1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra viên và thủ trưởng cơ quan điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam

88 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 11,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trinh điều tra vụ án hình sự, CQĐ T phái tiến hành các hoạt động điều tra tố tụng theo đúng trình tự và thủ tục mà Bộ luật TTHS đã quy định.. Như vậy: Điều tra vụ án hình sự là

Trang 2

N G U Y Ẻ N TH A I BINH

ĐIỂU TRA VIÊN VÀ THỦ TRƯỞNG cơ QUAN ĐIỂU TRA THEO

PHÁP LUẬT TỒ TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM■ ■ ■ ■

Trang 3

quan điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Chương 2 : QUYỂN VÀ NGHĨA v ụ CỦA ĐIỂU TRA VIÊN VÀ 22

THỦ TRƯỞNG C ơ QUAN ĐIỂU TRA

quan điều tra

Đ iều tra viên và Thủ trưởng Cơ quan điều tra

CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ 62

VỀ ĐIỂU TRA VIÊN VÀ THỦ TRƯỞNG c ơ QUAN ĐIỂU TRA

3.1 Phương hướng h o àn thiện c h ế định pháp lý về Đ iều 62

tra viên và Thủ trưởng Cơ quan điều tra3.2 Các giải p háp nâng cao h iệu q u ả hoạt đ ộng điều tra 70

vụ án củ a Đ iều tra viên và Thủ trưởng Cơ quan điềutra

Trang 4

Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

Trang 5

Đ ấu tranh phòng chống tội phạm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích Nhà nước, q u y ền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân, bảo vệ ch ế độ XHCN, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, phục vụ sự nghiệp đổi m ới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ quan trọng đặt ra trước

Đ ảng, N h à nước và nhân dân ta Trong việc thực hiện nhiệm vụ đó, công tác điều tra tội p hạm có vị trí đặc biệt quan trọng Các kết quả đạt được trong giai đoạn đ iều tra là cơ sở cho việc ra quyết định truy tố của Viện kiểm sát và hoạt động xét xử của Toà án M ặc dù Cơ quan điều tra (CQĐT) không có quyền quyết định m ột người có phải là tội phạm và phải chịu hình phạt hay không, nhưng để có chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm cơ sở cho hoạt đ ộng truy tố, xét xử thì phải có hoạt động thu thập chứng cứ của CQĐT

Vì vậy, có thể coi hoạt động điều tra của C Q Đ T giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả tiến trình tố tụng hình sự

T rong những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm xảy ra nghiêm trọng, diễn biến phức tạp Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ q uan tư pháp nói chung, C Q Đ T nói riêng đã đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn

xã hội phục vụ tích cực cho công cuộc đổi mới của đất nước

T uy nhiên chất lượng của công tác tư pháp nói chung, công tác điều tra

tội phạm nói riêng còn “chưa ngang tầm với yêu cầu và đỏi hỏi của nhân dân, còn nh iều trường hợp bỏ lọt tội p h ạm , làm oan người vô tội, vi p h ạ m các quyên tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với D âng, N h à nước và các cơ quan tư p h á p I 2 1 , tr 1 /.

Chính vì còn những khuvết điểm và tồn tại nhu' vậy m à việc đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung, C Q Đ T nói riêng luôn là vấn

Trang 6

đề lớn và cấp thiết được Đảng và Nhà nước quan tâm nhằm đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.

M ột trong những vấn đề quan trọng của CQĐ T là ch ế định pháp lý về Điều tra viên (Đ T V ) và Thủ trưởng Cơ quan điều tra (Thủ tnrởng CQĐT), vì thực chất hoạt độn g của C Q Đ T được thông qua hoạt động của ĐTV và Thủ trưởng CQĐT K hác với các chức danh tư pháp khác như Kiểm sát viên (KSV), T hẩm phán (TP) được hình thành từ lâu, chức danh ĐTV và Thủ trưởng C Q Đ T mới được hình thành lần đầu tiên trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (Bộ luật TTHS năm 1988) và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 1989 (Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989) và được k ế thừa ở pháp luật tố tụng hình sự hiện hành

Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào cụ thể hoá những quy định của pháp luật về chức danh ĐTV và Thủ trưởng CQĐT Do đó, trên thực tế việc xác định vị trí, vai trò tố tụng hình sự của

Đ TV và T hủ trưởng C Q Đ T trong hoạt động tố tụng hình sự, cũng như trong

m ối quan hệ với các chức danh tư pháp khác đã tồn tại nhiều vướng mắc khó khăn Đ iều đó làm giảm hiệu quả hoạt động của ĐTV và Thủ trưởng CQĐT

Vì vậy, để có cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xác định vị trí, vai trò, quyền hạn và nghĩa vụ của ĐTV và Thủ trướng C QĐ T trong tố tụng hình sự cũng như việc đ ảm bảo cơ chế đào tạo, bổ nhiệm, ch ế độ đãi ngộ đối với ĐTV và

Thủ trưởng CQĐ T, chúng tôi chọn đề tài: “Đ iều tra viên và Thủ trưởng C ơ quan điều tra theo p h á p luật t ố tụng hình sự V iệt N a m " làm đề tài Luận văn

Trang 7

quan hệ giữa C Q Đ T hình sự Quân đội với Viện kiểm sát quân sự và Toà án quân sự trong tố tụng hình sự Việt N am ” - Nguyễn Tuấn Anh - Luận văn ihạc

sĩ luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội - 2002 v ề ĐTV và Thú trưởng

C Q Đ T mới chỉ có một vài tác giả đề cập như: “ Địa vị pháp lý của Điều tra viên trong tố tụng hình sự nước ta ” - Phùng Như Thịnh - Luận văn thạc sĩ luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội - 2000; “VỊ trí pháp lý của Điều tra viên trong tố tụng hình sự” - Vụ Pháp c h ế - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - 1997; bài viết : “Điều tra viên trong tố tụng hình sự” của PTS N guyễn Văn Tuân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/1995; bài viết “ Bàn về quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng C Q Đ T và Đ T V ” của GS TS Nguyễn Xuân Y êm, Tạp chí Thông tin khoa học Cảnh sát nhân dân

số 4/1993; bài viết “Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT và ĐTV trong Bộ luật TTHS năm 2003” của thạc

sĩ Đinh Văn Quế, tạp chí Kiểm sát số 5/2004

Tuy nhiên các đề tài và bài viết nêu trên chủ yếu được nghiên cứu trên cơ

sở Bộ luật TTHS năm 1988 và Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989 Đến nay Bộ luật TTHS năm 2003 và Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004 được ban hành với nhũng sửa đổi, bổ sung cơ bản về địa vị pháp lý của ĐTV và Thủ trưởng CQĐT thì chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề nêu trên

3 Phạm vi nghiên cứu của đề t à i :

Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của Đ TV và Thủ trưởng C Q Đ T iheo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành Tập trung khảo sát về số lượng, chất lượng, trình độ đội ngũ ĐTV và Thủ trưởng C QĐ T trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tối cao

4- P h ư ơ n g p h á p ngh iên cứu :

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dụng Nhà nước pháp quyền XHCN, cơ sở lý luận về khoa học luật tô tụng hình sự, luật hình sự

Trang 8

Khi thực hiện đề tài, một số phương pháp đã được sử dụng như phưưim pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá, điều tra khao sát thực

tế, toạ đàm trực tiếp v v

5 M ụ c đích và n h i ệ m vụ của việc nghiên cứu đề tài :

a) M ụ c đích củ a đ ề tài là luận giải một cách khoa học các quy định của

pháp luật về địa vị pháp lý, vị trí, vai trò, quyền hạn và nghĩa vụ của ĐTV và Thủ trưởng CQĐT trong hoạt động tố tụng hình sự Trên cơ sở đó, đề xuất đổi mới,

bổ sung các quy định của pháp luật về quyền hạn, nghĩa vụ, nâng cao hiệu quá hoạt động của ĐTV và Thủ trưởng CQĐT trong thực tiễn điều tra tội phạm

b) Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đ ề t à i :

- Phân tích dưới góc độ lý luận, thực tiễn về vị trí, nhiệm vụ của giai đoạn

điều tra vụ án hình sự trong tố tụng hình sự

- Luận giải, phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của ĐTV và Thủ trưởng C QĐ T cũng như thực tiễn hoạt động của ĐTV và Thủ trưởng C Q Đ T trong tố tụng hình sự

- Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện chế định pháp lý cũng như tăng cường hiệu quả hoạt động điều tra của ĐTV và Thú trưởng CQĐT

6 Những đóng góp mói của luận văn :

Trong khuôn khổ của một luật văn thạc sĩ luật học, tác giả đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về địa vị pháp lý của ĐTV và Thủ trưởng CQĐ T một cách toàn diện, đầy đủ Trên cơ sở phân tích có hệ ihống nhũng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của ĐTV và Thủ trưởng CQĐT,

đề xuất các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của ĐTV và Thủ trưởng CQĐT, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án hình sự

7 Co cấu của luận văn :

Ngoài phần m ở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương :

Chương I : Những vấn đề lý luận chang vê giai đoạn điêu tra vụ án hình sự Chương II: Quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên và Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Chương III: Các giải ph áp hoàn thiện chê định pháp lý về Điều tra viẻn và Thủ trưởng C ơ quan điều tra.

Trang 9

CHƯƠ NG I

NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAI ĐOẠN ĐIỂU TRA vụ ÁN HỈNH sự

ị'

1.1 Vị trí, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Hiện nay, trong khoa học pháp lý còn có nhiều quan điểm khác nhau trong việc phân định các giai đoạn tố tụng hình sự Nhung nhìn chung, cách phân định các giai đoạn tố tụng của các quan điểm khác nhau đều thống nhất ớ chỗ quá trình tố tụng hình sự theo Bộ luật TTHS Việt Nam bao gồm các giai đoạn chính sau đây :

- Khởi tố vụ án hình sự

- Điều tra vụ án hình sự

- Truy tố người p hạm tội

- Xét xử vụ án hìn h sự

- Thi hành bản án và quyết định của T oà án

Các giai đoạn tố tụng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được diễn ra liên tục, k ế tiếp nhau về m ặ t thời gian với những hành vi tố tụng khác nhau Giai đoạn tố tụng này kết thúc, giai đoạn tố tụng sau bắt đầu Giai đoạn tố tụng trước là cơ sở cho giai đoạn tố tụng sau Ngược lại, giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả củ a giai đoạn tố tụng trước M ỗi giai đoạn tố tụng thực hiện nhiệm vụ tố tụng riêng và chứa đựng các đặc điếm riêng biệt Tất cá các giai đoạn tố tụng hợp thành quá trình tố tụng thống nhất và có mối quan hệ khăng khít với nhau

Như vậy, xét về vị trí, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai, sau giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn điều tra vụ án hình sự được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án

Chú thể tiến h ành trong giai đoạn này là Đ TV theo sự phân công và dưới

sự chỉ đạo của Thủ trướng, Phó thủ trưởng CQĐT N goài các C Q Đ T chuyên trách được tổ chức trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát

Trang 10

nhản dân tối cao, pháp luật TTHS hiện hành còn trao quyền hạn tiến hành một

số hoạt động điều tra cho Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiếm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân (Điều 111 Bộ luật TTHS; các điều 1 9 - 2 5 Pháp lệnh TCĐTHS)

Tuy nhiên, thẩm quyền và phạm vi trách nhiệm tố tụng hình sự của các

cơ quan này không giống nhau Pháp luật căn cứ vào vị trí, khả năng và yêu cầu của cuộc đáu tranh phòng chống tội phạm đế giao nhiệm vụ điều tra cho từng cơ quan một cách có lựa chọn

Xem xét trong mối tương quan của các giai đoạn tố tụng thì điều tra vụ

án hình sự là giai đoạn bắt buộc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình

tố tụng thể hiện qua các nhiệm vụ mà giai đoạn này thực hiện Từ các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động, giai đoạn điều tra vụ án hình

sự có các nhiệm vụ sau :

- T hứ n h ấ t: Xác định tội phạm và người phạm tội, lập hồ sơ đ ề nghị truy tố.

Xác định tội phạm có nghĩa là phải xác định xem có hay không có việc phạm tội Nếu có thì đó là tội gì, được quy định trong điều nào, khoán nào cua

Bộ luật Hình sự, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điếm và các tình tiết khác của tội phạm

Khi đã xác định được tội phạm, C QĐ T phải làm rõ ai là người phạm tội Nếu là vụ án có đồng phạm thì phải xác định tất cả những người đồng phạm cùng với vai trò của từng người

Xác định tội phạm và người phạm tội là phải xác đinh được tất cả các tình tiết, yếu tố tương ứng với 4 yếu tố cấu thành tội phạm Đó chính là phạm vi các vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại điều 63 Bộ luật TTHS

Kết thúc giai đoạn điều tra, nếu CQĐT có đầy đủ chứng cứ để xác định

có tội phạm và người phạm tội thì chuyển hổ sơ cùng kết luận điều tra vụ án hình sự sang VKS, đề nghị truy tố trước Toà án nhằm trừng trị họ, cải tạo họ thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời nhằm siáo dục họ và người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm

Trang 11

Thứ h a i : Pliát hiện và khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan và tố chức lìũìt quan áp dụng các biện pháp khắc phục vù ngăn ngừa.

Phát hiện nguyên nhân và điều kiện phạm tội, có nghĩa là đã trả lời được câu hỏi: Tại sao bị can đã phạm tội, điều kiện và hoàn cảnh nào đã làm cho tôi phạm thực hiện ở chính vị trí đó, vào thời gian đó và bằng phương pháp, cách thức

đó Đế trả lời các câu hỏi trên, ĐTV phải làm rõ được các nhóm tình tiết sau :

- Những điều kiện, hoàn cảnh nào đã dẫn tới việc hình thành đạo đức, nhân cách xấu của bị can, làm xuất hiện những quan điểm tiêu cực, chống đối

xã hội cua bị can

- Nhũng cơ hội, lý do phạm tội đã khiến cho những quan điểm, thái độ chống đối xã hội cúa bị can biến thành ý định phạm tội

- Những điều kiện khách quan tại địa điểm phạm tội đã tạo thuận lợi cho

bị can thực hiện có kết quả ý định phạm tội

Sau khi đã làm rõ được nguyên nhân và điều kiện phạm tội, ĐTV phai yêu cầu các cơ quan, tổ chức áp dụng các biên pháp khắc phục và ngăn ngừa theo quy định tại Điều 27 Bộ luật TTHS năm 2003 Tuy nhiên, bên cạnh việc yêu cầu đó, CQĐ T và ĐTV vẫn phải thực hiện ngay những biện pháp cấp bách loại trừ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời phải tiến hành những biện pháp phòng ngừa khác như tuyên truyền phổ biến các phương pháp, quy luật, thủ đoạn của tội phạm, kinh nghiệm trong việc phòng ngừa tội phạm

T lỉứ ba : Xác định tích chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây

ra, đồng thời tiến hành các biện p h á p đảm bdo cho việc bổi thường thiệt hại.

Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là một trong nhũng vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự (Điều 63 Bộ luật TTHS năm 2003) Việc xác định tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra có ý nghĩa quan

trọng trong việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm \òì

trong việc định tội danh và xác định mức độ bồi thường cứa Toà án sau này

Những thiệt hại cần xác định bao gồm : Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Đ 6 13

- Bộ luật Dân sự), thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (ĐÓM Bộ luật Dân sự), và thiệt hại do danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Đ 615 - Bộ luật Dân sự)

Trang 12

Sau khi đã xác định được có thiệt hại xảy ra, CQĐT phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn việc táu tán, che giấu tài sản cửa bị can nhất là đối với các vụ án

vé tham nhũng và các vụ án khác theo những tội danh mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tịch thu tài sản hoặc phải bồi thường thiệt hại với số lượng lớn

Trong nhiều trường hợp, do tính chất phức tạp của vụ án, mức độ thiệt hại chỉ được xác định đầy đủ vào giai đoạn cuối của cuộc điều tra Song những biện pháp đảm bảo việc bồi thường phải được thực hiện kịp thời ngay sau khi có thông tin về thiệt hại Tính kịp thời trong việc áp dụng các biện pháp đó là điều kiện quan trọng đảm bảo hiệu quả của việc bồi thường, thi hành án sau này

Nhiệm vụ bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại được CQĐ T thực hiện bằng các biện pháp: Truy tìm và thu hổi tài sản bị chiếm đoạt, tiến hành các biện pháp như kê biên tài sản, khám xét, thu giữ, tạm giữ để đám bảo cho việc bồi thường có kết quả

T h ứ tư : Thông qua công tác điều tra tội phạm , C Q Đ T đ ã góp phần vào việc giáo dục công (lun ý thức chấp hành pháp luật và các quy tắc của đời sống x ã hội chủ nghĩa.

Nhiệm vụ của TTHS nói chung, nhiệm vụ giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp luật nói riêng được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của TTHS Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên thực hiện nhiệm vụ của TTHS nói chung cũng nhu' nhiệm vụ giáo dục công dán nói riêng

Trong quá trình điều tra vụ án, ĐTV phải tiếp xúc với nhiều người tham gia tố iụng khác nhau Nhiệm vụ của ĐTV là đảm bảo cho tất cả mọi người khi tiếp xúc với hoạt động điều tra đều hiểu được rằng không nên vi phạm các quy định của pháp luật và các đòi hỏi của quy tắc đời sống XHCN Bất kỳ sư

vi phạm nào cũng đều có thể là nguồn gốc dẫn tới việc phạm tôi và không tôi phạm nào thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật Cũng trong giai đoạn điều tra

Đ TV đã tuyên truyền phổ biến giáo duc pháp iuậí cho công dân, nâng cao ý thức và văn hoá pháp luật của họ

Trang 13

Trong quá trinh điều tra vụ án hình sự, CQĐ T phái tiến hành các hoạt động điều tra tố tụng theo đúng trình tự và thủ tục mà Bộ luật TTHS đã quy định Tuy nhiên, trước phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của tội phạm, nếu chí tiến hành các hoạt động điều tra tố tụng một cách đơn thuần về trình tự và thủ tục TTHS thì công tác điều tra sẽ gặp nhiều khó khăn trong thu thập chứng cứ, Vì vậy, trong khi tiến hành điều tra vụ án, ĐTV phái biết sử dụng các kiến thức về nghiệp vụ điều tra Có nghĩa là phải sử dụng các chiên thuật tiến hành các hoạt động điều tra trong từng tình huống cụ thể trên

cơ sở trình tự và thủ tục TTHS Bên cạnh việc điều tra công khai theo trình tự, thủ tục TTHS, để công tác điều tra có hiệu quả, CQĐ T còn phải sứ dụng các biện pháp trinh sát nghiệp vụ trong việc thu thập thông tin tài liệu về vụ việc phạm tội Tuy nhiên, các thông tin tài liệu đó trước khi sử dụng phải được chuyển hoá Ihành chứng cứ

N hư vậy, điều tra công khai theo qui định của Bộ luật TTHS và các hoạt động trinh sát, nghiệp vụ là hai mặt của một vấn đề cùng nhằm mục đích chứng minh tội phạm và người phạm tội Đây là nét đặc thù của giai đoạn điêu tra vụ án hình sự so với các giai đoạn khác trong TTHS

M ặc dù C QĐ T không có quyền quyết định một người có phải là người phạm tội hay không, nhưng để có chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm cơ sở cho hoạt động tố tụng tiếp theo trong truy tố,-xét xứ thì phải có hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ Như vậy, hoạt động điều tra cua

C Q Đ T là hoạt động không thể thiếu được trong TTHS Toà án muốn xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì giai đoạn điều tra phải thu thập được đầy đủ các chứng cứ, bao gồm cả chứng cứ xác đinh có tội, chứng cứ xác định

vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cua

bị can Hay nói một cách khác, để giải quyết được vụ án hình sự phái co đây

đủ các chứng cứ chứng minh các tình tiết của vụ án Những chứng cứ này được thu thập trong giai đoạn điểu tra

Trang 14

Trong thực tiễn tố tụng hình sự, kết quả điều tra có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động truy tố và xét xử Điều tra nhanh, chính xác sẽ thúc đẩy nhanh tiến độ của cả quá trình tố tụng Điều tra không tuân thú pháp luật, chất lượng kém dẫn đến vụ án bị kéo dài, có trường hợp phải đình chỉ điểu tra vì hết thòi hạn Điều tra không hiệu quả, bỏ lọt tội phạm sẽ dản đến VKS không thể truy tố

và Toà án không thể xét xử được Nếu giai đoạn điều tra làm oan người vô tội, trong nhiều trường họp sẽ dãn đến truy tố và xét xử oan sai của VKS và Toà án Vì vậy :

Đ iều tra là khâu đột phá, là giai đoạn đầu giữ vai trò thành bại đối với

cả tiến trình t ố tụng hình sự Có th ể nói, những kết quả khả quan cũng

n h ư những sai lầm tư pháp nghiêm trọng như bỏ lọt tội p h ạ m , làm oan người vô tội thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra Vị trí quan trọng của hoạt động điều tra đối với công tác xét x ử không ch ỉ giới hạn ở s ố lượng và chất lượng chứng cứ mà C Q Đ T có th ể cung cấp cho Toà án mù thậm chí trong nhiều trường hợp, sự nhận định, đánh giá tội phạm cua

C Q Đ T và VKS cỏn qui định cả giới hạn xét xử [17, tr 151.

Lý luận và thực tiễn về giai đoạn điều tra là vấn đề phức tạp Đến nay xung quanh vấn để này còn nhiều ý kiến bàn luận khác nhau Có ý kiến cho rằng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đều là quá trình điều tra vụ án Trong

đó từ khi khởi tố vụ án đến khi truy tố bị can là quá trình điều tra sơ bộ Giai đoạn xét xử vụ án tại Toà án mới là quá trình điều tra chính thức Quan điểm trên có nhân tô' hợp lý Bởi vì theo nguyên tắc suy đoán vô tội : “không ai có

có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Đ9 - Bộ luật TTHS), thì khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, khi đó người bị buộc tội vẫn được coi là chưa có tội Các kết quả điều tra, truy tố chỉ được coi là các giả định về tính có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, không có ý nghĩa bắt buộc đối với Toà án Quá trình xét xử phải là quá trình xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các chứng cứ của vụ án đã được thu thập trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như được đưa ra xem xét tại phiên toà với quá trình tranh tụng

Trang 15

xét tại phiên toà.

N hư vậy, chỉ có kết luận trong bán án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án mới là kết quả cuối cùng của quá trình điều tra xử lý vụ án hình sự Tuy nhiên, quan điểm trên chỉ có ý nghĩa dưới góc độ lý luận, phục vụ công tác nghiên cứu và hiểu bản chất sâu xa của vấn đề Thực tại cần phải hiểu theo qui định hiện hành của Bộ luật TTHS, có nghĩa rằng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án là các giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự Mỗi giai đoạn có chủ thể tiến hành, vị trí, vai trò, nhiệm vụ khác nhau Phân ra các giai đoạn khác nhau do các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau tiến hành là để đảm báo tính khách quan cũng như việc nâng cao trách nhiệm của từng cư quan tiến hành tố tụng trong việc xử lý vụ án

Có ý kiến cho rằng, hoạt động điều tra của C Q Đ T là hoạt động nhằm buộc tội Q uan điểm khác lại cho rằng hoạt động điểu tra vừa thực hiện chức năng buộc tội vừa thực hiện chức năng gỡ tội

So sánh chức năng, nhiệm vụ giữa C Q Đ T và VKS thì thấy cả hai cơ quan trên khi thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của minh đều nhằm m ục đích là chứng minh, vạch trần tội phạm và buộc tội bị can R õ ràng chức năng công tố là chức năng trung tâm của C Q Đ T và VKS Tuy nhiên, nói như vậv không có nghĩa là trong quá trình điều tra vụ án, C Q Đ T chỉ thu thập chứng cứ xác định

có tội, những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can Nếu vậy, việc điều tra sẽ là phiến diện, thiếu khách quan Do vậy, để điều tra được khách quan, đúng người, đúng tội, tránh oan sai thì C Q Đ T cần phải thu thập cá chứng cứ xác định vô tội, những tinh tiết giảm ;ihẹ irách nhiệm hình sự cho bị can Đây cũng chính là m ột'trong những nguyên tắc của hoạt động điều tra :

"Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật tiến hành m ột cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội,

Trang 16

những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người

có hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô lội" (K2 Đ5 Pháp lệnh TCĐTHS)

Như vậy: Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự bắt đầu từ khi khới tố vụ án và kết thúc khi có bản kết luận điều tra vụ án do các cơ quan

và người có thẩm quyền tiến hành bằng cách áp dụng các biện pháp điều tra theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS qui định kêì hợp với các biện pháp nghiệp vụ nhằm phát hiện, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, đảm bảo cho việc xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

1.2 Vị trí, vai trò của Điều tra viên và Thủ trưởng Co quan điều tra

t r o n g giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

1.2.1 Vị trí, vai trò của Điều tra viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Thuật ngữ “ Điều tra viên” chỉ xuất hiện từ khi có Bộ luật TTHS năm

1988 Trước đó, pháp luật chỉ qui định thẩm quyền điều tra tố tụng thuộc về

C Q Đ T với tư cách là một tổ chức m à không quan tâm đến ai là người thực tế điều tra Trong giai đoạn này, C Q Đ T không chỉ là chủ thể của TTHS ngang

h àng với VKS và Toà án, m à còn là người chịu trách nhiệm vc kếl qua, chất lượng, hậu quả pháp lý trong điều tra vụ án Tư cách tiến hành tố lụng của cán

bộ điều tra trên thực tế không được phân biệt và qui định rõ ràng Khái niệm

vê cán bộ điều tra hay Đ TV không được biết đến trong pháp luật hay thực tiễn

tố tụng Tên gọi của những cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ điều tra gắn liền với tên gọi của CQĐT Do không có tên gọi có tính pháp lý m à người thực hiện

nh iệm vụ điều tra chỉ được gọi chung là cán bộ Công an, cán bộ chấp pháp hoặc cán bộ xét hỏi Người điều tra có thể là bất kỳ người nào trong cơ quan

C ông an hoặc cơ quan chấp pháp m à không cần danh nghĩa pháp lý, cũne không cần được bổ nhiệm Điều này không phan ánh sự chuyên môn hoá trong hoạt động điều tra Tất nhiên là không có danh nghĩa pháp lý thì không phải chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu qua hoạt động điều tra

Trang 17

Khắc phục nhược điểm trên, Bộ luật TTHS năm 1988 và Pháp lênh TCĐTHS năm 1989 đã qui định tên gọi “Điều tra viên” để chỉ người trực tiếp tiến hành hoạt động điểu tra trong CQĐT, xác định ĐTV là "người tiến hành

tố tụng", đồng thời quy định rõ thẩm quyền cũng như tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm ĐTV

Về thẩm quyền của ĐTV, Bộ luật TTHS năm 1988 quy định "Đ TV dược phân công điều tra vụ án có quyền tiến hành các biện p h á p điều tra do Bộ luật này quy định và p h ả i chịu trách nhiệm về nhữnq hoạt động điều tra của

m ình" Tuy nhiên, luật không chỉ rõ ĐTV được phép tiến hành các biện pháp

điều tra cụ thể nào Điều này dẫn đến cách hiểu và vận dụng thiếu thống nhất, ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của ĐTV

Về tiêu chuẩn bổ nhiệm, Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989 quy định bên

cạnh điều kiện chung cần có đối với tất cả các bậc ĐTV là "có p h ẩ m chất chính trị, đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có kiến thức p h á p lu ậ t cần thiết

vù có khả năng thực hiện nhiệm vụ điều tra" thì mỗi bậc ĐTV phải có những

tiêu chuẩn nhất định về trình độ học vấn Cụ thể : ĐTV SƯ cấp phải có trình độ trung học an ninh, cảnh sát, pháp lý hoặc tương đương ĐTV trung cấp và cao cấp phải có trình độ đại học an ninh, cảnh sát, pháp lý hoặc tương đương

Như vậy, theo Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989 thì để được bổ nhiệm ĐTV cao cấp hoặc trung cấp không nhất thiết phải có trình độ đại học an ninh, cánh sát, pháp lý Đối với ĐTV sơ cấp, không nhất thiết phải có trình độ trung học

an ninh, cánh sát, pháp lý vì Pháp lệnh quy định "tương đương" Tuy nhiên,

th ế nào là "tương đương" với các cấp học trên thì không có văn bản nào hướng dẫn thực hiện Chính vì vậy, mỗi địa phương có cách hiểu và vận dụng khác nhau, dẫn tới việc bổ nhiệm ĐTV diễn ra một cách tuỳ tiện

Bên cạnh đó thủ tục bổ nhiệm ĐTV cũng khá đơn giản Việc bổ nhiệm

Đ TV do Thủ trưởng cơ quan quản lý từ cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên quyết định theo đề nghị của Thủ trưởng CQĐT

Trang 18

Phải chăng, chính cách quy định dễ dãi, "thông thoáng" nêu irên là nguyên nhân dẫn đến thực trạng yếu kém về trinh độ năng lực của một bộ phận ĐTV hiện nay, làm ảnh hướng tiêu cực tới vị trí, vai trò của ĐTV mà hiện nay chúng ta đang phải khắc phục ?

K ế thừa và phát triển các qui định của Bộ luật TTHS năm 1988 và Pháp lệnh TCĐ THS năm 1989, pháp luật TTHS hiện hành tiếp tục qui định ĐTV là người tiến hành tố tụng (Điều 33 Bộ luật TTHS); xác định rõ “Đ TV là người được bổ nhiệm theo qui định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự” (Điều 29 Pháp lệnh TCĐTHS), đồng thời quy định một cách rõ rànư,

cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của ĐTV, trao thêm cho Đ TV một

số q u y ền như : quyền triệu tập người tham gia tố tụng (trừ người giám định, phiên dịch); quyền quyết định áp giải bị can, dẫn giải người làm chứng (Điều

35 Bộ luật TTHS) Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, Nghị quyết 08-

N Q /TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cẩu "Cán bộ cỏ chức

d anh tư p h á p p h ả i cố trình độ đại học luật và được đào tạo vê k ỹ năn lị lì íỊÍiề nghiệp tư p h á p theo chức danh" Quán triệt yêu cầu trên, Pháp lệnh TCĐTHS

2 004 đã bỏ tiêu chuẩn về trình độ "tương đương" và quy định thống nhấl tiêu

c h u ẩn bổ nhiệm đối với Đ TV nói chung phải có trình độ đại học an ninh, đại học cảnh sát hoặc đại học luật, có thời gian làm công tác thực tiễn nhất định

và được bồi dưỡng, đào tạo về nghiệp vụ điều tra đồng thời quy định nhiệm kỳ của Đ TV là 5 năm kể từ ngày được bổ nhiệm (Đ30 Pháp lệnh TCĐTHS) Bên cạnh đó thủ tục bổ nhiệm Đ TV cũng được quy định chặt chẽ hơn trước Theo

đề nghị của cơ quan tổ chức - cán bộ, Hội đồng tuyển chọn ĐTV có nhiệm vụ tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm ĐTV, đề nghị Bộ trưởng Bộ Công an Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc bổ nhiệm ( Đ 3 1, 32 Pháp lệnh TCĐTHS)

Các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra không phải là cơ quan chuyên trách đấu tranh phòng chống tội phạm Hơn nữa, các

Trang 19

cơ quan này khi tham gia tố tụng không phải với tư cách là cơ quan tiến hành

tố tụng Do đó ở đây không có Thủ trưởng, Phó thủ trưởng C QĐ T và ĐTV.Như vậy : ĐTV là người tiến hành tố tụng và chỉ được công nhận trong CQĐT chuyên trách

Trong quá trình tố tụng, CQĐT có nhiệm vụ áp dụng mọi biện pháp do

Bộ luật TTHS qui đinh để xác định tội phạm và người phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các CO' quan

và tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, phòng ngừa

ĐTV được phân công điều tra vụ án, có trách nhiệm thực hiện các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm của người phạm tội cũng như các tình tiết khác của vụ án Do vậy, có thể nói nhiệm vụ của CQĐT cũng chính là nhiệm vụ của ĐTV trong giai đoạn điều tra vụ án

Theo qui trình điều tra một vụ án hình sự, sau khi nhận được tin báo, tố giác về tội phạm, ĐTV được phân công có nhiệm vụ kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm nhằm xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm làm cơ SỞ cho việc đề xuất với Thủ trưởng CQĐT ra một trong hai quyết định : Quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, làm căn cứ cho việc thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo

Sau khi được phân công điều tra vụ án, ĐTV phải tiến hành ngay các biện pháp cấp bách nhăm kịp thời thu thập chứng cứ, sau đó lập k ế hoạch điều tra vụ án K ế hoạch điều tra được xây dựng trên cơ sở các tình huống điều tra

và các giả thiết được xây dựng xuất phát từ tinh huống điều tra đó Công tác điều tra sẽ nhanh chóng và hiệu quả nếu ĐTV đưa ra được k ế hoạch điều tra đúng đắn, sát với yêu cầu thực tế của vụ án Sau khi lập k ế hoạch điều tra vụ

án, ĐTV chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện k ế hoạch, trực tiếp áp dụne các biện pháp điều tra theo qui định tại Điều 35 Bộ luật TTHS để thu thập chứng

cứ, chứng minh tội phạm và người phạm tội Đây là giai đoạn khó khăn, phức tạp nhất, thể hiện rõ vai trò, bản lĩnh cũng như trình độ nghiệp vụ của ĐTV

Trang 20

N hiệm vụ trung tâm lúc này cứa ĐTV là phải tái tạo lại sự việc phạm tội đã xảy ra trong quá khứ, căn cứ vào dấu vết, tài liệu, chứng cứ thu thập được Trong quá trình đó ĐTV không những chỉ huy động tối đa khả năng trí tuệ định hướng hoạt động cúa mình để thu thập dấu vết, tin tức, tài liệu, chứng cứ của vụ án mà còn phải tư duy, phân tích tìm ra chân lý, sự thật của vụ án hình

sự Việc tái tạo lại toàn bộ diễn biến của vụ án đã xảy ra trong quá khứ, cho dù

là tội phạm đơn giản thì cũng là một công việc đầy khó khăn và phức tạp, nhất

là đối với các vụ án mờ, chưa rõ thủ phạm ĐTV phải đặt ra các giả thiết, tìm

ra lời giải đáp, thu thập chứng cứ và xem xét đánh giá, chấp nối các sự kiện sao cho bức tranh được tái hiện lại hoàn toàn chuẩn xác như những gì đã xảy ra trong quá khứ Để iàm được điều đó, ĐTV phải có khả năng tư duy, xét đoán sư việc một cách sắc sảo, lô gíc; có kiến thức xã hội và pháp luật sâu sắc; có phẩm chất chính trị và đạo đức; có trình độ nghiệp vụ điều tra và trinh sát vững vàng.Nếu vụ án hình sự do một ĐTV thụ lý thì để hoàn thành nhiệm vụ ĐTV phái dám tự hành động độc lập và dám chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của mình Ngay cả trong cơ chế điều tra bằng ló chức, bằng ban chuyên án mà

Đ TV chủ yếu chỉ là người thừa hành mệnh lệnh cụ thể của Thủ trướng CQĐT hoặc sự phân công của nhóm trưởng thì phẩm chất cá nhân, khả năng độc lập

h ành động của ĐTV vẫn là thế mạnh và là điều kiện không thế thiếu để ĐTV hoàn thành nhiệm vụ Ngay trong việc thực hiện từng hoạt động điều tra cụ thể cũng đòi hỏi đầu óc sáng tạo và bản lĩnh nghiệp vụ của ĐTV Rõ ràng là không phải ở đâu và vào bất cứ lúc nào ĐTV cũng có thể báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Thủ trưởng CQĐT Cũng không phải bao giờ Thủ trưởng CQĐT cũng phải chi tiết hoá, cụ thể hoá chiến thuật tiến hành tùng hoạt động điều tra cho ĐTV Dĩ nhiên, ĐTV phải độc lập, tự nghiên cứu, lựa chọn k ế hoạch và chiến thuật phù hợp với tùng'tình huống cụ thể sao cho đạt hiệu quả cao nhất.Trong quá trình điều tra, ĐTV phải luôn chú ý đánh giá chứng cứ đã thu thập được để xác định nhũng vấn đề cúa vụ án đã được chứng minh và những

Trang 21

vấn đê chưa đu chứng cứ để bố sung, sửa đổi k ế hoạch điều tra và tiếp tục lổ chức thực hiện Khi hệ thống chứng cứ thu thập được đã đú đế chứng minh những vấn đề cần chứng minh thì k ế hoạch điều tra mới được coi là kết thúc

và việc chứng minh có thể coi là đã xong

Trong trường hợp quá trình điều tra vụ án đã đi đến chứng minh một cách

có căn cứ các tình tiết khẳng định rõ hành vi xảy ra mang đẩy đu những dấu hiệu của tội phạm cụ thể được qui định trong Bộ luật hình sự và người đã thực hiện tội phạm đó phải chịu trách nhiệm hình sự thì ĐTV viết kết luận điều tra

vụ án, đề nghị truy tố để thông qua Thủ trưởng CQĐT

Nói tóm lại: ĐTV là người phát hiện và điều tra làm rõ tội phạm và người phạm tội một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Vai trò đó được thể hiện ở từng khía cạnh cụ thế căn cứ vào vị trí, chức trách của ĐTV như sau :

- ĐTV là người tiếp nhận và kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, giữ vai trò quan trọng trong việc quyết định khởi tố hay không khới tố

vụ án hình sự

- ĐTV là người lập k ế hoạch điều tra vụ án hình sự đồng thời là người tổ chức thực hiện k ế hoạch điều tra đó, trực tiếp thực hiện các hoạt động, biện pháp điều tra để thu thập chứng cứ chứng minh vụ án

- ĐTV là người đánh giá chứng cứ của vụ án trên cơ sở niềm tin nội tâm và ý thức pháp luật XHCN, giữ vai trò quan trọng trong quyết định cuối cùng cứa tiến trình điều tra : Kết luận điều tra, đề nghị truy tố hay không truy tố người phạm tội

N gày nay, khi khoa học công nghệ đã có bước phát triển nhảy vọt, nhiều thành tựu khoa học được ứng dụng vào các hoạt động tư pháp trong đó có công tác điều tra thì khả năng, trí tuệ và vai trò của ĐTV vẫn là điều không thể thay thế Nếu ĐTV là người có trách nhiệm và trình độ pháp luật, nghiệp

vụ vừng vàng, có kinh nghiệm điều tra thì kết quả điều tra sẽ đạt ở mức cao Ngược lại, nếu ĐTV không ẽó đủ các điều kiên và tiêu chuẩn đó thì sẽ ánh

[R ư ơ n g đ a

P H Ò N G G

Trang 22

hưởng lớn đến kết qua điều tra Nếu ĐTV lổng ý thức chu quan, phiến diện hoặc có động cơ tiêu cực, chủ động làm sai lệch hồ sơ vụ án thì sự thật của vụ

án có thể bị đảo lộn dẫn tới bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội

Như vậy : Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cá nhân ĐTV luôn giữ

vị trí, vai trò quan trọng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, chất lượng, tính khách quan, chính xác của sự thật vụ án, quyết định vấn đề thành bại cua toàn bộ giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.2.2 Vị trí, vai trỏ của Thủ trưởng Cơ quan điểu tra trong giai đoạn điểu tra vụ án hình sự.

Cũng như ĐTV, thuật ngữ “Thủ trưởng CQĐ T” chỉ xuất hiện từ khi có

Bộ luật TTHS năm 1988 Theo quy định tại điều 27 Bộ luật TTHS năm 1988 thì trong CQĐT chí có ĐTV là người tiến hành tố tụng, còn Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT không được xác định là người tiến hành tố tụng Tuy nhiên, trong quá trình điểu tra vụ án hình sự, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 1988 và Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989 thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT lại có không ít các quyền năng tố tụng

Mặt khác, về tiêu chuẩn bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989 cũng chỉ quy định : "Người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có trình độ đại học an ninh, cảnh sát, pháp lý hoặc tương đương, có nghiệp vụ điều tra, có kinh nghiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra có thể được bổ nhiệm làm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra" Điều đó có nghĩa, để được bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, không yêu cầu tiêu chuẩn người được bổ nhiệm phải là ĐTV Chính vì vậy, trong thực tiễn nảy sinh không ít nhũng bất cập, vướng mắc tập trung vào vấn đề Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT có phải là ĐTV, là người tiến hành tố tụng hay không ? hay chỉ là người có chức vụ, đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng ?

Khắc phục bất cập, vướng mắc đó pháp luật TTHS hiện hành đã có sửa đổi,

bổ sung quan trọng về vị trí pháp lý của Thủ trường CQĐT Để được bổ nhiệm làm

Trang 23

Thu trưởng, Phó Thú trưởng CQĐT đòi hỏi người được bố nhiệm phái là ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp, có năng lực tổ chức và chỉ đạo hoạt động điều tra Việc

bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chúng nhận Thủ trướng, Phó Thu trưởng CQĐT trong Công an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định, trong Quân đội nhân dân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định, ỏ' Viện Kiếm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quyết định (Đ35 Pháp lệnh TCĐTHS) Bên cạnh đó Bộ luật TTHS đã bổ sung Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT là người tiến hành tố tụng (Điều 33 - Bộ luật TTHS)

Như vậy, Thủ trướng, Phó Thú trưởng C Q Đ T là người tiến hành tố tụng,

là ĐTV giữ chức vụ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT

Trong CQĐT, Thủ trưởng CQĐT là người phai chiu trách nhiệm vế toan

bộ hoạt động của cơ quan Thủ trưởng CQĐT có nhiệm vụ tố chức và chi đạo những hoạt động của CQĐT, bao đảm nhiệm vụ của C Q Đ T được thực hiện Vừa là người đứng đầu, đại diện cho CQĐT, đồng thời là người tiến hành tố tụng khi thực hiện điểu tra vụ án, Thủ trưởng C Q Đ T có quyền phân công ĐTV thụ lý vu án, quyết định áp dụng các hoạt động điều tra tố tụng quan trọng, then chốt nhất trong quá trình điều tra, kiếm tra đôn đốc tiến độ công tác điếu tra và chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hoại động điều tra của CQĐT

Vai trò của Thủ trưởng CQĐ T thể hiện chu yếu ở việc tổ chức và chí đạo các hoạt động điều tra của ĐTV, đảm bảo các biện pháp điều tra của ĐTV được thực hiện một cách đúng pháp luật, khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm

rõ được những chứng cứ xác định có tội, những chứng cứ xác định vô tội những tình tiết giảm nhẹ của bị can, đảm bảo không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

Trong quá trình điều tfa vụ án, Thủ trướng C QĐ T phải bao quát toàn bộ nhũng nội dung và các biện pháp, hoạt động điều tra của các ĐTV trong CỌĐT; chỉ đạo thực hiện những biện pháp cấp bách; tổ chức lực lượng truy tìm thủ phạm theo dấu vết nóng, nếu tình huống điều tra đòi hỏi; chỉ đạo va

Trang 24

điều hành việc phát hiện, thu thập và củng cố chứng cứ; tập hợp kết quá hoạt động của ĐTV để có k ế hoạch và phương hướng chỉ đạo điều tra tiếp theo Trong mỗi vụ án cụ thể, các tình huống điều tra liên tục biến đổi và chỉ kết thúc khi đã làm rõ được sự thật của vụ án Thủ trưởng C Q Đ T phải phân tích, đánh giá đúng tình huống và phương hướng phát triển tiếp theo của tình huống thì mới có thể chỉ đạo quá trình điều tra đúng hướng Chí đạo đúng, quá trình diều tra sẽ có kết quả khả quan Chỉ đạo sai, quá trình điều tra sẽ rơi vào bế tắc.Theo qui định tại Điều 34 Bộ luật TTHS, Thủ trưởng CQĐ T có quyền quyết định áp dụng tất cả những hoạt động điều tra, những biện pháp cưỡng

c h ế tố tụng quan trọng và cơ bản, từ khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng thay đổi huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn đến kết luận điều tra, đề nghị truy tố Như vậy, quyền hạn của Thủ trưởng CQĐ T là rất lớn Biết sử dụng quyền hạn

đó của mình đúng lúc, đúng chỗ, đúng pháp luật và giới hạn ở mức độ cần thiết là m ột đòi hỏi đạo đức quan trọng đối với Thủ trưởng CQĐT Trên thực

tế thường xuất hiện tình huống, khi Thủ trưởng CQĐ T có thể sử dụng các hoạt động điều tra hoặc các biện pháp cưỡng c h ế khác nhau, ở mức độ này hay mức

độ khác trong phạm vi chức trách và quyền hạn của mình, v ề hình thức, trong cả hai tình huống đó, Thủ trưởng CQĐT đều đúng, mọi quyết định đều có cơ sở pháp luật Nhưng về bản chất, biện pháp nào được sử dụng trong trường hợp thật cần thiết mới là đúng đắn nhất Do vậy, trong mọi trường hợp, Thủ trưởng

C Q Đ T cần tỉnh táo, xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi của thực tế tình huống để ký phê chuẩn các quyết định do ĐTV đề xuất Cần hết sức tránh việc xâm nhập, can thiệp vào đời sống riêng tư của mọi người, tách biệt công dân ra khỏi đời sống thường nhật của họ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế không cần thiết.Thực tế những năm gần đây cho thấy, điều tra tội phạm là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và được công luận quan tâm Nhưng không phải bao giờ các phương tiện truyền thông đại chúng cũng tuyên truyền đúng đắn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra vụ án, và hình thành dư luận xã hội đúng về bản chất vụ án Đặc biệt phức tạp khi báo chí và các phương tiện truyền thông

Trang 25

khác đã ra “bán án ” trước thời han của mình, đưa ra những thônơ tin trái7 o o

ch i ều , tạo c h o d ư luận xã hộ i n i ề m tin ớ tình tiết nà y h o ặ c tình tiết k h á c củ a VII

án mà về bán chất còn phải đợi quá trình điều tra, xác minh và kết luận

Tinh huống thường gặp khác là trường hợp người liên quan tới tội phạm

là người có chức vụ quyền hạn, thậm chí giữ những chức vụ nhất định troim

bộ máy của Đáng và Nhà nước, hoặc thân nhân của những no ười này Mặc dù

“quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật” là một nguyên tắc Hiến định đồng thời là một nguyên tắc tố tụng (Điều 52 Hiến pháp, Điều 5 Bộ luật TTHS) Tuy nhiên không phải ở đâu và bao giờ, đối với bất cứ ai cũng được hiểu và thực hiện một cách đúng đắn, nhất quán Thông thường nhữrm dổi tượng này bao giờ cũng có quyền lực lớn, có mối quan hệ rộng, có thế ánh hướng tới “sự tồn tại và chỗ đứng” của Thủ trưởng CQĐT

Trong cả hai hình huống nêu trên, nếu Thủ trưởng CQĐ T chí đạo điều tra

và kết luận vụ án “theo dư luận xã hội” và “né tránh, cho q ua” bằng cách dinh chỉ vụ án thì sẽ được “yên ổ n ” , thậm chí “thăng quan tiến chức” hơn n ước Nhưng sư thàt vu án sẽ bi bóp méo, cổng lý bi xâm phạm, sự nghiệp tir pháp

mà Thủ trưởng C Q Đ T đang phục vụ bị phản bội Trong những tình huống này,

để giải quyết vụ án đúng pháp luật, đảm bảo khách quan, không bỏ lọt tội phạm, đòi hỏi Thủ trưởng C Q Đ T không những phải có trình độ nghiệp vụ vững vàng, sắc sảo mà còn phải GÓ bản lĩnh và lòng dũng cảm, ý chí tiến con tội phạm tới cùng, không bị cám dỗ mua chuộc bằng lợi ích vật chất NhữntỊ phẩm chất đó còn là chỗ dựa tinh thần vững chắc đê ĐTV vượt qua trớ nuai

áp lực tâm lý, hoàn thành nhiệm vụ được giao

Nói tó m lai : Thủ trưởng C Q Đ T có vai trò quan trọng thể hiện ớ việc tổ chức, chỉ đạo điều tra vụ án một cách khách quan, toàn diện, đảm báo các biện pháp điều tra được thực hiện đúng pháp luật và hiệu quả, đám báo khôiìiỉ đe lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Những thành tích, kết quả thu được cũng như những tồn tại, thiếu sót trong tổ chức điều tra vụ án hình sự, trong mọi hoạt động của CQĐ T đều thuộc trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT

Trang 26

CHƯƠNG II

QUYỀN VÀ NGHĨA vụ CỦA ĐIỂU TRA VIÊN

VÀ THỦ TRƯỞNG c ơ QUAN ĐIỀU TRA

ĩị í ífí _

2.1 Quvền và nghĩa vụ của Điều tra viên.

2.1.1 Quyền của Điều tra viên.

Theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, ĐTV chỉ có quyền tiến hành các biện pháp điều tra khi được phân công điều tra vụ án Sự phân công điều tra vụ án của Thủ ínróìm CỌĐT có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản v ề nguyên tắc, <ziai đoạn điều tra vụ án hình sự được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều trường hợp có nhiều biện pháp điều tra được tiến hành trước khi có quyết định khởi tố vụ án như : Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định, lấy lời khai người bị hại để kịp thời truy bắt đối tượng theo dấu vết nóng Trong những trường họp trên, sự phan công bằng miệng của Thủ trưởng C ỌĐ T cũng là cơ sở phát sinh các quyền và nụhĩa vụ của Điều tra viên khi tiên hành các hoạt động điều tra

Sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, Thủ trưởng C Q Đ T mới ra quyết định phân công điều tra vụ án chính thức bằng văn bán

Như vậy, những quyền và nghĩa vụ của ĐTV chỉ phát sinh khi họ được Thu trưởng C QĐ T phân công điểu tra vụ án và trong khi tiến hành các hoạt độn tí điều tra Đương nhiên là ĐTV chỉ có quyền và nghĩa vụ trong phạm vi

vụ án mà mình được phân công điều tra, chứ không phải tronu tất cá các vụ án dang được C ỌĐ T thụ lý

Q uyền và nghĩa vụ của ĐTV chấm dứt khi kết thúc giai đoạn diều tra vụ

an háng Bán kết luận điều tra dể nghị truy tố bị can Trường hợp cá biệt,

Vquyền và nghĩa vụ của ĐTV chấm dứt khi vụ án tạm đình chi hoặc đinh chí Nếu vụ án được phục hồi điều tra thi quyết định phục hồi điều tra vụ án là cơ

sớ pháp lý khôi phục lại các quyền và nghĩa vụ của ĐTV trong các hoạt động

Trang 27

clicu tra Khi ĐTV bị thay đổi theo Điều 44 Bộ luật TTHS hoặc do yêu càu nhiệm vụ trong nội bộ CQĐT thì quyết định thay đổi ĐTV ílièu tra vụ an cua Thủ trưởng CQĐT là cơ sở chấm dút quyền và nghĩa vụ của ĐTV này đồn Sĩ thời

là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ của ĐTV khác được phàn côníi thay thế

Theo qui định tại Điều 94 Bộ luật TTHS năm 1988 thì ĐTV được phan côn li điều tra vụ án có quyền tiến hành các biện pháp điều tra do Bộ luật TTHS qui định

và phải chịu trách nhiệm về những hoạt động điều tra của mình Tuy nhiên, luai khôns chí rõ những biện pháp điều tra nào thuộc thẩm quyền của ĐTV

Trcn thực tế, ĐTV chí được tiến hành một số biện pháp diêu tra nhàt đinh Các hiện pháp điểu tra cơ bản là thủ tục bát buộc của quá trình tố luim được thể hiện bằng các lệnh, quyết định thuộc thẩm quyền của Thủ trưóìm CQĐT Bộ luật TTHS năm 1988 cũng không qui định rõ một sô biẹn phap điều tra thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng CQĐT hay của ĐTV như : Triệu tập người làm chứng (Điều 109); triệu tập người bị hại (Điều 112); triệu tập bị can (Điều 106); thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện (Điều 119); khám nghiệm hiện trường (Điều 125); thực nghiệm điều tra (Điều 128)

Cách qui định vừa mâu thuẫn, vừa thiếu rõ ràng như trên đã ảnh hướng không nhỏ đến cách hiểu và vận dụng pháp luật một cách đúng đắn, thống nhát, ánh huorm

tới hiệu quả hoạt động của ĐTV “Điều tra viên, Thú trưởng, Phó Thít trướng

C Q Đ T là các clìức danh tư pháp Hoạt clộníị của họ klìôiiíỊ dược tux lịiịỊìi; theo sự plìân côiìíị nội bộ nào đỏ, mù phãi trên co' sớ phân íỉịnlĩ cùa pliáp lu ậ t" 1 17, tr / 7'.

Vì vậy, để khắc phục các khiếm khuyết nêu trên, Bộ luật T Í HS hiện hành đã qui định rất rõ ràng, cụ thể quycn hạn và trách nhiệm cua ĐTV khi được phân công điều tra vụ án

T rong quá trình điều tra vụ án hình sự, tuỳ tình huống điều tra cụ thể cùa

vu án, Đ TV có thê tiến hành những hoat động diều tra nhất đinh mà khône7 o . ■o *—nhất thiết phái tiến hành tất cả các hoạt động điều tra thuộc thấm quyền cua mình Đ ồng thời khi tiến hành các hoạt động điều tra đã phát sinh các quven

và nghĩa vụ của ĐTV trong hoạt động điều tra đó

Trang 28

T heo quy định tại khoán I Điều 35 Bộ luật TTHS hiện hành, ĐTV có các nhỏm quyền sau :

1 Lập hồ so vụ án hình sự.

Hồ sơ vụ án hình sự là tập hợp những tài liệu, vật chứnơ được hình thanh hoặc được thu thập trong quá trình điều tra vụ án theo trình tự, thủ tục do Bộ luật T TH S qui định nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện

T rong quá trình điều tra và lập hồ sơ vụ án, ĐTV không được tự ý thêm, bứt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ hoại hoặc bằng các thủ đoạn khác làm hư hónií tài liệu, vật c h ứ n g của vụ án, làm c ho hồ sơ vụ án bị sai lệch, k h ô n g phù hợp VỚI thực tế m à vụ án đó xảy ra Trường hợp làm sai lệch hồ sơ vụ án, tuỳ theo tính chất và hậu quá xảy ra, ĐTV có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vê tội

“ làm sai lệch hồ sơ vụ án” theo Điều 300 Bộ luật hình sự

2 T r i ệ u tậ p và hỏi cu ng bị can: triệu tậ p và lấy lòi khai của nguòi làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đon dân sự, người có quyền loi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

V ề qu yền triệu tập trong tố tụng hình sự, Bộ luật TTHS năm 1988 không

qui định rõ thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng C Q Đ T hay của ĐTV Trên thực

tế Đ TV chỉ được đề xuất đối lượng cần triệu tập Thủ trưởng CQĐ T sẽ quyết định và ký giấy triệu tập Trong nhiều trường hợp, hoạt động triệu tập mang tính cấp bách nhằm cung cấp ngay những thông tin, tài liệu phục vụ truy bãi đối tượng, truy thu vật chứng Do vậy, nếu chí để 'ỊTiu trưởng, Phó Thu trướng C Q Đ T quyết định việc triệu tập sẽ làm chậm tiến độ điều tra mất thời

cơ tiến cò n g tội phạm Khắc phục điểm yếu đó Bộ iuật TTHS hiện hành dã trao quyền triệu tập bị can; triệu tập người làm chứng, người bị hại, nguycn đơn dân sự, bị đơn dân sự người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án cho ĐTV

Việc triệu tập phái được tiến hành tuân theo trình tự, thủ tục 01 li định tại các điều luật tương ứng: Triệu tập bị can - Điều 129; triệu tập người làm

Trang 29

chứng - Điều 133; triệu tập người bị hại, nguyên đơn dàn sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Điều 137 Bộ luật TTHS.

H ói cung bị can là một biện pháp điều tra theo trình tự luật định đối với

một người đã bị khởi tố về hình sự nhằm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội cua họ và những người đồng phạm khác Việc hỏi cung bị can phải được tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can Luật không qui định rõ “tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can ” là tiến hành sau đó bao nhiêu thời gian (ngày, giờ) Trên thực tế việc khẩn trương tiến hành hỏi cuna bị can

sẽ sớm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội của bị can, giúp cho công tác điểu tra xử lý được nhanh chóng kịp thời, đáp ứng yêu cẩu đấu tranh phòng chốĩìỉỉ tội phạm Mặt khác việc hỏi cung được tiến hành nhanh chóng, khẩn trương sau khi có quyết định khới tố bị can sẽ tạo điều kiện cho bị can sớm thực hiện được các quyền đưa ra chứng cứ, yêu cầu, thực hiện quyền bào chữa giúp cho công tác điều tra được khách quan và toàn diện Do vậy, có thể hiểu là việc hỏi cung bị can phải được tiến hành càng sớm càng tốt sau khi có quyết định khởi tố bị can

Việc hỏi cung bị can phải được tiến hành tuân theo trình tự, thủ tục qui định tại Điều 131 Bộ luật TTHS

L ấv lời khai niỊười làm chửng là biện pháp điều tra được thực hiện hanu

cách trực tiếp gặp và hỏi người đã chứng kiến hoặc CÓ những thông tin về các linh tiết của vụ án hình sự để thu thập những thông tin cần thiết cho việc diều tra làm rõ sự thật của vụ án

Việc lấy lời khai người làm chúng phái được tiến hành tuân theo trình lự thú tục quy định tại Điều 135 Bộ luật TTHS

Khi lây lời khai ĐTV không được bức cung, móm cung và dùng nhục hình Nếu ĐTV trong quá trình lấy lời khai người làm chứng mà bức cung, mớm cung hoặc dùng nhục hình thì tuỳ theo tính chất và hậu quá vi phạm có thể phái chịu trách nhiệm hình sự về các tội : Tội dùng nhục hình (Đ.298 - Bộ luật hình sự); tội bức cung (Đ.299 Bộ luật hình sự)

Trang 30

Biên bán ghi lời khai của người làm chứng phái được lập theo qui định tại các Điéu 95, 125, 132 của Bộ luật TTHS.

Lấy lòi khai của người bị liại, nguyên íĩơìi dân sự, bị cĩơìì dân sự, Iiiỉiíòi có

c/uvêìi lọi, lìglũa vụ liên quan đến vụ án : được tiến hành theo trình tự, thủ tục như

dối với người làm chứng, qui định tại các Điều 135, 136 Bộ luật TTHS

Biên bán ghi lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự bị dơn dân sự người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng được lập theo thủ lục chung, được qui định tại các Điều 95, 125, 132 Bộ luật TTHS

3 Quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng.

A p giải bị can tại ngoại và dẫn giải người làm cliíriìỊi là những thấm

quyên của ĐTV mới được qui định trong Bộ luật TTHS hiện hành Tuy việc áp giai bị can tại ngoại và dẫn giải người làm chứng đã được qui tiịnh tại Bộ luật TTHS 1988, song không qui định rõ thẩm quyền áp dụng cũng như trình tự, thủ tục của việc áp dụng các biện pháp này nên trong thực tiễn thi hành náy sinh nhiều vướng mắc, bất cập Để khắc phục tình trạng trên, Bộ luật TTHS hiện hành đã qui định rõ việc áp dụng các hiện pháp áp giái bị can và dần giai người làm chứng thuộc quyền hạn của ĐTV, đồng thời bổ sung thêm nhíĩng nội dung mới về trình tự, thú tục tiến hành

Theo qui định tại khoản 3 Điều 129 Bộ luật TTHS thì ĐTV có thê ra quyết định áp giải đối với bị can đã được triệu tập mà vắng mặt không có lý

do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh

Nội dung của quyết định áp giải bị can cũng như trình tự, thủ tực thi hành quyết định áp íĩiái được quy định tại Điều 130 Bộ luật TTHS

Dẩn iỊÌái người làm chứng là biện pháp cưỡng ch ế do ĐTV áp dụng đế

buộc người biết các tình tiết liên quan đến vụ án hình sự phải đến để khai báo nếu người đó đã được triệu tập m à cố ý khônơ đến khi không có lý do chính đáng, gây trở ngại cho việc điều tra tội phạm

Việc dãn giải người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 134 Bộ luật TTHS

Trang 31

4 Thi hàn h lệnh bắt, tạm giữ, tam gia m, k h á m xét, tlui giữ, tam giữ,

ke bièn tài sán.

Bíìt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu IỊÌữ, tạm ÍỊÌỮ, kè hicn tủi sán là các

biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cưỡng ch ế được qui định thuộc quyền hạn áp dựng của Thủ tnrởng CỌĐT Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò cua ĐTV trong việc áp dụng các biện pháp này Trong íĩiai đoan điều Ira YU án trên cơ sớ nghiên cứu kỹ các tình tiết, diễn biến của vụ án cũne như các chứnti cứ thu thập được, đối chiếu vói các qui định của pháp luật, nếu có đầy đu căn cứ ĐTV có quyền đề xuất ý kiến đối với Thủ trường CQĐT quyết định áp dụng và có trách nhiệm tổ chức thi hành các lệnh, quyết định đó của Thủ trướim CQĐT

B ãi tạm ịỊÌữ, tạm giam là các biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng ché

nghiêm khác nhất trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự Việc bắt, tạm giữ, tạm giam đụng chạm trực tiếp đến quyền tự do thân thế cua công dân, một trong những quyền cơ bản nhất được pháp luật háo hộ Việc bát, tạm giữ, tạm giam đúng pháp luật sẽ ngăn chặn được tội phạm, thúc đẩy tiến độ điều tra đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động điều tra đạt hiệu quá cao Níỉơợc lại, mọi vi phạm pháp luật dù nhỏ nhất cũng đè lại nhữnu hậu qua nặng nè Do vậy, khi đề xuất áp dụng các biện pháp này ĐTV phái nụhiên cứu

kỹ hổ sư vụ án, phai đảm bảo đầy đủ cơ sở, căn cứ theo qui định cua pháp luật cho từng trường hợp cụ thể

Khi thi hành lệnh bắt người phải báo đám nguyên tắc triệt đẽ tuan theo pháp luật ĐTV phải chấp hành nchiêm chính trình tự, thú tục cua việc bà! người ironn các trường hợp cụ thế : Bắt bị can đế tạm íĩiam phai tuân theo qui định tại Điều 80, bắt khán cấp phải tuân theo qui định tại Điêu 81, hát ne ười phạm tội quá tang hoặc bị truy nã theo qui định tại Điều 82 Bộ luật TTHS Trong mọi trường hợp bắt người, ĐTV đều phái lập biên bản theo qui định tại Điều 84 Bộ luật TTHS Sau khi bắt người phải thực hiện ngay những điều cân làm theo qui định tại Điều 83 Bộ luật TTHS

Trang 32

Khi thi hành lệnh tạm siữ, phái giái thích quyền và nghĩa vụ cho n II ười bị tam íỉiữ theo Điều 48 Bộ luật TTHS Việc tạm giũ' phai tuân theo quy định tại Điều 86, 87 Bộ luật TTHS.

Khi thi hành lệnh tạm giam bị can, ĐTV phái kiếm tra tỷ mỷ, cụ thể lv

i ịch nhân thân của người bị tạm giam Theo sự phân công của Thủ tnrớim CỌĐT, ĐTV phái thông báo cho gia đình người bị tạm siam , chính quyền địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị can cư trú hoặc làm việc biết về việc tạm mam bị can Trong khi tạm giam, nếu thấy không cần thiết phái tiếp tục tạm giam thì đề xuất với Thủ trưởng CQĐT đề nghị VKS huỷ bỏ biện pháp tạm mam, trá tự do cho bị can hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Khi hết thời hạn tạm giam mà không được gia hạn thì ĐTV đề xuất với Thú trưứim CQĐT áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nếu cần thiết

Việc tạm giam bị can phải tuân theo quy định tại Điều 88 Bộ luật TTHS

K hám xét là hoạt động điều tra nhằm tìm kiếm dấu vết tội phạm, vật

chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác liên quan đến vụ án Việc khám xét còn được tiến hành nhằm phát hiện người đang bị truy nã Việc khám xét chí ckidc tiến hành khi có căn cứ dể nhận định trong người, chỗ ở, chỗ lam việc, địa điểm của một người có công cụ phương tiên phạm tội, đồ vật, tài sán do phạm tội m à có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án

Q uyền bất khả xâm phạm về thân thể và chỗ ở là một trong những quvền

ca bản của công dân được pháp luật bảo hộ Do đổ, khi thi hành lệnh khám xét

phai triệt để tuân theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục khám xét trong các trường hợp cụ thể được quy định tại các điều luật tươnẹ ứng: Khám người - Điều 142, khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm- Điều 143, tạm giũ' đổ vật tài liệu khi khám xét- Điều 145 Bộ luật TTHS Trong quá trình khám xét, khòim được có những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoe tài san, danh dự, nhân phẩm của công dân

Thu giữ th ư tín, điện tín, bưu kiện, bưu p hẩm tại bưu điện.

Trong quá trình điều tra vụ án khi có căn cứ cho rằng thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện có liên quan đến vụ án thì ĐTV đề xuất với

Trang 33

rim trướng CQĐT ra lệnh thu giũ' và có trách nhiêm thực hiên lênh thu íii ũ' đó.^ ^ ' . . . . L.Lệnh thu giữ phải dược VKS cùng cáp phê chuẩn trước khi thi hành trừ tnrừnsz hợp khổng thể trì hoãn được nhưng phái ghi rõ lý do vào biên han và sau khi thu íiiữ phái báo ngay cho VKS biết.

ĐTV thi hành lệnh thu giữ phái tuân theo trình tự, thủ tục quy định tại Điêu 144 Bộ luật TTHS

K ì’ biên rủi sán là một biện pháp cưỡng ch ế của tố tụng hình sự nhằm

đám bao cho việc thi hành án về tịch thu tài sán, phạt tiền hoặc bồi thườnn thiệt hại được thuận lợi Vì vậy, chí áp dụng kê biên tài sán đối với bị can phạm những tội mà Bộ luật HS qui định có thể tịch thu tài sán, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại Trong quá trình kê biên tài sản, ĐTV chí kc hiên phần tài san tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường Việc kê biên lài sán phái tuân theo qui định tại Điều 146 Bộ luật TTHS

5 Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tủ thi, dôi chát, nhận dạng, thực nghiệm điều tra.

K hám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra do ĐTV tiến hành trực

tiếp tại hiện trường nhằm phát hiện, xem xét, ghi nhận dấu vết cùa tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án tại nơi xáy ra tội phạm Chính vì vậy, việc khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khới tố vụ án hình sự

Việc khám nghiệm hiện trường phái được tiến hành tuân theo các quy định tại Điều 150 Bộ luật TTHS

K húm nghiệm tử thi là hoạt động điều tra nhầm phát hiện đàu vết tội

phạm trôn thân thể người chết

Tử thi có thể mới dược phát hiện hoặc tử thi đã được mai táng, phái khai quật đế khám nghiệm

Nếu tử thi đã được mai táng, việc khai quật tử thi phải có quyết định của Thu trướng CQĐT và phải được thông báo cho gia đình nạn nhàn trước khi tiến hành Nếu gia đình nạn nhân không đồng ý vẫn có quyền khai quật tử thi

Trang 34

đế khám nghiệm Việc khám nghiệm tứ thi phái tuân theo quy định tại Điêu

151 Bộ luật TTHS

Đ ối chất là biện pháp điều tra do ĐTV tiến hành dưới hình thức cho hai

hay nhiều người tham gia tố tụng trong vụ án đã được khởi tố, cùng một lúc tham gia tranh luận và chất vấn lẫn nhau nhằm làm rõ những tình tiết mau thuẫn tronII lời khai trước đó của ho

Việc đối chất phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục được qui định tại Điều 138 Bộ luật TTHS

N hận clụng là biện pháp điều tra do ĐTV thực hiện bằng cách đưa người

hoặc đồ vật, hoặc ảnh cho người làm chứng, người bị hại hoặc bị can trực liếp nhìn ngắm để họ chỉ ra có hay không người, vật, ảnh mà họ đã nhìn thấy trước

dó Nhận dạng cũng có thể được tiến hành bằng cách cho người làm chứnií, người bị hại, bị can trực tiếp nghe lại giọng nói, âm thanh để họ xác nhận đúng hay không giọng nói của người m à họ đã nghe thấy trước đó

Việc nhận dạng được tiến hành theo trình tự, thủ tục qui định tại Điều

139 Bộ luật TTHS

Thực nghiệm điều tra là hoạt động điều tra do ĐTV tiến hành bằng cách

cho dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huông hoặc mọi tình tiết khác cùa một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt độnií thực nghiệm cẩn thiết nhàm kiểm tra và xác minh những tài liệu, tình tiết có ý nnhĩa của vụ án Việc thực nghiệm điều tra phải tuân theo quy định tại Điều 153 Bộ luật TTHS

T iến hành các hoạt dộng điểu tra khác thuộc thẩm quyền của CQ D T theo sự phân CÔHÌỊ của Thủ tnừhìiị CQĐ T.

Đây là qui định mở của luật, do nhà làm luật thấy không cấn thiết phai thống kê hết các hoạt động điều tra thuộc quyền hạn của ĐTV hoặc khônii dự liệu hết các tinh huống xảy ra trong thực tế

Như vậy, đối với những hoạt động điều tra không được thống kê tại khoán 1 Điều 35 Bộ luật TTHS thì ĐTV có quyền tiến hành theo sự phân cône của Thú trưởng CQĐT

Trang 35

Đ iểm đáng chú ý ở nhóm các quyền của ĐTV nhăm phát hiện, thu thập

va kiểm tra chứng cứ m à không cần lệnh, quyết định cúa Thủ trưởng CQĐT la việc xem xét dấu vết trên thân thể (Điều 152) và quyền tham dự giám định (Điều 156 - Bộ luật TTHS)

Xem xét dấu vết trên thân thè là hoạt động điều tra do ĐTV tiến hành

nhằm phát hiện trên thân thể người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng để phát hiện dấu vết của tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với vụ án Theo qui định tại Điều 152 Bộ luật TTHS thì việc xem xét dấu vết trên thân thể thuộc quyền hạn của ĐTV Tương tự như vậy, Điều 156

Bộ luật TTHS qui định ĐTV có quyền tham dự giám định Việc tham dự íiiám định giúp cho ĐTV có thể sớm biết những nhận định của giám định viên đế xem xét, tổng hợp với các chứng cứ khác trong vụ án đế có hướng điều tra tiếp theo, đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án

T uy nhiên, khoản 1 Điều 35 Bộ luật TTHS không qui định ĐTV có hai quyền hạn này Như vậy, đã có sự mâu thuẫn giữa Điều 35 với các Điều 152,

156 Bô luât TTHS mà nguyên nhân là do Điều 35 Bộ luật TTHS dã không thống kê hết các quyền hạn của ĐTV trong Bộ luật TTHS nói chung Thiếu sót này cần được khắc phục, giải thích và hướng dẫn để có cách hiểu, vận dụng đúng đắn và thống nhất

Ngoài ra, trong quá trình điều tra vụ án hình sự, ĐTV còn được pháp luật

1 T H S giao cho các quyền :

- Đươc ưu tiên m ua vé đi lai bã nu các phươnc tiện ìỊÌao thôn" côn c ? I <_ • o o o 2 cộng.• c ?

Được miễn phí cầu, phà, đường, miễn cước phí giao thòng trong thành phố, thị

xà (Đ iều 36 - Pháp lệnh TCĐTHS)

- Trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn hành động phạm tội, đuối bã! người phạm tội, cấp cứu người bị nạn, ĐTV được sử dụng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân, kể cả người điều khiển phươns tiện ấy, trừ các phương tiện của cơ quan ngoại giao và phải hoàn trá khi tình huống cấp thiết không còn (Điều 36 - Pháp lệnh TCĐTHS)

Trang 36

Trên thực tế, mặc dù pháp luật không qui định nhưng ĐTV còn có quyền

đề xuất áp dụng các hoạt động điều tra thuộc tham quyền của Thu trưỏìm

C Q Đ T để Thủ trưởng CQĐ T quyết định, quyền kiến nghị với quyết định của Thủ trưởng C Q Đ T khi thấy quyết định của Thủ trưởng không đúng pháp luật hoặc không phù hợp, không cân thiết cho việc điều tra vụ án

2.1.2 Nghĩa vụ của Điều tra viên.

Bên cạnh những quyền hạn được qui định trong pháp luật TTHS, ĐTV còn có những nghĩa vụ khi tiến hành điều tra vụ án hình sự

Trước hết, là người tiến hành tố tụng nên ĐTV có những nghĩa vụ chung dối với người tiến hành tố tụng Những nghĩa vụ này bao gồm :

- Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4 Bộ luật TTHS) Trong phạm vi quyền hạn của mình, ĐTV phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, đồng thời phái kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa Đây cũng là một nguyên tấc quan trọng, được qui định tại Điều 4 Bộ luật TTHS

- Trong khi tiến hành điều tra vụ án, ĐTV phái nghiêm chỉnh thực hiện các qui định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi và quyết định của mình (Điều 12; khoán 2 Điều 35 Bộ luật TTHS)

- Để đảm bảo cho các tổ chức và công dân thực hiện các quyền và nghĩa

vu của m ình trong đấu tranh phòng chống tội phạm, ĐTV trong quá trình điều tra vụ án phải tạo điều kiện thuận lợi để công dân, tổ chức tham gia tố tụng hình sự, phái trả lời kết quá giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cho tổ chức

đã báo tin và người đã tố giác tội phạm biết (Khoan 2 Điều 25 Bộ luật TTHS)

- Đ âm bảo quyền bào chữa cho bị can, người bị tạm giữ (Điều 1 1 Bộ luật TTHS) Trong phạm vi thẩm quyền của mình ĐTV có nghĩa vụ báo cáo, đề xuất với Thủ trưởng C Q Đ T yêu cầu đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư

cử người bào chữa cho bị can trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa

Trang 37

mà bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ không nhờ người bao chữa ĐTV phái háo trước cho người bào chữa về thời gian, địa điếm hỏi cung bị can đè người bào chữa có mặt khi hỏi cung bị can, tạo điều kiện thuận lợi để nmrời bào chữa đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu, hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra.

- Báo đám quyền binh đẳng của mọi công dàn trước pháp luật (Điều 5 Bò luật TTHS) Khi tiến hành điều tra vụ án, ĐTV không được phân hiệt nam, nữ dàn tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội Bất cứ nsười nào phạm tòi đều bị xử lý theo pháp luật

Ben cạnh những nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng nói chung, ĐTV còn có những nghĩa vụ riêng đặc thù của mình với tư cách là người tiến hành

tố tụng độc lập khi điều tra vụ án Bao gồm :

- ĐTV phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều 44 Bộ luật TTHS

- Trong CQĐT, Thủ trướng CQĐ T là người đứng đầu, chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức và chỉ đạo mọi hoạt động điều tra Do vậy, ĐTV có nghĩa vụ chấp hành sự phân công, chỉ đạo của Thủ trưởng CQĐT (Điều 34, 35 Bộ luật TTHS)

- Nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu và quyết định của KSV thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Nếu những yêu cầu và quyết định của KSV liên quan tới các vấn đề thuộc thẩm quyền của ì hủ trưởng CQĐT thì ĐTV phái kịp thời báo cáo và đề xuất để Thủ trưởng CQĐTquyết định (ĐI 14 Bộ luật TTHS)

- Nghĩa vụ không được tiết lộ bí mật điều tra theo Điều 124 Bộ luật TTHS Ngoài việc phải báo trước cho người tham gia tố tụng không được tiết lộ hí mật điều tra và ghi vào biên bán, ĐTV còn phái tự mình giữ bí mật về cô nu tác điều tra Trườne họp tiết lộ bí mật điều tra thì tuỳ theo tính chất và hậu quả xay ra, ĐTV có thế bị xử lý ký luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh tương ứns theo các Điều 263, 264, 286, 287, 327 và 328 Bộ luật hình sự

- Khi sử dụng các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và tư nhân trong những trường hợp cấp thiết, ĐTV phải hoàn trả ngay khi tình huống cấp thiết không còn Nếu các phương tiện

Trang 38

đó hư hỏng hoặc mất mát thì Đ TV có trách nhiệm đề nghị C Q Đ T sửa chữa hoặc bồi thường.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, khi người tham gia tố tụng có yêu cẩu về những vấn đề liên quan đến vụ án thì ĐTV trong phạm vi trách nhiệm của mình phải giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả Trường hợp không chấp nhận yêu cầu của họ thì phải trả lời và nêu rõ lý do (Điều 122 Bộ luật TTHS)

- Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu ĐTV do lỗi của m ình đã gây oan cho người vô tội thì có nghĩa vụ phải bồi hoàn theo qui định của pháp luật Theo qui định tại Điều 29 Bộ luật TTHS thì để đảm bảo nhanh chóng việc bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan, C Q Đ T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan Đ TV gây oan do lỗi của mình trong quá trình khởi tố, điều tra có nghĩa

vụ bổi h oàn cho CQĐ T theo qui định của pháp luật

- Nếu ĐTV gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại thì có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại đó Theo qui định tại Điều 30 Bộ luật TTHS thì C Q Đ T phái bồi thường cho người bị thiệt hại ĐTV đã gây thiệt hại có nghĩa vụ phải bồi hoàn cho C Q Đ T theo qui định của pháp luật

N goài ra, ĐTV còn có nghĩa vụ chấp hành nghiêm túc qui định những việc Đ TV không được làm quy định tại Điều 33 Pháp lệnh TCĐTHS

Trong khi điều tra vụ án hình sự, ĐTV còn có nghĩa vụ lập và ký các loại biên bản theo qui định chung của pháp luật Theo qui định tại Điều 95 Bộ luật TTH S thì “khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo m ẫu qui định thống n h ất” N hững tình tiết được ghi trong các biên bàn về hoạt đ ộng điều tra có thể coi là chứng cứ của vụ án (Điều 77 Bộ luật TTHS)

So sánh với các nước về c h ế định ĐTV và Thủ trưởng C Q Đ T thấy rằng hầu hết các nước lớn trên th ế giới như Mỹ, Nga, Anh, các nước tronơ khu vực như T hái Lan, Singapore đều giao cho ĐTV đảm nhận và chịu trách nhiệm giải q uyết toàn bộ các hoạt động điều tra tội phạm Thủ trưởng C Q Đ T chi làm

n h iệm vụ củ a một Thủ trưởng quản lý hành chính, lãnh đạo chỉ huy các ĐTV

Trang 39

T heo pháp luật ĨTH S Liên Xô trước đày và Liên bang N ga hiện iiav, trong quá trình điều tra vụ án Dự thẩm viên có toàn quyền quyết định tất ca các vấn đề về phương hướng điều tra xử lý vụ án cũng như việc tiến hành các hoạt động điều tra một cách độc lập, ngoại trừ một số trường hợp luật quy định phái có sự phê chuẩn của VKS và phái chịu toàn bộ trách nhiệm về các hành vi và quyết định của mình.

Về nguyên tắc chung, các yêu cầu và chí dẫn của VKS có hiệu lực bãi buộc đối với Dự thẩm viên Nếu không đồng ý với chí dãn, yêu cầu của VKS,

Dự thẩm viên vẫn phải thực hiện, nhưng có quyền kiến nghị lên VKS cấp trcn Tuy nhiên, khi Dự thẩm viên không đồng ý với các yêu cầu, chỉ dẫn của VKS

về những vấn đề cơ bản nhất của vụ án như khởi tố bị can, xác định tội danh, phạm vi buộc tội, truy tố bị can ra trước Toà án hay đinh chỉ vụ án thì Dư thẩm viên có quyền không thực hiện và kiến nghị lên VKS cấp trên VKS cấp trên hoặc huỷ bỏ yêu cầu, chỉ dẫn của VKS cấp dưới, hoặc giao vụ án cho Dự ihẩm viên khác tiến hành điều tra

Đây là nguyên tắc rất tiến bộ của pháp luật TTHS Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay, đảm bảo cho Dự thám viên trong quá trình điều tra

vụ án được hoàn toàn độc lập, chỉ hành đ ộ n g theo pháp luật VÀ niềm tin nội tâm của mình Ngay cả Thủ trưởng C Q Đ T cũng như VKS cấp trên cũng không

có quyền ép buộc Dự thẩm viên phải hành động trái với pháp luật và niềm tin nội tâm của mình đối với những vấn đề cơ bản, then chốt nhất của vụ án

N hư vậy, so với ĐTV ớ nước ta thì Dự thẩm viên của Liên bang Nga hoàn toàn độc lập về tố tụng và có thắm quyền rất lớn Đây là điều kiện quan trọng nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy vai trò chủ động sáng tạo cùa

Dự thám viên trong điều tra vụ án

So sánh ĐTV với các chức danh khác như KSV và TP ở nước ta thấy rằng mặc dù đều là những người tiến hành tố tụng, là những chức danh tư pháp tương đương nhưng điều dễ ràng nhận thấy là KSV và TP có thám quyền rộn Sĩ rãi và có toàn quyền độc lập trong hoạt động truy tố, xét xử, còn ĐTV thì thẩm quyền rất hạn chế

Trang 40

Khi xét xử, TP độc lập và chỉ luân theo pháp luật là một nguyên tác Hiên định, đổng thời là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng của tố tụim hình sư, dam báo cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với KSV, mặc dù pháp luật TTHS hiện hành không có điều khoán nào quy định KSV độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, nhưng trên thực tế, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, KSV độc lập, chí tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật Có thể minh chứng điều này ở chỗ : Tại phiên toà, căn cứ vào diễn biến cũng như kết quả của quá trình xét hỏi, trong lời luận tội của mình, KSV có thể tuyên bố rút toàn bộ hay một phấn quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn Rõ ràng trong trườn li hợp này KSV không thể nào "xin ý kiến chi đạo" của Viện trướng VKS va phải h oàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định của mình

N g h iên cứu quy định tại các Điều 23, 36, 37, 112, 113, 114 Bộ luật TTHS h iệ n hành có thể thấy khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, VKS và KSV có nhiệm vụ và quyền hạn rất lớn so với C QĐ T và ĐTV Lâu nay, trong lý luận và thực tiễn đã hình thành quan niệm về mối quan hệ giữa VKS và CQĐT, giữa KSV và ĐTV là mối quan hệ phối hợp và c h ế ước lẫn nhau Tuy nhiên, với quy định hiện hành về nhiệm vụ và quyền hạn của VKS và KSV, của CQĐ T và ĐTV thì quan niệm về mối quan hệ "Chế ước lẫn nhau" đã trở nên thiếu chính xác Chí có VKS và KSV mới có đủ cơ sở pháp lý cũng n hư quyền hạn để c h ế ước C Q Đ T và ĐTV

T ó m lại : Theo pháp luật TTHS Việt Nam thì khi tiến hành điều tra vụ

án, Đ TV có quyền và nghĩa vụ tố tụng như đã trình bày ở trên So với Bộ luật 'ITH S n ă m 1988 thì Bộ luật TTHS hiện hành đã qui định rõ ràng và cụ thể hơn các quyền hạn của ĐTV, bổ sung thêm một số quyền mới như : Quyền triệu tập người tham gia tố tụng (trừ người phiên dịch, người giám định), quyết định

áp giái bị can, dẫn giải người làm chứng Tuy nhiên, Điều 35 Bộ luật TTHS đã

bỏ sót, thống kê không hết các quyền của ĐTV được qui định tại một số điều luật khác, ví dụ : Quyển xem xét dấu vết trên thân thể (Điều 152 Bộ luật TTHS); quyền tham dự giám định (Điều 156 Bộ luật TTHS)

Ngày đăng: 16/08/2020, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm