1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai

126 58 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viết về người lính sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kì đổi mới, Nguyễn Hương Giang nhận xét: “Phố” của Chu Lai là một cuốn tiểu thuyết trong tiểu thuyết: Một cuốn về gia đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ HẢI HÀ

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CHU LAI

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM QUANG LONG

HÀ NỘI, 2011

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ 1975 đến nay, cùng với sự thay đổi của lịch sử dân tộc, nền văn học cũng có những đổi mới, chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc theo xu thế chung của thời

đại Văn học Việt Nam “thực sự khởi sắc” theo nghĩa được đào sâu hơn vào tất cả

những yếu tố thế sự, đời thường, chú ý đến nhiều phương diện khác nhau của đời sống cá nhân, đổi mới cách thể hiện trên tất cả mọi phương diệ4n Đặc biệt là sau đại hội Đảng lần thứ VI, đất nước hoà bình, thống nhất trong xu thế xây dựng và hội nhập với quốc tế, nhiều nhà văn nhạy bén với những vấn đề của cuộc sống sau chiến tranh, họ bắt đầu trăn trở, háo hức, khát vọng muốn được thể hiện năng lực khám phá và sáng tạo của mình Có thể nói, chưa bao giờ văn xuôi phát triển mạnh

mẽ như bây giờ và cũng chưa bao giờ nhà văn lại “thành thật” với cuộc sống và với

chính mình như bây giờ

Để tồn tại và để khẳng định được vị trí của mình, bắt kịp với bước chuyển mình của thời đại và đáp ứng thị hiếu của bạn đọc, nhà văn phải tạo ra những đổi mới trên nhiều phương diện và tạo ra cho mình phong cách độc đáo Chu Lai là một trong những nhà văn không nằm ngoài quy luật đổi mới chung ấy

1.2 Có thể coi sáng tác của Chu Lai là một “tập khảo luận” về những vấn đề

của cuộc sống và con người Việt Nam trong và sau chiến tranh Trong quá trình sáng tác của mình, Chu Lai đã thử nghiệm qua nhiều thể loại như truyện ngắn, ký

sự, kịch bản sân khấu, kịch bản phim Tuy nhiên theo đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình văn học và theo cảm nhận của chính nhà văn thì tiểu thuyết mới là sở trường của Chu Lai và tên tuổi của ông cũng được khẳng định ở thể loại này Song

dù vậy, Chu Lai vẫn không tự bằng lòng với những gì đã có, ông luôn khao khát sáng tạo, kiếm tìm một hướng đi mới tạo nên một phong cách riêng để tự khẳng

định chứ không phải là sự “tái bản” lại chính mình Chính vì thế mà Chu Lai đã có

nhiều đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói

Trang 3

chung, tiểu thuyết sử thi nói riêng với một loạt các tiểu thuyết mang cảm hứng khác

với những tác phẩm được viết trước 1975 như Nắng đồng bằng, Sông xa, Ăn mày dĩ vãng, Phố, Cuộc đời dài lắm, Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần, Chỉ còn một lần, Khúc bi tráng cuối cùng… Ông đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn

đời của Nắng đồng bằng Các tiểu thuyết của ông đã được công chúng đón nhận

nhiệt thành và thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu phê bình Trên mảng đề tài quen thuộc này, Chu Lai đã tạo cho mình một phong cách với những khám phá mới

mẻ Với một khối lượng tiểu thuyết khá lớn, Chu Lai được đánh giá là cây bút xông xáo, năng lực sáng tác dồi dào Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều khẳng định thành công của Chu Lai ở thể loại tiểu thuyết và ghi nhận đóng góp của nhà văn ở

mảng đề tài chiến tranh Theo Bùi Việt Thắng thì “Tiểu thuyết của Chu Lai gợi lên nhiều vấn đề đáng quan tâm trên đề tài chiến tranh với ý nghĩa như một đề tài lịch sử”[83] PGS.TS Lý Hoài Thu khẳng định: “Dù trực tiếp viết về thời dĩ vãng mịt

mù bom đạn hay chuyển dịch sang tiếp cận những “kênh” thông tin mới xô bồ của thời hiện tại, bao giờ Chu Lai cũng nghiền ngẫm suy tư về hiện thực với sự nhiệt tâm và lòng trung thực của người lính”[88] Nguyễn Hương Giang nhận xét: “Sự thật về chiến tranh hôm nay được nhìn lại là một sự thật đã trải qua những năm tháng day dứt, trăn trở trong tâm hồn nhà văn Chu Lai, hơn thế, nó thực sự là những nếm trải của người “chịu trận” “người trong cuộc”[21]

Tiểu thuyết Chu Lai đã tiếp cận hiện thực ở cả những mặt khuất lấp, những

số phận, cảnh ngộ thương tâm của con người “Qua những cuốn sách gần đây viết

về chiến tranh”, nhà phê bình Lê Thành Nghị đề cập đến những “miền khuất lấp” trong chiến tranh mà giờ đây Chu Lai “đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng những điều lâu nay còn bị giấu kín”[72] Gần với ý kiến này, PGS.TS Tôn Phương Lan

Trang 4

cũng khẳng định: “Ở chiến trường đó là sự hèn nhát… cao hơn là một sự gắng gỏi leo lên bậc thang địa vị bằng giá máu của đồng đội, bằng một sự phản bội đáng để

xử bắn như Kiêu trong “Nắng đồng bằng”[61] Ngay chính bản thân nhà văn Chu Lai cũng cho rằng: “Chiến tranh đối với bất cứ dân tộc nào, dù chính nghĩa hay phi nghĩa cũng không sao tránh khỏi màu sắc bi kịch”[59]

Nhà phê bình Hồng Diệu đã cảm nhận được sự đổi mới trong quá trình tìm

tòi sáng tạo của Chu Lai: “Tiểu thuyết của Chu Lai đề cập đến nhiều vấn đề Nhưng bao trùm lên tất cả là chuyện những người lính sau chiến tranh, rời chiến trường trở về, người thì tha hoá, người thì bước vào cuộc chiến đấu mới Cuộc chiến đấu của những người lương thiện chống kẻ bất lương, mà thật trớ trêu: có những người trước kia là đồng đội của nhau, bây giờ đứng trên hai mặt trận đối lập nhau”[10] PGS.TS Nguyễn Bích Thu cho rằng tiểu thuyết của Chu Lai “là sự truy đuổi đến cùng của quá khứ để tìm nguyên nhân cái ác vì chỉ có nhìn thẳng vào quá khứ, con người mới tránh được thảm hoạ của cái ác, mới có thể trừng phạt cái ác để thanh thản sống với hiện tại, hướng tới lẽ phải và điều thiện”[87]

Chiến tranh kết thúc, nhưng đời sống hậu chiến với những hậu quả của nó còn âm ỉ, nhức nhối, kéo dài mãi Về vấn đề này, rằng Bùi Việt Thắng cũng chỉ ra:

“Viết về chiến tranh còn có nghĩa là phải viết về hậu quả của nó - bởi vì một cuộc chiến tranh ba chục năm đánh bại mấy đế quốc lớn, dù chiến thắng lừng lẫy, to lớn nhưng hậu quả của nó chắc phải dai dẳng và phức tạp “Vòng tròn bội bạc” của Chu Lai… xoáy vào những vết thương của chiến tranh trong lòng người và cách thức con người chữa trị những vết thương đó”[81] Nói cách khác, tiểu thuyết của

Chu Lai là sự đối mặt trực tiếp với những vấn đề bức bối của đời sống xã hội hôm nay

Viết về người lính sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kì đổi mới,

Nguyễn Hương Giang nhận xét: “Phố” của Chu Lai là một cuốn tiểu thuyết trong tiểu thuyết: Một cuốn về gia đình Thảo - Nam với sự phá vỡ và làm tan nát những giá trị truyền thống, một cuốn khác về cuộc đời Lãm, một người lính từ hai bàn tay trắng đi lên, bảo vệ và tha thiết giữ gìn những giá trị ấy Cái chết thương tâm của

Trang 5

Thảo, Lãm ở cuối tác phẩm đẩy suy nghĩ của người đọc về hai hướng khác nhau nhưng đều thấm một nỗi buồn cao cả”[21] Trần Quốc Huấn cũng đi vào khẳng định phẩm chất của người lính: “Trong truyện của Chu Lai, cái vốn tri thức văn hoá, trí tuệ sáng suốt của người lính trẻ đã thấm nhuyễn một cách tự nhiên vào từng chi tiết nhỏ của truyện, trong từng phán đoán nhạy bén, quả quyết, để dẫn tới chiến thắng cuối cùng ở nhân vật”[30]

Đánh giá về sự đổi mới trong quá trình tìm tòi sáng tạo của Chu Lai, Nguyễn

Thanh Tú khi theo dõi Cuộc đời dài lắm - một sự tiếp nối của những câu chuyện viết về người lính trong nền kinh tế thị trường, đã nhận xét: “Chu Lai đã rất dũng cảm khi chọn một đề tài rất “hóc” là vấn đề đổi mới cơ chế trong thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường mà bối cảnh cụ thể là chuyện quản lý, sản xuất, kinh doanh”[93]

Cùng với các ý kiến khẳng định năng lực sáng tạo của Chu Lai trong việc tiếp cận, nắm bắt hiện thực đời sống của người lính trong chiến tranh và trong thời bình là một số các ý kiến đánh giá khác chỉ ra những dấu hiệu đổi mới về phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết Chu Lai Các công trình nghiên cứu có liên quan đều đề cập đến vấn đề này ở những mức độ khác nhau Ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm lược một số ý kiến tiêu biểu

Giáo sư Phan Cự Đệ cho rằng tiểu thuyết của Chu Lai “không chỉ đa dạng trong các phương thức tiếp cận mà cả trong các biện pháp nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm, “dòng ý thức”, nghệ thuật đồng hiện và có những thành công nhất định”[20] Về phong cách ngôn ngữ của Chu Lai, Trần Thuỳ Linh và PGS.TS

Nguyễn Đức Tồn nhận xét như sau: “Khảo sát 6 cuốn tiểu thuyết của Chu Lai chúng tôi nhận thấy nhà văn đã tiếp thu một cách sáng tạo thủ pháp nghệ thuật so sánh, biết làm mới các so sánh trong những sáng tác của mình Chính vì thế, nhà văn đã tạo được dấu ấn rõ rệt làm nên “phong cách Chu Lai”[91]

Có khá nhiều ý kiến đi sâu vào phân tích riêng một tác phẩm Ở Cuộc trao

đổi về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng in trên báo Văn nghệ số 39/1992 xuất hiện những luồng ý kiến khác nhau, song chủ yếu vẫn là khen ngợi, ví dụ như: “Chu Lai đã

Trang 6

“nhử” được người đọc bởi một cốt truyện ly kì” (Cao Tiến Lê), “Trên từng trang viết lộ rõ tâm huyết của tác giả tuy có khi tư tưởng mới chỉ dừng lại ở những câu triết lý” (Thiếu Mai) Đề cập đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, tác giả Đỗ Văn Khang nhận xét: “Lối chạm khắc nhân vật trong Ăn mày dĩ vãng cũng có nhiều đóng góp mới Ngày trước nhân vật thường mang một ý nghĩa phổ quát, tức là có cái gì chung cho cả lớp người…, còn Hai Hùng của Chu Lai có số phận được miêu

tả như một yếu tố cá biệt độc nhất nhưng vẫn mang tính điển hình Nhân vật Hai Hùng của Chu Lai tàn tạ về thân xác, nhưng vạm vỡ về tâm hồn Hai Hùng có bộ khung “xuống cấp” vì thương tật, vì sự huỷ hoại của mọi thứ vớ vẩn thời hậu chiến, nhưng vẫn nhất quán một bản lĩnh, một kiểu xông pha gần như bạt mạng vì không chịu chấp nhận một cái gì lập lờ, tráo trở”[37]

Nhận xét về tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc, tác giả Hồng Diệu viết: “Về diện, anh đã góp một cách nhìn rộng hơn vào hiện thực đời sống hôm nay ở các ngóc ngách của nó Về điểm, anh đã đi sâu thêm một bước nữa vào sự phức tạp của tính cách con người dưới sự tác động của những điều kiện sống khác nhau Và với nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách tạo những tình huống, những xung đột, đặc biệt là cách nhìn khá mạnh dạn, Chu Lai có những trang viết hấp dẫn, người đọc đã cầm đến sách là phải theo đuổi câu chuyện đến cùng”[10]

Nhận xét về xung đột truyện, nhà văn Nguyễn Tiến Hải khẳng định: “Cuộc đời dài lắm… căng thẳng vì cuốn tiểu thuyết đầy những mâu thuẫn, xung đột: xung đột trong nhân vật, giữa các nhân vật, giữa tốt và xấu, giữa cũ và mới, giữa chân thành và giả dối…”[24] Nhận xét về thời gian nghệ thuật, Nguyễn Thanh Tú cho rằng: “Cuộc đời dài lắm cùng chung một mô hình với Ăn mày dĩ vãng, cũng được xây dựng trên hai trục thời gian Quá khứ và hiện tại Hai tuyến thời gian không tách rời nhau mà xen kẽ, lồng vào nhau rất chặt… Đồng thời nhà văn đã sử dụng luân phiên các điểm nhìn: khi thì điểm nhìn của nhân vật, khi lại là điểm nhìn người

kể chuyện tạo ra sự đa dạng trên bình diện miêu tả”[93]

Nhìn một cách tổng quan chúng tôi thấy hầu hết các ý kiến đều khẳng định tài năng sáng tạo và những thành công nhất định trong sáng tác của Chu Lai Song

Trang 7

bên cạnh đó vẫn còn có một vài ý kiến đánh giá những mặt tồn tại trong tiểu thuyết Chu Lai Trong Cuộc trao đổi về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, các tác giả Hồng Diệu, Thiếu Mai, Lê Thành Nghị đều có đánh giá chung: văn hơi nhiều

lời, ngôn ngữ chưa thật chọn lọc công phu, một số chi tiết có vẻ “thô”… Bùi Việt Thắng cũng cho rằng: “có người cho văn Chu Lai …thô…”[83] Tác giả Ngô Vĩnh Bình cũng nhận xét: “Tuy tác giả đã có những trăn trở, những suy nghĩ mới, tạo ra lối viết mới nhưng đây đó vẫn còn chưa vượt hẳn được lên mình Đây đó lối kể chuyện còn lộ ý, thiếu tự nhiên, suôn sẻ Mặt khác (rất Chu Lai) là còn hay “làm dáng” hay pha vào văn cái giọng “cải lương”[5] Về cách xây dựng nhân vật ở Cuộc đời dài lắm, nhà phê bình Trần Ngọc Vương cho rằng: “Nhà văn chưa “truy bức” nhân vật của mình đến cùng, chưa nhập cuộc với các khả năng mà nhân vật

có thể bộc lộ, cả cái xấu với cái tốt, cả người xấu lẫn người tốt…”[25]

Các tiểu thuyết của Chu Lai cũng được chọn làm đối tượng nghiên cứu của

một số luận văn thạc sĩ như: Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 (Nguyễn Thị Ngọc Diệp), Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Chu Lai (Phạm Thúy Hằng), Cách xử lý đề tài chiến tranh qua hai tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và Ăn mày dĩ vãng (Nguyễn Thị Thanh)… Nhìn chung, mỗi luận

văn đã đề cập tới một vài phương diện cụ thể của tác phẩm như: cảm hứng, cái nhìn

về hiện thực và con người, quan niệm nghệ thuật về con người, một số kiểu loại nhân vật, sự xử lý đề tài chiến tranh…

Như vậy, khi phân tích, đánh giá tiểu thuyết Chu Lai, các nhà nghiên cứu, phê bình và công chúng đã có những luồng ý kiến khen chê khác nhau, song phần lớn đều khẳng định vị trí của tiểu thuyết Chu Lai trong nền văn xuôi đương đại Nhưng để tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai thì chưa có bài viết hay công trình

nghiên cứu nào chuyên biệt Chính vì lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài “Một vài đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai” Và với những ý kiến của các nhà phê bình, nghiên

cứu nói trên thì đó là những phát hiện, những gợi ý hết sức quý báu đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài này

Trang 8

Chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm tiếng nói vào việc khẳng định sự tìm tòi, đổi mới, sáng tạo về tiểu thuyết Chu Lai và tìm ra một số nét độc đáo, đặc sắc trong đặc điểm tiểu thuyết của nhà văn

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn chọn đề tài: “Một số đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai” nhằm góp phần

lý giải vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu về một tác giả tiêu biểu viết về đề tài chiến tranh của văn xuôi Việt Nam đương đại Từ việc làm rõ những đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai, chúng tôi muốn khẳng định những đóng góp của nhà văn - một cây bút trưởng thành sau 1975 - trong nền văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích, khám phá một số phương diện nổi bật về đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai qua một loạt các tiểu thuyết của nhà văn

Ghi nhận những đóng góp của tiểu thuyết Chu Lai trong nền văn học đương đại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khảo sát toàn bộ tiểu thuyết của Chu Lai; Các công trình nghiên cứu quan trọng về nhà văn Chu Lai

- Ngoài ra chúng tôi cũng khảo sát thêm một số truyện ngắn của nhà văn và một số tiểu thuyết của các nhà văn cùng thời khác như Bảo Ninh, Lê Lựu, Dương Hướng… để làm nổi bật nét đặc sắc trong phong cách tiểu thuyết Chu Lai Từ đó giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá của luận văn có thêm căn cứ khoa học

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết Chu Lai biểu hiện nhiều đặc điểm nghệ thuật khác nhau Mỗi đặc điểm nghệ thuật ấy lại tạo nên một nét đặc sắc và gộp lại thành một phong cách độc đáo Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ đi tìm hiểu ba phương diện được coi là độc đáo, đặc sắc nhất trong hệ thống các đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai, đó là:

Trang 9

- Sự đổi mới tiểu thuyết của Chu Lai

- Đề tài chiến tranh và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai

- Một vài đặc điểm về nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyết Chu Lai như cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu…

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích văn học sử

Từ việc trình bày khái quát sự đổi mới trên phương diện lý thuyết, luận văn đi sâu vào phân tích những nét mới trong tiểu thuyết Chu Lai, nằm trong tiến trình đổi mới văn học từ sau năm 1986

- Phương pháp phân tích tác phẩm

Phân tích tác phẩm để nhằm làm rõ những đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai như:

đề tài, thế giới nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu,…

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

Cùng với việc phân tích những nét mới trong tiểu thuyết của Chu Lai, tác giả luận văn tiến hành so sánh, đối chiếu với một số tiểu thuyết cùng giai đoạn và trước

đó, nhằm khẳng định vị trí và giá trị của tác phẩm

- Phương pháp hệ thống

Đề tài được đặt trong hệ thống tác phẩm của Chu Lai để xem xét, đánh giá và phát hiện cách nhìn nhận, thể hiện con người trong quá trình sáng tác của nhà văn Trong luận văn này, chúng tôi cũng vận dụng một cách hợp lý các hướng

nghiên cứu: Phong cách học, thi pháp học, ngôn ngữ học, tự sự học… vào việc

khám phá, phát hiện những đặc điểm của tiểu thuyết Chu Lai

6 Đóng góp mới của luận văn

Nghiên cứu một số đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai nhằm góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn trong sáng tác, góp phần nhận diện đầy đủ hơn về thế giới nghệ thuật của một trong những cây bút có những đóng góp cho nền văn xuôi hiện đại Qua đó thấy được sự đổi mới về tư duy nghệ thuật cũng như khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam

Trang 10

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Sự đổi mới tiểu thuyết của Chu Lai

Chương 2: Đề tài chiến tranh và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai Chương 3: Một vài đặc điểm về nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyết Chu Lai

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

Sự đổi mới tiểu thuyết chu lai

1.1 Khỏi lược quỏ trỡnh đổi mới văn học thời kỳ sau năm 1975

1.1.1 Những chuyển biến trong đời sống xó hội sau năm 1975 và tớnh tất yếu của cụng cuộc đổi mới

Văn học là một hỡnh thỏi ý thức xó hội, nhưng cũng là một loại hỡnh hoạt động tinh thần đặc thự, lấy con người làm đối tượng trung tõm, phản ỏnh và nhận thức hiện thực đời sống theo những quy luật riờng và những sỏng tạo in đậm dấu ấn cỏ nhõn của người nghệ sĩ Như một lẽ tự nhiờn, bất kỳ nhà văn nào cũng tồn tại trong lịch sử như một yếu tố của quỏ trỡnh lịch sử ấy và cũng đồng thời là người tham gia vào quỏ trỡnh ấy như một nhõn tố đặc biệt Trong quỏ trỡnh vận động của lịch sử, những nghệ sĩ chõn chớnh bằng cỏch này hay cỏch khỏc đều gắn với những diễn biến chớnh của thời đại, hay núi như nhà văn húa Phạm Văn Đồng thỡ người nghệ sĩ

luụn đứng ở trung tõm của những cuộc biến động vĩ đại Những vận động của lịch

sử đó ảnh hưởng lớn đến quỏ trỡnh vật lộn, kiếm tỡm một hướng đi mới ở nghệ sĩ Cuộc khỏng chiến chống Mỹ cứu nước kết thỳc thắng lợi vào mựa xuõn năm

1975 đó mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dõn tộc Chiến tranh đó lựi vào quỏ khứ nhưng hậu quả nặng nề của ngút nửa thế kỷ chiến tranh cũn đú, vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống con người thời hậu chiến Những khú khăn chất chồng, những con người - chủ nhõn của thời đại lịch sử mới, lại bộn bề với những lo toan, phải đối mặt với một hiện thực mới đầy biến động, xỏo trộn phức tạp Hàng loạt cỏc vấn đề của cuộc sống thời hậu chiến được đặt ra, đũi hỏi một cỏch nhỡn mới, những nhận thức mới, những cỏch hành động mới…

Sau chiến tranh, đất nước bước vào một giai đoạn mới, thử thỏch con người ở những điều kiện khỏc hẳn giai đoạn đó qua Đú là thời kỳ nền kinh tế - xó hội nước

Trang 12

ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp kéo dài ngày càng bộc lộ những khuyết tật Bên cạnh đó là những tổn thất, mất mát, đau thương trong chiến tranh dần dần toả sức nặng Do đó, cùng với sự thay đổi mọi mặt trong đời sống xã hội là sự thay đổi ở bề sâu trong tâm lý và nhận thức của con

người từ sau năm 1975 Chủ trương đổi mới đất nước được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) với hai quan điểm chỉ đạo mang tính cách mạng về nhận thức: “Lấy dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ cho sự thật” Những quan điểm này đã thổi một luồng sinh khí

mới vào đời sống xã hội đặc biệt là đời sống văn học nghệ thuật, mở ra một thời kỳ mới cho văn học Việt Nam Cũng vì thế mà văn học từ sau 1986 có những đổi mới, cách tân rõ rệt trên nhiều phương diện

Trong quá trình đổi mới ấy thì đổi mới tư duy là vấn đề cốt tử Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nêu rõ: “Phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới vượt qua khó khăn” Phải đổi mới cách làm, cách nghĩ sao cho đúng

với quy luật khách quan vốn có của nó Nói về vấn đề này, nhà nghiên cứu Phan Cự

Đệ đã đưa ra một quan niệm mới có cơ sở lý luận và ý nghĩa thực tiễn như sau:

“Đổi mới tư duy là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt nhưng đồng thời cũng là một công việc lâu dài, phải tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc… Trong quá trình đổi mới tư duy, tất nhiên không chỉ có phê phán mà chủ yếu là phải suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, cá nhân và tập thể cùng đổi mới và sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI”[18, tr.108-114]

Như vậy, những chuyển động trong đời sống xã hội sau năm 1975, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI/1986 là sự đổi mới mang tính tất yếu Sự đổi mới này

là cơ sở, là tiền đề cho sự đổi mới trong đời sống văn học nghệ thuật

1.1.2 Những chuyển động trong đời sống văn học

Khi hoàn cảnh lịch sử xã hội thay đổi một cách mạnh mẽ và toàn diện, từ mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc chuyển sang xây dựng và phát triển đất nước thì văn học cũng gắn liền với những thay đổi ấy Sự biến đổi trong sáng tạo nghệ thuật

Trang 13

bao giờ cũng do nhu cầu tự thân, do sức tác động tổng hợp của đời sống xã hội, đời sống tinh thần, tâm lí con người, do sự phát triển về chất của tư duy nghệ thuật Như

GS Phong Lê nói: “Văn chương cần tự đổi mới, và đổi mới trở thành nhu cầu tự thân Nó không hoàn toàn chỉ vì một đòi hỏi, một sức ép bên ngoài Hoặc nếu có sức ép thì cũng phải tìm thấy sự thống nhất hoặc thông qua đòi hỏi bên trong Và như vậy với công cuộc đổi mới đất nước, văn học đang đứng trước nhu cầu mạnh

mẽ của sự biến đổi”[63, tr.198]

Trước hết, đó là nhu cầu đổi mới từ phía chủ thể sáng tạo Sự đổi mới của đời sống xã hội sau 1975 khiến các nhà văn thành thực nhận thấy không thể viết theo lối

cũ, phải đổi mới, sáng tạo ngay trong cách viết, cách tư duy, tư tưởng nghệ thuật và phương thức biểu hiện Có thể nói, Nguyễn Minh Châu là nhà văn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới lớn lao này Ngay từ những năm chiến tranh, nhà văn đã phát hiện ra những bất cập và hạn chế của văn học cách mạng, văn học kháng chiến

Trong Trang sổ tay viết văn in trên báo Quân đội nhân dân năm 1971, nhà văn đã từng nêu rõ: “Hình như cuộc chiến đấu sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ

ca tráng lên một lớp men trữ tình hơi dày cho nên ngắm nghía nó thấy mỏng manh,

bé bỏng, óng chuốt quá, khiến người ta ngờ vực”[8]. Đặc biệt với bài báo Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ (Báo Văn nghệ số 49,50/1987), Nguyễn

Minh Châu đã dũng cảm đánh giá lại văn học giai đoạn 1945-1975, chỉ ra những nhược điểm, hạn chế của nó, đồng thời kêu gọi các văn nghệ sĩ đổi mới sáng tác,

kêu gọi sự “cởi trói”, mở rộng quyền tự do sáng tác

Tiếp theo Nguyễn Minh Châu, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến với bài viết

Về một đặc điểm của văn học ta trong giai đoạn vừa qua (Báo Văn nghệ số 1/1988) cũng chỉ rõ những bất cập, hạn chế của văn học giai đoạn này và gọi đó là “nền văn học phải đạo” Nhà nghiên cứu yêu cầu một sự đổi mới thực sự về tư duy, tư tưởng

nghệ thuật và đổi mới về đường lối lãnh đạo, chỉ đạo phát triển văn nghệ

Cùng với Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến, các nhà văn khác hoặc bằng lối phát biểu trực tiếp hoặc bằng sáng tác, đều thể hiện nhu cầu đổi mới sâu sắc

Nhà văn Nguyễn Khải gọi những sáng tác văn học của giai đoạn trước 1975 là “Cái

Trang 14

thời lãng mạn”, Lê Lựu gọi các sáng tác của ông trong thời kỳ văn học kháng chiến

là “Văn học công việc”, “Văn học phục vụ” Hay trong sáng tác của một loạt các

nhà văn cùng thời như Dương Hướng, Chu Lai, Khuất Quang Thuỵ, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh,… chúng ta đều thấy có sự đổi mới rõ rệt trong cả nhận thức và quan niệm nghệ thuật

Ngay ở các nhà văn lớp trước - những người trưởng thành trong kháng chiến, nhu cầu đổi mới ngòi bút còn diễn ra mạnh mẽ và sôi nổi thì sự phản ứng của lớp nhà văn trẻ trước khuynh hướng thẩm mỹ cũ, cách viết cũ nhiều khi hơi thái quá là

điều dễ hiểu Nhìn lại văn học 1945-1975, trong Cuộc Hội thảo về tình hinh văn xuôi hôm nay (Báo Văn nghệ số 09/1990), Phạm Thị Hoài cho rằng: “Gần một nửa thế kỷ, văn xuôi chưa có thời kỳ nào tự thoả mãn và dễ thoả mãn như mấy chục năm qua”[27]

Như vậy, nhu cầu đổi mới văn học từ phía các nhà văn đã trở nên hết sức bức xúc Và đây chính là yếu tố cơ bản, là động lực chính cho sự đổi mới văn học trong mấy chục năm gần đây

Thứ hai: Sự tác động từ phía độc giả đòi hỏi văn học phải tự đổi mới

Theo Lí thuyết tiếp nhận thì tiếp nhận văn học là khâu cuối cùng của việc sáng

tạo tác phẩm và người đọc cũng là yếu tố bên trong của quá trình sáng tác Bởi đối với nhà văn, người đọc bao giờ cũng là hiện thân của nhu cầu xã hội Trong mọi

trường hợp, mỗi khi nói đến người đọc, các nhà văn đều cảm thấy họ “yêu cầu”,

“đòi hỏi”, “tin cậy”, “hứng thú”, “phê bình”… Người đọc có mặt ngay khi nhà

văn có ý đồ sáng tạo ra tác phẩm Cũng chính từ người đọc mà các nhà văn tạo ra quan niệm nghệ thuật, định hình cách viết, vì vậy mà sinh thời Bác Hồ luôn nhắc

nhở những người cầm bút trước khi viết bao giờ cũng phải xác định: “viết cho ai?”,

“viết để làm gì?”, từ đó mới xem “viết cái gì” và “viết như thế nào”

Trong những năm tháng kháng chiến, do những yêu cầu của lịch sử, người đọc thích những tác phẩm mang tính chất sử thi, những tác phẩm nói về cái chung,

về sự kiện lịch sử trọng đại, về những con người anh hùng, phi thường… thì sau chiến tranh, cuộc sống dần trở lại với những quy luật bình thường của nó, con người

Trang 15

cũng trở về với muôn mặt đời thường, phải đối diện với rất nhiều vấn đề xã hội phức tạp Hiện thực cuộc sống mới ấy đã hình thành nên những con người mới với những nhu cầu và thị hiếu thưởng thức văn học mới Điều đó tác động rất lớn đến

sự đổi mới và phát triển của văn học Người đọc của ngày hôm nay có cái nhìn thực

tế hơn, sáng suốt, nhiều chiều hơn Họ khát khao sự thật, họ muốn tìm hiểu, đào xới, khám phá, phanh phui để hiểu thêm về cuộc sống Họ muốn tìm ở văn học những vấn đề mang tính chất thời sự của ngày hôm nay nhưng lại có tính phổ quát

về các vấn đề thế sự, đời tư, về nhân tình thế thái và vì thế mà văn học lại tiếp tục thay đổi để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu mới của công chúng

Như vậy, công chúng với nhu cầu thị hiếu thẩm mỹ mới tác động tích cực tới

sự vận động và đổi mới của văn học Tuy nhiên, công chúng mới chỉ là một yếu tố còn nhà văn - chủ thể của quá trình sáng tạo, mới là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự đổi mới và phát triển của văn học

Một yếu tố nữa tác động đến sự đổi mới và phát triển của văn học là mối quan hệ giữa nhà văn và công chúng

Trong văn học trước 1975, mỗi nhà văn là một chiến sĩ Họ viết để động viên, cổ vũ chiến đấu, để tuyên truyền Cách mạng viết trên lập trường tư tưởng của Đảng và bằng kinh nghiệm của cả cộng đồng nên lập trường tư tưởng của các nhà văn là kiên định và luôn luôn đúng Ở đó, nhà văn là người phán truyền chân lý, còn người đọc chỉ thụ động tiếp nhận

Trong văn học hôm nay, quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc đã bình đẳng hơn, nhà văn không còn đứng cao hơn người đọc, không áp đặt chân lý, giáo dục người đọc về lẽ sống tình cảm, về tư tưởng hành động… Nhà văn và người đọc bình đẳng trong mọi quan niệm, trong cách nhìn nhận, đánh giá

Ở văn xuôi kháng chiến, tư tưởng trong tác phẩm ít khi là của riêng nhà văn

mà là tư tưởng chung của cả cộng đồng, là lập trường tư tưởng của Đảng Trong văn xuôi sau 1975, với sự dân chủ hoá trong đời sống sáng tác và cuộc sống mới diễn ra phức tạp, bộn bề hơn nên các nhà văn đã nhận thức lại hiện thực, nhìn nhận mọi vấn

đề của cuộc sống ở chiều sâu đa diện và quan tâm đến công chúng bạn đọc Nhìn

Trang 16

nhận lại các sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Khải thấy rằng: “Cái thời hăm hở,

tự tin, ào ào đã qua đi, giờ phải nói dè dặt hơn và những điều mình nói ra đều không phải là đã đúng cả”(Dẫn theo Nguyễn Văn Long)[64, tr.3]

Chính những thay đổi nói trên đã tạo ra tính chất đa thanh, đối thoại trong tác

phẩm bởi lúc này nhân vật không còn là những “cái loa” phát ngôn cho lập trường,

tư tưởng của nhà văn mà là ý thức độc lập, có lập trường riêng, có quan niệm, ý kiến riêng Mặt khác, nhà văn cũng tự thấy mình không phải là người tuyên truyền

tư tưởng, quan niệm… mà nhà văn phải là người khơi gợi được những suy nghĩ ở người đọc, để cùng bàn bạc, đối thoại về mọi vấn đề của cuộc sống

Như vậy, đổi mới là nhu cầu thường trực ở mỗi nhà văn, là điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của văn học Đổi mới để hình thành nên một giai đoạn văn học mới khác hẳn giai đoạn văn học trước đó, với những giá trị thẩm mỹ mới, với tư duy nghệ thuật và hệ thống thi pháp mới Giai đoạn văn học sau 1975 là kết quả của sự tác động tổng hợp các nhân tố chủ quan và khách quan, là kết quả của quá trình vừa tiếp tục, vừa đổi mới, vừa có yếu tố phủ định văn học 1945-1975, đồng thời cũng có cả sự kế thừa những tinh hoa của truyền thống văn học dân tộc Trong dòng chảy của quá trình đổi mới văn học ấy, Chu Lai là một trong rất nhiều nhà văn thể hiện khá rõ tinh thần đổi mới trong các tác phẩm của mình, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết

1.2 Sự đổi mới tiểu thuyết Chu Lai

1.2.1 Hành trình sáng tác của Chu Lai

Nhà văn Chu Lai tên thật là Chu Ân Lai, sau đổi thành Chu Văn Lai, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1946 tại xã Hưng Đạo huyện Phù Tiên tỉnh Hưng Yên (Nay là huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên), Hiện đang sống tại Hà Nội Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, cha là nhà viết kịch Học Phi, anh trai cũng

là nhà viết kịch Hồng Phi Học hết phổ thông, Chu Lai thi đỗ đại học Cùng lúc này, đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kì chống Đế quốc Mỹ, cũng như bao thanh niên yêu nước khác, Chu Lai tình nguyện lên đường nhập ngũ khi mới học

Trang 17

hết năm thứ nhất đại học Trong những ngày đầu của cuộc đời người lính, Chu Lai được điều về Đoàn kịch Tổng cục chính trị Là diễn viên mặc áo lính, với một khuôn mặt chỉ thích hợp đóng những vai phản diện khiến Chu Lai không tự bằng lòng với mình, Chu Lai bỏ nghề diễn nằng nặc nộp đơn xin ra chiến trường trực tiếp cầm súng chiến đấu và trở thành chiến sĩ đặc công - một người cầm súng chuyên nghiệp hoạt động ở vùng ven đô Sài Gòn trong những ngày gian khổ, ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ Từ một chiến sĩ quả cảm, Chu Lai đã trở thành một đại đội trưởng đại đội trinh sát, hoạt động và chiến đấu cho đến ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất năm 1975 Cũng có lẽ mầm mống văn chương

đã thức dậy và hình thành dần trong ông ở những năm tháng chiến tranh Sau khi tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa I, ông về công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội cho đến nay

Chu Lai sáng tác từ rất sớm, ngay từ khi 17 tuổi, nhà văn đã cho ra đời vở kịch

ngắn Hũ muối người Mơ Nông (1963) được đăng trên tờ báo ngành nhưng không

gây được tiếng vang Phải đến 1975, ông mới chính thức bước chân vào làng văn

với truyện ngắn Kỉ niệm vùng ven - đăng trên báo Văn nghệ Có thể nhận thấy hành

trình sáng tác của Chu Lai chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn tiền đổi mới (1975 - 1986) và giai đoạn đổi mới (1986 đến nay)

Giai đoạn từ 1975 - 1986, Chu Lai đã cho ra mắt công chúng với một loạt các

tác phẩm: Đôi ngả thời gian (tập truyện - 1975), Người im lặng (tập truyện - 1976), Nắng đồng bằng (tiểu thuyết - 1977), Đêm tháng hai (tiểu thuyết - 1982), Vùng đất

xa xăm (tập truyện - 1983), Út Teng (tiểu thuyết - 1983), Gió không thổi từ biển

(tiểu thuyết - 1985) Ở những tác phẩm này, mặc dù đã có những đổi mới, nhưng về

cơ bản ngòi bút Chu Lai vẫn đi theo quỹ đạo của văn xuôi trước 1975 Cảm hứng chủ đạo của các tác phẩm giai đoạn này là cảm hứng sử thi Người đọc gặp trong các tác phẩm những cách miêu tả quen thuộc về con người, về người lính ở sự phân định tính cách rõ ràng, ở cốt cách anh hùng trận mạc đã được phổ quát Nói khái quát hơn, Chu Lai vẫn “đi trên đường ray” đã định sẵn của văn học giai đoạn này, từ cảm hứng chung cho đến cách thức thể hiện

Trang 18

Giai đoạn từ 1986 đến nay, sức sáng tạo của ngòi bút Chu Lai có những thay đổi rất quan trọng Ở một phương diện nào đó, ngòi bút của ông như được thăng hoa, bùng phát với những đóng góp mới về khám phá hiện thực và con người, đặc biệt là những vấn đề sau chiến tranh Cùng với những vấn đề nổi cộm của cuộc sống thời hậu chiến, của cơ chế thị trường thời bao cấp, của công cuộc xây dựng đất nước…, Chu Lai đã trình làng một lọat các tiểu thuyết viết về chiến tranh và người

lính thời hậu chiến tạo thành “dòng tiểu thuyết chiến tranh và người lính của Chu Lai”, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn xuôi thập niên chín mươi như Sông xa (1986), Bãi bờ hoang lạnh (1990), Vòng tròn bội bạc (1987), Ăn mày dĩ vãng (1991), Phố (1992) , Ba lần và một lần (1999), Cuộc đời dài lắm (2001), Khúc

bi tráng cuối cùng (2004), Chỉ còn một lần (2006)…

Có thể nói tiểu thuyết Chu Lai trong những năm của thời kỳ đổi mới đã có những bứt phá trong cách viết để phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ mới của công chúng Trong tư duy sáng tạo của mình, Chu Lai có xu hướng đi sâu miêu tả nỗi đau trần thế, nỗi đau con người phải chịu đựng, những ẩn ức, những va vấp của con người trong cuộc sống hằng ngày và cả những mặt trái, những góc khuất lấp nhất của hiện thực cuộc sống thời hậu chiến Nhà văn tập trung khai thác quãng đời tồn tại phía sau chiến trận của người lính và thấy rằng họ là những người đã vượt qua cái chết, đã chiến thắng bom đạn nhưng dường như họ đều mang nặng những hoài niệm, những ẩn ức của một thời đạn bom khói lửa chiến tranh Tất cả họ đều không yên ổn, đều bị ám ảnh bởi quá khứ và phần nhiều đều vấp phải những bi kịch của cuộc sống mới – bi kịch thân phận khi đối mặt với cuộc sống đời thường, với thế thái nhân tình, với nỗi buồn sau chiến tranh

Là một trong những nhà văn quân đội trưởng thành trong chiến tranh, Chu Lai nổi bật lên với những sáng tác nở rộ vào những năm 1990 của thế kỉ XX và sang cả thế kỉ mới Trong quá trình đổi mới văn học, so với các nhà văn quân đội cùng thời thì Chu Lai với sự sáng tạo mạnh mẽ, dồi dào, ông đã vươn lên và trở thành một cây bút tiêu biểu, một gương mặt sáng giá trong số họ

Trang 19

Với Chu Lai thì nghề văn với ông chỉ là một công việc bất đắc dĩ nhưng cái nghiệp văn chương thì như đã nhập vào nhà văn ngay từ rất sớm Chu Lai từng tâm

sự rằng cuộc đời trận mạc chỉ cho ông cái cớ, tức là cảm xúc và vốn sống chứ thực

ra Chu Lai nhập hồn văn chương từ thủa nhỏ và được hình thành từ trong huyết thống gia đình Ngay khi còn là một cậu bé lớp 5, Chu Lai đã thích ngồi nghe chuyện đàm đạo về kịch, về văn giữa cha mình với các cụ Thế Lữ, Đào Mộng Long,… Từ một diễn viên trở thành một chiến sĩ đặc công lăn lộn trên chiến trường hơn mười năm, Chu Lai đã tích luỹ được vốn sống vô cùng phong phú và những kinh nghiệm dày dặn Bước ra từ cuộc chiến, với tài năng, sự lao động sáng tạo không biết mệt mỏi cộng với sự trải nghiệm thực tế, “ông đã trở thành một người lao động cặm cụi khổ đau trên cánh đồng chữ nghĩa” để cho ra mắt bạn đọc hàng loạt các tác phẩm có giá trị và gặt hái được nhiều thành công

Mỗi nhà văn có một thế mạnh riêng, Chu Lai là một nhà tiểu thuyết dù trước

đó ông cũng đã từng trải nghiệm qua nhiều thể loại khác như truyện ngắn, kịch bản

sân khấu, kịch bản phim, thậm chí còn “liều mạng” làm cả thơ Hơn ba mươi năm

qua, Chu Lai đã tìm được phong cách riêng cho mình bởi chất giọng sục sôi và khẩu khí của người lính “cứ đùng đoàng như đang đánh trận” trong văn Chính điều này đã làm cho những tác phẩm của Chu Lai thu hút được sự quan tâm rộng rãi của công chúng và khẳng định được vị trí xứng đáng của nó trong “làng văn” với 4 tác

phẩm đoạt giải: Ăn mày dĩ vãng (Giải A của Hội đồng văn học chiến tranh Cách mạng và lực lượng vũ trang Hội nhà văn năm 1993; Giải thưởng văn học Bộ quốc phòng năm 1994), Phố (Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội - 1993), Ba lần và một lần (Tặng thưởng của cuộc thi tiểu thuyết do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức, 1998 - 2000), Cuộc đời dài lắm (Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam - 2002) Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 2007 và sau này là Hùng carô (NXB Công an nhân dân - 2009) - một trong mười sáu tác phẩm lọt vào vòng chung khảo Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết về đề tài “An ninh Tổ quốc” Một số tác

phẩm của Chu Lai được chuyển thể thành kịch bản phim truyện truyền hình nhiều

tập như Ăn mày dĩ vãng, Phố, Ba lần và một lần, Chỉ còn một lần; kịch bản sân

Trang 20

khấu Cái tát sau cánh gà, Ăn mày dĩ vãng là tác phẩm ghi nhận nhiều thành công

trong sáng tác Cuốn tiểu thuyết này được nhà văn viết với cảm xúc say mê, giàu nhiệt huyết và cảm hứng sáng tạo nhưng cũng lắm gian truân Nhà văn đã từng tâm

sự: “Đứa con nào làm người mẹ khổ đau, vất vả nhất thì mẹ sẽ nhớ nhất (không hẳn là những đứa con thành đạt)” Thế nên với Chu Lai, mỗi đứa con mỗi màu mỗi

vẻ nhưng cái đứa bé được sinh ra trong một giai đoạn đời nhọc nhằn nhất mà

“thằng bố” là ông, cuốn Ăn mày dĩ vãng, có lẽ ông thương nhất Vì nó là chính ông

Có lẽ cũng vì thế mà cuốn tiểu thuyết này đã đạt được hai giải thưởng văn học, khi chuyển thành kịch bản sân khấu, điện ảnh cũng giành được những giải thưởng cao

Nghề văn với Chu Lai là “nghề khổ, nghề tự ăn óc mình, ăn thịt mình”, nhưng

là một nhà văn sống hết mình với nghề, ông viết để “tri ân đồng đội”, để “neo tâm hồn vào cuộc đời”, ông như con tằm “rút ruột nhả tơ” để tạo nên những tác phẩm

có giá trị sâu sắc trong lòng công chúng Với những thành tựu đã có cho đến hôm nay, Chu Lai đã khẳng định được tài năng sáng tạo của mình trên văn đàn và là một tác giả tiêu biểu của dòng văn học viết về đề tài chiến tranh và người lính trong nền văn học hiện đại Việt Nam

1.2.2 Những đổi mới của tiểu thuyết Chu Lai

Với tinh thần của sự đổi mới, văn xuôi Việt Nam sau 1986 đã có những thay

đổi lớn lao “Cùng với sự đổi mới của các thể loại khác, không thể không nhắc đến vai trò của tiểu thuyết”, “Văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng sẽ là ngọn lửa thắp sáng nền văn học của mỗi dân tộc”[76, tr.204] bởi tiểu thuyết vẫn là thể loại

chủ đạo, bộc lộ ưu thế riêng của mình trong “cách nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã

hội và số phận con người trong sự vận động và phát triển, đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của công chúng đương đại Tiểu thuyết là thể loại lớn tiêu biểu cho loại

hình tự sự, “cỗ máy cái” của nền văn học hiện đại Vì vậy, thông qua sự phát triển

của tiểu thuyết, chúng ta có thể đánh giá được sự phát triển của nền văn học Tiểu thuyết có sự phản ánh, sức truyền tải rất sâu rộng Nếu ví truyện ngắn là một lát cắt

Trang 21

thì tiểu thuyết là một dòng sông ào ạt vì với những đặc trưng thi pháp của mình, bằng phương thức trần thuật, tiểu thuyết chiếm lĩnh và khái quát hiện thực cuộc sống một cách đa chiều và phong phú

Tiểu thuyết là sản phẩm của tư duy nghệ thuật tổng hợp, là nơi mà nhà văn

có nhiều ưu thế để biểu đạt đến tột cùng mọi suy nghĩ, sáng tạo của mình Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết cũng đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc

giả đương đại “Chưa bao giờ những quan niệm mới về văn chương, về nhà văn, về hiện thực và con người, về đổi mới tư duy nghệ thuật lại cởi mở, dân chủ như lúc này”, “nhiều tiểu thuyết gia đã có ý thức cách tân trong cách nhìn và trong lối viết” “Tất cả đều nỗ lực nhằm làm mới, làm hấp dẫn văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng”[86] Chiến tranh kết thúc, đất nước bước sang thời kỳ đổi mới với

nhiều thách thức mới, quan niệm mới Những dấu hiệu đổi mới của văn học đã được khởi động từ những năm 80 và chuyển động mạnh mẽ từ sau Đại hội Đảng lần thứ

VI, tiếp đó là nghị quyết 05 của Bộ chính trị, cuộc gặp gỡ giữa Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với giới văn nghệ đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học nghệ thuật Lúc này, trên văn đàn lần lượt xuất hiện hàng loạt các tiểu thuyết gia mới với một loạt các tiểu thuyết gây được sự chú ý của người đọc bởi sự cách tân, đổi mới trên nhiều phương diện nghệ thuật: đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực, đổi

mới quan niệm về con người, đổi mới về thi pháp thể loại… như Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Đứng trước biển, Cù lao tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn Khải), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Cõi người rung chuông tận thế, Người và xe chạy dưới ánh trăng (Hồ Anh Thái)… Và với Chu Lai là Ăn mày dĩ vãng, Phố, Cuộc đời dài lắm…

Trang 22

1.2.2.1 Đổi mới quan niệm của nhà văn về hiện thực

Từ bản chất, văn học gắn bó với đời sống xã hội, theo sát từng biến cố lịch

sử, là một bộ “sử cuộc đời” Hiện thực đa dạng và phức tạp của cuộc sống luôn là

đối tượng phản ánh của văn học Nguyên lý là vậy nhưng mỗi nền văn học là có một cách tiếp cận riêng về hiện thực Bởi văn học bao giờ cũng thể hiện mốí quan hệ giữa hiện thực khách quan và ý thức chủ quan, bao giờ cũng là kết quả của sự nhào nặn những chất liệu cuộc sống qua thế giới chủ quan của người nghệ sĩ

Nền văn học chân chính nào cũng gắn liền với thời đại của mình, với đông đảo công chúng của thời đại ấy Văn học 1945-1975 cũng vậy, nó nhận rõ sứ mệnh lịch sử trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước nên hiện thực được phản ánh là hiện thực chính trị rộng lớn mang tầm vóc của một dân tộc, quốc gia Nhưng sau 1975, đất nước chuyển sang một giai đoạn mới, nền văn học

cũng bước sang một thời kỳ mới Với chủ trương “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào

sự thật, đánh giá đúng sự thật”, văn xuôi nói chung, tiểu thuyết Việt Nam nói riêng

đã có những chuyển biến rõ rệt trong quan niệm về hiện thực Từ hiện thực chiến tranh hùng tráng và thi vị, gian khổ và ác liệt nhưng vẫn tràn đầy âm hưởng lạc quan, lãng mạn cách mạng, văn học phản ánh một hiện thực khác không tiếng súng nhưng cũng ngổn ngang, đầy những thách thức mới Hiện thực đó được mở rộng và mang tính toàn diện, hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ thế sự vốn

dĩ đa đoan, phức tạp, chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó còn là đời sống cá nhân mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt gồm cả hạnh phúc, đau khổ và

bi kịch

Với Chu Lai, “nghệ thuật phải lấy cảm hứng từ niềm tự tôn dân tộc” Là

một nhà văn khoác áo lính, hiện thực chiến tranh đã khơi nguồn cảm hứng sác tác

cho nhà văn và vì thế mà hầu hết các tác phẩm của Chu Lai đều nằm trong “cái vòng cương toả kỳ lạ của cảm xúc chiến trận”[57] Chiến tranh cách mạng và người lính vẫn luôn là nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Chu Lai Khi viết về

mảng đề tài này, Chu Lai đã “nói ra được điều cần nói về những năm tháng chiến

Trang 23

tranh hôm nào mà anh là người trong cuộc” Hiện thực được nhà văn phản ánh

toàn diện và sâu sắc, nó không đơn thuần là những gì đang tồn tại trong thế giới và hiện diện ngay trước mắt con người - một hiện thực được hiện ra với những tầng,

những bậc, những “mạch ngang, lối rẽ” Đó là hiện thực và con người trên những

bình diện mới, cấp độ mới và cách thể hiện mới Có thể nói, Chu Lai đã vượt lên trên sự ràng buộc của tính thời sự và tuyên truyền để đi sâu khám phá con người với

tất cả sự “đa đoan, đa sự” của nó trong chiến tranh và trong đời sống hậu chiến

Là một nhà văn khoác áo lính, những trải nghiệm và vốn sống ở chiến trường

đủ để Chu Lai tái hiện hiện thực chiến tranh với tất cả những gì vốn có của nó Chu

Lai đã viết rất “bạo” về những mất mát, tổn thất, hy sinh xương máu và cả những

mặt khuất lấp của hiện thực chiến tranh trong các tiểu thuyết của mình Mười năm thanh xuân trên chiến trường, nhìn thấy cái chết nhiều hơn sự sống nên Chu Lai không chỉ có cơ hội quan sát mà còn sống đến tận cùng nỗi đau chiến trận Nhà văn

nhận ra rằng “Chiến tranh không phải là ngày hội lớn của dân tộc” mà là “luật chơi tàn bạo” Chiến trường không phải là “mảnh đất bằng phẳng trồng toàn hoa”

mà là nơi “xác người sấp ngửa, xác muông thú cháy thui”[75, tr.7], “Chiến tranh…

Nó là cái gì nếu không phải là ngày nào cũng nhìn thấy người chết, ngày nào cũng chôn người chết mà chưa đến lượt chôn mình”[47, tr.39] Bởi quả thực, chiến tranh

tự bản thân nó đã mang tính tàn bạo và bất thường Trong “luật chơi tàn bạo” đó cánh cửa của sự sống là rất hẹp, “cái mất này nối liền cái mất khác, sự thành bại không ngớt đuổi theo nhau”[47, tr.70] Người lính dù ở chiến tuyến nào cũng đều

“tồn tại trên bản năng tự vệ quật cường Mình không giết nó thì nó giết mình” Và

vì thế mà Chu Lai đã không ngần ngại phản ánh hiện thực khắc nghiệt, khủng khiếp trên chiến trường trong các tiểu thuyết của mình Hiện thực chiến tranh ấy ám ảnh người đọc bởi sự tàn phá và sức huỷ diệt của nó Nạn nhân của chiến tranh không phải là cái gì khác mà chính là con người Cái chết không loại trừ ai, nó đến bất cứ

lúc nào không ai định trước được Chỉ có vậy, “chết là nhẹ nhất, là thoát hết tất cả…”[41] Tuy nhiên, dù miêu tả hiện thực thời chiến ấy dưới hình hài thế nào, dù bằng cách nào thì nhà văn khi viết về chiến tranh vẫn khẳng định: “bên cạnh sự tàn

Trang 24

sát bạo lực, guồng máy chiến tranh không thể nào phá huỷ hoàn toàn những giá trị tốt đẹp đã thấm sâu thành bản chất tiềm tàng trong con người Thực tế cho thấy, những giá trị cao đẹp lại nảy nở từ chính nơi xông pha trận mạc, ngay trên mảnh đất bom đạn, và từ cõi chết trở về”[47, tr.315] Trong môi trường sống khắc nghiệt

của chiến tranh, nỗi ám ảnh về cái chết, về bệnh tật, sự thiếu thốn về vật chất, cái đói, cái khát ập tới khiến Chu Lai không chỉ nhìn thấy khả năng, sức mạnh vượt lên trên hoàn cảnh mà còn nhận ra sự bất lực của con người trước sự chi phối nghiệt ngã của hoàn cảnh Hiện thực này được nhà văn phản ánh trong trong một loạt các

tiểu thuyết như Ăn mày dĩ vãng, Nắng đồng bằng, Sông xa, Gió không thổi từ biển,

Ba lần và một lần,…

Nếu như trước đây, cảm hứng sử thi là cảm hứng chủ đạo trong các tiểu thuyết thì giờ đây cảm hứng sử thi nhạt dần Người viết buộc phải đối diện với mình, với thực tế đổi mới của đất nước Cảm hứng sáng tạo chuyển từ cảm hứng ngợi ca, tự hào, khâm phục sang chiêm nghiệm, lắng đọng, suy tư Cùng với một loạt các tác giả khác như Dương Hướng, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh… đi sâu, khám phá hiện thực thời hậu chiến, Chu Lai cũng vậy, dường như lúc này nhà văn được cởi trói, được nói và viết về những điều tâm huyết, trăn trở mà một thời gian dài nó bị giấu kín, chưa được nói tới hoặc khó có thể nói ra Trong cảm quan nghệ thuật của nhà văn giờ đây đã và đang bù lại sự thiếu hụt bấy lâu của những vấn đề riêng tư và cả những góc khuất lấp ẩn chứa trong chiều sâu tâm hồn con người

Vấn đề “hậu chiến tranh” là vấn đề khá nhạy cảm và phức tạp Nó lại càng

nhạy cảm hơn khi công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước đang mở ra nhiều thách thức mới, con người có điều kiện và nhiều thời gian hơn để suy ngẫm, nghiền ngẫm

về hiện thực, về những gì đã trải qua Hiện thực đời sống với nhiều biến động phức tạp của ngày hôm nay không còn đơn giản, xuôi chiều nữa mà là hiện thực đa chiều với đầy rẫy những ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen,

đẫy rẫy những bất ngờ - thứ hiện thực “chưa hoàn kết” (M.Bakhtin), không thể biết

hết, cần khám phá, tìm tòi Hiện thực trong tiểu thuyết Chu Lai được mở rộng từ

Trang 25

phạm vi đề tài đến đối tượng phản ánh Đề cập đến hiện thực thời hậu chiến, Chu Lai đã không ngần ngại thừa nhận: chiến tranh đã lùi xa nhưng hậu quả của nó vẫn còn ám ảnh và trở thành nỗi bức xúc trong cuộc sống thời bình Con người, nhất là những người lính trở về sau chiến tranh, hoà nhập với cuộc sống áo cơm đời thường

đều là những con người mang theo những “di hoạ chiến tranh” và đầy rẫy “vết dập xoá trên thân thể và trong tâm hồn” Như Vạn, Nghĩa trong Bến không chồng (Dương Hướng), như Quy trong Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Giang Minh Sài trong Thời xa vắng (Lê Lựu), Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), hay như Hai Hùng, Ba Sương (Ăn mày dĩ vãng), Sáu Nguyện (Ba lần và một lần), Nam, Thảo (Phố), Quang (Bãi bờ hoang lạnh)… của Chu Lai Tất cả họ đều trở nên lạc lõng, xa lạ với những vấn đề “đa đoan, đa sự” của ngày hôm nay Chiến tranh đã

thành quá vãng nhưng dư âm của nó vẫn luôn đeo đẳng âm ỉ, bám riết và trở thành

nỗi ám ảnh, thành “hội chứng chiến tranh” trong tâm hồn họ Họ luôn khao khát đi tìm “thời gian đã mất” để nhận lại hình ảnh của chính mình nhưng cuối cùng chỉ

còn lại nỗi dày vò và sự cô đơn Những con người bước ra từ bom đạn, khói lửa của cuộc chiến đều mang trong mình niềm tin của những người chiến thắng - những anh hùng trận mạc, song họ lại là những kẻ chiến bại giữa cuộc sống đời thường, giữa cuộc chiến không tiếng súng của ngày hôm nay Họ trở nên khắc khổ, cô đơn, lạc lõng, bất lực trước hoàn cảnh mới bởi họ đã dành trọn cả tuổi thanh xuân cho cuộc chiến nên khi chiến tranh kết thúc, họ chẳng kịp chuẩn bị hành trang cho cuộc sống đời thường

Hiện thực cuộc sống thay đổi cũng là lúc tư duy nghệ thuật có sự chuyển đổi Khuynh hướng sử thi giai đoạn sau 1975 vẫn tiếp tục dòng chảy của thời kỳ trước

đó, tiếp tục mạch đi trong sáng tác của nhiều nhà văn, đặc biệt là các nhà văn quân đội như Chu Lai Tuy nhiên, càng về sau khuynh hướng sử thi càng có xu thế nhạt dần, khuynh hướng thế sự dần trở thành khuynh hướng chính trong văn xuôi đầu những năm 80 Bối cảnh mới của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước đã có nhiều tác động, thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi người và từng số phận Văn học phải đi vào đời thường, phải

Trang 26

quay về với đời thường, viết về những mảng vỡ của số phận con người Với khuynh

hướng “nhận thức lại thực tại” gắn liền với quan niệm “hướng tới những vấn đề đạo đức và nhân cách của con người mới” và nhu cầu “được thành thực”, Chu Lai

đã khám phá hiện thực và con người cá nhân ở những tầng, vỉa khác nhau, động chạm được đến cái tầng sâu nhất của hiện thực cuộc sống, con người

Có thể nói, cảm nhận và phản ánh hiện thực ở những góc khuất của nó trong những cảm quan mới qua số phận nhân vật là nét nổi bật của tiểu thuyết Chu Lai

Từ góc nhìn này, hiện thực được tái hiện không phải lúc nào cũng tươi rói màu hồng mà là một hiện thực đa chiều, một hiện thực rộng lớn với những mảng sáng tối

đan xen Với cái nhìn mới về hiện thực và một nỗi niềm đau đáu về “cuộc đời dài lắm”, ngòi bút Chu Lai đã “xoáy sâu vào những vấn đề cốt yếu của đời sống thông qua tâm điểm nhân vật” đem đến cho người đọc bức tranh toàn cảnh về cuộc sống

và con người một cách chân thật và sinh động

1.2.2.2 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người

“Văn học là nhân học, là khoa học đặc thù về thế giới tâm hồn, tư tưởng con người Lịch sử văn học, nhìn theo một góc độ nào đó là lịch sử của những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người Đó là hạt nhân của tư duy nghệ thuật, quy định những nguyên tắc cắt nghĩa về thế giới và con người”[4, tr.65] Quan niệm nghệ thuật về con người là “sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó”[98, tr.56] Văn học có thể miêu tả rất nhiều đối tượng khác nhau trong tự nhiên

và xã hội như thần linh, ma quỷ, đồ vật, loài vật… nhưng vẫn “lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm”[23, tr.402] Các đối tượng khác được miêu tả cũng

đều nhằm thể hiện con người Con người, đối tượng nhận thức trung tâm của văn

học, là “con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó, trên phương diện thẩm mỹ” [23, tr.402] Theo tư tưởng mỹ học hiện đại, vai trò quyết định tạo nên các khuynh

Trang 27

hướng văn học chính là quan niệm về con người, cụ thể hơn là các quan niệm về cá nhân trên cả hai phương diện: cá nhân tồn tại như một cá thể và cá nhân tồn tại trong các mối quan hệ xã hội Quan niệm nghệ thuật về con người chính là thước đo trình độ chiếm lĩnh hiện thực của một tác phẩm, một tác giả, một trào lưu văn học

Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã khẳng định rằng một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới Nếu như văn xuôi giai đoạn 1945-

1975 chịu sự chi phối của chiến tranh và luôn quan tâm đến con người cộng đồng trong các vai trò xã hội, trong tư cách là động lực cách mạng thì sau 1975, nhất là văn xuôi sau 1986 đã có cái nhìn mới Cùng với hiện thực đa chiều, quan niệm nghệ thuật về con người cũng đa diện hơn, quan tâm hơn đến con người cá nhân trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể Nằm trong dòng chảy của sự đổi mới ấy, con người trong tiểu thuyết Chu Lai cũng được khám phá, thể hiện một cách toàn diện từ những số phận trong mối quan hệ với xã hội với muôn mặt tốt - xấu, thiện - ác đan xen mang tính nhân loại phổ quát đến những số phận với những vấn đề hết sức riêng tư, thầm kín, những vấn đề thuộc thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức của con người Khảo sát tiểu thuyết của Chu Lai, có thể thấy những dấu hiệu chuyển đổi cơ bản trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn

Trước hết, Chu Lai quan tâm đến những vấn đề số phận bi kịch của con người

Cuộc sống của con người luôn tiềm ẩn những bi kịch Con người, từ bản thể,

là con người với tất cả các cung bậc tình cảm vui buồn Trong thực tế chứa đựng những trạng thái khác nhau ấy, nghĩa là những sự thực tồn tại khách quan, điều may mắn với người này có thể lại là nỗi bất hạnh với người kia, cái hôm nay đang tốt đẹp, ngày mai bỗng trở thành nỗi bất hạnh của con người Và xã hội với những biến đổi phức tạp không ngừng thì con người cũng không thể tránh khỏi những bi kịch Thể hiện con người bi kịch là một nét nổi bật trong quan niệm nghệ thuật về con người của tiểu thuyết Chu Lai

Trang 28

Chiến tranh đối với bất cứ một dân tộc nào cũng là điều bất thường Trong chiến tranh không chỉ có cái hùng mà còn có cả cái bi Hiện thực chiến tranh được các nhà văn cảm nhận, phản ánh với đầy rẫy những bi kịch

Giống như nhiều nhân vật của Chu lai, Kiên (trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh) đã từng hăm hở: “Chiến tranh - từ nay mới thật là sống” thì chính anh

đã phải trả giá ngay từ những giây phút đầu tiên bước vào cuộc chiến… và cũng không cần phải tới vài năm sau hay tới tận lúc hoà bình, anh mới hiểu ra sự ngộ nhận, sự nông nổi của bản thân mình Bằng cách riêng, Chu Lai đã phơi bày bi kịch

về sự huỷ hoại con người trong chiến tranh Vẫn là hình ảnh của lớp người lên đường chiến đấu vì Tổ quốc, nhưng ở họ không còn là cái không khí hào hùng của

“đường ra trận mùa này đẹp lắm” như trong các tiểu thuyết trước 1975 nữa mà ở

đó có cái gì thật ngậm ngùi thậm chí còn là sự xót xa chua chát Hai Hùng (Ăn mày

dĩ vãng) tâm sự: “Còn đơn vị tôi, không biết đã bị xoá phiên hiệu đi, xoá phiên hiệu lại bao nhiêu lần nữa Bi kịch được lập đi lập lại nhiều lần cũng trở thành nhàm, thậm chí trở thành hài kịch Sau hiệp định Pari, thực sự những kẻ cầm súng trực tiếp như chúng tôi sống trong màn bi hài kịch đẫm máu”[47, tr.169], “cả tuổi trẻ của tôi, cả khát vọng và lý tưởng một thời của tôi đã ngập ngụa trong máu” Rồi những cái chết của đồng đội mà Hai Hùng phải chứng kiến thật đau đớn, “những thây người ngã xuống, rách toác, óc vỡ, ruột đùn ra như ruột lợn, những ống xương thòi thụt nham nhở, trắng hếu”[47, tr.78] Trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh,

Chu Lai đã phản ánh những bi kịch của con người ở những góc độ khác nhau Bi kịch của con người ở hai đầu chiến tuyến địch - ta: (bi kịch cha con Tuấn – Dung

trong Khúc bi tráng cuối cùng), bi kịch của con người bị huỷ diệt bởi sự tàn phá của

chiến tranh, bi kịch của sự thiếu thốn về vật chất, bi kịch của những khát vọng tình yêu, hạnh phúc không thành, và cả bi kịch của những người lính với những khao khát mang bản tính người, thậm chí tầm thường mà trong hoàn cảnh chiến tranh, nó

trở thành “bệnh hoạn” …

Chiến tranh có bi kịch của chiến tranh, hoà bình lại có những bi kịch của thời bình Cuộc sống thời hậu chiến với những lo toan tất bật, với những đổi mới… cũng

Trang 29

tạo ra bao nhiêu bi kịch Thể hiện đời sống cá nhân với biết bao bi kịch đã xảy ra

mà không bi kịch nào giống bi kịch nào khiến cho tiểu thuyết Chu Lai thêm phong phú, sâu sắc về nội dung phản ánh và có sức ám ảnh về tư tưởng Đó là bi kịch của những con người bước ra từ chiến tranh chẳng thể hoà nhập được với sự thay đổi

của cuộc sống mới Trong Ăn mày dĩ vãng là bi kịch của Hai Hùng - một người

hùng thời chiến giờ đây trở thành người nghèo khổ, bất lực, thất thểu trước sự thay đổi của cuộc sống Anh luôn đau đáu với dĩ vãng chiến tranh để rồi trước hiện thực

cuộc sống mới, anh trở thành lạc thời, cô đơn và mãi là kẻ “ăn mày dĩ vãng” Hay như bi kịch của Lãm (Phố), của Sáu Nguyện (Ba lần và một lần)… Đó còn là bi

kịch của sự đổi thay nhân cách trước những cám dỗ tầm thường trong cuộc sống

thời mở cửa Thảo (Phố) - một cô bác sĩ quân y xinh đẹp một thời mà nay, trước cơ

chế thị trường, những suy nghĩ của cô hoàn toàn thay đổi Những toan tính về vật

chất đã biến cô thành một người ích kỷ, chẳng thể “quen” được với cách sống của

chồng - người mà một thời cô thấy gần gũi, đồng cảm, chia sẻ, thậm chí cả là cả

“cái mùi mồ hôi sao quen quá ” Cô đã thành một người khác

Một phương diện khác của con người cá nhân, cá thể là con người tự nhận

thức “Con người tự nhận thức là con người được nhìn nhận từ bên trong, là con người trầm tư, nghiền ngẫm, nhận diện chính mình”(dẫn theo Nguyễn Thị Hương)

[35, tr.29] Con người tự nhận thức có năng lực phản ánh, tự ý thức về mình Nhân vật tự nhận thức gắn liền với sự thức tỉnh ngày càng cao về giá trị con người, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ trong quan niệm nghệ thuật về con người Bởi sự vận động, phát triển của văn học là từ chỗ mô tả quá trình nhận thức của nhà văn đến quá trình tự nhận thức của nhân vật Nhân vật từ chỗ nhận thức thế giới xung quanh, đánh giá, phán xét người khác đến chỗ tự phân tích, khám phá chính bản thân mình

Vì vậy mà con người hiện lên với tất cả chất người tự nhiên của nó: ánh sáng và

bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức, như Bakhtin nói “con người không bao giờ trùng khít với chính nó”

Đặt nhân vật của mình trong trạng thái thường xuyên phải tự phán xét, tự nhận thức, sự đa dạng và phức tạp của đời sống nội tâm con người, những cảm xúc,

Trang 30

suy tư, những dằn vặt trăn trở, những quan hệ nhiều chiều… khiến cho nhân vật

trong tiểu thuyết Chu Lai trở nên sống động, thuyết phục hơn Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng), Sáu Nguyện ( Ba lần và một lần),… đều là những người lính quả cảm, kiên

định trước nhiệm vụ cách mạng, nhưng lại trăn trở, day dứt khi nghĩ về nhân tính Mối tình trong chiến tranh với Ba Sương cứ đeo đẳng mãi tâm trí Hai Hùng khiến anh chẳng thể tìm được hạnh phúc lần nữa Trong khi đó Ba Sương đã đổi thành Tư Lan và chối bỏ quá khứ đẹp đẽ ấy Lúc tìm ra Ba Sương cũng chính là lúc anh rơi vào bi kịch của một kẻ bị lừa đảo, bị phản bội Trước sự thật trớ trêu, anh cay đắng

thốt lên: “Em là con đàn bà độc ác… nhưng bây giờ, sau khi biết sự thật, tôi lại tiếc rằng em không chết đi, chết hẳn đi trong cái buổi sáng ma quái ấy… Bây giờ mới là hết, hết thực sự”[47, tr.267] Qua nhân vật Hai Hùng, Chu Lai muốn nói: “Cuộc chiến tranh vừa qua có thể là trò đùa nhưng sự mất mát lại là có thật Cuộc đời hôm nay có thể chỉ là tấn tuồng nhưng nỗi buồn không bao giờ là một màn kịch”

[47, tr.375]

Tiểu thuyết Chu Lai còn đề cập đến những mối tình dang dở hay tình yêu

đơn phương như mối tình của Linh - Năm Thuý (Nắng đồng bằng), Hai Hùng - Ba Sương (Ăn mày dĩ vãng), Hai Hợi - Tám Tính (Ăn mày dĩ vãng), Vũ Nguyên - Hà Thương (Cuộc đời dài lắm), Nam - Thảo (Phố)… Đó là những gam màu sáng tối

gieo vào lòng người đọc một nỗi day dứt khôn nguôi Những mối tình dang dở đó

đã hé mở một khát vọng hạnh phúc không thành đầy xót xa, tiếc nuối Như vậy, hiện thực cũng chính là những nỗi đau, là những bi kịch của cuộc đời mà con người phải chấp nhận

Viết về những bi kịch của cuộc sống, thể hiện sâu sắc về con người bi kịch, ở

đó con người đã sống với những vui buồn, những khổ đau rất thật, rất người, luôn đối diện với chính mình, tự nhận thức và đấu tranh để hoàn thiện nhân cách, tiểu thuyết Chu Lai như một bè trầm góp phần làm mới hơn, sâu sắc hơn quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học sau 1975, đặc biệt là từ sau đổi mới

Đặt con người cá nhân vào trung tâm quan sát và phản ánh, tiểu thuyết Chu Lai đi sâu vào cả những miền tối khuất lấp của con người, của cuộc đời Thay đổi

Trang 31

cách nhìn về hiện thực, nhìn nhận con người đậm dấu ấn nhân tính, con người trong sáng tác của nhà văn không phải là người hùng của thời đại nữa mà là con người trong mối quan hệ đời thường, qua thế giới nội tâm, qua miền ý thức, vô thức đầy bí

ẩn, phức tạp, con người với đầy đủ bản chất người như nó vốn có Và vì thế mà nhân vật của Chu Lai được thể hiện có chiều sâu, gần gũi với đời thường

Với sự tôn trọng con người cá nhân, cá thể, Chu Lai quan tâm đến con người trên tinh thần nhân bản Nhiều trang tiểu thuyết của nhà văn đi vào phân tích hành

vi ứng xử cũng như nắm bắt số phận con người dưới tác động của chiến tranh bằng cái nhìn độ lượng và sự cảm thông sâu sắc Chiến tranh với đạn bom khói lửa, với những thiếu thốn về vật chất và tình thần khiến người lính dễ dàng chấp nhận cái chết, nhưng để tồn tại, để vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt đó, người lính cũng dễ dàng đầu hàng nhân cách, kỷ luật và nhiều khi rơi vào tình trạng thấp hèn Trên

chiến trường “gạo là máu, là danh dự, là sống còn, xà xẻo vào gạo là xúc phạm đến tất cả” vậy mà cái đói, cái khát khiến “một người lính gan dạ nhưng đã tự tiện ăn hết phần gạo dự trữ quy định”[47, tr.126] Hai Hùng là kiểu mẫu người lính tiêu biểu trong chiến tranh nhưng cũng không thoát khỏi cái vòng cương toả ấy Cái đói khiến anh không thể ý thức và tự chủ được, lợi dụng bóng đêm, Hùng đã bò sang

lán thương binh ăn trộm một hộp sữa và “mút một hơi đến tận đáy” [47, tr.134]

Nhưng đến khi đồng đội tra vấn lẫn nhau, anh chỉ cắm mặt im lặng không nói một lời Hiện thực đa chiều về con người được Chu Lai khai thác đến tận cùng ở chiều

sâu tâm lý với cả hai phần sáng tối, cao cả và thấp hèn Linh trong Vòng tròn bội bạc trở về sau ngày chiến thắng của dân tộc cũng tự thú nhận về quãng đời chiến trận với những cảm xúc, tư tưởng dao động “Hồi ấy, có lần tôi đã từng nghĩ đến tự sát, tự thương để trốn chạy khỏi gian khổ Chết chịu được nhưng khổ, khổ triền miên năm này qua năm khác thì nhiều khi không chịu nổi”[45, tr.97] Tuấn (Ăn mày

dĩ vãng) cũng trong tình cảnh ấy, trước cái chết của Bảo, anh muốn “cối nó tiện đứt hai tay để được trở về nhà Ăn mày, bơm xe, bới rác, trông kho… làm gì cũng được, miễn là được trở về, được sống”[47, tr.106] Ngay chính Hai hùng cũng rơi vào tâm

trạng của một người chưa đánh hết trận đánh đã thất trận, cái mong muốn tầm

Trang 32

thường lấn át khiến anh không ít lần suy nghĩ thà “mất một chân, thậm chí hai chân nhưng còn cả cuộc đời sau này Dù cuộc đời có tàn tạ thế nào chăng nữa… Một cuộc đời không vợ con, không tương lai, không niềm vui nỗi buồn… nhưng còn ngàn lần hơn là vĩnh viễn chui vào lòng đất, câm lặng”[47, tr.124]

Miêu tả con người trong tính nhân loại phổ quát, tiểu thuyết Chu Lai không chỉ dừng lại ở mối quan hệ giữa con người với chiến tranh, con người với con người

mà còn đi sâu lý giải tình yêu mang tính nhân loại vượt lên trên những định kiến

giai cấp hẹp hòi Trong Ăn mày dĩ vãng, Chu Lai diễn tả tình trạng tiến thoái lưỡng

an của Tường trong sự nghiệp cũng như trong tình yêu bằng thái độ trân trọng đúng mực Không lên án cũng không ngợi ca, tác giả để cho người đọc tự cảm nhận một trong những sắc thái muôn màu vẻ của tình yêu và cuộc sống Người đọc có thể lên

án Sương (Ăn mày dĩ vãng), hay Thảo (Phố) vì đã phản bội quá khứ, phản bội tình

yêu nhưng cũng có thể rất thông cảm, chua xót và sẻ chia với họ, vì đó chính là phần biến thoái tinh vi, sự phức tạp và bí ẩn của tình yêu, tình người trong thế giới tinh thần vô cùng phong phú của con người

Thể hiện rõ hơn tính nhân loại của con người, tiểu thuyết Chu Lai đã đem lại những giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm khiến nó hấp dẫn hơn và có sức gợi cảm mạnh mẽ hơn đối với người đọc

Ngoài việc khai thác con người đạo lý, tiểu thuyết Chu Lai còn đi sâu, khám phá con người, biểu hiện con người tự nhiên, con người sinh học, con người bản năng Điều đó thể hiện nhu cầu về một hạnh phúc đời thường, một tình yêu tự nhiên trần thế với những cảm xúc nhục dục rất người

Quan niệm con người tự nhiên chính là một biểu hiện của con người cá thể,

là nét mới của tiểu thuyết sau 1975 Trước đây việc nhận thức và phản ánh con người tự nhiên, con người bản năng rất hạn chế, thậm chí bị cấm kị Nhìn lại quá trình phát triển của văn học dân tộc, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều đó Con người tự nhiên mới chỉ xuất hiện ở hình tượng thị Mầu, ở Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Nguyễn Du… và trỗi dậy mạnh mẽ hơn ở Vũ Trọng Phụng, nhưng để trở thành một quan niệm nghệ thuật thì phải đến sau 1975

Trang 33

Xây dựng con người tự nhiên, tiểu thuyết Chu Lai đề cập, khai thác nhu cầu

hạnh phúc đời thường về một tình yêu trần thế: tình yêu của Linh - Thuý (Nắng đồng bằng), của Nam - Thảo (Phố), Vũ Nguyên - Hà Thương (Cuộc đời dài lắm), Tám Phượng - Hai Thanh (Sông xa), Sáu Nguyện - Tư Chao (Ba lần và một lần)…

hoặc phản ánh một số biểu hiện của bản năng tình dục Viết về bản năng tình dục,

có thể thấy Chu Lai là nhà văn khá nhạy cảm, tinh tế Sau mỗi trận chiến ác liệt, khi

có những khoảng lặng hiếm hoi giữa không khí chiến trận, những khát vọng ham muốn rất đời thường của con người lại bùng lên mãnh liệt Căn bệnh kỳ lạ của Thu

(Ba lần và một lần) phải nhờ đến bàn tay đàn ông chữa trị mới khỏi Trong Ăn mày

dĩ vãng, nhà văn miêu tả cuộc làm tình giữa Tuấn và Thu và lời giải thích của Thu

“Tuấn đừng khinh tôi, tôi không phải là đứa con gái… thấy Tuấn khổ quá, ngày mai lại lao về cõi chết, nên tôi không nỡ”[47, tr.138] phần nào giúp người đọc hiểu

được những cảm xúc, khao khát của con người trong chiến tranh nhiều khi thật đáng

thương, tội nghiệp Hay Tám Tính với những “cú vồ bản năng, bệnh tật” Không biết tán tỉnh, đưa đẩy, chỉ biết thèm: “cứ thấy hơi hướng đàn bà, bất kể già trả lớn bé… là tâm thần bấn loạn, mắt nhìn như bị thôi miên, như bị hoá thạch”[45, tr.73] Chu Lai cũng rất tinh tế khi kể, tả về những mối tình của Hùng - Sương (Ăn mày dĩ vãng), Thảo -Nam (Phố)… hay những khắc khoải dằn vặt trong kìm nén vật vã,

trong lo âu hoảng loạn và trong cảm giác được dâng hiến của Hai Hợi, Tám Tính,

trong nỗi nhớ vợ cồn cào của Khiển (Ăn mày dĩ vãng) được hoá giải bởi những lần

tắm sông với ám ảnh nhức nhối về cái đêm cuối cùng từ biệt vợ để vào chiến trường… Tất cả là kết quả của những cảm xúc đẹp, rất thật, rất trần thế, rất người

Chu Lai đã viết về chiến tranh, về tình yêu bằng nỗi đau, bằng nhịp đập của trái tim người trong cuộc Chính sự khám phá nhu cầu tình yêu, bản năng của con người như một sự thôi thúc bản năng đã giúp nhân vật được thể hiện chân thực hơn, nhằm nêu bật sự sụp đổ trong đạo đức, nhân cách, để tô đậm, để kêu gọi thức tỉnh con người góp phần tô đậm ý nghĩa nhân văn cho tác phẩm Cách tiếp cận con người ở khía cạnh tự nhiên, sinh học được nhà văn xem xét ở một góc nhìn nghiêm

Trang 34

túc, như một lời nhắc nhở đừng bao giờ quên, đừng bao giờ xa lạ với những gì vốn

là của con người

Cùng chung với mạch đổi mới văn học từ sau 1975, tiểu thuyết Chu Lai đã đi vào những miền bí ẩn, vào cõi mờ xa của ý thức, vùng chập chờn giữa ý thức và vô

thức của cõi tâm linh con người để đi tìm “những con người khác nhau” bên trong

một con người nhằm khám phá những góc khuất tối mà trong hoàn cảnh bình thường ta không thể biết hết Sự xuất hiện con người tâm linh trong tiểu thuyết Chu Lai là một biểu hiện của sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người

Con người tâm linh là “sản phẩm của trực giác”, đã xuất hiện khá lâu trong văn học truyền thống (Việt điện u linh, Truyền kì mạn lục, Truyện Kiều ) Văn xuôi

1945-1975 vì một số lý do đặc biệt mà con người tâm linh không xuất hiện, những tác phẩm có chứa những yếu tố vô thức, huyền bí, kì ảo bị coi là duy tâm thậm chí

bị lên án, phê phán gay gắt Sau 1975, con người tâm linh mới trở lại trong văn học

và trở thành một quan niệm nghệ thuật Đã có nhiều ý kiến khẳng định vai trò của văn xuôi là đi vào cõi tâm linh, vô thức của con người Nhà văn Bùi Hiển cho rằng:

“Văn học với chức năng của nó là khám phá bản thể con người, lẽ tất nhiên nó rất khao khát soi tìm vào những miền u uẩn, ảo của nội tâm, vào những động cơ thầm kín đến mức tối tăm của những ứng xử ý thức Các hiện tượng mà người ta gọi là siêu tâm lý”[36, tr.175-176]

Để thể hiện con người tâm linh, Chu Lai thường sử dụng các yếu tố thiêng liêng, thần bí như giấc mơ, điềm báo, trực giác, những câu chuyện bói toán, tử vi, tướng số Trong các tiểu thuyết của ông, con người tâm linh hướng về sức mạnh bí

ẩn, những đối tượng siêu thực ít có khả năng hiện hữu và hành động của nó nhiều

khi không giải thích được Ở Ăn mày dĩ vãng, thế giới tâm linh được biểu hiện một

cách sinh động, phong phú Viên có một trực giác hay linh cảm chiến trận nhiều khi

kì lạ, “trận nào mà hắn ta tươi tỉnh, thích nói thích cười thì trận đó dứt khoát sẽ xuôi chèo mát mái Ngược lại hôm nào mà hắn tỏ ra lầm lì là y như rằng hôm đó không trục trặc này cũng đựng tình huống khác,có khi cha con ôm đầu máu trở về”

[47, tr.37] Nhờ có sự mách bảo của trực giác nên anh có những lời tiên đoán rất

Trang 35

ứng nghiệm Chuyến đi vào ấp lấy gạo trên đường trở về, vào lúc ít ai ngờ đến nhất, điều linh cảm của Viên đã thành sự thật Hay điều dự cảm mơ hồ về số phận gắn kết giữa Hai Hùng và Ba Sương là điều khó lý giải bằng lý trí thông thường Với năng lực siêu nhiên tự chiêm nghiệm cõi sống qua nhịp thở tâm linh mà ông nhà báo

chiêm tinh (Ba lần và một lần) đã tiên đoán được số phận bi đát của Sáu Nguyện

Thể hiện con người tâm linh, Chu Lai còn xác định khả năng vô tận của con người đôi khi mang màu sắc huyền bí linh thiêng Trong nhiều trường hợp, sức mạnh của tâm linh hơn sức mạnh của lý trí, nó là khả năng giao cảm kì lạ giữa hiện

tại và quá khứ, giữa người đang sống với người đã chết Trong Ăn mày dĩ vãng, Hai Hùng “trong khuya khoắt rợn mình, vật vờ đi trong cái thế giới vô hình và hữu hình của người chết”[47, tr.157] tại nghĩa trang sau đó là cuộc gặp gỡ lần lượt với từng

đồng đội, trong đó có Hai Hợi Và chính giây phút đó, dường như Hai Hùng nhận biết được sự lẫn lộn, đánh tráo sự thật của Ba Sương, của hiện tại mà anh đang cố công lặn lội tìm kiếm

Như vậy, con người tâm linh là một phương diện có thực, không thể phủ nhận trong thực tế đời sống Tuy nhiên để giải thích một cách chặt chẽ, thấu triệt lại không hề đơn giản Trong khi các ngành khoa học khác thường có xu hướng phủ nhận phương diện thần bí này, thì văn học với khả năng thẩm mĩ riêng lại tỏ ra khá thành công Với khát vọng khám phá con người ở nhiều chiều kích, Chu Lai đã đi sâu vào lĩnh vực tâm linh và mở ra những miền phong phú bí ẩn khôn cùng của con người khiến con người được nhìn nhận một cách toàn diện, sâu sắc, chân thực, sống động và hiện thực hơn trong tác phẩm

Trên đây là những nét khái quát một số điểm nổi bật nhất trong quan niệm nghệ thuật về con người ở tiểu thuyết Chu Lai Việc nhà văn quan tâm, khắc hoạ chân dung con người cá nhân vừa đời thường, trần thế vừa đẹp đẽ, thánh thiện, luôn khát khao cái đẹp, hướng tới cái thiện đã giúp tiểu thuyết Chu Lai thoát ra khỏi lối mòn quen thuộc để tiến đến một quan niệm nghệ thuật toàn diện nhiều chiều về con người Đó là nét nổi bật mang đậm ý nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con người, tạo

nên tiếng nói đa thanh đầy “hoà âm” và “nghịch âm” trong tiểu thuyết Chu Lai

Trang 36

1.2.2.3 Đổi mới về thi pháp thể loại

Cùng với sự đổi mới quan niệm về hiện thực, về con người, người đọc cũng nhận thấy khá rõ sự đổi mới về hình thức nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau

1975 Trong khuôn khổ luận văn này, người viết chỉ xin trình bày một số phương diện đổi mới nổi bật về thi pháp của tiểu thuyết Chu Lai như đổi mới về điểm nhìn trần thuật, cốt truyện, tình huống, kết thúc, ngôn ngữ giọng điệu, không gian thời gian

Ở tiểu thuyết trước 1975, điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm thường là duy nhất, đó là điểm nhìn của tác giả Do cách nhìn giáo điều, do những quan niệm về nghệ thuật còn bị hạn chế bởi những cái nhìn xơ cứng, mang tính hình thức, giản đơn nên tư tưởng chủ đạo, điểm nhìn của tác phẩm là thường đơn điệu và phiến diện Nhưng sau 1975, cùng với sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người, quan niệm về hiện thực, quan hệ giữa nhà văn và công chúng cũng thay đổi Các tác phẩm văn xuôi không còn tính độc thoại nữa mà chuyển dần sang tính đối thoại, đa thanh, các nhân vật không phải là sự hoá thân khác nhau của tác giả mà là những nhân cách có tư tưởng, lập trường, có quan niệm, ý kiến riêng, chúng bình đẳng với nhau và bình đẳng trong quan hệ với nhà văn Trong tiểu thuyết hôm nay nói chung, tiểu thuyết Chu Lai nói riêng, có nhiều điểm nhìn trần thuật Điểm nhìn trần thuật xuất phát từ nhu cầu khẳng định kinh nghiệm cá nhân khiến cho tiểu thuyết Chu Lai gần với người đọc, tạo được mối quan hệ dân chủ và bình đẳng, cởi

mở và tin cậy với nhân vật và bạn đọc Do hiện thực được miêu tả là “ hiện thực chưa hoàn kết, không thể biết hết” nên điểm nhìn trong tiểu thuyết của Chu Lai

thường xuyên xê dịch, nó phá vỡ lối kể đơn điệu, đầy tính áp đặt của tiểu thuyết truyền thống tạo điều kiện cho tinh thần đối thoại cởi mở và dân chủ

Tiểu thuyết Chu Lai hướng về cá nhân con người: những tư tưởng riêng, những số phận cụ thể về con người mới là mục đích mà nhà văn phản ánh Độc giả

dễ dàng nhận ra cốt truyện có sự đổi mới Tuy dựa trên các sự kiện lịch sử có thật, nhưng chiến tranh cũng như bức tranh làng quê, phố phường chỉ là cái nền hoặc là phương tiện để nhà văn trình bày những vấn đề đạo đức nhân sinh thế sự hoặc số

Trang 37

phận cá nhân của những nhân vật như Hoài Linh (Nắng đồng bằng), Hai Hùng, Ba Sương (Ăn mày dĩ vãng), Thảo, Nam (Phố), Sáu Nguyện, Út Thêm (Ba lần và một lần), Vũ Nguyên, Hà Thương (Cuộc đời dài lắm) … Ở một số cuốn thiểu thuyết kết

cấu theo quy luật tâm lý, cốt truyện tương đối lỏng lẻo, có khi lồng ghép nhiều câu

chuyện tạo nên truyện trong truyện, tiêu biểu là cuốn tiểu thuyết Phố, Ăn mày dĩ vãng

Quan niệm đa chiều về con người cũng giúp cho tiểu thuyết của Chu Lai có những kết cấu mới Bên cạnh những tác phẩm tuân thủ lối kết cấu truyền thống theo

trình tự thời gian song song với đường đời nhân vật như Nắng đồng bằng, Sông xa,

Út Teng là những tác phẩm kết cấu theo quy luật tâm lý - dòng hồi tưởng và ký ức nhân vật dẫn tới hiện tượng thời gian đồng hiện trong tác phẩm như Ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một lần, Cuộc đời dài lắm… Sử dụng kiểu thời gian đồng hiện giúp

nhà văn kết hợp được dòng suy nghĩ và tâm lý nhân vật với các sự kiện mang tính chất sử thi một cách tự nhiên Sự xáo trộn các bình diện thời gian có thể đưa nhân vật đang sống ở hiện tại ngay lập tức quay ngược về quá khứ với những suy nghĩ, cảm xúc của mình

Chuyển từ cái nhìn sử thi sang cái nhìn thế sự, tiểu thuyết Chu Lai chú ý tới nhiều mảng không gian nhỏ, cụ thể, chi tiết, soi chiếu nó một cách trực diện, tỉ mỉ

hơn tạo ra những mảng đời sống khác nhau Các tiểu thuyết như Ăn mày dĩ vãng, Phố, Cuộc đời dài lắm, Người im lặng tiêu biểu cho loại không gian tâm lý đi về

giữa quá khứ và hiện tại, giữa mảng hiện thực chiến tranh và hiện thực thời bình Những mảng không gian đó thể hiện cái tôi của nhân vật và phần nào cái tôi của tác

giả Cuốn tiểu thuyết Phố tiêu biểu cho không gian đời tư Với kiểu không gian này,

nhân vật được sống cuộc sống riêng tư đích thực của mình, bộc lộ sự muôn mặt trong cuộc sống đời thường của mỗi người Để sử dụng yếu tố không gian, thời gian trong tác phẩm đạt kết quả cao nhất, Chu Lai đã vận dụng cả kĩ xảo điện ảnh

để phản ánh hiện thực, soi sáng cõi tâm linh nhân vật, kích thích hứng thú khám phá

và để lại sự ám ảnh, day dứt trong lòng độc giả

Trang 38

Cảm hứng chủ đạo trong văn học giai đoạn 45-75 là cảm hứng sử thi nên ngôn ngữ trong văn học giai đoạn này thường là ngôn ngữ mực thước, trang trọng, đẹp đẽ Sau 1975 với cảm hứng thế sự, đời tư, toàn bộ hiện thực đời sống ngổn ngang, bừa bộn, lẫn lộn cái tốt, cái xấu, cái cao đẹp, cái thấp hèn, cái thiện, cái ác…

ùa vào văn học Biểu hiện, phản ánh một hiện thực như vậy ngôn ngữ buộc phải thay đổi Trong tiểu thuyết Chu Lai, ngôn ngữ cũng không còn sự trang trọng, hào sảng mà là kiểu ngôn ngữ giản dị đời thường, thậm chí là thô ráp, gai góc, nhiều khi dưới dạng nguyên liệu, đầy chất suồng sã của cuộc sống Đời sống nội tâm nhân vật được tập trung khai thác với nhiều thủ pháp nghệ thuật linh hoạt, sáng tạo, đặc biệt đáng chú ý là độc thoại nội tâm và dòng ý thức Nhờ dòng chảy của độc thoại nội tâm mà cuộc sống hiện ra trong ánh sáng mới Cùng với sự phong phú của ngôn ngữ, giọng điệu cũng trở nên đa dạng hơn Sự xuất hiện những giọng điệu hoài nghi, chất vấn, giọng trữ tình xen lẫn với day dứt, đay đả, từng trải, suồng sã, giọng điệu buồn thương chua xót, triết lý, lạnh lùng…tất cả góp phần khẳng định phong cách tiểu thuyết Chu Lai

Trên đây là một số phương diện đổi mới nổi bật về tư duy nghệ thuật và về thi pháp sáng tác trong tiểu thuyết Chu Lai trong mạch đổi mới chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Với những nỗ lực cách tân ấy, Chu Lai đã tạo cho mình một vị trí không lẫn với bất kỳ ai trong nền văn xuôi thời kỳ đổi mới bởi sự sáng tạo

nghệ thuật không mệt mỏi, bởi quan niệm “viết để neo tâm hồn vào người đọc” của

ông Những chương tiếp theo, luận văn sẽ tiếp tục tìm hiểu cụ thể về những đóng góp nói trên của tác giả

Trang 39

Chương 2

đề tài chiến tranh và thế giới

nhân vật trong tiểu thuyết chu lai

2.1 Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Chu Lai

2.1.1 Lướt qua đề tài chiến tranh trong văn xuụi Việt Nam hiện đại

2.1.1.1 Chiến tranh là nguồn cảm hứng chủ đạo trong văn xuụi trước 1975

“Bất cứ một nền văn học chõn chớnh nào, sự ra đời và phỏt triển của nú đều gắn bú sõu sắc với thời đại sinh ra nú, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của thời đại đú”

Trong bài “Nhõn vật người lớnh trong văn học” (Tạp chớ Văn nghệ Quõn đội

số 6/1995), nhà văn Chu Lai cú viết: “Lịch sử Việt Nam là lịch sử trận mạc, dõn tộc Việt Nam dẫu chẳng bao giờ muốn thế cũng là dõn tộc trận mạc”[59]. Quả thật vậy, bởi một phần trọng yếu của lịch sử nước ta ngay từ buổi đầu dựng nước là lịch sử chống ngoại xõm, chiến đấu để giải phúng và bảo về Tổ quốc Trong thế kỷ XX thỡ cuộc khỏng chiến trường kỳ gian khổ từ 1945 đến 1975 chống lại Thực dõn Phỏp,

Đế quốc Mỹ và tay sai trong suốt hơn ba mươi năm Tiếp đú từ 1978 – 1979, chỳng

ta vẫn phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biờn giới Tõy - Nam và biờn giới phớa Bắc để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc Biết bao xương mỏu đó đổ xuống, biết bao trớ tuệ, sức người, sức của đó hoỏ thõn cho một dải non sụng hoà bỡnh, thống nhất

hụm nay Số phận nghiệt ngó nào đó biến mảnh đất Việt Nam hiền lành thành “bói chiến trường bốn nghỡn năm gươm khua, ngựa hớ, quõn reo”?[79].

Một lịch sử bốn ngàn năm văn hiến, một đất nước mấy chục năm khụng ngớt tiếng bom ấy đó hằn in trờn gương mặt văn học khụng khớ chiến trận như một lẽ tự

Trang 40

nhiên Vì vậy, như một tất yếu lịch sử, đề tài chiến tranh đã làm nên một dòng chảy chủ đạo, làm nên diện mạo tinh thần của cả nền văn học

Ra đời và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nền văn học cách mạng phải phục vụ cho những nhiệm vụ chính trị của đất nước, chủ yếu là cho hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Do đó, chiến tranh là nguồn cảm hứng chủ đạo và là đề tài chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong văn học giai đoạn 1945-

1975 Các nhà văn giai đoạn này đã miêu tả chiến tranh với thái độ trân trọng và đầy tự hào về mỗi chiến công trong kháng chiến Gắn bó với đời sống chiến tranh, với vận mệnh của Tổ quốc, văn học ghi lại những hình ảnh không thể phai mờ về một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng cũng đầy vẻ vang, anh dũng của dân tộc

Ở chặng đầu tiên của nền văn học mới, văn xuôi đã có những vận động và đổi mới cả về nội dung và hình thức theo định hướng của một nền văn học phục vụ kháng chiến Cách mạng tháng Tám đã thổi bùng lên ngọn lửa tiềm tàng ở mỗi con người Việt Nam: đó là chủ nghĩa yêu nước, là khát vọng tự do độc lập, là chủ nghĩa anh hùng và tinh thần cộng đồng Nhà văn, với tư cách là một công dân và một nghệ

sĩ - một chiến sĩ, say sưa và choáng ngợp trước hiện thực lớn lao, vẻ đẹp và sức trỗi dậy mãnh liệt của dân tộc Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, văn xuôi phát huy ưu thế thể loại, bám sát các diễn biến và các sự kiện của cuộc kháng chiến, dựng lại bức tranh nhiều vẻ về cuộc kháng chiến toàn dân ở mọi miền đất nước Có

thể điểm qua một số thành tựu văn học tiểu biểu giai đoạn này: Một lần tới thủ đô, Trận phố Ràng của Trần Đăng; Kí sự Cao Lạng, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng; Xung kích của Nguyễn Đình Thi; Đường vui, Tình chiến dịch, Thắng càn, Tuỳ bút kháng chiến của Nguyễn Tuân; Truyện Tây Bắc của Tô Hoài; Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai; Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc; Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái; Vượt Côn Đảo của Phùng Quán; Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng của Lê Khâm; Đất lửa của Nguyễn Quang Sáng … Như

vậy, trong sáng tác của các nhà văn viết về thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hình ảnh những anh vệ quốc quân, những người nông dân mặc áo lính, hình ảnh của cả

Ngày đăng: 16/08/2020, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w