1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm di truyền giống mít cổ loa góp phần phục hồi và phát triển nguồn gen cây ăn quả đặc sản địa phương

99 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ --- Phạm Tiến Toàn NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN GIỐNG MÍT CỔ LOA GÓP PHẦN PHỤC HỒI

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Phạm Tiến Toàn

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN GIỐNG MÍT CỔ LOA GÓP PHẦN PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN

NGUỒN GEN CÂY ĂN QUẢ ĐẶC SẢN ĐỊA PHƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội, 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC

VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Phạm Tiến Toàn

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN GIỐNG MÍT CỔ LOA GÓP PHẦN PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN

NGUỒN GEN CÂY ĂN QUẢ ĐẶC SẢN ĐỊA PHƯƠNG

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 8420114

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC Người hướng dẫn 1: TS Nguyễn Như Toản Người hướng dẫn 2: TS Phạm Hùng Cương

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất

kỳ một công trình nào khác Mọi sự giúp đỡ và các thông tin trích dẫn đã được nêu rõ nguồn gốc

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này

Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2019

Tác giả

Phạm Tiến Toàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến Viện Hàn Lâm Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam, học viện Khoa Học và Công Nghệ,các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai thầy hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Như Toản - Trường ĐHTĐ Hà Nội và TS Phạm Hùng Cương - TTTN thực vật – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, người đã luôn tận tình, dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá

trình hướng dẫn thực hiện nghiên cứu và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cám ơn các bạn bè và người thân đã giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Tiến Toàn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

4.1 Ý nghĩa khoa học 2

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

5.1 Đối tượng nghiên cứu 2

5.2 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Đóng góp mới 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Đặc điểm sinh vật học của Mít 4

1.1.1 Nguồn gốc và phân bố cây mít 4

1.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây mít 5

1.1.3 Yêu cầu sinh thái của cây mít 9

1.2 Tình hình nghiên cứu Mít trên thế giới 10

Trang 6

1.2.1 Nghiên cứu về giá trị sử dụng của Mít 10

1.2.2 Nghiên cứu về nông học với cây Mít 13

1.2.3 Nghiên cứu về đa dạng di truyền 19

1.3 Tình hình nghiên cứu mít ở Việt Nam 22

1.3.1 Nghiên cứu về giá trị sử dụng của cây mít 22

1.3.2 Nghiên cứu về nông học và đa dạng nguồn gen mít 24

1.4 Tổng quan về các loại chỉ thị phân tử thường được sử dụng 29

1.5 Đặc điểm tự nhiên, xã hội ở khu vực nghiên cứu 35

CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Vật liệu nghiên cứu 38

2.2 Nội dung nghiên cứu 388

2.2.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học nguồn gen Mít Cổ Loa và xây dựng bảng mô tả nguồn gen Mít Cổ Loa 38

2.2.2 Đánh giá mối quan hệ di truyền nguồn gen Mít Cổ Loa bằng kỹ thuật sinh học phân tử ISSR 38

2.2.3.Đánh giá mối quan hệ di truyền giữa Mít Cổ Loa và một số giống Mít khác 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông sinh học, xây dựng bảng mô tả nguồn gen Mít Cổ Loa 38

2.3.2 Phương pháp đánh giá chất lượng quả nguồn gen Mít Cổ Loa 39

2.3.3 Phương pháp đánh giá mối quan hệ di truyền bằng kỹ thuật sinh học phân tử nguồn gen Mít Cổ Loa và một số giống Mít khác 40

2.3.4 Xử lý số liệu 45

2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 45

2.4.1 Địa điểm 45

2.4.2 Thời gian 45

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46

Trang 7

3.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học, xây dựng bảng mô tả nguồn gen của quần

thể giống Mít Cổ Loa 46

3.2 Đặc điểm nông sinh học và chất lượng nguồn gen Mít Cổ Loa 50

3.2.1 Đặc điểm hình thái tán và thân nguồn gen mít Cổ Loa 50

3.2.2 Đặc điểm hình thái lá và quả nguồn gen mít Cổ Loa 51

3.2.3 Các thời kỳ ra hoa, quả và chín trong năm của cây Mít Cổ Loa 52

3.2.4 Đặc điểm múi, hạt của cây Mít Cổ Loa 55

3.2.5 Đánh giá chất lượng quả Mít Cổ Loa 57

3.3 Xây dựng bảng mô tả giống Mít Cổ Loa 59

3.4 Đa dạng di truyền nguồn gen Mít Cổ Loa bằng ở mức độ phân tử 60

3.4.1 Sự đa hình sản phẩm PCR khi sử dụng các chỉ thị ISSR khác nhau trên các mẫu Mít Cổ Loa 60

3.4.2 Mối quan hệ di truyền giữa các cá thể trong quần thể mít Cổ Loa 67

3.5 Đánh giá mối quan hệ di truyền giữa Mít Cổ Loa với các giống mít phổ biến khác bằng giải trình tự hệ gen 70

3.5.1 So sánh trình tự gen của các mẫu nghiên cứu: 70

3.5.2 Đối chiếu các trình tự nghiên cứu trên ngân hàng gen 70

3.5.3 Mối quan hệ di truyền giữa các giống mít 70

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

1 Kết luận 73

2 Đề nghị 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 79

PHỤ LỤC 1 BẢNG MÔ TẢ GIỐNG MÍT CỔ LOA 79

PHỤ LỤC 2 KẾT QUẢ GIẢI TRÌNH TỰ HỆ GEN LỤC LẠP VÀ GEN NHÂN CỦA 4 GIỐNG MÍT 82

PHỤ LỤC 3 MỘT SỐ HÌNH ẢNH MÍT CỔ LOA 88

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACP Axit phosphatase

ADH Alcohol dehidrogenase

AFLP Amplified Fragment Length Polymorphism

EDDHA natri ferric diethylenediamine di- oydroxyphenylaceatte

EDTHA natri ferric diethylenetriamine pentaacetate

GA3 Gibberellic

GOT Glutamate oxaloacetate transaminase

IAA axitIndole-3-acetic

IBA Axit Indole-3-butyric

ISSR Inter Simple Sequence Repeats

MDH Malete dehidrogenase

ML Maximum Livelihood

NAA axit axetic α-naphthalene

PCR Polymerase Chain Reaction

RAPD Random Amplified Polymorphic

RFLP Restriction Fragment Length Polymorphism

SNP single Nucleotide Polymorphism

SSR Simple Sequence Repeat

UTFANET Cây ăn quả nhiệt đới chưa được quan tâm sử dụng

CTV Cộng tác viên

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.3 Ký hiệu mẫu và ký hiệu trình từ gen nghiên cứu 44

Bảng 3.1 Bảng tổng hợp các cây Mít cổ thụ trên 50 tuổi tại Cổ

Bảng 3.2 Kết quả điều tra và xác định các mẫu giống Mít Cổ Loa 47

Bảng 3.3 Đặc điểm hình thái của các mẫu giống nguồn gen mít Cổ

Bảng 3.4 Một số đặc điểm hình thái lá, quả nguồn gen Mít Cổ Loa 52 Bảng 3.5 Thời gian ra hoa của một số mẫu giống mít Cổ Loa 53 Bảng 3.6 Thời gian quả chín của một số mẫu giống mít Cổ Loa 54 Bảng 3.7 Kích thước múi, hạt của một số mẫu giống mít Cổ Loa 55 Bảng 3.8 Đánh giá cảm quan giống mít Cổ Loa tại Đông Anh, Hà

Bảng 3.9 Một số đặc điểm cấu thành năng suất Mít Cổ Loa tại

Bảng 3.10 Kết quả phân tích chất lượng các mẫu mít Cổ Loa 58 Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu hóa sinh của mít Cổ Loa so sánh với Mít

Bảng 3.12 Tổng số băng, số phân đoạn và tỷ lệ đa hình khi sử dụng

Bảng 3.13 Hệ số tương đồng di truyền của 20 mẫu mít nghiên cứu 68

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Đặc điểm quả của mít Cổ Loa tại xã Cổ Loa, Đông

Hình 3.2 Đặc điểm hoa điển hình của giống Mít Cổ Loa 89

Hình 3.3 Đặc trưng màu sắc múi và tỷ lệ phần ăn được của giống

Hình 3.5 Hình ảnh điện di sản phẩm ISSR sử dụng mồi ISSR1 61 Hình 3.6 Hình ảnh điện di sản phẩm ISSR sử dụng mồi ISSR2 61 Hình 3.7 Hình ảnh điện di sản phẩm ISSR sử dụng mồi ISSR3 62 Hình 3.8 Hình ảnh điện di sản phẩm ISSR sử dụng mồi ISSR5 62 Hình 3.9 Hình ảnh điện di sản phẩm ISSR sử dụng mồi ISSR6 63 Hình 3.10 Hình ảnh điện di sản phẩm ISSR sử dụng mồi ISSR7 64 Hình 3.11 Hình ảnh điện di sản phẩm ISSR sử dụng mồi ISSR8 64 Hình 3.12 Hình ảnh điện di sản phẩm ISSR sử dụng mồi ISSR10 65

Hình 3.13 Sơ đồ quan hệ di truyền của 20 mẫu mít nghiên cứu

theo hệ số của Jaccard và kiểu phân nhóm UPGMA 69 Hình 3.14 Cây phát sinh chủng loại 4 giống mít và loài công bố 71

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Xã Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh nằm ở phía Bắc, cách trung tâm Hà Nội 12km, là một trong những khu di tích khảo cổ lớn nhất hội tụ các giai đoạn lịch sử đồ đá, đồ đồng, sắt, được nhà nước xếp hạng năm 1962 Trong

ký ức dân gian Cổ Loa hiện còn lưu truyền hàng trăm địa danh cổ, trong đó có địa danh Bãi Trám, Bãi Nhãn, Xóm Mít, vv… gợi nhớ những vườn cây ăn quả khi xưa Song giờ đây, cảm nhận về Cổ Loa với nhiều người đến thăm chỉ

là những vết tích, đình đền lụn vụn, nằm xen giữa những kiến trúc hiện đại Đặc biệt, 3 vòng thành hình xoáy trôn ốc, có cấu trúc đất đồi đỏ vàng được giao cho người dân địa phương canh tác nông nghiệp Hiện nay trên vòng thành nhiều đoạn bỏ hoang hoặc trồng cây rau màu, nhiều đoạn trồng cây lưu niên như keo, chè, muồng… và một số ít cây mít, trám còn sót lại Các cây này được chăm sóc tự phát thiếu quy hoạch, giá trị kinh tế rất thấp Thoái hóa

và xói mòn đất xảy ra qua nhiều năm làm chiều cao vòng thành bị thấp xuống, người dân nhận thức chưa cao và ít quan tâm đến việc bảo vệ tôn tạo

Mít Cổ Loa là cây có giá trị về mặt cảnh quan du lịch và giá trị về nông nghiệp, là cây ăn quả đặc sản nổi tiếng một thời, chất lượng ngon và đã đi vào thư tịch cổ có giá trị về mặt cảnh quan sinh thái ở khu di tích lịch sử quốc gia Thành Cổ Loa Tuy nhiên hiện nay quần thể mít Cổ Loa đang bị thu hẹp do

đô thị hóa Những cây mít trên 100 tuổi còn lại rất ít và bị già cỗi, sâu bệnh Quần thể cây mít ở Cổ Loa bị lẫn tạp do quá trình gây giống theo cách truyền thống là gieo hạt, tạo cây thực sinh qua nhiều thế hệ đã biến dị không được chọn lọc và không còn đúng bản chất giống mít Cổ Loa gốc

Để góp phần bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích thành Cổ Loa nhằm xây dựng Cổ Loa thành “Công viên lịch sử - sinh thái - nhân văn”, cần thiết phải tiến hành những nghiên cứu về quần thể Mít Cổ Loa, đánh giá đặc điểm nông sinh học, mức độ đa dạng và quan hệ di truyền Những nghiên cứu này là cơ sở khoa học để tiến hành bảo tồn, duy trì và phát triển nguồn

gen Mít Cổ Loa, do đó đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm di truyền giống Mít Cổ

Trang 12

Loa góp phần phục hồi và phát triển nguồn gen cây ăn quả đặc sản địa phương” rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá được đặc điểm nông sinh học, mức độ đa dạng và mối quan

hệ di truyền của quần thể giống Mít Cổ Loa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen mít đặc sản Cổ Loa của Hà Nội

3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

Đánh giá đặc điểm nông sinh học và xây dựng bảng tính trạng đặc trưng hình thái, nông học của giống Mít Cổ Loa;

Phân tích đặc điểm di truyền và mối quan hệ di truyền của giống Mít

Cổ Loa với một số giống mít phổ biến khác của Việt Nam

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

4.1 Ý nghĩa khoa học

Góp Phần bổ sung những dẫn liệu về đặc điểm nông sinh học, cũng như các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của mít nói riêng và cây trồng khác nói chung, là tư liệu khoa học tham khảo có giá trị cho hoạt động dạy học và nghiên cứu khoa học

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài về khả năng sinh trưởng phát triển và thích nghi của các dòng mít nghiên cứu là cơ sở để tìm hiểu, sưu tầm và chọn tạo được các giống cây trồng phù hợp với các điều kiện sinh thái khác nhau nói chung và với cây mít nói riêng Từ đó có thể đề ra một số biện pháp canh tác hợp lý đối với cây mít Thành Cổ Loa là di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt trong đó mít là cây cảnh quan không thể thiếu trong quy hoạch không gian khu di tích lịch sử này, do đó kết quả của đề tài sẽ góp phần bảo tồn và tôn tạo Thành Cổ Loa

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Quần thể mít địa phương có từ lâu đời ở khu vực di tích lịch sử Thành

Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội và một số giống mít phổ

biến khác có tên gọi Mít Na, Mít Đồi và Mít Thái, cùng thuộc loài Artocarpus

heterophyllus Lam

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài thuộc nhiệm vụ “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám, Mít bản địa tại khu vực di tích lịch sử Cổ Loa, huyện Đông Anh”

Giới hạn của đề tài: trong số các cây Mít Cổ Loa trồng tại khu vực di tích lịch sử Thành Cổ Loa, chỉ những cá thể được mô tả, xác định có những đặc điểm đúng giống và vẫn sinh trưởng ổn định được lấy làm vật liệu cho nghiên cứu này

6 ĐÓNG GÓP MỚI

Trên cơ sở mô tả, đánh giá các đặc điểm nông sinh học của quần thể giống Mít địa phương tại khu di tích Cổ Loa đã xây dựng được bảng tính đặc điểm đặc trưng của giống Mít Cổ Loa Đánh giá mối quan hệ di truyền cho thấy quần thể Mít Cổ Loa có sự tương đồng di truyền cao So sánh trình tự gen của các mẫu giống mít của Việt Nam không có sự khác biệt, nhưng có sự khác nhau so với trình tự gen vùng ITS của giống mít Ấn Độ và Trung Quốc Kết quả là tư liệu hữu ích cho công tác bảo tồn, chọn lọc, phục tráng và phát triển nguồn gen có giá trị này

Trang 14

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MÍT

1.1.1 Nguồn gốc và phân bố cây mít

Cây Mít (Artocarpus heterophyllus Lam) thuộc chi Artocarpus là một

thành viên của họ Dâu tằm (Moraceae) được công bố đầu tiên bởi Lamarck

Các tên đồng danh của loài này bao gồm: A philippinensis Lam., A.maxiija Blanco, Soccus arboreus major Rumph., Polyphema jaca Lour., A

brasiliensis Gomez (Haq, 2006; Soepadmo, 1992)[1,2] Mít được cho là có

nguồn gốc từ những cánh rừng mưa thường xanh ở Tây Ghats của Ấn Độ nằm trong khoảng độ cao từ 400 đến 1200 m so với mực nước biển Một số tài liệu khác lại cho rằng Mít có nguồn gốc từ Malaysia

Việc thuần hóa diễn ra trong quá khứ xa xôi và Mít được trồng trọt lan rộng khắp Nam và Đông Nam Á cho đến thời kỳ chế độ thuộc địa khi đó nó tiếp tục được giới thiệu sang những nơi khác Tổng hợp tài liệu về sự phân bố của cây Mít từ các báo cáo đã công bố cho thấy từ 3 quốc gia bản địa Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia cây Mít đã được di thực và trồng phổ biến tại 79 quốc gia khác của châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương (Haq; 2006)[1] dẫn chiếu Cơ sở dữ liệu ICRAF, Bowe (Pers.comm, 2003)

Hiện nay cây Mít được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới châu Á như: Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Srilanca, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines Ở Úc, Mít được trồng chủ yếu tại các vùng nhiệt đới phía bắc Queensland và xung quanh khu vực Darwin thuộc Lãnh thổ phía Bắc Úc Cây Mít cũng được tìm thấy trên khắp châu Phi (như ở Cameroon, Uganda, Tanzania, Madagascar, và đảo quốc Mauritius), cũng như

ở nhiều nước nhiệt đới Nam và Trung Mỹ như Brazil, Jamaica, Nam Florida Quả Mít và các sản phẩm từ Mít là một mặt hàng thực phẩm phổ biến trên khắp các châu lục khi giao thương quốc tế ngày càng mở rộng

Cây Mít có trong đời sống của người dân Việt Nam từ lâu đời gắn liền với lịch sử trên 4000 năm dựng nước và giữ nước, tuy nhiên không có tài liệu

Trang 15

nào ghi chép chính xác Từ thế kỷ 18 quả Mít được nhắc đến gọi là quả Ba la mật trong tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn (Vân Đài Loại Ngữ, NXB Văn hóa thông tin, H 1995 T3, Tr 217)[3]

1.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây Mít

Đặc điểm thân: Mít là loài cây thân gỗ, kích cỡ thân từ trung bình đến

rất to thường có đường kính khoảng 80 - 100 - 120 cm nhưng có thể lớn hơn nhiều ở những cây già Chiều cao cây Mít dao động từ 10 - 20 m, đôi khi đạt tới 30 m Mít có một rễ cọc dài và các rễ bao xung quanh dày đặc Rễ bao quanh hình nón khi cây còn nhỏ và đạt đường kính từ 3,5 - 6,7 m sau năm năm Thân cây trở nên tròn và hơi bất cân đối khi cây già tuổi Vỏ cây dày ít nứt, màu xám sẫm, có vảy màu nâu xám hoặc xám đen Các cành nhánh ra từ

vị trí thấp trên thân cây với góc từ 30 - 90º Cành non có lông và có vết vòng của lá kèm (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Đặc điểm lá: Lá Mít là lá đơn mọc cách Lá mọc xen kẽ trên cành

ngang nhưng có xu hướng xoắn ốc trên các nhánh phía trên với kiểu sắp xếp

lá 2/5 Có hiện diện các lá kèm lớn hình trứng đính thành mo ôm cành, dài khoảng 4 -8 cm và rộng 1 - 3 cm, rụng sớm để lại sẹo nhìn rõ trên vỏ thân, cành Phiến lá dày và có các hình dạng như: trái xoan rộng, hình thuôn, trứng ngược hoặc elip Lá Mít trên các cành trưởng thành có hình trứng ngược nhiều hơn và lá trên các nhánh chồi non thường có hình thuôn dài và hẹp hơn Chiều dài lá biến động từ 7 - 25 cm và rộng từ 3 - 12 cm,cuống lá dài 1 - 2,5cm Phiến lá dai như da, không lông, cứng ráp và màu xanh đậm sáng phía mặt trên và màu xanh nhạt ở mặt bên dưới, lúc đầu lởm chởm nhưng nhẵn ở mặt dưới Gân lá xếp hình lông chim thường có khoảng 5 - 12 cặp gân Gân giữa và gân chính có màu trắng xanh đến vàng nhạt Gốc lá có hình nêm hoặc

tù ở cuối và toàn bộ lá, nhưng ở cây non mọc từ hạt hình dạng lá không theo quy luật mà thường xẻ 3 thùy Các phiến lá phẳng, nhăn hoặc với các cạnh lá hướng lên Đỉnh lá tù, tròn hoặc có đầu ngắn Từ điểm rộng nhất, lá thon dần đến cuống lá Cuống lá có màu xanh đậm, dài từ 1 - 5 cm và có rãnh ở mặt đối diện của cuống (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Trang 16

Đặc điểm cụm hoa và hoa Mít: Mít là loài có hoa đực và hoa cái riêng

rẽ cùng mọc trên một cây gọi là đơn tính đồng chu, các cụm hoa đực và hoa cái được sinh ra riêng biệt trên các nách lá, trên thân cây hoặc trên các cành già Trong một số trường hợp, cụm hoa cũng có thể được sinh ra trên các phần thân ngầm trong đất, tạo ra những quả nhô lên khỏi mặt đất Một số lượng lớn những hoa riêng lẻ được sinh ra trên một trục thuôn dài hình chùy

và tập trung sát nhau thành một cụm hoa hình đuôi sóc, còn được gọi là một bông hoặc một đầu (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Có 3 loại chồi mang hoa, một loại không mang quả vì nó chỉ có hoa đực, hai loại có thể cho quả gồm: chỉ có hoa cái, cả hoa cái và hoa đực Các chồi chỉ có hoa đực thường xuất hiện trên cành hoặc thân sớm hơn, vào đầu mùa hoa Chúng xuất hiện và có cấu tạo giống như các búp lộc có màu vàng xanh, nhưng sau đó chúng phát triển thành lá hoặc các nhánh bên Những chồi hoa đực này mập hơn so với các chồi cuối, đường kính khoảng 0,72 cm Chúng cũng chứa ít lá hơn và tạo ra nhiều hoa đực (khoảng ba hoa trên mỗi chồi cụm hoa ở mỗi mùa) Hoa đực bắt đầu nhú ra vào tuần thứ tư sau khi chồi hoa xuất hiện, hoa đực nở trước hoa cái từ 3 - 5 ngày Chồi cuống hoa cái mập, khỏe hơn nhiều so với những chồi cuống hoa đực hoặc cả hoa đực và cái Chồi chỉ có hoa cái được sinh ra trên bệ cuống trong khi chồi hoa đực vừa

có thể sinh ra trên bệ cuống cũng như trên chồi cuối Hoa đực có cuống ngắn hoặc không có cuống nếu sinh ra ở chồi cuối Các chồi cuối có đường kính khoảng 0,4 cm mọc ra từ 7 đến 8 lá và chỉ sinh ra các hoa đực mọc ở cuối chồi Một hoa đực được hình thành trên một chồi cuối trong mỗi mùa hoa (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Cụm hoa đực bao phủ dày đặc là những bông hoa đực nhỏ mọc thành bông đuôi sóc Cụm hoa đực dài, gồm nhiều hoa, có lông tơ mềm, bao hoa hình ống gồm 2 cánh dính nhau ở đỉnh Cụm hoa đực cùng với chồi và lá nguyên thủy được bao bọc bởi các lá kèm Khi chồi phát triển lớn hơn, các lá kèm mở ra để lộ chồi, một lá mới và chùy hoa Khi xuất hiện, hoa đực dài 3-3,5 cm và rộng 1,5 cm sau đó nó tăng kích thước, có hình chùy thuôn dài và đạt chiều dài 5 - 10 cm và chiều rộng 2 - 3 cm Cụm hoa đực không có lá bắc

Trang 17

Mỗi bông hoa được sinh ra trên một cuống với một vòng thịt màu xanh lá cây

ở đỉnh Hoa đực có thể bất dục hoặc hữu dục Hoa đực bất dục có một bầu nhụy đặc và hoa đực hữu dục có hình ống và hai thùy Một bông hoa đực chứa một chỉ nhị dài (1 - 2 mm) và bốn bao phấn Chúng được bao bọc trong một bao hoa hình ống dai cứng như da màu xanh lá cây thò ra khỏi ống bao hoa trên bề mặt của cụm hoa Nhị đầu tiên xuất hiện khoảng 4 - 6 ngày sau khi nở và toàn bộ bề mặt của cụm hoa được bao phủ với những bao phấn màu vàng nhưng không bị bong ra Các gai hoa đực chuyển dần sang màu đen sau khi nở, do sự phát triển của nấm mốc và rụng ra sau khoảng một tuần (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Cụm hoa cái hình bầu dục mọc ngay trên thân cây hoặc các cành già Cụm hoa cái dài 4 - 15 cm và thường mọc cách xa cụm hoa đực và ở vị trí thấp hơn các cụm hoa đực Tuy nhiên quan sát thấy khi cây có độ tuổi già thì cụm hoa cái có xu hướng mọc ở vị trí cao hơn trên các cành già Hình dạng hoa cái có xu hướng thiên về hình trụ hoặc thuôn hơn hoa đực, có xuất hiện lá bắc, đây là đặc điểm dễ nhận biết khác với cụm hoa đực Các hoa cái nhỏ, màu hơi xanh lục mọc thành cụm hoa ngắn với nhiều thịt trên một đế hoa lồi, bầu nhụy thượng Sau khi thụ phấn chúng phát triển thành quả tụ còn gọi là quả phức có thể rất lớn, gồm nhiều quả bế còn gọi là quả thật hợp thành Hoa cái có hình ống bao gồm các đoạn tự do khi còn non nhưng hợp nhất ở điểm giữa; bao hoa vây quanh một noãn sào bị nén chặt đếvới đầu cuối được chèn chéo bởi một nhụy hình chùy Các đầu nhụy khá sắc nhọn và trở nên tù khi quả trưởng thành Vòi nhụy thò ra sau 4 - 6 ngày sau khi các mo bao cụm hoa

mở ra Các hoa cái xuất hiện lông tơ tại các vòi nhụy trong vòng 4 đến 6 ngày tiếp theo Khả năng tiếp nhận phấn của vòi nhụy trong khoảng 28 - 36 giờ (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Các cụm hoa cái mọc đơn lẻ hoặc theo cặp trên chồi cuống hoa hoặc mọc ra khỏi thân cây hoặc các cành nhánh lớn Cụm hoa cái có cuống mập hơn so với cụm hoa đực và thường có vòng thịt ở gốc Hoa đực được sinh ra ở đầu chót chồi lá và trên các chồi cuống hoa mọc ra từ các cành cấp 1 và 2 Khi còn non, các hoa được bao bọc trong những lá mo dày, dai và rụng sớm

Trang 18

Đặc điểm quả Mít: Quả Mít là một quả tụ lớn còn gọi là quả phức màu

vàng dài 30 - 100 cm và đường kính 25 - 50 cm, hình trụ tròn đến hình quả lê treo trên một cuống bền chắc Bề mặt quả có nhiều gai nhỏ hình chóp nhô ra chính là các đỉnh của quả thật nằm bên trong quả phức Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả Mít hầu như ăn được Quả phức gồm nhiều quả thật, quả thật không phát triển tạo thành xơ mít, quả thật phát triển tạo thành múi Mít Múi Mít có phần thịt mềm, là thành phần chính để ăn từ quả mít Các bao hoa của từng quả thật riêng lẻ phát triển thành các múi và bao quanh các hạt, mỗi thịt múi và một hạt là một quả riêng lẻ Thịt múi có màu vàng trắng hoặc vàng và vàng nhạt (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Trục quả là trục của hoa cái trưởng thành phát triển thành và có hình chùy, vòm Nó cứng chắc và có cấu tạo nạc Trục này chứa các nhu mô rộng thuôn dài và các thành phần mạch cũng như nhiều chất dẫn xuất nhựa mủ làm cho phần này của quả không ăn được Phần tự do thấp hơn của bệ hoa là phần thịt quả duy nhất và có thể ăn được Phần hợp nhất ở giữa và vùng tự do phía trên của hoa cái tạo nên vỏ quả, nó là cái sau này tạo thành các đỉnh hình nón của vỏ và điều này có thể phân biệt giữa lông, lớp hạ bì cứng, mô nền thành dày, các thành phần mạch, vỏ xơ và tạo nhựa mủ làm cho các vùng hình nón của quả cứng nhắc và bảo vệ quả (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Trong múi Mít đa số có hạt và đôi khi không có do hạt bị thoái hóa Hạt rắn chắc và màu sáp, hình bầu dục, hình thuôn hoặc thuôn dài hình elip Mỗi hạt có kích thước 2 - 4 x 1 - 2 cm và khối lượng 2,5 - 14 g với một lớp vỏ da Thông thường mỗi quả có từ 100 đến 500 hạt (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Vỏ ngoài hạt mỏng, cứng, dai, giống như giấy da và nhăn nheo khi khô Phía trong vỏ hạt là màng mỏng có màu nâu Hạt dày ở rốn hạt, nằm cùng với

lỗ noãn ở đầu xa hoặc gần đầu lưới của hạt Có 2 lá mầm (tử diệp) không bằng nhau, với một lá mầm chỉ bằng khoảng một nửa kích thước của lá kia Nội nhũ nếu có rất nhỏ Phôi có một rễ mầm nhỏ nổi ở bề ngoài (thùy cơ bản của lá mầm nhỏ hơn chưa được phát triển) (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Trang 19

1.1.3 Yêu cầu sinh thái của cây mít

Mít là cây trồng nhiệt đới nên thích nghi với khí hậu nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới, do vậy nó có thể thích nghi ở nhiều vùng khí hậu từ trung bình đến ẩm và ẩm ướt ở các quốc gia trồng mít Loài này cũng được trồng rộng rãi ở vùng khí hậu khô và mát hơn so với các loài khác cùng chi Mít Cây có thể cho năng suất cao đặc biệt là khu vực giữa vĩ độ 25º Bắc và Nam của xích đạo, thậm chí lên đến 30º Bắc và Nam Nó có khả năng sinh trưởng ở độ cao dưới 1600 m so với mực nước biển Cây mọc ở độ cao trên 1330 m phát triển kém hơn và nếu có quả thì chất lượng cũng giảm Chất lượng quả tốt hơn ở độ cao thấp hơn, từ 152 - 213 m (Haq, 2006)[1] Tuy nhiên, mít phát triển tốt nhất ở những khu vực quang đãng dưới ánh nắng mặt trời đầy đủ Nó có thể được trồng ở bất kỳ loại đất vùng khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới nào trừ đất mặn, ngập nước hoặc dễ bị lũ lụt Ở nước ta từ Bắc vào Nam, ở đâu cũng trồng được Mít, trừ những vùng cao phía Bắc, tuy nhiên riêng vùng Đức Trọng, Lâm Đồng cao 1000 m Mít sinh trưởng phát dục bình thường, tuy có chậm hơn ở vùng thấp (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Để sinh trưởng và phát triển tối ưu, Mít yêu cầu nhiệt độ ấm, ẩm, khí hậu và lượng mưa phân bố đều ít nhất 1500 mm Theo Vũ Công Hậu (2000)[4] chỉ nên trồng Mít ở những vùng có lượng mưa từ 1000 mm trở lên Tăng trưởng sẽ bị chậm lại nếu lượng mưa dưới 1000 mm Để sản xuất Mít cho năng suất ổn định cần lượng mưa hàng năm từ 1000 - 2400 mm trở lên (Haq, 2006)[1] Cây Mít không chịu được điều kiện đất ẩm ướt hoặc ngập liên tục, cây có thể suy yếu và chết sau 2 - 3 ngày trong điều kiện đất ngập ướt Trong một vườn tạp, cây Mít sẽ chết đầu tiên khi bị úng ngập

Mít yêu cầu nhiệt độ ấm, không chịu được nhiệt độ thấp và nhiều sương muối Ở độ cao trên 1000 m cây sinh trưởng kém Ẩm độ không khí

RH thích hợp là 80% Yêu cầu lượng mưa hàng năm là 1500 – 2000 mm Ở những vùng có độ ẩm không khí 50 - 60% vào những ngày nắng gắt, trong khi các cây khác khó sống sót thì cây Mít vẫn phát triển bình thường

Mặc dù sinh trưởng mạnh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, cây Mít thích nghi với nhiều điều kiện khác nhau Nó chịu được nhiệt độ thấp hơn,

Trang 20

cây trưởng thành có thể sống sót ở nhiệt độ -3ºC, lá của cây có thể hư hại ở 0ºC, các cành nhánh ở -1ºC, các nhánh và cây có thể bị chết ở -2ºC Cây chịu được các điều kiện gió nhẹ đến trung bình Mít có thể sống sót và phục hồi sau những cơn gió mạnh đến mức gẫy cành (Popenoe, 1974; Haq, 2006)[1,5] 1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MÍT TRÊN THẾ GIỚI

1.2.1 Nghiên cứu về giá trị sử dụng của Mít

Nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng và sử dụng các bộ phận thu hoạch trên cây mít được nhiều tác giả trên thế giới công bố Các tài liệu khoa học cho thấy, Mít rất giàu năng lượng, nước, protein, gluxit, canxi, photpho, sắt, betacaroten, vitaminC, vitamin B1, B2, PP, kali, phytonutrient (lignans, isoflavones và saponins) và là thực phẩm giàu kali giúp làm giảm huyết áp Dinh dưỡng thực vật (Phytonutrient) chứa nhiều hoạt chất có đặc tính chống lại ung thư, tăng huyết áp, viêm loét dạ dày, làm chậm tiến trình thoái hoá tế bào để đem lại sự tươi trẻ và sức sống cho làn da (Haq, 2006; APAARI, 2012;

Baliga et al., 2011)[1,6,7]

Thành phần các chất trong quả Mít thay đổi tùy theo giống, tuổi cây, mùa vụ và giai đoạn phát triển của quả Hàm lượng carbohydrate trong quả của các giống Mít khác nhau có thể thay đổi từ 37,4% đến 42,5%, protein 0,57 to 0,97%, chất xơ từ 0,57 đến 0,86% Khi so sánh với các loại trái cây nhiệt đới khác, thịt quả và hạt chứa nhiều protein, canxi, sắt, nhóm vitamin B trong đó vitamin B1 là nhiều hơn cả và Mít giàu vitamin C (USDA, 2008;

Azad, 2000; Haq, 2006; R.A.S.N Ranasinghe et al., 2019; Tiwari và

Vidyarthi, 2015)[1,8,9,10,11]

Hương thơm của quả Mít là hổn hợp các chất thơm dể bay hơi là: isovalerate ethyl, 3 methylbutyl acetate, 1-butanol, propyl isovalerate, isovalerate isobutyl, 2 methylbutanol, và butyl isovalerate Hương vị của múi Mít chín được so sánh với một sự kết hợp các hương vị của táo, dứa, xoài và chuối Thịt của múi Mít chín gồm đường, tinh bột, giàu khoáng chất và Vitamin và là nguồn chất xơ tiêu hóa Các múi Mít chín có thể ăn tươi, có vị

Trang 21

rất ngọt do có hàm lượng đường cao như glucoza, fructoza từ 10 - 15% (Rupanawar H.D., 2012)

Vỏ quả (bao gồm cả những bao hoa không được thụ tinh) thường được chế biến thành xi-rô và thạch Nó cũng là nguồn nguyên liệu cho chiết xuất pectin Vỏ và các bộ phận bỏ đi khác của quả có giá trị cao như một loại thức

ăn bổ dưỡng cho gia súc, đặc biệt là cho cừu (Sudiyani et al., 2002)[12] Tỷ lệ

tiêu hóa tốt nhất khi bổ sung thêm đạm Sử dụng bánh mật đường-urê trộn với phụ phẩm của mít rất tốt cho gia súc

Hạt mít rất bổ dưỡng, giàu kali, chất béo, carbohydrate và khoáng chất Chúng là thành phần cho nhiều chế phẩm ẩm thực Sau khi luộc hoặc rang, hoặc sấy khô và muối hạt có thể ăn được, hoặc nghiền để làm bột được trộn với bột mì để nướng Hạt mít có thể được ngâm trong nước muối hoặc ở dạng

cà ri, tương tự như việc sử dụng quả mít xanh, bằng cách loại bỏ các chất ức chế trypsin bằng nhiệt độ (Siddappa, 1957)[13]

Hạt mít chứa hai loại lectin (là các protein gắn kết với carbonhydrate), jacalin và artocarpin Jacalin có tác dụng ức chế virus herpes simplex típ 2 và hữu ích trong việc đánh giá tình trạng miễn dịch của bệnh nhân nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người 1 (HIV1) Nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất jacalin, phân lập glycoprotein huyết tương ở người, thăm dò phân tích sự phát hiện khối u (Kabir, 1998)[14]

Lá mít được sử dụng làm đĩa gói thức ăn ở nhiều vùng của tiểu lục địa

Ấn Độ Tuy nhiên, lá non dễ bị gia súc và các vật nuôi khác ăn Lá cây mít có thể nuôi dê, lợn rất tốt Lá mít là nguồn cung cấp canxi (Ca) và natri (Na) tốt

và nếu kết hợp với cám gạo sẽ cho sự phát triển tốt hơn đối với động vật nhai

lại Thanh Van et al (2005)[15] phát hiện ra việc cho gia súc ăn hỗn hợp của

lá mít với cây họ đậu Flemingia macrophylla cho lượng ăn cao hơn so với

thức ăn chỉ có lá mít

Mặc dù một số tác giả đã đề cập đến việc sử dụng các bộ phận khác nhau của cây mít trong y học cổ truyền Các nhà chuyên môn y khoa ở châu Á nhiệt đới khuyến nghị sử dụng trong y học, tuy nhiên chưa làm rõ bằng chứng

Trang 22

lâm sàng đặc trưng Thông tin hiện tại về tác dụng của một số chỉ định y dược mới chỉ dựa trên một số ít sàng lọc hóa học và số lượng thử nghiệm lâm sàng rất hạn chế Chất chiết xuất từ lá mít đã được tìm thấy để thúc đẩy dung nạp glucose khi thử nghiệm trên bệnh nhân tiểu đường Khan và cộng sự (2003)[16] báo cáo rằng phần butanol của vỏ rễ và chiết xuất từ quả có hoạt tính chống lại một loạt vi khuẩn và động vật nguyên sinh Chiết xuất lá trong nước nóng chứa flavonoid, anthocyanin, tannin và proanthocyanidin làm tăng khả năng dung nạp glucose của bệnh nhân tiểu đường

Tâm gỗ Mít cho thấy 2 hợp chất hoạt động: 6 - (3methyl-lbutenyl) -5,2,

4, 4-trihydroxy-3-isoprenyl-7-methoxyflavone và 5,7,2, isoprenylflavone Những isoprenylflavones là hợp chất mạnh để ngăn ngừa sâu răng (Sato al., 1996)[17]

4’-tetrahydroxy-6-Thành phần của gỗ mít đã được xác định, nó chứa 56% cellulose, 28,7% lignin và 18,64% pentosan Khi được sử dụng làm củi đun, nó cho ra 38,74% than với giá trị năng lượng là 7183,37 cal/g (Komarayati, 1995)[18] Làm than bánh cũng tốt, với độ ẩm 5,10%, tro 3,06%, carbon cố định 71,23%, chất bay hơi 25,51%, mật độ 0,63% g/cm³, cường độ nén 350kg/cm³ và giá trị nhiệt lượng 6487,28 cal/g

Gỗ Mít là loại có giá trị sử dụng cao, gỗ có xu hướng thay đổi màu sắc theo tuổi từ vàng hoặc cam sang đỏ nâu đậm Nó được phân loại là một loại

gỗ cứng vừa Độ bền tự nhiên của gỗ chống lại nấm, vi khuẩn và mối mọt rất cao Gỗ có nhu cầu thị trường cao, đứng thứ hai sau gỗ tếch ở nhiều nước

châu Á (Gunasena et al., 1996)[19] Ấn Độ xuất khẩu gỗ mít sang châu Âu

Gỗ mít từ cây bốn đến bảy năm tuổi thường được sử dụng cho đồ nội thất, xây dựng nhà và một loạt các sản phẩm bằng gỗ như cột buồm, cửa, ghế và nhạc cụ Ở Indonesia, gỗ có giá trị sử dụng trong các cung điện lâu đài và ở Đông Dương, nó thường được sử dụng trong các kiến trúc đình, đền Gỗ mít

có giá tốt, tương tự gỗ gụ nhưng thấp hơn gỗ tếch, ở thị trường địa phương

Sử dụng cho gỗ không phải là một phần của chiến lược sinh tồn của những người nông dân sản xuất nhỏ

Trang 23

Vỏ cây có thể làm ra một loại gôm sẫm màu, tan trong nước, chứa ca 3,3% tanin Phần bên trong của vỏ cây đôi khi được làm thành dây hoặc vải (Purseglove, 1968)[20]

Cây Mít còn có giá trị về mặt môi trường sinh thái Tán cây mít là lớp che phủ nhiều năm cho đất, đóng vai trò là cây bóng mát và giảm thiểu tác động của mưa lên mặt đất Ở vị trí vùng cao, cây mít thường được trồng trêncác sườn dốc và đồi để giúp kiểm soát xói mòn đất (Haq, 2006)[1] Chúng cũng có thể được trồng để giúp hấp thu nước ngầm để giảm thiểu lũ lụt, vì cây

có hệ thống rễ lan rộng Mít thường được trồng trong những khu vườn nông trại, trong vườn cây ăn quả, hoặc sử dụng như một cây trồng xen trong các vườn cây khác như cây bóng mát trong vườn cà phê, vườn cau, thảo quả và đồi dứa và làm choái sống để dây tiêu đen bám Nó thể hiện như là một phần của nhiều hệ thống nông lâm kết hợp

Tốc độ phân hủy của lá mít rất nhanh, bù thêm vào đất chất hữu cơ và giúp duy trì độ ẩm của đất nhờ hiệu ứng của lớp che phủ bằng mùn Cây chịu được điều kiện gió nhẹ đến vừa phải và đã có quan sát sự tồn tại và phục hồi sau những cơn gió mạnh, nó chỉ gây thiệt hại nhỏ cho cành cây Cây mít thỉnh thoảng được trồng làm cây chắn gió trong vườn cây ăn quả ở bán đảo Ấn Độ Cây có thể làm giảm tác động của gió, nếu được trồng xung quanh nhà dân

1.2.2 Nghiên cứu về nông học với cây Mít

Nghiên cứu các về vấn đề nông học đối với cây mít cũng được nhiều tác giả công bố Người ta biết rất ít về việc chọn tạo giống mít Điều này có thể là do vị thế của mít là một loại cây ăn quả thứ yếu mặc dù nó có giá trị dinh dưỡng cao và phạm vi sử dụng rộng rãi Bất kỳ nỗ lực nào để tạo ra giống mít cải tiến đều là nhắm vào mục tiêu sản xuất thương mại nhưng cũng

sẽ có giá trị đối với cây trồng trong vườn nhà Để bắt đầu cải tiến giống đòi hỏi một sự hiểu biết cơ bản về các dòng vô tính hiện có Nông dân đã chọn các dòng vô tính từ các quần thể tự nhiên dựa trên các đặc tính mong muốn của họ nhưng việc lựa chọn không nghiêm ngặt Do đó, một số cây ra quả thơm ngọt, những cây khác lại ra quả khô và chua Tuyển chọn tốt hơn và nhân giống vô tính của các dòng có thể thực hiện được và cũng cần phải nỗ

Trang 24

lực để kéo dài mùa ra quả Mặc dù có rất ít nghiên cứu được thực hiện về khả năng tương thích gốc ghép và cành ghép, bằng chứng cho đến nay là có sự biến động lớn về hiệu suất tiếp hợp giữa cành ghép với các gốc ghép khác

nhau (Azad et al 2007)[21]

Khi nghiên cứu về giống mít, Samaddar (1988)[22] báo cáo rằng không

có giống mít nào khác biệt Hossain và Haq (2006)[23] cũng báo cáo rằng không có giống mít nào được khuyến cáo cho sản xuất Các loại mít khác nhau đã đưa vào sản xuất thương mại cùng với các tên địa phương khác nhau

để đặt tên các giống Giống cây Rudrakshki, và ‘Singapore Jack, (Ceylon Jackát) ở Ấn Độ được chọn lọc từ hạt Các dòng tuyển chọn được nhân giống

vô tính (ví dụ ở Ấn Độ, các giống cây được gọi là 'Gulabi', 'Chamooa', 'Hazari'; ở Bangladesh 'Gala', 'Khaja', 'Hazari 'v.v.) nhưng làm thế nào để phân biệt các giống này với nhau thì vẫn chưa được tiến hành Các dòng tuyển chọn từ một quốc gia chuyển đến một quốc gia khác đã được đặt tên riêng Điều này gây ra sự nhầm lẫn Ở Sri Lanka, một loại gọi là ‘Vela’, với đặc điểm thịt quả mềm lại có cùng đặc điểm mô tả với giống có tên là

‘Gerisssa’ở Ấn Nhiều tên gọi địa phương liên quan đến các thuộc tính của cây, ví dụ ‘Gulabi’ có nghĩa là thơm như hoa hồng, ‘Champa’ có nghĩa là hương vị như mít tố nữ, ‘Hazari’ có nghĩa là năng suất quả cao (Samaddar, 1988)[22]

Nhìn chung những tên gọi giống mít dựa trên ba nhóm đặc điểm thịt quả: i) Thịt mềm khi chín, cùi mỏng, có xơ, mềm, mọng nước và quả dễ dàng tạo ra lực đẩy lại ngón tay, ii) Thịt chắc thịt dày, chắc và giòn và hương vị rất khác nhau và iii) Có một số giống mít trung gian giữa hai loại và được gọi là loại Adarsha Samaddar (1988)[22] cũng thực hiện một phân loại tương tự về mít Cần nghiên cứu nhiều hơn về sự phân bố địa lý của các giống và mối quan hệ của chúng

Các giống mít khác nhau rất nhiều về tuổi mang quả Các giống sớm như "Singapore Jak" cho quả sau 2 - 3 năm trồng ở Ấn Độ và Sri Lanka Các cây được nhân giống vô tính khác cũng ra quả sau 4 - 5 năm trồng Ở Bangladesh nhân giống bằng nuôi cấy mô, cây ra quả từ ba năm sau khi trồng

Trang 25

(Azad et al., 2007)[21] Tuy nhiên, một số giống có thể mất từ 8 - 10 năm để

có quả Có sự khác biệt về tập tính ra quả theo khu vực, cụ thể ở miền Nam

Ấn Độ cây trưởng thành sau 6 - 7 năm thì ra quả, nhưng trong thời tiết mát

mẻ của miền Bắc Ấn Độ việc ra quả bị muộn hơn, ở vùng có độ cao so với mực nước biển cao hơn ra quả cũng bị muộn hơn

Một cây sinh trưởng phát triển khỏe mạnh sẽ tạo ra tới 200 - 250 quả, mỗi quả nặng 5 - 35 kg, trong điều kiện thuận lợi có quả có thể nặng 55 kg (Ghosh, 1996)[24] Bởi vì mít là cây ăn quả chưa được quan tâm, cho nên không có dữ liệu thống kê đáng tin cậy về sản xuất từ các nước sản xuất Năng suất quả trên mỗi cây khác nhau rất nhiều tùy theo tuổi cây, giống, mùa

vụ và địa phương Trung bình 100 - 250 quả/cây Tuy nhiên, một số giống cây cho quả nhiều hơn vì chúng ra quả quanh năm

Dựa vào quy mô sản xuất dự định và điều kiện của đất mà xác định kiểu đồng ruộng để chuẩn bị theo yêu cầu Đối với vườn nông trại và vườn cây ăn quả nhỏ, việc chuẩn bị đất chỉ cần đào hố trồng đủ lớn để chứa bầu đất

và rễ đi cùng với vật liệu trồng (Coronel, 1983)[25] Đối với các đồn điền thương mại hoặc quy mô lớn trên các địa điểm chưa khai hoang, các khu vực trồng cần được dọn sạch, sau đó cày xới nhiều lần cho đến khi đạt được một mức độ mong muốn Trường hợp đất có rừng thứ sinh phát triển, cần chặt hạ cây, các gốc cây cần loại bỏ hoặc đốt cháy, và toàn bộ khu vực dọn sạch trước khi đào hố trồng

Theo tác giả Haq (2006)[1] ở điều kiện trung bình, cây mít có thể bắt đầu ra quả sau khi trồng từ ba đến năm năm, nhưng hầu hết các giống cây phải mất khoảng bảy đến tám năm để đạt được mức sản xuất tốt Ở Bangladesh, cây được nhân giống in vitro bắt đầu đậu quả sau ba năm và mùa quả kéo dài khoảng bốn tháng

Hạt mít là loại khó tính (recalcitrant) nên không thể sống sót khi làm khô và không thể bảo quản trong thời gian dài vì chúng mất khả năng nảy mầm Nên gieo hạt càng sớm càng tốt sau khi tách từ quả Hạt phải được rửa sạch để loại bỏ lớp phủ nhầy nhớt Lưu trữ trong túi quá 21 ngày có thể gây mất khả năng nảy mầm của hạt Trong trường hợp cần phải lưu trữ hạt, hạt

Trang 26

nên được lưu trữ ở 40% độ ẩm ban đầu của chúng trong các thùng chứa polythene kín khí không qua được ở 20oC, thì sức sống của hạt có thể tồn tại trong khoảng ba tháng Hạt giống cũng có thể được lưu trữ trong một thời gian ngắn nếu chúng được chôn vùi trong cát khô hoặc bụi xơ dừa trong một tháng nhưng khả năng tồn tại của chúng xấu đi nhanh chóng sau đó Nếu chúng đã được tách từ quả ra trong một số ngày, chúng nên được ngâm trong nước trong 24 giờ Ở Sri Lanka, hạt nảy mầm trong vỏ dừa chứa đủ đất để che hạt và sau đó được trồng trên đồng ruộng cùng với vỏ trấu sau một hoặc hai năm (Gunasena et al, 1996)[19]

Có đến 85% hạt nảy mầm nếu được gieo trồng trong vòng 15 ngày kể

từ ngày tách khỏi quả Trong điều kiện thích hợp, sự nảy mầm bắt đầu trong vòng 10 ngày và sự nảy mầm đạt được 100% trong vòng 35 - 40 ngày sau khi gieo Tỷ lệ nảy mầm giảm xuống 40% nếu được trồng sau 30 ngày bảo quản Hạt lớn có xu hướng nảy mầm tốt hơn và tạo ra cây con khỏe mạnh hơn (Khan, 2003)[16]

Các tác giả khác nhau đã chỉ ra rằng các chất điều tiết sinh trưởng khác nhau ở nồng độ khác nhau có thể thúc đẩy sự nảy mầm Chín mươi tám phần trăm nảy mầm đã thu được với hạt ngâm trong axit gibberellic Thời gian cần

thiết để nảy mầm tối đa là khoảng 11 ngày (Maiti et al., 2003)[26] Khi hạt

được ngâm trong 24 giờ trong 25 ppm axit 1-naphthalenacetic NAA đã thu được 76,7% và nảy mầm 100% khi hạt được ngâm tới 500 ppm axitgibberellic GA3 GA3 được tìm thấy là có hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy sự nảy mầm so với axit 3-Indolebutyric IBA và axit p-chlorophenoxyacetic CPA Tỷ lệ nảy mầm 85% khi hạt được xử lý trước bằng axit ferulic 10-³ M

Nảy mầm của hạt mít là sát mặt đất hoặc ngầm dưới đất (Soepadmo, 1992)[2] Đa phôi cũng xảy ra trong mít và hiện tượng này được gây ra bằng cách cho hạt giống vào axit gibberellic

Nhiều tác giả đã báo cáo nhân giống thành công bằng cách giâm cành mít, việc giâm cành từ gỗ mít non dưới sương mù, nhưng kết quả chi tiết không được đưa ra Việc cắt cành mắt ghép mít thông thường được thực hiện

Trang 27

vào tháng 11 và tháng 2 Các tác giả cũng khảo sát về việc sử dụng cành mới

ra, cành mùa trước hoặc cành cũ trong suốt cả năm để xác định giai đoạn phù hợp nhất để ra rễ nhanh hơn

Nhiều nhà khoa học lưu ý rằng việc giâm đoạn thân mít không thành công trừ khi chúng được xử lý bằng các chất điều tiết sinh trưởng Các chất điều tiết sinh trưởng phổ biến nhất được sử dụng để kích thích ra rễ cho phương pháp giâm và chiết cành (chiết cành là phương pháp trong đó các rễ bất định được kích thích hình thành trên thân cây trong khi nó vẫn được gắn vào cây mẹ) là: Axit Indole-3-butyric (IBA), axitIndole-3-acetic (IAA), axit axetic α-naphthalene (NAA) và axit Gibberellic (GA3)

Nghiên cứu về thời gian trồng, các tác giả cho biết: Thời điểm tốt nhất

ở châu Á để trồng, dù là gieo hạt trực tiếp hay trồng cây con là vào đầu mùa mưa Nếu có nước, việc gieo hạt trực tiếp có thể được thực hiện vào đầu mùa

hè để cây con được thiết lập trước khi bắt đầu mùa mưa Mùa mưa đảm bảo nhiều nước và tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành cây trên đồng ruộng Ngoài ra, trồng cây con tốt nhất khi thực hiện vào cuối buổi chiều đến đầu buổi tối chứ không trồng vào lúc nắng nóng trong ngày Ở nam Florida, việc trồng cây có thể được thực hiện bất cứ lúc nào với điều kiện có sẵn nước tưới cho những cây mới trồng và chúng có thể được bảo vệ khỏi mọi thời tiết lạnh hoặc băng giá (Morton, 1987)[27] Mặt khác, thời điểm tốt nhất để trồng

ở Florida là vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè

Gieo hạt trực tiếp diễn ra phổ biến trong các khu vườn nhà Các hố nhỏ hoặc hố trồng có kích thước khoảng 50 x 50 x 50 cm, lấp đầy bằng đất trộn với phân bò hoặc phân ủ với tỷ lệ 20 - 30 kg mỗi hố, sau đó được tưới nước tùy điều kiện để ổn định đất trong hố trồng Hai hoặc ba hạt mới được lấy từ quả chín thu từ một cây mẹ ưu tú được gieo sâu 2 - 3 cm vào đất, đất được ép chặt bằng ngón tay cái và tưới nước nhẹ Các hạt giống nên được gieo theo hình tam giác cách nhau 30 cm Sau khi gieo, hố được phủ một lớp phủ và tưới nước thường xuyên, tùy thuộc vào điều kiện độ ẩm của đất và thời tiết Tuy nhiên, cần tránh tưới nước quá mức vì điều này có thể gây thối hạt và nảy mầm của cây con (Haq, 2006)[1]

Trang 28

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu việc mở rộng sử dụng mít trong các hệ thống nông lâm kết hợp và trong vườn gia đình Cây mít trồng xung quanh các đường biên được tìm thấy trong nhiều hệ thống nông nghiệp truyền thống ở châu Á Ở Bangladesh, mít là một cây chiếm ưu thế trong các trang trại hộ gia đình, được trồng với nhiều cây lâu năm và cây hàng năm Cây mít đã được trồng trên các bờ đập hoặc đê bao quanh ruộng lúa hoặc lúa

mì trong các trang trại nhỏ để tăng sử dụng đất Mặc dù cả hai loại cây trồng đều phát triển tốt, nhưng kết quả của các thử nghiệm cho thấy hệ thống sản xuất này không đạt hiệu quả kinh tế vì làm giảm năng suất cây trồng chính ở gần đường biên mà không được bù đắp lại thu nhập từ mít Một loại cây được

ưa chuộng ở vùng Arunachal Pradesh ở Ấn Độ là hàng loạt các cây tre trồng

xen kẽ như Dendrocalamus hamiltonii hoặc Bambusa tulda (Yap, 1972)[28]

Mít đã trở thành một hợp phần của vườn trong khu dân cư ở nhiều nơi của vùng nhiệt đới bao gồm cả các quốc gia nơi cây mít được truyền bá và được ghi nhận, ví dụ ở Brazil và Costa Rica

Mít như là một thành phần của rừng gần làng hoặc vườn nhà ở vùng Kebun của Malaysia và Kampong của Indonesia Các vườn cây nhiều tầng trong làng được gọi là Pekarangan và có thể chiếm 40% diện tích đất Cây mít tạo thành một phần của lớp giữa của tán trên cùng với các loại quả như chôm chôm, măng cụt và một số loài cọ Sự kết hợp các loài này là mô hình sản xuất theo mùa (Hossain và Haq, 2006)[22]

Mít thường được trồng xen trong các vườn dừa ở Philippines và đã

được sử dụng làm cây trồng xen trong vườn sầu riêng (Durio ziberthinus) ở

Malaysia Ở các tiểu lục địa Ấn Độ, nó được trồng xen với các cây ăn quả

khác như xoài (Mangifera indica) và các loài cây có múi Cây mít cũng được

sử dụng làm bóng mát cho cà phê hoặc cây cau và làm choái sống cho các dây

leo của cây tiêu đen (Piper nigrum) (Hossain và Haq, 2006)[22]

Mít ở Bangladesh mọc gần bờ biển cho thấy nó khả năng chịu đựng vừa phải với điều kiện nhiễm mặn và do đó có thể chọn tạo kiểu gen chịu mặn

để trồng trên vùng nhiễm mặn (Haq, 2006)[1]

Trang 29

Mít được nói đến là một loại cây tốt để sử dụng trên các vùng đất bị suy thoái ở châu Á và châu Phi nơi nó có thể mang lại lợi ích cho các chương trình trồng lại rừng nhằm bảo vệ rừng đầu nguồn (Haq, 2006)[1]

1.2.3 Nghiên cứu về đa dạng di truyền

Đa dạng di truyền là tổng số các đặc điểm di truyền trong thành phần di truyền của một loài Đa dạng di truyền là mức độ khác nhau của các cá thể trong một nhóm thực vật Đánh giá đa dạng di truyền là bước quan trọng trong công tác cải tiến giống, nhất là đối với những giống cây trồng bắt nguồn

từ một nền tảng di truyền hẹp Việc chọn lọc giống chỉ căn cứ trên một vài tính trạng như năng suất qua nhiều năm đã làm thất thoát những nguồn gen quý giá như các gen kháng bệnh và kháng các yếu tố phi sinh học khác (gió,

độ mặn, lạnh ) Việc đánh giá đa dạng di truyền có một vai trò nữa là giúp xây dựng một tập đoàn hạt nhân (core collection) để sử dụng trong lai tạo giống Vì quỹ gen thường rất lớn, chỉ có cách là chọn đại diện (theo nguồn gốc phân bố, theo kiểu gen ) Có như vậy mới mở rộng nền tảng di truyền của giống cây trồng đang quan tâm

Sự đa dạng quần thể của một giống là kết quả của quá trình tiến hóa và thuần hóa Nó cũng là kết quả của chọn lọc tự nhiên, đột biến tự nhiễu, phân

bố địa lý và chọn lọc của con người cho dù có ý thức hay tiềm thức Chọn tạo giống cây trồng hiện đại đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến các mẫu

đa dạng di truyền ở các cây trồng chính và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu sự đa dạng di truyền của chúng để sử dụng và bảo tồn tốt hơn Tuy nhiên, trong trường hợp cây trồng chưa được quan tâm sử dụng như cây Mít, các hoạt động này đã bị các nhà khoa học bỏ qua, có thể là do thiếu hiểu biết về cây

Artocarpus heterophyllus là một loài tứ bội, có số lượng nhiễm sắc thể

soma là (2n) 56 (2n = 4x = 56), do đó số lượng nhiễm sắc thể cơ bản (x) là 14

Mặc dù nó là một loài lai xa, nó có thể tự do lai với A integer,

A.lanceaefolius và A rigidus có mối liên hệ chặt chẽ với A heterophyllus

theo Kanzaki et al (1997) trong khi A nitidus dường như khá tách biệt

Không có báo cáo nào về các con lai liên quan đến các loài này hoặc số lượng

Trang 30

nhiễm sắc thể của chúng Tuy nhiên trong mít tố nữ (A.integer) có cả đại diện

lưỡng bội và tứ bội

Cho đến nay thông tin nghiên cứu ở mức độ tế bào học về vốn gen của

chi Mít Artocarpus không có công bố, các nhà khoa học đã xem xét các mối

quan hệ dựa trên sự thay đổi hình thái và đánh giá nhiều đặc điểm và nhận định có khả năng là đa gen, do đó cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn nữa về vấn đề này

Cây mít được thụ phấn chéo và chủ yếu được nhân giống bằng hạt Do

đó những biến động về đặc điểm hình thái - nông học biểu hiện rất rộng trong các quần thể Mít, cụ thể là phạm vi biến động lớn tồn tại ở đặc điểm trong quả, mật độ, kích thước và hình dạng của gai trên vỏ, thịt quả mít và khác nhau về độ ngọt và hương vị (Azad, 2000)[9]

IPGRI năm 2000 đã xuất bản một danh mục các chỉ tiêu mô tả để phục

vụ mô tả đặc trưng của nguồn gen, cũng là những chỉ tiêu để đánh giá chi tiết Đánh giá tổng hợp phạm vi biến động của những đặc điểm nông sinh học các quần thể Mít là mối quan tâm chính của các nhà sản xuất địa phương cũng như các nhà chọn giống

Một số nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu mức độ đa dạng di truyền của Mít từ nghiên cứu các đặc điểm hình thái để chọn các loại Mít vượt trội Các tập đoàn quỹ gen Mít phục vụ cho đánh giá và chọn lọc giống rất hạn chế ở Ấn Độ, Indonesia, Nepal, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Sri Lanka, Việt Nam và Bangladesh (IPGRI, 2000)[29] và do đó hạn chế về thông tin liên quan đến mã lưu giữ trong ngân hàng gen cho khai thác sử dụng Nguồn gen Mít ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ như: Úc, Florida, Bangladesh, Nepal… cũng đã được đánh giá, nghiên cứu sự biến đổi hình thái (Mitra và Mani, 2000)[30], đã tóm tắt thông tin về sự đa dạng của mít ở Nam

Á và Đông Nam Á bao gồm cả việc du nhập vào Florida

Có sự biến động giữa và trong các quần thể mít và những biến dị này

có thể được lựa chọn ra dòng ưu tú để nhân giống vô tính Do đó, tiềm năng khá rộng để xác định sự đa dạng di truyền và để chọn các dòng vô tính ưu việt

Trang 31

từ cây Mít hiện có Hầu hết các đặc điểm hình thái bị ảnh hưởng bởi các yếu

tố môi trường và nhiều tính trạng số lượng là do di truyền đa gen và chỉ được biểu hiện sau vài năm tăng trưởng Kết quả là, mức độ và kiểu đa dạng di truyền được xác định bởi các đặc điểm hình thái và đặc tính là không chính xác, mặc dù việc mô tả các đặc điểm phải dựa trên các tính trạng có khả năng

di truyền cao Trong những năm gần đây, các kỹ thuật isozyme và các dấu phân tử đã được sử dụng để đánh giá sự đa dạng di truyền chính xác hơn (Azad, 2000)[9] Kỹ thuật sinh học phân tử cho phép xác định giống cây trồng cũng như xác định nguồn gốc của chúng

Azad (2000)[9] đã sử dụng bốn isozyme gồm: alcohol dehydrogenase (ADH), glutamate oxaloacetate transaminase (GOT), malate dehydogenase (MDH) và axit phosphatase (ACP) đã tìm thấy sự biến đổi của các kiểu enzyme trong quần thể mít Ông chỉ ra rằng điều này có thể là do sự khác biệt

di truyền Schnell và cộng sự (2001), người đã nghiên cứu sự đa dạng di truyền của 26 mẫu nguồn gen từ tám quốc gia sử dụng các AFLP markers đã cho thấy một bức tranh về sự đa dạng trong các mẫu nguồn gen này Kết quả cho thấy 49,2% biểu hiện đa hình dựa trên 12 cặp mồi

Sự biến động rộng hơn nữa có thể là do quá trình tạp giao vì loài Mít

được biết là có thể lai tự nhiên với loài Mít tố nữ (A integer) Điều này được

thực hiện bởi các nghiên cứu DNA lục lạp (cpDNA)

Bằng các phân tích RFLP và cpDNA, xác nhận rằng A heterophyllus

và A integer là đơn hình với tất cả các đoạn cắt hạn chế Phân tích một giống

lai của hai loài bằng cách sử dụng các AFLP markers, cho thấy nó khác biệt

rõ ràng với các giống của loài A heterophyllus nhưng chúng có mối quan hệ

Do đó, có vẻ như A integer nằm trong vốn gen khởi thủy của A

Trang 32

Azad (2000)[9] đã nghiên cứu sự đa dạng của mít ở năm vùng của Bangladesh để chọn các loại cây ưu tú tiềm năng dựa trên thông tin của nông dân và quan sát trên đồng ruộng Các tiêu chí của nông dân bao gồm năng suất cao, chất lượng quả, độ ngọt, các loại ra quả sớm và các loại ra quả trái

vụ Kết quả cho thấy từ nghiên cứu rằng những cây được nông dân coi là vượt trội cũng nhận được điểm số cao từ phân tích ở phòng thí nghiệm về chất lượng Những cây có năng suất, chất lượng được bình tuyển để nhân giống cho sản xuất

Một số quốc gia sản xuất mít đã nỗ lực thu thập nguồn gen về lưu giữ, nhưng việc này không thường xuyên Công việc thu thập, mô tả đặc tính, tư liệu hóa và đánh giá các nguồn gen từ khu vực xuất xứ và trung tâm đa dạng còn tốn nhiều công sức mới có thể hoàn thành Nhu cầu cấp thiết hiện nay là thiết lập các bộ sưu tập mục tiêu từ tiểu lục địa Ấn Độ và cũng như từ khu vực Đông Nam Á

Haq (2006)[1] đã báo cáo về việc thu thập nguồn gen mít có sự tham gia và nghiên cứu sơ bộ về đặc điểm nguồn gen bởi các quốc gia thành viên của mạng lưới Châu Á về Trái cây nhiệt đới chưa được sử dụng (UTFANET) Một danh sách các tập đoàn nguồn gen mít được quản lý ở các quốc gia khác nhau trước năm 1995 và sau năm 1995 Các tập đoàn nguồn gen được quản lý bởi các tổ chức/cơ quan khác nhau

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MÍT Ở VIỆT NAM

1.3.1 Nghiên cứu về giá trị sử dụng của cây Mít

Năng suất kinh tế chính của Mít là thu hoạch quả để sử dụng cả quả xanh và khi đã chín Kiến thức thực vật học dân tộc về sử dụng Mít rất phong phú Thịt quả Mít ngọt, nhiều nước và được sử dụng ăn tươi hoặc chế biến ở dạng xi-rô Hạt Mít trong quả chín cũng được sử dụng Quả và hạt Mít được chế biến theo nhiều cách khác nhau tạo ra các sản phẩm rất đa dạng Ngoài ra Mít được sử dụng trong y học cổ truyền (lá, vỏ cây, cụm hoa, hạt và nhựa mủ) Gỗ của cây được sử dụng cho rất nhiều mục đích

Trang 33

Về giá trị dinh dưỡng: Mít tương đối nhiều calo, khá nhiều đường và đạm, nhiều chất khoáng cần thiết cho cơ thể như canxi, phốt pho, khá nhiều vitamin B (Vũ Công Hậu, 2000)[4] Hạt mít chiếm tỷ lệ khá cao trong quả tới 13% Hạt mít được đánh giá giàu calo hơn khoai lang và sắn, rất giàu các khoáng chất như canxi, phốt pho, sắt v.v…

Kết quả phân tích 20 mẫu giống Mít Cổ Loa cho thấy Độ Brix của các mẫu này khá cao cao nhất là 23,1 và thấp nhất là 20,35, chiếm đa số là 21,4 Các chất như Lipit, đường tổng số, canxi, Fe, Vitamin C, khá cao Đặc biệt Beta Caroten cao nhất là 84,8 µg/100g, đa số là 72,4 µg/100g (Phạm Hùng

Cương et al, 2019)[31]

Theo Hội Dinh dưỡng Việt Nam (2016)[32], Mít có hàm lượng calo cao 100 g thịt của quả mít cung cấp 95 calo, mít chứa nhiều chất xơ, chứa vitamin A và các sắc tố flavonoid như carotene-Ay, xanthin, lutein và cryptoxanthin-Ay Ngoài ra, mít là một nguồn cung cấp tốt của vitamin C giúp chống oxy hóa Mít cung cấp khoảng 13,7 mg hoặc 23% RDA Mít là một trong các loại trái cây hiếm vì rất giàu vitamin nhóm B Số vitamin nhóm

B bao gồm B6 (pyridoxine), niacin, riboflavin và acid folic Mít tươi là một nguồn cung cấp dồi dào kali, magiê, mangan và sắt

Hạt mít còn rất giàu protein và bổ dưỡng, theo Lê Khả Tường và CTV (2016)[33], hạt mít có giá trị dinh dưỡng cao với 70% tinh bột, 5,2% protein, 0,62% lipit và 1,4% chất khoáng có thể dùng làm lương thực thay ngũ cốc chống đói trong những ngày giáp hạt Giống Mít Na Ba Vì có độ Brix cao (21-22,5%), múi dài thịt quả dày, tỷ lệ phần ăn được cao đến 55,6%

Ở Việt Nam, mít được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau, múi Mít chín được ngâm trực tiếp với rượu trắng gọi là rượu Mít Rượu Mít có màu vàng, hương vị ngọt và thơm, được uống như rượu chuối hột, rượu xoài, rượu nhãn…

Quả non là món rau đặc sản, chỉ được dùng bởi người có kinh nghiệm khi biết các loại hoa cái của cây Mít không còn giá trị để lấy quả (người thiếu kinh nghiệm không được hái hoa mít) Quả Mít non đã phát triển thành quả

Trang 34

Mít thật sự, vỏ cứng và có gai nên khi ăn phải gọt bỏ vỏ Các quả Mít non còn dùng như một loại rau củ để nấu canh, kho cá, trộn gỏi… Quả Mít non không dùng để ăn sống mà được gọt vỏ và luộc, xé nhỏ để làm gỏi hay thái nhỏ để xào, nấu như một loại rau Khi quả non đã có hạt còn mềm chất lượng rau càng tốt do có vị bùi và béo từ hạt Quả Mít rừng non là nguồn lương thực của

Bộ đội Trường Sơn Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Xơ mít dùng làm rau cho người ăn, người dân khu vực miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh) dùng xơ mít, hoặc quả mít non muối dưa gọi là nhút, một loại dưa muối nổi tiếng, được đánh giá chất lượng tốt không kém một số loại dưa muối dùng nguyên liệu là rau cải, cà và các rau khác Tất cả những phần còn lại trong quả mít mà người không ăn đều có thể dùng làm thức ăn gia súc

Lá mít cũng là một loại thức ăn cao cấp cho bò, dê, và là nguyên liệu chính nuôi hươu ở Nghệ An (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

Gỗ Mít có độ mịn vừa, sức chịu uốn, chịu nén khá, thớ gỗ xoắn nên ít

bị cong, vênh khi hong khô Do đó là một loại gỗ quý, nhất là phần lõi có thể dùng trong xây dựng nhà cửa, dụng cụvà làm các đồ mỹ nghệ, tâm linh do thớ

gỗ mịn, mềm dễ đục đẽo, không nứt

Tuy nhiên xét về khía cạnh cây ăn quả, Mít có nhược điểm như: mùi thơm quá mạnh đối với người chưa quen, quả to trung bình 5-7kg/quả nên khi vận chuyển nặng nề, chỉ thuận tiện khi ăn tập thể, cho cả gia đình… nên khó xuất khẩu (Vũ Công Hậu, 2000)[4]

1.3.2 Nghiên cứu về nông học và đa dạng nguồn gen mít

Ở Việt Nam cây mít có từ lâu đời, là một trong những cây trồng gần gũi đối với nhân dân ta từ Bắc đến Nam, và trong thực tế đã được trồng trên khắp mọi miền đất nước, trong đó có nhiều giống mít nổi tiếng như Mít nghệ, Mít mật, Mít dai, Mít ướt, Mít Tố Nữ… Cây mít hầu hết được trồng trong vườn nhà, tuy nhiên thông tin về đời sống cây mít chưa nhiều

Theo Vũ Công Hậu (2000)[4], ở Việt Nam có 2 giống Mít đó là Mít thường và giống Mít tố nữ Ở vùng đồi Hà Bắc (nay là Bắc Giang và Bắc

Trang 35

Ninh) có 3 giống Mít đó là Mít dai, Mít ướt hay còn gọi là Mít mật và Mít na Cách gọi 3 giống của địa phương phân biệt chủ yếu dựa vào đặc điểm của múi

ở trong quả Giống Mít dai khi chín múi vẫn dính chặt vào lõi tức là đế hoa Còn Mít mật thì ngược lại khi chín có thể tách múi khỏi quả dễ dàng Mặt khác Mít dai khi chín múi cứng và dòn hơn Mít mật Về màu sắc múi và xơ cả

2 loại đều có màu đỏ, vàng, mỡ gà bởi vậy nhiều nơi còn gọi tên giống kèm theo màu sắc của múi như: dai vàng, dai đỏ, mật nghệ Giống Mít na phân biệt được với hai giống trên là do quả Mít na thường bé hơn, hình dạng giống quả na, ít eo thắt, khối lượng quả đồng đều hơn, nhìn vỏ giống vỏ quả na Tuy nhiên vấn đề xác định các giống Mít ở Việt Nam nhìn chung đến nay chưa có một tài liệu nào chứng minh rõ ràng hơn

Ở miền Đông Nam bộ ghi nhận có 13 giống/dòng mít, gồm 2 nhóm mít khô và mít ướt Dựa vào các đặc điểm dạng quả, màu sắc vỏ quả, màu sắc và cấu trúc thịt múi và xơ, tạm chia mít ta thành 3 nhóm giống chính: mít dừa, mít nghệ và mít ướt Nhóm mít nghệ chiếm tỷ lệ diện tích ít trong nhóm mít

ta, khối lượng quả từ 5 - 12 kg, vỏ có màu vàng đến vàng sậm, xơ và múi có màu vàng nghệ thường rất ngọt độ brix từ 25 - 31%, ăn tươi rất ngon được thị trường ưa chuộng Mít dừa là nhóm có diện tích lớn, nhóm này có đặc điểm hình dạng quả, năng suất phẩm chất rất đa dạng phong phú Khối lượng trung bình quả từ 7 - 20kg, vỏ màu xanh đến vàng sậm, xơ có màu trắng đến vàng tươi, múi có màu vàng lợt đến vàng sậm, vị ngọt đến rất ngọt (độ brix 25 -30%) Mít ướt chiếm tỷ lệ diện tích rất ít, khối lượng quả từ 6 – 15 kg, vỏ quả màu vàng đến vàng hơi sậm, là loại mít khi chín múi rất nhão và ướt Xơ và múi có màu trắng sữa đến vàng lợt, khi chín múi mềm, nhão, nhiều nước, múi

có độ bám chặt vào cùi hơn so với vỏ quả, độ ngọt trung bình (Bùi Xuân Khôi

và CTV, 2002)[34]

Ở Việt Nam giống phổ biến nhất là Mít Dai và nó được trồng rộng rãi

từ phía bắc đến phía nam của đất nước Đây là một giống có kích thước lớn, hương vị ngọt ngào và năng suất của nó là khoảng 238 ± 21,7 kg / cây (45 tấn / ha từ 200 cây với khoảng cách 7 x 7 m) Điều này cũng cung cấp gần 5,8 tấn hạt giống cho thức ăn và thức ăn chăn nuôi (Lai, 2002) Giống Mít Mật khác

Trang 36

được đặc trưng bởi một hương vị đặc biệt vì nó ngon ngọt, ướt và mềm hơn nhưng năng suất của nó thấp (213 ± 17,8 kg / cây) Nguyễn Thị Hạnh và CS., 2011)[35]

Hiện nay các tỉnh phía Nam đang trồng nhiều giống mít được bình tuyển, chọn lọc trong nước hoặc nhập nội có năng suất cao chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu nguyên liệu chế biến như Mít nghệ CS M99-I, Mít Thái, Mít Mã Lai,… (Trần Thế Tục, 1999)

Năm 2006 - 2009, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã tiến hành điều tra thu thập và bình tuyển cây mít đầu dòng tại Đắc Lắc, chọn được 24 cây mít đầu dòng, tuổi từ 9 - 30 tuổi phân bố tại Đắc Lắc

và Lâm Đồng Các cây đầu dòng quả có khối lượng từ 12 – 15 kg, múi dầy, tỷ

lệ ăn được 44%, độ brix cao (26%), về năng suất cá thể từ 70 - 130 quả/cây/năm, đạt 982 - 1600kg/ha (Nguyễn Thị Hạnh và CS., 2011)[35]

Năm 2001, Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả miền Đông Nam bộ đã bình tuyển được 8 cá thể mít có năng suất cao ổn định, phẩm chất tốt, ít nhiễm sâu bệnh hại và được thị trường ưa chuộng, có ký hiệu: MĐN02H, MĐN06H, MĐN09H, MĐN10H, MLĐ26H, MBRVT31H, MBRVT32H, MBRVT33H Những cá thể này được sử dụng làm cây cung cấp mắt ghép nhân giống cho vùng sản xuất (Bùi Xuân Khôi và CTV, 2002)[34]

Giống Mít na Ba Vì là đặc sản nổi tiếng của Hà Nội không chỉ ở độ Brix cao, múi dài, thịt múi dày, hạt bé, màu múi hấp dẫn mà còn bởi đặc tính

ra hoa, quả rải rác trong năm, có thể cung cấp quả cho thị trường ở mọi thời điểm trong năm Thời gian qua, từ quần thể Mít na Ba Vì đã tuyển chọn và được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận 5 cây ưu tú phục vụ nhân giống vô tính có các đặc điểm như: trên 80 quả/cây, khối lượng quả trung bình 3,9 kg/quả, năng suất quả đạt từ 400 kg/cây, độ Brix đạt trên 21%, tỷ lệ ăn được trên 50% (Lê Khả Tường và CTV, 2015)[33]

Thông qua hội thi Trái ngon - An toàn Nam Bộ lần II ở thành phố Hồ Chí Minh, giống mít Ba Láng hạt lép đạt giải ngon, lạ và hiếm Giống mít Ba Láng hạt lép có thịt ráo, giòn, hạt lép và điểm đặc biệt là cả thịt múi và xơ đều

Trang 37

có thể ăn được, tỉ lệ ăn được đạt trên 60% (Trần Văn Hâu và CTV., 2015)[36]

Nhằm tăng nhanh hệ số nhân giống mít quy mô công nghiệp, Lý Thị Lẹ (2006)[37] đã tiến hành nghiên cứu tái sinh phôi soma ở cây mít, kết quả ghi nhận: môi trường tạo phôi,môi trường cấy chuyền, nhân sinh khối lỏng tốt nhất là MS + BA (1mg/l) + NAA (5mg/l) + CW (10%) + đường 30g Môi trường tái sinh tốt nhất là MS + BA (2,5mg/l) + NAA (0,5mg/l) + CW (10%) + đường 30g Môi trường nhân chồi tốt nhất là MS + BA (5mg/l) + CW (10%) + đường 30g Môi trường ra rễ tốt nhất là MS + IAA (1mg/l) + IBA (1mg/l) + Đường 30g

Nhằm xác định đặc điểm ra hoa, phát triển quả và thời điểm xuất hiện hiện tượng đen xơ của quả Mít Thái siêu sớm Thí nghiệm được thực hiện trên 30 cây Mít Thái bốn năm tuổi tại phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ trong mùa mưa (6 - 12/2014) và mùa nắng (1 - 7/2015) Kết quả cho thấy mít Thái có 3 kiểu chùm hoa: đực - đực, đực - cái, và cái - cái, trong

đó kiểu phát hoa cái - cái chiếm tỷ lệ >50% Khối lượng quả mít tăng trưởng nhanh từ 30 - 80 ngày sau đậu quả (NSKĐT), tốc độ tăng trưởng cực đại ở giai đoạn 70 NSKĐT Mùa mưa quả phát triển dài hơn mùa nắng từ 5 - 10 ngày Các chỉ tiêu phẩm chất quả như độ Brix, Axít tổng số, hàm lượng nước, màu sắc trong múi mít ổn định và có thể thu hoạch ở giai đoạn 90 – 100 NSKĐT Hiện tượng đen xơ xuất hiện chủ yếu vào mùa mưa ở giai đoạn từ

30 - 90 NSKĐT (Lê Trí Nhân và CS., 2016)[38]

Nghiên cứu xác định liều lượng phân N - P - K - Mg có hiệu quả lên năng suất và phẩm chất trái mít Ba Láng hạt lép tại Quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ Trần Văn Hâu và CS (2015)[36] đã rút ra kết luận: Bón phân N – P – K - Mg theo tỉ lệ 4 - 2 - 4 - 1 với liều lượng khác nhau có ảnh hưởng đến thời gian ra hoa, số hoa cái/cây, năng suất và các thành phần năng suất của trái mít Ba Láng hạt lép, số hạt chắc và phẩm chất múi mít Bón với liều lượng 3 kg/cây/năm đạt năng suất cao, phẩm chất múi và xơ mít tốt, độ Brix cao, Axit tổng số và hàm lượng nước thấp, số lượng và tỉ lệ hạt chắc/trái thấp

Trang 38

Theo Nguyễn Đức Thành và CTV (2010)[39] thì việc bón phân với các liều lượng khác nhau sẽ làm cây ra hoa sớm và nhiều hơn so với đối chứng không bón phân, góp phần làm gia tăng khối lượng và số quả trên cây

Nghiên cứu kỹ thuật canh tác giống mít Na tại Ba Vì, Hà Nội giai đoạn

2013 - 2015 các tác giả Lê Khả Tường và CTV (2015)[33] đã kết luận liều lượng phân bón thích hợp cho giống mít Na gồm 60 kg phân chuồng + 1,3 kg

U rê + 1,3 kg Super lân + 1,9 kg KCl/ gốc cho năng suất cao nhất đạt khoảng

272 kg quả/ cây, tăng 36,5% so với đối chứng Liều lượng phân bón khác nhau không ảnh hưởng đến chất lượng quả mít Phun bổ sung phân bón lá Komix làm tăng năng suất nhưng không làm ảnh hưởng đến chất lượng quả mít Áp dụng chất điều tiết sinh trưởng Flower 94, 95, Gibberellin làm tăng tỷ

lệ phần ăn được ở quả mít

Nghiên cứu ảnh hưởng của N, K đến sinh trưởng, phát triển của giống mít TN1 tại Tân Hiệp, Phú Giáo, Bình Dương cho kết quả khi bón 400 g N/cây/năm và 200 g K2)/cây/năm cho năng suất cao và chất lượng tốt (Thái Nguyễn Diễm Hương, 2009)[40]

Về sâu bệnh hại mít chính quan sát trên một số dòng mít ta bình tuyển

tại miền Đông Nam bộ cho thấy sâu đục quả (Pyralidae) là loài gây hại quan

trọng nhất trên mít, các cá thể đều có xuất hiện sâu đục quả ở mức độ nhiễm

nhẹ, xén tóc đục cành, đục thân (Cerambycidae) hiện diện trên tất cả các cây mít, bệnh thối gốc chảy mủ (Phytophthora sp.) và bệnh nấm hồng (Corticium

salnonicolor) nhiễm ít

Nghiên cứu về đa dạng di truyền mít tại Việt Nam rất hạn chế, chưa có công bố quốc tế của các tác giả trong nước về vấn đề này Về việc thu thập nguồn gen mít: một tập đoàn 17 mẫu giống Mít (gồm 13 mẫu địa phương và 4 mẫu nhập nội) được thành lập, được mô tả, đánh giá các đặc điểm hình thái nông học và bảo tồn trong Hệ thống bảo tồn quỹ gen cây trồng nông nghiệp của Quốc gia tại Trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả miền Đông Nam bộ, tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu (Trung tâm Tài nguyên thực vật, 2015)

Trang 39

Tác giả Mai Văn Trị (2015)[41] đã công bố sự xuất hiện của bệnh mới

tại Đông Nam bộ do nấmPhytophthora palmivora (Butler) Butler gây hại, sử

dụng vùng ITS1 - 5.8S - ITS2 của rDNA là một gen mã vạch để xác định bệnh kết hợp với các đặc điểm hình thái nông học, được phân lập từ rễ, quả, thân và lá có triệu chứng bệnh Tác giả nhận định đây là báo cáo đầu tiên về

sự xuất hiện và gây hại của P palmivora trên mít tại Việt Nam

1.4 TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI CHỈ THỊ THƯỜNG SỬ DỤNG

Ngày nay, việc áp dụng các chỉ thị phân tử vào việc phân tích đa dạng

di truyền nhằm lựa chọn để ưu tiên bảo tồn các cây có đặc điểm hình thái tốt

và tính đa dạng di truyền cao đã được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam cũng như trên thế giới Trong các loại chỉ thị phân tử thường được sử dụng như:

- RFLP (Restriction Fragment Length Polymorphism) là chỉ thị mới – chỉ thị ADN thế hệ đầu tiên với những ưu điểm vượt trội so với chỉ thị hình thái và chỉ thị hóa sinh đang được sử dụng trong đánh giá đa dạng di truyền với khả năng tạo ra vô số bản sao của ADN chỉ từ một vài phân tử ADN ban đầu Đa hình DNA được xác định bằng cách lai đoạn dò DNA (DNA probe) đánh dấu với DNA sau khi cắt hạn chế bằng enzyme cắt hạn chế và được thấm truyền lên màng lai bằng phương pháp Southern Kết quả là tạo ra hình ảnh các phân đoạn DNA khác nhau Các hình ảnh phân đoạn DNA khác nhau này được tạo nên do sự thay thế, thêm vào hay bớt đi của các nucleotide hoặc

do đa hình nucleotide đơn Kỹ thuật RFLP được tiến hành theo các bước: cắt DNA bằng một hoặc vài enzyme cắt hạn chế; các phân đoạn DNA sau đó được phân tách trên gel agarose và thấm truyền lên màng lai Việc xác định các phân đoạn DNA được tiến hành bằng lai các phân đoạn DNA này với đoạn dò được đánh dấu huỳnh quang hoặc phóng xạ để có thể phát hiện bằng phản ứng huỳnh quang hoặc phim chụp phóng xạ Các chỉ thị RFLP có mức

đa hình cao, đồng trội (nên có thể phân biệt được các cá thể dị hợp tử và đồng hợp tử) và khả năng lặp lại cao Kỹ thuất RFLP cũng cho phép phân tích đồng thời nhiều mẫu Tuy nhiên kỹ thuật này không được dùng rộng rãi vì một số hạn chế như: cần nhiều DNA chất lượng cao, phải phát triển thư viện đoạn dò cho từng loài, cần thông tin về trình tự để tạo đoạn dò, không thuận tiện cho

Trang 40

việc tự động hóa, mức độ đa hình và số lượng locus trên lần phân tích thấp, đòi hỏi nhiều thời gian, tốn kém Trong những thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước, kỹ thuật RFLP được sử dụng trong lập bản đồ genome, xác định giống RFLP được dùng trong nghiên cứu quan hệ giữa các nhóm phân loại gần, đa dạng di truyền, trong lai tạo và chuyển gen vào cá thể khác (introgression) (Nguyễn Đức Thành và CTV., 2010)[39]

- AFLP (Amplified Fragment Length Polymorphism) được Zabeau và các CS phát triển năm 1993 Kỹ thuật AFLP được sử dụng để phát hiện đa hình DNA Phân tích AFLP được kết hợp cả RFLP và PCR bằng việc gắn các chuỗi nhận biết vào mồi hay còn gọi là chuỗi tiếp hợp (adapter) để nhân chọn lọc các phân đoạn DNA được cắt hạn chế Các cặp mồi thường tạo được từ 50 đến 100 băng trong một phân tích Số lượng băng phụ thuộc vào số nucleotide chọn lọc trong tổ hợp mồi Kỹ thuật AFLP cho phép lấy dấu DNA từ bất kỳ nguồn gốc nào Phân tích AFLP không dễ như RAPD nhưng hiệu quả hơn RFLP Kỹ thuật này có một số ưu điểm như: có độ tin cậy và lặp lại cao; không cần thông tin về trình tự DNA của cơ thể nghiên cứu; cho nhiều thông tin do có khả năng phân tích số lượng lớn locus đa hình với một tổ hợp mồi trên một gel và có thể cho thấy các locus đặc thù; các số liệu có thể lưu giữ trong cơ sở dữ liệu để so sánh Bên cạnh các ưu điểm, AFLP có một số nhược điểm như: phải qua nhiều bước mới có kết quả; DNA cần phải sạch, không có các chất ức chế hoạt động của enzyme cắt hạn chế; đòi hỏi công sức và giá thành cao Kỹ thuật tạo ra chỉ thị trội, không phân biệt được đồng hợp tử và dị hợp tử AFLP được sử dụng trong nghiên cứu lập bản đồ genome, đa dạng di truyền và quan hệ chủng loại giữa các kiểu gen có mối quan hệ gần, nghiên cứu cấu trúc di truyền nguồn gen và đánh giá phân hóa di truyền trong quần thể (Nguyễn Đức Thành và CTV., 2010)[39]

- RAPD (Random Amplified Polymorphic) chỉ thị phân tử thế hệ thứ hai, dựa trên kỹ thuật PCR Đoạn mồi có trình tự ngẫu nhiên bắt cặp với ADN khuôn tại các vị trí bổ sung và tổng hợp các đoạn ADN sản phẩm có kích thước khác nhau Tuy nhiên, do đặc điểm ngẫu nhiên của mồi RAPD nên kết quả phân tích không ổn định, thường có sự sai khác giữa những lần nghiên

Ngày đăng: 17/08/2020, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Haq N., 2006. Jackfruit, Artocarpus heterophyllus, Southampton Centre for Underutilised Crops, University of Southampton, Southampton, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artocarpus heterophyllus
2. Soepadmo, E. (1992) Artocarpus heterophyllus Lamk. In: Verheij,E.W.M. and Coronel, R.E. (eds.) Plant Resources of Southeast AsiaNo.2: Edible Fruits and Nuts. PROSEA,Wageningen, Netherlands: 86-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artocarpus heterophyllus
6. APAARI (2012). Jackfruit Improvement in the Asia-Pacific Region – A Status Report. Asia-Pacific Association of Agricultural Research.Institutions, Bangkok, Thailand. 182 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jackfruit Improvement in the Asia-Pacific Region – A Status Report
Tác giả: APAARI
Năm: 2012
7. Baliga M. S. et al., 2011. Phytochemistry, nutritional and pharmacological properties of Artocarpus heterophyllus Lam (jackfruit): A review . Food Research International 44 (2011) 1800–1811 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", 2011. Phytochemistry, nutritional and pharmacological properties of "Artocarpus heterophyllus
9. Azad A.K. 2000. Genetic diversity of jackfruit in Bangladesh and development of propagation methods. Ph.D. Thesis, University of Southampton. UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic diversity of jackfruit in Bangladesh and development of propagation methods
10. R.A.S.N. Ranasinghe et al., 2019. Nutritional and Health Benefits of Jackfruit (Artocarpus heterophyllus Lam.): A Review. Hindawi- International Journal of Food Science Volume 2019, https://doi.org/10.1155/2019/4327183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutritional and Health Benefits of Jackfruit (Artocarpus heterophyllus
11. Tiwari A. K. and A. S. Vidyarthi, 2015. Nutritional Evaluation of Various Edible Fruit Parts of Jackfruit (Artocarpus heterophyllus) at Different Maturity Stages. International Journal of Chemical and Pharmaceutical Review and Research, vol. 1, pp. 21–26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artocarpus heterophyllus
12. Sudiyani, Y. S., Horisawa, S., Chen KeLi Doi, and Imammural, Y.(2002) Changes in surface properties of tropical wood species exposed tothe Indonesian climate in relation to mould colonies. Journal of WoodScience. Springer-Verlag, Tokyo, 486:542-547 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changes in surface properties of tropical wood species exposed tothe Indonesian climate in relation to mould colonies
13. Siddappa, G.S., 1957. Effect of processing trypsin inhibator in jackfruit seed. J. Sci. Ind. Res. 16c:199-201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of processing trypsin inhibator in jackfruit seed
14. Kabir, S.,1998. Jacalin: a jackfruit (Artocarpus heterophyllus) seedderived lectin of versatile applications in immunological research.J.Immn. Methods Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artocarpus heterophyllus
16. Khan, M.R., Omoloso, A.D. and Kihara, M., 2003. Antibiotic activities of Artocarpus heterophyllus. Fitoterapia. 75(5):501-505 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artocarpus heterophyllus
17. Sato, M., Fujiwara, S., Tsuchiya, S., Fujii, H.M., Linuma, T., Tosa, H.and Ohkawa,Y., 1996. Flavonoids with antibacterial activity against carcinogenic bacteria. Journal of Ethnopharmacology 54(2/3):171-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flavonoids with antibacterial activity against carcinogenic bacteria
18. Komarayati S., 1995. Development of prospect of jackfruit plantevaluated from charcoal properties and other aspects. Journal PenelitianHasil Hutum (Indonesia) 13(2):45-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of prospect of jackfruit plantevaluated from charcoal properties and other aspects
19. Gunasena, H.P.M., Ariyadasa, K.P., Wikramasinghe, A., Herath,H.M.W., Wikramasinghe, P. and Rajakaruna, S.B. (1996) Manual ofJack Cultivation in Sri Lanka. Forest Information Service, Forest Department:48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manual ofJack Cultivation in Sri Lanka
20. Purseglove J.W., 1968. Tropical crops. Dicotyledons 2. John Wiley and Sons, Inc., New York: 384-387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tropical crops. Dicotyledons 2
21. Azad AK, Jones JG and Haq N. 2007. Assessing morphological and isozyme variation of jackfruit (Artocarpus heterophyllus Lam.) in Bangladesh. Agroforestry Syst. 71: 109-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artocarpus heterophyllus
22. Samaddar H. N., 1988. Jackfruit. In: Fruit: Tropical and Subtropical. Naya Prokash, Calcuta, India. P: 638-648 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jackfruit. In: Fruit: Tropical and Subtropical
23. Hossain A.K.M.A. and Haq N., 2006. Jackfruit, Artocarpus heterophyllus, Field Manual for Extension Workers and Farmers, SCUC, Southampton University, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artocarpus heterophyllus
24. Ghosh, 1996. Technical Report for Use of Underutilised Tropical fruits in Asia Network. UTFANET, Southampton University, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical Report for Use of Underutilised Tropical fruits in Asia Network
25. Coronel, R.E., 1983. Promising fruits of the Philippines. UPLB, Collegeof Agriculture. Laguna, Philippines: 251-274 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Promising fruits of the Philippines

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w