1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công ty mẹ công ty con mô hình tập đoàn kinh doanh theo pháp luật việt nam và kinh nghiệm của cộng hoà pháp

88 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 8,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mô hình liên kết này ở Việt nam, đưa ra được các kiến nghị nhàm hiện thực hóa cho việc chuyển đổi.Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là : - Nghiên cứu một cách khái quát l

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔNG HỢP PANTHÉON-ASSAS PARIS II

NGÔ THỊ THUÝ GIANG

Chuyên nghành : Luật Kinh tè

LUẬN VĂN THẠC SỶ LUẬT HỌC

THƯ VIỆ N

TRƯỜNG ĐAI HỌC LỦÂT hà nộ i

Người hướng dẫn khoa học

HÀ NÔI NĂM 2004

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương I: NHŨNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN ĐIỀU CHỈNH PHÁP

LÝ ĐỐI VỚ I MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON 5

1.1 Khái quát về các mô hình tập đoàn kinh doanh 5

1.2 Thực trạng hoạt động của tổng công ty nhà nước ở Việt nam và nhu cầu hình thành tập đoàn kinh doanh theo mô hình công ty mẹ - công ty con 24

Chương II: MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH ở VIỆT NAM 36

2.1 Quan niệm về mô hình công ty mẹ-công ty con ở Việt nam 36

2.2 Những vấn đề về quan hệ sở hữu đối với tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con 41

2.3 Những vấn đề về cơ cấu tổ chức đối với tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ly con 47

2.4 Những vấn đề về quản trị điều hành đối với tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con 52

2.5 Những vấn đề về pháp nhân, quan hệ giao dịch đối với tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con 55

Chương III: MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON ở CỘNG HÒA PHÁP VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT N A M 61

3.1 Mô hình công ty mẹ-công ty con theo pháp luật của Cộng hoà P h á p 61

3.2 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt nam 72

KẾT L U Ậ N 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

MỞ ĐẨU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế Việt nam đang trên đà phát triển Chính phủ Việt nam đã có những chính sách mở cửa, đặc biệt trong vấn đề lập pháp Nhiều Công ty Việt nam có thể đặt chi nhánh, văn phòng ở nước ngoài và ngược lại Các nhà đầu

tư nước ngoài ở Việt nam có thể là Nhật bản, Hàn quốc, Pháp, Mỹ Trong đó các nhà đầu tư Pháp chiếm số lượng đáng kể với nhữnơ tập đoàn mạnh như: TOTAL, ALKATEL, ELF

Chúng tôi đặt ra các vấn đề pháp lý đối với tập đoàn kinh doanh, bởi vì lần đầu tiên tập đoàn kinh doanh đã được chế định trong hệ thống pháp luật Việt nam, trong đó mô hình công ty mẹ-công ty con đã có một đời sống pháp

lý thực sự được ghi nhận trong luật doanh nghiệp nhà nước sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua vào tháng 11/2003 và có hiệu lực vào tháng 7/2004 Đây

là một vấn đề mới mẻ, vì hiện nay chúng tôi còn đang thực hiện chuyển đổi một số tổng công ty nhà nước sang mô hình công ty me - công tỵ con

Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế thì việc áp dụng một mô hình quản lý mới phải được tiếp tục nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm Luận văn đưa ra những cơ sở lỷ luận và thực tiễn góp phần khẳng định vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường là bằng sức mạnh nội lực của doanh nghiệp nhà nước dựa trên tiềm năng kinh tế, tổ chức quản lý và đươc điều chỉnh bởi quy chế doanh nghiệp chứ không phải bằng quyền lực của doanh nghiệp nhà nước, có tư cách pháp nhân công quyền như trước đây

Tuy rằng pháp luật thực định đã có một khung pháp lý cho việc tổ chức

và vận hành mô hình công ty mẹ-công ty con nhưng mới chỉ ở dạng khái quát

và zó phần còn chưa thật khách quan và đầy đủ Để một mô hình tổ chức mới

đươc hình thành và trở nên có hiệu quả thì rất cần thiết phải xem xét, dự báo các vấn đề đã và đang phát sinh trong việc chuyển đổi như những khó khăn tác

Trang 5

kể sẽ giúp chúng tôi nhận thức ở mức độ thấu đáo và toàn diện hơn Từ đó rút

ra được những bài học kinh nghiệm bổ ích đối với Việt nam

Với những ý nghía như trên, việc lựa chọn đề tài “Công ty mẹ-công ty con, mô hình tập đoàn kinh doanh theo pháp luật Việt nam và kinh nghiệm của cộng hoà Pháp” thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty mẹ-công ty con đã được nhiều luật gia cũng như nhà kinh tế quan tâm Mỗi công trình bài viết đi sâu vào một vấn đề, một khía cạnh của việc chuyển đổi Nhưng từ trước

và sau khi luật doanh nghiệp nhà nước sửa đổi được ihông qua chưa có công trình nào nghiên cứu về mô hình mới này thông qua những quy đinh cu thể của luật hiện hành

Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên, kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi đã chọn việc nghiên cứu đề tài “ Công ty mẹ- công ty con, mô hình tập đoàn kinh doanh của Việt nam và kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp” làm luận văn tốt nghiệp Cao học luật Việt-Pháp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu đề tài trên sẽ góp phần luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc điều chỉnh mô hình công tv mẹ-công ty con ở Việt nam làm tăng nhận thức của bản thân Luận văn còn có giá trị tham khảo cho sinh viên, luật gia và các nhà quản lý Trên cơ sở đối chiếu, so sánh và tham khảo kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp chúng tôi chỉ ra điều kiện hình thành và triển khai

Trang 6

mô hình liên kết này ở Việt nam, đưa ra được các kiến nghị nhàm hiện thực hóa cho việc chuyển đổi.

Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là :

- Nghiên cứu một cách khái quát lịch sử hình thành tập đoàn kinh doanh, bản chất của mối liên kết công ty mẹ-công ty con ở các nước trên thế giới và những quan điểm của Việt nam đối với việc xây dựng mô hình công ty

mẹ - công ty con

- Tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi nhất định đối với việc áp dụng

mô hình mới trong hoàn cảnh kinh tế và xã hội Việt nam

- Nghiên cứu về việc điều chỉnh pháp luật hiện hành về công ty mẹ - công ty con đồng thời cũng vạch ra được những bất cập liên quan tới cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành, quan hệ sở hữu, tư cách pháp nhân và quan hệ giao dịch, hình thành những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần chuyển đổi tổng công ty nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con một cách có hiêu quả

- Nghiên cứu những kinh nghiệm điều chỉnh pháp lý đối với mô hình công ty mẹ-công ty con của Cộng hòa Pháp và rút ra những bài học bổ ích đối với Việt nam

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài “công ty mẹ - công ty con mô hình tập đoàn kinh doanh theo pháp luật Việt nam và kinh nghiêm của Cộng hòa Pháp” là một đề tài rộng bao gồm nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần xem xét Với thời gian có hạn

và kinh nghiệm thực tiễn còn ít, trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi chỉ

đề cập tới những khía cạnh pháp lý cơ bản khái quát nhất xung quanh việc tổ chức quản lý, quan hệ sở hữu, tư cách pháp nhân của tổng công nhà nước thực

Trang 7

hiện việc chuyển đổi mà không đi sâu nghiên cứu các vấn đề khác như: Chế

độ kế toán, kiểm toán, chứng khoán,

Đặc biệt khi tham khảo kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp, chúng tôi chí tập trung nghiên cứu những qui định của luật thực định mà không tìm hiểu các vấn đề của luật Cộng đồng chung Châu âu v ề vấn đề này, chúng tôi còn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài liệu tham khảo cho nên sẽ có thể không đạt được

sự so sánh trọn vẹn

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tiếp cận thông qua cơ sở lý luận, suy đoán những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn đời sống pháp lý của các tổng công ty nhà nước và hệ thống pháp luật thực định Chúng tôi vận dụng phương pháp logic để luận giải, làm rõ được lý luận CƯ bản những đặc trưng của mô hình công ty mẹ, công ty con trên thế giới Áp dụng phương pháp phân tích, tổng họp, so sánh dẫn chiếu tới kinh nghiệm nước ngoài, tìm ra những điểm hợp lý có thể áp dụng ở Việt nam và hình thành những kiến nghị nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối các tổng công ty nhà nước hiện nay

6 Bô cục của luận văn

Luận văn gồm 3 phần : Phần mở đầu, phần nội dung gồm có 3 chương, phần kết luận, phẩn danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 8

Chương I NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN ĐIỂU CHỈNH PHÁP LÝ

ĐỐI VỚI MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON

1.1 Khái quát về các mô hình tập đoàn kinh doanh

1.1.1 Mô hình tập đoàn kinh doanh trên thế giới

Mô hình tập đoàn kinh doanh trên thế giới đã ra đời, tồn tại và phát triển từ lâu trong lịch sử của nền kinh tế thế giới Vào cuối thế kỷ XIX, sự tập trung liên kết giữa các doanh nghiệp diễn ra và kết quả đã tạo ra những tổ chức kinh tế có quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh

Con đường hình thành tập đoàn kinh doanh ở các nước tư bản trên thế giới đã trải qua có liên quan tới chiến dịch phát triển các doanh nghiệp Khi mà doanh nghiệp phát triển mử rộng thì người quản lý các doanh nghiệp sẽ tiến hành lựa chọn một trong hai khả năng: Hoặc là giữ nguyên mô hình công ty đôc lâp và thành lâp các chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc thành lập các công ly con đặc biệt có quyền tự chủ pháp

lý riêng nhưng lại đặt dưới sự kiểm soát của công ty mẹ

Tương tự cũng có trường hợp các doanh nghiệp muốn tập trung và bổ sung lẫn nhau để tăng khả năng cạnh tranh Họ phải lựa chọn hoặc là việc sáp nhập sẽ làm xuất hiện một trong số các doanh nghiệp với vai trò là công ty thu hút các công ty khác trở thành nhà máy, hãng của nó hoặc là việc gọi vốn đầu tư của một công ty sẽ làm cho nó bị đặt dưới sự kiểm soát của một công ty khác Hai lựa chọn này cho phép hình thành nên tập đoàn kinh doanh với nghĩa chung nhất [41, t r l 3]

Dù có sự khác biệt về địa lý ở Mỹ, ở Châu âu hay ở Nhật bản nhưng việc hình thành và phát triển tập đoàn kinh doanh trong những thập kỷ trước đây đều do có những yếu tố phát triển rất mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, đó

Trang 9

là sự liên tục cải tiến về khoa học kỹ thuật bao gồm công nghệ vận tải, thông tin, công nghiệp đã dẫn đến sự thay đổi về quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm Sản xuất kinh doanh không còn mang tính manh mún, rời rạc mà đi vào hợp tác, xã hội hoá, và sở hữu không còn là sở hữu cá thể nữa mà là sở hữu hỗn hợp Các doanh nghiệp phải tiến hành chuyên môn hoá hiệp tác hoá trong sản xuất kinh doanh để tích tụ, tập trung vốn, phân tán được rủi ro, tăng cường khả năng cạnh tranh Tập đoàn kinh doanh là sản phẩm của một phương thức liên kết kinh tế có hiệu quả cao giữa các doanh nghiệp với nhau để hình ihành mộl tổ hợp tác các doanh nghiệp lớn cho phù họp với sự phát triển đó Quy mô và phạm vi hoạt động của các tập đoàn kinh doanh tư bản ở giai đoạn đầu chỉ bó hẹp ở một khu vực, giai đoạn thứ hai phát triển ở cấp quốc gia rồi giai đoạn thứ ba đã vượt ra khỏi biên giới mỗi nước và tác động rất mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội, chính trị toàn cầu.

Trong những năm gần đây, tập đoàn kinh doanh xuất hiện ở các nước Đài loan, Hàn quốc dưới các hình thức liên doanh, liên kết nhằm tăng nhanh vốn, khả năng sản xuất, và khả năng chuyển giao công nghệ ra nước ngoài, tăng khả năng cạnh tranh chống lại nguy cơ bị các công ty nước ngoài thôn tính Sự tập trung hóa tư bản dưới dạng sáp nhập nhiều công ty được thực hiện với một tốc độ nhanh hơn hẳn so với các nước trước đây Tuy nhiên chủ yếu vẫn được thực hiện dưới hình thức mua bán cổ phiếu Còn ở những nước phát triển thì có xu hướng thu hút cả những doanh nghiệp độc lập (chứ không phải

là liên doanh) thuộc nhiều quốc gia, đặc biệt là các công ty của các nước đang phát triển làm vệ tinh, đại lý, cung cấp bán thành phẩm, gia công hoặc phân phối, tiêu thụ sản phẩm cho họ

Tập đoàn kinh doanh là hình thức tổ chức tiên tiêh đại diện cho trình

độ phát triển cao của lực lượng sản xuất và nền kinh tế-xã hội, tập đoàn kinh doanh trở thành một hình thức phổ biến, đóng vai trò chi phối và tác động

Trang 10

mạnh m ẽ tới toàn bộ nền kinh tế ở nhiều nước trong giai đoạn hiện nay [17,

trỏ]

Xét về mặt lịch sử cho thấy các tập đoàn kinh doanh trên thế giới ra đời là nhằm mục đích:

- Thứ nhất, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Tùy theo mức độ phát triển mạnh hay yếu, hoạt động của từng tập đoàn từ chỗ chỉ có động cơ phòng thủ đã chuyển sang hướng tích cực dẫn đến chi phối thị trường, thâu tóm hoạt động của các công ty khác Tập đoàn kinh doanh thu hút khách hàng trên nhiều lĩnh vực, thực hiện được nhiều dự án đòi hỏi vốn đầu tư lớn, liên tục thay đổi công nghệ, thị trường, phương thức quản lý, ngày càng đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của nền kinh tế năng động

- Thứ hai; nhằm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Tập đoàn kinh

doanh bao gồm nhiều công ty liên kết với nhau nên rủi ro sẽ được san xẻ Trong cùng một tập đoàn, lợi nhuận của ngành kinh doanh có lãi sẽ bù lỗ cho những ngành kém hiệu quả và khó khăn ở khu vực này sẽ được bù đắp bởi những thuận lợi ở khu vực khác Sự tồn tại của tập đoàn kinh doanh được bảo toàn, nhanh chóng khắc phục những trở ngại đảm bảo sự phát triển liên tục xuyên suốt, thậm chí một công ty thuộc tập đoàn có thể bị phá sản, giải thể nhưng bản thân tập đoàn vẫn tồn tại

- Thứ ba, nhằm chuyên môn hoá và họp tác hoá Tập đoàn kinh doanh là

một lực lượng quan trọng trong vấn đề phân công lao động, khác với công trường thủ công mà được nâng lên một nấc thang mới Tập đoàn kinh doanh phát triển và duy trì hoạt động kinh doanh một cách khép kín, đầu tư một cách nhất quán Quy trình công nghệ phân chia thành từng công đoạn, mỗi công đoạn do từng chi nhánh đảm nhiệm, tuỳ theo chức năng nhiệm vụ Không những thế, trong quá trình liên kết, các doanh nghiệp trong tập đoàn kinh doanh còn tạo ra tính phụ thuộc lẫn nhau làm tăng quá trình hợp tác hóa Tập

Trang 11

đoàn kinh doanh có thể hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực bổ sung hỗ trợ nhau

lừ đầu tư tài chính, quảng cáo, tư vấn, sản xuất đến dịch vụ Điều này cho phép tập đoàn kinh doanh tiết kiệm đầu tư, chi phí, tận dụng hết các thế mạnh Ngoài ra còn góp phần quan trọng trong việc tổ chức, cơ cấu lại nền sản xuất, giảm bớt sức lao động thừa thãi, giúp cho sự sáng tạo, dần dần hình thành nên những cải tiến kỹ thuật

- Thứ tư, nhằm nhu cầu nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công

nghệ Đây là những đòi hỏi khách quan trong quá trình phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Tập đoàn kinh doanh thực hiện được việc này vì có sự tập trung vốn từ nhiều nguồn khác nhau Trong khi các doanh nghiệp đơn lẻ khó đủ sức đầu tư vì chi phí cho nó rất lớn, hơn nữa không phải việc nghiên cứu nào cũng mạng lại ngay kết quả Các tập đoàn kinh doanh sẽ khám phá, nắm bắt tiến bộ khoa học công nghệ và có khả năng khẳng định vị thế chi phối toàn ngành Đây cũng là lý do mà một tập đoàn kinh doanh hoạt động trên nhiều lĩnh vực nhưng bao giờ cũng có những ngành mũi nhọn, then chốt

- Thứ năm, nhàm tối đa hoá lọi nh u ận , giành ưu thê trong sán xuất và

tiêu thụ sản phẩm , chiếm lĩnh được thị trường Đây là mong muốn thường trực của các doanh nghiệp Việc thực hiện thường do một doanh nghiệp thành lập các công ty con xung quanh nó để chiếm lĩnh thị trường mới hoặc thôn tính, sáp nhập các công ty khác và cuối cùng sẽ dẫn tới hàng trăm, hàng ngàn công ty phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào công ty mẹ Để có một động cơ như vậy tập đoàn kinh doanh phải có kế hoạch chiến lược, thậm chí phải chịu

Con đường hình thành tập đoàn kinh doanh ở các nước là tự nhiên như vậy Tập đoàn kinh doanh ra đời vừa chịu sức ép của cơ chế thị trường nhưng

ở khía cạnh nào đó cũng là một nhu cầu thiết thực của bản thân các doanh nghiệp Mọi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì sớm hay muộn

Trang 12

nhu cẩu liên kết hình thành tập đoàn cũng xuất hiện bởi vì tập đoàn kinh doanh ra đời phù hợp với quy luật khách quan, đó là:

Quy luật tích tụ tập trung vốn sản xuất, vốn kinh doanh Trong cơ chế thị

trường, doanh nghiệp muốn tồn tại phải luôn luôn mở rộng, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh Công việc này đòi hỏi phải tập trung vốn: Vốn từ đóng góp của các thành viên, vốn từ lợi nhuận mang lại, vốn từ đi vay, liên doanh liên kết, từ gọi vốn đầu tư tất yếu dẫn tới sự sáp nhập, sự thôn tính lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Trong quá trình vận động khách quan như vậy tập đoàn kinh doanh được ra đời và phát triển

Quy luật cạnh tranh Là một quy luật diễn ra không bao giờ có điểm

dừng, các doanh nghiệp luôn phải đấu tranh để dành ưu thế về sản phẩm, thị trường, giá cả, kết quả có sự thôn tính, thâm nhập lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, hình thành những doanh nghiệp mở rộng về quy

mô và về vốn, đó chính là các tập đoàn kinh doanh

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp vói tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất Tập đoàn kinh doanh là biểu hiện của quan

hệ sản xuất ra đời do sự phát triển của trình độ khoa học kỹ thuật Khi trình độ khoa học kỹ thuật phát triển thì quy mô của sản xuất cũng tăng theo, những mối liên kết và hợp tác quốc tế được hình thành trong đó có

sự phân công lao động sâu sắc, nền sản xuất từ manh mún rời rạc, sở hữu từ cá thể chuyển sang nền sản xuất lớn và sở hữu hỗn hợp Tập đoàn kinh doanh là sản phẩm tất yếu đáp ứng quá trình phát triển đó [17, tr31,32,33]

Từ những nhận định chung về thực tiễn của các tập đoàn kinh doanh trên thế giới cho phép chúng ta có thể rút ra được những đặc trưng cơ bản nhất

và khái niệm của tập đoàn như sau:

Đặc điểm của tập đoàn kinh doanh

Trang 13

- V ề phạm vi hoạt động, tập đoàn kinh doanh là một tổ hợp các doanh

nghiệp có quy mô rất lớn về vốn, thị trường, lao động Phạm vi hoạt động của

tập đoàn rất rộng, không chỉ trên phạm vi một quốc gia mà có tập đoàn đã có

hàng trăm cơ sở hoạt động ở nhiều quốc gia làm tăng cường hợp tác và phân

công quốc tế Với quy mô vốn lớn, nhiều lao động có chất lượng cao, áp dụng

tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại về giao thông vận tải, thông tin

liên lạc Các tập đoàn đã nâng cao được trình độ xã hội hoá sản xuất và trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất thông qua việc phân công lao động như

Ihành lập các đơn vị sản xuất, đơn vị kinh doanh, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm,

Tập đoàn kinh doanh dơn ngành hoặc đa ngành, phát triển từ đơn ngành

lên đa ngành là xu hướng hiện nay để tận dụng khả năng lao động, địa bàn

hoạt động, tiết kiệm chi phí tạo thế mạnh trong cạnh tranh Chiến lược về

sán phẩm, đầu tư sản xuất liên tục thay đổi nhưng đều có định hướng ngành

chủ đạo Bên cạnh sản xuất, tiêu ihụ sản phẩm còn có ngàn hàng, bảo hiểm,

lài chính, trung tâm nghiên cứu khoa hoc đào tao trong đổ các tổ chức tài

chính ngân hàng và nghiên cứu ứng dụng ngày càng được chú ý hơn để thực

hiện việc đầu tư vốn có hiệu quả đảm bảo các chiến lược đặt ra với cả tập

đoàn

- Về cơ cấu tổ chức của tập đoàn có nhiều hình thức đa dạng, tuỳ thuộc vào thời kỳ phát triển, đặc điểm kinh tế xã hội và đặc trưng của từng tập đoàn

Tập đoàn kinh doanh là một hình thức liên kết nhiều công ty hoạt động trong

các lĩnh vực và địa bàn khác nhau nhưng đều dưới sự kiểm soát chung thống

nhất Tập đoàn thu hút, điều hoà vốn, nghiên cứu áp dụng, xây dựng chiến

lược sản xuất kinh doanh Tập đoàn là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng

kinh doanh như một doanh nghiệp, vừa có chức năng liên kết kinh tế

Trang 14

Nghiên cứu về liên kết kinh tế cho thấy đây là cơ sử để hình thành nên tập đoàn Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp nhằm phối hựp hoạt động vì mục đích chung: Giảm bớt thua thiệt trong cạnh tranh, 2;iảm bớt chi phí nghiên cứu và giao dịch, trao đổi kinh nghiệm và thông tin, mở rộng phạm vi, Sự liên kết trong các tập đoàn kinh doanh rất linh hoạt, đa dạng về tính chất, mức độ liên kết Không có hình mẫu liên kết nào là vượt trội, mỗi loại liên kết là đặc thù của từng tập đoàn kinh doanh, nó phản ánh nhu cầu của các thành viên, mức độ cạnh tranh của nền kinh tế, môi trường kinh doanh nơi tập đoàn hoạt động Cho đến nay trên thế giới đã tồn tại rất nhiều loại tập đoàn kinh doanh với các tên gọi khác nhau như Trust, Cartel, Synclicat,

C oncem , Mỗi loại hình có các doanh nghiệp thành viên liên kết với nhau theo các kiểu khác nhau

Liên kết chặt chẽ hay còn gọi là liên kết cứng mà xuất phát là hình thức Trust ở Mỹ Gọi là cứng vì quan hệ trên cơ sử quan hệ sở hữu vốn điều

lệ đối với các công ty con Hai hình thức chủ yếu của Trust là sỏ hữu cổ phần chi phối ở doanh nghiệp và hợp nhất các doanh nghiệp.Trong tập đoàn kiểu này thì các công ty thành viên kết hợp với nhau trong một tổ chức thống nhất và mất đi quyền tự chủ về sản xuất, tài chính, thương mại Việc Ihành lập Trust tạo ra tập đoàn lũng đoạn thu lợi nhuận cao, giành nguồn nguyên liệu và khu vực đầu tư

Liên kết kinh tế thông qua những hiệp ước hay còn gọi là liên kết mềm, xuất phát từ Châu âu (đặc biệt là ở Đức ở thế kỷ 19) được biết đến như Cartel và Syndicat Trong đó các công ty thành viên độc lập ký kết họp đồng thỏa thuận với nhau để phân định thị trường tiêu thụ, quy định giá

cả, chuyên môn hóa sản phẩm dẫn đến độc quyền, hạn chế cạnh tranh (Cartel) hoặc thoả thuận về giá nguyên liệu cung ứng, lượng sản phẩm tiêu thụ qua một văn phòng thương mại chung điều hành (Syndicat)

Trang 15

Với nhu cầu chống độc quyền nên các nước đã cho ra đời luật cạnh tranh hạn chế các hình thức trên nên các tập đoàn cũng có biến dạng đôi khi là dung hòa cả hai loại trong cùng một tập đoàn [23, trl,2].

Loại liên kết thứ ba xác lập sự thống nhất giữa các công ty thành viên qua thỏa thuận hình thành một công ty tài chính chung Công ty này trở thành công ty mẹ (công ty cổ phần) của tập đoàn kinh doanh, sẽ xây dựng các chiến lược đầu tư rót nguồn tài chính vào các công ty con Các công ty thành viên giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý hợp tác với nhau trong sản xuất kinh doanh, trao đổi sáng kiến và có hệ thống tài chính chung (Concem) Liên kết tài chính này tạo ra một khả năng đầu

tư vào nhiều lĩnh vực để phân tán rủi ro, nghiên cứu khoa học ứng dụng phục vụ chung cho cả tập đoàn, và cũng bởi vậy nên việc kiểm tra tài chính rất chặt chẽ trong việc đầu tư vào các công ty con và huy động vốn từ chúng [17, tr22]

Với các hình thức liên kết khác nhau, phương thức phát triển khác nhau Việc hình thành các tập đoàn trên thê giới là quá trình phat triển tự nhiên của nền kinh tế thị trường, không hề có sự bắt buộc hành chính nào Nếu là tập đoàn cứng thì dựa trên góp vốn cổ phần, chuyển đổi cổ phần, mua lại doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp để tạo ra mối quan hệ công ty mẹ-công ty con Nếu là tập đoàn mềm thì dựa trên hiệp ước kinh tế

Theo nhận định của tác giả thì cho dù liên kết dưới các kiểu khác nhau thì thành viên trong tập đoàn kinh doanh đều có mối liên hệ trong khuôn khổ kiểm soát chung của cả tập đoàn Mối quan hệ p h ổ biến trong các tập đoàn là quan hệ kiểu công lỵ mẹ-công ty con Các thành viên trong tập đoàn là công

ty con chịu sự kiểm soát của một công ty là công ty mẹ.

Về quan hệ sở hữu, thông thường các tập đoàn kinh doanh thuộc sở hữu hỗn hợp (dưới hình thức công ty cổ phần) trong đó có vốn của nhà nước, của

Trang 16

các doanh nghiệp, tổ chức tài chính, các cá nhân trong và ngoài nước hoặc của gia đình (tập đoàn gia đình ở Hàn quốc) và cùng có thể là của một chủ là công

ty mẹ nhưng rất ít gặp

Quá trình mở rộng quy mô của tập đoàn trong quá trình phát triển thường gắn liền với quá trình thay đổi cơ cấu sở hữu Phần lớn các tập đoàn trên thế giới hiện nay có nguồn gốc từ những công ty sở hữu gia đình hay sở hữu tư nhân Ngày nay, hầu hết các tập đoàn lớn đều là những công ty cổ phần bởi vì hình thức công ty cổ phần cho phép dễ dàng huy động vốn, mở rộng hoạt động của tập đoàn để tăng khả năng cạnh tranh, phân tán rủi ro [17, tr5]

Tuy nhiên, ở nhiều nước tồn tại những tập đoàn kinh doanh nhà nước hoặc do nhà nước giữ cổ phần chi phối hoạt động trong các lĩnh vực an ninh, bảo đảm các dịch vụ cho dân như điện, khí đốt, viễn thông, dầu khí, cấp thoát nước, giao thông vận tải ví dụ như Egat của Thái lan, Air France của CH Pháp, BP của Anh

Đa số các tập đoàn được tổ chức theo mồ hình công ty mẹ-công ty con Công ly mẹ đóng vai trò đầu đàn, công ty mẹ đầu tư và sở hữu toàn bộ hoặc có

số vốn giữ tỷ lệ chi phối trong những công ty khác gọi là công ty con của tập đoàn Mức chi phối là mức vốn trên 50% hoặc thậm chí ở mức thấp hơn nhưng theo quy định của điều lệ công ty thì cá nhân tổ chức đó đủ quyền để chi phối các quyết định quan trọng của công ty Những công ty mà công ty mẹ tham gia góp vốn nhưng chưa đủ tỷ lệ chi phối thì được gọi là công ty liên kết Vốn điều lệ của công ty mẹ bao gồm không chỉ số vốn thuộc sở hữu của chính nó đang sử dụng trực tiếp trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà gồm cả toàn

bộ số vốn do công ty mẹ sở hữu ở công ty con, vốn cổ phần hoặc phần vốn góp của công ty mẹ vào các liên doanh và vào các công ty khác

Trang 17

Công ty mẹ thực hiện việc định hướng, điều phối hoạt động và quyết định các vấn đề quan trọng về nhân sự và sản xuất kinh doanh của công ty con theo chiến lược chung của cả tập đoàn.Tập đoàn không chỉ có hai tầng liên kết mẹ-con mà có thêm các tầng liên kết con, cháu, chắt không giới hạn, phần lớn công ty con cháu mang họ của công ty mẹ

Trong tập đoàn thì quan hệ sở hữu về vốn là quan hệ nòng cốt chi phối các quan hệ khác Bằng cách nắm giữ cổ phần chi phối các doanh nghiệp trong tập đoàn công ty mẹ sẽ nắm quyền lãnh đạo, đưa ra các quyết định quan trọng về nhân lực, chiến lược sản xuất kinh doanh, đầu tư sản phẩm Mức độ kiểm soát của công ty mẹ rất khác nhau đối với các công ty con, tuy thuộc vào mức độ vốn của công ty mẹ bỏ vào đó hay nói cách khác sự can thiệp của công ty mẹ dựa trên sự can thiệp của nền dân chú cổ phần

Về quản trị điều hành, các công ty trong tập đoàn là các pháp nhân độc lạp Công ty mẹ, công ty thành viên được thành lạp và hoạt động theo luật công ty và các luật khác có liên quan của nước mà mỗi công ty đóng trụ sở

Trong tập đoàn kinh doanh bao giờ cũng có một cồng ty mẹ, công ly này tiến hành đầu tư vốn vào công ty con và chi phối các công ty con Bản thân mỗi công ty con đều hạch toán độc lập so với công ty mẹ và có một bộ máy quản lý, điều hành như bất cứ một công ty cổ phần nào gồm Hội đồng quản trị, Giám đốc và bộ máy điều hành tác nghiệp trực thuộc Giám đốc

Bộ máy điều hành của tập đoàn kinh doanh nằm trong công ty mẹ Bộ máy điều hành chỉ kiểm soát về mặt tài chính, chiến lược đầu tư, điều phối còn các thành viên hoàn toàn tự chủ trong các hoạt động của mình trong sự kết hợp hài hòa với chiến lược chung của tập đoàn Công ty mẹ chỉ tác động vào còng ty con thông qua người đại diện của công ty mẹ trong Hội đồng quản trị của công ty con và theo điều lệ công ty con Mức độ ảnh hưởng của người đại diện này tuỳ theo tỷ lệ vốn góp của công ty mẹ ở công ty con Tuy nhiên,

Trang 18

thông qua Hội đồng quản trị của công ty con (mà thành viên chú chốt hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị là người của công ty mẹ cử ra), công ty mẹ hoàn toàn có khả năng định hướng và chi phối hoạt động của công ty con Hằng năm quyền lợi kinh tế của công ty mẹ được đảm bảo thông qua chế độ phân chia lợi nhuận theo cổ phần (hay là được đảm bảo theo phần vốn góp)

Cuối cùng không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước trong việc hình thành và duy trì hoạt động của Tập đoàn kinh doanh được Theo Tiến sỹ Trần

Tiến Cường thuộc Viện nghiên cứu quản lý Trung ương thì do có sự thống nhất nhất định trong quan hệ quyền ìực kinh t ế và quyền lực chính Irị, các tập đoàn lớn thường cố quan hệ mật thiết với các lực lương chính trị ở những nước

mà nó hoại động Các tập đoàn thường được Nhà nước và các lực lượng chính trị hỗ trợ trong các hoạt động kinh cloanh của mình và ngược lại chúng cũng

là chỗ dựa về mặt kinh t ế cho những lực lượng chính trị-xã hội nhất đinh, hỗ trợ tài chính cho các lực lượng này hoạt động [24, tr9,10J.

Nhà nước bằng các biện pháp như ban hành pháp luật bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền khuyến khích các loại hình doanh nghiệp cùng hoạt động; tài trợ về tài chính cho các nơành khó khăn; đưa ra các chính sách định hưứng phát triển tập đoàn bảo vệ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của nước ngoài Tuy nhiên sự tác động này ở các nước lại rất khác nhau,

ở Mỹ chi coi đó là chất xúc tác chứ khồng chi phối hoạt động của các lập đoàn

đó Ngược lại Nhật bản lại tác động rất sâu vào phương hướng, chiến lược và hành động của các tập đoàn

Khái niệm tập đoàn kinh doanh

Mặc dù tập đoàn kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nhưng chưa có một hình mẫu chung về tập đoàn kinh doanh Nói đến nó thường có những nhận thức chưa thống nhất do sự khác nhau về con đường hình thành, về điều chỉnh pháp lý, về tư cách pháp nhân Có tập đoàn ra đời do

Trang 19

thỏa thuận kinh tế giữa các công ty trong đó có một công ty mẹ chi phối, nhưng các công ty khác vẫn có quyền tự chủ pháp lý Có tập đoàn lại thành lập trên cơ sở các thành viên thoả thuận thành lập một công ty tài chính, công ty này giữ vai trò chỉ đạo Nhưng cũng có tập đoàn dựa trên cơ sở sáp nhập, hoạt động như một pháp nhân kinh tế

Về tư cách pháp nhân, hầu như các nước đều quan niệm tập đoàn kinh

tế là một chủ thể kinh tế hơn là pháp lý, không có tư cách pháp nhân, không đăng ký kinh doanh đối với cả tập đoàn mà chỉ đăng ký kinh doanh đối với

từng doanh nghiệp trong tập đoàn Ngược lại, có ý kiến lại cho rằng tập đoàn kinh doanh là pháp nhân kinh t ế do nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ về sản xuất, kinh doanh dịch vụ [17, trố].

Tuy nhiên dù chưa có định nghĩa chính thống về tập đoàn kinh tế thì cũng rất cần có nhận thức để nhận dạng những đặc điểm chung nhất về tập đoàn kinh tế, khái quát được bản chất của tập đoàn, cái quan hệ cốt lõi tạo nên tập đoàn, để từ đó có thể thay đổi nhận thức và sau đó là thay đổi cách thức tổ chức doanh nghiệp thành tập đoàn [24, lr4 ]

Theo tác giả, Tập đoàn kinh doanh là tập hợp những doanh nghiệp độc lập về pháp lý hoạt động trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia, liên kết với nhau bằng hợp đồng, tài chính, công nghệ, thị trường và các liên kết khác cho phép một công ty trong số đố (gọi là công ty mẹ) lãnh đạo, chi phối, quản lý chung thống nhất các công ly còn lại (gọi ì à công ty con).

Hiện nay trên thế giới, vấn đề điều chỉnh pháp lý đối với tập đoàn kinh doanh chưa được cụ thể hoá Hầu như ở các nước đều ghi nhận sự ảnh hưởng của tập đoàn kinh doanh tới nền kinh tế nhưng lại chưa có một chế định pháp luật cụ thể dành riêng cho nó mà được thực hiện qua những qui định mang

Trang 20

tính chính sách, chính trị (chủ yếu bằng việc hình thành những nguyên tắc hoạt động).

Ở Pháp hiện nay không có luật dành riêng cho việc điều chỉnh tập đoàn kinh doanh nhưng cơ quan lập pháp đã cố gắng tạo ra các công cụ pháp

lý dành cho việc hình thành tập đoàn kinh doanh Đầu tiên họ đề nghị một giải pháp hợp tác kinh tế để thành lập ra tập đoàn lợi ích kinh tế (lệnh số 67-821 ngày 23/9/1967 về việc thành lập tập đoàn lợi ích kinh tế) Sau đó, khi chấp nhận tính hợp pháp của nguyên tắc một cổ đông duy nhất trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và trong công ly cổ phần đơn giản một thành viên, thì họ cho phép hình thành công ty con 100% vốn của công ty mẹ Loại hình công ty con này ra đời

là một thành công lớn trong thực tế bởi vì nó cho phốp loại trừ những nguy cơ về tranh chấp của cổ đông thiểu số Các nhà lập pháp tiếp theo còn can thiệp vào nhiều vấn đề soạn thảo nữa nhưng những biện pháp chỉ mạng lại sự phức tạp và không hiệu quả Ngoại trừ, luật công ty, luật

kế toán, luật tài chính, luật lao động và luật cạnh tranh có những diều khoản ít nhiều cũng điều chính trực tiếp tới tập đoàn kinh doanh [43, tr 822& 823 ]

Luật Cộng hoà Pháp về tập đoàn kinh doanh được kết cấu vụn vặt mà muốn hiểu nó đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều lĩnh vực Mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng cho tới nay vẫn chưa có luật tập đoàn Trong khi thông qua luật công ty thương mại, Chính phú Pháp đã tuyên bố dự định đệ trình lên Quốc hội một dự thảo luật tập đoàn nhưng sau tuyên bố đó chưa hề có thêm kết quả gì

Luật của Đức đã dành một phần trong luật về công ty c ổ phần để điều chỉnh về quan hệ công ty mẹ - công ty con ở Châu âu kể từ ngày 1-1-2004, đã đưa ra các nguyên tắc dành cho tập đoàn kinh doanh là thành viên liên minh

C iâu âu (có 25 quốc gia đều áp dụng chung nguyên tắc này), về các vấn đề

r thữvỉen ~~~

Ị TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NÔỈ ' PHÒNG DỌC — -

Trang 21

Theo nhận thức chung về thực tiễn hoạt động của tập đoàn, Công ty mẹ thường được gọi là "Holding" - thuật ngữ xuất phát từ tiếng Anh có nghĩa là cầm, nắm, chiếm giữ Công ty Holding là một thực thể pháp lý, nắm giữ cổ phần kiểm soát một hay nhiều công ty khác Công ty con là công ty có từ 50% đến 100% vốn do công ty mẹ đầu tư, hoặc có tỷ lệ thấp hơn nhưng công ty mẹ giữ quyền chi phối hoạt động.

Về vấn đề này luật của Pháp chỉ đưa ra định nghĩa về công ty con Điều

354 luật 27/7/1966 qui định : khi một công ty có một nửa số vốn hoặc nhiều hơn thuộc sở hữu của một công ty khác thì gọi công ty này là công ly con của công ty đó Còn trường hợp sở hữu từ 10% đến 50% thì gọi là công ty "liên kết" (Điều 355 luật 27/7/1966) Như vậy luật của Pháp đã đưa ra một khái niệm công ty con có đặc điểm thuần túy toán học dựa trên sở hữu hơn một nửa

số vốn và không đưa ra một khái niệm thực sự về công ty mẹ Theo một học thuyết của Pháp, công ty mẹ được coi là công ty có quyền kiểm soát công ty khác và cho phép nó đươc tập trung quyền quyết định Khái niệm kiểm soát lại được định nghĩa tại Đ355-1 luật 27/7/1966: Một công ty được coi là kiểm soát một công ty khác khi chỉ có nó có quyền đa số phiếu trong công ty này, căn cứ vào hiệp định ký kết với các thành viên và cổ đông khác và không đi ngược lại lợi ích công ty

Trang 22

Tuy nhiên các quy dịnh này cũng chưa đủ để định nghĩa tập đoàn kinh doanh Tập đoàn kinh doanh là một cụm từ không có trong luật, nó chỉ là mối quan hê giữa công ty mẹ và công ty con Tập đoàn kinh doanh không có tư cách pháp nhân và do đó không phải là một chủ thể pháp lý Trong khi đó các cône ty thành viên lại là nhữno pháp nhân riêng biệt, có quyền tự chủ pháp lý

Trên đây là toàn bộ khung cảnh về tập đoàn mang đến cho chúng ta những nhận xét về những ưu thế và những hạn chế của tập đoàn kinh doanh theo mô hình công ty mẹ-công ty con như sau:

Về ưu thế của tập đoàn kinh doanh iheo mô hình này thể hiện ở chỗ:

- Địa vị pháp lý của công ty mẹ cũng như công ty con có tính độc lập,

do đó các công ty trong tập đoàn phát huy được sáng tạo quyền tự chủ tự do dịnh đoạt để giải quyết nhanh hơn các vấn đổ ở công ty.Công ty con khi tham gia hợp đổng đàm phán có vị thế cao hơn, mạnh hơn trong khi hoạt động ở thị trường

- Hình thành tập đoàn làm tăng cường khả năng cạnh tranh, phàn tán rủi ro

- Tận dụng được năng lực dư thừa tương đối

- Chiếm lĩnh, mở rộng và củng cố thị trường

- Tăng cường chuyên môn hoá và hợp tác hoá

- Thúc đẩy việc cải tiến kỹ thuật, chuyển giao khoa học công nghệ

- Thu được nhiều lợi nhuận hơn

Hạn thế của tập đoàn kinh doanh theo mô hình này thể hiện ở chỗ:

- Tập đoàn để lại mặt trái là độc quyền, lũng đoạn cản trở tới môitrường kinh doanh

Trang 23

Do tính độc lập tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên các công ty còn có thể cạnh tranh lẫn nhau tổn hại đến lợi ích chung của toàn tập đoàn.

- Công ty con có thể bị phụ thuộc vào công ty lớn hơn, sẽ là bất lợi nếu theo đuổi các mục đích khác với mục đích của tập đoàn

- Việc quan tâm hơn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, đến nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật có thể sẽ dẫn tới nguy cơ mất việc làm của người lao động

So với các doanh nghiệp đơn lẻ, mô hình công ty mẹ-công ty con tuy có rất nhiều ưu thế vượt trội nhưng cũng chính từ sự liên kết đa dạng của nhiều doanh nghiệp thành viên làm cho nó hoạt động rất phức tạp, có nguy cơ vượt

ra ngoài khuôn khổ pháp luật Chính vì vậy khi xem xét mô hình kinh doanh ở Việt nam phải tính đến các yếu tố này để có những quy định luật cho phù hợp đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ nhưng không làm ảnh hưởng tới tính hiệu quả của mô hình này

1.1.2 Mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt nam

Tronơ các quy định luật Việt nam có một hình thức ít nhiều mang dáng dấp của các tập đoàn kinh tế là mô hình tổng công ty nhà nước được điều chỉnh trong luật doanh nghiệp nhà nước Tổng công ty nhà nước giống tập đoàn kinh doanh ở chỗ chúng đều là tạp hợp các doanh nghiệp có liên hệ với nhau về công nghệ, về ngành nghề, về kinh tế Nhưng hiện nay vẫn còn một

số tồn tại làm hạn chế sự phát triển của mô hình tổng công ty theo hướng tập đoàn kinh doanh

Tổng công ty nhà nước đầu tiên đã ra đời có tên gọi là liên hiệp các xí nghiệp (theo Nghị định 302/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 10/12/1978 về điều lệ xí nghiệp quốc doanh) Bao gồm các các xí nghiệp có liên hệ mật thiết

Trang 24

với nhau trong một ngành kinh tế kỹ thuật và là một cơ quan quản lv sản xuất kinh doanh Để quản lý, liên hiệp xí nghiệp đã tập trung khá cao các quyết định về phân bổ điều hòa vốn, tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên tính độc lập giữa các doanh nghiệp trong liên hiệp không nhiều và phải chịu sự chỉ đạo, kiểm tra chặt chẽ từ trung tâm, phù hợp với thời

kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung

Trong bối cảnh nhà nước thay đổi cơ chế quản lý từ kế hoạch hóa tập trung sang cư chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nghị định 27/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 22/3/1989 về đổi mới và sắp xếp lại các liên hiệp xí nghiệp được ban hành đã tạo hướng đi mới cho liên hiệp các xí nghiệp Quyền chủ động trong kinh doanh và tính tự chịu trách nhiệm được đề cao, các doanh nghiệp trở thành các chủ thể pháp lý có tính độc lập hơn so với trước Trong đó phân thành hai loại: Liên hiệp mềm bao gồm các xí nghiệp nhà nước tự nguyện thành lập nhằm mở rộng hợp tác, phân công sản xuất kinh doanh Liên hiệp được coi là công cụ của các xí nghiệp thành viên không phải

là CƯ quan cấp trên của các xí nghiệp thành viên Liên hiệp cứng bao gồm các

xí nghiệp trong cùng một ngành: Hàng không, đường sắt, điện lực, Liên hiệp

là cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của xí nghiệp thành viên, quản lý một cách tập trung Ihống nhất ở những nội dung cơ bản và có phân cấp ở mức độ nhất định cho các xí nghiệp thành viên

Những cải tiến này đã phần nào cải thiện được cơ cấu của liên hiệp các

xí nghiệp nhưng chưa đáp ứng được với cơ chế thị trường Việc quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất hành chính trung gian đã trở thành lực cản đối với sự tự chủ của các xí nghiệp có xu hướng muốn thoát ly khỏi liên hiệp các

xí nghiệp để trở thành các doanh nghiệp độc lập Trước thực tế đó quyết định

số 90/TTg ngày 7/3/1994 do Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nước trong đó có các tổng công ty nhà nước, nhằm xóa bỏ những hoạt động có tính chất hành chính trung gian, trả lại những

Trang 25

nhiệm vụ có tính quản lý nhà nước cho các cơ quan quản lý ngành, tạo điều kiện cho các tổng công ty thực sự là tổ chức kinh doanh lớn mạnh và được chính phủ phân cấp rộng rãi hơn quyền hạch toán theo nguyên tắc hai cấp, phát huy được vai trò chủ động của doanh nghiệp thành viên, vừa phát huy được vai trò liên kết, tập họp được sức mạnh tự chủ của tổng công ty.

Thực hiện chủ trương của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng về việc thành lập tập đoàn kinh doanh, ngày 7/3/1994 thủ tướng Chính phủ đã ra quvết định số 91/TTg về thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh Quyết định này nêu rõ mục tiêu của của việc thí điểm là tạo điều kiện thúc đẩy tích tụ và tập trung, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước

Như vậy, liên hiệp các xí nghiệp có điểm tưưng đưưng với tập đoàn kinh doanh ở chỗ chứng đều là liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp nhưng khác ở chỗ các doanh nghiệp thành viên không có quyền lự chủ pháp lý thực sự, liên hiệp xí nghiệp hoạt động như một cơ quan cấp trên trung gian của doanh nghiệp thành viên, điều hành các doanh nghiệp thành viên bàng quyết dinh hanh chính và chỉ tiêu pháp lệnh Hơn nữa liên hiệp xí nghiệp không có thực lực về tài chính, liên kết giữa các thành viên rời rạc vì thiếu những ảnh hưởng

về lợi ích kinh tế Còn tập đoàn kinh doanh hoạt động theo quy luật thị trường,

có mối quan hệ chi phối giữa công ty mẹ và công ty con theo sở hữu vốn rất chặt chẽ Trong tập đoàn có công ty tài chính điều hòa phân bổ vốn theo mụcđích hoạt động của tập đoàn

Việt nam đã có những tổng công ty lớn mạnh nhưng chưa thực sự làmột tập đoàn Tổng công ty nhà nước chia làm hai loại: Tổng công ty

90 là tổng công ty thành lập theo quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 (có

78 tổng công ty) và tổng công ty 91 là tổng công ty thành lập theo quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994 (có 17 tổng công ty) Các tổng công

Trang 26

ty này đều có sự đầu tư vốn của nhà nước rất lớn nhưng vẫn chưa đỏng được vai trò là trụ cột nền kinh tế [25].

Để tổ chức xắp xếp lại các tổng công ty nhà nước nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 3 (khoá IX) của Đảng Cộng sản Việt nam đã chỉ rõ: "

Hình thành một s ố tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong

đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hoá cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh t ế quốc dân, có quy mô lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học và công nghệ, đào tạo, nghiên cứii triển kliai với sản xuất kinh doanh " [6].

Cụ thể hoá những chủ trương, định hướng trong nghị quyết trung ương lần thứ 3 khóa IX và những văn kiện của Đảng đã được đề cập trước đó, Quốc hội đã ban hành luật doanh nghiệp nhà nước ngày 1/7/2004 có hiệu lực, trong

đó có đề cạp tới mô hình công ty mẹ-công ty con v ề lý luận chúng ta chưa thành thạo, kinh nghiệm thực tiễn chưa có nên mặc dù đã có một văn bản pháp

lý có hiệu lực điều chỉnh nhưng trong thực tế việc xây dựng mô hình công ty mẹ-công ty con vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục triển khai việc nghiên cứu

Quan sát sự phát triển của các tổng công ty nhà nước trên con đường hình thành tập đoàn kinh doanh cho thấy rõ ràng để nhằm tăng cường tiềm lực

và khả năng cạnh tranh và đạt được nhờ sự kết hợp giữa các doanh nghiệp đang hoạt động với nhau thành một thực thể có tiềm lực kinh tế lớn So với các tập đoàn trên thế giới nội lực của các doanh nghiệp Việt nam là rất hạn chế nên việc hình thành tập đoàn bằng tự tích luỹ là khó có thể đạt được Nhưng nhìn chung việc hình thành tập đoàn kinh doanh là hợp quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường

Trang 27

Tìm hiểu tập đoàn kinh doanh ở Việt nam cần làm rõ hơn Ihực trạng hoạt động của tổng công ty nhà nước ở Việt nam và nhu cầu hình thành tập đoàn kinh doanh.

1.2 Thực trạng hoạt động của tổng công ty nhà nước ở Việt nam và nhu cầu hình thành tập đoàn kinh doanh theo mô hình công ty mẹ - công ty con.

1.2.1 Những ưu thế của các tổng công ty nhà nước ở Việt nam

Trong những năm qua Nhà nước đã có nhiều chủ trương, nghị quyết, chính sách để phát triển các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh

tế tạo điều kiện cho quá trình lập nghiệp của nơười dân, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Bên cạnh đó đã hình thành những chiến lược

có tính đồng bộ vừa theo chiều rộng nhưng đặc biệt quan tâm tới đầu tư chiều sâu nên đã hình thành được một số tổng công ty nhà nước mạnh có thể làm điểm tựa xương sống để phát triển doanh nghiệp nhà nước khác tạo điều kiện khảng định vị trí vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thi trường

Trong quá trình hoạt động các tổng công ty đã từng bước thiết lập các mối quan hệ về vốn, đầu tư vốn giữa các doanh nghiệp có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị nhằm lăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên và của cả tổng công ty

Nhìn chung, các tổng công ty đã phát huy tích cực về sản xuất kinh doanh, góp phần đảm bảo các cân đối lớn cho nền kinh tế quốc dân, tăng mức đóng góp cho ngân sách Nhiều tổng công ty đã thể hiện được vai trò nòng cốt, chủ lực, xương sống của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, duy trì tỷ lệ tằng trưởng tương đối cao, hoàn thành nghTa vụ nộp thuế và ngân sách nhà nước, ổn định việc làm cho hơn

Trang 28

trương đầu tư và bảo toàn vốn nhà nước Thời gian qua nếu không có vai trò của tổng công ty thì không th ể khắc phục được tình hình của nhà máy dệt Nam định, di chuyển nhà máy lớn ra khỏi thành p h ố như nhà máy xi măng Hải phồng, xi măng Thủ đức [27, tr 12]-

Quá trình hình thành và phát triển của các tổng công Ly có tác dụng tích cực như: Thúc đẩy tích tụ và tập trung vốn huy động được nguồn lực nội bộ kết hợp với các nguồn vốn khác ngoài tổng công ty để điều hoà thực hiện các chương trình đổi mới công nghệ mử rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh Tập trung nguồn lực phát triển theo chiến lược định hướng chung, tăng cường sức mạnh trong việc tham gia đấu thầu, mở rộng thị trường trong và ngoài

n ư ớ c

Trong 3 năm Tổng công ty bưu chính viễn Ihông đã mạnh dạn đầu tư theo hướng đi trước đón đầu công nghệ hiện đại, tăng 2 lần năng lực cung ứng, dịch vụ thông tin chất lượng cao đạt trình độ quốc tế và nâng số máy điện thoại trang bị cho đầu người dân trong cả nước tăng gấp hơn 10 lẩn năm 1991; Tổng công ty Cao

su đã huy động vốn nội bộ trên 1.500 tỉ đồng để đầu tư phát triển diện tích cây cao su, tổng công ty xi măng đầu tư 720 tỷ đồng vào các nhà máy xi măng mới Tổng công ty điện lực tăng thêm công suất 400MW, các tổng công ty có mức lãi lớn là bu chính viễn thông, dầu khí, hàng hải , thuốc lá, dệt may, cũng có

Trang 29

những hoạt động đầu tư tích cực Kim ngạch xuất khẩu đạt 3,36%

kế hoạch [26, tr46]

Tổng công ty còn thực hiện bảo lãnh vay tín dụng, điều hoà vốn nhàn rỗi giữa các doanh nghiệp thành viên, hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên còn khó khăn thông qua việc điều động cán bộ, chuyển giao công nghệ; chấn chỉnh được tình trạng cạnh tranh bừa bãi giữa các doanh nghiệp thành viên trong xuất nhập khẩu, tổ chức các dịch vụ chung Tổng công ty thực hiện đảm bảo cân đối hàng hoá chiến lược và các hàng tiêu dùng thiết yếu ; cân đối ngoại tệ, góp phần quan trọng ổn định giá cả và ổn định kinh tế xã hội

Đặc biệt gần đây thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng đề án chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con của một số tổng công ty đã tạo điều kiện cho các tổng công ty này hình thành được chiến lược kinh doanh, lựa chọn định hướng phát triển cho mình tương đối rõ Nhờ vậy các tổng công ty đã đạt được sự tăng trưởng khá cao về doanh thu, lợi nhuận trước thuế, nộp ngân sách và tăng cường cải tiến kỹ thuật Kết quả thực tế trên dày đã chứng minh chủ trương thành lập, xắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước là đúng đắn và cần thiết, phù hợp với xu thế phát triển các doanh nghiệp nhà nước trong cư chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.2 Những hạn chế của các tổng công ty nhà nước ở Việt nam

Bên cạnh các ưu thế, tổng công ty hiện nay còn một số hạn chế về mô hình, về cơ chế chính sách đã làm hạn chế sự phát triển của các tổng công ty nhà nước hiện nay để sang mô hình công ty mẹ-công ty con, tập đoàn kinh doanh Hơn thế nữa, mô hình công ty mẹ-công ty con còn đang trong giai đoạn thử nghiệm ở nước ta, đặc biệt là nó lại được xây dựng và thí điểm chuyển đổi các tổng công ty nhà nước nên chắc chấn có nhiều vấn đề phải quan tâm làm rõ

Trang 30

Thứ nhất về liên kết giữa các thành viên trong tổng công ty Hiện nay

mô hình Tổng công ty chưa tạo ra sự gắn kết giữa các thẩnh viên về tài chính, công nghệ, thị trường, các công ty hoạt động có phần rời rạc chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn Tổng công ty Hoạt động của Tổng công ty thiếu tính chiến lược, phối hợp đồng bộ nên cuối cùng việc xác định trách nhiệm là rất khó Việc đề ra chiến lược chung của Tổng công ty chỉ mang tính hình thức, còn trên thực tế mỗi đơn vị thành viên lại theo đuổi mục đích và lợi ích riêng của mình

Việc điều hành còn mạnh nặng tính chất hành chính trung gian của mô hình liên hiệp xí nghiệp của thời kỳ quản lý kinh tế tập trung Hầu hết các doanh nghiệp thành viên lại được thành lập theo Nghị định số 388/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 20/11/1991 về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước, trước thời điểm ra đời Tổng công ty nên đã quen với cơ chế được giao quyền hoạt động độc lập, những doanh nshiệp đang hoạt động thuận lợi thì gò bó trong tổ chức của tổng công ty với lư cách đơn vị thành viên, v ề mối liên kết ngang giữa các doanh n^hiêp trong tổng công ty hay ngoài tổng công

ty cũng không có gì khác nhau vì đều phải thi hành luật doanh nghiệp nhà nước

Mô hình tổ chức và hoạt động của Tổng công ty còn mang tính khép kín Quyết định đầu tư sản xuất, kinh doanh vẫn tập trung ở cấp Tổng công

ty, còn việc phân cấp chỉ mang tính tương đối

Các doanh nghiệp thành viên không có quyền tự chủ hoàn toàn về chiến lược, chính sách kinh doanh mặc dù đã được phân cấp quản lý, các quyết định đầu tư sản xuất kinh doanh hầu như phải thông qua tổng công ty Doanh nghiệp thành viên phải bảo vệ dự án do mình lập trước tổng công ty, rồi còn phải hoàn tất nhiều thủ tục đầu tư nhiêu khê dẫn

Trang 31

đến sự chậm trễ trong các quyết định đầu tư đôi khi còn bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh một cách đáng tiếc [28, t r i 8].

Chức năng quản lý của Hội đồng quản trị (HĐQT) và chức năng điều hành của Giám đốc chưa quy định rõ ràng Tình hình này dẫn đến hoặc là tổng giám đốc ỷ lại vào Hội đồng quản trị hoặc xem nhẹ Hội đồng quản trị Nhiều Tổng công ty thiếu cán bộ có năng lực về chuyên môn để quản lý một tổng công ty có quy mô lớn trong cơ chế thị trường nhất là các chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc

Thứ hai, về cơ chế tài chính và hạch toán kinh tế còn có những bất cập trong đó doanh nghiệp thành viên tổng công ty hạch toán phụ thuộc thì

bị hạn chế vai trò chủ động, sáng tạo, còn doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập thì có xu hướng chãm lo lợi ích riêng của doanh nghiệp mình như những doanh nghiệp ngoài tổng công ty, thiếu gắn kết các đơn vị thành viên trong việc thực hiện chiến lược phát triển toàn tổng công ty [29, tr7 & 8]

Quyền tự chủ của các doanh nghiệp thành viên là ít, mặc dù doanh nghiệp thành viên sử dụng vốn vay nhưng tổng công tv lại đứng ra vay Chịu trách nhiệm về các khoản vốn vay là do Tổng công ty nhưng việc quản lý và

sử dụng vốn vay lại phụ thuộc vào doanh nghiệp thành viên Ở đây thiếu sự ràng buộc chặt chẽ về trách nhiệm pháp lý giữa các chủ thể này

Thứ ba, về hiệu quả kinh doanh trên thực tế còn thấp và có xu hướng giảm So với các doanh nghiệp nhà nước thì tổng công ty nhà nước chiếm tỷ trọng lớn về vốn (66%) nhưng mới tạo ra được 58% doanh thu Như vậy bên cạnh những tổng công ty tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội còn có những tổng công ty chiếm vốn lớn nhưng tạo ra ít sản phẩm cho xã hội

Việc thành lập tổng công ty nhằm mục đích tích tụ và tập trung vốn nhưng hầu hết các tổng công ty không đạt được mục đích này Tinh trạng

Trang 32

thiếu vốn là phổ biến, các tổng công ty ra đời có mức vốn quá nhỏ bé so với yêu cầu Nếu căn cứ vào tiêu chí nêu trong quyết định số 58/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/4/2002 về ban hành tiêu chí, danh mục, phân loại doanh nghiệp nhà nước và tổng công ty nhà nước thì 67/91 Tổng công ty nhà nước không đảm bảo quy định về vốn, trong đó có 2 tổng công ty

91 và 65 Tổng công ty 90

Thứ tư, mô hình cho thấy rất khó xác định người đại diện sở hữu chủ số vốn của nhà nước đang nằm tại các doanh nghiệp thành viên (là giám đốc công ty thành viên hay là chủ tịch Hội đổng quản tiị Tổng công ty), do đó xác định ai là người sử dụng lợi nhuận và phân chia lợi nhuận như Ihế nào còn gặp nhiều khó khăn

Thứ năm, Tổng công ty là một pháp nhân nhưng chỉ có tài sản trên danh nghĩa, trên thực tế tài sản đó do các doanh nghiệp thành viên quản lý, sử dụng

và định đoạt theo pháp luật Điều đó cho thấy không có sự tách bạch giữa tài sản của tổng công ty và các đơn vị thành viên và đồng thời còn dẫn đến quan

hệ pháp lý giữa tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên là không rõ ràng

Theo nhận định của tác giả, những hạn c h ế trên đây cho thấy nguyên nhân cơ bản là do các cơ ch ế chính sách còn nặng tính chất hành chính-mệnh lệnh Việc thành lập các Tổng công ty theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở nước ta còn mạng tính hình thức mà chưa đúng tính chất của tập đoàn Chưa xây dựng được các quy định liên kết về vốn, lợi nhuận, tài chính, ch ế độ sở hữu, tư cách pháp nhân, cơ cấu tổ chức một cách rõ ràng Sự liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên lẽ ra phải dựa trên lợi ích kinh t ế và sự vận động của bản thân các doanh nghiệp thì chúng ta lại gò ép nó vào một mối liên kết phi kinh tê bằng những mệnh lệnh hành chính khô cứng Làm như vậv là đi ngược lại quy luật khách quan, ngăn cản sự phát triển của các quan hệ Ở đây nguyên nhân quyết định hình thức chứ không phải hình thức trong pháp luật

Trang 33

quy định sẵn, hình thức pháp luật được định đoạt bởi các lý do hình thành Hiện nay Tổng công ty nhà nước ở Việt nam chưa phải là Tập đoàn kinh tế theo đúng nghĩa, mà mới chỉ ở dạng sơ khai chưa theo kịp các tập đoàn kinh

t ế trên th ế giới Vì vậy cần có những cải cách về mặt pháp luật, chính sách thậm chí phải thay đổi cả về mặt tư duy đ ể tạo điều kiện cho mô hình vận hành đồng bộ, tích ìuỹ tập trung vốn, phát huy được lợi th ế mà mô hình tập đoàn mạng lại, mà trước hết ỉà hình thành các tổ hợp công ty mẹ-công ty con.

1.2.3 Nhu cầu và sự cần thiết cho việc chuyển đổi tổng công ty nhà nước sang mô hình công ty mẹ - công ty con

Để thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất tạo ra những tổ chức kinh doanh lớn, có khả năng cạnh tranh ngày càng cao làm chỗ dựa cho nền kinh tế thì việc thành lập tập đoàn kinh doanh theo liên kết công ty mẹ- công ty con ở Việt nam là điều nên làm Đây không chỉ là một biện pháp mang tính hình thức mà thực sự sẽ tạo ra sự chuyển biến sâu sắc về chất Áp dụng mồ hình mới sẽ xác định rõ quan hệ sở hữu về vốn là nền tảng liên kết giữa các (loanh nghiệp trong tổng công ty tạo ra tính độc lập cao cho các doanh nghiệp thành viên, chuyển lừ quan hệ hành chính sang quan hệ lợi ích vừa đảm bảo được quyền sở hữu của Nhà nước đối với tổng công ty vừa có thể đa dạng hoá sở hữu huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế; Tách bạch rõ pháp nhân của tổng công ty và pháp nhân mà tổng công ty bỏ vốn vào từ đó phân định trách nhiệm rõ ràng về thuế, nợ giữa tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên, quyền lãnh đạo và quản lý các doanh nghiệp .thì sẽ đạt mục tiêu cuối cùng là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh tốt trên thị trường

Đặc biệt là khi chúng ta tự do hoá kinh doanh, các hàng rào bảo hộ thương mại được rỡ bỏ, việc gia nhập AFTA và tương lai không xa là W T O nền kinh tế nước ta cần có sự tăng trưởng và tích luỹ để thực hiện công nghiệp

Trang 34

hóa hiện đại hoá, chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt trên toàn cầu, đặc biệt là cạnh tranh với các nước trong khu vực Vấn đề đặt ra là Việt nam phải có những doanh nghiệp mạnh đầu đàn, những doanh nghiệp quy mô lớn đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.

Trong những điều kiện ấy nếu từng doanh nghiệp độc lập sẽ không thể thực hiện được bởi độ phân tán, sản xuất manh mún, trình độ trang bị công nghệ yếu kém rất khó cạnh tranh Đảm nhận được các yêu cầu đó phải là các tập đoàn kinh doanh của Việt nam

Hơn thế nữa Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng các Tổng công ty

có quy mô lớn theo mô hình công ty mẹ-công ty con một cách lâu dài và nhất quán Trong bối cảnh khi chúng ta đã xác định rõ nhu cầu và sự cần thiết nhưng không nôn nóng thực hiện mà thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh theo mô hình công ty me- công ty con ở các tổng công ty, coi đó là một quá trình là hoàn toàn đúng đắn Ngược lại, nếu chúng ta quá cầu toàn đòi hỏi phải

có môi trường pháp lý đồng bộ, chặt chẽ ngay sẽ dẫn đến nguy cơ làm chậm hoặc làm hỏng quá trình này, cũng giống như việc đi mua cái áo đẹp nhưng về nhà thì không mặc vừa

Chủ Irương này lần đầu tiên được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII(1991), sau đó lại được khẳng định và rõ thêm tại các kỳ Đại hội, hội nghị quan trọng của Đảng: Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1-1994), Hội nghị ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khoá VII), và liên tục Đại hội lần thứ VIII, IX trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm từ việc thực thi các nghị quyết trước đó về đổi mới doanh nghiệp nhà nước nhưng ở những yêu cầu và nhiệm vụ mới tiếp tục bổ sung và làm rõ hơn chủ trương này trong giai đoạn 2001-2005 theo hướng “ kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả các Tổng công ty theo mô hình công ty mẹ-công ty con, kinh doanh đa ngành tổng hợp trên cơ sở

31

Trang 35

ngành chuyên môn hóa, gọi vốn thuộc nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh, làm nòng cốt để hình thành một số tập đoàn kinh

tế mạnh ở một số ngành và lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân như viễn thông, hàng không, dầu k h í, ” [5, tr 319]

Nhận thức rõ tầm quan trọng của kinh tế nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân, ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX đã tổ chức Hội nghị Trung ương III đã đề cập tới giải pháp sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả các Doanh nghiệp nhà nước, chủ trương chuyển đổi Tổng công

ty nhà nước sang mô hình công ty mẹ-công ty con và những định hướng

cơ bản cho mô hình này là “ thí điểm rút kinh nghiệm để nhân rộng việc thực hiện chuyển công ty Nhà nước sang hoạt động theo mô hình công

ty mẹ-công ty con, trong đó Tổng công ty đầu tư vốn vào các doanh nghiệp thành viên là những công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ (Tổng công ty) hoặc là Công ty cổ phẩn mà Tổng công ty giữ cổ phần chi phối Ngoài ra, tổng công ly có thể đầu tư vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác” [6, tr 319]

Những chủ trương định hướng của Đảng là những cơ sở lý luận quan trọng để chúng ta thực hiện việc chuyển đổi các Tổng công ty nhà nước s a n ơ

mô hình công ty mẹ công ty con và tiến tới hình thành các tập đoàn kinh doanh

Hình thành tập đoàn kinh doanh hình thành không chí dựa trên các quan điểm lý luận, suy đoán mà còn có cả những cơ sở thực tiễn của môi trường kinh doanh, môi trường pháp luật, môi trường xã hội,

Về môi trường kinh doanh, quá trình xây dựng và phát triển kinh tế hơn

30 năm qua tuy có gặp nhiều khó khăn nhưng đã đạt được những thành tựu quan trọng Cơ sở vật chất ban đầu đã được tạo lập, đặc biệt từ khi thực hiện cồng cuộc đổi mới (từ sau Đại hội Đảng toàn quốc năm 1986) nền kinh tế

Trang 36

được xây dựng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau về Việt nam có hay không nền kinh tế thị trường, nhưng thực tế Việt nam đã bước đầu xây dựng được môi trường kinh doanh thuận lợi và các quy định pháp lý của một nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực hoạt động đều p h ả i đ ố i đ ầ u v ớ i s ự c ạ n h t r a n h t r ê n t h ị t r ư ờ n g n g à y c à n g t r ở n ê n g a y g ắ t

Về kinh doanh quan hệ hành chính chỉ đạo đang mất dần đi thay thế bằng các quy luật tự nhiên của nền kinh tế thị trường, sự phân công sản xuất theo hướng chuyên môn hoá cũng đang diễn ra mạnh mẽ, các ngành kinh tế

đã đạt được nhịp độ tăng trưởng cao

Một số ngành đã đạt được trình độ tích tụ tập trung hoá sản xuất cao như điện lực, bưu chính, viễn thông, xi măng, cà phê, Đ iều đáng chú ý là những ngành này chiếm vị trí trọng yếu trong cơ cấu kinh tế quốc dân và hoạt động dưới hình thức tổng công ty

Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có tốc

độ phát triển khá cao và có nhiều nỗ lực vươn tới thị trường nước ngoài bằng việc thành lập các chi nhánh có yếu tố như tập đoàn nhưng vẫn ở quy mô nhỏ Đánh giá khái quát thì ở Việt nam cũng đã có một số tiền đề để thành lập các tập đoàn kinh tế đặc biệt trên cơ sở các đơn vị có tiềm lực là tổng công ly nhà nước

Về môi trường pháp lý, Việt nam đã có những nguyên tắc chủ đạo cho nền kinh tế thị trường: Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, tự do hợp đồng với tiêu chí bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Các quy định điều chỉnh mối quan hệ kinh tế đã tạo lập môi trường pháp lý thuận tiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân đạt hiệu quả cao Về cơ cấu kinh tế, Chính phủ Việt nam luôn mong muốn có một sân chơi bình đẳng giữa các thành phần, sự cạnh tranh phù hợp với chuẩn quốc tế

Trang 37

Xét một cách toàn diện thì cũng phải thừa nhận rằng bên cạnh những cái đạt được đó, ở nước ta chưa có một mô hình pháp luật đích thực điều chỉnh quan hệ kinh tế thị trường vì các khuyết tật truyền thống là thiếu tính toàn diện, không đồne; bộ, thống nhất Nhưng nhà nước đã bước đầu tiếp cận được phương thức quản lý và vận hành theo những nguyên lý của thị trường tạo cơ

sở pháp lý cho bước chuyển sang nền kinh tế mới, bảo đảm tính không thể đảo ngược được của xu hướng phát triển nền kinh tế thị trường

Trong những diễn biến tích cực đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tháng 11/2003 Quốc hội Việt nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp nhà nước sửa đổi và có hiệu vào tháng 7-2004 Trong đó có các quy định cụ thể về công ty mẹ-công ty con Đây là một giải pháp phản ánh đúng đắn và kịp thời sự phát triển của nền kinh tế và là quy định rất quan trọng cho sự tồn tại của mô hình công ty mẹ-công ty con

Từ năm 1999 đến nay Chính phú đã phê duyệt đề án của 23 Tổng công

ty và doanh nghiệp nhà nước được phép làm điểm mô hình công ty mẹ-công ty con đã cho ra những kết quả khả quan: Quyền tự chú của các doanh nghiệp ihành viên được đề cao nên có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, các doanh

nghiệp được thể hiện mình Trường hợp 2 doanh nghiệp nhà nước chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con là Contrexim (Bộ Xảy dựng)

và Công ty xây lắp điện 3 (Tổng công ty điện lực Việt nam) đã cho thấy hiệu quả rõ rệt Củng với bộ máy con người như cũ nhiũĩg Conlrexim đã tăng doanh thu 3,2 lần thu nhập người lao động tăng 1,27 lần so với năm trước Công ty xây lắp điện 3 thì tăng doanh thu 33%, lợi nhuận tăng 71% và thu nhập người lao động tăng 10% [30, tr2].

Bên cạnh đó việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta cũng phải tính đến việc tăng vốn góp của bên Việt nam nhằm thực hiện “bình đẳng, cùng

có lợi” trong quan hệ liên doanh với nước ngoài một cách có hiệu quả thực tế

34

Trang 38

Bởi vì nhiều doanh nghiệp độc lập với quy mồ nhỏ bé không đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài ngay trên thị trường Việt nam.

Mô hình công ty mẹ công ty con với những ưu việt của nó còn cho phép chúng ta xoá bỏ được nếp nghĩ doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt nam

mà chưa thực hiện đầu tư ra nước ngoài thì mô hình công ty mẹ-công ty con của Tổng công ty nhà nước sẽ tạo điều kiện tiền đề cho việc thực hiện yêu cầu này

Từ những cơ sỏ trên đây, tác giả cho rằng việc thành lập mô hình Tổng công ty nhà nước theo hướng mô hình công ly mẹ-công ty con và tiến tới hình thành tập đoàn kinh doanh trong giai đoạn phút triển hiện nay là có nhu cầu thực sự cần thiết và khách quan Tuy nhiên không phải sáp nhập các doanh nghiệp lớn s ẽ trở thành lớn mạnh mà có th ể có tác dụng ngược lại mà một tập đoàn có tiềm lực kinh tế mạnh đíữig vững trên thị trường hay không còn phụ thuộc vào những k ế hoạch chiến lược trước đó.

Trang 39

Chương l ĩ

MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM 2.1 Quan niệm về mô hình công ty mẹ-công ty con ở Việt nam

Việt nam hiện nay đang thực hiện việc thí điểm chuyển đổi một số tổng công ty nhà nước có quy mô lớn sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Đây là mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh được thực hiện bởi

sự liên kết nhiều pháp nhân doanh nghiệp độc lập hoại động trong nhiều lĩnh vực và địa bàn khác nhau để tạo thế mạnh chung và đồng thời chuyển từ cơ

chế nhà nước giao vốn cho tổng công ty, tổng công ty lại giao lại cho các đơn

vị thành viên bằng việc nhà nước đầu tư vốn vào tổng công ty rồi tổng công ty đầu tư vốn vào doanh nghiệp khác

Áp dụng mô hình này Việt nam sẽ khắc phục được những hạn chế của

mỏ hình tổng công ty hiện tại, thay đổi liên kết kiểu hành chính giữa tống

c ô n g t y v ớ i c á c d o a n h n g h i ệ p t h à n h v i ê n p h ù h ợ p với q u a n h ệ c ô n g IV m ẹ -

công ty con để phát triển thành các tập đoàn kinh doanh, Trong đó Việl nam không chọn các yếu tố thị trường, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, hay đào tạo mà chọn liên kết thông qua vốn đầu tư vốn vào các doanh nghiệp thành viên là kiểu liên kết cứng khá phổ biến như nhiều nước Trong đó tổng công ty giữ 100% vốn, giữ cổ phần chi phối hoặc có một phần vốn góp dưới mức chi phối ở các công ty thành viên Chuyển đổi theo mô hình công ly mẹ công ty con vẫn đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước đối với những ngành, những lĩnh vực then chốt khi nhà nước giữ 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối công ty thành viên

Quan điểm này cũng phù hợp với xu thế chủ yếu của các tập đoàn trên thế giới, vì doanh nghiệp Việt nam cùng như các nước trên thế giới đều có nhu

Trang 40

cầu hàng đầu là tích tụ và tập trung tài chính để thực hiện chiến lược chung của các doanh nghiệp tham gia liên kết Còn xét riêng đối với Việt nam thì các doanh nghiệp Việt nam hiện nay có sự tích tụ vốn thấp hơn so với các các nước nên nhu cầu vốn rất bức xúc Bên cạnh nguồn vốn Nhà nước đầu tư và việc kết hợp giữa việc tích lũy của các doanh nghiệp còn mở rộng liên kết, xã hội hóa nguồn vốn bằng các giải pháp như cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đem vốn liên doanh, liên kết góp vốn cổ phần thúc đẩy phát triển tổng công ty thành các tập đoàn kinh doanh.

Thực tế ở Việt nam cho thấy việc hỉnh thành tập đoàn kinh doanh phải đảm bảo nguyên tắc lấy các tổng cóng ty nhà nước làm nòng cốt, có sự tham gia gia rộng rãi của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước [16].

Tiến hành đồng thời việc thí điểm tổng công ty nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con cùng với các giải pháp khác như

cổ phần hoá; giao bán khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước; chuyển đổi tổ chức doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo mô hình công

Ly trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thực chất của quá trình sắp xếp lại, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước hiện nay là biến doanh nghiệp nhà nước từ chỗ thuộc sở hữu của một người thành sở hừu của nhiều người Những công ly chưa thí điểm chuyển sang mô hình công ly mẹ-công ty con thì áp dụng các biện pháp sắp xếp lại như trên thông qua đó chuẩn bị sẵn những tiền đề cần thiết để khi có điều kiện thuận lợi sẽ chuyển thành công ty mẹ-công ty con

Việc hình thành tập đoàn kinh doanh trên thế giới hầu như bằng con đường các doanh nghiệp tự thân vận động: Có thể là doanh nghiệp độc lập tự nguyện tham gia tập đoàn hoặc đẩu tư thâm nhập theo chế độ tham dự cổ phần, chia tách sáp nhập doanh nghiệp, bằng con đường thôn tính thông qua việc mua lại các doanh nghiệp (như các tập đoàn ở Mỹ); nhưng cũng có thể do tác động của Chính phủ (như trường hợp của Nhật bản, Pháp), ở Việt nam lựa

Ngày đăng: 16/08/2020, 15:18

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w