1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DẠY HỌC TRUYỆN, KÍ LỚP 6 THEO CHỦ ĐỀ “VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VIỆT NAM”

138 501 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 4,59 MB
File đính kèm DẠY HỌC TRUYỆN, KÍ LỚP 6.rar (5 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DẠY HỌC TRUYỆN, KÍ LỚP 6THEO CHỦ ĐỀ “VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VIỆT NAM”Luận văn về dạy học theo chủ đề trong chương trình lớp 6, có phương pháp hay và giúp cho bạn đọc tham khảo được nhiều thông tin có sẵn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-o0o -VŨ DIỆU HƯƠNG

DẠY HỌC TRUYỆN, KÍ LỚP 6

THEO CHỦ ĐỀ

“VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VIỆT NAM”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

“VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VIỆT NAM”

Chuyên ngành: LL&PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt

Mã số: 81.40.111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Nguyễn Viết Chữ

Trang 3

HÀ NỘI 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi.Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quảnghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bốtrước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Vũ Diệu Hương

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS NguyễnViết Chữ, người Thầy luôn động viên, khích lệ và tận tình hướng dẫn tôi trongsuốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng lời cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội, Phòng Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Bộ môn Lí luận vàPhương pháp dạy học bộ môn Văn và Tiếng Việt cùng các thầy giáo, cô giáogiảng dạy cao học K26, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đãtạo điều kiện thuận lợi, cung cấp cho tôi tri thức quý báu trong suốt quá trìnhtôi học tập, nghiên cứu tại đây

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí cán bộ quản lígiáo dục, các đồng chí giáo viên và các em học sinh Trường trung học cơ sởThanh Trì quận Hoàng Mai đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ để chúng tôi cóđược môi trường thực nghiệm và những kết quả thực nghiệm phù hợp trong quátrình nghiên cứu và viết luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể gia đình, bạn bè - những người đã luônsát cánh, động viên, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua

Do bản thân còn hạn chế về khả năng nghiên cứu khoa học và điều kiệnkhách quan chưa cho phép nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhậnđược sự góp ý của thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Vũ Diệu Hương

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Dự kiến đóng góp của luận văn 12

7 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC TRUYỆN, KÍ LỚP 6 THEO CHỦ ĐỀ “VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VIỆT NAM” 14

1.1 Dạy học theo chủ đề 14

1.1.1 Quan niệm về dạy học theo chủ đề 14

1.1.2 So sánh đặc điểm của dạy học thông thường và dạy học theo chủ đề .17 1.1.3 Các đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề 20

1.1.4 Vận dụng ý tưởng thiết kế hệ thống câu hỏi/bài tập cho dạy học chủ đề theo định hướng hát triển năng lực 24

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của dạy học theo chủ đề trong dạy học Ngữ văn .26 1.2 Thể loại truyện, kí hiện đại Việt Nam 29

1.2.1 Đặc điểm thi pháp của truyện hiện đại Việt Nam 29

1.2.2 Đặc điểm thi pháp của kí hiện đại Việt Nam 32

Trang 8

1.3 Thực trạng dạy học các văn bản truyện, kí hiện đại Việt Nam trong

chương trình Ngữ văn 6 ở trường THCS 36

1.3.1 Khảo sát chương trình và tài liệu dạy học 36

1.3.2 Khảo sát thực trạng dạy của GV 40

1.3.3 Khảo sát thực trạng học của HS 44

1.4 Khả năng tổ chức dạy học các văn bản truyện, kí lớp 6 thành chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” 45

1.4.1 Tích hợp nội dung các văn bản truyện, kí trong chương trình Ngữ văn 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” 45

1.4.2 Dự kiến hiệu quả của việc dạy học tích hợp các văn bản truyện, kí lớp 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” 47

Tiểu kết chương 1 49

Chương 2: THIẾT KẾ VÀ TRIỂN KHAI CHỦ ĐỀ “VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VIỆT NAM” TRONG DẠY HỌC TRUYỆN, KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 6 50

2.1 Cách thức xây dựng chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” 50 2.1.1 Một số yêu cầu đối với việc triển khai chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” trong dạy học truyện, kí hiện đại Việt Nam 50

2.1.2 Quy trình xây dựng chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” trong dạy học truyện, kí lớp 6 57

2.1.3 Mô tả chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” trong dạy học truyện, kí lớp 6 63

2.2 Cách thức triển khai chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” trong dạy học truyện, kí lớp 6 73

2.2.1 Công tác chuẩn bị 73

Trang 9

2.2.2 Tổ chức dạy học theo chủ đề 75

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 85

3.2 Địa bàn và đối tượng triển khai thực nghiệm 86

3.3.Những khó khăn, thuận lợi về học sinh, nhà trường 86

3.4 Thời gian thực nghiệm 86

3.5 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 86

3.5.1 Nội dung thực nghiệm 86

3.5.2 Các bước tiến hành thực nghiệm 87

3.6 Kết quả thử nghiệm và thực nghiệm 103

Tiểu kết chương 3 108

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109

1.Kết luận 109

2.Khuyến nghị 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 So sánh điểm khác biệt giữa dạy học truyền thống và dạy học

theo chủ đề 18Bảng 1.2 Chuẩn kiến thức - kĩ năng với nhóm bài Truyện, kí hiện đại Việt

Nam trong chương trình Ngữ văn 6 37Bảng 1.3 Nhóm bài Truyện, kí hiện đại Việt Nam theo phân phối trong

chương trình Ngữ văn 6 38Bảng 1.4 Nhóm bài Truyện, kí hiện đại Việt Nam trong chủ đề “Vẻ đẹp

đất nước, con người Việt Nam” theo phân phối chương trình Ngữvăn 6 38Bảng 1.5 Việc dạy học đọc hiểu văn bản truyện, kí hiện đại Việt Nam lớp 6 41Bảng 1.6 Các phương pháp, hoạt động học tập thường được sử dụng trong

dạy học đọc hiểu nhóm bài truyện, kí hiện đại Việt Nam lớp 6 42Bảng 1.7 Mức độ hứng thú đối với các văn bản truyện, kí hiện đại Việt Nam 45Bảng 2 1 Kế hoạch dạy học chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” 64Bảng 2.2 Bảng mô tả các mức độ nhận thức trong dạy học chủ đề “Vẻ đẹp

đất nước, con người Việt Nam” 68Bảng 3.1 Địa bàn và đối tượng thực nghiệm - đối chứng 86

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cấu trúc bài học Văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 39

Sơ đồ 1.1 Quy trình xây dựng và tổ chức chủ đề dạy học của Bộ GD&ĐT

(2014) 57

Trang 12

rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt, một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” Bản Dự thảo Chương trình phổ thông, chương trình tổng thể sau 2018 [3] của Bộ GD&ĐT cũng đưa ra định hướng về phương pháp giáo dục là: “các phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen

và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được để phát triển” Cùng với các môn học khác trong chương trình giáo dục

phổ thông, Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội và nhân văn có vai tròquan trọng trong việc cung cấp tri thức, rèn luyện tư duy và góp phần khôngnhỏ vào quá trình hình thành nhân cách, phát triển năng lực cho học sinh.Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng nhu cầu thực tiễngiáo dục, từ đội ngũ giáo viên cho đến các nhà giáo dục, nhà nghiên cứu khoahọc nói chung và những người giảng dạy Ngữ văn nói riêng luôn tìm tòi, sáng

Trang 13

tạo những hình thức, phương pháp, kĩ thuật, mô hình, dạy học tích cựcnhằm tạo ra hứng thú học tập, phát huy tối đa tính chủ động và sáng tạo chohọc sinh, từ đó giúp người học vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học vàothực tiễn đời sống Có thể thấy, việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văntheo định hướng phát triển năng lực của học sinh trong Nhà trường phổ thônghiện nay đang được tiến hành khá đồng bộ và triệt để.

1.2 Dạy học theo chủ đề có nhiều ưu điểm góp phần phát triển năng lực người học, nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay

Dạy học theo chủ đề là định hướng thay đổi nội dung và phương pháp

dạy học, có nhiều ưu điểm góp phần phát triển năng lực người học Trong giờ

học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay, giáo viên đã sử dụng mô hình hoạtđộng lớp học này để xây dựng những nội dung học tập có tính chất xâu chuỗi,bao quát liên quan đến nhiều bài học, môn học khác nhau thành những chủ đềdạy học Dạy học theo chủ đề góp phần làm tăng tính tương tác trong giờ học,tạo hứng thú và kích thích tính chủ động của người học, tạo tâm thế sẵn sàngnắm bắt kiến thức và kĩ năng cho học sinh Bởi vậy, ưu thế vượt trội của dạyhọc theo chủ đề là tính tích hợp, tích cực, tạo điều kiện cho người học pháthuy năng lực hợp tác, khả năng sáng tạo và ứng dụng vào thực tiễn đời sống

Ưu điểm của dạy học theo chủ đề đã góp phần cải thiện phương pháp dạy họcvăn truyền thống, biến những tiết học Văn buồn tẻ thành những giờ học bổích, lý thú bởi học sinh được chủ động khám phá, tìm hiểu, lĩnh hội kiến thức,cảm thụ văn học trong quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập Hơn nữa, với

mô hình hoạt động lớp học kiểu mới này, việc học sinh lĩnh hội kiến thứctrong quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập sẽ mang lại một lợi thế to lớn đó

là mở rộng không gian, thời gian dạy - học, độ ứng dụng thực tế cao hơn, từ

đó góp phần khơi dậy ở các em tình yêu với bộ môn Ngữ văn

Trang 14

Từ năm 2014 đến nay, hưởng ứng cuộc thi dạy học theo chủ đề tíchhợp liên môn của Bộ GD&ĐT đã có nhiều sáng kiến kinh nghiệm của giáoviên về dạy học theo chủ đề trong hoạt động giảng dạy ở các nhà trường ghinhận những lợi ích phong phú mà dạy học theo chủ đề mang lại Do đó, dạyhọc theo chủ đề là cách làm phù hợp để giáo viên tổ chức những giờ học Ngữvăn thực sự hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, có giá trị cao trong thực tiễn đời sống

và phù hợp với thực tế đổi mới phương pháp dạy học của ngành GD&ĐTnước ta Vấn đề này cần được nghiên cứu một cách hệ thống để đưa ra nhữnggiải pháp phù hợp với bối cảnh giáo dục hiện nay Bởi vậy, dạy học theo chủ

đề là một hình thức phù hợp để giáo viên tổ chức dạy học Ngữ văn thực sựhấp dẫn và có giá trị thực tiễn

1.3 Sự cần thiết tổ chức chủ đề dạy học “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” trong môn Ngữ văn cho học sinh lớp 6

Học tập ở trường THCS là một bước ngoặc quan trọng đối với học sinhlớp 6 Trước đó, ở trường Tiểu học, mỗi tiết học của các em chỉ học trong thờilượng từ 35 đến 40 phút, trong các giờ học Ngữ văn nếu cứ nghe giảng các lýthuyết hàn lâm, kinh viện sẽ rất căng thẳng bởi lẽ học sinh lớp 6 chưa quenvới cách học này Vì vậy, giáo viên dạy Ngữ văn cần phải cân đối hài hòagiữa việc tiếp nhận và hành động, giữa việc học và chơi cho phù hợp với đặcđiểm tâm sinh lý lứa tuổi và nhận thức của học sinh lớp 6 Một trong nhữngcách thức vừa giải quyết được vấn đề đối tượng vừa đảm bảo yêu cầu về nộidung kiến thức và đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học là xâydựng các chủ đề trong dạy học môn Ngữ văn 6

Chương trình Ngữ văn THCS hiện nay được xây dựng theo tinh thầntích hợp, nghĩa là dạy ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một thểthống nhất, mỗi phân môn vừa giữ bản sắc riêng vừa hòa nhập vào nhau để

Trang 15

cùng hình thành tri thức và kĩ năng thống nhất cho học sinh Điều đó đòi hỏi

ở mỗi bài học người đứng lớp phải có ý thức tìm ra những yếu tố đồng quygiữa ba phân môn, nghĩa là phải có sự liên hệ mật thiết giữa văn bản vớinhững vấn đề sẽ dạy ở Tiếng Việt và Làm văn trong một bài học Vì vậy, mỗibài học ở đây thường gồm ba chặng: chặng 1: Đọc hiểu văn bản; chặng 2: tìmhiểu kiến thức Tiếng Việt và chặng ba: Tập làm văn Ba chặng này được liên

hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau và nương tựa vào nhau[12]

Văn bản tự sự và miêu tả là những kiểu loại trọng tâm của chươngtrình Ngữ văn 6 Phần lớn các văn bản truyện, kí hiện đại Việt Nam trongchương trình Ngữ văn 6 thuộc loại hình tự sự (phương thức tái hiện đời sốngchủ yếu bằng kể và tả) Các văn bản truyện, kí được lựa chọn đưa vào chươngtrình Ngữ văn 6 học kì 2 trên cơ sở trục đồng tâm tích hợp với văn miêu tả (tảcảnh và tả người) Vì thế, khi xây dựng chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con ngườiViệt Nam” trong dạy học các văn bản truyện, kí lớp 6 mới nhìn tưởng rằng sẽkhông phù hợp khi kết hợp hai thể loại này với nhau, song việc xây dựng chủ

đề gắn với các văn bản truyện, kí lại hết sức hợp lý và cần thiết Bởi những lý

do cơ bản sau: Trước hết, nội dung chủ đề hướng tới là vẻ đẹp đất nước, conngười Việt Nam cũng chính là vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên (văn tả cảnh)

và cuộc sống sinh hoạt, lao động của con người (văn tả người) Bên cạnh đó,xét về thể loại, các văn bản truyện, kí văn xuôi trong chương trình Ngữ văn 6đều thuộc loại hình tự sự - phương thức tái hiện bức tranh đời sống một cáchkhách quan bằng lời văn tả và kể của người kể chuyện Các chi tiết, hình ảnh

về thiên nhiên, xã hội con người thể hiện cái nhìn và thái độ của người kể

Hơn thế, việc lồng ghép dạy học ba văn bản truyện, kí: Sông nước Cà Mau của Đoàn Giỏi, Vượt thác của Võ Quảng và Cô Tô của Nguyễn Tuân trong

cùng một chủ đề cũng góp phần tạo nên những giờ học bổ ích, lý thú để họcsinh chủ động tìm hiểu, khám phá những vẻ đẹp của đất nước, con người ViệtNam Từ đó, hình thành và phát triển cho học sinh năng lực đọc hiểu văn bản

Trang 16

theo chủ đề, năng lực làm văn miêu tả, góp phần bồi dưỡng cho các em tìnhyêu, niềm tự hào về quê hương, đất nước Đồng thời, việc tiến hành dạy họcvăn bản truyện, kí lớp 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam”cũng là cách thức đổi mới nội dung và phương pháp dạy học các văn bảntruyện, kí lớp 6, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy - học Ngữ văn ởtrường THCS Như vậy, việc dạy học các văn bản truyện, kí lớp 6 theo chủ đề

“Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” là rất thiết thực

Có thể nhận thấy rằng, dạy học theo chủ đề nói chung và dạy học Ngữvăn theo chủ đề nói riêng là cần thiết, hợp lí, hấp dẫn và phù hợp với mục tiêu

đổi mới giáo dục hiện nay Xuất phát từ những cơ sở trên, chúng tôi lựa chọn

đề tài Dạy học truyện, kí lớp 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” Qua những tiết học trong chủ đề, bằng phương pháp giáo dục

theo định hướng phát triển năng lực người học, học sinh được phát triển cácnăng lực chung (năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực sángtạo, ) cùng các năng lực chuyên môn (năng lực đọc hiểu văn bản, năng lựccảm thụ thẩm mĩ) Và đây cũng là cách để giáo viên rèn thói quen tiếp cận vớinhững phương pháp, mô hình dạy học mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản,toàn diện trong dạy học, chuẩn bị cho đợt thay sách giáo khoa vào năm học

Thứ nhất là những nghiên cứu về phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học đặt cơ sở nền tảng cho việc xác định vai trò của việc dạy học

Trang 17

theo chủ đề trong giảng dạy, đại diện cho khuynh hướng này là: I.F.

Kharlamốp, B.P Êxipôp, N.G Dairi Theo I.F Kharlamốp việc tổ chức chohọc sinh những hoạt động khái quát hóa và hệ thống kiến thức sẽ đặt nềntảng cho việc dạy học theo chủ đề [35] Còn B.P Êxipôp lại cho rằng việc dạyhọc theo chủ đề có tác dụng lớn trong việc ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiếnthức và làm sâu sắc thêm nhận thức của học sinh bởi việc đặt các tri thức đãnghiên cứu từ trước trong mối liên hệ với những tri thức mới ngày càng phứctạp hơn, học sinh sẽ thấy được trong các tri thức cũ một nội dung, những sắcthái mà trước đây học sinh chưa nắm được.[23] Nhà giáo dục lịch sử N.G.Dairi cũng đã khẳng định rằng: Với những bài học cùng đề cập đến nhữngvấn đề lịch sử giống nhau về thời gian và không gian cần phải chú ý đến mốiliên hệ giữa các bài học và cần có một đề cương chung để hệ thống kiến thức

và tìm ra bản chất vấn đề Cũng theo tác giả, hình thức lên lớp theo chuyên đề

là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành tư duy độc lập cho họcsinh [34]

Thứ hai là những nghiên cứu chuyên sâu hơn về dạy học theo chủ đề với thuật ngữ “Theme based teaching”(Dạy học dựa trên chủ đề) như về: khái niệm, phương pháp tổ chức hoạt động dạy học theo chủ đề, hoạt động kiểm tra đánh giá chất lượng của việc dạy học theo chủ đề … Đại diện cho những nghiên cứu này có thể kể đến: Teaching English in the Primary

Classroom của Halliwell, S (Harlow: Longman, 1992) Teaching Children English A training couse for teaching of English to children của Vale,D và Feunteun, A (Cambridge: CUP, 1995) Planning a theme based unit của Mumford, D (2000) Teaching Languages to Young Learners của Cameron, L (2001) hay bài viết của Timothy Shanahan trong ấn phẩm The Reading Teacher (1995) với tiêu đề Theme - Based or Interdisciplinary Các tài liệu này là đều cho rằng Dạy học theo chủ đề là phương pháp dạy học bằng

cách tích hợp các nội dung trong chương trình giảng dạy xoay quanh một chủ

Trang 18

đề Từ đó giúp học sinh hình thành các kĩ năng cũng như phát triển nhận thức

bản thân và ý thức vận dụng vào thực tiễn Trong đó, tài liệu Planning a theme based unit của Mumford, D đã xác định rõ vai trò của giáo viên và học

sinh, phân biệt rõ ràng quan điểm dạy học tích cực, thậm chí đề cao việc họcsinh cùng giáo viên lựa chọn chủ đề và phương pháp dạy học theo chủ đề Cónhiều gợi ý về phương pháp tổ chức dạy học theo chủ đề được Mumford, Dđưa ra và nhấn mạnh đến hoạt động nghiên cứu cá nhân và đề xuất triển khai

chủ đề trong tài liệu của mình Sau này, công trình Teaching Languages to Young Learners của Cameron, L (2001) đã có sự kế thừa và mở rộng, đặc biệt

là về phương pháp dạy học và chỉ ra những ưu thế cũng như trở ngại tiềmtàng của dạy học theo chủ đề Đề cập đến hoạt động kiểm tra đánh giá chất

lượng của việc dạy học theo chủ đề, các tài liệu Teaching English in the Primary Classroom của Halliwell, S (Harlow: Longman, 1992); Teaching Languages to Young Learners của Cameron, L (2001) và Teaching Children English A training couse for teaching of English to children của Vale, D và

Feunteun, A cũng đã cung cấp nhiều bài kiểm tra và các chủ đề có thể sửdụng cho giảng dạy ngôn ngữ

Thứ ba là nghiên cứu về dạy học theo chủ đề trên cơ sở dạy học tích hợp Tại “Hội nghị tích hợp về giảng dạy các khoa học” của Hội đồng liên

quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Vama (Bungari tháng 9/1968),UNESCO cũng đã khẳng định rằng, trên thế giới hiện nay có hai quan điểmphân chia dạy học tích hợp là tích hợp ngang và tích hợp dọc trong giáo dục.Hiện nay có ba mô hình chương trình dạy học tích hợp phổ biến là: Mô hình

đa môn (interdisciplinary model) - xây dựng chương trình học tập theo nhữngkiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau; Mô hình dựa trên chuỗivấn đề (problem-based model) - đòi hỏi nội dung học tập được thiết kế thànhmột chuỗi vấn đề, muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng

Trang 19

của những môn học khác nhau; Mô hình dựa trên các chủ đề (theme-basedmodel) - giảng dạy theo các chủ đề trong một môn học hoặc trong những mônhọc gần nhau về bản chất và mục tiêu.

Những ví dụ này một lần nữa đã khẳng định số lượng và nội dunggiảng dạy theo chủ đề có thể khác nhau, tùy theo chương trình học, tùy theomục tiêu dạy học cũng như mong muốn của giáo viên, học sinh… có thể xâydựng và triển khái các chủ đề dạy học khác nhau, thiết kế những nội dung,phương pháp và biện pháp tổ chức ở mỗi chủ đề dạy học khác nhau Đến nay,dạy học chủ đề được nghiên cứu và thực hiện rỗng rãi trong nhiều lĩnh vựcnhư: văn học, lịch sử, địa lý, toán học, nghệ thuật, … Danh mục những chủ đềdạy học vẫn không ngừng được bổ sung và sáng tạo thêm mỗi ngày nhằmphục vụ cho mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dạy - học

2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về dạy học chủ đề còn chưa nhiều.Trong đó có một số tài liệu đề cập đến dạy học theo chủ đề trên cơ sở các bàinghiên cứu về dạy học theo chuyên đề

Trước hết là những tài liệu đề cập đến dạy học chuyên đề theo chủ trương, định hướng đổi mới giáo dục, trong đó có: Tài liệu tập huấn các chuyên đề dạy học và kiểm tra đánh giá của Bộ GD&ĐT (tháng 12 năm

2014) hướng dẫn: lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy họctrong mỗi môn học và các chuyên đề tích hợp, liên môn phù hợp với việc tổchức hoạt động học tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh; sử dụng cácphương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để xây dựng tiến trình dạy học theo

chuyên đề nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh Bài viết “Một

số vấn đề xây dựng chuyên đề học tập ở trường THPT trong chương trình giáo dục phổ thông mới” đăng trên tạp chí Giáo dục số 126, tháng 3 năm

2016, tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân đã đề cập tới khái niệm, mục tiêu, đặc

Trang 20

điểm của quy trình dạy học theo chuyên đề Bài viết Quy trình xây dựng chuyên đề dạy học của tác giả Hải Bình trên báo điện tử Giáo dục và Thời đại

(ghi lại từ tài liệu tập huân giáo viên của Bộ GD&ĐT) đưa ra các bước thiết

kế tiến trình dạy học theo chuyên đề dựa trên các bước tổ chức dạy học giảiquyết vấn đề Những tài liệu trên đây chưa hẳn là những nghiên cứu lí luậnchuyên sâu về dạy học theo chuyên đề song từ dạy học chuyên đề quan niệm

về dạy học theo chủ đề bắt đầu được được hình thành

Tiếp đến là những tài liệu hướng dẫn, nghiên cứu về dạy học theo chủ

đề một cách cụ thể, chuyên sâu hơn Đầu tiên là Công văn số GDTrH của Bộ GD&ĐT ngày 8 tháng 10 năm 2014, Hướng dẫn về việc xây dựng chủ đề dạy học “có thể dựa trên sự kết nối giữa các bài học trong một

5555/BGDĐT-môn học hoặc giữa nội dung kiến thức thuộc các 5555/BGDĐT-môn khác nhau, việc thiết kếtiến trình dạy học chủ đề sẽ theo phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực;xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong mỗi

chủ đề đã xây dựng” [1] Sau đó là bộ sách Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh (tập 1 và tập 2) của các nhà nghiên cứu đầu nghành về giáo dục

tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2016), hướng dẫn xây dựng các chủ đềdạy học tích hợp kiến thức ở lĩnh vực Khoa học xã hội và Khoa học tự nhiên

vào giảng dạy các môn ở bậc THPT Bài viết Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp liên môn bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho GV THPT đăng trên

Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 126 của nhóm tác giả Phạm Thị Kim Giang,Nguyễn Hoàng Trang, Vũ Thị Thu Hoài, Phạm Thị Kiều Duyên (2016) Luận

văn thạc sĩ Vận dụng dạy học theo chủ đề trong chương “Từ vi mô đến vĩ mô” - lớp 12 THPT ban Nâng cao của Nguyễ Đức Uy cũng đã đưa ra khái

niệm Dạy học tích hợp theo chủ đề là “cách thức GV hướng dẫn HS vận dụngnhững kiến thức, kĩ năng mới trong cùng một môn học hoặc của môn họckhác Dạy học tích hợp theo chủ đề là cách tiếp cận giảng dạy liên ngành,

Trang 21

theo đó, các nội dung giảng dạy được trình bày theo các đề tài hoặc chủ đề.Mỗi đề tài hoặc chủ đề được trình bày gồm nhiều nội dung để người học cóthể hiểu rõ và liên hệ với những gì mà người học đã biết” [30, 22]

Khóa luận Xây dựng và triển khai chủ đề “Khúc ca về những người anh hùng” để dạy đọc hiểu văn bản sử thi trong chương trình Ngữ văn 10 của

Hoàng Thị Mai Linh [36] bước đầu đưa ra một số quan điểm về định nghĩa,mục tiêu và phương pháp dạy học theo chủ đề

Việc xây dựng các chủ đề trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạyhọc theo chủ đề nhóm bài truyện, kí trong chương trình Ngữ văn THCS nóiriêng đến nay vẫn còn khá mới mẻ, chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể Vì vậy,

kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có chúng tôi vận dụng vào xây dựng và

triển khai việc Dạy học văn bản truyện, kí lớp 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” để làm sáng tỏ tính khả thi, tính hiệu quả và

tính phù hợp của chủ đề này trong hoạt động dạy học phát triển năng lực chohọc sinh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tập trung tìm hiểu và đề xuất cách thức xây dựng

và triển khai chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” trong dạy họcvăn bản truyện, kí lớp 6 nhằm phát triển năng lực đọc hiểu văn bản và cácnăng lực cốt lõi khác cho học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng dạy họctruyện, kí ở trường THCS

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về dạy học theo chủ đề; lí luận vềđặc điểm thi pháp của truyện, kí hiện đại Việt Nam

- Tìm hiểu thực trạng và khả năng tích hợp các văn bản truyện, kí lớp 6

Trang 22

trong dạy học chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam”.

- Thiết kế và triển khai chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam”trong dạy học truyện, kí hiện đại Việt Nam lớp 6

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và đánh giá hiệu quảcủa chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” trong dạy học truyện, kílớp 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” đượcthiết kế trên cơ sở thay đổi về nội dung và phương pháp tổ chức dạy học một

số văn bản truyện, kí lớp 6 trong chương trình Ngữ văn THCS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để việc nghiên cứu được tập trung, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiêncứu của luận văn đi sâu vào việc thiết kế và triển khai chủ đề “Vẻ đẹp đấtnước, con người Việt Nam” trong dạy học theo ba văn bản truyện, kí hiện đạiViệt Nam ở chương trình Ngữ văn 6, gồm:

- Văn bản “Sông nước Cà Mau” (trích truyện dài Đất rừng phương Nam) của nhà văn Đoàn Giỏi.

- Văn bản “Vượt thác” (trích truyện dài Quê nội) của nhà văn Võ Quảng.

- Văn bản “Cô Tô” (trích bài kí Cô Tô) của tác giả Nguyễn Tuân.

Đề tài triển khai nghiên cứu thực tiễn và tổ chức thực nghiệm sư phạmtại trường THCS Thanh Trì và trường THCS Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành

phố Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phối hợp những phươngpháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp tài liệu lí luận: Chúng tôi thu thập

Trang 23

tài liệu về dạy học theo chủ đề và dạy học các văn bản truyện, kí lớp 6 trongnhà trường phổ thông, từ đó thực hiện phân loại tài liệu theo nội dung, phạm

vi nghiên cứu, sắp xếp, so sánh thông tin từ các tư liệu để có cái nhìn bao quát

về lịch sử nghiên cứu vấn đề và thấy được vấn đề dạy học theo chủ đề cũngnhư dạy học các văn bản truyện, kí đã được đặt nền móng và có sự phát triển,

bổ sung Trong phương pháp này, chúng tôi cũng chọn lọc nội dung những tàitiệu nghiên cứu về dạy học theo chủ đề và dạy học các văn bản truyện, kí mà

đề tài có thể tham khảo, kế thừa và phát triển

- Phương pháp khảo sát, nghiên cứu thực tiễn: Chúng tôi thực hiện

cuộc khảo sát đối với các GV dạy Ngữ văn và HS lớp 6 trường THCS trên địabàn Hà Nội về thực trạng dạy học các văn bản truyện, kí lớp 6 hiện nay bằngcách phát phiếu thăm dò ý kiến cho GV và HS Những kết quả thu được phảnánh phần nào thực tiễn dạy học, nhu cầu tiếp nhận của HS cũng như nhữngkhó khăn trong giảng dạy truyện, kí lớp 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, conngười Việt Nam” của GV Đó là cơ sở thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài

và đề xuất phương án triển khai chủ đề dạy học này ở trường THCS hiện nay

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Để kiểm nghiệm hiệu quả việc

triển khai học truyện, kí lớp 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người ViệtNam”, chúng tôi tiến hành soạn các giáo án và trực tiếp dạy học thực nghiệmtại một số lớp 6 trường THCS Thanh Trì (Hoàng Mai, Hà Nội) và đồng thờitiến hành dạy học với giáo án đối chứng tại lớp 6 khác có sĩ số tương đươngtại trường THCS Yên Sở (Hoàng Mai, Hà Nội) Sau đó thực hiện kiểm trađánh giá ở các lớp với cùng một đề kiểm tra và biểu điểm Từ việc đánh giákết quả kiểm tra, nhận xét thái độ của HS các lớp trong suốt quá trình tiếnhành thực nghiệm sư phạm, chúng tôi đã kiểm chứng được rằng việc vậndụng dạy học truyện, kí lớp 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người ViệtNam” là hoàn toàn đúng và phù hợp

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

Trang 24

Thông qua luận văn Dạy học truyện, kí lớp 6 theo chủ đề “Vẻ đẹp đấtnước, con người Việt Nam”, chúng tôi mong muốn có những đóng góp nhấtđịnh trong lĩnh vực nghiên cứu phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhàtrường phổ thông Cụ thể:

- Về lí luận: có đóng góp và phát triển lí luận về dạy học đọc hiểu vănbản văn học theo chủ đề

- Về thực tiễn: đề xuất được yêu cầu, cách thức thiết kế và triển khaichủ đề dạy học “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam” trong dạy học đọchiểu văn bản truyện, kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 6

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luậnvăn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học truyện, kí lớp 6

theo chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam”

Chương 2 : Thiết kế và triển khai chủ đề “Vẻ đẹp đất nước, con người

Việt Nam” trong dạy học truyện, kí hiện đại Việt Nam trong chương trìnhNgữ văn 6

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 25

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC TRUYỆN, KÍ LỚP 6 THEO CHỦ ĐỀ “VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VIỆT NAM” 1.1 Dạy học theo chủ đề

1.1.1 Quan niệm về dạy học theo chủ đề

1.1.1.1 Quan điểm của một số tác giả nước ngoài về dạy học theo chủ đề

Khái niệm dạy học theo chủ đề bắt đầu được đề cập đến trong lĩnh vực

giảng dạy ngôn ngữ từ năm 1960 với tên gọi Theme based instructrion (được

hiểu là Dạy học theo chủ đề hoặc Hướng dẫn theo chủ đề) Sau đó, cũng cónhiều tài liệu nhắc đến khái niệm Dạy học theo chủ đề với cách gọi khác là

Theme based teaching.

Cách định nghĩa về Dạy học theo chủ đề của mỗi tác giả cũng có sựkhác nhau, trong đó khái niệm của Timothy Shanahan và Mumford, D đưa

ra được nhắc đến phổ biến hơn cả Tác giả Timothy Shanahan đã mô tả Dạyhọc theo chủ đề (Theme based instructrion) là một phương pháp tổ chức dạyhọc xung quanh các chủ đề hoặc kết hợp các vấn đề lại để giảng dạy qua cáclĩnh vực cốt lõi như đọc, viết, toán, lịch sử, khoa học và nghệ thuật Các đơn

vị chủ đề được thiết kế để khuyến khích học sinh tìm hiểu sâu về nó nhằmphát triển cả nhận thức lẫn hiểu biết về các mối liên hệ hiện có thông qua

các ý tưởng (Theo Tạp chí The Reading Teacher, Số tháng 5 năm 1995, Tập

48, số 8)

Còn theo Mumford, D trong Planning a theme based unit (2000) Dạy

học theo chủ đề (Theme based teaching) có thể hiểu là một phương pháp đểgiảng dạy một loạt các kĩ năng và nội dung bằng cách tích hợp các khu vực

Trang 26

chương trình giảng dạy xung quanh một đề tài Phương pháp giảng dạy nàyliên kết các chuỗi chương trình giảng dạy và tận dụng lợi ích mà học sinh đãđạt được thông qua dạy học theo chủ đề để tạo ra ý thức về mục đích và cộngđồng ngay trong lớp học Như vậy, Mumford không chỉ đưa ra khái niệm cụthể hơn Timothy Shanahan mà còn thúc đẩy dạy học chủ đề tiến lên xa hơnkhi nhấn mạnh: với việc (chủ đề được) xây dựng dựa trên lợi ích (mà HS cóthể đạt được khi theo học chủ đề) và kinh nghiệm cuộc sống của HS, thái độcủa các em cũng như kĩ năng và kiến thức sẽ được phát triển có ý nghĩa Từ

đó tác giả khẳng định, đối với HS trong quá trình dạy học theo chủ đề, sự hỏiđáp và sự kết nối sẽ được kích hoạt bởi lòng mong muốn được biết nhiều hơn,kết quả là các em sẽ nhiệt tình tham gia vào quá trình học tập

Theo Chương trình dạy học của Intel khóa học khởi đầu (phiên bản 1.0) của đơn vị Intel Education (2007), dạy học theo chủ đề là một phương

pháp dạy học trong đó có sự tích hợp liên môn làm cho nội dung học có ýnghĩa lớn hơn, thực tế hơn và HS có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiếnthức mới và vận dụng vào thực tiễn.[32]

1.1.1.2 Quan điểm của các tác giả Việt Nam về dạy học theo chủ đề

Theo Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD&ĐT ngày 08tháng 10 năm 2014, Hướng dẫn về việc xây dựng chủ đề dạy học thì thay choviệc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa nhưhiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoahiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp vớiviệc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhàtrường Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trìnhhiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phươngpháp dạy học tích cực, xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thànhcho học sinh trong mỗi chuyên đề đã xây dựng

Theo tác giả Trịnh Văn Lịch (2015), dạy học chuyên đề là mô hình dạy

Trang 27

học tích cực định hướng cho HS nhận thức những kiến thức trong các bài dạy(đã được cấu trúc thành một chuyên đề) bằng những câu hỏi định hướng với

hệ thống kiến thức chặt chẽ, sát thực và thiết thực, trong quá trình học tập HSluôn được thoải mái, tạo điều kiện, cơ hội cho việc đạt mục đích học tập vàphát triển bản thân

Từ dạy học chuyên đề, người ta xây dựng mô hình dạy học theo chủ đề.Dạy học theo chủ đề được cho là có mức độ tích hợp nội dung chặt chẽ vàquy mô hơn, hướng tới mục tiêu cao hơn với những yêu cầu đòi hỏi khắt khehơn so với dạy học theo chuyên đề

Trong luận văn Vận dụng phương pháp dạy học theo chủ đề của Australia vào phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX, lớp 10 THPT (Chương trình chuẩn) của mình (2014), tác giả Bùi Thị Liên đã định

nghĩa khái niệm Dạy học theo chủ đề (Theme based Learning) là sự kết hợpgiữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó giáo viên không chỉ dạybằng cách truyền thụ (xây dựng) kiến thức mà chủ yếu hướng dẫn học sinh tựlực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ýnghĩa thực tiễn Từ đó, tác giả cho rằng dạy học theo chủ đề là mô hình xâydựng một nội dung dạy học thành một kết cấu chặt chẽ, logic theo một hệthống chứ không phải là những bài học rời rạc đòi hỏi học sinh phải tự tìm tòikiến thức thực tế liên quan đến nội dung học và vận dụng kiến thức vào giảiquyết các nhiệm vụ học tập

Còn theo tác giả Nguyễn Uy Đức (2009) lại cho rằng, dạy học theo chủ

đề là “sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó GVkhông chỉ dạy học bằng cách truyền thụ kiến thức chủ yếu là hướng dẫn HStìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức được chọn vào giải quyết các nhiệm vụ

có ý nghĩa thực tiễn [22,18] Tác giả Lê Văn Vân (2016), dạy học theo chủ đề

là một mô hình hoạt động lớp học chú trọng những nội dung học tập có tínhtổng quát liên quan đến nhiều lĩnh vực, tích hợp với những vấn đề gắn liềnvới thực tiễn và các hoạt động lớp học do học sinh giữ vai trò trung tâm Tác

Trang 28

giả Nguyễn Văn Ý (2014) đã bổ sung một nội dung quan trọng trong kháiniệm dạy học theo chủ đề, đó là “mô hình dạy học mà nội dung học được xâydựng thành các chủ đề có ý nghĩa thực tiễn, thể hiện mối liên hệ liên môn,liên lĩnh vực để HS phát triển các ý tưởng một cách toàn diện Dạy học theochủ đề không chỉ đặt mục tiêu lĩnh hội những kiến thức trong khuôn khổchương trình học như quan niệm truyền thống mà là mục tiêu phát triển hiểubiết khoa học Điều này tạo nên sự khác biệt cơ bản của chiến lược dạy họctheo quan niệm truyền thống [23,181] Trong khóa luận (2017), tác giảHoàng Thị Mai Linh quan niệm dạy học theo chủ đề “là mô hình dạy học dựatrên việc cấu trúc nội dung dạy học thành các đơn vị chủ đề (các đơn vị nộidung có tính chất bao quát, xâu chuỗi liên quan đến nhiều bài học khác nhau).Các đơn vị chủ đề được xây dựng trên hai yếu tố: thứ nhất là việc liên kết mộtcách logic, khoa học, thống nhất các nội dung dạy học có mối quan hệ gắn bóvới nhau trên một hoặc một số phương diện nhất định, thứ hai là nhu cầu vềlợi ích của học sinh mong muốn đạt được khi học theo chủ đề đó”.[36,22]

Từ những giới thuyết trên có thể xác định một quan niệm về dạy học

chủ đề như sau: Dạy học theo chủ đề là định hướng thay đổi nội dung và phương pháp dạy học, có nhiều ưu điểm góp phần phát triển năng lực người học Dạy học chủ đề có liên quan mật thiết với dạy học tích hợp, dạy học phát triển năng lực và là một mô hình mới cho hoạt động lớp học, thay thế cho lớp học truyền thống Các chủ đề được xây dựng trên cơ sở cấu trúc lại các đơn

vị nội dung có tính chất xâu chuỗi, liên quan đến nhiều bài học khác nhau, gắn với nhu cầu về lợi ích của người học Ở đó học sinh tích cực, chủ động

và sáng tạo trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên Mục đích của dạy học theo chủ đề là hình thành và phát triển tốt nhất các năng lực cho người học.

1.1.2 So sánh đặc điểm của dạy học thông thường

và dạy học theo chủ đề

Tác giả Nguyễn Uy Đức trong công trình nghiên cứu của mình đã có sự so

Trang 29

sánh rất cụ thể giữa dạy học truyền thống và dạy học theo chủ đề như sau [22,14].

Điểm tương đồng:

- Dạy học theo chủ đề và dạy học truyền thống vẫn coi trọng việc lĩnh hộimột nội dung kiến thức nền tảng, vì thế dạy học theo chủ đề là mô hình dạy học

có thể vận dụng vào thực tiễn hiện nay dễ dàng hơn các mô hình khác

- Để vận dụng dạy học theo chủ đề cần phải tổ chức lại một số bài họcthành một chủ đề có ý nghĩa thực tiễn

Điểm khác biệt:

Bảng 1.1 So sánh điểm khác biệt giữa dạy học truyền thống

và dạy học theo chủ đề.

Dạy học truyền thống Dạy học theo chủ đề

GV quyết định tiến trình học tập của HS HS được giao nhiệm vụ học tập và

tự tìm cách thức thực hiện (có sự

hỗ trợ của GV)Phù hợp với một số HS có cách tư duy

logic, tuần tự, chặt chẽ

Sẽ xảy ra sự mâu thuẫn với những HS

có ý tưởng sáng tạo, cá tính tự do khi

không đồng quan điểm với phân tích,

quan điểm của người dạy về tác phẩm

Phù hợp với nhiều đối tượng HS vìmỗi HS có một phương pháp họctập riêng phù hợp

Chủ yếu đặt ra mục tiêu kiến thức mới

thông qua hoạt động bồi dưỡng các

phương pháp tư duy khoa học và

phương pháp nhận thức khoa học; suy

luận khoa học, mô hình hóa, thực

nghiệm

Hướng đến các mục tiêu; phát triểnhiểu biết vượt khỏi khuôn khổ nộidung, hiểu biết tiến trình khoa học

và rèn luyện các kỹ năng như: quansát, thu thập xử lý dữ liệu suy luận

và áp dụng thực tiễnDạy học theo từng bài riêng rẽ trong một

thời lượng cố định dành cho từng bài

Day học theo chủ đề thống nhấtđược tổ chức lại từ một phầnchương trình học

Kiến thức thu được rời rạc hoặc liên hệ

một chiều

Kiến thức thu được là những kháiniệm liên hệ mạng lưới với nhau Trình độ nhận thức có thể đạt: biết,

hiểu, vận dụng (giải bài tập)

Trình độ nhận thức có thể đạt:phân tích, tổng hợp, đánh giá

Trang 30

Dạy học truyền thống Dạy học theo chủ đề

Kết thúc một chương: không có một tổng

thể kiến thức mới mà có kiến thức từng

phần riêng biệt hoặc hệ thống kiến thức

liên hệ một chiều theo trật tự bài học

Kết thúc chủ đề: HS có một tổngthể kiến thức mới, tinh giản, chặtchẽ và khác với nội dung SGK

Kiến thức khá xa rời thực tiễn do sự cập

nhật thông tin chậm và chưa đầy đủ

Kiến thức gần với thực tiễn do sự cậpnhật thông tin đầy đủ và liên tụcKiến thức thu được sau khi học chỉ

giới hạn trong nội dung học

Sau khi kết thúc chủ đề, hiểu biếtcủa HS vượt ra ngoài khuôn khổnội dung cần học

Không thể hướng tới bồi dưỡng các kỹ

năng: giao tiếp, hợp tác, quản lí, điều

hành, ra quyết định

Có thể hướng tới bồi dưỡng các kỹnăng: giao tiếp, hợp tác, quản lí,điều hành, ra quyết định

Từ sự đối sánh trên, dạy học theo chủ đề đã cho thấy rõ đây là mô hìnhdạy học có nhiều ưu điểm so sánh với phương pháp dạy học truyền thống vàhoàn toàn phù hợp với đổi mới phương pháp theo hướng tích hiện nay Cụ thể:

- Dạy học theo chủ đề giống như các mô hình dạy học tích cực khác ởchỗ không thể coi HS là đối tượng chưa biết gì mà ngược lại, cần tận dụngnhững kinh nghiệm sống thực tiễn của HS để giải quyết vấn đề

- Dạy học theo chủ đề cần đặt sự quan tâm chủ yếu tới việc sử dụngkiến thức có tính tích hợp cao, tinh giản và tính công cụ cao, đồng thời hướngtới nhiều mục tiêu giáo dục tích cực khác

- Trong dạy học theo chủ đề, kiến thức mới được HS lĩnh hội cùng lúcvới việc giải quyết nhiệm vụ học tập, đó là kiến thức tổ chức theo một tổngthể mới khác kiến thức được trình bày trong các nguồn tài liệu tham khảo

-Vai trò của GV và HS thay đổi cơ bản từ việc lấy GV làm trung tâmsang lấy HS làm trung tâm Các nhiệm vụ học tập được giao, HS quyết địnhchiến lược học tập cùng sự hỗ trợ, hợp tác của GV Với mô hình này, HS cónhiều cơ hội làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề xác thực, có hệthống và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau Các em thu nhập thông tin

Trang 31

từ nhiều nguồn kiến thức Việc học của HS thực sự có giá trị vì nó kết nối vớithực tế và rèn luyện được nhiều kỹ năng hoạt động và kỹ năng sống HS cũngđược tạo điều kiện minh họa kiến thức mình vừa nhận được và đánh giá mìnhhọc được bao nhiêu và giao tiếp tốt như thế nào Với cách tiếp cận này vai tròcủa GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo thay vì quản lí trực tiếp HS làm việc.

- Hướng tới mục tiêu: chiếm lĩnh nội dung có kiến thức khoa học, hiểubiết tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năng tiến trình khoa học như:quan sát, thu thập thông tin, dữ liệu, xử lí (so sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệthông tin); suy luận, áp dụng thực tiễn

- Dạy theo một một chủ đề thống nhất được tổ chức lại theo hướng tíchhợp từ một phần trong chương trình học nên kiến thức HS thu được là cáckhái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới với nhau Đó là những kiến thứcgần gũi với thực tiễn mà HS đang sống hơn do yêu cầu cập nhật thông tin khithực hiện chủ đề

1.1.3 Các đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề

1.1.3.1 Mục tiêu của dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề có điểm tương đồng với các mô hình dạy học tíchcực khác ở chỗ đều nhằm đáp ứng những yêu cầu về đổi mới phương phápdạy học và qua đó thực hiện đầy đủ các mục tiêu giáo dục của bộ môn tronggiai đoạn hiện nay

Bên cạnh đó, dạy học theo chủ đề đặt mối quan tâm nhiều hơn đến sựphát triển của HS với các phong cách học tập khác nhau và quan tâm đến việctrang bị cho HS những kỹ năng để giải quyết vấn đề mà thực tiễn khôngngừng đặt ra Bởi vậy, dạy học theo chủ đề hướng đến các mục tiêu tích cựckhác với dạy học truyền thống:

- Phát triển hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năngcủa một tiến trình khoa học

- Phát triển tư duy bậc cao, nhằm phát triển khả năng suy luận, tổ chức

Trang 32

kiến thức và tiếp nhận thông tin một cách chọn lọc, có phê phán

- Rèn luyện các kỹ năng sống và làm việc của con người trong thời đạingày nay: giao tiếp, hợp tác, quản lí, tự quyết định, tự đánh giá, tự điều chỉnh,…

- Chú trọng mục tiêu phát triển nhân cách đa dạng của cá nhân hơn làviệc đạt tới các mục tiêu chung, cứng nhắc, bắt buộc, khuôn mẫu, áp đặt

1.1.3.2 Vai trò của GV

Vai trò của GV là dạy cho mọi người biết cách tự học, tự nghiên cứu,

tự đào tạo Trong dạy học theo chủ đề, GV là người tổ chức và hướng dẫn quátrình dạy - tự học GV không còn là nơi độc quyền cung cấp kiến thức chongười học mà luôn phải tạo ra cơ hội cho phép người học được tự do theođuổi những tư tưởng, khái niệm, kỹ năng dưới sự tư vấn của GV và chính GVcần phải có thái độ tin cậy và tôn trọng HS, dạy HS cách tìm ra chân lí

Vai trò dạy của GV không có nghĩa là truyền đạt toàn bộ nội dung trênlớp mà phải là cố gắng khai thác tối đa kiến thức kinh nghiệm, kỹ năng sẵn

có của HS, giúp HS tự mình lĩnh hội kiến thức Ngoài ra, GV trong chiếnlược dạy học này không phải là người quyết định toàn bộ chiến lược học tậpcủa HS, vì nhiều nhiệm vụ học tập được giao cho HS mà HS phải tự quyếtđịnh cách thức thực hiện nhiệm vụ đó

Trong dạy học theo chủ đề, HS giữ vị trí trung tâm, nhưng không vì thế

mà vai trò của GV bị giảm sút, nó chỉ thay đổi ý nghĩa: GV trở thành ngườicộng tác, tổ chức, hướng dẫn HS, là người trọng tài sáng suốt giúp HS xácđịnh được chân lý, phát triển nhân cách và biết mình phải làm gì và tự giảiquyết những vấn đề trong cuộc sống

1.1.3.3 Vai trò của HS

Vai trò cả HS là tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo Bởi người học là mộtchủ thể tích cực, chủ động tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chínhmình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy, học mọi

Trang 33

người Trong dạy học theo chủ đề như các chiến lược dạy học tích cực khác,quan niệm “lấy người học làm trung tâm” không chỉ đơn giản là HS đượcquan tâm, giúp đỡ, được tạo mội điều kiện thuận lợi cho việc học tập, pháttriển mà còn thể hiện ở chỗ HS được quyết định một phần (hay toàn bộ) chiếnlược học tập, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm một phần với kết quả học tậpcủa mình (trách nhiệm với sự phát triển hiểu biết, phát triển của chính mình).

1.1.3.4 Phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học

* Phương pháp dạy học

Dạy học theo chủ đề và nhiều mô hình dạy học tích cực khác đều đặttrọng tâm phát triển tư duy cho HS Chính vì thế dạy học phải chú trọng đếncác phương pháp tạo cơ hội, tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động,đặc biệt là quan điểm kiến tạo trong dạy học, còn quá trình học là quá trìnhgiải quyết các vấn đề thực tiễn trên cơ sở kiến thức được học (Học thuyết kiếntạo cho rằng: mọi người, không phân biệt lứa tuổi, học tốt nhất bằng cách: thuthập thông tin mới, suy nghĩ về nó, và làm việc theo nhiều các khác nhau.Những hướng dẫn trực tiếp được giảm tối thiểu, thay vào đó là tạo cơ hội chongười học thăm dò, thí nghiệm, chia sẻ ý kiến Tạo cơ hội và cung cấp các tàiliệu khác nhau để HS xây dựng hiểu biết của mình)

Trong mô hình dạy học này và nhiều mô hình dạy học tích cực khác,người ta không dành nhiều thời gian cho việc cung cấp kiến thức mà thời gianhọc chủ yếu dành cho việc giải quyết vấn đề, thực hiện các nhiệm vụ học tậpcủa các nhóm HS Kiến thức mới có thể được cung cấp một cách đúng lúctrong quá trình HS giải quyết vấn đề thực tiễn được giao, hoặc được giới thiệutrong một khoảng thời gian ngắn thích hợp theo cách dạy truyền thống trướckhi HS giải quyết vấn đề, hoặc thông qua tài liệu hỗ trợ do GV cung cấp, chỉdẫn Nói cách khác, các mô hình dạy học tích cực phổ biến hiện nay thường

Trang 34

ưu tiên việc sử dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, HS họcđược tiến trình khoa học và kỹ năng tiến trình khoa học từ việc giải quyết vấn

đề chứ không phải từ việc tham gia xây dựng kiến thức như quan niệm dạyhọc truyền thống quen thuộc

kế theo dự án chứa đựng nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau, có thể lôi cuốnđược mọi đối tượng học sinh không phụ thuộc vào cách học của các em Cácphương tiện kỹ thuật cũng được sử dụng để hỗ trợ việc học Trong quá trìnhthực hiện dự án có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp họcsinh tạo ra những sản phẩm có chất lượng Với đặc trưng là HS hợp tác, cùngnhau “khám phá” lại tri thức của nhân loại, HS có cơ hội chia sẻ những suynghĩ của mình với bạn học; với phương thức học thầy, học bạn sẽ phát huytính năng động, tư duy sáng tạo của HS, đồng thời khắc phục được hoạt độngđộc diễn của thầy trong lớp đông HS

Thời gian học một chủ đề không nhất thiết trong một, hai tiết học mà cóthể kéo dài trong một, vài tuần tùy ý nghĩa, mức độ quan trọng và khó khăncủa chủ đề

*Phương tiên dạy học

Sử dụng kết hợp các phương tiện dạy học như: phấn, bảng, thiết bị,dụng cụ thí nghiệm, máy vi tính, máy chiếu, băng hình, các phần mềm hỗ trợ

Trang 35

dạy học,…hay những vật dụng trong cuộc sống hằng ngày đáp ứng được yêucầu về mặt dạy học.

Tích cực sử dụng công nghệ vào dạy và học, các nguồn thông tin vàphương tiện hỗ trợ khai thác, xử lý, lưu giữ, chuyển tải thông tin được coi làphương tiện dạy và học đặc biệt là quan trọng của các mô hình dạy học hiệnđại (đây cũng là những kĩ năng cơ bản, cần thiết cho sự thành công của tất cảmọi người sống và làm việc trong thế kỷ XXI mà HS cần được rèn luyện ngaytrong nhà trường phổ thông)

1.1.3.5 Kiểm tra đánh giá

Để đánh giá hiệu quả dạy học theo chủ đề, GV tiến hành:

- Kết hợp giữa hình thức đánh giá tổng kết định kì (trong dạy họctruyền thống) với hình thức đánh giá quá trình (đánh giá chất lượng và hiệuquả công việc của HS trong quá trình làm việc theo nhóm qua các phiếu họctập thông qua đó đánh giá quá trình phát triển của HS)

- Kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS

1.1.4 Vận dụng ý tưởng thiết kế hệ thống câu hỏi/bài tập cho dạy học chủ đề theo định hướng hát triển năng lực

Thiết kế hệ thống câu hỏi/bài tập định hướng cho việc dạy và học mộtchủ đề là ý tưởng vận dụng sáng tạo chiến lược dạy học dựa trên dự án vàokiểu dạy học này Đối với GV và HS, mục tiêu của việc dạy và học sẽ trở nên

cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện hơn nếu ta biết được rằng việc dạy học cần giúp

HS trả lời những câu hỏi khó đến mức độ nào, trong một chủ đề cụ thể phảilàm được những công việc gì cụ thể Do đó, một bộ câu hỏi định hướng chomột chủ đề cụ thể giúp ta có cơ sở đối chiếu với mục tiêu để biết rằng việcdạy có bám sát mục tiêu đặt ra hay không, việc học có đạt đến mục tiêu haykhông Chiến lược dạy học dự án đưa ra khái niệm bộ câu hỏi định hướng làmột ý tưởng hết sức sáng tạo mà các chiến lược dạy học khác có thể vận

Trang 36

dụng Vì thế, thiết kế bộ câu hỏi định hướng là một nhiệm vụ quan trọng củadạy học theo chủ đề, các câu hỏi này sẽ là kim chỉ dẫn dắt nội dung vàphương pháp làm việc cho toàn bộ chủ đề học tập.

Điểm mấu chốt của dạy học theo chủ đề là xây dựng bài dạy trênnhững câu hỏi để nâng cao kiến thức về nội dung chứ không phải đơn giản chỉdạy những câu trả lời có sẵn trong SGK Thiếu những câu hỏi như thế nàytrong bài dạy sẽ làm GV dễ rơi vào tình trạng dạy học một cách hời hợt, nôngcạn và không có mục đích Xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho chủ đề họcthực chất là sự cụ thể hóa những mục tiêu cần đạt được Khi đó, việc học tậpcủa HS được định hình bởi những yêu cầu cụ thể và việc giải quyết tốt cácyêu cầu đó cũng có nghĩa là thực hiện được mục tiêu của quá trình dạy học

Yêu cầu của kiểu dạy học theo chủ đề là HS trong quá trình học phải tựmình thực hiện các nhiệm vụ học tập, giải quyết các vấn đề GV sẽ hướng dẫn

HS giải quyết các vấn đề bằng cách thiết kế bộ câu hỏi theo nhiều mức độ từ

dễ đế khó dựa vào mức độ tư duy của HS từ thấp đến cao theo cách phân loạicủa Bloom Những câu hỏi đó là những câu hỏi có thể chỉ đạo bài dạy và thuhút HS khai thác các ý trọng tâm của chủ đề

Hệ thống câu hỏi/bài tập cho từng nội dung trong chủ đề bao gồm: cáccâu hỏi nhận biết, câu hỏi thông hiểu, câu hỏi vận dụng và câu hỏi vận dụng ởmức độ cao

Câu hỏi nhận biết: Đó là loại câu hỏi có tính chất nhớ và nhắc lại được

các thông tin cơ bản (là các kiến thức đã học, có thể tái hiện, nêu ra hoặc nhậndiện khi được yêu cầu) Để trả lời câu hỏi nhận biết, người học nhận dạng, đốichiếu, chỉ ra, tái hiện… Câu hỏi nhận biết thường đưa ra yêu cầu: nêu lên,trình bày, chỉ ra, liêt kê, xác định, …[30,132]

Câu hỏi thông hiểu: đánh giá khả năng hiểu được thông tin, khái niệm

cơ bản, có thể thuyết minh, giải thích các kiến thức đã lĩnh hội bằng ngôn ngữcủa chính mình Hoạt động tương ứng của người học là phân tích, so sánh,

Trang 37

tổng kết, kể lại, viết lại Câu hỏi thông hiểu thường đưa ra yêu cầu: tóm tắt,giải thích, mô tả, đối chiếu, trình bày, hình dung, …[30,133]

Câu hỏi vận dụng: Là các câu hỏi mà học sinh tạo ra sự liên kết logic

giữa các thông tin, khái niệm cơ bản để tổ chức lại các thông tin đã được trìnhbày theo cách thức thể hiện giống như bài giảng của GV hoặc bài học SGK.Hoạt động tương ứng của người học là sắm vai, xây dựng mô hình Câu hỏivận dụng thường đưa ra yêu cầu: liên hệ thực tế, đóng vai, kết nối, chứngminh …[30,133]

Câu hỏi vận dụng ở mức độ cao: Là các câu hỏi yêu cầu học sinh sử

dụng thông tin, khái niệm, kiến thức,… đã tiếp nhận để phát hiện và giảiquyết các vấn đề mới, không hoàn toàn với những điều đã học hoặc đượctrình bày trong SGK nhưng phù hợp với kiến thức, kĩ năng đã đạt được từmức độ nhận thức trước Vận dụng ở mức độ cao là tổng hòa của ba cấp độnhận thức: phân tích, tổng hợp, đánh giá trong thang Bloom Hoạt động tươngứng của người học là tạo ra sản phẩm mới, rút ra kết luận, khám phá, sangtác Câu hỏi vận dụng cao thường đưa ra yêu cầu: viết, trình bày quan điểm,phân tích (áp dụng vào đối tượng mới), … [30,134]

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của dạy học theo chủ đề trong dạy học Ngữ văn

Vai trò của dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề là mô hình dạy học tích cực, khắc phục đượcnhững hạn chế của mô hình dạy học truyền thống hướng đến giải quyết nhữngvấn đề cấp thiết sau của nền giáo dục nước ta Thứ nhất là đáp ứng yêu cầuđổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục, đặc biệt là chú trọng đổi mới phươngpháp, cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ độngcủa học sinh Thứ hai là khắc phục tính giới hạn về định lượng nội dung trongsách giáo khoa và phù hợp với nhu cầu mở rộng phạm vi tìm hiểu và đào sâu

Trang 38

nghiên cứu vấn đề của người học, đặc biệt đáp ứng nhu cầu cập nhật kiếnthức vô hạn trong bối cảnh bùng nổ thông tin, tri thức hiện nay Thứ ba làhiện thực hóa được các mục tiêu dạy học tích cực mà cách tiếp cận giảng dạytruyền thống hiện có không đủ khả năng thực hiện như: tăng cường tích hợpcác vấn đề cuộc sống, thời sự vào bài giảng; tăng cường sự vận dụng kiếnthức của học sinh sau quá trình học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; rènluyện các kĩ năng cơ bản cho người học Thứ tư là ngoài việc quá trình dạyhọc hướng tới định hướng nội dung học thì công cuộc đổi mới dạy học hiệnnay còn có tham vọng tiến xa hơn, đó là định hướng hình thành năng lực chohọc sinh Theo đó, chúng ta kỳ vọng vào quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá,chú trọng tăng cường tính vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đềthực tiễn của người học và nhờ vào quá trình đó các năng lực được hìnhthành Như vậy, dạy học theo chủ đề sẽ có rất nhiều lợi thế so với dạy họctheo cách tiếp cận truyền thống, đặc biệt là nó có thể giải quyết được bốn yêucầu đã nêu trên, chính là bước chuẩn bị tương đối phù hợp cho đổi mớichương trình và sách giáo khoa trong thời gian tới.

Thực tế cho thấy, khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn (bao gồm cảvấn đề tự nhiên và xã hội), học sinh cần phải vận dụng kiến thức tổng hợphoặc liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theohướng tích hợp đa chiều, liên môn, nghĩa là buộc người dạy phải xây dựngcác chủ đề để tiến hành dạy học Tất nhiên, việc xây dựng các chủ đề trongdạy học cũng không tham vọng sẽ giải quyết việc đưa toàn bộ thực tiễn vàochương trình, thậm chí mô hình này cũng chưa thể tạo ra một phương phápgiáo dục hoàn toàn mới, nhưng quan trọng hơn hết chính là nó mở đường chogiáo viên và học sinh tiếp cận với kiến thức theo một hướng khác một cáchchủ động Nó cũng không chỉ dừng ở mục tiêu “đầu vào” về kiến thức mà nócòn định hướng “đầu ra” (tức khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết

Trang 39

thực tiễn) nhờ vào việc xác định các năng lực cần phát triển song song vớinhững mục tiêu về chuẩn nội dung kiến thức, kỹ năng trong chương trình học.

Ý nghĩa của việc dạy học theo chủ đề

Theo Lê Văn Vân (2016), dạy học theo chủ đề giúp học sinh tăngcường khả năng hiểu bài, khả năng huy động những kiến thức đã học để hiểusâu, toàn diện các kiến thức cho học sinh Trên cơ sở đó, học sinh được ôn tậpcủng cố tổng hợp các kiến thức ở mức cao và biết vận dụng sáng tạo tronghọc tập [45, 32] Từ đó, có thể dễ dàng nhận thấy:

- Học tập theo chủ đề hướng dẫn học sinh biết cách khơi dậy nhữngkiến thức, trải nghiệm của bản thên để hỗ trợ cho hoạt động khám phá, nghiêncứu kiến thức mới, đồng thời vận dụng một cách hiệu quả kiến thức đã họcvào giải quyết vấn đề thực tiễn Bởi vì, trong dạy học theo chủ đề, mục tiêuđược đặt ra gắn với vấn đề thực tiễn cần giải quyết nên quá trình học sinh lĩnhhội kiến thức mới diễn ra cùng lúc với việc giải quyết nhiệm vụ học tập Từ

đó, dạy học theo chủ đề giúp phát triển các năng lực cốt lõi (năng lực giảiquyết vấn đề, năng lực sáng tạo…) cho học sinh

- Dạy học theo chủ đề còn tiết kiệm được thời lượng trong dạy học khigiáo viên không phải dạy lại những nội dung học sinh đã biết, lại tránh được

sự trùng lặp nội dung kiến thức khiến cho học sinh nhàm chán Do mô hìnhdạy học theo chủ đề chủ yếu quan tâm tới việc sử dụng kiến thức có tính tíchhợp cao, tinh giản và tính công cụ cao Các kiến thức đó được tổ chức lạitrong một mối liên hệ mạng lưới với nhau

- Dạy học theo chủ đề giúp tối đa hóa sự tham gia của người học, hạnchế đến mức tối thiểu sự can thiệp, áp đặt của người dạy trong quá trình họctập Cụ thể, mô hình dạy học đã thay đổi cơ bản từ việc lấy giáo viên làmtrung tâm sang lấy học sinh làm trung tâm Học sinh nắm quyền chủ động,tích cực trong các nhiệm vụ học tập được giao, học sinh tham gia cùng giáo

Trang 40

viên quyết định chiến lược học tập, có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm vàđưa ra những quan điểm, ý tưởng sáng tạo của riêng mình Như vậy, dạy họctheo chủ đề đã tạo hứng thú học tập của học sinh Thông qua việc sử dựngkiến thức đã lĩnh hội được để giải quyết vấn đề thực tiễn, bản thân học sinh tựnhận thức được việc tham gia vào bài học chủ đề của mình thực sự có giá trị vì

nó kết nối với thực tế rèn luyện được nhiều kĩ năng hoạt động và kĩ năng sống

Với cách tiếp cận này, vai trò của giáo viên chỉ là người hướng dẫn, chỉbảo thay vì quản lý trực tiếp học sinh làm việc

- Dạy học theo chủ đề có tính ứng dụng vào thực tiễn khá cao và phạm

vi sử dụng rộng rãi Bởi người học khi trải qua tham gia lĩnh hội kiến thứctheo chủ đề (vốn liên kết với nhau theo một mạng lưới) một cách hệ thốnglôgic sẽ rèn luyện được các theo tác tư duy và bước đầu hình thành kĩ năngnghiên cứu khoa học như: quan sát, thu thập thông tin, dữ liệu, xử lí (so sánh,sắp xếp, phân loại, liên hệ thông tin): suy luận, áp dụng thực tiễn Đó là lí dotại sao dạy học theo chủ đề được vận dụng vào nhiều đề tài, sáng kiến kinhnghiệm về dạy học và được sử dụng gắn liền với dạy học tích hợp, liên môn,khám phá, …

1.2 Thể loại truyện, kí hiện đại Việt Nam

Trong cuốn “Thiết kế bài học Ngữ văn 6 theo hướng tích hợp” củaNXB Giáo dục, năm 2002, tác giả Hoàng Hữu Bội đã chỉ ra những hiểu biếtcần thiết về đặc trưng thể loại và phương pháp để tiếp cận các văn bản truyện,

kí hiện đại với những nội dung sau:

1.2.1 Đặc điểm thi pháp của truyện hiện đại Việt Nam

1.2.1.1 Khái niệm “truyện”, “truyện hiện đại”

Truyện là loại tác phẩm văn học “tái hiện đời sống trong toàn bộ tính

khách quan của nó Tác phẩm truyện phản ánh hiện thực qua bức tranh mở

Ngày đăng: 16/08/2020, 23:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ giáo dục và đào tạo – Dự án Việt Bỉ (2010) Dạy và học tích cực - một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực - mộtsố phương pháp và kĩ thuật dạy học
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực HS, môn Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm trađánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực HS, môn Ngữvăn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Pisa và các dạng câu hỏi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pisa và các dạng câu hỏi
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Sách giáo khoa Ngữ văn 6, Tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 6, Tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2004
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Sách giáo khoa Ngữ văn 6, Tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 6, Tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2004
11. Trương Thị Bích (2001), Hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương, Tạp chí Tự học số17, tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm vănchương
Tác giả: Trương Thị Bích
Năm: 2001
12. Hoàng Hữu Bội (2002), Thiết kế bài học Ngữ văn 6 theo hướng tích hợp, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 6 theo hướng tích hợp
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
14. Hoàng Hòa Bình (2015), Năng lực và cấu trúc năng lực, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 117, tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực và cấu trúc năng lực
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Năm: 2015
15. Nguyễn Lăng Bình (Chủ biên) – Đỗ Hương Trà (2017) Dạy và học tích cực - một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tíchcực - một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Nhà XB: Nxb ĐHSP
16. Nguyễn Viết Chữ (2008), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương(theo loại thể)
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
17. Nguyễn Quang Cương (2000), Hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa văn học, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoavăn học
Tác giả: Nguyễn Quang Cương
Năm: 2000
18. Bernd Meir, Nguyễn Văn Cường (2015), Lí luận dạy học hiện đại, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Bernd Meir, Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: NxbĐại học Sư phạm
Năm: 2015
19. Nguyễn Đức Dũng (2015), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học các chủ đề tích hợp chương “Cacbon – Silic” – Hóa học 11, Luận văn Thạc sĩ, ĐH Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho họcsinh thông qua dạy học các chủ đề tích hợp chương “Cacbon – Silic” – Hóahọc 11
Tác giả: Nguyễn Đức Dũng
Năm: 2015
20. Hà Minh Đức (chủ biên), Đõ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lí Hoài Thu (2000), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên), Đõ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lí Hoài Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
21. Nguyễn Văn Đường, Hoàng Dân (2002), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6, quyển 2, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6,quyển 2
Tác giả: Nguyễn Văn Đường, Hoàng Dân
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
22. Nguyễn Uy Đức (2009), Vận dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT ban Nâng cao, ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng dạy học theo chủ đề trong dạy họcchương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT ban Nâng cao
Tác giả: Nguyễn Uy Đức
Năm: 2009
23. B.P. Êxipốp (1977), Những cơ sở của lý luận dạy học, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của lý luận dạy học
Tác giả: B.P. Êxipốp
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1977
24. Phạm Thị Kim Giang, Nguyễn Hoàng Trang, Vũ Thị Thu Hài, Phạm Thị Kiều Duyên, Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp liên môn bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho GV THPT, Tạp chí Giáo dục số 126, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp liên môn bồi dưỡngnăng lực dạy học tích hợp cho GV THPT
25. Lê Thị Mỹ Hà (2013), Xây dựng quy trình đánh giá kết quả học tập của HS Trung học cơ sở, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng quy trình đánh giá kết quả học tập củaHS Trung học cơ sở
Tác giả: Lê Thị Mỹ Hà
Năm: 2013
26. Trương Thị Hòa (2016), Phương pháp dạy học theo chủ đề trong chương trình Lịch sử lớp 11 (Vận dụng ở trường THPT Lương Tài, Bắc Ninh), Luận văn Thạc sĩ, ĐH Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học theo chủ đề trong chươngtrình Lịch sử lớp 11 (Vận dụng ở trường THPT Lương Tài, Bắc Ninh)
Tác giả: Trương Thị Hòa
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w