Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế được xem như là giải pháp tất yếu, lâu dài mà hầu hết các quốc gia, các nền kinh tế phải tiếp tục thực hiện để khắc phục một cách triệt để, cơ bản
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2Ngành : Kinh tế Quốc tế
Mã số : 9 31 01 06
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Đinh Công Tuấn
2 TS Dương Trung Kiên
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận án
Đặng Thành Chung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 7
1.1 Tổng quan tài liệu về mô hình tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế 7
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 8
1.2 Tổng quan tài liệu về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trên thế giới sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia Đông Nam Á là Thái Lan, Malaysia và Việt Nam 9
1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước 9
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 12
1.3 Những điểm đã thống nhất, khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án17 1.3.1 Những điểm đã thống nhất 18
1.3.2 Khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án 18
1.4 Câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích của luận án 19
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu 19
1.4.2 Khung phân tích của luận án 19
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 21
2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình tăng trưởng kinh tế 21
2.1.1 Một số khái niệm 21
2.1.2 Phân loại mô hình tăng trưởng kinh tế 24
2.1.3 Tốc độ và chất lượng tăng trưởng trong mô hình tăng trưởng kinh tế 26
2.1.4 Các thành tố của mô hình tăng trưởng kinh tế 38
2.1.5 Một số lý thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế 40
2.2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 45
2.2.1 Nguyên nhân chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế 45
2.2.2 Mục đích chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế 51
Trang 52.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế 51
2.2.4 Kinh nghiệm thực tiễn và xu thế quốc tế trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế 54
Chương 3: CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở MALAYSIA VÀ THÁI LAN SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU 59
3.1 Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Malaysia sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 59
3.1.1 Những vấn đề đặt ra với mô hình tăng trưởng kinh tế của Malaysia từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 59
3.1.2 Một số định hướng chính trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế 61 3.1.3 Một số chuyển đổi thực tế sau khủng hoảng 64
3.1.4 Đánh giá về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Malaysia 69
3.2 Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 75
3.2.1 Những vấn đề đặt ra với mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 75
3.2.2 Định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế 81
3.2.3 Những chính sách đã thực hiện 86
3.2.4 Đánh giá về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan 93
3.3 Những tương đồng trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Malaysia và Thái Lan 96
Chương 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ THỰC TIỄN CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA MALAYSIA VÀ THÁI LAN SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM 100
4.1 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Malaysia và Thái Lan sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 100
4.1.1 Thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô một cách kịp thời, đồng bộ và hiệu quả 100
4.1.2 Ổn định thị trường tài chính và khôi phục lòng tin của dân chúng 102
4.1.3 Tái cấu trúc nền kinh tế sau khủng hoảng 103
4.1.4 Quan tâm sâu sắc đến vấn đề an sinh xã hội 104
4.2 Hàm ý đối với Việt Nam 105
Trang 64.2.1 Căn cứ khoa học xác định mô hình tăng trưởng kinh tế mới thời kỳ hậu khủng hoảng ở Việt Nam 105 4.2.2 Thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từ năm
2011 đến nay 118 4.2.3 Gợi mở kinh nghiệm đối với Việt Nam về đổi mới mô hình tăng trưởng127 4.2.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới 139
KẾT LUẬN 152 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU SINH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 154 TÀI LIỆU THAM KHẢO 155 PHỤ LỤC 168
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á Asian Development Bank
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN ASEAN Economic
Community ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of South – East
Asian Nations CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ĐNA Đông Nam Á
EU Liên minh châu Âu European Union
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment GDĐT Giáo dục đào tạo
GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product GNI Tổng thu nhập quốc dân Gross National Income GNP Tổng sản phẩm quốc dân Gross National Products HDI Chỉ số phát triển con người Human Development Index IADPs Chương trình phát triển nông
nghiệp liên kết (Malaysia)
Integrated Agricultural Development Project ICOR Tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm Incrumental capital output
ratio IDA Hiệp hội Phát triển quốc tế (tổ chức
thuộc Ngân hàng thế giới)
International Development Association
IHR Điều lệ Y tế quốc tế International Health
Regulations ILO Tổ chức Lao động quốc tế International Labour
Organization IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế International Monetary Fund KCN Khu công nghiệp
KHCN Khoa học công nghệ
MDGs Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ Millennium Development
Goals
Trang 8MHTT Mô hình tăng trưởng
MHTTKT Mô hình tăng trưởng kinh tế
MTST Môi trường sinh thái
NAP Chính sách Nông nghiệp mới
(Malaysia)
New Agriculture Policy
NDP Kế hoạch Phát triển quốc gia
(Malaysia)
National Development Plan
NEP Chính sách Kinh tế mới New Economic Policy NSLĐ Năng suất lao động
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế
Organization for Economic Cooperation and
Development TFP Năng suất nhân tố tổng hợp
TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình
Dương
Trans-Pacific Partnership Agreement
TTKT Tăng trưởng kinh tế
UNDP Chương trình phát triển của Liên
hợp quốc
United Nations Development Program UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa Liên hợp quốc
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
VKTTĐ Vùng kinh tế trọng điểm
WB Ngân hàng thế giới World Bank
WEF Diễn đàn Kinh tế thế giới World Economic Forum WHO Tổ chức Y tế thế giới World Health Organization WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phác thảo cơ bản về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế 53
Bảng 2.2 Nhóm các nước thành công và thất bại do sự phù hợp hay không của mô hình tăng trưởng kinh tế 56
Bảng 3.1: Các chỉ số xuất nhập khẩu của Malaysia, giai đoạn 2010 – 2012 72
Bảng 3.2: Tổng quan hệ thống giáo dục của Thái Lan 79
Bảng 4.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và vốn đầu tư/GDP giai đoạn 1986–2010 111
Bảng 4.2 Đóng góp vào tăng trưởng của các yếu tố vốn, lao động và TFP 113
Bảng 4.3: Kết quả hoạt động của 3 khu vực kinh tế 114
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Thu nhập bình quân đầu người của Malaysia, giai đoạn 2007 – 2015 70
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan (Đơn vị: %) 76
Hình 3.3: Tỷ lệ lao động phân theo trình độ giáo dục của Thái Lan, giai đoạn 2001-2010 77
Hình 3.4 Hệ số GINI của Thái Lan, giai đoạn 1981-2012 79
Hình 4.1 Tỉ lệ người thu nhập thấp (dưới 2 đôla/ngày) trong tổng dân số 117
Hình 4.2 Khoảng cách ngày một lớn giữa GDP theo đầu người của Việt Nam với mức trung bình của các nước châu Á đang phát triển 117
Hình 4.3 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2017 cao nhất trong 10 năm 123
Hình 4.4 Vốn FDI giải ngân cao kỷ lục năm 2017 123
Hình 4.5 Việt Nam đạt thặng dư thương mại 2.67 tỉ USD năm 2017 124
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trong quá trình phát triển là nhiệm vụ tất yếu đối với mỗi quốc gia khi mô hình kinh tế cũ, dựa trên những nguồn lực cũ, phương thức thực hiện phân bổ nguồn lực cũ, kiểu tổ chức quản lý kinh
tế và và quản trị quốc gia cũ không còn phù hợp Điều này là đúng với các quốc gia
và cũng không phải là ngoại lệ đối với Việt Nam Trong quá trình đó đòi hỏi các quốc gia cần biết cách khai thác những kinh nghiệm thành công, chưa thành công của nhau
để từ đó có thể thực hiện quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành công, tạo ra mô hình tăng trưởng kinh tế mới, có mặt bằng năng suất và chất lượng hiệu quả hơn, sức cạnh tranh tốt hơn Với ý nghĩa như vậy, đối với Việt Nam, hiện nay khi mà mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô lan tỏa theo diện rộng, với các động lực tăng trưởng cũ đã không còn phù hợp với bối cảnh phát triển mới nữa, đòi hỏi phải thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế như một yêu cầu cấp thiết nếu muốn tiếp tục kỳ vọng đạt được những thành tựu kinh tế mới Quá trình này đòi hỏi
sự nỗ lực từ nội bộ, song cũng rất cần tham khảo những kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm của các quốc gia, nhất là các quốc gia trong khu vực có trình độ phát triển không quá chênh lệch như Malaysia và Thái Lan
Cùng với đó, khủng hoảng kinh tế toàn cầu (năm 2008) đã tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, đặt ra yêu cầu khách quan khiến hàng loạt nước trên thế giới phải điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế Trong tiến trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu mỗi nước
và nhóm nước có những bước đi và cách làm khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và những vấn đề mà họ gặp phải đối với mô hình tăng trưởng kinh tế cũng như mục tiêu
và định hướng phát triển tương lai Trong tiến trình đó, nhiều nước đã có sự lựa chọn
mô hình tăng trưởng đúng đắn, phát huy được nội lực và phù hợp với điều kiện bên ngoài (Trung Quốc); thành công trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng vượt qua ngưỡng phát triển (Nhật Bản, Hàn Quốc và nhóm các nền kinh tế “con hổ châu Á”) Đồng thời cũng có những nước chưa thành công trong tiến trình chuyển đổi (một số nước Đông Nam Á, Nga, các nước Mỹ La Tinh) Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế được xem như là giải pháp tất yếu, lâu dài mà hầu hết các quốc gia, các nền kinh tế phải tiếp tục thực hiện để khắc phục một cách triệt để, cơ bản những hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tiếp tục phát triển, hội nhập quốc tế
Trang 12Trong thời gian trước và sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu (năm 2008), cũng như các quốc gia ASEAN khác, hai quốc gia Malaysia và Thái Lan theo đuổi những chương trình cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế khác nhau Mỗi chương trình chuyển đổi có những mục tiêu, định hướng hay nội dung cụ thể riêng khác nhau tùy thuộc vào những khiếm khuyết của bản thân mô hình đó, vào điều kiện (thuận, nghịch) kinh tế, chính trị và xã hội cụ thể của mỗi quốc gia Thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở cả Malaysia và Thái Lan sau khủng hoảng đã đạt được những thành tựu nhất định về tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Malaysia và Thái Lan được đánh giá là có nhiều yếu tố chưa thành công, trong đó quan trọng nhất là quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng sang chiều sâu ở các nước này được tiến hành để đạt tăng trưởng nhanh bằng mọi giá kéo theo những hệ lụy về xã hội, môi trường và thậm chí kéo theo những bất ổn kinh tế vĩ mô Đồng thời, đằng sau những khác biệt, những điểm đặc thù của mỗi Chương trình quốc gia
về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của hai nước, có những điểm chung rất căn bản thể hiện xu hướng đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế chung của thế giới và khu vực Do đó, những bài học rút ra từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu của các nước này, cả những bài học thành công và chưa thành công, đều rất hữu ích cho Việt Nam Việt Nam tuy không nằm trong “tâm bão” của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng nó cũng tác động đến mọi mặt đời sống kinh
tế - xã hội của đất nước và trong những năm vừa qua, nền kinh tế cũng bộc lộ một số khiếm khuyết, cho thấy cần chuyển đổi về mô hình tăng trưởng kinh tế
Trong công cuộc chuyển đổi đó, việc nghiên cứu, học tập những kinh nghiệm thành công cùng những bài học thất bại của các nước khác – đặc biệt là những nước cùng chia sẻ ít nhiều những đặc điểm chung về văn hóa, địa lý, dân tộc trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia là vô cùng cần thiết đối với Việt Nam Để giải quyết tốt hơn những vấn đề đặt ra trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế như: Tại sao phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế? Mô hình tăng trưởng kinh tế
mà chúng ta đang theo đuổi là như thế nào? Liệu mô hình đó đã thực sự phù hợp và
có thể phát triển bền vững hay không? Làm thế nào để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành công? Thì việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước như Thái Lan, Malaysia là rất cần thiết
Trang 13Đó là lý do NCS chọn đề tài: “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan và Malaysia sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu cho luận án Tiến sỹ Kinh tế của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh
tế tại hai quốc gia lựa chọn là Thái Lan và Malaysia, luận án rút ra những bài học kinh nghiệm; đồng thời đề xuất những hàm ý cho công cuộc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án tập trung giải quyết được những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
- Phân tích, đánh giá công cuộc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế tại hai quốc gia lựa chọn là Thái Lan và Malaysia sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu; rút ra bài học kinh nghiệm và hàm ý cho Việt Nam
- Phân tích, đánh giá những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay
- Từ bài học kinh nghiệm chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan,
Malaysia và thực tiễn ở Việt Nam, đề xuất những hàm ý để Việt Nam có thể chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành công
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan, Malaysia và Việt Nam sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dung: Luận án giới hạn nội dung nghiên cứu về chuyển đổi mô hình
tăng trưởng kinh tế Tập trung vào những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến mô hình tăng trưởng kinh tế của các nước là đối tượng nghiên cứu; những điều
tăng trưởng kinh tế của các nước đó sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Khái niệm “khủng hoảng kinh tế toàn cầu” ở đây được xác định là cuộc khủng
hoảng diễn ra vào các năm 2008 – 2009, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở
Trang 14Hoa Kỳ, bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở Mỹ và nhiều nước châu
Âu, sau đó lan rộng ra toàn cầu và dẫn tới suy thoái kinh tế ở nhiều nước [249] Cuộc khủng hoảng này còn được đề cập với nhiều tên gọi khác nhau: “Khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu”, “Khủng hoảng tài chính 2008-2009”, “khủng hoảng tài chính toàn cầu”, “khủng hoảng tài chính thế giới” …
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu chuyển đổi mô hình tăng
trưởng kinh tế tại hai quốc gia lựa chọn là Thái Lan, Malaysia và Việt Nam
- Về thời gian:Luận án nghiên cứu trong phạm vi thời gian trước, trong và sau
khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 để xác định nguyên nhân, mục đích, các
điều kiện và biện pháp chuyển đổi MHTTKT ở Thái Lan, Malaysia và Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu của luận án
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội Cách tiếp cận nghiên cứu của luận án là cách tiếp cận nghiên cứu định tính
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp phổ biến trong nghiên cứu kinh
tế - xã hội cụ thể, trong đó bao gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu sử dụng trong luận án chủ yếu được
khai thác từ các nguồn thứ cấp, đó là các số liệu đã được công bố như Niên giám thống kê, các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền, sách báo, tạp chí khoa học…
và các tài liệu tham khảo khác
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Các phương pháp này bao gồm
thống kê mô tả, so sánh, dự báo, tham vấn chuyên gia Thông qua các phương pháp này, NCS có thể so sánh, đánh giá những tác động của KHKTTC đến mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan, Malaysia và Việt Nam; so sánh, đánh giá thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan và Malaysia, để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; đồng thời, các phương pháp này cũng được sử dụng để nghiên cứu về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
- Các phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp được kết hợp sử
dụng trong luận án nhằm phân tích, làm rõ lý luận về mô hình tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế; tác động của KHKTTC đến chuyển đổi mô
Trang 15hình tăng trưởng kinh tế và nghiên cứu thực tiễn về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sau KHKTTC của các quốc gia lựa chọn
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh thực tiễn
chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia trong khu vực; đồng thời sử dụng để so sánh giữa các giai đoạn tăng trưởng phát triển của một nước
- Phương pháp khái quát hóa, cụ thể hóa: Phương pháp này giúp NCS đề xuất
phương hướng, giải pháp nhằm giúp Việt Nam tiếp tục thực hiện tốt chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trong các năm tiếp theo
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án đã nêu, phân tích, đánh giá về những tác động của KHKTTC đến mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan, Malaysia và Việt Nam, trên cơ sở đó làm rõ nguyên nhân, sự cần thiết phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của các nước này
- Luận án đã trình bày, phân tích làm rõ thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan, Malaysia, bao gồm mục đích, biện pháp, kết quả chuyển đổi; đánh giá những thành công, thất bại trong chuyển đổi và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Luận án đã phân tích, đánh giá thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từ sau KHKTTC; trên cơ sở những bài học kinh nghiệm rút ra được, luận án đề xuất những hàm ý chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tiếp theo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có giá trị tham khảo về cơ sở lý luận và thực tiễn cho những nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế nói chung và ở các nước Thái Lan, Malaysia
và Việt Nam nói riêng Đồng thời, góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, phục vụ cho nhu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập
Ngoài ra, luận án còn là tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan đến mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan, Malaysia và Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Lời cam đoan, Mục lục, Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt, Danh mục bảng, hình, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả, luận án được kết cấu gồm 4 chương:
Trang 16Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của
luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng kinh tế và
chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
Chương 3: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan sau
khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Chương 4: Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng
trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu và hàm
ý cho Việt Nam
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế (MHTTKT) sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu (KHKTTC) là một chủ đề nghiên cứu có tính thời sự và tính quốc tế, các nghiên cứu học thuật liên quan đến chủ đề này khá phong phú, cả trong và ngoài nước Nghiên cứu sinh (NCS) thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu theo các
nhóm: Một là, tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, bao gồm: (i) Những công trình
nghiên cứu về mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế nói chung; (ii) Những công trình nghiên cứu về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh
tế trên thế giới sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia Đông Nam
Á là Thái Lan, Malaysia, và Việt Nam Hai là, tình hình nghiên cứu ở trong nước,
bao gồm: (i) Những nghiên cứu về mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế nói chung
và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trên thế giới sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia Đông Nam Á là Thái Lan và Malaysia Và (ii) Những nghiên cứu về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1.1 Tổng quan tài liệu về mô hình tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu kinh điển liên quan đến các khái niệm, nội dung, bản chất và những vấn đề chung của tăng trưởng kinh tế (TTKT), MHTTKT: Đối với bản dịch về các công trình nghiên cứu liên quan đến
TTKT, MHTTKT có tác phẩm “Kinh tế học của sự phát triển” của tập thể tác giả
Malcolm Gillis, Dwight H Perkins, Michael Roemer và Donald R Snodgrass (1995), bản dịch của Trung tâm thông tin tư liệu (Viện Quản lý kinh tế Trung ương)
[12];“Kinh tế học” của Paul A Samuelson & William D Nordhaus (1989), bản dịch của Nhà xuất bản thống kê [63]; “Kinh tế học cho thế giới thứ ba” của P Todaro (1998), bản dịch của Nhà xuất bản Giáo Dục [56] và một số cuốn sách như “Kinh tế
học phát triển những vấn đề đương đại” do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn
quốc gia (2003) xuất bản và “Tăng trưởng có trách nhiệm vì mục tiêu thiên niên kỷ:
Hội nhập xã hội, hệ sinh thái và nền kinh tế” do World Bank xuất bản (2004)
Trong các tài liệu trên, các lý thuyết và các MHTTKT theo dòng thời gian đã được đề cập khá toàn diện Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đề cập đến các nhân tố tác động quyết định đến TTKT, như vốn, tài nguyên, lao động, khoa học công nghệ, và thể chế…
Trang 18Trong một số nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra các minh chứng cho thấy sự tác động của các nhân tố cụ thể đến TTKT của các quốc gia như: (Barro, 1991), (Qadri & Waheed, 2013) trong nghiên cứu của mình đã kiểm chứng sự phụ thuộc của TTKT ở một quốc gia vào yếu tố vốn con người (Grossman, 1995) đã làm rõ sự tác động quyết định của yếu tố môi trường đến TTKT Các nghiên cứu của North (1994) (2000), Acemoglu & cộng sự (2005), Gani (2011), Acemoglu & Robinson (2012), Venard (2013), Fayissa & Gill (2015) đã đưa những minh chứng rất chặt chẽ để khẳng định nền tảng thể chế là căn nguyên của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia Những nghiên cứu về vai trò của TFP hay tăng trưởng TFP tới tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu của Ahmad & cộng sự (2010), Park (2012) Abdychev
& cộng sự (2015) đã chỉ ra vai trò quan trọng của TFP trong mô hình tăng trưởng, nó chính là động lực giúp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng tại nhóm nước đang phát triển
để bắt kịp nhóm các nước phát triển Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu cho rằng TFP không phải là yếu tố chính dẫn tới tăng trưởng của các quốc gia như Kim & Lau (1994), Young (1995), Reem Limam & Miller (2004) khi tìm thấy tác động của TFP
là âm hoặc không đáng kể tới tăng trưởng vì tại một số quốc gia, đặc biệt là các quốc gia ở giai đoạn đầu thời kỳ chuyển đổi, các quốc gia thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp thì đóng góp của vốn và lao động quá lớn làm lấn át đi vai trò của TFP
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trong nước cũng có một số nhà kinh tế học nghiên cứu về MHTTKT và chuyển đổi MHTTKT nói chung dưới các chiều cạnh khác nhau như:
Một số nghiên cứu cho rằng TTKT nhanh mang lại cơ hội việc làm cho người lao động, tiền lương được nâng cao, theo đó có mối quan hệ tích cực với tính bền vững về xã hội [Trương Duy Hòa (2009)] và TTKT nhanh góp phần thu hẹp bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội [Dương Phú Hiệp và Ngô Xuân Bình, (1999); Lê Bộ Lĩnh, (1998)] Cùng đồng tình với quan điểm này nhưng các tác giả Trương Duy Hòa (2009) và Nguyễn Thế Anh (2012) bổ sung thêm tăng trưởng nhanh cũng sẽ khiến cho phân phối thu nhập ngày càng trở nên bất bình đẳng hơn, khoảng cách giàu nghèo càng lớn dần, do tăng trưởng nhanh dẫn đến tình trạng khác biệt về thu nhập giữa các hộ gia đình thuộc các ngành kinh tế cũng như sự khác biệt giữa nông thôn với thành thị, và đây là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn gây mất ổn định xã hội
Một số nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ giữa TTKT nhanh tác động đến tính bền vững về môi trường: Ngô Xuân Bình (2007), Trương Duy Hòa (2009), Hoàng Thế Anh (2010) và Phạm Thái Quốc (2010 và 2014), Nguyễn Hà Phương (2014) cho rằng tăng trưởng nhanh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến
Trang 19hủy hoại môi trường Sự tập trung sản xuất trong những khu công nghiệp, mật độ dân
cư gia tăng chưa từng thấy ở các khu vực thành phố, sự mở rộng thiếu kiểm soát của các khu vực đô thị,… dẫn đến làm phát sinh nhiều vấn đề về môi trường, làm giảm đáng kể đất nông nghiệp và cây xanh
Một số nghiên cứu đi sâu vào mối quan hệ giữa các yếu tố như: Vốn, thể chế
và TFP … tác động đến tăng trưởng kinh tế, trong đó phải kể đến như: Trần Văn Tùng, (2011), Ngô Doãn Vịnh (2005)… các tác giả đã chứng minh, làm rõ tại sao thể chế lại quan trọng và tại sao thể chế kinh tế lại tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế tại mỗi quốc gia
Một số nghiên cứu của Lưu Ngọc Trịnh (2003); Lê Quốc Hội (2010); Trần Văn Tùng và Vũ Đức Thanh (2010); Trần Thọ Đạt (2010); Khương Duy (2012); Nguyễn Đức Bình (2012); Trần Chí Trung (2013); Lưu Đức Hải (2015); cũng đề cập đến khái niệm, các yếu tố của MHTTKT ở các chiều cạnh khác nhau
Ngoài ra còn có một số sách giáo trình kinh tế trong nước liên quan đến các lý thuyết TTKT truyền thống, các MHTTKT và các nghiên cứu thực nghiệm về nguồn
gốc TTKT do các tác giả trong nước biên soạn như cuốn“Giáo trình mô hình tăng
trưởng kinh tế” dùng cho chương trình sau đại học do tác giả Trần Thọ Đạt (2010)
biên soạn, cuốn “Sách chuyên khảo các mô hình tăng trưởng trưởng kinh tế” do cùng tác giả biên soạn năm 2005 Giáo trình “Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn” của tác giả Đinh Phi Hổ (2006) Giáo trình “Kinh tế phát triển” của tác giả Phan
Thúc Huân (2006)
1.2 Tổng quan tài liệu về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trên thế giới sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia Đông Nam Á là Thái Lan, Malaysia và Việt Nam
Qua tổng quan tài liệu, nghiên cứu sinh nhận thấy các nghiên cứu về chuyển đổi MHTTKT khá phong phú cả ở trong và ngoài nước Hầu hết là các nghiên cứu thực tiễn về chuyển đổi (đổi mới) MHTTKT của các quốc gia, tập trung vào các nguyên nhân dẫn đến chuyển đổi MHTTKT của các nước trong các giai đoạn; mục tiêu, nội dung, phương pháp và kết quả chuyển đổi MHTTKT; Nhiều nghiên cứu so sánh chuyển đổi MHTTKT giữa các quốc gia trong một khu vực hoặc trong cùng một giai đoạn, đặc biệt là sau tác động của khủng hoảng, cụ thể:
1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Các nghiên cứu về chuyển đổi MHTTKT của các nước khá phong phú, tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung nhiều vào các nước chuyển đổi MHTTKT thành công như một số nước Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), các nước Bắc Âu Các
Trang 20quốc gia Đông Nam Á chuyển đổi MHTTKT sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu được cho là không thành công, do đó những nghiên cứu về các nước này không nhiều Trong các công trình nghiên cứu ngoài nước về tăng trưởng và chuyển đổi MHTTKT
ở các nước Đông Nam Á đáng chú ý có: Nghiên cứu của Barry Bosworth (2006):
“Tăng trưởng kinh tế của Thái Lan: Bối cảnh kinh tế vĩ mô”; “Hướng tới một Malaysia cạnh tranh” của Musa, M Bakri (2007); “Vai trò của nguồn vốn con người
và tăng trưởng năng suất các yếu tố tổng hợp như là nguồn lực của tăng trưởng: điều tra thực tiễn của Thái Lan” của Kraipornsak Paitoon (2009); “Nhìn lại tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của Thái Lan” của Nakornthab Don (2013); … Các nghiên cứu trên
chỉ ra nguồn gốc của tăng trưởng nhanh, những thành công mà các nước đạt được Các tác giả cho rằng, tăng trưởng kinh tế nhanh của Thái Lan gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn liền với yếu tố vốn con người, yếu tố năng suất và mức độ tập trung FDI tại những vùng nhất định của Thái Lan
Trong cuốn “Những bài học từ kinh nghiệm tăng trưởng của khu vực Đông và
Đông Nam Á”, do Đinh Trọng Minh dịch, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành
năm 1999, các tác giả đã tập trung trình bày một số nhân tố cơ bản tạo cơ sở cho sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế Đông và Đông Nam Á Một trong những kết luận mà các tác giả đưa ra là “…các nước đang phát triển, với kết quả hoạt động xuất khẩu tốt hơn, sẽ đạt được tăng trưởng kinh tế cao hơn” Nói cách khác, nhóm tác giả
đã ca ngợi mô hình kinh tế hướng về xuất khẩu của các nước Đông và Đông Nam Á, coi đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thành công trong tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này trong những thập kỷ vừa qua
Nhóm nghiên cứu của Đại học Havard trong bài “Lựa chọn thành công: Bài
học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam” (Tạp chí những vấn đề chính
trị xã hội 7/2008) đã khẳng định rằng “con đường của các nước Đông Á là con đường thẳng để đạt tới sự thịnh vượng, ổn định và kính trọng của cộng đồng quốc tế Còn con đường của các nước Đông Nam Á thì vòng vèo và gồ ghề hơn, đưa các quốc gia này tới một hiện tại mong manh hơn và một tương lai bất định hơn, với nỗi ám ảnh của bất công và bất ổn” Cũng theo bài viết này, cho đến nay nền kinh tế của các nước Đông Nam Á vẫn dựa vào việc khai thác lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên Chính phủ của các nước này đã bị suy yếu một cách đáng kể “vì tham nhũng
và chính trị bẩn thỉu chạy theo đồng tiền” [28, tr.19] Quá trình đô thị hóa của các nước này đã diễn ra một cách hỗn loạn, với hàng triệu con người đang phải sống lay lắt trong các khu ổ chuột và nghèo đói Bởi vậy, bất ổn về mặt xã hội là điều không thể tránh khỏi Các cuộc biểu tình lớn, bạo loạn lật đổ không còn là chuyện hiếm của
Trang 21các quốc gia như Thailand, Philippines, hay Indonesia Cuối cùng xét về mặt nào đó,
mô hình phát triển của các nước Đông Nam Á là một sự “thất bại tương đối” nếu so sánh với các nước Đông Á
Các nghiên cứu của Aki Tonami và Akihisa Mori (2007) “Phát triển bền vững
ở Thái Lan: Những bài học từ việc thực hiện diễn đàn địa phương lần thứ 21 ở ba thành phố”; của Pairash T (N.d) “Thái Lan: Chính sách khoa học và công nghệ đối với phát triển bền vững”; nghiên cứu của M Clarke; S.M.N Islam và P.J Sheehan
(2003) “Tăng trưởng kinh tế và bền vững: Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển của
người Thái”; nghiên cứu của Cielito F.Habito và Ella S.Antonio (2007) “Chiến lược phát triển bền vững ở Tiểu vùng sông Mekong mở rộng: Thực trạng, nhu cầu và định hướng”; “Đánh giá sự phát triển bền vững của Thái Lan” của Chansarn Supachet
(2013);… Trong các nghiên cứu trên, các tác giả cho rằng, một mặt, tăng trưởng kinh
tế cần gắn kết với yếu tố bền vững về môi trường, song mặt khác, tăng trưởng kinh tế
ở một góc độ nào đó cũng gây tổn hại đến môi trường Việc sử dụng quá nhiều tài nguyên thiên thiên và môi trường để tạo ra tăng trưởng kinh tế và tạo ra phúc lợi cho mọi người sẽ không đem lại sự phát triển bền vững về mặt môi trường, tài nguyên, đất đai, đa dạng sinh học và hệ sinh thái, đây chính là thất bại của Thái Lan nói riêng
và nhiều nước khác ở Đông Nam Á trong chuyển đổi MHTTKT Nghiên cứu của
Pornpen Vora-Sittha (2012) về “Quản trị và giảm nghèo ở Thái Lan” cho rằng, Thái
Lan có thể đạt được cả tăng trưởng nhanh lẫn giảm nghèo mà không cần quản trị tốt
Trong bài “Vấn đề môi trường và lối sống xanh của Thái Lan”, Ping Xu (2011) cho
rằng, muốn đạt được cả phát triển bền vững lẫn mục tiêu tăng trưởng, cần phải giải quyết yếu tố ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, để làm được điều này, chính phủ Thái Lan cần phải chi nhiều tiền hơn cho giáo dục đào tạo
Các nghiên cứu ngoài nước về chuyển đổi MHTTKT thường hướng đến xem xét phản ứng của các quốc gia đối với cuộc KHKTTC; làm rõ những vấn đề mà các nền kinh tế gặp phải trước và trong khủng hoảng; yêu cầu tất yếu khách quan của các nền kinh tế khi chuyển đổi MHTTKT; phương hướng và cách thức mà các quốc gia này thực hiện… trong đó có một số nghiên cứu so sánh chuyển đổi MHTTKT giữa các nước và khu vực
Các nghiên cứu ngoài nước về chuyển đổi MHTTKT sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu của Việt Nam rất ít Phục vụ cho việc tham khảo để nghiên cứu đề tài luận
án, chủ yếu là một số các nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đến các quốc gia, trong đó có các quốc gia đang phát triển như Việt Nam; một số nghiên cứu về tình hình kinh tế chính trị thế giới tác động đến các nước trong
Trang 22đó có Việt Nam; một số nghiên cứu nằm trong các nghiên cứu so sánh về chuyển đổi MHTTKT giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á…
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Các công trình nghiên cứu về thực tiễn chuyển đổi MHTTKT của các quốc gia, khu vực sau KHKTTC để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là khá phong phú, tuy nhiên các nghiên cứu thường tập trung vào các nước chuyển đổi MHTTKT thành công như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước Bắc Âu…
Cụ thể:
Nghiên cứu của Đinh Công Tuấn (2011, 2013, 2015, 2016) về mô hình phát triển của các nước Bắc Âu và những tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ, khủng hoảng nợ công đến nền kinh tế, chính trị của các nước châu Âu (EU) Hoàng Thế Anh (2012), Nguyễn Thanh Bình và Vũ Thị Phương Dung (2014), Trần Hải Hạc (2011), Phạm Thái Quốc (2008, 2010) … tập trung bàn về chuyển đổi MHTTKT của Trung Quốc; nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sơn (2013), Nguyễn Xuân Thắng (2012), Lưu Ngọc Trịnh (2004, 2013), Nguyễn Trọng Tuấn (2010) … bàn về MHTTKT và chuyển đổi MHTTKT của Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước khu vực Đông Á khác
Các công trình nghiên cứu về chuyển đổi MHTTKT dưới dạng sách tham khảo
có: Trần Thọ Đạt (2010), "Tăng trưởng kinh tế thời kỳ đổi mới ở Việt Nam" Tác giả
đã nhận xét: Mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua dựa nhiều vào vốn vật chất và vốn lao động hơn vốn con người diễn biến tăng trưởng có
xu hướng dựa ngày càng nhiều vào việc tăng vốn đầu tư Trần Thọ Đạt và cộng sự cũng chỉ rõ các mặt hạn chế của MHTTKT ở nước ta: (1) Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào gia tăng các yếu tố đầu vào truyền thống; (2) Tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên; (3) Cơ cấu ngành chuyển dịch chậm; (4) Cơ cấu đầu tư bất hợp lý, dựa quá nhiều vào khu vực kinh tế nhà nước, vốn đầu tư nước ngoài sử dụng kém hiệu quả; (5) MHTT đang hoạt động kém hiệu quả; (6) Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu; (7) Sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội chưa thật bền vững; (8) Tăng trưởng kinh tế đi liền với suy thoái môi trường nghiêm trọng; (9) Môi trường thể chế và cải cách hành chính còn nhiều bất cập
Nguyễn Kế Tuấn (2011, 2013), Vũ Văn Phúc (2013), "Đổi mới mô hình tăng
trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế"; Hà Văn Hiền, Phạm Hồng Chương (2013) cùng có
chung nhận định với Trần Thọ Đạt và nhấn mạnh: Mô hình tăng trưởng hiện nay của Việt Nam theo chiều rộng, chủ yếu dựa trên cơ sở tăng vốn đầu tư, khai thác lợi thế
về tài nguyên và sức lao động giản đơn Mô hình tăng trưởng này dẫu có đem lại thành tựu tăng trưởng nhanh trong khoảng thời gian nhất định, nhưng sự tăng trưởng
Trang 23ấy lại không có hiệu quả và bền vững Các tác giả đều cho rằng mô hình tăng trưởng phát triển theo chiều rộng, sử dụng lao động rẻ, bán thô tài nguyên, sử dụng kỹ thuật, công nghệ hàm lượng chất xám thấp, đầu tư vốn lớn, dàn trải, kém hiệu quả, chất lượng thấp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất ở cấp thấp không còn phù hợp khi nước ta hội nhập quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa, cạnh tranh khốc liệt Các tác giả Hà Văn Hiền, Phạm Hồng Chương, sau khi trình bày về phương hướng và mục tiêu phát triển có nêu quan điểm về MHTTKT của Việt Nam giai đoạn 2011 -
2030 như sau: MHTTKT bền vững, hiệu quả và vì con người, dựa trên cơ sở khai thác và sử dụng tốt nhất các lợi thế cạnh tranh quốc tế, chú trọng các yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu, vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường hoàn chỉnh trong một môi trường thể chế có tính trách nhiệm và minh bạch cao và định hướng ưu tiên xây dựng năng lực công nghiệp [31]
Một số nghiên cứu công bố dưới dạng các bài báo khoa học, như: Trần Chí
Trung (2013), "Mô hình tăng trưởng: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam"; Trung tâm Thông tin tư liệu - CIEM (2011, 2012), "Thay đổi mô hình phát triển kinh
tế - xã hội và cơ cấu lại nền kinh tế Việt Nam"; Cuốn “Mô hình phát triển nào cho kinh tế Đông và Đông Nam Á sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu?” do Lưu Ngọc
Trịnh (chủ biên, 2014) Công trình được nghiên cứu với sự tài trợ của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) Đây là một công trình nghiên cứu rất quan trọng về vấn đề chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế sau KHKTTC ở khu
vực Đông Á và Đông Nam Á Đào Duy Huân (2012), "Đổi mới mô hình tăng trưởng
kinh tế Việt Nam phù hợp với hội nhập quốc tế"; Lê Xuân Bá (2012), "Tổng quan về tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam" v.v
Hầu hết các nghiên cứu về chuyển đổi MHTTKT của các nước trong khu vực ĐNÁ thường dưới dạng lồng ghép, so sánh với các nước trong khu vực Đông Á Tiêu
biểu như Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hùng (2010), “Sự tụt dốc của mô hình tăng
trưởng kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên, gây tác hại cho môi trường” đã chỉ ra những
hạn chế, tồn tại trong mô hình tăng trưởng kinh tế của một số nước ĐNÁ, trong đó có Việt Nam; chỉ ra yêu cầu cần phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào công nghệ
Nghiên cứu của Phạm Thị Quý (2002), “Chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt
Nam, thực trạng và kinh nghiệm” Nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
của công cuộc chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam, trong đó bên cạnh việc phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến công cuộc chuyển đổi, các tác giả đã
Trang 24làm rõ tính tất yếu khách quan của việc chuyển đổi mô hình kinh tế trong quá trình phát triển, và sự phù hợp với xu thế thời đại; phân tích sự chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam dựa trên cơ sở nhận thức và vận dụng quan điểm của V.I.Lênin trong Chính sách kinh tế mới Nghiên cứu đã khái quát quá trình chuyển đổi mô hình kinh
tế ở Việt Nam từ sau Đại hội ĐBTQ lần thứ VI của Đảng, từ chỗ làm rõ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt trong đa dạng hóa các hình thức sở hữu và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; phân tích những thành tựu đạt được và những hạn chế từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm Đây là một nghiên cứu quan trọng, giúp NCS có cái nhìn khái quát về việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở nước ta từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến năm 2002; đồng thời củng cố thêm cho quan điểm chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là sau những tác động bởi những biến động lớn của bối cảnh trong nước hoặc quốc tế
Bài viết “Mô hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam ở giai đoạn thu nhập
trung bình thấp 2012 - 2020” của Nguyễn Đức Kiên (2014) đã khái quát các mô hình
tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn 1986-2006 Trong đó tác giả phân chia giai đoạn này thành hai thời kỳ: (1) Từ 1986 đến 1997, tác giả làm rõ mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn này là khắc phục khủng hoảng của mô hình kế hoạch hóa tập trung (2) Từ 1998 đến 2006 là mô hình tăng trưởng tận dụng thời cơ hướng tới xuất khẩu Đồng thời bài viết nêu quan điểm về xây dựng mô hình tăng trưởng giai đoạn 2012 – 2020 với tên gọi là “Tận dụng thời cơ, đưa kinh tế Việt Nam trở thành một bộ phận, một khâu trong chuỗi giá trị của các sản phẩm được bán ra trên thị trường thế giới.” Cùng với đó bài viết phân tích về mục tiêu cao nhất đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Và đề xuất bốn nhóm vấn đề cơ bản cần tập trung giải quyết theo phân kỳ 5 năm và hàng năm, tập trung vào: (1) Tạo sự đồng thuận trong nhận thức phát triển bền vững; (2) Tạo sự đồng thuận trong hội nhập kinh tế quốc tế; (3) Tạo sự đồng thuận trong việc hình thành quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất trong điều kiện bối cảnh mới: Xã hội tin học; (4) Tạo sự đồng thuận về chuyển đổi bộ máy quản lý nhà nước từ chính quyền sản xuất sang chính quyền quản lý Bài viết cũng có giá trị tham khảo, đưa đến những gợi ý cho chủ đề của luận án trong phần nghiên cứu về chuyển đổi
mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Bài viết của Phạm Thị Khanh (2012), “Mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam: Hạn chế và định hướng đổi mới sau khủng hoảng kinh tế”, tác giả bài viết đã
phân tích về những hạn chế của mô hình Harrod – Domar, mô hình mà Việt Nam theo đuổi, xây dựng từ năm 1986 – là mô hình nhấn mạnh duy nhất vai trò của nhân
Trang 25tố vốn (tiết kiệm để đầu tư), theo đó bài viết phân tích những hạn chế của mô hình Harrod – Domar trên cả 3 khía cạnh về kinh tế, xã hội và môi trường Bài viết cũng đưa ra ba định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, hướng đến
sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên bằng cách sử dụng kỹ thuật công nghệ phù hợp; Phát triển nguồn nhân lực và tăng cường thể chế
Bài viết của Nguyễn Xuân Thiên (2013), “Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi
chuyển sang mô hình tăng trưởng mới”, đã cho thấy, hơn 25 năm đổi mới, nền kinh tế Việt
Nam tăng trưởng liên tục và tương đối cao, đóng góp quan trọng vào sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian qua được đóng góp bởi nhiều nhân tố, nhưng chủ yếu là lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên; các nhân tố như năng suất lao động, công nghệ và thể chế đóng góp còn hạn chế hoặc ở mức thấp Bước sang giai đoạn mới, để phát triển bền vững và giữ được nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định, Việt Nam phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức cũng như đưa ra một số giải pháp khi Việt Nam chuyển sang mô hình tăng trưởng kinh tế mới Bài viết đã chỉ ra 3 nút thắt lớn của nền kinh tế Việt Nam đó là: Nút thắt về cơ sở hạ tầng; nút thắt về nguồn nhân lực và nút thắt về thể chế Theo
đó, các giải pháp hướng vào giải quyết ba nút thắt này để giải quyết vấn đề chuyển đổi
Bài viết của Phạm Tú Tài (2016), “Một số giải pháp chuyển đổi mô hình tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2016-2020”, bài viết đi sâu phân tích ba giải
pháp cơ bản: Một là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ; Hai là, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường,
thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng nhằm tạo động lực mới cho nền kinh tế;
Ba là, thực hiện quyết liệt ba trọng tâm tái cơ cấu nền kinh tế Bài viết khẳng định các
giải pháp trên sẽ giúp Việt Nam thúc đẩy nhanh việc chuyển đổi MHTT, giúp nước ta đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản tăng trưởng theo chiều sâu
Các nghiên cứu trong nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu về chuyển đổi mô
hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu rất đa dạng, chủ yếu dưới dạng các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu, luận văn, luận án, trong một số cuốn sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học… cụ thể:
Một số nghiên cứu tập trung vào làm rõ những cơ hội và thách thức đối với MHTTKT Việt Nam sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu và trong bối cảnh quốc tế mới hiện nay: Nguyễn Văn Thường (2005), Đặng Nguyên Anh (2010), Nguyễn Quốc Hùng (2010), Nguyễn Đức Hưởng (Chủ biên, 2010), Bùi Tất Thắng (2011, 2012), Phạm Thị Khanh (2012), Nguyễn Xuân Thiên (2013), Hà Văn Hiền, Phạm Hồng Chương (Đồng chủ biên) (2013), Lưu Ngọc Trịnh (Chủ biên, 2014), trong đó các tác
Trang 26giả đã chỉ ra những mối nguy cơ đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới; làm rõ những méo mó của MHTTKT Việt Nam vốn đã tồn tại nhiều vấn đề bất cập từ trước, nhưng do tác động têu cực của KHKTTC mà bộc lộ rõ ràng hơn, đòi hỏi cần phải có sự thay đổi, đổi mới, chuyển đổi để phát triển trong thời gian tới
Các nghiên cứu trình bày trong các Hội thảo khoa học về “Mô hình tăng
trưởng kinh tế Việt Nam 2011 - 2020”; “Kinh tế Việt Nam năm 2012-2013: Tái cơ cấu doanh nghiệp và cân đối kinh tế vĩ mô”; “Hội thảo Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Thực trạng và lựa chọn cho giai đoạn 2011-2020” do Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Uỷ ban kinh tế của Quốc hội tổ chức tại Hà Nội và được trường Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2013, đã tập trung phân tích, đánh giá về những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong tăng trưởng kinh tế, xã hội, cùng những tồn tại, thách thức đặt ra trong giai đoạn này
Các nghiên cứu tập trung vào các góc độ, khía cạnh khác nhau của chuyển đổi MHTTKT Việt Nam sau khủng hoảng như: Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sơn (2010), Hoàng Sĩ Động (2012), Nguyễn Minh Phong (2012), Vũ Văn Phúc (Chủ biên) (2013), … tập trung vào vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu;
về cải thiện năng suất lao động của Việt Nam phục vụ cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng như nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngọc và Phạm Minh Thu (2014), Đặng Thị Thu Hoài (2014); hướng đến góc độ các nhân tố sản xuất và vấn đề tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hiếu (2009), Nguyễn Danh Sơn (2013), …
Một số nghiên cứu của Đỗ Thế Tùng (2011), Nguyễn Xuân Thắng (2012), Phan Huy Đường (2014), Phạm Thanh Bình và Vũ Thị Phương Dung (2014), Nguyễn Đức Hải (2015), Vũ Tuấn Anh (2015), Đào Đăng Kiên (2015), Nguyễn Huy Hoàng (2015), Võ Thị Minh Lệ (2016) lại tập trung vào góc độ tăng trưởng kinh tế gắn với các vấn đề xã hội, môi trường, phát triển bền vững ở Việt Nam Các nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây, khi đạt được những chỉ tiêu tăng trưởng nhất định về kinh tế nhưng lại tạo ra những thách thức về xã hội và môi trường; tăng trưởng kinh tế chưa gắn với phát triển bền vững Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan về vấn đề tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững, nghiên cứu đề xuất những bài học và giải pháp cho Việt Nam [Võ Thị Minh Lệ (2016)], [Nguyễn Xuân Thắng (2012)]
Các nghiên cứu của Ngô Doãn Vịnh và Bùi Tất Thắng (2009), Nguyễn Thị Tố Quyên (Chủ biên) (2010), Chu Văn Cấp (2011, 2012), Võ Đại Lược (Chủ biên, 2011), Nguyễn Văn Cường (2011), Nguyễn Kế Tuấn (2011, 2013), Chu Văn Cấp,
Trang 27Nguyễn Đức Hải (2016), Tập trung vào phân tích quan điểm, định hướng về chuyển đổi MHTTKT của Việt Nam được xác định trong các kỳ Đại hội lần thứ XI và XII của Đảng Cộng sản Việt Nam Các nghiên cứu làm rõ hơn và củng cố thêm về thực tiễn cấp thiết phải chuyển đổi MHTTKT ở Việt Nam trong giai đoạn này
Các nghiên cứu của Nguyễn Đình Hương (2010), Trần Thọ Đạt (2010), Nguyễn Văn Cường (2011), Nguyễn Văn Hậu (2013, 2014), Lương Xuân Quỳ (Chủ biên) (2015), Phạm Tú Tài (2016), … hướng đến đề xuất các giải pháp chuyển đổi MHTTKT của Việt Nam sau KHKTTC nói chung hay các giải pháp chuyển đổi MHTTKT của Việt Nam trong cụ thể các giai đoạn 2011- 2020, 2016-2020 Trong đó hầu hết các giải pháp được đưa ra đều hướng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng; thực hiện quyết liệt các trọng tâm tái cơ cấu nền kinh tế…
Qua tổng quan tài liệu, nghiên cứu sinh nhận thấy các nghiên cứu về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu ở Việt Nam khá phong phú, đặc biệt là các nghiên cứu ở trong nước
Những nghiên cứu trên đều đề cập đến chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
ở Việt Nam dưới những góc nhìn khác nhau, tuy nhiên không có nghiên cứu nào đã được công bố trùng lặp với chủ đề nghiên cứu của luận án cho đến thời điểm hiện tại Tất cả các nghiên cứu trên đều cung cấp những tư liệu tham khảo giúp NCS củng cố thêm cho nghiên cứu của mình
Nhìn chung các nghiên cứu trên, nhất là các nghiên cứu trong nước, đã mô tả, phân tích, so sánh, đánh giá và lý giải khá đa dạng, nhiều mặt của vấn đề chuyển đổi
mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sau KHKTTC Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu là rời rạc, khai thác ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, chưa có các nghiên cứu tổng thể về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sau KHKTTC Đồng thời cũng thiếu hụt những nghiên cứu đánh giá về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn từ 2011 đến nay Các giải pháp được
đề xuất trong các nghiên cứu, do đó đã cũ, và chưa chỉ rõ được các tiền đề điều kiện cần thiết để có thể thực hiện các giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế Đây chính là khoảng trống trong nghiên cứu về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam sau KHKTTC
1.3 Những điểm đã thống nhất, khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề của luận án, NCS đúc kết một số điểm đã thống nhất, khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án như sau:
Trang 281.3.1 Những điểm đã thống nhất
- Các nghiên cứu về mô hình tăng trưởng kinh tế đều thống nhất rằng: Mỗi quốc gia tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể mà lựa chọn, xây dựng, phát triển kinh tế theo những mô hình riêng, không quốc gia nào hoàn toàn giống với quốc gia nào; đồng thời, qua mỗi giai đoạn phát triển, mô hình kinh tế đã được xây dựng
và áp dụng lại cần phải điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nội tại và quốc tế tác động Không có một mô hình tăng trưởng kinh tế “nhất thành bất biến” cho mọi giai đoạn phát triển
- Hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tác động của KHKTTC đều thống nhất rằng: Đây là cuộc khủng hoảng và suy thoái có mức độ ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng đến hầu hết các nền kinh tế, từ các nước phát triển cho đến các quốc gia đang phát triển
- Do tác động của KHKTTC, cần phải xem xét đánh giá lại chính các mô hình tăng trưởng kinh tế mà các quốc gia đang theo đuổi, trên cơ sở đó tìm cách điều chỉnh hay cải cách để tìm ra một mô hình mới phù hợp hơn với hoàn cảnh trong nước và quốc tế mới Với tính chất hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế khác là một tất yếu khách quan cần thiết
Với các vấn đề đã thống nhất từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
đã được công bố nêu trên đều có giá trị tham khảo, được NCS chọn lọc kế thừa trong quá trình thực hiện nghiên cứu của mình
1.3.2 Khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án
Có thể nhận thấy, tuy các công trình nghiên cứu về chuyển đổi MHTTKT trên thế giới sau KHKTTC nói chung đã khá phong phú nhưng vẫn còn những khoảng trống để luận án tiếp tục nghiên cứu, cụ thể như sau:
Thứ nhất, có rất ít các công trình nghiên cứu về chuyển đổi MHTTKT sau
KHKTTC ở Thái Lan và Malaysia Hầu hết các nghiên cứu đề cập đến hai quốc gia này chỉ như một phần trong nghiên cứu về chuyển đổi MHTTKT ở khu vực ĐNÁ Các nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề này chủ yếu tập trung vào các nước ở khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc như là những điển hình về chuyển đổi MHTTKT thành công sau KHKTTC Tuy nhiên, NCS cho rằng việc tập trung nghiên cứu một cách sâu sắc về chuyển đổi KHKTTC của Thái Lan và Malaysia là hết sức cần thiết vì các quốc gia này cùng chia sẻ nhiều đặc điểm chung
về văn hóa, địa lý, dân tộc trong khu vực Đông Nam Á với Việt Nam; đồng thời mặc
Trang 29dù công cuộc chuyển đổi MHTT kinh tế của họ chưa thành công nhưng cũng sẽ là những bài học giá trị cho Việt Nam trong công cuộc chuyển đổi MHTT kinh tế
Thứ hai, ở Việt Nam, mặc dù công cuộc chuyển đổi MHTT kinh tế sau khủng
hoảng KTTC vẫn đang được thực hiện, tuy nhiên nhìn vào con số thống kê về tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam, tốc độ tăng trưởng vẫn đi theo xu hướng giảm dần, điều đáng lo hơn cả là chênh lệch về năng suất lao động giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng Mỗi lao động của Việt Nam chỉ có năng suất bằng 42,3% của Indonesia; 56,7% của Philippines và đặc biệt là chỉ bằng 87,4% năng suất lao động của Lào [13] Rõ ràng mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện vẫn đang không phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế Do đó, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế vẫn đang là yêu cầu tất yếu khách quan của Việt Nam Và việc nghiên cứu về chuyển đổi MHTT kinh tế của Thái Lan và Malaysia để rút ra bài học kinh nghiệm, hàm ý cho Việt Nam là rất cần thiết
Đây cũng chính là những nội dung mà NCS sẽ làm sáng tỏ trong luận án
1.4 Câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích của luận án
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Tại sao phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế?
Kinh nghiệm chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái lan sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu có thể vận dụng gì cho Việt Nam?
Mô hình tăng trưởng kinh tế mà chúng ta đang theo đuổi là như thế nào? Liệu
mô hình đó đã thực sự phù hợp và có thể phát triển bền vững hay không? Làm thế nào để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành công?
1.4.2 Khung phân tích của luận án
Trang 31Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Trong chương 2 luận án làm rõ một số khái niệm quan trọng liên quan đến chủ
đề luận án, thiết lập cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu Cụ thể: Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về MHTTKT, chuyển đổi MHTTKT Trong đó, việc bóc tách các khái niệm: “Tăng trưởng kinh tế”, “phát triển kinh tế”, “phát triển bền vững”, “mô hình”,
“mô hình tăng trưởng kinh tế”…; cùng với việc trình bày khái quát những lý thuyết cơ bản về MHTTKT; làm rõ những quan điểm và những chiều cạnh khác nhau của MHTTKT, cho thấy có một sự khác biệt nhất định về hàm ý hay đối tượng được đề cập đến giữa khái niệm MHTTKT trong lý thuyết và trong thực tiễn Chương 2 cũng đồng thời hệ thống hóa những cơ sở lý luận về chuyển đổi MHTTKT và đề cập khái quát kết quả chuyển đổi MHTTKT ở một số nước nhằm xây dựng khung phân tích cho việc nghiên cứu về chuyển đổi MHTTKT ở Thái Lan, Malaysia và Việt Nam
2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình tăng trưởng kinh tế
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế và phát triển bền vững
Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế (TTKT) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia Chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình cho TTKT, coi đó là cái gốc, là nền tảng để giải quyết mọi vấn đề khác, đặc biệt
là các vấn đề xã hội như: Tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống của người dân, tăng cường phúc lợi xã hội, xóa đói - giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội…
Khái niệm tăng trưởng kinh tế được nhiều tác giả đề cập với nhiều cách khác nhau, song hầu hết đều thống nhất ở định nghĩa chung nhất về TTKT như sau: “TTKT
là sự gia tăng thu nhập thực tế hay sự gia tăng về qui mô sản lượng của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)” [10], [12], [14],
[20], [37] Như vậy, TTKT là khái niệm diễn tả động thái biến đổi về số lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế theo thời gian
Sự “gia tăng thu nhập” của nền kinh tế được thể hiện ở quy mô và tốc độ tăng trưởng của thu nhập đó Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn bộ nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so
Trang 32sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ [52] Trong phân tích kinh tế, để phản ánh tốc độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc
độ TTKT thường được sử dụng Đây là tỉ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc Do
đó, TTKT có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỉ lệ tăng trưởng)
Như vậy, nội hàm của TTKT được thể hiện thông qua sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Quá trình ấy phải được tạo nên bởi các nhân tố đóng vai trò quyết định là tri thức và khoa học công nghệ trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý
Phát triển kinh tế:
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ của mỗi quốc gia trong các thời kỳ Suy cho cùng, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển, và trải qua thời gian, khái niệm về phát triển ngày càng đi đến thống nhất Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình gia tăng và tiến bộ về mọi mặt, mọi phương diện của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện trên cả phương diện kinh tế, xã hội và môi trường ở mỗi quốc gia, nó phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định
Có thể nói một cách khái quát: “Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến của nền
kinh tế trên các mặt, bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng, tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn” [37; tr.13]
Nội dung của phát triển kinh tế có thể được khái quát theo ba tiêu thức: (1) Sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người Tiêu thức này thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để thực hiện những mục tiêu khác của phát triển; (2) Sự chuyển dịch theo đúng xu thế của cơ cấu nền kinh tế Đây được coi là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế của một quốc gia Sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong một nền kinh tế thường được sử dụng để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia với nhau; và (3) Sự cải thiện ngày càng tốt hơn trong các chỉ tiêu về xã hội Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế đối với các quốc gia là việc xóa bỏ đói nghèo, suy dinh dưỡng, sự gia tăng của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch, trình độ dân trí của người dân… [37; tr.15] Việc cải thiện các tiêu chí nêu trên là sự thay đổi về chất trong khía cạnh xã hội của quá trình phát triển
Trang 33Giữa TTKT và phát triển kinh tế có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Tăng trưởng chưa phải là phát triển nhưng không thể nói phát triển mà không có tăng trưởng Tăng trưởng mà không phát triển sẽ dẫn đến thảm họa, ngược lại phát triển
mà không tăng trưởng là không tồn tại trong thực tế
Phát triển bền vững:
Mặc dù khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng thực tiễn quá trình TTKT ở các nước buộc con người phải nhìn nhận lại mục tiêu của sự phát triển Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề toàn cầu cực kỳ phức tạp, nan giải và ngày càng trầm trọng đòi hỏi cả cộng đồng nhân loại phải chung sức giải quyết như: Vấn
đề sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, tắc nghẽn giao thông, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Tác giả Joseph E Stiglitz - nhà kinh tế học nhận giải Nobel năm 2001 - cũng đã bày tỏ lo ngại rằng:
“Kể cả những nước có được một chút tăng trưởng cũng thấy rõ là lợi ích chủ yếu tích
tụ trong tay những người giàu và đặc biệt là tầng lớp cực giàu, khoảng 10% giàu nhất, trong khi nghèo đói vẫn hoành hành và thậm chí trong một số trường hợp, thu nhập của những người dưới đáy còn tụt giảm” [46; tr.25]
Vì vậy, một khái niệm mới về phát triển đã ra đời, mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về TTKT, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững Năm 1987, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED: World Commission on Environment and Development) đã công bố
báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, trong đó phát triển bền vững được định
nghĩa “Là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai” [168]
Cụ thể hơn, phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm có: (1) Phát triển kinh
tế (nền tảng là TTKT); (2) Phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và (3) Bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)
2.1.1.2 Mô hình tăng trưởng kinh tế
Mô hình kinh tế, có thể hiểu là cách thức diễn đạt những con đường, hình thái, nội dung phát triển kinh tế của các quốc gia thông qua các biến số, các nhân tố kinh tế
Trang 34trong quan hệ chặt chẽ với các điều kiện chính trị, xã hội [171] Các mô hình kinh tế
có thể diễn đạt dưới dạng lời văn, biểu đồ, đồ thị hoặc phương trình toán học
Những mô hình lý thuyết thường cố gắng giải thích TTKT được tạo ra như thế nào từ những yếu tố sản xuất như đất đai, vốn, lao động, công nghệ Tuy nhiên trên thực tế, khi nói đến MHTT của một quốc gia nào đó người ta còn thấy các yếu tố hay khía cạnh khác ngoài những yếu tố sản xuất nói trên cũng được bao hàm trong MHTT Đó là những yếu tố như cấu trúc của nền kinh tế, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, thể chế, khu vực kinh tế nhà nước, chiến lược hướng vào xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu; gần đây người ta còn sử dụng cả yếu tố xanh, hàm ý vấn đề môi trường nhằm đạt được sự tăng trưởng bền vững; và nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn như yếu tố vị trí địa lý cũng được coi là một yếu tố trong MHTT [Khương Duy (2012)]
MHTT (của một nền kinh tế hay quốc gia) là một tập hợp những yếu tố quyết định, hay giải thích TTKT của một nền kinh tế hay một quốc gia Nó cho biết những yếu tố nào quyết định hay dẫn đến sự tăng trưởng của một nền kinh tế nhất định Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện riêng, có một bộ các yếu tố giải thích sự tăng trưởng của mình Do đó, có sự khác biệt giữa các MHTT giữa các nước
Như vậy, mô hình TTKT là sự phản ánh khái quát những đặc tính chủ yếu của phương thức TTKT thể hiện các yếu tố tăng trưởng và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng
với nhau trong từng giai đoạn nhất định Tác giả Trần Thọ Đạt nêu khái niệm: "Mô hình
tăng trưởng kinh tế là cách diễn đạt cơ bản nhất về tăng trưởng kinh tế và các nhân tố tác động đến tăng trưởng (nhân tố kinh tế và phi kinh tế) Ngay từ đầu thế kỷ XX, các MHTTKT đã trở thành công cụ hữu ích, giúp các nhà kinh tế mô tả và lượng hóa các nguồn tăng trưởng của nền kinh tế một cách cụ thể và chính xác" [19, tr.27]
Khái niệm MHTTKT được sử dụng trên thực tế có nội hàm rộng hơn khái niệm trong lý thuyết Nghĩa là nó bao hàm nhiều yếu tố giải thích tăng trưởng hơn so với những yếu tố được bao hàm trong các mô hình lý thuyết tính toán Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, khái niệm mô hình tăng trưởng sẽ được dùng theo nghĩa rộng trong thực tế
Từ sự phân tích nêu trên, có thể khái quát: MHTTKT là sự diễn đạt một cách
cơ bản lý thuyết tăng trưởng kinh tế, các yếu tố quyết định tăng trưởng của một nền kinh tế hay một quốc gia và các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ với các điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường
2.1.2 Phân loại mô hình tăng trưởng kinh tế
MHTTKT có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
Trang 35- Căn cứ vào thời gian (lịch sử) có MHTT cổ điển, MHTT Tân cổ điển, và MHTT hiện đại [20]
- Phân loại theo sự lựa chọn phương thức TTKT dựa vào nội lực hay ngoại lực, MHTTKT được chia thành: (1) MHTT - chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, với động lực tăng trưởng là phát triển công nghiệp trong nước, giảm thiểu
sự phụ thuộc vào bên ngoài Qua đó, Nhà nước thực hiện chính sách trợ cấp và sử dụng những biện pháp bảo hộ công nghiệp trong nước, sử dụng rào cản thương mại đối với hàng nhập khẩu (2) MHTT - chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu dựa trên lợi thế về các nhân tố tạo động lực như nguồn nhân lực, khai thác tài nguyên, thu hút vốn đầu tư được hỗ trợ bởi cơ chế, chính sách mở cửa, hội nhập, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Hàn Quốc và nhóm các nền kinh tế "con hổ" châu Á đã khá thành công khi chuyển đổi kịp thời MHTT - chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu [92]
- Căn cứ vào cách thức sử dụng yếu tố đầu vào cho tăng trưởng có MHTT theo chiều rộng (tăng về lượng), MHTT theo chiều sâu (chú trọng chất lượng) và MHTT kết hợp chiều rộng với chiều sâu [19], [87], [92]
Mô hình TTKT theo chiều rộng có đặc trưng cơ bản là tăng khối lượng sản
xuất nhờ vào tăng trưởng vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên Đồng thời, là con đường đơn giản nhất để mở rộng sản xuất tạo việc làm, tăng thu nhập… nhưng có nhiều hạn chế: Nền kinh tế trì trệ, NSLĐ thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm…
Mô hình TTKT theo chiều sâu có đặc trưng cơ bản là dựa vào khoa học và
công nghệ hiện đại, nâng cao hiệu quả, chất lượng của tăng trưởng, như: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng NSLĐ, nâng cao sự đóng góp của TFP, hướng hoạt động của nền kinh tế vào các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng, giảm chi phí sản xuất, chủ động sản xuất và xuất khẩu hàng hóa có dung lượng công nghệ cao trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế của đất nước, thực hiện đồng bộ hóa quá trình khai thác và chế biến sản phẩm
Trong thực tế, không thể phân biệt rạch ròi tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu, mà chúng thường được xen kẽ, kết hợp theo một mức độ
nào đó Mô hình kết hợp giữa hai loại hình tăng trưởng này vừa chú ý tới TTKT về
mặt lượng và quan trọng hơn là chú trọng nâng cao chất lượng và phối hợp giữa chúng trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế
Trang 36Mỗi quốc gia tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể mà lựa chọn, xây dựng, phát triển kinh tế theo những mô hình riêng, không quốc gia nào hoàn toàn giống với quốc gia nào; đồng thời, qua mỗi giai đoạn phát triển, MHTTKT đã được xây dựng
và áp dụng lại cần phải điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nội tại và quốc tế tác động
Không có một MHTTKT “nhất thành bất biến” cho mọi giai đoạn phát triển
2.1.3 Tốc độ và chất lượng tăng trưởng trong mô hình tăng trưởng kinh tế
2.1.3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế:
TTKT được xem xét dưới góc độ số lượng và chất lượng Mặt số lượng của TTKT thể hiện ở ngay trong khái niệm về tăng trưởng như đã phân tích ở trên và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng thu nhập Đứng trên góc độ toàn nền kinh tế, thu nhập thường được thể hiện dưới dạng giá trị: Tổng giá trị thu nhập hoặc thu nhập bình quân đầu người Các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) bao gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO); tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng thu nhập quốc dân (GNI); thu nhập quốc dân (NI); thu nhập được quyền chi (GDI); trong đó GDP thường là chỉ tiêu quan trọng nhất [Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006)] Mặt lượng của TTKT thể hiện cụ thể ở quy mô (mức) và tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu giá trị nói trên Trong phân tích kinh tế, để phản ánh tốc độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ TTKT thường được dùng, đó là tỉ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc
- Đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế:
+ Tổng giá trị sản xuất (GO): Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Đây chính là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hoặc tổng giá trị sản xuất có thể tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng (VA) từ sản phẩm vật chất và dịch vụ đó trong nền kinh tế quốc dân [19]
+ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP): Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đo lường tổng giá trị của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong trong một thời
kỳ nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là chỉ tiêu đo
Trang 37lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ (thường là một năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình
Như vây, GDP là thu nhập tạo thêm từ tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước, cho dù chủ thể sản xuất kinh doanh là người nước ngoài hay người trong nước Muốn xem xét thu nhập thuộc sở hữu trong nước (GNP) thì phải lấy GDP trừ đi thu nhập trả cho người nước ngoài, đồng thời cộng thêm vào thu nhập của người trong nước nhận được từ đầu tư ra nước ngoài
+ Tổng thu nhập quốc dân (GNI): Là chỉ tiêu xuất hiện trong SNA năm 1993 thay cho chỉ tiêu GNP trong SNA năm 1968 Về nội dung thì GNP và GNI là như nhau tuy nhiên, GNI tiếp cận dưới góc độ từ thu nhập chứ không phải dưới góc độ sản phẩm sản xuất ra như GNP
+ Thu nhập bình quân đầu người: Để đánh giá chính xác hơn tốc độ TTKT của một quốc gia dưới góc độ mức sống dân cư và so sánh mức sống giữa các nước, cần
sử dụng các chỉ tiêu bình quân đầu người, chẳng hạn như GDP bình quân đầu người (hay GNI bình quân đầu người) Khi đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người phụ thuộc hai yếu tố: Tốc độ tăng trưởng thu nhập (sản lượng) và tốc độ tăng trưởng dân số theo quan hệ sau:
Nếu tốc độ tăng trưởng GDP bằng hoặc thấp hơn tốc độ tăng trưởng dân số thì điều đó có nghĩa là không có sự gia tăng của tăng trưởng tính trên bình quân đầu người Chỉ khi một nền kinh tế có gia tăng GDP lớn hơn so với tăng trưởng dân số thì nền kinh tế đó mới có tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người, hay nói cách khác người dân của nước đó mới có sự tăng trưởng về thu nhập [19]
2.1.3.2 Chất lượng tăng trưởng kinh tế
Cùng với tốc độ tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng là một nội dung rất quan trọng của TTKT Tuy nhiên, tăng trưởng về mặt chất lượng chỉ mới được nhắc đến nhiều trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây và hiện vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau
về chất lượng tăng trưởng Có quan điểm cho rằng, có thể đánh giá chất lượng TTKT thông qua đầu ra hay kết quả đạt được từ TTKT như chuyển dịch cơ cấu kinh tế, năng suất của nền kinh tế, chất lượng cuộc sống được cải thiện, sự bình đẳng trong phân phối thu nhập, bình đẳng về giới trong phát triển, bảo vệ môi trường sinh thái Quan điểm khác lại nhấn mạnh đến khía cạnh đầu vào của quá trình tăng trưởng, như việc
Tốc độ TT GDP/người = Tốc độ TT GDP – Tốc độ gia tăng dân số
Trang 38sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tăng trưởng, khả năng nắm bắt và tạo cơ hội bình đẳng cho các đối tượng tham gia đầu tư, quản lý hiệu quả các nguồn lực đầu tư
Nhìn từ góc độ rộng hơn, chất lượng tăng trưởng có thể được xem xét bao gồm các nội dung của phát triển bền vững, trong đó chú trọng tới tất cả ba thành tố: Kinh
tế, xã hội và môi trường của quá trình tăng trưởng và phát triển Tuy nhiên, theo cách hiểu hẹp, chất lượng tăng trưởng có thể chỉ được giới hạn ở một khía cạnh nào đó, ví
dụ như chất lượng đầu tư, chất lượng giáo dục, chất lượng dịch vụ công Tóm lại, cho đến nay chưa có một khái niệm chính thức về chất lượng TTKT, tuy nhiên đã có nhiều quan điểm khác nhau của các tác giả trong nước và quốc tế về vấn đề này
- Các quan niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế:
+ Chất lượng TTKT theo quan niệm hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào: Tăng trưởng được hình thành theo hai phương thức: (i) Tăng trưởng theo chiều rộng, tức là tăng thêm các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và khai thác tài nguyên; (ii) Tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện ở tăng NSLĐ, tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào như trên, tăng cường chất lượng quản lý, nâng cao hiệu quả áp dụng KHCN, hoàn thiện môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và thể chế có thể thấy, tăng trưởng theo chiều sâu hiện nay là khá phổ biến ở các nước công nghiệp, khi các yếu
tố tăng trưởng chiều rộng đã được khai thác ở mức cao Còn đối với các nước đang phát triển, tăng trưởng theo chiều rộng hiện nay vẫn đang là chủ đạo Trong quá trình phát triển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, các yếu tố thể hiện tăng trưởng theo chiều sâu như chất lượng nguồn nhân lực, KHCN sẽ có vai trò ngày càng quan trọng so với các yếu tố truyền thống (tài nguyên thiên nhiên, vốn vật chất, lao động ) Việc nghiên cứu chất lượng TTKT hiểu theo quan niệm hiệu quả (tăng trưởng theo chiều sâu) là cơ sở tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng một cách bền vững
+ Quan niệm chất lượng TTKT là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả: Tính hợp lý của quan niệm này là coi chất lượng là sự biến đổi cơ cấu bên trong của sự vật Cụ thể, cơ cấu tăng trưởng thể hiện thông qua chỉ tiêu điểm phần trăm đóng góp của các ngành vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, và chỉ tiêu
tỷ trọng đóng góp của mỗi ngành trong tổng mức tăng trưởng của nền kinh tế Cơ cấu tăng trưởng cũng có thể được xét theo khu vực thể chế, thành phần kinh tế, vùng, miền và theo yếu tố sản xuất (vốn, lao động, năng suất nhân tố tổng hợp)
+ Quan niệm chất lượng TTKT là nâng cao phúc lợi của công dân và gắn kết tăng trưởng với phúc lợi cuộc sống và công bằng xã hội Theo quan niệm này, thước
đo của chất lượng TTKT cần được thể hiện ở việc TTKT cuối cùng sẽ đáp ứng phúc
Trang 39lợi của người dân như thế nào? Phúc lợi cuộc sống không chỉ thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người mà còn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường
tự nhiên, cơ hội học tập và một cuộc sống trường thọ và khỏe mạnh còn công bằng
xã hội thể hiện ở tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống, khoảng cách giàu – nghèo được thu hẹp
và ngày càng giảm bớt sự khác biệt ở về cơ hội trong việc mưu cầu một cuộc sống tốt hơn trong xã hội Các nghiên cứu cho thấy, nếu quan tâm đến tăng trưởng mà ít chú ý tới công bằng xã hội sẽ dẫn đến bất ổn xã hội và tăng trưởng không thể bền vững Ngược lại, nếu quá đề cao công bằng xã hội thì có thể sẽ triệt tiêu động lực và tiềm năng vật chất để thúc đẩy tăng trưởng Sự kết hợp hài hòa giữa TTKT và công bằng
xã hội sẽ tạo ra chất lượng cao của TTKT
+ Quan niệm chất lượng TTKT là phát triển bền vững: Một trong những đặc trưng của TTKT có chất lượng là sự tăng trưởng đó phải đạt được mục đích phát triển bền vững Phát triển bền vững là phải bảo toàn và phát triển ba nguồn vốn: Tài nguyên môi trường, vốn nhân lực và vốn vật chất Trong đó, tài nguyên môi trường tự nhiên hiện nay được quan tâm đặc biệt, vì quá trình CNH, HĐH của các quốc gia trong thời gian qua thường dẫn tới hủy hoại về môi trường Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, mức độ ô nhiễm lúc đầu tăng cùng với tốc độ TTKT cho tới khi thu nhập bình quân đầu người đạt tới 12.00 USD/năm Thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng thì chất lượng môi trường giai đoạn tiếp theo được cải thiện rõ rệt
+ Quan niệm chất lượng TTKT là thể chế dân chủ trong môi trường chính trị -
xã hội của nền kinh tế: Tác động của TTKT đối với quá trình đổi mới hệ thống chính trị từ lâu đã được quan tâm Các công trình nghiên cứu của Huntington (1991), Rueschemeyer và Stephens (1992) cho thấy tính minh bạch, ít tham nhũng và sự tham gia của người dân vào quản lý kinh tế - xã hội sẽ tác động mạnh đến TTKT và ngược lại, tức là có mối tương quan chặt chẽ giữa thu nhập đầu người và mức độ dân chủ hóa của thể chế chính trị - xã hội Theo các tác giả này, dân chủ chính là biểu hiện mặt chất lượng của TTKT
- Khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế:
+ Từ các quan điểm nói trên về chất lượng TTKT, một số nhà kinh tế học đã đưa ra những khái niệm đầy đủ hơn về chất lượng TTKT Theo quan điểm của Thomas, Dailami và Dhareshwar (2004), chất lượng TTKT được thể hiện trên hai khía cạnh: (i) Tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn và (ii) Tăng trưởng cần thiết phải đóng góp trực tiếp vào cải thiện phúc lợi cuộc sống một cách bền vững và xóa đói giảm nghèo
Trang 40+ Theo quan điểm của một số nhà kinh tế học như Lucas (1993), Sen (1999), Stiglitz (2000), thì chất lượng TTKT biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính như sau: (i) Yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cao, đảm bảo cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động từ bên ngoài; (ii) TTKT phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; (iii) tăng trưởng đi kèm với phát triển môi trường bền vững; (iv) tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt nó thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn; và (v) tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giảm đói nghèo
+ Theo quan điểm của Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005), chất lượng TTKT thể hiện cả ở yếu tố đầu vào như việc quản lý và phân bố các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất, đồng thời cả ở kết quả đầu ra của quá trính sản xuất với chất lượng cuộc sống được cải thiện, phân phối sẩn phẩm đầu ra đảm bảo tính công bằng và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Từ những quan điểm và khái niệm đã nêu ở trên, có thế khái quát khái niệm về chất lượng TTKT như sau: “Chất lượng TTKT cao cần phải bao gồm: Nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, thể hiện qua NSLĐXH, năng suất nhân tố tổng hợp tăng và ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển, nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, mức sống của người dân không ngừng tăng lên, TTKT đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, và quản lý kinh tế của nhà nước có hiệu quả”
- Đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế:
Trong các thước đo chất lượng TTKT đã được sử dụng ở Việt Nam và trên thế giới có thể quy về ba nội dung chất lượng TTKT có tính chất khái quát như sau:
(i) TTKT xét theo các yếu tố bên trong (nội tại) của quá trình sản xuất xã hội như tăng trưởng gắn liền với chuyển đổi cơ cấu, tăng trưởng xét theo quan điểm hiệu quả, các yếu tố tác động đến tăng trưởng, tăng trưởng gắn liền với năng lực cạnh tranh Nói khái quát là tăng trưởng xét trên góc độ các yếu tố kinh tế
(ii) Tăng trưởng gắn liền với nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của người dân, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho lao động, đảm bảo công bằng xã hội
(iii) Tăng trưởng gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên, không gây ô nhiễm môi trường hoặc khai thác bừa bãi, làm cạn kiệt tài nguyên của đất nước
Phù hợp với 3 nội dung trên có 2 nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng TTKT
a Các thước đo chất lượng TTKT trên góc độ các yếu tố kinh tế