trợ cần thiết cho sự ra đời của trẻ ấy.Nếu vợ hoặc chồng không cung cấp được yếu tố vật chất của chính mình choviệc thụ tinh, thì lai lịch của người cung cấp yếu tố bổ khuyết không đượccông bố cho vợ và chồng biết, cũng như bản thân người cung cấp yếu tố bổkhuyết không biết lai lịch của vợ và chồng muốn có con bằng con đường thụtinh nhân tạo Con được sinh ra coi như có cha và mẹ ruột là người chồng vàngười vợ đó

Trang 31

Yếu tố xã hội học : Giả thiết được hình dung như sau: một người thứ bađứng trước hai người A và B Nguyễn Văn A giới thiệu với người thứ ba rằngNguyễn Văn B là con ruột của mình Người thứ ba ghi nhận sự tồn tại củamối quan hệ cha-con giữa hai người đối diện không chỉ thông qua lời giớithiệu mà còn qua thái độ cư xử của hai người đối với nhau Ta nói rằng sự tồntại của quan hệ cha mẹ-con được xác định nhờ những biểu hiện bên ngoài củamối quan hệ ấy Một cách tổng quát, quan hệ cha mẹ-con được xác định vềphương diện xã hội, như là kết quả của sự hội tụ của ba yếu tố:

Thứ nhất, đó là Danh xưng đối với Con của một người mang họ của

người đó Thông thường, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân mang họ cha Consinh ra từ quan hệ chung sống như vợ chồng cũng thường mang họ cha, trừtrường hợp những người chung sống như vợ chồng chấp nhận tập tục củacộng đồng dân tộc ít người mà họ có xuất xứ, theo đó, con sinh ra phải mang

họ mẹ Con của một người phụ nữ độc thân thường mang họ của chính ngườiphụ nữ đó

Thứ hai, là Thái độ Việc chỉ mang chung một họ thôi là chưa đủ Các

đương sự phải cư xử với nhau như cha-con, mẹ-con Việc cha, mẹ cư xử với

tư cách đó trong quan hệ với con thể thiện một cách chung nhất qua việc cha

mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục, gầy dựng tương lai của con Việc con cư

xử với tư cách đó trong quan hệ với cha mẹ thể hiện một cách chung nhất quaviệc con tỏ ra kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡîng, tuân theo lời khuyên củacha mẹ

Và cuối cùng, chính là Dư luận Quan hệ cha, mẹ - con chỉ có giá trị

nếu quan hệ đó được thừa nhận bởi gia đình và xã hội, bởi bất kỳ người thứ

ba nào cũng như bởi quyền lực công cộng: ông bà gọi cha mẹ đến để góp ý vềcách giáo dục con; nhà trường gọi cha mẹ đến để họp bàn về việc học củacon; Tòa án gọi cha mẹ đến để tham gia vào vụ án hủy hoại tài sản của ngườikhác mà con chưa thành niên là thủ phạm; Trong tất cả những trường hợp

Trang 32

đó, người thứ ba cũng như quyền lực công cộng thừa nhận quan hệ cha con chỉ trên cơ sở ghi nhận sự hội tụ của những yếu tố xã hội đặc trưng củaquan hệ ấy.

mẹ- Xác định quan hệ cha mẹ-con như là quan hệ pháp lý Việc xác định quan hệ cha mẹ-con về phương diện pháp lý chịu sự chiphối của những quy tắc đặc thù, được xây dựng tùy theo việc xác định đượcthực hiện trong hay ngoài thủ tục tư pháp Bằng chứng chung là Giấy khaisinh Giấy khai sinh là chứng thư hộ tịch được lập nhằm ghi nhận các yếu tốđặc trưng của sự kiện một người nào đó, xác định, được sinh ra Trong đa sốtrường hợp, trên giấy khai sinh, tên họ của cha và mẹ được ghi nhận Giá trịchứng minh của giấy khai sinh đối với quan hệ cha mẹ-con ruột Không mộtvăn bản nào trong luật viết Việt Nam hiện hành quy định rằng giấy khai sinh

là bằng chứng về quan hệ cha mẹ-con ruột[13] Tuy nhiên, thực tiễn giao dịchvẫn thừa nhận việc sử dụng giấy khai sinh để chứng minh quan hệ ấy trongnhiều trường hợp Trong suy nghĩ lành mạnh phù hợp với tâm lý của dân cư,giấy khai sinh là bằng chứng về việc có một người được sinh ra; người này cócha và mẹ lần lượt được ghi tên ở các mục tương ứng trong giấy khai sinh.Ngay cả trong trường hợp những người được khai là cha và mẹ của đứa trẻkhông có đăng ký kết hôn hợp lệ, thì tư cách cha và mẹ cũng có thể đượcchứng minh bằng cách dựa vào các ghi tiết được ghi nhận trên giấy khai sinh

Không có giấy khai sinh hoặc giấy khai sinh có nội dung không đầy đủ.Các trường hợp cần chứng minh quan hệ cha mẹ-con ruột Các trường hợpnày khá đa dạng trong thực tiễn Có thể hình dung hai trường hợp điển hình:khi cần lập khai sinh quá hạn hoặc đăng ký lại khai sinh cho một người và khicần xác định một người nào đó có quyền hưởng di sản của người chết với tưcách là con ruột và là ngườìi thừa kế theo pháp luật được gọi ở hàng thứ nhấtcủa người chết Giải pháp của luật Luật có quy định (song khá đơn giản) vềbằng chứng của quan hệ cha mẹ-con ruột trong trường hợp cần lập khai sinh

Trang 33

quá hạn: phải có người khai sinh và người này phải nộp một hồ sơ có thànhphần giống như trong trường hợp đăng ký khai sinh đúng hạn Vậy nghĩa làđối với cơ quan đăng ký hộ tịch, lời khai của người khai sinh, giấy chứng sinh(nếu có ghi tên họ cha và mẹ) và lời khai của người làm chứng có giá trịchứng minh về quan hệ cha mẹ-con Tất cả các lời khai ấy thực ra đều dựavào các yếu tố sinh học Ðiều này hợp lý, bởi đối với trẻ sơ sinh không thể cóyếu tố xã hội học của quan hệ cha mẹ-con Trong trường hợp giấy khai sinhkhông ghi tên, họ của cha, mẹ, thì quan hệ cha mẹ-con có thể được xác địnhthông qua thủ tục nhận con cho cha mẹ Thực ra rất khó hình dung trong thựctiễn sự phổ biến của trường hợp nhận con cho cha mẹ ngoài thủ tục tư pháptrong điều kiện cha và mẹ có quan hệ vợ chồng hợp pháp Có thể nói rằngnhận con cho cha mẹ là cách xác định chủ yếu cho quan hệ cha mẹ-con ngoàigiá thú

 Con sinh ra từ hôn nhân: Theo Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 Ðiều 63 khoản 1: Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha

mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng Theo Luật hôn nhân và giađình năm 2000 Ðiều 63 khoản 1, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc dongười vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng [8] Hẳn khi xâydựng điều luật đó, người làm luật chỉ liên tưởng đến sự sinh sản tự nhiên Nếucon thành thai vẫn do sự phối hợp của các yếu tố vật chất của cha và mẹ,nhưng sự phối hợp diễn ra trong ống nghiệm và thai được cấy, nuôi dưỡngtrong thân thể của một người phụ nữ khác, thì con không thể được coi chungcủa vợ và chồng, nếu cha và mẹ chấm dứt quan hệ hôn nhân do cha hoặc mẹchết trong thời kỳ thai tăng trưởng ?[18] Ðúng ra phải quy định rằng gọi làcon chung của vợ và chồng, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc thànhthai trong thời kỳ ấy: sự thành thai có thể diễn ra trên thân thể của người mẹ,nhưng cũng có thể diễn ra ở ngoài thân thể đó, nhờ sự hỗ trợ của các biệnpháp y học Bằng chứng sinh học được sử dụng như thế nào trong trường hợp

Trang 34

đặc thù mà người vợ thành thai trong thời kỳ hôn nhân trước, nhưng lại sinhcon trong thời kỳ hôn nhân sau ? Nếu ta cho rằng yếu tố thành thai trong thời

kỳ hôn nhân là yếu tố quyết định của sự suy đoán, thì con sinh ra sẽ là conchung của hai người trong cuộc hôn nhân trước; còn nếu yếu tố sinh ra trongthời kỳ hôn nhân là yếu tố quyết định, thì con sinh ra sẽ là con chung của haingười trong cuộc hôn nhân sau Thực tiễn ghi nhận rằng một khi cuộc hônnhân sau được xác lập chỉ trong một thời gian ngắn sau khi chấm dứt cuộchôn nhân trước, thì thường sự mang thai của người vợ trong thời kỳ hôn nhântrước là kết quả của sự quan hệ xác thịt của người này với người trở thànhchồng trong quan hệ hôn nhân sau Dẫu sao, bằng chứng sinh học trongtrường hợp này hầu như chỉ mang tính chất phụ: việc xác lập quan hệ hônnhân sau sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập các bằng chứng thuyết phục hơn

về quan hệ cha mẹ-con dựa vào giấy khai sinh và yếu tố xã hội

 Con sinh ra từ quan hệ như vợ chồng gọi là con sinh ra từ quan hệnhư vợ chồng, con có cha và mẹ không kết hôn với nhau Tình trạng khôngkết hôn của cha mẹ khá đa dạng Có hai trường hợp đáng chú ý trong thựctiễn, ở góc độ xác định quan hệ cha mẹ-con ruột ngoài thủ tục tư pháp

Trường hợp đầu tiên, khi cha mẹ chung sống với nhau như vợ chồng,không vi phạm các điều kiện về nội dung kết hôn, nhưng lại không đăng kýkết hôn Có một thời, thực tiễn xét xử xây dựng khái niệm hôn nhân thực tếtrong các nỗ lực đồng hóa loại quan hệ này với quan hệ hôn nhân chính thức,nhằm tạo điều kiện cho những người xác lập quan hệ vợ chồng trong thời kỳthuộc địa và chiến tranh mà không đăng ký kết hôn được hưởng các biện phápbảo vệ của luật dành cho người mang tư cách vợ, chồng hợp pháp Nhưng saukhi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, khái niệm hôn nhân thực tế đã bịloại bỏ[13]

Trang 35

Trường hợp thứ hai, trong khi cha mẹ kết hôn trái pháp luật và hônnhân bị hủy Như ta đã biết, luật chỉ nói rằng quyền lợi của con được giảiquyết như khi ly hôn.

Trong cả hai trường hợp trên, thực tiễn dường như vẫn có xu hướng xácđịnh quan hệ cha mẹ-con của các đương sự theo các tiêu chí được chấp nhậncho quan hệ cha mẹ-con gắn với quan hệ hôn nhân hợp pháp Ðặc biệt, nếucon sinh ra hoặc thành thai trong thời kỳ chung sống của hai người, thì thựctiễn thừa nhận đó là con chung của vợ và chồng Ta nói rằng con ngoài giá thútrong hai trường hợp đó là con ngoài giá thú một cách ngoại lê Ngoài haitrườìng hợp đó, con ngoài giá thú được gọi là con ngoài giá thú theo nghĩahẹp

Đối với trường họp nhận con ngoài giá thú, thì việc này là một thủ tụchành chính cho phép một người nhìn nhận một người khác là con của mìnhtrong điều kiện không có tranh chấp và người được nhận là con không có giấykhai sinh hoặc giấy khai sinh không ghi lai lịch của cha, mẹ Thủ tục nàyđược ghi nhận tại Nghị định 83-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch,nhưng lại không được ghi nhận trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Trong trường hợp con đang được người khác nuôi dưỡng, thì việc nhậncon phải được sự đồng ý của người nuôi dưỡng đó Nếu người được nhận làcon từ đủ 9 tuổi trở lên, thì còn phải có sự đồng ý của người đó Trong trườnghợp một người mà tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyênnhân khác, không thể đến UBND khai nhận người khác là con mình, thì đơnđược thay thế bằng văn bản có xác nhận của hai người làm chứng về nguyệnvọng nhận con của người đó

Quyền được nhận cha mẹ, một quyền con người không chỉ được phápluật hôn nhân và gia đình còn còn cả các quy định pháp luật khác ghi nhận vàbảo đảm Người không rõ cha, mẹ có thể tiến hành khai nhận cha, mẹ một khi

Trang 36

việc xác định quan hệ cha mẹ-con đã rõ ràng đối với các đương sự Giống nhưtrường hợp nhận con ngoài giá thú, cách xác lập quan hệ này, trong trườnghợp không có tranh chấp, cũng được ghi nhận trong Nghị định số 83-CP ngày10/10/1998 về đăng ký hộ tịch và cũng không được ghi nhận trong Luật hônnhân và gia đình năm 2000 Thực ra, quy định cho phép con nhận cha mẹngoài thủ tục tư pháp là không cần thiết, bởi: Trong trường hợp cha, mẹ đượcthừa nhận còn sống và chấp nhận, thì đó là việc cha, mẹ nhận con đúng hơn làcon nhận cha, mẹ; Trong trường hợp cha, mẹ được thừa nhận còn sống vàkhông chấp nhận hoặc cha, mẹ đã chết, thì việc con nhận cha, mẹ ngoài thủtục tư pháp là không thể được vì không đủ chủ thể giao dịch

2.1.3 Chấm dứt quan hệ hôn nhân

Các trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân, trên thực tế, có thể được

xếp thành ba nhóm: Nhóm 1,Vợ hoặc chồng chết hoặc bị tuyên bố là đã chết (gọi chung là chết) Nhóm 2, Vợ và chồng ly hôn Nhóm 3, Vợ và chồng

không sống chung nhưng không tiến hành thủ tục ly hôn[17]

Trong trường hợp thứ ba, luật Việt Nam vẫn xem các đương sự là vợ vàchồng hợp pháp do đó, họ vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của vợ chồngđối với nhau Riêng nghĩa vụ nuôi dưỡng, trong những hoàn cảnh đặc thù, cóthể được chuyển thành nghĩa vụ cấp dưỡng sao cho phù hợp và thuận tiệnnhất trong việc đảm bảo cân bằng quyền và lợi ích của tất cả các bên

Trong hai trường hợp đầu, vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng trởthành người độc thân sau khi hôn nhân chấm dứt và có quyền kết hôn vớingười khác Thế nhưng, khác với vợ (chồng) ly hôn, vợ chồng còn sống saukhi hôn nhân chấm dứt do có người chết còn mang thêm tư cách vợ (chồng)góa và chính tư cách này khiến cho người còn sống có một số quyền đượcthừa nhận, trong tục lệ hoặc trong luật, mà người ly hôn không có Tục lệ nóirằng người vợ góa không kết hôn lại có quyền tiếp tục mang tên, thậm chí cả

Trang 37

tên và họ của người chồng đã chết Nói chung, tục lệ quan niệm rằng hônnhân chấm dứt theo luật khi vợ hoặc chồng chết, nhưng chỉ thực sự chấm dứttrên thực tế khi người còn sống kết hôn với người khác.

Dưới góc độ pháp lý, Luật thừa nhận rằng khi vợ hoặc chồng chết, thìchồng hoặc vợ còn sống có quyền hưởng di sản theo pháp luật với tư cách làngười thừa kế thuộc hàng thứ nhất Trong trường hợp người chết lập di chúcgiao tài sản của mình cho người khác, thì vợ hoặc chồng còn sống có quyềnhưởng di sản không phụ thuộc nội dung di chúc và được luật cho phép nhậnmột phần di sản bằng 2/3 suất thừa kế được hưởng trong trường hợp toàn bộ

di sản được chuyển giao theo pháp luật[18]

Trong ly hôn không có yếu tố lỗi Ðơn giản bởi hôn nhân không thểđược duy trì chỉ bởi vì không thể đạt được mục đích của nó Trong quan niệmcủa người làm luật Việt Nam hiện đại, hôn nhân đích thực là điều kiện vunđắp tình yêu giữa một người đàn ông và một người đàn bà Nếu, sau một thờigian chung sống, tình yêu không những không được vun đắp mà còn bị màimòn và sự mài mòn không thể cứu chữa thì cuộc hôn nhân coi như thất bại.Tuy nhiên, sự thất bại của hôn nhân không nhất thiết dẫn đến sự tan rã của giađình, bởi, trong quan niệm của tục lệ, chất liệu xây dựng và củng cố gia đìnhthực ra không phải là tình yêu mà là nghĩa Chính từ hôn nhân mà gia đìnhđược tạo ra và sống trong đó, các thành viên của gia đình được nuôi dưỡng,chăm sóc, che chở, bảo vệ, cũng như có điều kiện phát triển trí tuệ và nhâncách, xây dựng và củng cố sự nghiệp của mình Họ cùng hưởng hạnh phúc vàcùng chia sẻ bất hạnh Nghĩa được hình thành và lớn lên từ đó Nếu giữa vợ

và chồng có tình yêu, thì tình yêu đó được lồng trong nghĩa (và chính nghĩanuôi dưỡng tình yêu); nếu tình yêu không tồn tại, nghĩa vẫn có thể tự mìnhphát triển Suy cho cùng, nghĩa là động lực thúc đẩy vợ và chồng nỗ lực đạtđến mục đích của hôn nhân Chính sự suy yếu của nghĩa khiến cho hôn nhânkhó có thể vươn tới mục đích của nó Quá trình suy yếu không thể cứu chữa

Trang 38

của nghĩa luôn diễn ra đồng thời với quá trình tan rã của gia đình Có trườnghợp sự tan rã chưa kịp đi vào giai đoạn quyết định, thì vợ hoặc chồng chết:người còn sống được tự do Có trường hợp sự tan rã đi vào giai đoạn quyếtđịnh ngay trong lúc cả vợ và chồng đều còn sống: vợ và chồng phải chấm dứtcuộc sống chung bằng con đường ly hôn Sự suy yếu của nghĩa có thể donhiều nguyên nhân, đặc biệt là do vợ hoặc chồng vi phạm nghiêm trọng cácnghĩa vụ hỗ tương, nhất là nghĩa vụ chung thủy Trong nhiều trường hợp, sự

vi phạm nghĩa vụ hỗ tương của vợ và chồng có thể dẫn đến việc chế tài theoyêu cầu của chồng hoặc vợ; song, đó là những chế tài độc lập và không thểđược ghi nhận để quy lỗi cho người vi phạm đối với sự sụp đổ của gia đìnhtrong quá trình giải quyết vụ án ly hôn[11,13] Nói đúng hơn, ly hôn là mộtkết cục không có hậu của một cuộc hôn nhân mà mỗi đương sự đều phải chịutrách nhiệm do không vun đắp được nghĩa để duy trì cuộc hôn nhân đó Bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con Thực tiễn ghi nhận rằngtrong phần lớn trường hợp, người sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn vềvật chất và tinh thần sau khi ly hôn là người vợ và các con sinh ra từ hônnhân, nhất là các con chưa thành niên Do đó, việc giải quyết yêu cầu ly hôn

và các vấn đề phát sinh sau khi ly hôn phải được thực hiện dựa trên tư tưởngchủ đạo theo đó, quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con được ưu tiên bảo

vệ Luật cho phép Tòa án chủ động can thiệp trong trường hợp thuận tình lyhôn, một khi các thỏa thuận giữa vợ và chồng không thể hiện sự bảo đảmđúng mức các quyền và lợi ích đó (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều90)

Hệ quả tài sản, đây cũng là một vấn đề cần được pháp luật quy địnhchặt chẽ khi sự kiện chấm dứt hôn nhân xảy ra Từ khi hôn nhân chấm dứt domột bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, các quan hệ tài sảncủa vợ chồng cũng chấm dứt Khối tài sản chung hình thành trong thời kỳ hônnhân được thanh toán và phân chia Chừng nào chưa được phân chia, khối tài

Trang 39

sản ấy thuộc sở hữu chung theo phần của vợ và chồng và chịu sự chi phối củacác quy định thuộc luật chung về sở hữu chung theo phần Việc phân chia tàisản chung sau khi ly hôn có thể được thực hiện theo thỏa thuận hoặc bằng conđường tư pháp và là đề tài của phần thứ hai của môn học này Sau khi phânchia tài sản chung và nhận lại tài sản riêng, bên có khó khăn, túng thiếu có thểyêu cầu bên kia cấp dưỡng.

Hệ quả đối với con cái, Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều

92 khoản 1, sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc,giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mấtnăng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để

tự nuôi mình Các nghĩa vụ ấy, đồng thời cũng là quyền của cha mẹ đối vớicon, đã có từ khi con sinh ra và không thể bị ảnh hưởng bởi việc ly hôn củacha, mẹ Thực ra, tất cả các quyền và nghĩa vụ hỗ tương của cha mẹ và conđều được duy trì sau khi ly hôn: các quyền và nghĩa vụ ấy được xác lập trên

cơ sở quan hệ cha mẹ-con chứ không phải quan hệ hôn nhân của cha và mẹ.Bởi vậy, điều luật chỉ có tác dụng nhắc các đương sự về việc tiếp tục thựchiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, chứ không phải nhằmmục đích giới hạn nội dung của các quyền và nghĩa vụ ấy sau khi cha và mẹ

ly hôn Dẫu sao, không thể ảo tưởng về việc quyền và nghĩa vụ của cha mẹđối với con có thể được thực hiện một cách bình thường sau khi ly hôn, nhưtrong trường hợp cha mẹ duy trì cuộc sống chung Ly hôn, cha và mẹ chia taynhau và con chưa thành niên phải sống với một trong hai người chứ không thểsống cùng một lúc với cả hai

2.1.4 Nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng là sự biểu đạt vật chất của tình đoàn kết giữa cácthành viên trong cùng một gia đình, là nghĩa vụ mà luật áp đặt đối với mộtthành viên gia đình, theo đó thành viên này phải giúp đỡ thành viên khác, vềphương diện vật chất, trong điều kiện thành viên khác sống trong tình trạng

Trang 40

túng quẩn và không thể tự mình giải quyết vấn đề ổn định điều kiện sống vậtchất của mình Thực ra, trong thời kỳ hôn nhân, vợ và chồng đã có nghĩa vụnuôi dưỡng đối với nhau và đã thường xuyên thực hiện nghĩa vụ đó Ta nóirằng nghĩa vụ cấp dưỡng là biến thể của của nghĩa vụ nuôi dưỡng, ghi nhậntrong trường hợp quan hệ vợ chồng chấm dứt do ly hôn Một cách tổng quát,nghĩa vụ cấp dưỡng là một hình thức thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng và hìnhthức này xuất hiện khi mà các bên trong quan hệ nghĩa vụ nuôi dưỡng khôngcòn chung sống dưới một mái nhà hoặc có quan hệ tình cảm diễn biến theochiều hướng xấu đến mức việc thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng không còn cóthể dựa vào ý thức tự giác

Ðã nói rằng người có nghĩa vụ cấp dưỡng đồng thời cũng là người cónghĩa vụ nuôi dưỡng[13,17] Bởi vậy, để xác định những người có quyền yêucầu cấp dưỡng, chỉ cần đi tìm những người mà theo quy định của luật, cóquyền được người khác nuôi dưỡng Suy cho cùng tất cả những người cóquyền yêu cầu cấp dưỡng đều là thành viên gia đình; nhưng không phải thành

viên nào của gia đình cũng có quyền yêu cầu cấp dưỡng Vợ và chồng, cha

mẹ và con Vợ và chồng phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì mới xác lậpđược quan hệ nghĩa vụ cấp dưỡng: người chung sống như vợ hoặc chồng vớimột người khác, không có quyền yêu cầu người cùng chung sống cấp dưỡngcho mình; cũng như vậy, trong trường hợp một người chung sống với mộtngười khác và có đăng ký kết hôn, nhưng sau đó hôn nhân bị hủy theo mộtquyết định của Tòa án Trái lại, việc xác lập nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ

và con không lệ thuộc vào tính chất của quan hệ chung sống giữa cha và mẹ:con ngoài giá thú, con ngoại tình, thậm chí con loạn luân đều có quyền yêucầu cha mẹ cấp dưỡng, như con từ hôn nhân hợp pháp, và ngược lại Quan hệcha mẹ-con cũng có thể có nguồn gốc từ việc nhận con nuôi: giữa cha mẹnuôi và con nuôi cũng có quan hệ nghĩa vụ cấp dưỡng như giữa cha mẹ và

con ruột Chỉ giữa ông bà và cháu trực hệ mới có quan hệ nghĩa vụ nuôi

Ngày đăng: 17/08/2020, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. L. Anđrêép, Về tác phẩm của Ph. Ăngghen: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nxb. Tiến bộ Mátxcơva, 1987, bản dịch tiếng Việt của Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác phẩm của Ph. Ăngghen: Nguồn gốc của giađình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ Mátxcơva
2. C. Mác - Ph. Ăngghen (1984), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Tuyển tập, tập VI, xb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chếđộ tư hữu và của nhà nước
Tác giả: C. Mác - Ph. Ăngghen
Năm: 1984
4. Hiến pháp năm 1992 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) 5. Quốc hội nước CHXHCNVN (2005), Bộ luật Dân sự nước cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự nước cộng
Tác giả: Hiến pháp năm 1992 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) 5. Quốc hội nước CHXHCNVN
Năm: 2005
11. Khoa Luật - Đại học cần Thơ, Giáo trình Luật hôn nhân và Gia đình - Tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hôn nhân và Gia đình - Tập 1
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Cần Thơ
12. Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 13. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đềlý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt," Nxb Đà Nẵng13. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002), "Một số vấn đề"lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 13. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng13. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002)
Năm: 2002
14. Nguyễn Ngọc Điện (2002), Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình, Tập 1 – Gia đình, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình, Tập 1 – Gia đình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
15. Vũ Văn Mẫu (1962), Dân luật Việt Nam Lược khảo, quyển I 16. Nguyễn Thế Giai (1991), Luật hôn nhân và gia đình, trả lời 120câu hỏi, Nxb Pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân luật Việt Nam Lược khảo, quyển I
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1962
17. Nguyễn Văn Thông (2001), Hỏi đáp về luật hôn nhân và gia đình, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Nguyễn Văn Thông
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 2001
18. Nguyễn Ngọc Điện (2002), Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập 1, Nxb. Trẻ, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật hônnhân và gia đình Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2002
19. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 47, tr. 429-430 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
20. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Sđd, t. 51, tr. 140 – 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
21. Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 427 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
22. Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 170, 103 – 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999
Nhà XB: Nxb. Chínhtrị quốc gia
23. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 76 – 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
10. Trường Đại học luật Hà Nội (1994), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w