Trong ngôn ngữ pháp lý, giám sát hiến pháp hay còn được gọi là giám sát bảo hiến, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp theo nghĩa hẹp thường được hiểu là hoạt động giám sát của cơ quan Nhà n
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN NGỌC ĐỊNH
MỘT SÓ VÁN ĐẺ LÝ LUẬN VÀ T H ựC TIỄN • • •
TRONG TỎ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA c ơ QUAN GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở MỘT SÓ NƯỚC TRÊN THÉ GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC • • • •
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật
Trang 3J i ầ i t - í ỳ < { (P i ì i / i
Trang 4PHẨN MỞ ĐẤU
CHƯƠNG 1: MỘT s ổ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VÊ GIÁM SÁT HIÊN PHÁP
1.1 Khái niệm giám sát Hiến pháp và tư tưởng về giám sát Hiến pháp
1.2 Đối tượng của giám sát Hiến pháp
1.3 Vai trò của giám sát Hiến pháp
1.4 Phân loại quyền giám sát Hiến pháp
1.5 Các mô hình thực hiện quyền giám sát Hiến pháp
CHƯƠNG 2: THỰC T lỄ N T ổ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA c ơ QUAN GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ G IỚ I
2.1 Mô hình thực hiện quyền giám sát Hiến pháp thông qua Toà án Hiến pháp 2.2 Mô hình thực hiện quyền giám sát Hiến pháp thông qua hệ thống toà án thường và Toà án tối cao
2.3 Mô hình thực hiện quyền giám sát Hiến pháp thông qua Hội đổng Bảo hiến 2.4 Thực hiện quyền giám sát Hiến pháp thông qua các thiết chế khác
CHƯƠNG 3: T H ự C TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT HIẾN PHÁP VÀ VIỆC VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỤNG VẢ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở NƯỚC T A
3.1 Thực trạng hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật ỏ' nước ta hiện nay
3.2 Vận dụng kinh nshiệm của các nước vào quá trình xây dựng và hoàn ilìiện h o ạ t động giám sát hiến p h áp ở nước ta
K ẾT L U Ậ N
Trang
l
1 10 17
20
28
36
36
64
73 87
91
91
104
1 12
Trang 51 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu để tài:
Hiến pháp là luật CO' bản của nhà nước, nội dung của Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản quan trọng nhất đối với mỗi xã hội, mỗi quốc gia Với phạm vi điều chính như vậy, Hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, là nền tảng cơ bản đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của hệ thống chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, đảm báo sự cân bằng giữa các lực lượng chính trị, giữa các nhánh quyền lực nhà nước, đảm báo các quyền tự do, dân chủ hiến định của con người và công dân, tránh sự xâm phạm chính từ phía nhà nước
Vì vậy, ngay từ khi Hiến pháp ra đời, vấn đề bảo vệ tính tối cao và toàn vẹn của Hiến pháp đã được đặt ra, nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn Trong
sát bảo hiến) đã được ra đời và phát triển qua từng thời kỳ lịch sử Nhiều nước trên thế giới đã thiết lập trong bộ máy nhà nước của mình cơ quan thực hiện quyền giám sát Hiến pháp (với nhiều mô hình khác nhau) để đảm bảo việc tuần thủ tuyệt đối Hiến pháp tử phía các cơ quan nhà nước, tránh sự vi phạm Hiến pháp, bảo đảm tính hiệu Lực, hiệu quả, tính tối cao của Hiến pháp, đảm bảo các quyền tự do dân chủ hiến định cơ bản của con người và công dân Trên thế giời các thiết chế giám sát Hiến pháp như Toà án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến hoặc
cơ chế thực hiện quyền giám sát Hiến pháp thông qua Toà án tối cao, thông qua
hệ thống (oà án thường đã và đang phát huy vai trò và hiệu quá hoạt động của
Hiến pháp, báo vệ các quyền và lự do cơ bản của con người và cống dân Việc nghiên cứu vé các mô hình tổ chức ui ám sát Hiến pháp trên thế uiới cổ một ý
n g h ĩa to lớn v ề m ặt lý luận và thự c tie n đ ố i với k h o a h ọ e p h áp IV đ ặ c biệt là
k h o a h ọ c luật H iế n pháp
Đ ố i với n ư ớ c ta, tro n g q u á trình mỏ' rộ n g q u a n h ệ q u ố c tố v à hợp tác q u ố c (ố với c h ín h s á c h im o ạ i g ia o n ỵ à y c à n g ró nu m ở v iệ c n ắ m v ữ n s v è thê c h ế ch ín h
Trang 6pháp thông qua các thiết chê trên đã và đang được đặt ra cấp thiết.
Mặt khác, trong những năm gần đây, quá trình xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước luôn đặt ra những vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn phải giải quyết Trong quá trình đó, bèn cạnh việc kê thừa những điểm tiến bộ, phù hợp của pháp luật trong nước, vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật nước ngoài, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của pháp luật nước ngoài áp dụng vào điều kiện thực tiễn nước ta là một xu thê tất yếu Đặc biệt, trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ỏ' nước ta, với sự đề cao vị trí, vai trò của Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước, việc nghiên cứu một cơ chế hoạt động của các cơ quan báo hiến, giám sát Hiến pháp của nước ngoài sẽ bước đầu góp phần lạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xác lập một cơ chế bảo đảm hiệu lực, hiệu quá thực sự của Hiến
p h á p ở V i ệ t N a m
Trên thực tế, mặc dù đối với thế giới, sự tổn tại và hoạt động của các thiết chế giám sát Hiến pháp không phải là mới nhưng đối với khoa học luật hiến pháp nước ta, đây là một vấn đề lý luận và khoa học mới mẻ Hầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về nội dung này, mà chủ yếu mới chí dừng lại ở các bài viết trên các tạp chí pháp ]ý như loạt bài viết
về giám sát bảo hiến của tác giả Nguyễn Đức Lam, chuyên đề về giám sát Hiến pháp của TS Vũ Hồng Anh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp; Văn phòng Quốc hội cũng mới tổ chức một Hội thảo về Toà án Hiến pháp ở một số nước Tài liệu chuyên khảo về vấn đề này hiện nay còn tương đối hạn chế, hầu như chỉ
có tài liệu liếng nước ngoài
Chính vì vậy, nội dung nghiên cứu của Luận vãn góp phần hước đầu xây dựng kiến thức lý luận và thực tiễn cơ bản và cập nlìật về những thiêì chế này, hố sung thêm kiến thức lý luận và thực tiễn cho khoa học luậl hiến pháp nói chung
và luật hiến pháp nước ngoài nói riêng
Với mục đích như vậy, tác giá mạnh dạn chọn đề lài "MỘT số VẤN f)Ể LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN T R O M i T ổ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNCỈ CỦA c ơ QUAN (HÁM SÁT HIẾN PHÁP ỏ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ ( ỉ l ở r làm (Tề tài luận vãn thạc sỹ của m ình.
Trang 7Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về mô hình cơ quan giám sát Hiến pháp ở các nước trên thế giới như lịch sử hình thành và phát triển của mô hình, các đặc điểm cơ bản về vị trí, tính chất, con đường hình thành, cơ cấu tổ chức, thủ tục thực hiện quyền giám sát Hiến pháp
Phân tích các [oại mô hình khác nhau của cơ quan giám sát Hiến pháp dựa trên thực tế tổ chức và hoạt động cụ thể của các thiết chế đó lại một số nước điển hình;
Phân tích thực trạng của công tác giám sát Hiến pháp ở nước ta theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành Đề xuất một số kiến nghị về hoạt động xây dựng và hoàn thiện hoạt độne giám sát hiến pháp ỏ' Việt Nam
2.2 Phưong pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lê nin về nhà nước và pháp luật, phương pháp Luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật hiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong nghiên cứu về nhà nước và pháp luật
Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề cụ thể của Luận văn, chúng tôi đã
sử đụng kết hợp nhiều phương pháp cụ thể để nghiên cứu đề tài gồm: phương
pháp phân tích, tổng họp, khái quát hoá, hệ thống hoá, phương pháp so sánh, ihống kê
3 Kết cáu của luận văn:
Nììơài Phẩn mỏ'đáu và Kốl luận, Luận văn được bỏ cục theo 3 ehưoìiíi và
Phán phụ [ục.
Trang 8CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ GIÁM SÁT HIÊN PHÁP
1.1 Khái niệm giám sát hiến pháp và tư tưởng về giám sát hiến pháp.
Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước, "luật của các loại luật", với
nội dung bao gồm những nguyên tắc, giá trị và quy định liên quan đến việc xác định những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất đối với mỗi xã hội, mỗi quốc gia, từ những vấn đề liên quan đến việc xác định cơ sở xã hội của nhà nước như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, đến những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước và công dân (ghi nhận các quyền, nghĩa vụ cơ bản của con người và công dân)
Thắng lợi của cách mạng tư sản đã mở đầu cho sự ra đời và phát triển của Hiến pháp Điều này đã mang lại ý nghĩa vô cùng to lớn Hiến pháp trở thành cơ sở cho sự ổn định và phát triển của nhà nước, của xã hội, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân trên phạm vi toàn thế giới Sự ra đời của Hiến pháp không thành văn ở Anh vào khoảng thế kỷ thứ XIII, và đặc biệt là sự ra đời của bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới - Hiến pháp Mỹ năm 1787 cùng với hàng loạt những bản Hiến pháp sau đó, đã đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến hà khắc, đưa con người lên một vị trí mới, vị trí trung tâm của xã hội Từ đó, con người với tư cách công dân của một nhà nước có quyền được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ, đảm bảo những quyền tự do, dân chủ, tránh sự xâm phạm từ phía nhà nước
Với phạm vi và nội dung điều chỉnh quan trọng như trên, cùng với ý nghĩa và giá trị của mình, Hiến pháp ngày càng phát huy được vai trò quan trọng, đặc biệt trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, tạo nền tảng vững chắc cho cả hệ thống chính trị, xã hội của quốc gia vận hành ổn định, đảm bảo sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực nhà nước, góp phần đảm bảo các quyền cơ bản của con người và công dân Chính vì vai trò quan trọng như vậy mà vấn đề bảo vệ Hiến pháp thế nào, thực thi Hiến pháp ra sao cho phù hợp và đạt được những mục đích và giá trị to lớn ấy được đặt ra cùng với sự ra đời của Hiến pháp
Trang 9Ngay trong quá trình thảo luận và dự thảo bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của nhân loại - Hiến pháp Hoa Kỳ 1787, các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã đề xuất ý tưởng về sự cần thiết phải thiết lập cơ chế thực hiện quyền giám sát hiến pháp, giám sát sự tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ Hiến pháp, tránh sự vi phạm
từ phía các cơ quan nhà nước đặc biệt là từ phía Nghị viện Trên cơ sở tư tưởng này, chỉ sau một thời gian ngắn nước Mỹ đã xây dựng thiết chế giám sát Hiến pháp thông qua hê thống các cơ quan tư pháp Ngày nay, nhiều nước trên thế giới (dưới các mô hình, hình thức khác nhau) đã xây dựng thiết chế giám sát hiến pháp trong tổ chức bộ máy nhà nước Các thiết chế này đang dần được phát triển, hoàn thiên và phát huy được hiệu quả hoạt động, giữ vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội của mỗi quốc gia Ở một số nước như CHLB Đức, Toà án Hiến pháp Liên bang đã và đang được nhân dân đánh giá là một trong hai cơ quan đáng tin cậy nhất trong bộ máy nhà nước, xếp trên Chính phủ và Quốc hội
Trong khoa học pháp lý nước ta hiện nay, chưa có nhiều công trinh khoa học nghiên cứu sâu về giám sát hiến pháp Vì vậy, việc sử dụng các thuật ngữ về giám sát hiến pháp còn có nhiều ý kiến khác nhau Có tác giả cho rằng nên dùng thuật ngữ giám sát hiến pháp hoặc giám sát tư pháp Hiến pháp cho phù hợp với thuật ngữ chung mà các nước trên thế giới hiộn nay thường sử
dụng (constitutional review, constitutional judicial reviexv) Tuy nhiên, một số nhà khoa học khác cho rằng nên dùng thuật ngữ giám sát bảo hiến, hoặc phải gọi đầy đủ là giám sát việc tuân thủ và thực hiện Hiến pháp thì mới chính xác
Về thực chất, nội hàm của các thuật ngữ (khái niệm này) là tương đồng do vậy trong luận văn này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ là giám sát hiến pháp để chỉ chức năng (thẩm quyền) quan trọng này
Trong ngôn ngữ pháp lý, giám sát hiến pháp hay còn được gọi là giám sát bảo hiến, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp theo nghĩa hẹp thường được hiểu là hoạt động giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra tính phù hợp với Hiến pháp của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ban hành (mà trước hết và quan trọng nhất là các đạo luật của nghị viện) Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của Khoa học luật Hiến pháp và
sự phát triển của các thiết chế giám sát hiến pháp trên thế giới, nội dung quyền giám sát hiến pháp đã không chỉ giới hạn ở việc giám sát, kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành (mặc dù đây vẫn được coi là nội dung cơ bản của giám sát hiến pháp) mà nội dung của quyền giám sát hiến pháp đã ngày càng được hoàn
Trang 10thiện, mở rộng và làm rõ hơn.
Tiếp cận theo nghĩa rộng, giám sát hiến pháp có thể hiểu là giám sát và đảm bảo việc tôn trọng và thực hiện đúng Hiến pháp, đảm bảo tính toàn vẹn và tối cao của Hiến pháp, đảm bảo sự phù hợp với Hiến pháp của các văn bản quy phạm pháp luật cũng như tính hợp hiến trong hành vi của các cơ quan, quan chức cao cấp của nhà nước trong quá trình thực hiện thẩm quyền của mình thể hiện trong các lĩnh vực của luật Hiến pháp như: giám sát các cuộc bầu cử, trưng cầu ý dân, vấn đề phân định và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa
cơ quan nhà nước trung ương và giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương, việc luận tội các quan chức cao cấp của nhà nước, vấn đề giải quyết khiếu kiện hiến pháp do quyền cơ bản của công dân bị xâm hại Trong phạm vi luận văn, chúng tôi sẽ tiếp cận giám sát hiến pháp theo nghĩa rộng Đây cũng là cách tiếp cận của khoa học luật Hiến pháp hiện đại đối với quyền giám sát hiến pháp
Nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, có thể thấy để có quan niệm về quyền giám sát hiến pháp với nội dung như hiện nay, tư tưởng
và mầm mống về quyền giám sát hiến pháp đã có từ thời cổ đại và trải qua quá trình phát triển lâu dài
Ngay từ thời xưa đã xuất hiện những biểu hiện mầm mống cho tư tưởng
về giám sát hiến pháp theo nghĩa hiện nay Người Hy lạp cổ đại đã có phân
biệt giữa nomos và psephisma là các văn bản quy phạm pháp luật với các giá trị pháp lý khác nhau Một nguyên tắc được đã được đưa ra là psephisma dù với nội dung nào cũng không được trái với với nomos cả về hình thức lẫn nội dung Hậu quả pháp lý xảy ra trong trường hợp một psephisma như vậy được
ban hành là thành viên của cơ quan lập pháp đã trình, đề nghị ban hành văn bản đó sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý, áp dụng bởi quyền lực công cộng,
đồng thời psephisma mâu thuẫn với nomos sẽ bị coi là không có hiệu lực
(void) Những thẩm phán của Hy Lạp vào thời đó, mặc dù về nguyên tắc có
trách nhiệm phải giải quyết vụ việc trên cơ sở của cả hai loại văn bản đó,
nhưng chỉ phải tuân theo psephisma nếu nó phù hợp với nomos do tinh thần
của nguyên tắc trên
Tuy nhiên, có thể nói, bước ngoặt đánh dấu sự ra đời của quan niệm về giám sát hiến pháp theo nghĩa hiện hành là sự ra đời của bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của nhân loại - Hiến pháp Mỹ năm 1787 Hiến pháp này là kết quả của quá trình tranh luận, thảo luận gay gắt và mang đầy ý nghĩa về chính trị, pháp lý của các nhà lập hiến Hoa Kỳ lúc bấy giờ Chính trong Hội nghị lập
Trang 11hiến năm 1787 và cuộc vận động phê chuẩn Hiến pháp 1787 của Mỹ đã thể hiện rất rõ tư tưởng về giám sát hiến pháp Cùng với sự ra đời của Hiến pháp với vai trò là đạo luật tối cao, đạo luật cơ bản của nhà nước có hiệu lực pháp lý
cao nhất, là cơ sở cho toàn bộ các quy định của pháp luật, tạo cơ sở pháp lý
cho các ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật, hay nói rộng hơn là cơ
sở cho toàn bộ hệ thống chính trị, pháp lý, xã hội của mỗi quốc gia, nhu cầu bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp thành văn đó (mà thực chất là bảo vệ những tinh thần, những giá trị, những nguyên tắc, những quy định trong Hiến pháp) được đặt ra cấp thiết, nhằm bảo vệ nền móng, cơ sở pháp lý cho nhà nước và
xã hội tồn tại và phát triển Mặt khác, sự ra đời của Hiến pháp thành văn - với
tư cách là đạo luật cơ bản của nhà nước, đã tạo cơ sở vững chắc và rõ ràng cho quyền giám sát hiến pháp ra đời với mục đích đảm bảo tính tối cao và sự bền
vững của Hiến pháp Trên cơ sở đó, tạo tiền đề cho sự phát triển của luật Hiến
pháp nói chung Nếu không có một Hiến pháp thành văn, thì những tập quán, những nguyên tắc không thành văn, dù có thể đã được hình thành từ rất lâu cũng khó có thể là cơ sở rõ ràng để phán quyết về tính hợp hiến Mặt khác, về mặt lý luận, Hiến pháp không thành văn có đặc điểm là Hiến pháp không được nhà nước tuyên bố, ghi nhận là luật cơ bản của nhà nước với một đặc trưng rất quan trọng là có hiệu lực pháp lý cao hơn các đạo luật thường Chính vì vậy
không có cơ sở để xem xét sự phù hợp bắt buộc giữa những văn bản có hiệu
lực pháp lý ngang nhau cùng do nghị viện thừa nhận hoặc ban hành Do đó
quyền giám sát hiến pháp chỉ có thể xuất hiện ở các quốc gia có Hiến pháp
thành văn Ở các quốc gia có Hiến pháp không thành văn như Anh, New Zealand, Isarel nội dung cơ bản của giám sát hiến pháp là giám sát tính hợp hiến của các đạo luật do nghị viện ban hành thường không được đặt ra ở các quốc gia này, nếu có có thể xuất hiện một vài yếu tố không cơ bản của quyền giám sát hiến pháp
Quay lại Hiến pháp Mỹ, trong quá trình thảo luận, tranh luận để thông qua và vận động phê chuẩn Hiến pháp Mỹ 1787, bên cạnh những nội dung cơ bản của Hiến pháp, các nhà lập hiến đã đưa ra và tranh luận hàng loạt những vấn đề có liên quan đến giám sát hiến pháp và bảo đảm tính toàn vẹn và tối cao của các giá trị, nguyên tắc, quy định của Hiến pháp Đó là các vấn đề như
có nên trao cho Tổng thống quyền phủ quyết tuyệt đối các đạo luật do nghị viện ban hành hay không hay chỉ nên trao cho Tổng thống quyền phủ quyết tương đối và việc Tổng thống thực hiện quyền phủ quyết đó có sự tham gia của toà án? Vai trò của tòa án khi xem xét tính hợp hiến của đạo luật như thế
Trang 12nào? Toà án có quyền tham gia vào quá trình thông qua luật hay không (giám sát trước), và nếu thừa nhận như vậy có trái với tính chất của quyền tư pháp không? hay chỉ giới hạn xem xét tính hợp hiến của luật khi giải quyết các vụ
án và giải thích luật? Toà án có quyền bày tỏ ý kiến của mình trái với ý kiến của các nhà làm luật không?
A.Hamilton, một trong những cha đẻ của Hiến pháp Mỹ, trong quá trình vận động phê chuẩn Hiến pháp đã cho rằng, mặc dù Hiến pháp liên bang không trực tiếp đề cập đến quyền giám sát tư pháp tính hợp hiến đối với các văn bản luật, tuy nhiên nội dung Khoản 2 Điều 6 quy định về tính tối cao của Hiến pháp liên bang đã bắt buộc các văn bản luật phải phù hợp với Hiến pháp
và cơ quan đánh giá về sự phù hợp (tính hợp hiến) này chính là toà án Ông cho rằng, trong quá trình xem xét các vụ việc cụ thể, toà án có trách nhiệm phải tuân thủ đạo luật cao nhất của Nhà nước và có quyền (đồng thời là trách nhiệm) từ chối áp dụng những quy định trong những đạo luật thường trái với đạo luật cao nhất đó Ông cũng bác bỏ quan điểm của phái chống liên bang rằng việc cho phép toà án tuyên bố tính hợp hiến của văn bản luật đồng nghĩa với việc trao cho nó thẩm quyền lập pháp như Quốc hội liên bang Trong điều kiện của Nhà nước liên bang Mỹ, đạo luật cao nhất là Hiến pháp, văn bản thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân về các nguyên tắc của chế độ chính trị và Nhà nước Trong khi đó các đạo luật thường do cơ quan đại diện thông qua chỉ là văn bản của những người đại diện tạm thời của nhân dân được trao cho những quyền hạn hạn chế, trong đó không có quyền thay đổi và sửa đổi chính Hiến pháp mà ngược lại phải phù hợp hoàn toàn với Hiến pháp
A.Hamilton cũng cho rằng, rất khó để tin rằng cơ quan tham gia soạn thảo, thông qua một đạo luật tồi sẽ tự kiềm chế và vận dụng một cách linh hoạt những văn bản luật đó, bởi lẽ họ thông qua luật với tinh thần nào, thì họ cũng giải thích luật và hành động theo tinh thần đó, rằng không thể trông chờ khi một người vi phạm Hiến pháp trong vai trò của nhà lập pháp sẽ tự sửa chữa những sai lầm của mình trong vai trò của quan toà Điều này cũng rất phù hợp
với tinh thần của một câu châm ngôn của người Hy Lạp cổ đại “Không ai có
th ể là quan tòa cho chính m ình”.
Trên thực tế, sự kiện có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của quyền giám sát tư pháp Hiến pháp chính là vụ án nổi tiếng Marbury chống Madison vào năm 1803 dưới thời của chánh án John Marshall Trong vụ đó, Tòa án tối cao Mỹ đã khẳng định quyền giám sát tư pháp của minh đối với tính hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện ban hành thông qua phán quyết
Trang 13của mình Nội dung vụ việc này như sau:
Trong cuộc bầu cử năm 1803, Phe Liên bang đã thất bại trong cuộc chạy đua vào cơ quan hành pháp và lập pháp liên bang Để đảm bảo quyền kiểm soát của phe này trong cơ quan tư pháp, cơ quan lập pháp (Nghị viện) trước khi hết nhiệm kỳ đã ban hành Đạo luật về tư pháp theo đó thành lập ra các tòa án vùng với 16 thẩm phán, Tổng thống Adams trước khi kết thúc nhiệm kỳ đã tiến hành bổ nhiệm khẩn cấp những thẩm phán này cho kịp thời gian cuối nhiệm kỳ Phần lớn các thẩm phán đã được bổ nhiệm và nhận công tác trừ trường hợp của Marbury Tuy nhiên, sau khi Tổng thống mới Jefferson nhậm chức, các quan chức cao cấp đã cố tình không giao quyết định bổ nhiệm cho Marbury Vì thế ông này (Marbury) đã yêu cầu Tòa án Tối cao giải quyết
vụ việc Đây không phải là vụ việc đơn giản đối với Tòa án Tối cao bởi vì nếu Tòa án yêu cầu Tổng thống thực hiện nhiệm vụ này, bổ nhiệm Madison, thì có thể dẫn đến việc Tổng thống Jefferson sẽ phớt lờ yêu cầu này và vụ việc sẽ chấm dứt vì Tòa án tối cao cần phải dựa vào cơ quan hành pháp để thực thi các quyết định của mình Mặt khác, nếu phán quyết không có lợi cho Marbury có thể coi là bất lợi cho uy tín của Tòa án và trao thắng lợi cho phe đối lập J.Marshall đã tìm ra một cách thức xử lý cho trường hợp này là tuyên bố Marbury có quyền nhận nhiệm vụ của mình, tuy nhiên Đạo luật về tư pháp là
cơ sở để xác lập quyền cho Marbury là đạo luật trái với Hiến pháp và như vậy không thể có hiệu lực và không thể được tòa án áp dụng Do đó, Tòa án tối cao không thể yêu cầu Tổng thống bổ nhiệm ông ta Theo Marshall, một đạo luật trái với Hiến pháp không thể có hiệu lực và không thể được áp dụng vì Hiến pháp liên bang là đạo luật cao nhất của đất nước và vì vậy bất cứ văn bản luật nào do nghị viện ban hành trái với Hiến pháp, có thể bị toà án tuyên bố là không hợp hiến
Sự kiện đó đã tạo cơ sở cho việc thực thi quyền lực của Tòa án tối cao trong việc kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật Theo đó trong quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể, các Tòa án thuộc quyền lực tư pháp có quyền xem xét về tính hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện ban hành và có quyền
từ chối không áp dụng những đạo luật đó nếu cho rằng những quy định của đạo luật này là trái với Hiến pháp Mặc dù mãi tới hơn 50 năm sau (1857), Tòa án tối cao giải quyết một vụ việc nữa về xem xét tính hợp hiến của các đạo luật nhưng trên thực tế, với vụ Mabury và Madison, Tòa án tối cao Mỹ đã tạo ra cơ sở cho một cơ chế mới trên thực tế là bảo đảm bằng tư pháp đối với việc tuân thủ Hiến pháp - giám sát hiến pháp thông qua hệ thống Tòa án
Trang 14thường và Tòa án tối cao.
Hệ thống giám sát kiểu Mỹ sau đó đã được tiếp nhận ở các nước Nam
Mỹ (Brazil (1891), Uruguay (1917) Một vài nước sau đó đã quy định rõ ràng quyền giám sát tư pháp Hiến pháp trong Hiến pháp nước mình
Ở nhiều nước Châu Âu, hộ thống giám sát hiến pháp đã không được chấp nhận bởi nguyên tắc quyền tối cao thuộc về nghị viện vẫn được thừa nhận và áp dụng một cách rộng rãi Theo nguyên tắc này, không thể có một cơ quan nào ngoài Nghị viện có quyền tuyên bố một đạo luật do Nghị viện thông qua là trái Hiến pháp
Một trong những sự kiện đánh dấu bước phát triển của quyền giám sát hiến pháp ở Châu Âu chính sự ra đời của Toà án Hiến pháp Áo (theo Hiến pháp Áo năm 1920), với thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật (mặc
dù trong thời gian đầu, quyền này chỉ giới hạn ở phạm vi giám sát trước khi đạo luật đó được công bố) Mô hình này dựa trên cơ sở học thuyết của hai luật gia nổi tiếng ià Adolf Merkl và Hans Kelsen Theo học thuyết này, Hiến pháp giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật, là nguồn cơ bản của pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật khác do cơ quan nhà nước ban hành phải phù hợp với Hiến pháp Để bảo đảm sự phù hợp này cần phải thiết lập cơ chế giám sát tư pháp tính hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện ban
hành Tiếp theo nước Áo, ở một số nước đã thiết lập thiết chế giám sát hiến
pháp như ở Czechoslovakia (1920), Liechtenstein (1925), Hy Lạp (1927), Tây Ban Nha (1931) và Ai Len (1937), Ai Cập (1941) Tuy nhiên, do ảnh hưởng của Chiến tranh thế giới thứ hai, xu hướng này không những bị ngắt quãng,
mà ở một số nước, thiết chế giám sát hiến pháp đã không phát huy được hiệu
quả thực tế, thậm chí còn bị bãi bỏ (Ví dụ ở Áo (giai đoạn 1933 - 1945), ở
Czechoslovakia (từ sau năm 1938) không có giám sát hiến pháp)
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ở Châu Âu, các thiết chế giám sát hiến pháp dần dần được khôi phục và phát triển mạnh mẽ Nhiều nước đã thiết lập thiết chế giám sát hiến pháp theo các mô hình khác nhau Trong giai đoạn này, theo quan điểm của các nhà Hiến pháp học Châu Âu thì thiết chế giám sát hiến pháp theo đúng nghĩa chỉ có thể tồn tại và phát triển khi hội tụ đầy đủ hai điều kiện sau:
Thứ nhất, thay vì nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về cơ quan lập
pháp, cơ quan đại diện nhân dân (nghị viện), tư tưởng về tính tối cao của Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước, là cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng cho
Trang 15Thứ hai, quyền giám sát hiến pháp phải được thực hiện bởi một cơ quan
đặc biệt, độc lập với các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Như vậy mới đảm bảo được nội dung và mục đích thực sự cũng như hiệu quả của giám sát hiến pháp
Mặt khác, quyền giám sát hiến pháp cũng liên quan và chịu sự tác động của nguyên tắc phân quyền theo chiều dọc giữa chính quyền trung ương và địa phương Vấn đề đó đặc biệt được quan tâm đối với các nhà nước liên bang, theo đó giám sát hiến pháp được áp dụng như là phương tiện giám sát lập pháp liên bang trong mối quan hệ với các bang thành viên, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa các bên này Chính trong thời gian này, vấn đề đối trọng quyền lực đã được xem như là một trong những đặc trưng của mỗi nền dân chủ
Ngoài ra người ta còn nhắc đến các nguyên nhân về chính trị và thể chế, theo đó quyền giám sát tư pháp Hiến pháp được xem như phương thức phòng ngừa hiệu quả đối với quyền lực quá lớn của hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Theo đó, một phương thức đảm bảo cho sự tuân thủ Hiến pháp chính từ phía các cơ quan trong bộ máy nhà nước (gồm cả hành pháp và lập pháp) đã được đưa ra Cơ quan giám sát hiến pháp phải độc lập đối với cơ quan lập pháp và hành pháp, quyền giám sát hiến pháp được thực hiện thông qua các hoạt động tích cực và có hiệu lực của các thẩm phán (thuộc nhánh quyền lực tư pháp (l)) Ở một số nước khác, người ta thành lập và trao quyền
đó cho một cơ quan giám sát hiến pháp chuyên trách đặc biệt
Những tác dụng tích cực của quyền lực tư pháp thông qua hoạt động xét
xử của các thẩm phán làm cho các quy định còn mơ hồ, chưa rõ ràng của Hiến pháp trở nên cụ thể hơn và phát huy tác dụng thực tiễn Thông qua hoạt động này, sự trừu tượng, khô cứng của các quy định trong Hiến pháp trở nên sống động và phù hợp với điều kiện thực tế của đời sống xã hội Cũng bằng cách
đó, các giá trị chính trị, pháp lý của Hiến pháp được hiện thực hóa và được thực tế hoá, làm cho Hiến pháp không chỉ có tính tuyên ngôn, cương lĩnh Bởi vậy, hầu hết các nước đều đưa ra mô hình giám sát hiến pháp trực tiếp sau Chiến tranh thế giới thứ 2 (trước đó được xem là đặc trưng của hệ thống pháp luật Mỹ), gồm có Brazil (1946), Nhật Bản (1947), Myanma (1947), Italia (1948), Thái Lan (1949), CHLB Đức (1949), Ấn Độ (1949), Pháp (1958),
1 Quyền lực tư pháp được xem là nhánh quyền lực công bằng nhất và ít có khả năng lạm
dụng quyền lực, xâm hại đến cấc quyền và tự do cơ bản của con người, công dân.
Trang 16Syria (1950) và Uruguay (1952) Đồng thời cùng với việc mở rộng các quan
hệ, giao lưu quốc tế dưới nhiều hình thức khác nhau, tư tưởng về giám sát hiến pháp đã lan rộng ảnh hưởng đến các các nước khác ở khu vực Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ, các nước Nam Âu, Đông Âu, kể cả một số nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ như Nam Tư (cũ), Ba L an
Điều chú ý như ở trên đã đề cập, ở các nước có Hiến pháp không thành văn chỉ có thể có một vài yếu tố, dấu hiệu của quyền giám sát hiến pháp với tư cách là đảm bảo sự thống nhất của pháp luật, tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hoặc các vấn đề như giải quyết tranh chấp thẩm quyền, giám sát bầu cử, luận tội theo thủ tục đàn hạch Đối với một số nước theo đạo Hồi như Iran, thiết chế giám sát hiến pháp còn có nhiệm vụ giám sát những văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành về sự phù hợp với Hiến pháp và Bộ kinh thánh Coran
Nhìn chung, về mặt lý luận, để xây dựng thiết chế giám sát tư pháp Hiến pháp, các học giả châu Âu đã dựa trên nền tảng của 3 luận thuyết cơ bản:
- Luận thuyết về sự thống nhất Theo luận thuyết này, Hiến pháp là văn
bản của quyền lực gốc, quyền lực nguyên thuỷ Các văn bản do các cơ quan Nhà nước được thiết lập bởi Hiến pháp ban hành có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp, do vậy phải phù hợp với Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp;
- Luận thuyết về tính hệ thống Theo luận thuyết này, Hiến pháp thiết
lập nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước Trong hoạt động của mình, các cơ quan Nhà nước phải tuân thủ những nguyên tắc đó Không một
cơ quan nào được xâm phạm thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước khác Trong Nhà nước liên bang, cần phải có sự phân định thẩm quyền của liên bang
và các chủ thể của liên bang;
- Luận thuyết về pháp luật tự nhiên (luận thuyết k h ế ước xã hội) Theo
luận thuyết này, Hiến pháp thiết lập nguyên tắc chung của mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân Trước hết Hiến pháp thiết lập những nguyên tắc bảo đảm các quyền con người và quyền công dân và nguyên tắc giám sát hiến pháp về việc tuân thủ các quyền con người và quyền công dân
Tuy nhiên, ở đây cần phải nhận thấy rằng, sự cần thiết phải thiết lập thiết chế giám sát hiến pháp xuất phát từ tính chất thứ bậc của các quy phạm pháp luật, mà những tính thứ bậc của các quy phạm này lại phụ thuộc phần nhiều vào tính thứ bậc của hệ thống các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Vì vậy, thiết chế giám sát hiến pháp chỉ có thể được
Trang 17thiết lập ở những nước có pháp luật thành văn, trong đó có Hiến pháp thành
văn, Hiến pháp đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao hơn đối với các văn bản quy phạm pháp luật khác
Trên nền tảng tư tưởng và lịch sử phát triển như trên, qua nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của thiết chế giám sát hiến pháp, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số đặc điểm cơ bản của giám sát hiến pháp như sau:
Giám sát hiến pháp là giám sát mang tính quyền lực nhà nước và được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước
Hoạt động giám sát có cơ sở pháp lý là Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước và có mục đích là đảm bảo sự tôn trọng và tuân thủ triệt để Hiến pháp đối với các văn bản quy phạm pháp luật và hành vi của những quan chức,
cơ quan nhà nước (đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp)
Hoạt động giám sát hiến pháp được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền do Kiến pháp quy định Đó có thể là cơ quan giám sát hiến pháp chuyên trách hoặc các cơ quan nhà nước khác như hệ thống các Toà án thường hoặc Toà án tối cao
Hậu quả pháp lý của giám sát hiến pháp có thể dẫn tới việc tuyên bố một đạo luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật (các quy định trong các văn bản đó) là trái Hiến pháp và mất hiệu lực trên thực tế hoặc bị bãi bỏ hoặc hủy bỏ; hoặc hành vi của cơ quan nhà nước, quan chức nhà nước là vi hiến, hành vi
bị coi là vi hiến, xâm phạm các quyền và tự do cơ bản được Hiến pháp bảo vệ của con người và công dân không được công nhận về hiệu lực pháp lý
1.2 Đối tượng của giám sát hiến pháp.
Việc nghiên cứu về đối tượng của giám sát hiến pháp là vấn đề lý luận
cơ bản có ý nghĩa to lớn trong việc nghiên cứu các thiết chế về giám sát hiến pháp Xác định các đối tượng thuộc phạm vi giám sát hiến pháp giải quyết các vấn đề lý luận, thực tiễn và khoa học khi nghiên cứu và xác định thẩm quyền của thiết chế (cơ quan) giám sát hiến pháp theo các mô hình và ở từng nước khác nhau
Qua nghiên cứu về giám sát hiến pháp theo nghĩa rộng, phù hợp với chức năng và thẩm quyền của các cơ quan giám sát hiến pháp của các nước hiện nay, có thể khái quát phạm vi đối tượng của giám sát hiến pháp như sau:
Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn
Hiến pháp mà trước hết và chủ yếu là các đạo luật do nghị viện ban hành
Trang 18Đối tượng quan trọng nhất của giám sát hiến pháp chính là các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các đạo luật do nghị viện ban hành Điều này
có vai trò quan trọng, nhất là đảm bảo cho nhánh quyền lực lập pháp không lợi dụng đặc quyền ban hành luật của mình để vượt lên trên Hiến pháp, phá vỡ trật tự Hiến pháp, trật tự pháp luật, phá vỡ tính ổn định và cân bằng của hệ thống chính trị, của cán cân quyền lực, xâm phạm những quyền cơ bản và tự
do của con người và công dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ
Trong số các văn bản luật do nghị viện ban hành, ở một số nước cũng
có thứ bậc pháp lý nhất định Ví dụ, các đạo luật Hiến pháp (constitutional
acts) và các luật tổ chức (organic acts) thường có hiệu lực cao hơn các luật
khác Trong trường hợp này, việc kiểm tra tính phù hợp của các luật khác đối với đạo luật Hiến pháp và luật tổ chức cũng thuộc phạm vi của hoạt động giám sát hiến pháp Một số nước quy định thủ tục giám sát hiến pháp đặc biệt hơn đối với các đạo luật loại này
Trong trường hợp một đạo luật được thông qua bởi cuộc trưng cầu ý dân, pháp luật không đặt ra và đòi hỏi sự kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật
đó Bởi lẽ, trưng cầu ý dân là hình thức cao nhất thực hiện quyền lực của nhân dân, thể hiện chủ quyền nhân dân, đạo luật đó sẽ không thuộc phạm vi giám sát hiến pháp Nếu có giám sát thì cơ quan giám sát hiến pháp chỉ giám sát và đảm bảo về tính hợp hiến của việc tuân thủ các thủ tục thực hiện cuộc trưng cầu ý dân Trên cơ sở đó, cơ quan giám sát hiến pháp ra quyết định, tuyên bố
về giá trị pháp lý của cuộc trưng cầu ý dân đó Ở nhiều nước cơ quan giám sát hiến pháp có chức năng đảm bảo tính hợp hiến và tuyên bố kết quả của các cuộc trưng cầu ý dân
Đối với một số nước, ví dụ Mỹ, việc Nghị viện không thực hiện chức năng (nhiệm vụ) lập pháp của mình cũng có thể là đối tượng của giám sát hiến pháp Đây cũng là vấn đề lý luận đang được trao đổi Liệu có nên trao cho cơ quan giám sát hiến pháp quyền tuyên bố về tính vi hiến của sự không thực
hiện thẩm quyền này của cơ quan lập pháp (ommission o f ỉegislator) hay
không? Cơ quan này có quyền yêu cầu cơ quan lập pháp ban hành văn bản luật hay không nếu như Hiến pháp quy định rõ ràng trách nhiệm như vậy?
Thực tế, quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, hạn chế sự lảng tránh của nghị viện trong việc ban hành những đạo luật điều chỉnh một lĩnh vực nhất định, đồng thời hạn chế sự phát sinh của các lỗ hổng pháp luật, có quan hệ xã hội cần điều chỉnh nhưng lại không có cơ sở pháp lý Ví dụ, ở Mỹ
cứ 10 năm một lần, nghị viện Mỹ phải ban hành Luật về tổng điều tra dân số
Trang 19Trường hợp Nghị viện không thực hiện nhiệm vụ này nghĩa là Nghị viện đã đã
vi phạm Hiến pháp Khi đó Toà án tối cao với tư cách là cơ quan giám sát hiến pháp có quyền yêu cầu nghị viện thực hiện nhiệm vụ đó
Tuy nhiên, phần lớn các nước không trao cho cơ quan giám sát hiến pháp quyền hạn này Ban hành hay không ban hành các đạo luật là độc quyền của nghị viện và do nghị viện hoàn toàn quyết định, không một cơ quan nào
có quyền ép buộc nghị viện phải ban hành một đạo luật nào đó
Mặt khác, bên cạnh chức năng giám sát tính hợp hiến của các đạo luật
và văn bản quy phạm pháp luật, Hiến pháp nhiều nước còn trao cho cơ quan
giám sát hiến pháp chức năng giải thích Hiến pháp như ở CHLB Nga, Croatia,
Ba Lan, CHLB Đức, Á o Cơ quan giám sát hiến pháp thường không có quyền chủ động giải thích Hiến pháp mà thực hiện quyền này theo đề nghị của một số chủ thể được Hiến pháp quy định Trường hợp đặc biệt ở Bungari, Toà
án Hiến pháp có quyền tự mình giải thích Hiến pháp mà không nhất thiết trên
cơ sở đề nghị của chủ thể nào
Những giải thích của cơ quan giám sát hiến pháp thường là những giải thích chính thức và có tính chất bắt buộc với mọi cơ quan (hành pháp, lập pháp và tư pháp), tổ chức và cá nhân, và bắt buộc với chính cơ quan giám sát hiến pháp Đây là thẩm quyền rất quan trọng bởi các quy định trong Hiến pháp thường mang tính chung chung, trừu tượng, tính tuyên ngôn, cương lĩnh
và xác lập các nguyên tắc hơn là các quy định cụ thể Vì vậy, khi các quan hệ, các vấn đề cụ thể phát sinh mà quy định của Hiến pháp chưa rõ ràng thì vai trò của giải thích Hiến pháp rất quan trọng, đưa những nguyên tắc, những giá trị của Hiến pháp vào áp dụng trong thực tế Đồng thời ở một phương diện nào đó cho phép cơ quan giám sát hiến pháp có thể thực hiện các hoạt động sáng tạo pháp luật
Thứ hai, các văn bản, cam kết, điều ước trong nội bộ quốc gia (thường
giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương, các chủ thể cấu thành liên bang hoặc giữa các chủ thể đó Ở các nhà nước liên bang và một số nhà nước đơn nhất, mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương (các chủ thể liên bang) thường không chỉ được thiết lập trên cơ sở Hiến pháp mà còn được điều chỉnh bởi một số văn bẳn, cam kết, điều ước trong nội bộ quốc gia Các điều ước, cam kết này cũng thuộc đối tượng giám sát hiến pháp
Ví dụ, điều ước giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa
Trang 20phương, điều ước giữa chính quyền liên bang với chính quyền của các chủ thể liên bang về phân định thẩm quyền; văn bản thoả thuận giữa các nhánh quyền lực Nhà nước (đầu tháng 12 năm 2002, giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Ưkraina đã đạt được thoả thuận về sự phân chia quyền lực, điều đó bảo đảm cho Chính phủ có khả năng thực hiện chiến lược cải cách kinh tế trong những năm tới) Thông thường các cơ quan giám sát hiến pháp có thẩm quyền giám sát và kiểm tra tính phù hợp của các quy định của điều ước với Hiến pháp trước khi diều ước quốc tế đó được phê chuẩn Một số nước quy định thẩm quyền giám sát sau đối với các điều ước này.
Thứ ba, đối với nhiều nước, thì đối tượng của hoạt động giám sát hiến
pháp còn là sự phù hợp giữa các điều ước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hoặc gia nhập với Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước Trong trường hợp các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế mâu thuẫn với chính bản thân các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp thì vấn đề này cũng được pháp luật các nước dự liệu
Điều 95 Hiến pháp Tây Ban Nha 1978 quy định: "Việc kỷ kết điều ước
quốc tế cố những điều khoản trái với Hiến pháp này chỉ được tiến hành sau khi sửa đổi Hiến pháp; Chính phủ hay một trong hai viện của nghị viện có thể yêu cầu Toà án Hiến pháp quyết định có sự mâu thuẫn giữa điều ước quốc tế với Hiến pháp hay không".
Điều 54 Hiến pháp nước Cộng hoà Pháp quy định: "Trong trường hợp
Hội đồng Bảo hiến, theo đề nghị của Tổng thống cộng hoà hoặc của Thủ tướng Chính phủ hay một trong hai viện của Nghị viện, tuyên b ố rằng điều ước quốc tế bao hàm những điều khoản trái với Hiến pháp, thì việc quyết định đưa điều ước quốc tế đó ra phê chuẩn hay phê duyệt chỉ được tiến hành sau khi sửa đổi Hiến pháp".
Đặc biệt một số nước như CHLB Nga, CHLB Đức, Ba Lan coi điều ước quốc tế là một bộ phận cấu thành của pháp luật quốc gia và có hiộu lực trực tiếp thì việc giám sát hiến pháp với đối tượng này lại càng phải quy định rõ
Thứ tư, việc thực hiện và bảo đảm nguyên tắc phân chia quyền lực giữa
các nhánh quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp), đảm bảo sự phân quyền và cân đối lợi ích giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, chính quyền liên bang và các chủ thể liên bang do Hiến pháp quy định Quyền giám sát này thể hiện trong thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước cao cấp đặc biệt là giữa các cơ quan
Trang 21cao cấp thuộc nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Ví dụ đảm bảo cho nghị viện và chính phủ hoạt động trong phạm vi quyền lực của mình, không xâm phạm sang lĩnh vực của nhau, đảm bảo các nguyên tắc phân quyền lập pháp và hành pháp giữa chính quyền liên bang và chính quyền bang Ở đây, các cơ quan giám sát hiến pháp có vai trò rất quan trọng trong việc điều phối và đảm bảo
sự cân bằng quyền lực giữa các thiết chế của quyền lực nhà nước trên nguyên tắc vừa đảm bảo tính thống nhất và toàn vẹn của nhà nước và pháp luật quốc gia, vừa phải đảm bảo nguyên tắc phân quyền, phân công, phân cấp giữa các chú thể công quyền liên quan đến vụ tranh chấp
Thứ năm, hành vi của những người giữ các chức vụ cao cấp, quan trọng
của Nhà nước Những người này có thể là Tổng thống, Thủ tướng, các thành viên của Chính phủ, thẩm phán Toà án tối cao Trong trường hợp này, cơ quan giám sát hiến pháp có thể tham gia ở các mức độ khác nhau vào việc xác định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, những quan chức cao cấp đó có hành vi vi phạm Hiến pháp hay không và xác định trách nhiệm pháp lý, chính trị đối với quan chức đó theo thủ tục đàn hạch
(Impeachment) Việc xác định hành vi không hợp hiến của các quan chức Nhà
nước nêu trên thường dẫn đến sự phế truất quan chức đó khỏi chức vụ đang đảm nhiệm Thực tế, có những nước, cơ quan giám sát hiến pháp là cơ quan có quyền trực tiếp thực hiện thủ tục luận tội và buộc tội các quan chức cao cấp của nhà nước và quyết định trách nhiệm pháp lý trong trường hợp đó ở một
số nước khác thì cơ quan giám sát hiến pháp chỉ giám sát việc thực hiện các thủ tục luận tội đó theo quy định của Hiến pháp
Bên cạnh đó, ở nhiều nước, Hiến pháp quy định cơ quan giám sát hiến pháp là cơ quan có thẩm quyền xem xét và tuyên bố về khả năng thực hiện nhiệm vụ của các quan chức cao cấp của nhà nước như không thể thực hiện được nhiệm vụ vì lý do sức khoẻ Trên cơ sở phán quyết của cơ quan giám sát hiến pháp mà quyết định miễn nhiệm đối với những người này
Thứ sáu, ở nhiều nước, thông qua thủ tục khiếu kiện hiến pháp (constitutional complaint), công dân có quyền yêu cầu Toà án Hiến pháp bảo
vệ các quyền cơ bản (hiến định) của họ bị xâm hại từ phía các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước
Có thể nói trong trường hợp này, đối tượng giám sát hiến pháp còn mở rộng ra đối với các văn bản quy phạm pháp luật và hành vi của cơ quan, công
Trang 22chức nhà nước, tất nhiên chỉ trong giới hạn trong những vụ việc, vấn đề liên quan trực tiếp đến việc đảm bảo các quyền hiến định cơ bản của con người và công dân phát sinh trong những trường hợp cụ thể.
Đây là thẩm quyền rất quan trọng và đặc thù của mô hình Toà án Hiến pháp các nước Thẩm quyền này ngày càng trở nên quan trọng và được nhiều người xem là cứu cánh, là phương tiện cuối cùng để công dân yêu cầu bảo vệ những quyền và lợi ích của mình Nhiều nhà khoa học cho rằng, khiếu kiện hiến pháp được coi là một phương pháp bảo vệ quyền đặc biệt, bổ sung, hỗ trợ cho các quyền cơ bản Điều kiện thực hiện quyền này là bất cứ ai muốn yêu cầu Toà án Hiến pháp giải quyết khiếu kiện hiến pháp thì trước hết phải thực hiện hết các thủ tục pháp lý thông thường theo quy định của pháp luật (thường
là thủ tục tố tụng tại toà án) Căn cứ của khiếu kiện hiến pháp là việc người khiếu kiện cho rằng quyền và tự do cơ bản của mình được Hiến pháp thừa nhận và bảo vệ bị xâm hại
Nhận xét về quyền khiếu kiện hiến pháp, GS.TS E Benda, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ, nguyên Chánh án Toà án Hiến pháp CHLB Đức đã cho rằng
trên phương diện hiến định ở CHLB Đức, khiếu kiện hiến pháp là vấn đề
không thể không đề cập đến v ề mặt lý luận, chế độ nhà nước pháp quyền vẫn tồn tại ngay cả khi không có chế định khiếu kiện hiến pháp, nhưng đó sẽ là một nhà nước pháp quyền với một nền tảng khác Khiếu kiện hiến pháp góp phần biểu hiện một cách cơ bản diện mạo chế độ Hiến pháp của nước Đức Khiếu kiện hiến pháp có nhiệm vụ bảo vộ các quyền cơ bản và các quyền tương tự quyền cơ bản Qua đó, nó đề cao những quyền này trong lĩnh vực pháp luật có thể thực thi Không có khả năng khiếu kiện hiến pháp thì những quyền cơ bản của công dân chỉ tồn tại dưới dạng chương trình cơ bản, khẩu hiệu hay mục tiêu của nhà nước và sẽ tồn tại trong phạm trù quyền chủ quan
mà không có những quan hê tích cực đến các chủ thể của quyền này Chỉ thông qua khiếu kiện hiến pháp thì các quyền cơ bản mới trở thành các quyền chủ quan khả thi thực sự
Khiếu kiện hiến pháp có hai chức năng cơ bản, một là bảo đảm quyền
cơ bản của con người và công dân, hai là bảo vệ sự tối cao và toàn vẹn của Hiến pháp Bên cạnh hai chức năng này, khiếu kiện hiến pháp còn có ý nghĩa giáo huấn Bản thân phán quyết của Toà án Hiến pháp đối với một vụ việc cụ thể, yêu cầu cụ thể của công dân về khiếu kiện hiến pháp sẽ có tác động không chỉ đối với phạm vi chủ thể trong vụ việc đó mà còn có tác động lan toả lên hành vi và tâm lý sau này của các chủ thể khác, cả từ phía nhà nước và
Trang 23công dân đặc biệt là với quy định về công khai tất cả các phán quyết của Toà
án Hiến pháp trên Công báo Với những chức năng này, càng ngày khiếu kiện hiến pháp càng trở thành một phương thức để bảo vệ quyền tự do, dân chủ, những quyền cơ bản được Hiến pháp ghi nhận cho công dân
Thứ bảy, Điều lệ, Cương lĩnh, các nghị quyết của các đảng phái chính trị.
Ở nhiều nước, đối tượng giám sát hiến pháp thuộc thẩm quyền phán xét, quyết định của cơ quan giám sát hiến pháp còn bao gồm các văn bản (Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết) và hoạt động của các đảng phái chính trị, nhằm duy trì và bảo vệ sự ổn định và trật tự chính trị, pháp lý Trường hợp Điều lệ, Cương lĩnh, nghị quyết (thể hiện mục đích, hoạt động) của các đảng phái chính trị vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp, xâm phạm trật tự cơ bản do Hiến pháp thiết lập thì cơ quan giám sát hiến pháp có quyền xem xét việc đình chỉ hoạt động, giải tán hoặc xoá tên đăng ký đối với đảng phái chính trị đó
Thứ tám, các cuộc bầu cử nghị viện, bầu cử tổng thống, các cuộc trưng cầu ý dân.
Theo quy định của pháp luật một số nước như Pháp, C roatia Cơ quan giám sát hiến pháp tham gia giám sát và đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của các cuộc bầu cử đại biểu nghị viện, bầu cử tổng thống Tuỳ ở mức độ tham gia, có thể là giám sát về tính hợp pháp của cuộc bầu cử về thủ tục hay tư cách của ứng cử viên, tư cách đại biểu trúng cử
Riêng đối với các cuộc trưng cầu ý dân, như đề cập ở trên, kết quả của
cuộc trưng cầu ý dân không phải là đối tượng của giám sát hiến pháp Tuy nhiên cơ quan giám sát hiến pháp có quyền giám sát và đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp về mặt thủ tục trong tổ chức trưng cầu ý dân
Trên cơ sở đối tượng của giám sát hiến pháp nêu trên, theo quy định của pháp luật cơ quan giám sát hiến pháp tuỳ từng nước và tuỳ từng mức độ sẽ có thẩm quyền sau:
- Tuyên bố về tính hợp hiến (không hợp hiến) của các đạo luật của nghị viện; tính hợp hiến (không hợp hiến), hợp pháp (không hợp pháp) các văn bản quy phạm pháp luật khác trong phạm vi quyền giám sát hiến pháp;
- Phán quyết về sự không làm tròn trách nhiệm của cơ quan lập pháp, tạo ra các lỗ hổng của pháp luật;
- Phán quyết về tính phù hợp với Hiến pháp của các điều ước quốc tế;
- Giải thích Hiến pháp;
Trang 24- Các phán quyết có hiệu lực chung thẩm liên quan đến khiếu kiện hiến pháp đảm bảo quyền tự do và quyền cơ bản được Hiến pháp bảo vệ của con người và công dân;
- Phán quyết xác định cơ quan có thẩm quyền trong các tranh chấp thẩm quyền;
- Phán quyết trong các vụ việc về luận tội quan chức cao cấp của nhà
nước ịimpeachment): có thể cơ quan giám sát hiến pháp là cơ quan
quyết định việc luận tội thông thường do nghị viện đưa ra (như ở Áo, Hungari, Italia, Séc, Đức ), hoặc có thể chỉ kiểm tra việc thực hiện đúng các quy trình do Hiến pháp quy định (như ở CHLB Nga, Belarus, Bungary );
- Phán xét về tính hợp hiến của Điều lệ, Cương lĩnh, nghị quyết, trong mục đích và hoạt động của các đảng phái chính trị hoặc giải tán các đảng phái chính trị;
- Phán quyết về tính hợp hiến của cuộc bầu cử nghị viện, bầu cử tổng thống, của quá trình thực hiện cuộc trưng cầu ý dân
Tuỳ từng mô hình giám sát hiến pháp và ở các quốc gia khác nhau mà phạm vi thẩm quyền của cơ quan giám sát hiến pháp được quy định khác nhau
1.3 Vai trò của giám sát hiến pháp
Với những chức năng và thẩm quyền như vậy, các thiết chế giám sát hiến pháp đóng một vai trò rất to lớn trong việc bảo vộ tính tối cao và sự toàn vẹn của Hiến pháp, bảo đảm sự cân bằng và ổn định của hệ thống chính trị, hoạt động của bộ máy nhà nước, tạo cơ chế hiến định bảo vệ những quyền cơ bản của con người và công dân
ỉ 3.1 Bảo đảm tính tối cao và tính toàn vẹn của Hiến pháp, đảm bảo sự thống nhất và sự phát triển của hệ thống pháp luật.
Vai trò quan trọng của Hiến pháp đã đặt ra yêu cầu bảo vệ Hiến pháp, đặc biệt là đảm bảo sự tôn trọng và tuân thủ tuyệt đối từ phía cơ quan lập pháp
- cơ quan ban hành các đạo luật làm cơ sở pháp lý quan trọng cho toàn bộ đời sống chính trị, xã hội v ề mặt lý thuyết, dù cơ quan lập pháp có phát triển như thế nào và ở quốc gia nào thì cũng không tránh khỏi được khả năng tiềm ẩn là chính bản thân nghị viện vi phạm Hiến pháp, vượt quá thẩm quyền của mình
và dù vô tình hay cố ý ban hành những đạo luật trái với Hiến pháp Nguyên nhân có thê là khách quan, do trình độ, quan điểm của các đại biểu (nghị sỹ),
Trang 25do sai sót trong quá trình soạn thảo, hoặc do chủ quan dưới sức ép và tác động của các lực lượng chính trị, với các nhóm lợi ích khác nhau Một khi đạo luật như vậy ra đời, tác hại của chúng là không thể lường trước, đồng thời nó phá vỡ tính ổn định, trật tự, tính có hộ thống của trật tự Hiến pháp.
Với chức năng và thẩm quyền giám sát tính hợp hiến của các đạo luật nói riêng và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung, thiết chế giám sát hiến pháp góp phần quan trọng trong bảo đảm tính tối thượng (tối cao) của Hiến pháp, huỷ bỏ, loại trừ, tuyên bố vô hiệu hoặc không áp dụng về mặt thực
tế những văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp đó Đạo luật vi hiến có thể mất hiệu lực ngay từ khi được ban hành hoặc mất hiệu lực từ thời điểm ban hành phán quyết là vi hiến có tác dụng hạn chế sự mất ổn định, không thống nhất của trật tự Hiến pháp, tránh sự xâm hại các quyền cơ bản của công dân
Mặt khác, trong thẩm quyền của cơ quan giám sát hiến pháp còn có quyền giải thích Hiến pháp Phần lớn các giải thích này được xác định là giải thích chính thức, có hiệu lực bắt buộc với mọi cơ quan nhà nước, quyền hạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thống nhất các hiểu nội dung và các ý nghĩa của các giá trị, nguyên tắc và quy định trong Hiến pháp
Hơn nữa, thông qua hoạt động của mình, cơ quan giám sát hiến pháp không chỉ duy trì sự ổn định mà còn có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển luật Hiến pháp, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, sáng kiến pháp luật, hoặc giải thích pháp luật theo những hướng khác nhau Như ở trên
đã đề cập, thông qua lăng kính hoạt động của mình, cơ quan giám sát hiến pháp đưa những quy định còn chưa rõ ràng, mang tính cương lĩnh, đưa những giá trị cao cả của Hiến pháp vào thực tiễn đời sống xã hội
Ở nhiều nước, phán quyết của cơ quan giám sát hiến pháp có tính chất tiền lệ, là nguồn của pháp luật, những giải thích, những lý do được cơ quan giám sát hiến pháp đưa ra làm cơ sở cho các quyết định có ý nghĩa vô cùng to lớn trong giải thích và áp dụng pháp luật, pháp luật nhiều nước còn coi đó là
bộ phận bắt buộc, không thể tách rời của phán quyết Nó có tác động mạnh mẽ đến cách hiểu các quy định của Hiến pháp như thể nào
ở Đức, các nhà luật học Đức nhận xét rằng, công dân Đức thông qua hoạt động của Toà án Hiến pháp liên bang đã dần dần học được cách đọc và hiểu Hiến pháp của họ Còn tại Italia, học giả người Italia G.Treves viết:
"Ngày nay, trong nhiều lĩnh vực của mình, Hiến pháp Italia được hiểu theo như cách nhìn nhận của Toà án Hiến pháp" [43 Tr 91]
Trang 26Qua những phân tích trên đây có thể thấy vai trò quan trọng của giám sát hiến pháp đối với việc bảo đảm sự tối cao và tính toàn vẹn của Hiến pháp, đảm bảo sự thống nhất và sự phát triển của hệ thống pháp luật
1.3.2 Góp phần bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người và công dân.
Mặc dù ở mỗi nước có phạm vi và mức độ thể hiện khác nhau nhưng nhìn chung, bằng các hoạt động của mình, thông qua thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, giải thích Hiến pháp và đặc biệt là thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hiến pháp của công dân, các thiết chế giám sát hiến pháp đã góp phần rất quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân được Hiến pháp ghi nhận Cơ quan giám sát hiến pháp có thể ngăn cản sự ban hành, từ chối áp dụng hay huỷ bỏ các văn bản quy phạm pháp luật vi hiến, xâm phạm quyền hiến định của con người và công dân (những quyền và tự do cơ bản) Mặt khác, thông qua thủ tục khiếu kiện hiến pháp, nhiều nước đã tạo điều kiện cho công dân của mình
có thêm một phương tiện hữu hiệu có thể yêu cầu nhà nước bảo vệ những quyền và tự do cơ bản của mình Thực tế cho thấy, từ khi Hiến pháp quy định cho công dân có quyền khiếu kiện hiến pháp lên Toà án Hiến pháp thì số lượng đơn khiếu kiện tăng lên rõ rệt, chiếm tỷ lộ cao trong các vụ việc mà cơ quan giám sát hiến pháp giải quyết Mặc dù tỷ lệ thành công không cao (2- 3%) nhưng điều này cho thấy sự thành công của mô hình này và sự tin tưởng của nhân dân vào thiết chế giám sát hiến pháp
Có thể lấy một ví dụ khác là vào năm 1971, Hội đồng Bảo hiến của Pháp đã công nhận giá trị pháp lý của Lời nói đầu của Hiến pháp 1958 Trong Lời nói đầu này có dẫn chiếu đến Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 (thuộc nền Cộng hoà thứ IV) và Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền năm 1789 của Pháp Trên cơ sở đó Hội đồng Bảo hiến đã dựa trên Lời nói đầu của Hiến pháp 1946
để kết luận rằng, các quyền tự do dân chủ được ghi nhận trong Tuyên ngôn là quyền cơ bản của công dân là quyền hiến định, là quyền cơ bản được Hiến pháp thừa nhận, là cơ sở pháp lý của giám sát hiến pháp ở Pháp Điều đáng nói
ở đây là thông thường Lời nói đầu của các bản Hiến pháp thường được xem như có tính chất cương lĩnh, tuyên ngôn chứ không có tính quy phạm bắt buộc Với phán quyết này, Hội đồng Bảo hiến thừa nhận giá trị bắt buộc của Lời nói đầu của Hiến pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ cho con người và công dân
1.3.3 Đảm bảo sự cân bằng và ổn định trong cơ cấu quyền lực nhà nước.
Bộ máy nhà nước ở các nước tư sản được tổ chức trên cơ sở những tư
Trang 27tưởng của nguyên tắc phân quyền Trong đó, tư tưởng chủ đạo của nguyên tắc này là bảo đảm cho các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong một phạm vi nhất định có sự kiềm chế, đối trọng từ các nhánh quyền lực khác nhằm hạn chế quyền lực, để không cơ quan nào có khả năng áp đặt, xâm phạm thẩm quyền và phạm vi hoạt động của các cơ quan khác (phân quyền theo chiều ngang) đồng thời đảm bảo phân quyền theo chiều dọc - giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương.
Các cơ quan giám sát hiến pháp ra đời đã giữ một vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và điều phối sự cân bằng và ổn định quyền lực, hạn chế sự chuyên quyền của cơ quan lập pháp, sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan hành pháp , phân định rõ các ranh giới về quyền lực trong trường hợp có tranh chấp, đảm bảo điều hoà quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước
1.4 Phân loại quyền giám sát hiến pháp.
Trên cơ sở các tiêu chí khác nhau, với những mục đích khác nhau, quyền giám sát hiến pháp có thể được chia thành các loại khác nhau Điều này
có ý nghĩa to lớn khi nghiên cứu về giám sát hiến pháp
1.4.1 Giám sát trừu tượng (abstract review) và giám sát cụ th ể (concrete review)
Căn cứ vào hình thức thực hiện, quyền giám sát hiến pháp được chia thành giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể
+ Giám sát trừu tượng là khái niệm chỉ hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật mà không gắn với bất cứ một vụ việc
+ Giám sát cụ thể là là hình thức giám sát được thực hiện gắn với một
vụ việc cụ thể (thông thường là vụ kiện tại Toà án) Theo đó, tòa án trực tiếp
tự mình thực hiện quyền giám sát, xem xét về tính hợp hiến của đạo luật hoặc Toà án (tự mình hoặc theo yêu cầu của các bên) yêu cầu cơ quan giám sát hiến
Trang 28pháp kết luận về tính hợp hiến của đạo luật đó để làm cơ sở áp dụng trong việc
giải quyết vụ việc Tùy từng mô hình giám sát hiến pháp khác nhau mà đạo luật bị tuyên bố là trái Hiến pháp có thể bị hủy bỏ, bãi bỏ, mất hiệu lực hoặc
có thể về hình thức, Tòa án không có quyền hủy bỏ, bãi bỏ đạo luật đó nhưng
sẽ không áp dụng đạo luật vi hiến nữa, vì vậy đạo luật mất hiệu lực thực tế
Nội dung quyền giám sát cụ thể là rất quan trọng, bởi chính thông qua quyền này mà các quy định mang tính định hướng, trừu tượng và nguyên tắc của Hiến pháp có tính hiện thực, trở nên gắn bó với thực tiễn và được thể hiện trong thực tiễn sống động Giám sát cụ thể luôn là giám sát sau và gắn liền với việc cụ thể liên quan đến việc về bảo vộ các quyền cơ bản của con người và công dân
Có thể nói rằng nếu như giám sát trừu tượng cho phép cơ quan giám sát hiến pháp có một cái nhìn tổng thể về mối quan hệ giữa văn bản quy phạm pháp luật với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất và tính nhất quán của hoạt động giám sát, đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc phân chia quyền lực, đảm bảo tính có hệ thống và đồng bộ của hộ thống pháp luật, thì giám sát cụ thể cho phép cơ quan giám sát hiến pháp có khả năng bảo vệ các quyền con người, quyền công dân một cách linh hoạt và hữu hiệu nhất
Một điểm cần lưu ý là trên thực tế mặc dù Toà án Hiến pháp không có quyền sửa đổi các quy định của các đạo luật nhưng bên cạnh quyền xác định tính hợp hiến hay không của đạo luật đó, Toà án Hiến pháp nhiều nước còn có thể tác động đến nội dung của các đạo luật thông qua việc ra phán quyết rằng đạo luật chỉ được coi là hợp hiến nếu như các quy định trong đạo luật đó được giải thích theo một tinh thần nhất định Đây cũng là một giải pháp linh hoạt nhằm tránh việc tuyên bố một đạo luật là vi hiến kéo theo hàng loạt hậu quả pháp lý phức tạp
1.4.2 Giám sát trước (a priori review) và giám sát sau (a posteriory review)
Căn cứ vào mốc thời gian tiến hành hoạt động giám sát hiến pháp, quyền giám sát hiến pháp được chia thành: giám sát trước và giám sát sau
+ Giám sát trước là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (thường là các đạo luật của nghị viện) trước khi văn bản đó có hiệu lực pháp lý Thông thường giám sát trước được thực hiện trong giai đoạn đạo luật đã được thông qua và trong thời gian chờ nguyên thủ quốc gia công
bố (thời hạn này thường được Hiến pháp quy định là 15 ngày)
Hiến pháp nhiều nước quy định có những loại văn bản quy phạm pháp
Trang 29luật bắt buộc phải thông qua giám sát, kiểm tra về tính hợp hiến, nếu có quyết định khẳng định về tính hợp hiến của văn bản thì Nguyên thủ quốc gia mới được ký lệnh công bố hoặc quy định đó mới được thực hiện Có thể nói, thủ tục giám sát hiến pháp được coi như là một phần của thủ tục ban hành văn bản Ví dụ: Hiến pháp CH Pháp cũng như một số nước có Hội đồng Bảo hiến quy định đối với các đạo luật về tổ chức nhà nước trước khi đưa ra công bố, quy chế hoạt động của các viện (thuộc nghị viện) trước khi đưa ra thi hành thì phải trình lên Hội đồng Bảo hiến để kiểm tra về tính hợp hiến Trường hợp đạo luật bị phán xét là không phù hợp với Hiến pháp thì đạo luật đó không được công bố hoặc không được đưa ra thi hành.
Giám sát trước cũng thường được áp dụng với các điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc tham gia
Giám sát trước luôn là giám sát trừu tượng, giám sát chung về mặt nội dung và tính phù hợp với Hiến pháp, không thể có giám sát cụ thể vì đạo luật
và các văn bản pháp luật bị xem xét ở đây chưa có hiệu lực pháp lý Hoạt động này nhằm đảm bảo cho các đạo luật một khi có hiệu lực, đi vào cuộc sống không mâu thuẫn với Hiến pháp, phá vỡ tính thống nhất và trật tự của hệ thống pháp luật, xâm phạm quyền cơ bản của công dân Xét về mặt chính trị, trong
xã hội đa đảng phái, đây là công cụ để các đảng phái chính trị đấu tranh cho quyền lợi của mình
Hình thức giám sát này thường được áp dụng ở những nước xây dựng thiết chế giám sát hiến pháp theo mô hình kiểu châu Âu (Toà án Hiến pháp hoặc Hội đồng Bảo hiến), [xem thêm phần phân loại giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể ở mục 1.4.1 ]
Đối với quyền giám sát trước (trừ trường hợp giám sát bắt buộc), cơ quan giám sát hiến pháp thường không có quyền tự mình giám sát, kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật mà thẩm quyền này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các chủ thể có thẩm quyền do Hiến pháp quy định Chủ thể đó thường là Nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, Chủ tịch nghị viện hoặc một số lượng nghị sỹ nhất định Quyền yêu cầu này được thực hiện trong thời gian đạo luật đã được thông qua nhưng chưa được công bố Nếu cho rằng đạo luật
đó có dấu hiệu trái với Hiến pháp về mục đích, nội dung, thủ tục ban hành , chủ thể đó có quyền yêu cầu cơ quan giám sát hiến pháp xem xét về tính hợp hiến của đạo luật
Tuỳ vào mức độ và nội dung trái với Hiến pháp của đạo luật, phạm vi yêu cầu có thể là xem xét về tính hợp hiến của một phần hay toàn bộ văn bản
Trang 30pháp luật Thường thì đối với các đạo luật trái với các Hiến pháp về các nguyên tắc, các nội dung cơ bản hoặc về thủ tục sẽ bị yêu cầu xem xét về tính hợp hiến đối với toàn bộ đạo luật Trường hợp chỉ có một hoặc một vài các quy định, nhóm quy định trong đạo luật có dấu hiệu trái Hiến pháp mà sự vi phạm này không làm ảnh hưởng về cơ bản đến nội dung và sự tồn tại của cả đạo luật thì chỉ yêu cầu xem xét phần bị cho là vi hiến đó Tuy nhiên, ở phần lớn các nước, cơ quan giám sát hiến pháp không bị giới hạn bởi phạm vi yêu cầu trên mà có toàn quyền xem xét về tính hợp hiến của toàn bộ đạo luật.
Tuỳ vào mức độ và phạm vi nội dung trái với Hiến pháp, cơ quan giám sát hiến pháp có quyền tuyên bố toàn bộ hay một phần đạo luật đó trái với Hiến pháp, do vậy đạo luật hoặc quy định cụ thể đó không thể được công bố Trường hợp chỉ có một bộ phận của đạo luật vi hiến, nhưng đó là phần không thể tách rời khỏi đạo luật thì toàn bộ đạo luật bị coi là vi hiến, nếu quy định đó không thuộc trường hợp như vậy thì đạo luật vẫn có thể được ban hành (công bố), ngoại trừ phần bị tuyên bố trái Hiến pháp Ngược lại, nếu cơ quan giám sát hiến pháp cho rằng đạo luật hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp thì nguyên thủ quốc gia buộc phải công bố đạo luật theo quy định
Một khi phán quyết đã được công bố, trừ một vài trường họp ngoại lệ cá biột, Nghị viện cũng như Nguyên thủ quốc gia không có quyền thay đổi hay bác bỏ Phán quyết có hiệu lực bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước (kể cả nghị viện), các chủ thể có liên quan Đồng thời, Hiến pháp cũng không cho phép cơ quan giám sát hiến pháp sửa đổi đạo luật đó theo ý của mình cho phù hợp với Hiến pháp Điều này phù hợp với nguyên tắc toà án không có quyền lập pháp
+ Giám sát sau là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp lý và hoạt động của các cơ quan nhà nước, công chức Nhà nước có thẩm quyền Hình thức này có ở nhiều kiểu mô hình thiết chế giám sát hiến pháp khác nhau, có thể có hình thức giám sát trừu tượng hoặc giám sát cụ thể, đối tượng giám sát cũng rất đa dạng, phong phú Cùng với giám sát trước, giám sát sau cũng có những vai trò và ý nghĩa rất quan trọng bởi sự gắn bó chặt chẽ với thực tiễn pháp luật
Giám sát sau mang tính trừu tượng được thực hiện trên cơ sở đề nghị của những chủ thể nhất định (thường là những chủ thể tương tự như trong giám sát trước) Đối tượng của quyển giám sát sau mang tính trừu tượng là các đạo luật đã có hiệu lực pháp luật Các chủ thể theo quy định của Hiến pháp có quyền yêu cầu cơ quan giám sát hiến pháp xem xét tính hợp hiến của đạo luật
Trang 31đó theo trình tự thủ tục giám sát hiến pháp.
Trường hợp xét thấy đạo luật đó (toàn bộ hay một phần) trái với Hiến pháp, theo trên cơ sở yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền, cơ quan giám sát hiến pháp có quyền xem xét và ra phán quyết tuyên bố đạo luật đó là vi hiến Phán quyết này có hiệu lực đối với mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức (kể cả những cơ quan cao cấp nhất của nhà nước như nghị viện, Nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, hệ thống Toà án và bắt buộc với bản thân Toà án Hiến pháp) Với phán quyết như vậy, đạo luật đó sẽ bị huỷ bỏ hoặc mất hiệu lực pháp lý từ thời điểm đạo luật đó được ban hành hoặc từ thời điểm phán quyết có hiệu lực pháp luật
Đối với giám sát cụ thể, hình thức giám sát luôn luôn là giám sát sau,
có vai trò rất quan trọng vì liên quan mật thiết đến hoạt động áp dụng pháp luật trên thực tế [xem thêm mục 1.4.1 của Luận văn]
1.4.3 Giám sát bên trong và giám sát bên ngoài.
Căn cứ vào vị trí thực hiện hoạt động giám sát, quyền giám sát hiến pháp được chia thành giám sát bên trong và giám sát bên ngoài
+ Giám sát hiến pháp bên trong là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản do chính cơ quan ban hành văn bản đó ban hành
+ Giám sát bên ngoài là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước khác Giám sát bên ngoài thông thường là hoạt động giám sát sau khi đạo luật đã được nghị viên thông qua Vì vậy những dự án luật đang được xây dựng không thuộc đối tượng của quyền giám sát bên ngoài Giám sát bên ngoài theo cách phân loại trên có thể là giám sát trước hoặc giám sát sau
Tất nhiên, quyền giám sát từ bên trong là rất quan trọng, là tiền đề đầu tiên cho việc đảm bảo tính hợp hiến của các đạo luật Tuy nhiên, cơ chế này thường không phức tạp, thường do các bộ phận cấu thành nên cơ quan nhà nước đó thực hiện Giám sát bên ngoài là đối tượng nghiên cứu chủ yếu, bởi cần có một cơ chế phức tạp, dựa trên những nguyên tắc hiến định và được thể chế trong những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao nhất của quốc gia
1.4.3 Giám sát có tính chất khuyên nghị, tư vấn và giám sát cố tính chất quyết định.
Căn cứ vào kết quả của hoạt động giám sát, hiệu lực của quyết định giám sát, quyền giám sát hiến pháp được chia thành giám sát có tính chất khuyến nghị, tư vấn và giám sát có tính chất quyết định
Trang 32+ Giám sát có tính chất khuyến nghị, tư vấn là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản hay hành vi chỉ mang tính chất chính trị, đạo đức chứ không gắn với hậu quả pháp iý (không quy kết nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý) hoặc kết quả của hoạt động giám sát chỉ có tính chất tham khảo, là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét chứ không có hiệu lực pháp
lý bắt buộc Thông thường, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động này không cao nếu như cơ quan giám sát hiến pháp không có thẩm quyền ra quyết định với các chủ thể trong quá trình thực hiện quyền giám sát hiến pháp Trên thực tế Hội đồng Bảo hiến một số nước có chức năng tư vấn cho Chính phủ về cách thức tổ chức các cuộc bầu cử hoặc trưng cầu ý d ân
+ Giám sát có tính chất quyết định gắn với hậu quả pháp lý, phán quyết của cơ quan giám sát hiến pháp có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên
liên quan và trong trường hợp phán quyết có hiệu lực erga omnes(2) - hiệu lực
bắt buộc chung kể cả đối với các bên không tham gia vụ tranh chấp cụ thể đó (thường áp dụng đối với giám sát cụ thể) Ví dụ, việc cơ quan giám sát hiến pháp tuyên bố một đạo luật không phù hợp với Hiến pháp sẽ dẫn đến việc đạo luật đó bị huỷ bỏ, vô hiệu hoặc không thể được áp dụng nữa, hay nói cách khác là đạo luật đó mất hiệu lực pháp luật
Qua nghiên cún các thiết chế giám sát hiến pháp cho thấy rằng, phần lớn thẩm quyền giám sát hiến pháp của các cơ quan này phần lớn là giám sát
có tính chất quyết định Điều đó đảm bảo cho kết quả của hoạt động giám sát hiến pháp được thực hiện, đảm bảo tính toàn vẹn và tối cao của Hiến pháp
1.4.4 Giám sát bắt buộc và giám sát không bắt buộc.
Căn cứ vào tính bắt buộc của hoạt động giám sát, quyền giám sát hiến pháp được chia thành giám sát bắt buộc và giám sát không bắt buộc
+ Giám sát bắt buộc là trường hợp mà Hiến pháp quy định rõ ràng phải thông qua giám sát hiến pháp thì văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành hoặc hoạt động được thực hiện bởi cơ quan nhà nước (như tổ chức bầu cử, trưng cầu ý dân ) mới được coi là hợp hiến Ở một nghĩa nào
đó, thủ tục giám sát hiến pháp trong như một phần bắt buộc của quá trình thông qua văn bản pháp luật hoặc thực hiện hoạt động được Hiến pháp quy định
Ví dụ Hiến pháp các nước tổ chức giám sát hiến pháp thông qua Hội đồng Bảo hiến thường quy định hình thức giám sát bắt buộc đối với các đạo
2 Hiệu lực erga omnes dựa trên cơ sở tư tưởng cho rằng một đạo luật trái Hiến pháp sẽ không chỉ
xâm phạm quyền và lợi ích của các chủ thể cụ thể trong vụ việc đó mà còn có khả năng xâm hại lợi ích của các chủ thể khác trong các trường hợp tương tự.
Trang 33luật tổ chức do nghị viện ban hành và quy chế hoạt động của các viện Bên cạnh đó, Hiến pháp nhiều nước còn quy định cho cơ quan giám sát hiến pháp thẩm quyền giám sát, đảm bảo tính hợp hiến và hợp pháp của các cuộc bầu cử
và trưng cầu ý dân, đồng thời là cơ quan tuyên bố kết quả các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân
+ Giám sát không bắt buộc là hoạt động giám sát không được Hiến pháp coi là hoạt động bắt buộc (đối với các cơ quan có liên quan, kể cả cơ quan giám sát hiến pháp); hoạt động này được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền do Hiến pháp quy định Trường hợp đó có thể có giám sát hiến pháp hoặc không, cơ quan giám sát hiến pháp không có nghĩa vụ buộc phải thực hiện hoạt động giám sát hiến pháp
Đa số các trường hợp giám sát hiến pháp là giám sát không bắt buộc Thông thường, cơ quan giám sát hiến pháp không tự mình thực hiện chức năng giám sát hiến pháp của mình, mà phải do các chủ thể khác do Hiến pháp quy định có quyền yêu cầu cơ quan giám sát hiến pháp thực hiện thẩm quyền của mình Ví dụ như trong trường hợp yêu cầu phán xét về tính hợp hiến của một đạo luật đã được ban hành thì thông thường các Toà án Hiến pháp không có thẩm quyền tự xem xét mà phải dựa trên cơ sở yêu cầu của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch nghị viện, một số iượng nghị sỹ nhất định, hoặc của cá nhân công dân theo thủ tục khiếu kiện hiến pháp
1.4.6 Giám sát hình thức và giám sát nội dung.
Căn cứ vào nội dung của hoạt động giám sát hiến pháp, quyền giám sát hiến pháp được chia thành giám sát hình thức và giám sát nội dung
+ Giám sát hình thức là hoạt động kiểm tra việc tuân thủ những yêu cầu, điều kiện, trình tự, thủ tục do Hiến pháp quy định đối với văn bản quy phạm pháp luật Nội dung chủ yếu là kiểm tra văn bản đó có phải do cơ quan
có thẩm quyền ban hành hay không? việc ban hành có tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục hay không? Thông thường, các văn bản pháp luật không tuân thủ trình tự thủ tục ban hành nếu bị đệ trình lên cơ quan giám sát hiến pháp để kiểm tra về tính hợp hiến sẽ bị vô hiệu toàn bộ
+ Giám sát nội dung là là hoạt động kiểm tra nội dung của văn bản hay quy phạm pháp luật có phù hợp với quy định của Hiến pháp hay không Tùy vào tính chất và mức độ trái Hiến pháp của các quy định trong văn bản, hậu quả pháp lý của việc xác định tính không hợp hiến trong giám sát nội dung có thể làm cho văn bản quy phạm pháp luật bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ
Trang 341.4.7 Căn cứ vào hiệu lực theo thời gian của phán quyết, quyền giám sát hiến pháp được chia thành Ex tunc và Ex nunc.
Thời điểm đạo luật đạo luật trái với Hiến pháp bị coi là vô hiệu được pháp luật các nước quy định khác nhau Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn vô cùng to lớn Dựa trên hiệu lực theo thời gian của phán quyết (Ex
tunc hay Ex nunc), giám sát hiến pháp cũng có thể được phân loại tương ứng
Tiếp cận dưới một phương diện khác cũng có thể xem xét dưới góc độ, đạo luật vi hiến bị tuyên bố vô hiệu (không có hiệu lực pháp lý) từ thời điểm nào
+ Hiệu lực hồi tố (Ex tunc) có nghĩa là quyết định của cơ quan giám sát
hiến pháp về tính không hợp hiến của văn bản hay quy phạm pháp luật có hiệu lực kể cả trong thời gian trước khi quyết định (phán quyết) của cơ quan giám sát hiến pháp được ban hành Vì vậy văn bản hay quy phạm pháp luật bị tuyên
bố là trái Hiến pháp sẽ bị coi là không có hiệu lực kể thời điểm ban hành Như vậy các mối quan hệ pháp luật phát sinh hay hình thành trên cơ sở các quy phạm đó sẽ bị bãi bỏ, quay trở lại nguyên trạng như trước khi ban hành quy phạm đó Các cơ quan Nhà nước hữu quan phải bồi thường thiệt hại do việc ban hành văn bản vi hiến đó gây ra Với nội dung này, rõ ràng nhà nước tuyệt đối không thừa nhận giá trị của những quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, phá
vỡ tính thống nhất của hệ thống pháp luật
Việc áp dụng Ex tunc gây ra nhiều phiền toái, nhiều khi vượt ra ngoài
khả năng của các cơ quan nhà nước, nhất là trong trường hợp văn bản hay quy phạm đã có hiệu lực trong một thời gian tương đối dài Việc giải quyết hậu quả pháp lý là rất khó khăn, nhiều khi gây mất ổn định cho trật tự pháp luật, đồng thời, những “lỗ hổng pháp luật” phát sinh là điều không thể tránh khỏi
+ Hiệu lực từ thời điểm sau (Ex nunc) có nghĩa là quyết định về tính
không hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật không có hiệu lực hồi tố mà chỉ có hiệu lực đối với các vụ việc sau này, kể từ thời điểm phán quyết có hiệu lực trở đi (thường ngay sau khi tuyên án hoặc một thời gian ngắn sau đó) Đạo luật đó vẫn được coi là có hiệu lực pháp lý và được thừa nhận áp dụng cho những trường hợp, những quan hệ xã hội trước khi đạo luật đó bị tuyên bố huỷ
bỏ và vô hiệu Kể từ ngày tuyên bố về tính không hợp hiến của văn bản pháp luật có hiệu lực thì những quan hê mới phát sinh đó không được công nhận và coi là hợp hiến nữa Phương pháp này có ưu điểm là dễ dàng cho việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố đạo luật vô hiệu, nhưng nhược điểm của nó là thừa nhận hiệu lực của đạo luật trái Hiến pháp trong thời gian chưa
bị tuyên bố huỷ bỏ và mất hiệu lực pháp lý Mặt khác nếu tuyên bố huỷ bỏ,
Trang 35bãi bỏ ngay đạo luật đó tạo ra những “lỗ hổng pháp luật” trong thời gian chưa ban hành được luật mới Phương pháp này thường được các nước sử dụng.
Một trường hợp nữa có thể xảy ra là đồng thời với việc tuyên bô' một đạo luật là trái Hiến pháp, cơ quan giám sát hiến pháp ấn định một thời hạn nhất định, sau thời hạn đó, đạo luật sẽ bị mất hiệu lực (có thể kéo dài đến một năm) Trường hợp này cũng tương tự như trường hợp trên nhưng có ưu điểm là
có thời gian và cơ hội cho cơ quan lập pháp sửa đổi hoặc ban hành mới các đạo luật để thay thế những quy phạm pháp luật vi hiến, tránh việc nảy sinh và tồn tại những lỗ hổng pháp luật Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất là dù đã được xác định là trái Hiến pháp, nhưng nhà nước vẫn tiếp tục thừa nhận hiệu lực của những quy phạm đó Chính vì vậy mà trường hợp này ít khi được áp dụng và hầu như chỉ áp dụng đối với các quy phạm trái Hiến pháp ở một mức độ nhất định nào đó
Trên bình diện lớn hơn, nếu như Ex tunc là phức tạp nhưng có ưu điểm
là đảm bảo tối đa tính hợp hiến nói chung, không thừa nhận bất cứ đạo luật vi hiến nào, nhưng lại rất phức tạp trong giải quyết hậu quả pháp lý và có thể kéo theo những sự thay đổi do trong quá khứ đã áp dụng đạo luật nói trên thì
ngược lại Ex nunc đơn giản hơn về giải quyết hậu quả nhưng như vậy là mặc
nhiên thừa nhận hiệu lực và giá trị của những quy định trái với Hiến pháp, làm giảm đi giá trị của giám sát hiến pháp
Ngoài ra, xét về vấn đề hiệu lực, ở các nước có thiết chế giám sát hiến pháp phát triển, một vấn đề đang được tranh luận khá sôi nổi rằng, liệu một phán quyết của cơ quan giám sát hiến pháp tuyên bố một đạo luật là vi hiến thì có thể cho thêm một thời hạn nhất định để cơ quan lập pháp ban hành thay thế đạo luật mới hay không? Tức là vẫn duy trì tiếp tục hiệu lực của đạo luật
vi hiến trong một thời gian nữa để tránh trường hợp phát sinh các lỗ hổng pháp luật, có quan hộ cần điều chỉnh nhưng không có luật Giải quyết trường hợp này, thông thường các nước quy định phán quyết về tính không hợp hiến của đạo luật sẽ có hiệu lực kể từ ngày được công bố, hoặc sau một thời gian ngắn (3, 5 hoặc 15 ngày kể từ ngày đăng trên Công báo), đồng thời nhiều nước cho phép cơ quan giám sát hiến pháp của mình có thể cho cơ quan lập pháp thời gian để sửa đổi, hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới để thay thế
1.5 Các mô hình thực hiện quyền giám sát hiến pháp.
Khi tiếp cận thuật ngữ mô hình thực hiện quyền giám sát hiến pháp các nhà nghiên cứa thường đề cập đến các yếu tố cấu thành nên mô hình đó như chủ thể thực hiện quyền giám sát hiến pháp, đối tượng của quyền giám sát
Trang 36hiến pháp và thủ tục thực hiện quyền giám sát hiến pháp Cụ thể, khi nghiên cứu về các mô hình giám sát hiến pháp trên thế giới, chúng ta cần xem xét trên một số vấn đề sau: vị trí, tính chất của cơ quan giám sát hiến pháp; cơ sở pháp lý liên quan (3); thành phần và tổ chức của cơ quan giám sát hiến pháp; thẩm quyền của cơ quan giám sát hiến pháp; Thủ tục thực hiện quyền giám sát hiến pháp; Tính chất và hiộu lực pháp lý của các phán q uyết
Tuỳ theo quy định của Hiến pháp ở các quốc gia, dựa theo các mô hình
tổ chức giám sát hiến pháp khác nhau, cơ quan thực hiện quyền giám sát hiến pháp có thể là: người đứng đầu Nhà nước, Nghị viện (hoặc một cơ quan của nghị viện), Chính phủ, Toà án tối cao, Toà án cấp cao (ví dụ Toà án trọng tài cấp cao), toà án hành chính (trong phạm vi thẩm quyền giải quyết các vụ việc hành chính), cơ quan có chức năng chuyên trách như Toà án Hiến pháp hay Hội đổng Bảo hiến Mỗi một mô hình lại có những đặc điểm khác nhau và thường được phân loại như sau:
Thứ nhất, quyền giám sát hiến pháp được thực hiện bởi Tổng thống,
Nghị viện, Chính phủ hay cơ quan trực thuộc của các cơ quan này (không phải
là cơ quan tư pháp) là hoạt động giám sát hiến pháp mang tính chính trị, bởi lẽ những cơ quan này thực hiện các hoạt động chính trị Chúng được thành lập theo nhiệm kỳ bằng phương pháp bầu cử hay bổ nhiệm Việc tiến hành cuộc bầu cử mới sẽ làm thay đổi một phần hay toàn bộ thành phần của cơ quan Điều đó dẫn đến việc thay đổi việc thực hiện các quyết định chính trị Vì vậy hoạt động giám sát loại này thường được thực hiện để giải quyết những nhiệm
vụ chính trị thường nhật
Có thể lấy ví dụ loại hình giám sát chính trị ở nước Pháp Theo Hiến
pháp 1799 và 1852, Thượng viện thực hiện quyền giám sát hiến pháp Theo Hiến pháp 1946, Uỷ ban giám sát hiến pháp gồm Tổng thống, Chủ tịch hai viện và 10 thành viên khác do Tổng thống là Chủ tịch Trong số 10 thành viên
đó, 7 thành viên do Hạ viện bầu, 3 thành viên do Hội đồng cộng hoà (thượng viện) bầu Nhóm cơ quan thuộc loại hình này không thuộc phạm vi nghiên cứu chủ yếu của luận văn
Thứ hai, quyền giám sát hiến pháp được thực hiện bởi cơ quan tư pháp
(Toà án tối cao, Toà án Hiến pháp, Toà án cao cấp, cơ quan chuyên trách thuộc Toà án tối cao hay hệ thống tòa án thường) hoặc cơ quan chuyên trách
'T hông thường cơ sở auan trọng nhất cho hoạt động giám sát H iến pháp được ghi nhận
cụ thể trong H iến pháp, ngoài ra c ó đạo luật về tổ chức và hoạt đ ộ n g của cơ quan giám sát hiến pháp, N ộ i quy hoạt động của cơ quan giám sát hiến pháp
Trang 37về giám sát hiến pháp như Hội đồng Bảo hiến Trên thế giới hiện nay có các
mô hình thực hiộn quyền giám sát Hiến pháp như sau
* Giám sát Hiến pháp theo mô hình Toà án thường và Tòa án tối cao.
Theo mô hình này, quyền giám sát hiến pháp được thực hiện bởi toà án
có thẩm quyền chung khi giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của mình, không thành lập các cơ quan chuyên trách để thực hiện chức năng giám sát hiến pháp Vụ việc được giải quyết bởi những thẩm phán thường, không theo trình tự bổ nhiệm đặc biệt, không có vị trí pháp lý đặc biệt, việc giải quyết các
vụ việc về giám sát hiến pháp vẫn theo các thủ tục chung, không có thủ tục riêng như ở mô hình Toà án Hiến pháp
Giám sát hiến pháp ở mô hình này thường là giám sát cụ thể Khi giải quyết một vụ việc cụ thể, toà án thường phải xem xét về tính hợp hiến của các đạo luật phải áp dụng Trong trường hợp toà án cho rằng văn bản luật không hợp hiến, tuỳ vào mô hình giám sát hiến pháp tập trung hay phân tán vụ việc
sẽ được chuyển lên Toà án tối cao giải quyết hoặc do toà án đó trực tiếp phán quyết không tách rời khỏi vụ việc đang giải quyết Trường hợp Toà án tối cao xem xét và ra quyết định, quyết định của Toà án tối cao có hiệu lực bắt buộc đối với toà án các cấp Văn bản luật bị tuyên bố là không hợp hiến, về hình thức vẫn tiếp tục có hiệu lực, tuy nhiên các toà án sẽ thôi không áp dụng nội dung của văn bản trong hoạt động xét xử nữa v ề hình thức văn bản luật bị tuyên bố là không hợp hiến vẫn còn hiệu lực, nhưng trên thực tế thì mất hiệu lực pháp lý Điều này dẫn đến là cơ quan hành pháp không thể đưa văn bản vi hiến đó vào thực tế, và cơ quan ban hành ra văn bản đó - Nghị viện phải ra quyết định bãi bỏ, thay thế văn bản đó Trong mô hình giám sát hiến pháp này, Toà án tối cao một số nước có quyền bãi bỏ hoặc huỷ bỏ các đạo luật do nghị viện ban hành
* Giám sát hiến pháp theo 1I1Ô hình Toà án Hiến pháp
Theo mô hình này, một Toà án chuyên trách đặc biệt thuộc quyền lực tư pháp nhưng tách khỏi hệ thống toà án thường được thành lập, được giao chuyên trách thực hiện chức năng giám sát hiến pháp Ngoài cơ quan này, thông thường không một cơ quan nào khác thực hiện chức năng giám sát hiến pháp Các thẩm phán được hình thành theo con đường đạc biệt, có địa vị pháp
lý đặc biệt; giám sát hiến pháp được thực hiện theo thủ tục pháp lý đặc biệt, nội dung quyền giám sát hiến pháp rộng, thường gồm cả giám sát trước và giám sát sau, giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể Cơ quan đó được gọi là Toà án Hiến pháp (Italy, Croatia), Toà án Hiến pháp liên bang (Đức, Nga),
Trang 38Toà án Hiến pháp tối cao (Ai Cập).
* Giám sát hiến pháp theo mô hình Hội đồng Bảo hiến
Trong mô hình này, cơ quan giám sát hiến pháp được thành lập độc lập nhưng không phải cơ quan tư pháp (Toà án) mà là một Hội đồng Bảo hiến, cơ quan này có vị trí độc lập, thành lập với chức năng đảm bảo cho nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp hành động trong phạm vi thẩm quyền đã được Hiến pháp quy định, đảm bảo tính hợp hiến và hợp pháp của các đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành Chức năng giám sát hiến pháp được thường được giao tập trung giống như mô hình Toà án Hiến pháp Thành viên Hội đồng Bảo hiến được bầu, bổ nhiệm theo những thủ tục đặc biệt, có nhiệm kỳ, có địa vị pháp lý riêng
Giám sát hiến pháp ở đây thường là giám sát trước, có thể có giám sát
có tính chất tư vấn hoặc bắt buộc Một số nước quy định cho Hội đồng bảo hiến thẩm quyền giám sát sau và giám sát cụ thể Phán quyết của Hội đồng Bảo hiến có hiệu lực bắt buộc đối với các bên liên quan
Bên cạnh đó Hội đồng Bảo hiến còn có thể được Hiến pháp giao cho một số thẩm quyền khác như giải thích Hiến pháp, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền, giám sát, giải quyết tranh chấp về bầu cử và thực hiện chức năng tư vấn cho Nguyên thủ quốc gia và Chính phủ trong những trường hợp cần thiết
Ngoài sự phân biệt theo các mô hình kể trên, các nhà nghiên cứu luật Hiến pháp khi nghiên cứu về giám sát hiến pháp chia theo mô hình tổ chức còn phân loại thông qua các đặc điểm mô hình tổ chức kiểu Mỹ, kiểu Châu Âu lục địa, kiểu hỗn hợp Âu - Mỹ hoặc tổ chức theo kiểu Pháp cũng dựa trên những đặc điểm trên
Chúng tôi cũng giới thiệu cách phân loại này để tham khảo
* Mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp kiểu Mỹ (American Model)
Mô hình giám sát Hiến pháp này có đặc điểm là khi giải quyết các vụ
việc thuộc thẩm quyền của mình, các tòa án thường (ordinary courts) khi giải
quyết vụ việc có quyền và trách nhiệm xem xét tính hợp hiến của các đạo luật
sẽ được áp dụng trong vụ việc đó Thủ tục xem xét tính hợp hiến của các đạo luật không phải là một thủ tục đặc biệt mà được thực hiện theo thủ tục thông thường như khi giải quyết các vụ việc khác tại các tòa án Thẩm quyền này thuộc về tất cả các tòa án thường chứ thành lập và trao thẩm quyền đó cho một Tòa án đặc biệt nào Nói cách khác, quyền giám sát hiến pháp được tổ chức
Trang 39theo một hệ thống phân tán và giao cho nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước
(mà trực tiếp là hộ thống các toà án) thực hiện thẩm quyền này Trong mô
hình này, không thành lập một cơ quan thực hiện chức năng chuyên trách là
giám sát hiến pháp như Toà án Hiến pháp, Hội đồng Bảo hiến hay một Toà án
cao cấp hoặc giao tập trung chức năng giám sát hiến pháp cho Toà án tối cao
Về thẩm quyền, các tòa án thường không có quyền giám sát trước
Quyền giám sát hiến pháp ở đây là giám sát cụ thể theo đó, trong một hệ
thống thống nhất dưới sự lãnh đạo của Tòa án tối cao Trong hệ thống giám
sát hiến pháp phân tán, với phạm vi rộng này, phán quyết của tòa án về tính
hợp hiến thông thường có hiệu lực bắt buộc chỉ trong phạm vi các bên của vụ
việc được giải quyết trừ những trường hợp được áp dụng nguyên tắc tiền lệ
(stare decisis)4 Khác với các mô hình giám sát hiến pháp khác, các phán quyết
này không có hiệu lực chung thẩm như trong mô hình Hội đồng Bảo hiến hay Tòa
án Hiến pháp mà có thể bị xem xét, xét xử lại bởi một Tòa án cấp trên
Khi Toà án xác định một đạo luật là trái với Hiến pháp, toà án thường
không có thẩm quyền huỷ bỏ đạo luật hay tuyên bố đạo luật đó vô hiệu như
trong hộ thống giám sát hiến pháp tập trung Các toà án chỉ không áp dụng
đạo luật đó trên thực tế, phán quyết này có hiệu lực buộc đối với các toà án
cấp dưới Nếu đó là phán quyết của Toà án tối cao thì bắt buộc đối với cả hộ
thống tư pháp Như vậy về hình thức đạo luật vẫn còn hiệu lực nhưng thực tế
sẽ không được áp dụng nữa
* Mô hình giám sát hiến pháp kiểu châu Âu lục địa - giám sát tư
pháp Hiến pháp - (Constitutional Judicial Review- European Model)
Những vụ việc trong phạm vi giám sát hiến pháp được thực hiện thông
qua thủ tục tư pháp bởi một cơ quan đặc biệt là Tòa án Hiến pháp (hoặc Tòa
án Hiến pháp liên bang) hoặc thông qua một Toà án cao cấp (High Court)
Tòa án này được thành lập và có vị trí độc lập với các nhánh quyền lực lập
pháp và hành pháp với chức năng chuyên trách là giám sát hiến pháp, gồm
những thẩm phán có trình độ cao được bổ nhiệm, bầu theo thủ tục đặc biệt
(khác với các thẩm phán thường), có sự tham gia của các cơ quan cao cấp của
nhà nước như Tổng thống hoặc nghị viện, hoặc được tổ chức dưới hình thức
4 stare decisis theo tiếng Latin là "hãy giữ nguyên quyết định Theo nguyên tắc này khi một tiền lệ
được xác lập thì tất cả các vụ việc tương tự được giải quyết đều phải quyết định như vậy Phán quyết
trước có giá trị bắt buộc, ảnh hưởng tới các phán quyết sau, trừ trường hợp nó hoàn toàn bị bãi bỏ
Theo các nước theo hệ thống thông luật (common law) nguyên tắc này là cơ sở cho sự ổn định, bển
vững của luật pháp nhằm đảm bảo tính thống nhất cho các quyết định của tòa án, trừ khi có lý do để
thay đổi.
Trang 40một tòa án cao cấp {High Court), hoặc một cơ quan chuyên trách đặc biệt về
giám sát hiến pháp
Thẩm quyền giám sát hiến pháp được thực hiện theo một thủ tục đặc biệt, tách khỏi thủ tục giải quyết vụ việc thông thường tại tòa án Thông thường các cơ quan này thực hiện quyền giám sát trừu tượng, ngoài ra cũng có thể có thẩm quyền giám sát cụ thể; đồng thời bên cạnh quyền giám sát sau, quyền giám sát trước cũng có thể được trao cho các cơ quan này
Phán quyết của cơ quan giám sát hiến pháp có tính chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
Các cơ quan thực hiện chức năng giám sát hiến pháp theo mô hình này
có thể theo mô hình Tòa án Hiến pháp, Toà án Cao cấp (ví dụ Toà án Trọng Tài ở Bỉ) hoặc một cơ quan chuyên trách Một số Hội đồng Bảo hiến ở một số nước cũng có những đặc điểm theo mô hình Châu Âu, khác với mô hình kiểu Pháp (Li Băng, Campuchia, Kazakhstan)
* Mô hình giám sát hiến pháp kiểu hỗn hợp Âu - Mỹ (Mixed
American - Continental Model)
Mô hình này có cả những yếu tố của cả hai mô hình kiểu Châu Âu và kiểu Mỹ, với đặc điểm trao quyền giám sát hiến pháp cho một cơ quan chuyên trách có chức năng này như Tòa án Hiến pháp, Tòa án tối cao, đồng thời trao cho tất cả các tòa án khi giải quyết một vụ việc cụ thể có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, và được quyền không áp dụng các đạo luật được cho là không phù hợp với Hiến pháp
Các nước theo mô hình này có thể tổ chức cơ quan chuyên trách Hiến
pháp rất linh hoạt như theo mô hình Toà án Hiến pháp ở Bồ Đào Nha,
Colombia, Ecuador, Guatemala, Peru, hoặc theo mô hình Toà án cao cấp như
ở Hy Lạp, Indonesia, Đài Loan, Brazil, Venezuela
* Mô hình giám sát hiến pháp kiểu Pháp (The nFrench” Model)
Các nước thành lập cơ quan giám sát hiến pháp dựa trên nguyên tắc của
mô hình của Hội đồng Bảo hiến pháp theo Hiến pháp 1958 Theo đó, các vụ việc thuộc thẩm quyền giám sát hiến pháp được giao cho một cơ quan đặc biệt
có chức năng giám sát hiến pháp - Hội đồng Bảo hiến Quyền giám sát hiến pháp được giao tập trung và được thực hiện theo một thủ tục đặc biệt Giám sát hiến pháp ở đây chủ yếu là giám sát trước, có cả giám sát quyết định và giám sát có tính chất tư vấn Hệ thống nàv thường có hoạt động giám sát mang tính bắt buộc, đặc biệt liên quan đến các luật tổ chức, quy chế hoạt động của