1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số khía cạnh pháp lý về công ty cổ phần dưới góc độ so sánh giữa pháp luật việt nam và pháp luật cộng hoà pháp

96 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 10,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần, phân tích những khía cạnh pháp lý cơ bản của loại hình doanh nghiệp này trong mối li

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học

TS Phan C hí H iếu GS H ervé L EC U Y E R

TH Ư VIỆ N

TRƯỜNG ĐẠI H Ọ C LỮẬTHA NOI

H À N Ộ I - N ẢM 2004

Trang 3

LỜI N Ó I Đ Ầ U

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay Ở Việt Nam, do những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định nên việc tổ chức, quản lý công ty cổ phần còn rất hạn chế cả về

lý luận và thực tiễn

Trong những năm gần đây, N hà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công ty, trong đó có pháp luật về công ty cổ phần Năm 1990, Luật Công ty ra đời đã tạo nền tảng pháp lý cho sự ra đời của công ty cổ phần Sau m ột thời gian áp dụng, đạo luật này đã bộc lộ nhiều bất cập Bởi vậy, cuối năm 1999 để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các công ty ra đời và hoạt động, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

N am đã ban hành Luật Doanh nghiệp thay th ế cho Luật Công ty Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999, địa vị pháp lý của công ty cổ phần đã đươc hoàn thiện một bước căn bản Luật Doanh nghiệp, cùng với các văn bản pháp luật có liên quan về chứng khoán và thị trường chửng khoán, về k ế toán, thống

kê, cơ bản đã tạo được hành lang pháp lý cho công ty cổ phần ra đời và phát triển

Từ thực tế đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần, phân tích những khía cạnh pháp lý cơ bản của loại hình doanh nghiệp này trong mối liên hệ với điều kiện cụ thể của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Cộng hòa Pháp - tiêu biểu cho các nước theo truyền thống Châu Âu lục địa,

có nhiều kinh nghiệm quản lý công ty cổ phần Việc đối chiếu so sánh để thấy được sự tương đổng và khác biệt trong địa vị pháp lý của còng ty cổ phần theo

Trang 4

pháp luật Việt nam và pháp luật Cộng hòa Pháp, từ đó tiếp nhận nhũng kinh nghiệm nước ngoài để hoàn thiện pháp luật Việt nam về công ty cổ phần là

cần thiết Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “M ợ í sô kh ía cạ n h p h á p lý về công ty cổ

phản dưới góc độ so sánh pháp luật Việt nam và p h á p luật C ộng hòa P háp

làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học luật với hy vọng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc giải quyết những vấn đề mà thực tiễn và lý luận về công ty cổ phần đang đặt ra hiện nay

2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Đổ tài đặt ra nghiên cứu làm rõ các khía cạnh pháp lý cơ bản của công ty cổ phần trong quan hệ so sánh giữa pháp luật Việt nam và pháp luật Cộng hòa Pháp; đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Việt nam về công ty cổ phần; chỉ ra những kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt nam để hoàn thiện pháp luật Việt nam

Để đạt được mục tiêu này, luận văn phải giải quyết nhiệm vụ sau:

- Làm rõ các khía cạnh pháp lý của công ty cổ phần và đánh giá vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường;

- Đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với công ty cổ phần ở Việt nam;

- Từ kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật đối với công ty cổ phần của Cộng hòa Pháp đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty cổ phần của Việt nam;

Các nội dung nghiên cứu luôn đặt trong mối liên hệ, so sánh với pháp luật của Cộng hòa Pháp để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt, chỉ ra những kinh nghiệm hay của Pháp từ đó tiếp thu cho Việt Nam

Trang 5

Để thực hiện mục đích đã đề ra, luận án nghiên cứu những nội dung của pháp luật hiện hành về công ty cổ phần ở Việt nam như bản chất pháp lý, cấu trúc vốn, việc tổ chức quản lý, có liên hệ với Cộng hòa Pháp, chỉ ra điểm bất hợp

lý và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật công ty cổ phần Việt nam theo kinh nghiệm Cộng hòa Pháp Tuy nhiên, chế định công ty cổ phần có phạm vi rộng, phức tạp và liên quan tới nhiều chế định pháp luật khác Vì vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu sâu những vấn đề pháp lý cơ bản nhất về công ty cổ phần (quy định trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành)

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng cộng sản, chính sách pháp luật của Nhà nước

Để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể mà đề tài đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích, so sánh, khảo sát thực tiễn Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài thì phương pháp chủ đạo được sử dụng là phương pháp so sánh pháp luật

4 Những đóng góp của luận văn

Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những vấn đồ pháp lý cơ bản về công ty cổ phần dưới góc độ so sánh giữa pháp luật Việt nam và pháp luật cộng hòa Pháp Những kết luận, kiến nghị nêu ra trong luận văn là những quan điểm khoa học của tác giả, thể hiện sự đóng góp có ỹ nghĩa cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học pháp lý

5 Kết cấu của luận văn

Kết cấu cuả luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm

vi nghiên cứu Luận văn bao gồm các phần sau:

Trang 6

Lời nói đầu

Ba chương:

Chương I: Khái quát về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần

Chương II: M ột số quy định về công ty cổ phần theo pháp luật Việt nam và pháp luật Cộng hòa Pháp

Chương III: M ột số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về công ty cổ phần ở Việt nam tiếp cận từ kinh nghiệm Cộng hòa Pháp

Kết luận

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔ N G TY c ổ PHAN v à p h á p

LUẬT VỀ CÔ N G TY c ổ PHAN

1.1 Bản chất pháp lý của công ty cổ phần

1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần trong khoa học pháp lý

Với tính chất là một hiện tượng kinh tế - xã hội, khái niệm doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng có thể hiểu theo nhiều nghĩa khi tiếp cận

từ các góc độ khác nhau Từ góc độ kinh tế, công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động kinh doanh vì mục đích kiếm lời Dưới góc độ pháp lý, công ty cổ phần là một pháp nhân kinh tế, được thành lập trên

cơ sở góp vốn cổ phần của các tổ chức, cá nhân

Công ty cổ phần là đối tượng nghiên cún của nhiều ngành khoa học trong đó

có khoa học pháp lý Trong khoa học pháp lý, công ty cổ phần được tiếp cận như là một thương nhân - pháp nhân Các nhà nghiên cứu, các luật gia trên thế giới đưa ra rất nhiều định nghĩa về công ty cổ phần Trong cuốn Đại từ điển kinh tế thị trường của nước CHND Trung Hoa, công ty cổ phần (gọi là công ty

hữu hạn cổ phần) được định nghĩa “ là m ộ t loại h ìn h công ty m à toàn bộ vốn

chia thành các c ổ phần có mức bằng nhau, c ổ phần p h á t hành công khai

theo lu ậ t p h á p b ằng h ìn h thức c ổ p h iế u và tự do ch u yển nhượng T rong

công ty hữu hạn c ổ phần, s ố c ổ đông rất nhiều, tài sản cá nhản tách riêng

k h ỏ i tài sản công ty, trách n h iệm dôi vói các m ón n ợ của công ty hạn chê ở

mức bỏ vốn của từng ngư ời”'.

Từ điển Bách khoa Việt nam định nghĩa “ Công ty c ổ phần là những công ty

dược hình thành trên cơ sở liên hợp tư bản cá nhân bằng cách phát hành và bán cổ phiếu và lợi nhuận của công ty được phân p h ố i giữa các cổ đông theo

1 Đ ại từ điển kinh lế thị trường - tài liệu dịch để tham khảo c ủ a V iện n g h iên cứu và phổ biến tri thức Bách

k h o a H à nội năm 1998, tran g 1947.

Trang 8

s ố lượng c ổ p h ầ n ” 2 Định nghĩa theo từ điển Bách khoa nhấn mạnh chủ yếu

khía cạnh kinh tế, cụ thể là tính chất của việc phân phối lợi nhuận, tính chấthợp vốn của công ty

Khác với cách tiếp cận từ góc độ kinh tế, các nhà luật học Việt Nam đã đưa ra một định nghĩa khá rõ ràng và cụ thể về công ty cổ phần theo đó công ty cổ

phần là: “Công ty trong đố điều lệ được chia thành những phần nhỏ nhất và

bằng nhau gọi là c ổ phần Người sở hữu c ổ phần của công ty gọi là cổ đông

C ổ đông ch ỉ chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ của công ty đến hết giá trị cổ

p hần mà họ nắm giữ Công ty có quyền p h á t hành chứng khoán đ ể công khai huy động vốn ’ 3 Định nghĩa này nhấn m ạnh đến tính chất và cấu trúc vốn

cũng như ch ế độ trách nhiệm của thành viên

Như vậy, có thể nhận thấy rằng các định nghĩa về công ty cổ phần là không đồng nhất với nhau, nhung nhũng định nghĩa trên đều nêu những điểm chung nhất thể hiện bản chất của công ty cổ phần là doanh nghiệp vốn góp với cơ cấu Vốn đặc thù và chế độ trách nhiệm hữu hạn của các thành viên

N hững quan điểm khác nhau về công ty cổ phần trong khoa học kinh tế, pháp ]ý dẫn đến hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cũng có những cách tiếp cận khác nhau về công ty cổ phần

Ở Đức là quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law), khái niệm về công ty cổ phần được quy định bởi Luật ban hành ngày 4/4/1892 và được sửa đổi ngày 4/7/1980 Theo đó, vốn pháp định tối thiểu của công ty phải là 100.000 Mác,

2 Từ điển Bách K h o a V iệt N am - T rung tâm biên soạn từ đ iển Bách k h o a V iệt nam , trang 593.

1 Từ đ iển giải thích luật học trường Đ ại học L u ật H à nội phần L uật kinh tế, L uật M ôi trường, luật tài chính, luật N gân hàng N X B C ông an N hân dân n ăm 2000, trang 22.

Trang 9

ít nhất là 1/4 giá trị đăng ký của mỗi cổ phần phải được đóng góp ngay từ khi thành lập công ty.

Tại Pháp, theo “L uật quy định điều kiện để công ty phát hành các loại chứng khoán” ngày 14/12/1985 thì công ty cổ phần được gọi là công ty vô danh, ở đó phải có ít nhất 7 cổ đông, vốn pháp định tối thiểu là 25.000 FF (đối với các công ty không phát hành chứng khoán), và 1.500.000 FF (đối với các công ty phát hành chứng khoán), mệnh giá thống nhất mỗi cổ phiếu là 100FF Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần Công ty nếu đủ điều kiện, có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn

Khác với các nước theo hệ thống dân luật, các nước theo hệ thống pháp luật

A nh-M ỹ (hay còn gọi là Common law) không phân chia công ty đối vốn thành công ty trách nhiệm hữu hạn một cách rõ ràng Tuy nhiên, ở các nước này tồn tại công ty có tính chất pháp lý tương tự như công ty cổ phần theo hệ thống dân luật Tại Vương quốc Anh, công ty cổ phần còn có tên gọi là công ty công cộng (public lim ited com pany) hay công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phần (com pany lim ited share) Tư cách pháp lý của công ty được xác định bởi Luật công ty ban hành năm 1948, theo đó, vốn pháp định tối thiểu của công ty là500.000 bảng Anh, có cấu trúc vốn linh hoạt, các cổ phần đều có thể nhượng bán, trừ khi điều lệ công ty có quy định khác 4

Tại H oa Kỳ, theo pháp luật thương mại Hoa Kỳ, có ba loại công ty chính: Hợp danh (Partnership), công ty đóng ( Close corparation) và công ty mở (Public Corporation) trong đó công ty mở có đặc điểm pháp lý giống như công ty hữu hạn ở Anh

4 X em Pháp luật về công ty củ a N guyễn T hị V ân V iện N ghiên cứu k h o a học pháp lý 1996, trang 49.

Trang 10

Hệ thống pháp luật các nước ASEAN, kể cả pháp luật công ty chịu ảnh hưởng sâu sắc hệ thống pháp luật của các nước trước đây đã từng áp đặt ách thống trị

Do các nước ASEAN chiụ khá nhiều ảnh hưởng khác nhau từ các nước Anh,

Mỹ, Pháp, nên trong pháp luật công ty cũng có những dấu ấn của ảnh hưởng trên K hông có gì ngạc nhiên khi cách tiếp cận về công ty cổ phần của một vài nước ASEAN giống với các nước theo hệ thống dân luật và hệ thống pháp luật

A nh-M ỹ

ở V iệt N am , công ty cổ phần ra đời rất muộn so với nhiều nước phát triển trên thế giới Năm 1986, kể từ sau Đại hội VI, Việt nam chủ trương chuyển nền kinh tế từ cơ chế k ế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường Tới năm 1990 với sự ra đời của Luật Công ty, pháp luật V iệt Nam mới quy định về loại hình doanh nghiệp này Năm 1999 với sự ra đời của Lụật Doanh nghiệp, địa vị pháp lý của công ty cổ phần đã được hoàn thiện m ột bước căn bản

Khác với Luật Công ty trước đây, Luật Doanh nghiệp năm 1999 không đưa ra định nghĩa khái quát về công ty cổ phần, mà chỉ liệt kê những dấu hiệu pháp

lý 5 có thể hiểu công ty cổ phần như sau: Công ty cổ phần là loại hình công

ty đối vốn, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, hình thức của cổ phần là cổ phiếu, người sở hữu cổ phần là cổ đông,

cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần m à họ nắm giữ, công ty cổ phần được phát hành chứng khoán để huy động vốn.

Tựu chung lại, pháp luật của các nước khác nhau trên th ế giới có quy định phong phú và đa dạng về công ty cổ phần bởi pháp luật của mỗi nước được hình thành dựa trên nguồn gốc lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì pháp luật của các quốc gia cũng

5 X em L u ật D o an h ngh iệp , Đ iều 51.

Trang 11

đều ghi nhận những đặc điểm pháp lý cơ bản tương đối thống nhất về công ty

cổ phần Có thể khái quát những điểm chung đó như sau:

T h ứ nhất, Công ty cổ phần là một pháp nhân kinh tế có tài sản riêng, là một

pháp nhân hoạt động độc lập, có tổ chức chặt chẽ, cấu trúc vốn hoàn thiện, tài sản do các cổ đông đóng góp vào công ty tồn tại tách bạch với các tài sản khác của cổ đông Cổ đông là các đồng chủ sở hữu công ty nhưng không có quyền

sở hữu tài sản cuả công ty, tài sản trong công ty thuộc sở hữu của chính bản thân công ty.Việc thay đổi cổ đông không ảnh hưởng đến sự tồn tại của công

ty cổ phần Với tư cách là một chủ thể kinh tế dựa trên chế độ đa sở hữu, công

ty cổ phần có khả năng huy động nhiều nhà đầu tư tham gia góp vốn thành lập

và có khả năng tập trung được nguồn vốn lớn để thực hiện các hoạt động kinh doanh

T h ứ hai, Công ty cổ phần là loại công ty đối vốn điển hình Khi tham gia vào

công ty cổ phần, các cổ đông không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp (cổ phần) Cơ cấu tổ chức bô máy quản lý, những vấn đề về quản lý nội bộ, quyền lợi và nghĩa vụ của các cổ đông được giải quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (tức là căn cứ vào giá trị cổ phần

mà các cổ đông nắm giữ) Đặc điểm này cùng với khả năng chuyển nhượng cổ phần dễ dàng trên thị trường, làm cho công ty cổ phần có phạm vi, quy mô kinh doanh lớn, số lượng cổ đông đông đảo và có khả năng tập trung huy động vốn lớn để phát triển sản xuất kinh doanh

T h ứ b a , Công ty cổ phần có cấu trúc vốn linh hoạt, mang tính xã hội hóa cao

Với cấu trúc vốn mở, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành các cổ phần bằng nhau Có nhiều loại cổ phần khác nhau như cổ phần phổ thông và các loại cổ phần ưu đãi Sự đa dạng hoá các loại cổ phần tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc thiết lập một cơ cấu vốn hợp lý, tính chuyển nhượng

dễ dàng của cổ phần trên thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho công ty cổ phần trong việc tạo lập và huy động vốn vào công ty Trong quá trình hoạt

Trang 12

động kinh doanh công ty cổ phần được phát hành các loại chứng khoán, trong

đó có cổ phần ra công chúng để huy động vốn Do đó, sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán

Thứ tư, Công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Để bảo vệ quyền lợi cho

tất cả các thành viên, cũng như các chủ thể có thể tham gia quan hệ với công

ty, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định chặt chẽ về cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành và giám sát công ty, về nguyên tắc hoạt động của các cơ quan trong công ly, chế độ trách nhiệm của công ty, những người quản lý công ty

1.1.2 Các đặc trung pháp lý của công ty cổ phần

Trong nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung, hầu như không tồn tại công ty với bản chất đặc trưng của nó là sự liên kết của các thành viên, cùng góp vốn nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, dù trên thực

tế có rất nhiều tổ chức kinh tế được gọi là công ty Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới, chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa Chính sách này đã được thể chế hóa bằng nhiều văn bản pháp luật Trong số đó có L uật Công ty năm 1990 - văn bản quan trọng cho sự xuất hiện và hoạt động của công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Theo Luật Công ty năm 1990, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình công ty đối vốn có sự liên kết của nhiều thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lỗ trong phạm vi phần vốn góp X ét ở nhiều khía cạnh, Luật Công ty năm 1990 có cách tiếp cận

về công ty cổ phần khá đồng nhất với cách tiếp cận về công ty cổ phần với pháp luật nhiều nước nhất là các nước theo hệ thống dân luật, điển hình là ở Pháp Luật Công ty năm 1990 không nêu định nơhĩa về công ty cổ phần mà chỉ nêu những dấu hiệu cơ bản, đặc trung thể hiện bản chất của nó Khoản 1,2,

Trang 13

Điều 30 Luật Công ty 1990 quy định: “ Công ty c ổ phần là công ty trong đố

s ố thành viên gọi là c ổ đông mà công ty p h ả i có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là 7, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần M ỗi c ổ đông có th ể mua một hoặc nhiều c ổ p h ầ n ”.

Công ty cổ phần, theo Luật Doanh nghiệp Việt nam, có các đặc trưng pháp lý như sau:

T h ứ nhất, về cấu trúc vốn, thể hiện ở vốn điều lệ là số vốn do tất cả các cổ

đông góp (bằng m ua cổ phần) và được ghi vào điều lệ công ty 6 Vốn điều lệ của công ty cổ phần phải được chia thành những phần nhỏ nhất có giá trị bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị mỗi cổ phần gọi là m ệnh giá (giá trị danh nghĩa)

của cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu 1 Tư cách cổ đông của công ty

được xác định dựa trên căn cứ quyền sở hữu cổ phần Đây là đặc trưng khác biệt của công ty cổ phần so với công ty trách nhiệm hữu hạn: vốn điều lệ của công ty cổ phần và vốn Ihực của nó ở thời điểm thành lập có thể có sự chênh lệch, song điều này không thể xảy ra đối với công ty trách nhiệm hũu hạn Các

cổ đông trong công ty cổ phần góp vốn bằng cách m ua các cổ phần Các cổ đông có thể m ua m ột hoặc nhiều cổ phần phụ thuộc vào khả năng của mình Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn góp vốn bằng cách góp trực tiếp và phải góp đầy đủ, đúng hạn số vốn m à họ đã cam kết góp vào công ty

Các cổ đông trong công ty cổ phần có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần trừ khi pháp luật có quy định khác Mức độ tự do chuyển nhượng cổ phần phụ thuộc vào tính chất của từng loại cổ phần Ngoài ra đặc điểm về cấu trúc vốn của công ty cổ phần còn thể hiện ở khả năng huy động vốn bằng phát hành

6 X em K hoản 8 - Đ iều 3 L u ật D oanh nghiệp

7 C ông ty cổ phần có thể bán (phát hành cổ phần mà k hông cần cổ phiếu T rư ờng hợp này các thông tin cần thiết dể xác định quy ền sở hữu cổ phần củ a cổ dông dược ghi trong sổ đáng ký cổ dông)

Trang 14

chứng khoán Do đó, sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với

sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khóan - đỉnh cao của thị trường vốn và là sản phẩm của nền kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao Trong công ty trách nhiệm hữu hạn việc chuyển nhượng vốn bị hạn chế Theo quy định của Luật Doanh nghiệp việc chuyển nhượng vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn được thực hiện trước hết giữa các thành viên trong nội bộ công ty Các thành viên chỉ được chuyển nhượng ra bên ngoài khi các thành viên công

ty không mua hoặc mua không hết và được chuyển nhượng theo một trình tự khá khắt khe

Thông thường số lượng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn không lớn và chủ yếu chỉ giới hạn ở những người quen biết hoặc có họ hàng với nhau Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn không muốn trao quyền quản lý và kiểm soát công ty cho người khác, cấu trúc quản lý công ty không mang tính chất chuyên nghiệp Đây là điểm khác với bộ máy quản lý của công

ty cổ phán Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, những vấn đề về quản lý nội bộ, quyển lợi và nghĩa vụ của các cổ đông trong công ty cổ phần dược giải quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (tức là căn cứ vào giá trị cổ phần mà các

cổ đông nắm giữ) Đặc điểm này cùng với khả năng chuyển nhượng cổ phần

dỗ dàng trên thị trường, làm cho công ty cổ phần có phạm vi, quy mô kinh doanh lớn, số lượng cổ đông đông đảo và có khả năng tập trung huy động vốn lớn để phát triển sản xuất kinh doanh

T h ứ hai, về chế độ trách nhiệm tài sản là công ty đối vốn, công ty cổ phần

phải tự chịu trách nhiệm một cách độc lập về các nghĩa vụ tài sản bằng toàn

bộ tài sản của công ty c ổ đông không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty ngoài phạm vi giá trị cổ phần mà cổ đông nắm giữ

T hứ ba, về thành viên (cổ đông): cổ đông của công ty cổ phần thường rất lớn

về số lượng và không quen biết nhau Luật Doanh nghiệp chỉ hạn định số lượng tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa của các cổ đông của công ty

Trang 15

cổ phần, theo đó công ty cổ phần phải có ít nhất 3 cổ đông trong suốt quá trình hoạt động Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn đều là loại hình công ty đối vốn, song công ty trách nhiệm hữu hạn vẫn mang nhiều nét của công ty đối nhân Vì vậy, thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn thường có mối quan hệ tin cậy lẫn nhau lớn, số lượng thành viên cũng bị hạn chế hơn ở V iệt nam , theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999, số lượng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn không vượt quá 50 thành viên Như vậy, rõ ràng xét ở tiêu chí này thì quy mô công ty cổ phần lớn hơn nhiều

so với công ty trách nhiệm hữu hạn

Thứ tư, công ty cổ phần là một pháp nhân kinh tế Theo Luật Doanh nghiệp,

công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần là một pháp nhân kinh tế hoạt động độc lập có tính tổ chức chặt chẽ, cấu trúc vốn hoàn thiện, hoạt động mang tính xã hội hóa cao Tài sản của công ty cổ phần được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhung chủ yếu được hình thành từ nguồn vốn do các cổ đông góp và tách bạch rõ ràng với tài sản của các cổ đông, c ổ đông có quyền sở hữu một phần trong công ty tương ứng với giá trị cổ phần mà mình nắm giữ, nhung không có quyền sở hữu tài sản cuả công ty Việc thay đổi số lượng cổ đông không ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty cổ phần Chính vì vậy, người ta cho rằng một trong những đặc điểm cuả công ty cổ phần là tính tồn tại bền vững của nó Công ty cổ phần là chủ thể tạo được sự ổn định cao cho các nhà đầu tư khi muốn tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Với tư cách là m ột chủ thể pháp luật, công ty cổ phần có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một chủ thể pháp luật khi tham gia hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, công ty nhân danh chính mình thông qua người đại diện theo pháp luật, đồng thời phải chịu trách nhiệm vô hạn trước các nghĩa vụ phát sinh đến hết giá trị tài sản của công ty Với tư cách là một thực thể kinh tế dựa trên chế độ đa sở hữu, công ty

cổ phần có khả năng huy động nhiều nhà đầu tư tham gia góp vốn thành lập và

Trang 16

có khá năng tập trung được nguồn vốn lớn để thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Theo Điều L225-1 của Bộ Luật Thương mại Cộng hòa Pháp, công ty cổ phần

là công ty được các thành viên sáng lập, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau Có hai hình thức thành lập công ty cổ phần Thứ nhất là công

ty kêu gọi vốn đầu tư công khai (gọi là công ty mở) Thứ hai là công ty không kêu gọi vốn đầu tư công khai (công ty đóng) Số vốn tối thiểu để thành lập đối với công ty đóng thì vốn pháp định tối thiểu là 37.000 euros Tuy nhiên tùy theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh đã được luật quy định mà số vốn pháp định này có thể thay đổi Vốn được góp bằng tiền mặt hoặc hiện vật Theo Điều L225-3, Khoản 2 Luật Thương mại Pháp quy định để thành lập công ty thì sự góp vốn bằng tiền mặt phải đảm bảo đạt được tối thiểu ít nhất là 1/2 số vốn góp ban đầu, số chênh lệch còn lại phải được đảm bảo tiếp trong 5 năm tiếp theo Tiếp theo, Điều L225-8, khoản 1 Luật Thương mại Pháp tất cả vốn đầu tư bằng hiện vật phải được định giá thông qua một người được Tòa án thương mại chỉ định và ủy quyền theo yêu cầu của một hay nhiều sáng lập viên Người được ủy quyền này có trách nhiệm phải xây dựng một bản báo cáo xác thực về giá trị tài sản góp vốn bằng hiện vật Bản báo cáo này sẽ được các cổ đông trong tương lai lưu giữ tại trụ sở công ty Các cổ đông sẽ thỏa thuận ký vào bản điều lệ chứng thực giá trị số vốn bằng hiện vật này Khác với việc góp vốn bằng tiền mặt, sự góp vốn bằng hiện vật được giải quyết hoàn toàn ngay sau khi góp vốn Giá trị ghi danh của công ty cổ phần được xác định một cách tự do, không bắt buộc phải ghi vào bản điều lệ thành lập công ty cổ phần

Quyền lợi và trách nhiệm của các sáng lập viên khi tham gia góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt nam thể hiện ngay khi công ty cổ phần được cấp giấy phép hoạt động Vốn cuả các sáng lập viên đựợc xác lập trên cơ sở bản danh sách cổ đông góp vốn và bằng chính cam kết của họ đối với công ty thông qua bản diều lệ công ty Việc góp vốn này có thể bằng tiền hoặc tài sản

Trang 17

Pháp luật Cộng hòa Pháp quy định rõ ràng và nhất quán hơn trong trường hợp những người góp vốn bằng tiền mặt buộc phải ký vào m ột biên bản giao nhận, đồng thời họ cần phải chuyển lập tức một nửa số tiền ứng với cổ phần mà họ đăng ký M uộn nhất là sau 8 ngày, danh sách cổ đông và vốn tương ứng sẽ được nộp cho nhà băng, chính cơ quan này sẽ xác nhận bản đăng ký bằng một giấy chứng nhận Giấy chứng nhận này được lập dựa trên biên bản giao nhận (Luật thương mại Pháp Điều L225-6) Một nửa số vốn còn lại sẽ được đóng gổp đầy đủ trong kỳ hạn 5 năm tính từ khi công ty đăng ký hoạt động kinh doanh.

1.2 Công ty cổ phần - một loại hình doanh nghiệp quan trọng trong nền kinh tê thị trường

1.2.1 Điều kiện cho sụ ra đời và phát triển của công ty cổ phần

Với những đặc điểm về công ty cổ phần như đã trình bày, công ty cổ phần chỉ

có thể phát triển m ạnh và trở thành xu hướng chủ đạo của hoạt động kinh doanh khi nền kinh tế thị trường phát triển và đảm bảo nhũng điều kiện cần thiết cho công ty cổ phần có thể phát huy những th ế m ạnh của mình Những điều kiện cần thiết đó là:

1.2.1.1 V ề điều kiên kinh tế- x ã hôi:

Thứ nhất, trong nền kinh tế hoạt động kinh doanh đã phát triển đến một trình

độ nhất định và đạt được mức độ xã hội hóa cao M uốn vậy, tự do kinh doanh phải được xem như nguyên tắc cốt lõi của cơ chế thị trường, quyền tự do kinh doanh phải được đảm bảo cả về mặt pháp lý và thực tế

Thứ h a i, trong nền kinh tế tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau đối với tài

sản Các hình thức sở hữu được đảm bảo tự do phát triển và bình đẳng Có thể nói sự phái triển của các hình thức sở hữu là tiền đề quan trọng để xã hội hóa hoạt động kinh doanh, và trên cơ sở đó những công ty có cấu trúc vốn linh hoạt như công ty cổ phần có thể phát triển

Trang 18

T hứ ba, trong nền kinh tế, nơi mà có thị trường tài chính phát triển, trong đó

bộ phận quan trọng là thị trường chứng khoán Thị trường tài chính là nơi diễn

ra các hoạt động m ua bán và chuyển nhượng vốn (cung và cầu về vốn gặp nhau) Thông qua thị trường tài chính, các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội được huy động vào đầu tư, tạo động lực cho phát triển kinh tế Cấu trúc của thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn trong đó có sự phát triển của thị trường vốn có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của công

ty cổ phần Thị trường vốn là thị trường có chức năng cung cấp tài chính (vốn) cho các khoản đầu tư dài hạn và được chia thành thị trường vay nợ dài hạn và thị trường chứng khoán Trong mối quan hệ giữa công ty cổ phần và thị trường vốn thì sự tác động qua lại giữa công ty cổ phần và thị trường chứng khoán có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng Công ty cổ phần là m ột trong những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự ra đời, phát triển của thị trường chứng khoán, là chủ thể sản xuất hàng hóa (cổ phiếu, trái phiếu) cho thị trường chứng khoán, đồng thời có thể tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là người kinh doanh, lưu chuyển chứng khoán (các công ty chúng khoán) Thị trường chứng khoán có tác động tích cực trở lại đối với sự phát triển của công ty cổ phần Thị trường chứng khoán là chiếc cầu nối giữa nhà đầu tư và công ty cổ phần, nó cung cấp môi trường đầu tư thuận lợi và hiệu quả cho cồng chúng M ặt khác cũng nhờ thị trường chứng khoán mà việc dịch chuyển vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu nội tại của nền kinh tế được thực hiện m ột cách dễ dàng Thực tiễn các nước trên thế giới cho thấy không thể có sự phát triển m ạnh của các công ty cổ phần nếu không có thị trường chứng khoán phát triển

Trang 19

đầy đủ, phù hợp Lý luận và thực tiễn đều cho thấy, để các công ty cổ phần có thể phát triển thì trước hết cần phải có những quy định phù hợp về tổ chức, hoạt động của công ty, và mặt khác không thể thiếu sự hỗ trợ của các quy định

về kế toán, thống kê, về kiểm toán, các quy định về chứng k h o án Tuy nhiên, cần lun ý rằng toàn bộ hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung, trực tiếp hoặc gián tiếp đều tác động đến sự phát triển của công ty cổ phần Vì vậy, điều kiện pháp lý để công ty cổ phần phát triển chỉ được đảm bảo thực sự khi

có hệ thống pháp luật về kinh tế hoàn thiện và đáp ứng được những yêu cầu của nền kinh tế đặt ra

1.2.2 Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam:

Cơ chế thị trường luôn hàm chứa những điều kiện tạo nên sự phong phú, đa dạng của các mô hình tổ chức kinh doanh Gắn với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường, các mô hình tổ chức kinh doanh có lịch sử hình thành, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Cho đến nay, lý luận cũng như thực tiễn đều khẳng định rằng công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp phù hợp nhất với cơ chế thị trường Mặc dù kinh tế thị trường đã sản sinh ra công

ty cổ phần và quy định sự tồn tại, phát triển của nó, nhưng m ặt khác công ty

cổ phẩn ra đời đã thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển với tốc độ nhanh hơn, hiệu quả và toàn diện hơn Hoạt động của các công ty cổ phần có tác động tích cực tới quá trình xã hội hóa tư bản (vốn), huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư, từ đó đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển C.M ác đã đánh giá vai trò của công ty cổ phần:

“N ếu p h ả i chờ đợi tư bản tư nhân tích tụ cho đến lúc nó đủ sức làm các con đường sắt thì có lẽ cho đến ngày nay Châu Ầu vẫn chưa cố đường sắt, nhưng nhờ việc thực thành lập các công ty cô p hần nền việc ấy đ ã được làm d ễ dàng

Trang 20

như trở bản tay vậy” 8 Thật vậy, với ưu thế về cấu trúc vốn và tính chất thành

viên, công ty cổ phần có khả năng thực hiện dễ dàng và nhanh chóng việc tập trung vốn của toàn xã hội, nhờ đó việc mở rộng quy mô kinh doanh không còn

bị lệ thuộc vào sự tích tụ của đơn lẻ các nhà kinh doanh thường phải trải qua một quá trình lâu dài ở phương diện khác, như đã trình bày, vai trò của công

ty cổ phần đối với nền kinh tế còn được thể hiện ở chỗ nó là động lực cơ bản thúc đẩy sự ra đời phát triển của thị trường vốn, giai đoạn đỉnh cao của nền kinh tế thị trường

Đối với Việt Nam, trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế k ế hoạch hoá tập trung sang cơ c h ế thị trường, nền kinh tế đòi hỏi phải được tạo lập những tiền

đề kinh tế xã hội cần thiết cho quá tình chuyển đổi Công ty cổ phần với tư cách là một loại hình doanh nghiệp, đựơc xem như nhân tố quan trọng góp phần đẩy nhanh xã hội hóa sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đưa nền kinh tế từ kinh tế hàng hóa (vận hành theo cơ chế thị trường) sang nền kinh tế thị trường thực sự Vai trò của công ty cổ phần thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau:

T hứ nhất, trong điều kiện tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở

hữu (trên cơ sở nguyên tắc tự do kinh doanh), công ty cổ phần là mô hình kinh

tế hiệu quả nhất để hòa nhập và phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó, hoạt động kinh doanh có khả năng sinh lợi cao, góp phần thực hiện mục tiêu “tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền v ữ n g .”y

T h ứ hai, công ty cổ phần có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chủ trương

s Tư bản, tập 1, phần i, trang 156.

' ' Báo cáo chính 11 ị củ a Ban cấp hành T W Đ ảng CSVN K hóa V II tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đ ẳng CSVN lần thứ Viii p hần m ục tiêu đến 2020.

Trang 21

“tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực

ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế” l0 Với khả năng thu hút vốn đầu tư từ rộng rãi các tầng lớp, các đối tượng trong xã hội bằng nhiều hình thức huy động vốn khác nhau, công ty cổ phần có thể tận dụng tối đa vốn nhàn rỗi trong dân chúng, từ đó đẩy nhanh quá trình xã hội hóa hoạt động kinh doanh, dần tạo nên bộ mặt sinh động của nền kinh tế thị trường

T hứ ba, để tiến tới kinh tế thị trường phát triển, một trong những vấn đề quan

trọng phải giải quyết là vấn đề xây dựng thị trường vốn Thị trường vốn “là yếu tố cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường hiện đại, là cơ sở hạ tầng của xã hội, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội”

Để xây dựng thị trường vốn và đặc biệt là thị trường chứng khoán phải có một quá trình với những cách thức và bước đi thích hợp, trong đó trước hết là tạo lập tiền đề để thiết lập và đảm bảo sự hoạt động của thị trường Đảng ta khẳng định phải “phát triển thị trường vốn bằng nhiều cách mở rộng việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu và xúc tiến chuẩn bị về thể chế, cán bộ và các điều kiện cần thiết cho việc thiết lập thị trường chứng khoán và bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của thị trường này” Trong hoàn cảnh như vậy, công ty cổ phần có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện ở những điểm sau:

Công ty cổ phẩn là “chủ thể sản xuất hàng hoá” cho thị trường chứng khóan Việc phát hành chứng khoán của công ty cổ phần là cơ sở quan trọng góp phần hình thành thị trường chứng khoán sơ cấp Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay công ty cổ phần là chủ thể có quyền phát hành chứng khoán rộng rãi nhất bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu Trên thực tế, công ty cổ phần đang giữ

1(1 N ghị q u y ết H ội nghị lần thứ V Ban chấp h ành T W Đ ảng k hóa VIII.

11 Cơ c h ế thị trường và vai trò củ a N hà nước trong q u ản lý nền kinh tế ở nước ta hiện nay - tài liệu đ ã dẫn trang 120.

Trang 22

vai trò chủ yếu trong việc cung cấp chứng khoán cho thị trường chứng khoán ở Việt nam '2 Tuy nhiên để đáp ứng được nhu cầu về cung chứng khoán ở Việt nam hiện nay thì vấn đề cần quan tâm là số lượng và quy mô các công ty cổ phần Để giải quyết vấn đề này cần đẩy mạnh sự phát triển các công ty cổ phần bằng các chính sách và biện pháp phù hợp (trong đó bao gồm cả chương trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước).

Theo pháp luật Cộng hòa Pháp, cụ thể tại Điều L842 Luật Dân sự Pháp, chứng khoán (titre de valeur) là phương thức tài chính chủ yếu của các công ty lớn Đó là những pháp nhân có thể chuyển nhượng được từ một công ty nhà nước hay tư nhân đem lại cho người sở hữu những quyền lợi giống nhau khi cùng một đợt phát hành Những pháp nhân này được định giá tại thị trường chứng khoán Chỉ nhũng công ty được pháp luật cho phép mới có thể lưu hành những giá trị như vậy Điều L288-1 Luật Thương mại Pháp nhấn mạnh lại điều này một lần nữa chỉ có những công ty cổ phần mới có quyền này

Ngoài ra, công ty cổ phần có thể hoạt động với chức năng là các công ty chứng khóan - tế bào quan trọng của thị trường chứng khoán Theo pháp luật hiện hành của Việt nam và pháp luật Cộng hòa Pháp, chỉ có công ty cổ phần

và công ty trách nhiệm hữu hạn, khi có đủ điều kiện theo quy định thì mới có thể trở thành công ty chứng khoán và là thành viên của Sở giao dịch chứng khóan Công ty chứng khoán có chức năng thực hiện một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh chứng khoán và là chiếc cầu nối giữa nhà đầu tư với thị Irường chứng khoán thứ cấp Lý luận cũng như thực tiễn đều khẳng định công

ty chứng khoán là nhân tố không thể thiếu cho hoạt động của thị trường chứng khoán thứ cấp

I: H iện nay n hữ ng chứ ng khóan do doanh nghiệp phát hnàh niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung ở Việt nam đều là cù a các công ly cổ phần.

Trang 23

1.3 Pháp luật về công ty cổ phần

1.3.1 Sụ ra đời và phát triển của pháp luật vê công ty cổ phần

Điều kiện lịch sử đã tạo nên sự ra đời muộn và chậm phát triển của luật pháp

về công ty ở V iệt Nam Chế định thương mại, trong đó có pháp luật về công ty nói chung và về công ty cổ phần nói riêng chỉ thực sự hiện hữu ở Việt Nam kể

từ thời Pháp thuộc Với chính sách chia để trị, pháp luật thương mại Pháp được áp dụng trên các vùng lãnh thổ khác nhau của V iệt Nam với sự phân định về phạm vi và đối tượng áp dụng rất phức tạ p 13 Và đương nhiên, các quy định về công ty cổ phần (công ty vô danh) trong Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp đã từng có hiệu lực trên lãnh thổ V iệt nam Năm 1942, triều đình

H uế Ban hành Bộ luật Thương mại trong đó có quy định về công ty cổ phần (gọi là công ty vô danh) từ Điều 102 đến Điều 104 (các quy định chung) và từ điều 159 đến điều 171 (các quy định riêng) Được coi là Bộ luật thương mại đầu tiên trong lịch sử các Nhà nước ở Việt Nam, nhưng Bộ luật thương mại Trung phần năm 1942 chịu ảnh hưởng nội dung sâu sắc của pháp luật Pháp, thậm chí nhiều điều khoản mang tính sao chép Các quy định về công ty vô danh trong Bộ luật này, về cơ bản, được mô phỏng theo Bộ luật thương mại của Pháp

Sau khi giành được chính quyền năm 1945, chủ trương của Đảng cộng sản Việt nam là “kháng chiến, kiến quốc”, nhiệm vụ của nhà nước ta là “Bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ” Trong điều kiện lịch sử, chính trị hết sức khó khăn, pháp luật thời kỳ này cơ bản mang tính chất củng cố chính quyền Các quy định về kinh doanh thương mại ít được quan tâm và chưa có các quy định về công ty cũng như công ty cổ phần

13 X cm L ê Tài T riển - L u ật T hư ơng m ại V iệt N am dẫn giải - K im lại ấn Q uán 1972.

BẠCH THỊ LỆ THOA - LUẬN VÀN TỐT NGHIỆP CAO HỌC

Trang 24

Trong kháng chiến giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) đất nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam-Bắc Ở miền Nam, đ ế quốc Mỹ và chính quyền tay sai tiếp tục duy trì Bộ luật thương mại Pháp để điều chỉnh các quan hệ thương mại Đến năm 1972, chính quyền Việt nam cộng hòa ban hành Bộ luật thương mại Theo Bộ luật này công ty cổ phần (gọi là hội nặc danh) được quy định từ điều 236 đến điều 278 (các quy định chung) và từ điều 295 đến điều

314 (các quy định riêng) Các vấn đề pháp lý hội nặc danh được quy định khá đầy đủ và chi tiết như: vấn đề thành lập hội, góp cổ phần và chuyển nhượng cổ phần, vấn đề tổ chức quản lý hội, quyền và nghĩa vụ của các hội viên Dưới giác độ khoa học, chế định hội nặc danh trong Bộ luật thương mại Sài Gòn năm 1972 ở mức độ nhất định đã đạt được những thành công cả về kỹ thuật luật pháp và nội dung pháp lý

Trong thời kỳ trước năm 1975 ở Miền Bắc và từ 1975 đến 1986 trên phạm vi

cả nước, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế vận hành theo

cơ chế kế hoạch hóa tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể Với sự chi phối của cơ chế k ế hoạch hoá tập trung, nền kinh

tế không chứa đựng những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của các công ty kinh doanh 14 Vì vậy, giai đoạn này không có pháp luật về công

Từ năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới sâu sắc và toàn diện đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trên cơ sở đó, nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã hình thành Dưới sự chi phối của cơ chế thị trường, nền kinh tế Việt Nam sau năm 1986 đã dần tạo lập những tiền đề kinh tế - xã hội cho sự

ra đời và phát triển của các loại hình công ty, trong đó có Công ty cổ phần Từ

14 Thời kỳ này trong nền k in h tế nước ta tuy có nhưng dơn vị kinh tế được gọi là công ty, nhưng thực chất là đơn vị kinh tế q uốc d o an h , k h ô n g phải là các công ty kinh doanh theo đ ú n g n g h ĩa bản chất của chúng.

Trang 25

thực tiễn như vậy, ngày 21/12/1990, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật Công ty 15, theo đó thuật ngữ Công ty c ổ phần cùng những vấn đề pháp lý về nó đầu tiên được luật h ó a 16 Chế định Công ty Cổ phần cùng với các quy định khác của Luật Công ty đã tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta là một mốc quan trọng có ý nghĩa quyết định trong quá trình đổi mới kinh tế Tuy nhiên, vì những lý do khách quan và chủ quan nhất định, qua hơn 8 năm áp dụng, Luật Công ty dần bộc lộ nhiều thiếu sót và không phù hợp Pháp luật về công ty cổ phần còn rất nhiều bất cập, thể hiện nhiều quy định không hợp lý, và thiếu vắng các qưy định liên quan đến các vấn đề như: Trách nhiệm của người quản

lý trong công ty, quyền và nghĩa vụ của cổ đông, vấn đề phát hành chứng khoán, vấn đề công khai hóa giao dịch tư lợi và lợi ích liên quan, điều kiện phân chia cổ tức, vấn đề chuyển đổi hình thức pháp lý và tổ chức lại công ty Trước tình hình đó cùng với yêu cầu tiếp tục đổi mới kinh tế, hoàn thiện môi trường kinh doanh để phát huy nội lực, từng bước hội nhập kinh tế khu vực và

th ế giới, ngày 12/6/1999 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua L uật Doanh nghiệp để thay th ế cho Luật Công ty Với Luật Doanh nghiệp chế định công ty c ổ phần đã được hoàn thiện một bước, toàn diện và đầy đủ hơn so với quy định trong L uật công ty Đ ịa vị pháp lý của công ty cổ phần được xác định, một mặt, dựa trên điều kiện cụ thể và yêu cầu nội địa hóa của nền kinh tế V iệt Nam, mặt khác có tính đến sự tương thích với các nguyên tắc và chuẩn mực cơ bản của loại hình doanh nghiệp này ở các nước trên th ế giới

15 Luật có h iệ u lực n g ày 15/04/1991

16 Trước khi ban h ành L u ật công ty, m ô h ình công ly cổ phần được ghi n h ậ n trong b ản quy định về chính sách

đ ố i với kinh tế cá thể, k in h tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công n ghiệp, xây dựng, vận tải ban hành kèm theo N ghị định số 27/H Đ B T ngày 09/03/1988 củ a HĐBT T uy nhiên, các quy định trong vãn bản này còn rất sơ sài, các vấn đ ề về bản chât và địa vị p háp lý củ a công ty cổ phần chư a được quy định rõ ràng, cụ

Trang 26

1.3.2 Vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh công ty cổ phần

Pháp luật luôn là một trong nhũng công cụ phản ánh thực tế khách quan một cách sâu sắc nhất Pháp luật về công ty ở Việt Nam thời gian mười năm qua cũng đã thể hiện vai trò này Nó luôn được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cùng với sự phát triển nhận thức của Nhà nước ta về công ty và thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh của các công ty ở Việt nam, xét về mặt hình thức văn bản thì các quy định pháp luật của thời phong kiến và tư sản có phần hoàn thiện hơn pháp luật về công ty của Nhà nước Việt nam Xã hội Chủ nghĩa (vì thời đại này đã có Bộ luật để ghi nhận các loại hình công ty) Tuy nhiên, đó chỉ là về mặt lập pháp, song trên thực tế, việc thực hiện các Bộ luật ấy, trong

đó có các quy định về công ly, hầu như không xảy ra Pháp luật về công ty của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa tuy ra đời chậm hơn so với lịch sử hình thành của chế độ xã hội chủ nghĩa (chỉ từ năm 1990), nhung ngày càng được hoàn thiện và thực thi có hiệu quả trong cuộc sống Có thể khẳng định rằng, thời điểm đánh dấu sự hoàn thiện ở mức độ cao về pháp luật về công ty cổ phần ở nước ta chính là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 Luật này quy định địa vị pháp lý của 5 loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần, công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty hợp danh và cuối cùng là doanh nghiệp tư nhân Như vậy, 4/5 loại hình doanh nghiệp này là cồng ty, và do đó, có thể nói rằng, Luật Doanh nghiệp thực chất là luật về công ty

Luật Doanh nghiệp đã đưa ra những quy định rất mới nhằm hoàn thiện căn bản địa vị pháp lý của công ty cổ phần Điều đó một mặt tạo ra sự thống nhất đồng bộ trong các quy định pháp luật về công ty, mặt khác, đã tạo điều kiện cho các thành viên, nhất là thành viên thiểu số có thể tự bảo vệ tốt hơn quyền

và lợi ích của mình thông qua việc được tham gia một cách thực sự vào quá trình quản lý công ty Luật Doanh nghiệp đã phát huy tác dụng thiết thực, trở thành một động lực vô cùng to lớn, kích thích sự phát triển của các loại hình

Trang 27

công ty nước ta và thông qua đó, kích thích sự phát triển của nền kinh tế nước nhà Có được khả năng này là vì Luật Doanh nghiệp không chỉ đã tiếp thu, ghi nhận nhũng ưu điểm thành công của người tiền thân của mình là Luật Công ty năm 1990, mà còn quy định thêm được rất nhiều cơ chế, chính sách mới tiến

bộ, phù hợp với trình độ phát triển mới của nền kinh tế nước nhà

Những điểm mới của Luật doanh nghiệp là:

T h ứ nhất, xóa bỏ cơ ch ế xin phép thành lập doanh nghiệp như một cản trở đối

với việc thực hiện quyền tự do kinh doanh đã tồn tại 10 năm ở nước ta từ năm

1990 đến khi có Luật Doanh nghiệp

T h ứ hai, tuy giữ lại việc đăng ký kinh doanh nhưng đã hoàn thiện một cách cơ

bản chế độ pháp lý này

T h ứ ba, tuy không trực tiếp xóa bỏ bất cứ một loại giấy phép kinh doanh cụ

thể nào nhưng Luật Doanh nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác xóa bỏ hàng trăm loại giấy phép không cần thiết đã lừng hạn chế một cách bất hợp lý quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư

T h ứ tu, Luật Doanh nghiệp không chỉ đưa ra các loại hình công ty mới như

công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mà còn hoàn thiện thêm rất nhiều địa vị pháp lý của các công ty đã từng tồn tại trước năm 2000 điển hình

là công ty cổ phần

Luật Công ty năm 1999 quy định những vấn đề chung nhất, còn nhiều vấn đề khác rất quan trọng, Nhà nước cần xử lý thì lại bỏ trống, để mặc cho các cổ đông (thường là cổ đông có vốn lớn) tùy ghi ấn định trong điều lệ công ty Hậu quả là, lợi ích của các cổ đông thiểu số không được bảo vệ một cách đúng mức Khi lợi ích không được bảo đảm thì người ta không muốn tham gia công

ly và khi đã ít người tham gia thành lập thì công ty cỏ phần sẽ khó có thể

Trang 28

thành lập được nhiều và dù có thành lập được thì cũng khó phát huy được hết sức mạnh của minh Có lẽ đó cũng là một trong những lý do khiến cho số lượng công ty cổ phần thành lập trong mười năm (từ 1990 đến trước khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999) là rất không đáng kể Theo Báo cáo ngày 25/3/2001 của Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp, số lượng công ty cổ phần mới thành lập đã gấp 2 lần số lượng công ty cổ phần được thành lập trong mười năm trước đó Báo cáo vào tháng 6 năm 2002 đánh giá sau hai năm thi hành Luật Doanh nghiệp đã có 15.000 chi nhánh, văn phòng đại diện và khoảng 80.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh; đưa tổng số hộ kinh doanh

cá thể trong cả nước lên khoảng hơn 2,5 triệu hộ

Cũng theo Báo cáo của Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp tháng 11 năm 2003, tỷ trọng đầu tư của dân cư và doanh nghiệp trong tổng đầu tư toàn xã hội tăng từ 20% lên 23% năm 2001 và 25,3% năm 2002, và năm 2003 ước khoảng gần 2,7% Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh năm 2002 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 38% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn tỷ trọng đầu

tư của Doanh nghiệp N hà nước và ngân sách nhà nước gộp lại (36,5%)

1.3.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật và công ty cổ phần

Cùng với sự ra đời của công ty cổ phần là pháp luật về công ty cổ phần Ở Việt nam, pháp luật về công ty cổ phần quy định những vấn đề chủ yếu nhất là các quy định liên quan đến việc thành lập; đăng ký kinh doanh; cơ cấu nội bộ bên trong của từng công ty; mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận bên trong đó; cách thức góp vốn; quyền và nghĩa vụ cơ bản của các thành viên tham gia công ty; chế độ trách nhiệm của họ cũng như của công ty; mối quan hệ với bôn ngoài và cuối cùng là các quy định về việc tổ chức lại, giải thể, phá sản công ty Bên cạnh đó, hoàn thiện một bước căn bản địa vị pháp lý của công ty

cổ phần quy việc quy định lại số lượng thành viên, cho phép công ty được phát hành nhiều loại cổ phiếu khác nhau, đưa ra những quy định rõ ràng về cơ cấu quản lý công ty; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan quản lý

Trang 29

công ty và nhất là cơ chế bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần Các quy định này thường được quy định một cách đổng bộ thống nhất trong một đạo luật chuyên biệt về công ty cổ phần như Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp hoặc các đạo luật về từng loại hình công ty một.

Trang 30

CHƯƠNG 2 X M Ộ T s ố QUY Đ ỊN II VỀ C Ô N G TY c ổ PHAN t h e o

PHÁP LUẬT V IỆ T NAM VÀ PHÁP LUẬT C Ộ N G H Ò A PHÁP

2.1 Cấu trúc vốn của công ty cổ phần

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về vốn và cấu trúc vốn của công ty cổ phần

Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có vốn Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhìn từ góc độ tài chính,

là quá trình phân phối nhằm tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh doanh Vì vậy, để thực hiện các hoạt động kinh doanh vốn là nhân tố cơ bản và không thể thiếu

Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh công ty cổ phần phải có vốn Vốn của công ty cổ phần là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu lố xác đinh vị thế, năng lưc cạnh tranh của cống ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp ỉý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp Không thể không nhận thấy rằng vốn của công ty là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công

ty trước các đối tác của nó chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và tư cách pháp

lý của công ty

Cấu trúc vốn của doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng có thể tiếp cận dưới góc độ pháp lý và góc độ kinh tế

2.1.1.1 Du ói góc độ kinh tế:

Dưới góc độ kinh tế, vốn được coi là “toàn bộ giá trị chiếm dụng mà doanh nghiệp dùng để mua tư liệu sản xuất, trả thù lao cho Rgười lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh” hay vốn là “tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất, kinh doanh, nói

Trang 31

chung trong hoạt động sinh lợi” Pháp luật của nhiều nước cũng có những định nghĩa riêng về vốn.

Theo Luật công ty của Pháp, Singapore, M alaysia vốn của công ty là khoản tiền có thể được đầu tư hoặc thực sự được đầu tư vào một công ty bằng việc bán cho các chủ đầu tư những cổ phần thể hiện lợi ích, quyền sở hữu của họ trong công ty Tóm lại, vốn dù định nghĩa ở góc độ nào cũng thể hiện cách hiểu nhất quán rằng vốn là toàn bộ những giá trị mà doanh nghiệp đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận

Về mặt cấu trúc vốn của công ty cổ phần là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Cấu trúc vốn của công ty cổ phần được pháp luật quy định là một trong những đặc điểm tạo nên bản chất pháp ]ý của nó Cấu trúc vốn phản ánh rõ vị thế, quy mô, uy tín của công ty cổ phần trên thị trường M ột cấu trúc vốn m ềm dẻo, linh hoạt sẽ đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của các nhà đầu tư, đáp ứng được các hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần

Qua nghiên cứu pháp luật về công ty cổ phần của các quốc gia tiêu biểu là Pháp và ở V iệt nam cho thấy thành phần cơ bản trong cấu trúc vốn hay những công cụ tài chính m à công ty cổ phần sử dụng bao gồm hai bộ phận chủ yếu

đó là: Vốn điều lệ và vốn vay

Cấu trúc vốn theo Luật công ty Singapore, bao gồm hai bộ phận cơ bản vốn

cổ phần và vốn vay Vốn cổ phần được phàn thành vốn điều lệ (authorized Capital), vốn phát hành (issued Capital) và vốn đã nộp (paid-up Capital) Vốn vay (hay gọi là tài chính nợ) bao gồm trái phiếu, trái khoán công ty và giấy nhận nợ

Dựa trên công dụng kinh tế và tính chất luân chuyển của tài sản, vốn của công

ty cổ phần dược chia thành ba bộ phận là vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính

Trang 32

* Vốn cố đ ịn h : Là biểu hiện bằng tiền (trị giá) của tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn.

* T ài sản cô định: Đây là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, giá trị của nó được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kì sản xuất Tài sản cố định bao gồm:

Tài sản cố định hữu hình : Là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như: nhà xưởng, m áy móc, thiết bị, phương tiện vận tải

Tài sản cố định vô hình: Đây là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kì kinh doanh như: chi phí thành lập, chi phí về đất sử dụng, chi phí mua bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thương mại, giá trị lợi thế thương mại

Các khoản đầu tư dài hạn: Bao gồm các loại chứng khoán dài hạn, vốn góp liên doanh dài hạn, cho vay vốn dài hạn, cho thuê tài sản cố định theo phương thức thuê tài chính, đầu tư kinh doanh bất động sản

* Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền (trị giá) của tài sản lưu động

* T ài sản lưu động: Là các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên liệu, bán

thành phẩm) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm Tài sản dự trữ trong sản xuất kinh doanh và vốn lưu động trong công ty cổ phần được chia thành: vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn, vốn trong thanh toán, vốn dự trữ trong sản xuất kinh doanh đảm bảo cho hoạt động của công ty cổ phần được tiến hành thường xuyên liên tục

Ở phương diện này, cơ cấu vốn của công ty cổ phần do công ty tự quyết định

Trang 33

phù hợp với tính chất ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh của công ty Pháp luật chỉ quy định ràng buộc một số vấn đề như: nguyên tắc trích khấu hao tài sản cố định, quản lý các chi phí sản xuất kinh doanh, quản lý doanh thu, nhằm đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty cổ phần đối với Nhà nước.

Căn cứ vào nguồn hình thành vốn, vốn của công ty cổ phần được chia thành:

> vốn chủ sở hữu (hay vốn điều lệ) và vốn tín dụng (hay vốn vay) Cấu trúc vốn của công ty cổ phần được xem xét từ phương diện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về kinh tế cũng như về pháp lý

* Vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần:

Vấn chủ sở hữu là chỉ số kinh tế phản ánh khả năng tài chính thực sự của công

ty cổ phần Vốn chủ sở hữu được hình thành từ nguồn đóng góp của các cổ đông (chủ sở hữu của công ty) Bộ phận chủ yếu trong vốn chủ sở hữu cuả công ty là vốn điều lệ

Cấu Irúc vốn điều lệ thể hiện những nét đặc Irưng nhất trong cấu trúc vốn nói chung của công ty cổ phần, đồng thời là yếu tố cơ bản quy định bản chất của loại hình công ty này Pháp luật hầu hết các nước đều cho phép công ty cổ phần được phát hành nhiều loại cổ phiếu, trong đó có hai loại chủ yếu nhất là

cổ phiếu thông thường (phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi Luật Công ty năm 1999 chí cho phép công ty phát hành một loại cổ phiếu, được thể hiện dưới hai hình thức: có ghi tên và không ghi lên

Đáp ứng đòi hỏi của thị trường mới, Luật Doanh nghiệp đã quy định cho công

ty cổ phần được phát hành thêm nhiều lọai cổ phiếu Điều 52 Luật Doanh nghiệp quy định “Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông” Bên cạnh cổ phần phổ thông có thể có cổ Dhần ưu đãi

Trang 34

Vốn điều lệ của công ty cổ phần, như đã nói ở trên, được hiểu là số vốn do tất

cả các cổ đông góp (bằng phương thức mua cổ phần) và được ghi vào điều lệ công ty Vốn diều lệ của công ty cổ phần bắt buộc phải chia thành những phần

có giá trị bằng nhau gọi là cổ phần Mệnh giá cổ phần (giá trị danh nghĩa của mỗi cổ phần) do công ty quyết định và có thể được phản ánh trong cổ phiếu Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần Pháp luật không hạn chế mỗi cổ đông được mua công ty bao gồm nhiều loại cổ phần có tính chất pháp

lý khác nhau Đó là:

+ Cổ phần phổ thông: là loại cổ phần bắt buộc phải có của công ty cổ phần

Cổ phần phổ thông tạo cho người nắm giữ nó các quyền lợi về kinh tế và

“quyền lực” trên cơ sở nguyên tắc đối vốn Tỷ lệ của giá trị vốn cổ phần phổ thông trên tổng giá trị cổ phần của công ty do điều lệ công ty quy định Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán của công ty trong tối thiểu 03 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

+ Cổ phần ưu đãi: Là loại cổ phần có những tính chất pháp lý khác biệt với cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần ưu đãi được hưởng một số quyền lợi cao hơn quyền lợi của người sở hữu cổ phần phổ thông, và phải gánh chịu những hạn chế khác Công ty cổ phần có thể phát hành các loại cổ phần ưu đãi sau:

- Cổ phần un đãi biểu quyết: là cổ phần có phiếu biểu quyết nhiều hơn so với

Trang 35

Ngoài ra, công ty có thể quyết định phát hành các loại cổ phần ưu đãi khác

Theo pháp luật Pháp, về nguyên tắc, vốn của công ty cổ phần được chia thành các cổ phần bằng nhau, từ đó tạo ra sự bình đẳng giữa các cổ đông Tuy nhiên nguyên tắc này không thường xuyên được áp dụng và hơn nữa trong một chừng mực nào đó, trong điều lệ thành lập công ty có thể bỏ qua nguyên tắc này bằng cách cho phát hành các loại cổ phiếu đặc biệt

Theo nguyên tắc này, các quyền gắn với việc sở hữu cổ phần là như nhau, mỗi

cổ phần cho phép cổ đông được hưởng lợi tức cổ phần và quyền tham gia bỏ phiếu Từ đó, nguyên tắc cơ bản của công ty cổ phần Pháp là quyền bình đẳng giữa các cổ đông, quy tắc này được áp dụng theo những cách khác nhau, Luật pháp Pháp quy định phải đảm bảo quyền này và các cổ đông trong công ty khổng được để xảy ra sự bất bình đẳng Nguyên tắc này làm cơ sở cho mọi hoạt động quản lý của Uỷ ban chứng khoán đối với các công ty cổ phần thực hiộn phát hành ra công chúng, u ỷ ban chứng khoán có thể kiểm tra đột xuất các hoạt động tài chính của công ty như việc lạm dụng sự ưu đãi đối với các

cổ đông sáng lập, từ chối ưu đãi của các cổ đông góp vốn Uỷ ban chứng khoán có nhiệm vụ đảm bảo quyền bình đẳng của các cổ đông (Luật Thương mại Pháp, Điều L225-235)

Pháp luật Cộng hòa Pháp quy định giống pháp luật Việt nam thể hiện ở cổ phần ưu đãi cho phép người nắm giữ được hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn

so với các cổ đông thường: cổ tức có thể tăng hoặc được ưu tiên chia cho một

số cổ đông Về nguyên tắc, cổ phần ưu đãi chỉ đem lại cho các cổ đông ưu đãi những quyền lợi giống như cổ đông thường, trừ trường hợp cổ phần ưu đãi từ

bỏ quyền tham gia bỏ phiếu, ở Pháp, cổ đông ưu đãi thường lập một hội đồng đặc biệt dể thảo luận những vấn đề liên quan đến chế độ cổ phần ưu đãi Như vậy, lính bình đẳng chỉ được đảm bảo giữa các cổ đông nắm giữ cùng loại cổ

Trang 36

phiếu Tính đặc biệt và nổi bật của pháp luật Cộng hòa Pháp là cho phép phát hành loại cổ phiếu ưu đãi quyền bỏ phiếu có giá trị bằng hai phiếu bầu nhằm mục đích kêu gọi cổ đông bảo vệ chống việc tranh chấp nấm quyển điều hành Loại cổ phẩn này phải chịu những điều kiện pháp lý chặt chẽ (Luật Thương mại Điều L225-123) Quyền bầu phiếu đòi hỏi phải được ghi trong điều lệ hoặc phải được sự tán thành của Đaị hội đổng cổ đông bất thường trong quá trình công ly hoạt động Những cổ phần này đều đã đóng đủ vốn và quyền có hai phiếu bầu chỉ được cấp cho những cổ phiếu ghi danh mà cổ đông đã nắm giữ ít nhất 2 năm (không chuyển hượng hoặc mua bán) Ngoài ra quy định này đặc biệt được áp dụng trong trường hợp hợp nhất công ty Quyền bỏ phiếu này

sẽ tự mất đi khi cổ phiếu chuyển thành vô danh hoặc cổ phần ưu đãi (Luật Thương mại Điều L225-124, khoản 1)

Theo pháp luật Việt nam, cổ phần của công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập Đối với cổ phần un đãi biểu quyết, do tính chất ảnh hưởng lớn đến quyền quản lý công ty nên pháp luật quy định không được chuyển nhượng Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập thì bị hạn chế chuyển nhượng trong 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, theo đó việc chuyển nhượng phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Quy định này nhằm đảm bảo ràng buộc quyền lợi và nâng cao tinh thần trách nhiệm của cổ đông sáng lập đối với công ty, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông khác cũng như quyền lợi chung của công ty

Có thể thấv, theo pháp luật Việt nam hay pháp luật Pháp, với cơ cấu vốn điều

lệ có thể bao gồm nhiều loại cổ phần với những tính chất pháp lý đa dạng, công ty cổ phần có thể thiết lập cơ chế góp vốn linh hoạt, đáp ứng được những nguyện vọng, yêu cầu khác nhau của các nhà đầu tư Nhà đầu tư có thể lựa chọn cách thức góp vốn phù hợp với điều kiện cụ thể và nhu cầu lợi ích của mình Mặt khác, tính tự do chuyển nhượng của các cổ phần đã quy định cấu trúc “vốn m ở” của công ty cổ phần Với cấu trúc này, vốn của công ty có thể

Trang 37

dễ dàng xã hội hóa, cơ cấu cổ đông có thể thay đổi uyển chuyển, linh hoạt mà không ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty Đây chính là cơ sở quan trọng cho việc hình thành thị trường vốn mà đỉnh cao là thị trường chứng khoán.

* Vốn tín dụng:

Vốn tín dụng là các khoản vốn mà công ty cổ phần đi vay bằng các hình thức khác nhau như: vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân khác, vay thông qua kênh phát hành trái phiếu và thông qua kênh thuê mua tài chính Thực tế, công ty cổ phần không thể tiến hành hoạt động kinh doanh nếu chỉ dựa vào vốn điều ]ệ mà không có sự huy động vốn từ bên ngoài So với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần có lợi thế hơn nhiều trong việc huy động vốn nhờ cấu trúc vốn linh hoạt mềm dẻo, trong đó có một bộ phận quan trọng ỉà vốn vay

Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề vốn vay có phải là vốn của công ty hay không? Có quan điểm cho rằng vốn va}' không thuộc sở hữu của công ty cổ phần và đặc biệt là vay thông qua hình thức thuê tài chính Quan điểm khác cho rằng vốn vay thuộc sở hữu của công ty cổ phần, trừ vay thông qua hình thức thuê tài chính Theo chúng tôi, dưới phương diện tài chính, vốn vay được coi là khoản nợ của công ty và được hạch íoán vaò tài sản

nợ, vì vậy, vốn vay không phản ánh khả năng tài chính thực sự của công ty cổ phần Tuy nhiên, về mặt pháp lý theo quy định của pháp luật Việt nam và Phán luật Cộng hòa Pháp thì quan hệ vay vốn có bản chất của quan hệ vay tài sản Trong quan hệ vay tài sản thì “ bên vay trở thành chủ sở hữu của tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” Như vậy, vốn vay thuộc quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của công ty nên nó là vốn của công ty, và đương nhiên

nó cũng là cơ sở vật chất cho hoạt động của công ty

Về lý thuyết, trong các nguồn vốn vay của công ty cổ phẩn, nguồn vốn vay bằng phát hành trái phiếu có vị trí quan trọng và thể hiện rõ ưu thế của công ty

Trang 38

cổ phần so với nhiều loại hình doanh nghiệp khác (tuy nhiên trên thực tế hiện nay các công ty nói chung thường sử dụng hình thức vay ngân hàng là chủ yếu) Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, công ty cổ phần có thể tạo lập cơ cấu vốn vay linh hoạt, với các khoản vay có tính chất pháp lý khác nhau bằng việc phát hành các loại trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác (xem Khoản 1, điều 62, Luật Doanh nghiệp) Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho công cổ phần trong việc vay vốn từ công chúng “Trái phiếu là một loại chứng khóan được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu” Bản chất của trái phiếu là chứng chỉ ghi

nợ Khác với các hình thức vay của các tổ chức tín dụng, của các cá nhân tổ chức khác, phát hành trái phiếu là hình thức vay thông qua việc phát hành chứng khóan Trong các nguồn vốn vay của công ty cổ phần nguồn vốn vay từ việc phát hành trái phiếu có vị trí quan trọng, thể hiện rõ ưu thế của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác trong việc huy động vốn

Việc xác định rõ các nguôn vốn trong công ty cổ phần có ý nghĩa rất quan trọng về mặt pháp lý Nó xác định rõ ràng sở hữu của công ty cổ phần, đồng thời về mặt kinh tế nhằm xác định phạm vi quy mô, lợi thế, khả năng tài chính thực sự của công ty cổ phần

* M ối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn Viiy:

Trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần, mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay có ý nghĩa rất quan trọng Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên vốn vay được coi là chỉ số về “ khả năng cân đối vốn” , là cơ sở quan trọng để phân tích tài chính của công ty v ề lý thuyết, các chủ nợ căn cứ vào số vốn chủ sở hữu của công ty để đánh giá sự an toàn cho các khoản nợ Nếu số vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong kinh doanh chủ yếu do các chủ nợ gánh chịu Việc tăng vốn thông qua vay nợ (tăng sử dụng vốn vay) vãn đảm bảo cho các cổ đông duy trì quyền kiểm soát công ty, trong khi đó nếu

TIIỊ LỆ - LUẬN TỐT NGHIỆP CAO n ọ c

Trang 39

công ly thu lợi nhuận từ vốn vay lớn hơn tiền lãi phải trả cho vốn vay thì lợi nhuận của các cổ đông sẽ gia tăng Như vậy, các chủ nợ sẽ luôn mong muốn một tỷ lệ nợ vừa phải để đảm bảo an toàn cho các khoản nợ, còn các cổ đông thì ưa thích tỷ lệ nợ cao vì muốn gia tăng lợi nhuận Tuy nhiên, nếu tỷ lệ nợ quá cao, công ty sẽ dễ bị lâm vào tình trạng khả năng thanh toán, v ề mặt pháp

lý, pháp luật hiện hành không khống chế tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay trong công ty cổ phần Điều này, đòi hỏi về phía công ty cần phải thận trọng khi quyết định việc huy động vốn từ các nguồn khác nhau Mặt khác các nhà đầu tư khi đầu tư vào công ty cần nắm được những thông tin về thực trạng tài chính của công ty để hạn chế rủi ro v ề cơ bản, cơ cấu vốn chủ sở hữu và vốn vay cũng như tỷ lệ giữa hai loại vốn này do công ty quyết định Tuy nhiên luật doanh nghiệp có đưa ra những quy định ràng buộc các hoạt động tài chính có ihể dãn đến thay đổi cơ cấu vốn của công ty cổ phần, nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư vào công ty, đặc biệt là các chủ nợ Những quy định ràng buộc quan trọng phải kể đến là:

T h ứ nhất, nếu công ty cổ phần có phát hành cổ phần ưu dãi thì cổ phần ưu đãi

có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông, nhưng cổ phần phổ thông không được chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi v ề vấn đề này có ý kiến cho rằng nên

có quy định khống chế mức tối đa tỷ lệ cổ phần phổ thông trên tổng số vốn cổ phần của công ty Có nghĩa là chỉ cho phép công ty phát hành tối đa một lượng cổ phần ưu đãi nhất định

T h ứ hai, khi công ty chào bán cổ phần mới để huy động vốn, các cổ đông

được ưu tiên mua cổ phần tương ứng với tỷ lệ cổ phần của mình trong công ty Qui định này có ý nghĩa đảm bảo quyền duy trì vị thế của cổ đông trong công

ty khi công ty thay đổi cơ cấu vốn

T h ứ ba, khi công ty mua lại cổ phần của các cổ đông (theo yêu cầu của cổ

đông hoặc theo quyết định của công ty), việc thanh toán các cổ phần được

Trang 40

mua lại phái đảm bảo điều kiện: ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần này công ty vẫn thanh toán đẩy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

T h ứ tư, việc trả cổ tức cho các cổ đông của công ty chỉ được tiến hành khi

công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác, và ngay khi trả hết cổ tức, công ty vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả

đã được hợp pháp hóa khiến cho các đối tác nhầm lẫn Mặt khác, việc qui định vốn pháp định với các thủ tục phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư Nếu đặt ra mức vốn pháp định cao thì cản trở đầu tư, ảnh hưởng đến việc thành lập công ty Có những nhà đầu tư có khả năng quản lý, có bí quyết kinh doanh nhưng do mức vốn thấp hơn vốn pháp định nên đã không thành lập được công

ty để thực hiện ý tưởng đầu tư kinh doanh của mình Hơn nữa, vốn pháp định không phản ánh giá trị thực của công ty cổ phần, khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ không phụ thuộc vào vốn pháp định mà phụ thuộc vào năng lực tài chính thực sự cuả công ty

Luật Doanh nghiệp 1999 về cơ bản đã bỏ vốn pháp định đối với hầu hết các ngành nghề kinh doanh Đây là bước đột phá trong thủ tục thành lập và đăng

Ngày đăng: 16/08/2020, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w