Thực tế cho thấy những thay đổi các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài đặc biệt là việc thay đổi một số chính sách ưu đãi về thuê vừa qua đã khiến không ít các nhà đầu tư nản lòn
Trang 2KHOA LUẬT
LƯƠNG TH Ị K IM DƯNG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỂ
KHUYẾN KHÍCH ĐẦU T ư NƯỚC NGOÀI KHI VIỆT NAM GIA NHẬP T ổ CHỨC
THƯƠNG MẠI THÊ GIỚI
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ VÀ s o SÁNH
MÃ SỐ: 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC• • • •
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC l.T S BÙI NGỌC CƯỜNG 2.PR O F.C H R IST IN A M OELL
_ T H Ư V I Ệ N
TRƯỜNG ĐA, HỌC LỦÂĨ HÀ NỘI PHỎNG DỌC 4 , /
HÀ NỘI-2004
Trang 3- / ^ » 6
-Trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp, em được sự hướng dẫn, chỉ bảo
tận tình của Thầy giáo B ù i N gọc Cường-Tiến s ĩ L uật học-Chủ nhiệm khoa
Pháp L u ật Kinh tê Trường Đ ại học L uật H à nội Với tấm lòng biết ơn sâu sắc,
em xin gửi tới thầy lời cảm ơn chân thành nhất
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo, đặc biệt là cô
Chrístìna M oell-giảng viên Luật Kinh t ế của Khoa Luật-Trường Đ ại học Tổng
hợp Lund Thuy Đ iển đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức quý báu, bổ ích.
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã không ngừng động viên, khích lệ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
H à N ội, ngày 05 tháng 10 năm 2004
Ngưòi viết
Lương Thị Kim Dung
Trang 4PHẨN MỞ ĐẦU TRANG I
CHƯƠNG I NHỮNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU T ư
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 5
1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài £
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài £
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài 2
1.2 Khuyên khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Khái niệm khuyên khích đầu tư trưc tiếp nước ngoài
1.2.2 Nội dung của khuyến khích đầu tư trưc tiếp nước ngoài n 1.2.3 ý nghĩa của khuyến khích đầu tư nước ngoài 1 2 1.2.4.Khuyến khích đầu tư nước ngoài trong các hiệp định song 16 phương và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia 17
1.3 Khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ W TO 24
CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA WTO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỂ KHUYÊN KHÍCH ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 29
2.1 Những quy định hiện hành của WTO về khuyến khích đầu tư nước n g o à i 29
2.2 Những quy định của pháp luật Việt nam hiện hành về khuyên khích đầu tư nước n g o à i 3 1 2.2.1 Các biện pháp ưu đãi đầu tư 3 2 2.2.2 Các biện pháp hỗ trợ đầu t ư
2.2.3 Các biện pháp khuyến khích đầu tư khác 5 0 CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM h o à n t h i ệ n p h á p l u ậ t VỂ KHUYÊN KHÍCH ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 60
3.1 Sự tất yếu phải hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư nước ngoài khi việt nam gia nhập WTO , 0
3.2 Quan điểm cơ bản trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về khuyên khích đầu tư nước ngoài khi việt nam gia nhập W TO 64
3.3.Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư nước ngoài khi Việt Nam gia n h ậ p 69
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẨO 8 3
Trang 5
-1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Ngày nay, cùng với xu hướng tự do hoá thương mại là xu hướng tự do hoá đầu tư, theo đó các dòng vốn khổng chỉ dịch chuyển từ các nước phát triển đến nước đang phát triển mà ngay cả giữa các nước phát triển với nhau Thực tiễn cho thấy có rất nhiều quốc gia nhờ chính sách thu hút đầu tư nước ngoài mà đã gia nhập các nước có nền kinh tế phát triển Ý thức được vai trò ngày càng quan trọng đầu tư nước ngoài cho nên mỗi quốc gia đều có các chính sách riêng để cải thiện môi trường đầu tư Có rất nhiều yếu tố tạo nên một môi trường đầu tư thông thoáng hấp dẫn mà một trong những yếu tố quan trọng là hệ thống pháp luật trong đó có các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài Các nhà đầu
tư trong quá trình quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó đều luôn xem xét thái độ của quốc gia sở tại đối với nhà đầu tư, chính sách khuyến khích đầu tư như thế nào và họ được hưởng những ưu đãi gì Với ý nghĩa như một động lực thúc đẩy thu hút đầu tư cho nên hầu hết trong hệ thống pháp luật đầu tư của các nước đều có các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài Trong khuôn khổ của Tổ chức thương mại thế giới, các nước thành viên của W TO cũng thoả thuận thông qua hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (hiệp định TRIM s) như một giải pháp để khuyến khích đầu tư nước ngoài, thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình tự do hoá đầu tư và thương mại
Đối với Việt nam-một nước đang phát triển thì đầu tư trực tiếp nước ngoài lại càng đóng một vai trò quan trọng hơn trong công cuộc đổi mới đất nước Đầu
tư trực tiếp nước ngoài bổ sung nguồn vốn cho sự phát triển kinh tế, chiếm gần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% giá trị xuất khẩu, giải quyết việc làm cho khoảng 40 vạn lao động và hàng chục vạn lao động gián tiếp Ngoài ra đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, tranh thủ được kỹ thuật tiên tiến, khoa học quản lý mới, đào tạo nhân lực và nâng cao đời sống cho người lao động Đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một trong những nguồn lực chính để phát triển kinh tế đất nước, từng bước đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Xuất phát từ vai trò của FDI mà vấn đề khuyến khích đầu tư nước ngoài luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng Các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài trong pháp luật đầu tư đã góp phần làm gia tăng lượng FDI vào Việt Nam Tính đến nay Việt Nam đã thu hút được
Trang 6trên 41,538 tỷ USD vốn đầu tư từ 64 quốc gia và vùng lãnh thổ với trên 4.370 dự
án, trong số đó đã thực hiện trên 24,658 tỷ USD Tuy nhiên trong thời gian gần đây, lượng FDI vào Việt Nam bị giảm sút, nhiều dự án đầu tư bị rút giấy phép đầu tư trước thời hạn Thực tế cho thấy những thay đổi các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài đặc biệt là việc thay đổi một số chính sách ưu đãi về thuê vừa qua đã khiến không ít các nhà đầu tư nản lòng, m ất niềm tin vào pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó các nước trong khu vực lại luôn cải thiện môi trường đầu tư đặc biệt là các biện pháp khuyến khích đầu tư nước ngoài cho phù hợp để cạnh tranh thu hút FDI Trong bối cảnh đó đòi hỏi pháp luật Việt nam phải hoàn thiện hơn nữa các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài
Mặt khác, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu của thời đại và Việt Nam không thể nằm ngoài sân chơi chung đó Việt Nam đang trong giai đoạn đàm phán thực chất với WTO và cố gắng gia nhập tổ chức này trong thời gian sớm nhất Việc tham gia vào WTO sẽ cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực khuyến khích đầu tư nước ngoài nói riêng rất nhiều
cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi mà một trong những đòi hỏi
đó là phải hoàn thiện các quy định vể khuyến khích đầu tư nước ngoài cho tương thích với các quy định của WTO Vấn đề đặt ra là việc hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư nước ngoài phải vừa đảm bảo giải quyết hài hoà mối quan
hệ giữa khuyến khích đầu tư nước ngoài với bảo hộ sản xuất trong nước đồng thời lại phải phù hợp với những quy định mang tính quốc tế của Tổ chức thương mại thế giới Với cơ sở khoa học và thực tiễn như vậy cho nên tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư nước ngoài khi Việt Nam gia nhập W TO” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN cứu CỦA ĐỂ TÀI
*Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về khuyến khích đầu
tư nước ngoài trong đó có đề cập đến vấn đề khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ W TO và trong một số Hiệp định về đầu tư mà Việt nam đã ký kết, tham gia
- Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu hiệp định TRIMS về các biệp pháp đầu tư liên quan tới thương mại của WTO cũng như các quy định của pháp luật đầu tư Việt Nam hiện hành về khuyên khích đầu tư nước ngoài, từ đó phân
Trang 7tích, đánh giá những ưu điểm cũng như những tổn tại trong các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài của pháp luật đầu tư Việt nam.
- Trên cơ sở những phân tích, đánh giá đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp cụ thể nhàm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về khuyên khích đầu tư nước ngoài cho phù hợp với quy định của WTO khi Việt nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
3 PHẠM VI NGHIÊN c ứ u CỦA ĐỂ TÀI
3.1.Phạm vi nghiên cứu
Với các mục đích và nhiệm vụ trên đầy, đề tài chủ yếu đề cập vào vấn đề
lý luận của khuyên khích đầu tư trực tiếp nước ngoài và việc hoàn thiện chế định này khi Việt nam gia nhập WTO Do đó đề tài không nghiên cứu vấn đề khuyên khích đầu tư gián tiếp, cũng như các khía cạnh khác của đầu tư trực tiếp nước ngoài như bảo đảm đầu tư, việc tổ chức, quản lý điều hành trong doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư Mặt khác, luận văn chỉ đề cập nghiên cứu những hiệp định có liên quan tới vấn đề đầu tư nước ngoài trong khuôn khổ WTO, đặc biệt đi sâu phân tích hiệp định TRIMS về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại Các hiệp định khác sẽ không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2 Cơ cấu của Luận văn.
Luận văn gồm phần mở đầu, 3chương, phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8thống cũng được sử dụng đều khắp nhằm đặt vấn đề nghiên cứu trong quá trình phát triển lịch sử của pháp luật Việt nam cũng như so sánh với các quy định của WTO hiện hành để tìm ra những tổn tại nhằm có những giải pháp hoàn thiện chế định này khi Việt nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới.
5 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐỂ TÀI
Xuất phát từ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế đất nước cũng như nhu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư với các nước mà khuyến khích đầu tư nước ngoài đã trở thành một vấn đề thời sự trong giai đoạn hiện nay Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình và bài viết liên quan trực tiếp tới vấn đề đầu tư nước ngoài theo những cách tiếp cận khác nhau Tác giả Bùi Giang Nam (2000) đã nghiên cứu vấn đề
“Khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài ở Việt nam” nhưng luận văn chỉ
giới hạn việc nghiên cứu về pháp luật đầu tư Việt nam Tác giả Dương Nguyêt Nga (2002) cũng nghiên cứu về lĩnh vực đầu tư nước ngoài nhưng tiếp cận dưới
góc độ mối quan hệ giữa “Luật đầu tư nước ngoài của Việt nam với việc hình thành khu vực đầu tư ASEAN” Th.s Đỗ Nhật Hoàng (2002) với luận án Quá trình hình thành và phát triển của Luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt nam ” đã đưa ra bức tranh tổng quát về sự phát triển và hoàn thiện của
Luật đầu tư nước ngoài trong từng thời kỳ Th.s Nguyễn Khắc Định (2003) lại tiếp
cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ “Hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong xu th ế nhất th ể hoá pháp luật về đầu tư ở Việt nam” Tác giả Đỗ Thị
Ngọc (2002) trong Luận văn thạc sĩ của mình cũng đưa ra khía cạnh nghiên cứu
riêng về “Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt nam”
Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có một bài viết hay công trình nghiên cứu nào m ang tính tổng thể và đề cập trực tiếp tới vấn đề hoàn thiện chế định khuyến khích đầu tư nước ngoài khi Việt nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Do đó, luận văn cao học này về cơ bản là mới và chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện
6 ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Lần đầu tiên luận văn đặt ra vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của WTO cũng như pháp luật Việt nam hiện hành về khuyến khích đầu
tư nước ngoài
- Tác giả phân tích được thực trạng hệ thống pháp luật Việt nam hiện hành về khuyến khích đầu tư nước ngoài, từ đó mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về khuyến khích đầu tư nước ngoài cho phù hợp với các quy định hiện hành của WTO khi Việt Nam gia nhập tổ chức này
Trang 9CHƯƠNG ỉ. NHỮNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ KHUYẾN KHÍCH
ĐẦU T ư TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
rà o “é 5* - rồ® " é 5* —
-1.1 KHÁI NIỆM VỂ ĐẦU Tư TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức đầu tư quốc tế được đặc trưng bởi quá trình di chuyển tư bản từ nước này sang nước khác Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, FDI xuất hiện rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ XVI Các nước tư bản phát triển thòi kỳ đó như Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đã
có các công ty như Mobil vil, BP, Royal Deutch Shell đi đầu trong lĩnh vực đầu
tư vốn vào các nước Châu á, Châu Phi để mở rộng đồn điền, khai thác khoáng sản, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc[9, tr 1 2] Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển càng có phạm vi, quy mô lớn hơn với nhiều hình thức phong phú hơn Trong xu hướng tự do hoá đầu tư và thương mại, ngày nay FDI được coi là chìa khóa để phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Mặc dù mỗi nước có một quan niệm khác nhau
về FDI nhưng nhìn chung FDI được hiểu là một hoạt động kinh doanh mà ở đó
có sự tách bạch ở tầm vĩ mô về mặt chủ thể nhưng lại có sự kết hợp ở tầm vi mô trong việc sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư [8, tr 1 0 ]
M ột định nghĩa được chấp nhận phổ biến rộng rãi do Quỹ tiền tệ quốc tế
đưa ra năm 1977: “ Đầu tư trực tiếp ám chỉ sô'đầu tư được thực hiện đ ể thu được lợi ích lâu dài trong một hãng hoạt động ở một nền kinh t ế khác với nền kinh t ế của nhà đầu tư, mục đích của nhà đầu tư là dành tiếng nói có hiệu quả trong công việc quản lý hãng đó” [6, tr 150]
Định nghĩa trên đây đã tập trung vào khía cạnh mục đích của việc đầu tư
để phân bịêt giữa đầu tư trực tiếp với đầu tư chứng khoán Đầu tư chứng khoán
là nhằm mục đích thu lợi nhuận từ vốn đầu tư vào chứng khoán mà không có tiếng nói trong quản lý còn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngoài mục đích hướng tới lợi nhuận còn quan tâm tới vấn đề quyền quản lý Tuy nhiên khái niệm trên không đề cập đến mức độ sở hữu cần thiết để coi một khoản đầu tư là trực tiếp hay không và cũng không phân biệt giữa khoản đầu tư được tài trợ bởi số tiền vốn vay ở thị trường nước chủ nhà với số vốn được chuyển giao từ công ty mẹ sang chi nhánh của nó tại nước chủ nhà
Trang 10Khái niêm này được Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OEDC) tán
thành và hoàn thiện theo hướng mở rộng hơn: “FDI là hoạt động kinh t ế của các
cá nhản, pháp nhân kê cả việc cho vay dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm mục đích thiết lập các quan hệ kinh t ế bền vững với công việc kinh doanh, đem lại khả năng thực hiện một ảnh hưởng có hiệu quả đối với việc quản lý của việc đầu tư ây” [27, tr.7].
Trong báo cáo của ngán hàng thế giới 1996 cũng đưa ra khái niệm FDI
theo đó FDI được hiểu là“ một khoản đầu tư liên quan đến các quan hệ dài hạn, phản ánh m ột lợi ích lâu dài và sự kiểm soát một thực t ế trong một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ) thông qua một doanh nghiệp thuộc về một nền kinh t ế khác nền kinh t ế của nước có nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài” [2]
Trong quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài thì FDI được nhìn nhận dưới hai góc độ: đối với nước xuất khẩu tư bản, FDI được xem như việc dịch chuyển
tư bản ra nước ngoài nhằm thiết lập ở đó những hoạt động kinh doanh nhất định nhằm thu lợi nhuận; còn đối với nước tiếp nhận đầu tư thì nó lại là việc tiếp nhận vốn của nhà đầu tư nước ngoài để cho phép chủ đầu tư nước ngoài tổ chức các hoạt động kinh doanh theo những hình thức mà pháp luật quy định Tuy nhiên
dù nhìn nhận dưới góc độ nào thì FDI cũng đều là những hoạt động kinh doanh quốc tế với đặc trưng cơ bản là có sự dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia và chủ đầu tư ( pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn
và quản lý đối tượng đầu tư
Trong khuôn khổ của WTO, FDI được coi là vấn đề mới đòi hỏi tổ chức thương mại thế giới phải có nhưng quy định điều chỉnh mang tính chất quốc tế Vào giữa những năm 1950 FDI mới được đưa ra thảo luận khi nghị quyết về đầu
tư quốc tế về phục vụ và phát triển kinh tế được thông qua Trong các văn bản của WTO, có bốn hiệp định liên quan đến FDI là hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS), hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại (hiệp định TRIPS), hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (hiệp định ASCM) và hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) Trong hiệp định GATS (điều 3), đầu tư trực tiếp nước ngoài được đề cập đến như là một trong bốn phương thức cung cấp dịch vụ: đó là cung cấp dịch
vụ thông qua sự hiện diện thương mại ở bất kỳ một nước thành viên nào “Sự hiện diện thương mại là bất kỳ một hoạt động thương mại nào của chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của một pháp nhân, th ể nhân được thiết lập trên lãnh
th ổ của một nước thành viên khác nhằm cung cấp các loại dịch vụ" Còn theo
hiệp định TRIPS, đầu tư được coi là một loại của sở hữu trí tuệ mà ở đó quyền của người sở hữu được bảo vệ tại thị trường nước ngoài Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại cũng như hiệp định về trợ cấp và các biện pháp
Trang 11đối kháng không đề cập đến khái niệm FDI Như vậy mặc dù vấn đề FDI được quan tâm trong khuôn khổ WTO, tuy nhiên WTO mới chỉ dừng ở việc xem xét FDI trong mối quan hệ liên quan giữa đầu tư và thương mại quốc tế.
ở Việt Nam, khái niệm FDI được đề cập đến trong văn bản pháp lý đầu tiên
về FDI là Điều lệ về đầu tư của nước ngoài tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (được ban hành kèm theo nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977) Theo
Điều lệ này, đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam là việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam
những tài sản và vốn sau đây nhằm xây dựng nhà nước cộng sản mói hoặc đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
- Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứ dùng cho thí nghiệm phương tiện vận tải, vật tư, kỹ thuật ) cần thiết cho mục đích nói trên
- Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, phương pháp công nghệ, bí mật kỹ thuật, nhãn hiệu chế tạo
-Vốn bằng tiền hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ nếu phía Việt Nam thấy cầnthiết
-Vốn bằng ngoại tệ để trả lương cho nhân viên và công nhân làm việc ở
các sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định của điều lệ này
Như vậy trong khái niệm trên, không phải bất cứ sự vận động vốn, tư bản nào từ nước ngoài vào Việt Nam đều được coi là đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chỉ những tài sản, vốn được quy định tại điều 2 Điều lệ được đưa vào sử dụng tại Việt nam mới được coi là đầu tư trực tiếp nước ngoài
Sau này trong các văn bản Luật đầu tư nước ngoài năm 1987, rồi các Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi năm 1990, năm 1992, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam 1996, Luật sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoài năm 2000
(Điều 2), khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài được mở rộng hơn: “đầu tư trực
tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đ ể tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này".
Như vậy, về mặt pháp lý khái niệm này được nhìn nhân dưới con mắt của nước tiếp nhận đầu tư không bao gồm các hoạt động đầu tư gián tiếp và cũng không bao gồm các quan hệ thương mại thông thường
Khái niệm đầu tư trong các hiệp định quốc tế mà Việt nam đã ký kết hoặc tham gia được mở rộng hơn Trong hơn 40 hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt nam từng ký kết với các nước, cũng như trong hiệp định thương
mại Việt nam-Hoa Kỳ “thuật ngữ đầu rư nước ngoài” được sử dụng để chỉ các
loại tài sản được sở hữu hoặc quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một nhà đầu tư
Danh mục các tài sản được coi là “đầu tW rất rộng, từ những cái cụ thể như cổ
phần, cổ phiếu, bản quyền, các động sản, bất động sản, các quyền theo hợp đồng, các quyền sở hữu trí tuệ đến những tài sản rất trừu tượng như các quyển tô
Trang 12nhượng, các yêu sách về tiền được sử dụng để tạo các giá trị kinh tế hoặc địa nhượng theo công pháp.
Từ những định nghĩa được nêu ở trên, về mặt lý luận có thể đưa ra khái
niệm về FDI như sau: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại h ìn h kinh doanh
theo đó nhà đầu tư nước ngoài đem vốn, tài sản vào thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư đ ể trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh hướng tới mục tiêu lợi nhuận".
Việc nhà đầu tư trực tiếp tham gia quản lý điều hành hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh là điểm phân biệt quan trọng với đầu tư gián tiếp- một loại hình mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không trực tiếp tham gia điều hành cơ sở sản xuất đó Vốn FDI chỉ là một trong bốn nguồn tài chính nước ngoài đổ vào một quốc gia bên cạnh viện trợ phát triển chính thức ODA và phi chính phủ; tín dụng thương mại; tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu Bốn nguồn vốn này có quan hệ hữu cơ với nhau Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội thì khó có thể thu hút được FDI và các nguồn vốn tín dụng khác Nhưng nếu chỉ chú trọng đến nguồn vốn ODA mà không tìm cách thu hút nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác thì Chính phủ đó cũng không có thu nhập
để trả nợ cho vốn ODA[16, tr.22] Do đó cần khai thác và sử dụng các nguồn vốn đầu tư nước ngoài một cách hợp lý, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hơn 15 năm qua, kể từ khi ban hành luật đầu tư trực tiếp tại Việt Nam
1987 đến nay, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội, tăng cường thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế Thực tiễn cho thấy, FDI đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm mói, góp phần mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Vai trò của FDI được thể hiện cụ thể trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất hoạt động FDI đã kịp thời bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, tạo ra thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế
Trong thời kỳ 1996-2000, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới 24% tổng vốn đầu tư xã hội Riêng trong 2 năm 2001, 2002, mặc dù bị giảm sút, vốn đầu tư nước ngoài cũng chiếm hơn 18,5% tổng vốn đầu tư xã hội Thông qua vốn FDI, rất nhiều nguồn vốn trong nước được huy động và sử dụng có hiệu quả Tỷ lệ
Trang 13FDI đóng góp vào GDP cũng liên tục tăng qua các năm từ 3,5% năm 1993 đến 8,4% và đến hơn 14% năm 2003 Cùng với quá trình phát triển, mức đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài vào thu ngân sách cũng ngày càng tăng Trong thời gian từ 1996-2004, riêng khu vực đầu tư nước ngoài đã đóng góp 1,49 tỷ usd vào ngân sách quốc gia, tăng 4,5 lần so với 5 nãm trước Chỉ riêng năm
2 0 0 1 - 2 0 0 2 tỷ lệ khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp vào ngân sách nhà nước tăng tới 115% và 116% so với cùng kỳ năm trước[25] Sự đóng góp của lĩnh vực đầu tư nước ngoài đã tạo ra khả năng chủ động trong cân đối ngân sách, giảm bội chi, góp phần cải thiện cán cân thanh toán
T h ứ 2 là việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài hướng về xuất khẩu
đã tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của Việt Nam Thời kỳ 1991-1995, giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (không bao gồm dầu khí) chỉ đạt 1,12 tỷ usd Đến thòi kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài đã đạt trên 10,6 tỷ usd, tăng hơn 8 lần so với năm trước chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu của cả nước giá trị xuất khẩu đạt 3,36 tỷ usd, 2002 đạt 4,5 tỷ usd chiếm hơn 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước[25] Ngoài ra khu vực đầu tư nước ngoài còn góp phần
mở rộng thị trường trong nước, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phát triển nhanh, đặc biệt là trong lĩnh vực khách sạn, du lịch, các dịch vụ thu ngoại tệ, dịch vụ tư vấn pháp lý, công nghệ, tạo cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với các thị trường quốc tế Sự xuất khẩu của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam cũng tạo nên những mô hình quản lý và phương pháp kinh doanh hiện đại, là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh
T h ứ ba là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài đã tác động nhiều
đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa Các số liệu thống kê đã cho thấy, đầu tư nước ngoài chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp với tốc độ tăng trưởng trên 2 0%/ năm, góp phần đưa tốc độ trăng trưởng công nghiệp của cả nước đạt 11-13%/ năm, tạo nên những ngành nghề, sản phẩm mới Cho tới nay, khu vực đầu tư nước ngoài đã chiếm 100% về khai thác dầu thô, sản xuất ôtô, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà nhiệt độ, thiết bị văn phòng, máy tính, khoảng 60% sản lượng về thép cán, 28% về xi măng, 33% về sản xuất máy móc thiết bị điện tử, 76% về dụng cụ y tế chính xác Trong công nghiệp nhẹ, đầu tư nước ngoài chiếm 55% về sản lượng sợi các loại, 30% vải các loại, 49% về giầy dép, 18% về sản phẩm may mặc, 25% về thực phẩm và đồ uống [25] Thông qua chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, đầu tư nước ngoài đã góp phần phân bố công nghiệp hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư Cho tới nay cả nước đã
có 76 khu công nghiệp, khu chế xuất đã thiết lập, trong số đó 18 khu được xây
Trang 14dựng từ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Các khu công nghiệp, khu chế xuất này thu hút 2247 dự án đầu tư trong só đó 1.202 là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 9.444 tỷ usd[13, tr 145 ].
T h ứ tư là chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ đã tạo điều
kiện thuận lợi cho Việt Nam tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến, thúc đẩy nãng lực công nghệ của nền kinh tế Trong những năm gần đây thông qua các dự án FDI, có rất nhiều công nghệ hiện đại được đưa vào Việt Nam, đặc biệt liên quan đến lĩnh vực điện tử, dầu khí, hoá chất, máy tính, ôtô, xe máy Tuy nhiên bên cạnh đó vấn đề môi trường cũng được đặc biệt quan tâm với mục đích kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
T h ứ 5 là đầu tư nước ngoài đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới, đào
tạo nhân lực, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống cho người lao động Theo thống kê của Bộ kế hoạch đầu tư, đến cuối năm 2003, lĩnh vực FDI đã thu hút
665 nghìn lao động trực tiếp và hàng nghìn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ[25] Một số lượng đáng kể đội ngũ cán bộ, người lao động đã được nâng cao năng lực quản lý, trình độ khoa học công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài
Ngoài ra, hoạt động FDI cũng góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, giúp Việt Nam chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Tính đến nay đã có trên 74 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam, trong đó có trên 80 công ty xuyên quốc gia nằm trong danh sách 500 công ty hàng đầu trên thế giới Đồng thời đầu tư nước ngoài đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập ASEAN, ký hiệp định khung với EƯ, bình thường hoá quan hệ, ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ, tăng cường thế và lực của Việt Nam trên con đường đàm phán
và gia nhập WTO[13, tr 146]
Đầu tư nước ngoài là một lĩnh vực nhạy cảm và các dòng đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thu hút đẩu tư nước ngoài của nước tiếp nhận đầu tư Cho dù trong những năm qua, dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có những lúc suy giảm do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan nhưng thực tế không thể phủ nhận được vai trò của FDI đối với công cuộc phát triển kinh tế đất nước Vì vậy tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9, Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam ” không chỉ khuyến khích phát triển mà còn phải phát triển lâu dài và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài cả về vốn, công nghệ, phương pháp quản lý là một trong những giải pháp có hiệu quả để phát triển kinh tế trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 151.2 KHUYẾN KHÍCH ĐẦU T Ư T R ự C TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Khái niệm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xuất phát từ vai trò quan trọng của FDI mà ngày nay chính sách thu hút FDI đã trở thành chiến lược quốc gia không chỉ ở các nước đang phát triển mà ngay cả các nước phát triển Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư quốc
tế, các quốc gia đều quan tâm tới việc xây dựng một chính sách khuyến khích đầu tư hấp dẫn, tạo động lực thúc đẩy các nhà đầu tư lựa chọn, quyết định đầu tư vào nước mình Các rào cản đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dần được bãi bỏ, thay vào đó là cơ chế tự do hoá đầu tư với các quy định khuyến khích giành nhiều ưu đãi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài Khuyến khích đầu tư được coi như một công cụ hữu hiệu để thu hút vốn đầu tư, trở thành mục đích của các đạo luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của bất kỳ quốc gia nào
Dưới góc độ kinh tế, đối với nước tiếp nhận đầu tư thì khuyên khích đầu
tư trực tiếp nước ngoài được coi là một biện pháp quan trọng nhằm thu hút vốn,
kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ nước ngoài vào để giúp nền kinh tế trong nước có đà tăng trưởng[5, tr 19]
Dưới góc độ pháp luật, khái niệm khuyên khích đầu tư có thể hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm tất cả các quy định ưu đãi, hỗ trợ mà một quốc gia dành cho nhà đầu tư hoặc cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các quy định
về một số loại ưu đãi đặc biệt dành cho nhà đầu tư
Hiện nay rất ít các hiệp định quốc tế về đầu tư đề cập đến khái niệm khuyến khích đầu tư Trong tài liệu của Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên họp quốc (UNCTAD) về khuyến khích và đầu tư trực tiếp nước ngoài có đưa
ra khái niệm về khuyên khích đầu tư được chấp nhận một cách phổ biến, theo đó khuyên khích đầu tư trực tiếp nước ngoài là toàn bộ các ưu đãi về mặt kinh tế theo hướng có lợi do nước tiếp nhận đầu tư dành cho nhà đầu tư nước ngoài nhằm tạo động lực thúc đẩy khuyến khích họ đầu tư vào nước mình[31, tr.3]
Thực chất các quy định về khuyên khích đầu tư nước ngoài có liên quan đến toàn bộ hoạt động của nhà đầu tư và suy cho cùng nó thể hiện mối tương quan giữa quyền lợi và nghĩa vụ của nhà đầu tư Bất kỳ một nhà đầu tư nào khi đầu tư ra nước ngoài cũng mong muốn được hưởng nhiều ưu đãi và ít phải làm nghĩa vụ đối với nhà nưóc sở tại Ngược lại về phía nước tiếp nhận đầu tư thì vừa muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài, lại vừa muốn quản lý chặt chẽ hoạt động của nhà đầu tư cũng như thu được nhiều lợi nhuận mang lại từ thuế Do đó để dung hoà mối quan hệ giữa quyền lợi của nước sở tại và nhà đầu tư thì bên cạnh các quy định dành ưu đãi cho nhà đầu tư nước tiếp nhận đầu tư còn đưa ra các quy định vể yêu cầu đòi hỏi thực hiện Khi nghiên cứu về mối quan hệ này học giả Jurgen Kurtz cho rằng nó giống như chính sách “củ cà rốt và chiếc gậy”[27, tr 16]
Trang 16Một mặt, nước tiếp nhận đầu tư dành cho nhà đầu tư những ưu đãi kinh tế theo hướng có lợi nhưng mặt khác cũng đưa ra các yêu cầu đòi hỏi thực hiện như yêu cầu tỷ lệ nội địa hoá, yêu cầu về chuyển giao công nghệ, yêu cầu tỷ lệ khối lượng hàng xuất khẩu, yêu cầu về lao động, về tự cân bằng thanh toán[32, tr.2] Mục đích của các yêu cầu đòi hỏi thực hiện này chính là việc hướng các nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư phát triển những ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn đầu tư cho phù hợp với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cũng như chiến lược phát triển kinh
tế của nước tiếp nhận đầu tư trong từng thời kỳ nhất định Tuy nhiên trong xu hướng toàn cầu về tự do hoá thương mại và đầu tư thì các quy định về yêu cầu đòi hỏi thực hiện được coi là những rào cản cho dòng đầu tư buộc các quốc gia phải dần dần bãi bỏ cho phù hợp với bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư trên thế giới cũng như phù hợp các quy định mang tính chất quốc tế trong khuôn khổ WTO
1.2.2 Nội dung của khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo báo cáo của UNCTAD (1996) thì từ năm 1990 cho đến nay, hơn 100 quốc gia đã sử dụng nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư khác nhau để cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên dù cho có nhiều loại biện pháp khác nhau thì khuyến khích đầu tư nước ngoài cũng thường được phân chia thành 3 nhóm chế định cơ bản: đó là ưu đãi tài chính (íiscal incentives), hỗ trợ đầu tư (íìnancial incentives) và các trợ giúp khác (other incentives)
Ưu đãi đầu tư là một chế định phổ biến trong pháp luật của nhiều nước ngay từ những năm 1990 Theo nghiên cứu của ƯNCTAD, trong tổng số 103 nước được đưa ra nghiên cứu so sánh thì có tới 93 nước sử dụng biện pháp ưu
đãi đầu tư [31, tr.3 ] Ưú đãi đầu tư thể hiện ở việc nước tiếp nhận đầu tư thông
qua các quy định của pháp luật dành cho nhà đầu tư nước ngoài những ưu đãi tài chính nhất định đặc biệt là ưu đãi về thuế Tuỳ vào các loại thuế khác nhau mà
có những quy định ưu đãi về thuế khác nhau như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, ưu đãi thuế trong trường hợp tái đầu tư, chuyển giao công nghệ; Tuỳ vào lĩnh vực đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư, ngành nghề khuyên khích đầu
tư mà tỷ lệ ưu đãi miễn giảm thuế cũng như thời gian miễn giảm thuế cho các dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài là khác nhau
Hỗ trợ đầu tư là biện pháp tích cực chủ động từ phía nhà nước thông qua việc cung cấp một nguồn tài chính trực tiếp nhằm giúp đỡ các nhà đầu tư nước ngoài trong một số trường hợp nhất định Có các loại hỗ trợ đầu tư phổ biến như trợ cấp Chính phủ, cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp, hỗ trợ tín dụng, bảo lãnh các khoản vay Theo thống kê của ƯNCTAD, ngay từ những năm đầu của thập niên 90, biện pháp hỗ trợ đầu tư đã được 59 trên tổng số 83 quốc gia được
Trang 17nghiên cứu đưa ra cho các nhà đầu tư nước ngoài Hỗ trợ đầu tư ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược khuyến khích đầu tư nước ngoài tại các nước phát triển.
Bên cạnh các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư trong pháp luật của các nước còn đưa ra một số loại khuyến khích đầu tư khác tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư như trợ giúp cơ sở hạ tầng, trợ cấp dịch vụ, ưu đãi thị trường, ưu đãi trong lĩnh vực ngoại hối Cũng theo báo cáo nghiên cứu của UNCTAD (1996) có 59 các loại khuyên khích đầu tư khác nhau được 67 nước
sử dụng bên cạnh các biện pháp ưu đãi đầu tư hay hỗ trợ đầu tư Thông thường các biện pháp hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, dịch vụ thường được nước tiếp nhận đầu
tư đưa ra cho các doanh nghiệp nước ngoài trong các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu công nghệ cao Ngoài ra việc cải cách thủ tục hành chính, có một
cơ chế cung cấp thông tin, tư vấn, dịch vụ quản lý cũng như các hỗ trợ kỹ thuật cũng được coi là các loại khuyên khích đầu tư phổ biến mà rất nhiều nước dành cho các nhà đầu tư trong trường họp nhà đầu tư chuyển giao công nghệ hoặc đầu
tư vào những vùng trọng điểm
Mặc dù các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển đều sử dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để thu hút dòng vốn FDI nhưng các nước phát triển thường ưa chuộng biện pháp trợ giúp đầu tư bởi việc sử dụng biện pháp này không đòi hỏi phải thay đổi nhiều các quy định trong pháp luật quốc gia Còn đối với các nước đang phát triển thì biện pháp ưu đãi đầu tư được sử dụng phổ biến bởi ở các nước này, không thể có được một quỹ tài chính cần thiết cho việc cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài
Đối với Việt Nam, nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài nên ngay từ điều lệ năm 1977, lần đầu tiên nhà nước Việt Nam đã thể hiện thái độ và sự mong muốn của mình đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
“Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoan nghênh việc đầu
tư nước ngoài ở Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và hai bên cùng có lợi”(Điều 1) Tại điều 11 của Điều lệ cũng đã đưa ra nhiều quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài như cho phép nhà đầu tư nước ngoài được chuyển vốn và lợi nhuận về nước, được khuyến khích tái đầu tư trở lại, cũng như được hưởng các ưu đãi về thuế tuỳ theo lĩnh vực đầu tư, lượng vốn đầu
tư Tuy nhiên đặt trong bối cảnh lịch sử vào thời điểm đó thì những quy định này
ít có tính khả thi và không được thi hành trên thực tế như một sự tất yếu
Chỉ đến khi đường lối đổi mới của Đảng được khởi xướng từ nãm 1986 với những thay đổi quan trọng cả về chính trị - kinh tế - tư tưởng đã thật sự tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước Nền kinh tế hàng hóa tập trung được thay thế bằng nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã tạo ra những nguồn lực mới, giải phóng những tiềm năng kinh tế Lần đầu tiên
Trang 18luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987) được ban hành đã thể hiện được tinh thần đổi mới Trong đạo luật này, chính sách khuyên khích đầu tư nước ngoài đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc thu hút vốn đầu tư Ngay tại Điều 1 luật đầu tư nước ngoài 1987 đã quy định: Nhà nước Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoan nghênh và khuyến khích các tổ chức, các nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam Luật đầu tư nước ngoài 1987 cũng dành nhiều ưu đãi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài không chỉ ưu đãi về thuế mà còn những ưu đãi khác về giá thuê đất, về lĩnh vực đầu tư Quan điểm về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhà nước Việt Nam còn được thể hiện bằng cách coi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài như là một chính sách vĩ mô, một hoạt động kinh tế đối ngoại không thể thiếu Do đó bên cạnh việc hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài, Việt Nam còn nỗ lực từng bước cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt các khâu phiền hà trong quản lý hoạt động đầu tư, cải thiện cơ sở hạ tầng, không ngừng đào tạo và bồi dưỡng tay nghề cho người lao động Mặc dù luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 đã cố gắng thể hiện tinh thần “khuyên khích” của nhà nước Việt Nam đối với hoạt động đầu tư nước ngoài nhưng không tránh khỏi khiếm khuyết khi đi vào thực tiễn áp dụng Sau này Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung qua các năm 1990,
1992, Luật đầu tư nước ngoài 1996 và Luật sửa đổi bổ sung năm 2000 đã dần hoàn thiện thêm các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài, góp phần tạo nên một khung pháp lý về đầu tư hấp dẫn, thông thoáng cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhìn chung, nội dung của các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài trong pháp luật Việt Nam cũng giống như hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới, bao gồm chế định ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư và các ưu đãi khác Trong ch ế định ưu đãi đầu tư, pháp luật Việt nam dành cho nhà đầu tư những ưu đãi nhất định nhằm khuyên khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào những vùng, những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, từ đó định hướng đầu tư, góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cũng giống như các nước đang phát triển, biện pháp ưu đãi chủ yếu trong pháp luật Việt nam chủ yếu là ưu đãi về thuế Biện pháp này tác động trực tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư cho nên nó ảnh hưởng sâu sắc tới quyết định của nhà đầu tư Tuỳ từng loại thuế khác nhau, cũng như tuỳ
dự án đầu tư, lĩnh vực đầu tư, vùng đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài được hưởng mức miễn giảm thuế, thời gian giảm thuế là khác nhau Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn khuyến khích và dành nhiều ưu đãi đặc biệt đối với các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, sử dụng công nghệ cao, các dự án thuộc danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư
Trang 19Biện pháp hỗ trợ đầu tư là những hoạt động chủ động của nhà nước Việt Nam nhằm trợ giúp các nhà đầu tư nước ngoài trong nhiều trường hợp cần thiết Trong pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài, các biện pháp hỗ trợ đầu tư được sử dụng không nhiều, ngoài quy định về hỗ trợ cân đối ngoại tệ đối với các
dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu thiết yếu (điều 53 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam), các dự án BOT, BTO, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đến chân hàng rào các DN có VĐTNN hoặc khu công nghiệp (điều 18 Nghị định 10 NĐ-CP ngày 3/1/1998) Đây cũng là đặc trưng của các nước đang phát triển do không có dủ nguồn tài chính cần thiết để có thể hỗ trợ trực tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động trợ cấp tín dụng, cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp hoặc bảo lãnh vốn vay Mặt khác, đây cũng là điều thua thiệt đối với nhà đầu tư nước ngoài so với nhà đầu tư trong nước bởi theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, có bảy biện pháp hỗ trợ đầu tư dành cho nhà đầu tư trong nước, được chia thành bốn nhóm chính: nhóm hỗ trợ về mặt bằng đầu tư, nhóm hỗ trợ về tài chính, nhóm hỗ trợ về dịch vụ đầu tư và nhóm hỗ trợ về công nghệ sản xuất Chính sự đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài được quy định tại hai Luật đầu tư khác nhau cho nên các nhà đầu tư trong nước thường cho rằng nhà đầu tư nước ngoài được hưởng những ưu đãi hơn thông qua quy định về ưu đãi tài chính, ngược lại các nhà đầu tư nước ngoài lại cho rằng các nhà đầu tư trong nước được nhà nước trợ cấp nhiều hơn Ngài Kênko-Phó giáo
sư Trường Đại học tổng hợp Hysohima (Nhật bản) đã nhận xét: “ Với cơ cấu luật đầu tư duy nhất như của Campuchia, Singapore hoặc kiểu luật đầu tư cộng với các quy định khác như của Thái Lan, Malaysia, Philippine thì gây ấn tượng
bề ngoài tốt hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài về sự đối xử công bằng hơn là cơ cấu luật đầu tư nước ngoài riêng rẽ của Việt nam Mặc dù luật Việt nam trên thực
t ế đối xử với người nước ngoài có những ưu đãi khuyên khích hơn đối với các nhà đầu tư trong nước nhưng Việt nam đưa ra rất nhiều yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở tuỳ ý (ví dụ nghĩa vụ xuất khẩu cũng nhắc trên 80% đối với một sô' lĩnh vựsản xuất hàng đẩu đ ể đổi lấy cơ c h ế đăng kỷ cấp giấy phép đầu tư hay th u ế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi, rõ rán ẹ đi ngược lại xu hướng tự do hoá của th ế giới Hầu như các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài mất đi mối quan tám của họ về đầu
tư hoặc tiếp tục đầu tư vào Việt nam họ s ẽ thấy khó chịu đối với các chính sách tuỳ tiện của Chính phủ c ầ n thiết phái có một luật Đầu tư nước ngoài rõ ràng đ ể xoá bỏ đi hình ảnh về rủi ro chính tri và đ ể gia nhập kỷ nguyên WTO” [3]
Nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về khuyên khích đầu tư nước ngoài cũng như cho phù hợp với các đòi hỏi thông lệ quốc tế và các hiệp định quốc tế mà Việt nam đã ký kết hoặc tham gia, pháp luật Việt Nam đang cố gắng nhất thể hóa
Trang 20luật đầu tư theo hướng không phân biệt đối xử, tạo một mặt bằng pháp lý chung, một sân chơi bình đẳng cho cả nhà đầu tư trong nước lẫn nhà đầu tư nước ngoài.
1.2.3 Ý nghĩa của khuyên khích đầu tư nước ngoài.
Khuyến khích đầu tư nhà nước ngoài có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, trở thành một yếu tô' không thể thiếu góp phần làm nên một môi trường đầu tư hấp dẫn Theo đánh giá tổng quan chung về một môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, nhiều học giả cho rằng có thể căn cứ vào các yếu tố chính như: sự ổn định về chính trị, vị trí địa lý kinh tế, môi trường pháp lý, tiềm năng tiêu thụ trong thị trường nội địa, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, nguồn lao động, chính sách tiền tệ, thương mại, kinh tế đối ngoại của quốc gia Trong môi trường pháp lý, các quy định về khuyên khích đầu tư nước ngoài có ý nghĩa tác động trực tiếp tới quyết định của nhà đầu tư Bởi khi nhà đầu tư quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó, điều đầu tiên mà nhà đầu tư quan tâm là thái độ của quốc gia nước sở tại thế nào và nhà đầu tư được hưởng những ưu đãi gì Do đó trong cùng một lợi thế cạnh tranh
so sánh giữa các nước tiếp nhận đầu tư nhà đầu tư nước ngoài tất yếu chọn đầu
tư vào nơi mà pháp luật dành cho họ nhiều ưu đãi kinh tế theo hướng có lợi hơn Chính vì lý do đó mà các quốc gia đều coi khuyến khích đầu tư nước ngoài là một công cụ hữu hiệu để thu hút đầu tư nước ngoài Các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài như một động lực, một đòn bẩy kinh tế kích thích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại vào dự
án đầu tư Do pháp luật về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác nên việc xây dựng và hoàn thiện chế định về khuyến khích đầu tư nước ngoài càng có ý nghĩa quan trọng hơn đối với việc thu hút FDI Thực tiễn phát triển trong những năm qua cho thấy các quy định về khuyến khích đầu tư
nước ngoài đã có ý nghĩa to lớn trong chính sách thu hút FDI ở Việt Nam, góp
phần khơi thông dòng chảy đầu tư nước ngoài, đưa Việt Nam trở thành một trong những địa chỉ đầu tư hấp dẫn Tính đến cuối tháng 3 năm 2004, Việt nam
có hơn 4462 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký hơn
4206 tỷ USD, trong đó vốn đã thực hiện gần 25 tỷ USD Nếu tính cả lượng vốn
đã giải ngân của các dự án đã hết hạn hoặc đã giải thể trước thời hạn, tổng số vốn mà các dự án đầu tư nước ngoài đã thực hiện lên tới 28 tỷ USD [25] Tốc độ thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam cũng gia tăng liên tục qua các năm từ 1582 triệu usd (giai đoạn 1988-1990) tới 16244 triệu usd (giai đoạn 1991-1995) lên đến 20768 triệu usd (1996-2000) Chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được coi là thông thoáng hấp dẫn của Việt Nam đã thu hút các nhà đầu tư từ 74 nước và vùng lãnh thổ tới đầu tư tại Việt Nam, trong đó chủ yếu là các nước khu vực Đông Bắc á (gồm Đài Loan, Nhật Bản, Hổng Kông, Hàn Quốc) Singapore
Trang 21là nước đứng đầu trong số các nước đầu tư vào Việt Nam với hơn 290 dự án đầu
tư, tổng số vốn đăng ký là 7.815 Tỷ USD, vốn thực hiện là 3.034 tỷ USD Đầu tư của các nước châu âu như Pháp, Hà Lan, Anh vẫn nằm trong số 10 nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam[13, tr 154] Từ thực tiễn tình hình thu hút FDI của Việt Nam, có thể thấy rõ hơn vai trò, ý nghĩa của các quy định về khuyên khích đầu
tư nước ngoài trong việc thu hút dòng vốn đầu tư, đổng thời càng khẳng định hon nữa chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc tiếp tục hoàn thiện chính sách về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.4.Khuyến khích đầu tư nước ngoài trong các hiệp định song phương và các điều ước quốc tê mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Trong những năm gần đây, bên cạnh nỗ lực cải thiện môi trường pháp lý đặc biệt là các quy định về khuyên khích đầu tư nước ngoài, Việt nam còn tham gia vào các điều ước quốc tế song phương và đa phương về đầu tư nước ngoài nhằm tạo môi trường hấp dẫn hơn trong việc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư Việc Việt nam tham gia vào tổ chức ASEAN, diễn đàn hợp tác Châu á-Thái Binh Dương, từng bước phá thế bao vây cấm vận tiến tới ký hiệp định thương mại với
Mỹ và xúc tiến các vòng đàm phán để sớm gia nhập WTO là những bước tiến lớn của Việt nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế,
cho Việt nam những thời cơ và thách thức trong việc tiếp
luật vể đầu tư cho phù hợp với các cam kết quốc tế
1.2.4.1 Các hiệp định về khuyên khích và bảo hộ đầu tư
Cho tới nay, Việt Nam đã ký kết hơn 45 hiệp định khuyến khích và bảo
hộ đầu tư với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong các hiệp định song phương này, mỗi bên ký kết hiệp định sẽ khuyến khích và cam kết tạo điểu kiện thuận lợi cho nhà đầu tư của bên ký kết kia tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp trên lãnh thổ của mình mà không bị cản trở gì, bình đẳng trước pháp luật của quốc gia đó đồng thời được đối xử công bằng thoả đáng và không kém thuận lợi hom sự đối xử dành cho nhà đầu tư của nước mình hoặc bất kỳ nước thứ
3 nào Các bên ký kết cũng đưa ra các giải pháp bảo hộ đầu tư, không quốc hữu hoá tài sản của nhà đầu tư trừ trường hợp cho mục đích công cộng nhưng phải theo nguyên tắc không phân biệt đối xử và đền bù thoả đáng theo giá trị thị trường cũng như phù với thông lệ quốc tế Khi những đầu tư của nhà đầu tư mỗi bên ký kết bị tổn thất do những nguồn gốc bất khả kháng như chiến tranh, xung đột vũ trang, tình trạng khẩn cấp thì nước xẩy ra tình trạng đó dành cho nhà đầu tư của bên ký kết kia sự đối xử đối với việc khôi phục, đền bù hoặc bồi thường hoặc một cách giải quyết khác không kém thuận lợi hơn so với nhà đầu
tư của bất kỳ nước thứ 3 nào
mặt khác cũng mở ra
‘McTRƯỜNG ĐAI HOC L.UÂT HÀ NÔI PHÒNG ĐỌC ế44-—
Trang 22Trong các hiệp định này, Việt Nam cũng cam kết bảo đảm quyền của nhà đầu tư trong việc chuyển vốn, lợi nhuận cũng như các nguồn tài chính khác về nước của nhà đầu tư đồng thời bảo đảm quyền của nhà đầu tư trong việc đưa tranh chấp giữa nhà đầu tư với các cơ quan nhà nước ra toà hành chính hoặc trung tâm giải quyết tranh chấp về đầu tư (ICSID) hoặc ƯNCITRAL hoặc bất kỳ một cơ chế giải quyết tranh chấp nào đã được thoả thuận trước đó.
1.2.4.2.H iệp định thương m ại Việt N am - H oa Kỳ
Ngày 13/7/2000, nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Họp chủng quốc Hoa Kỳ đã ký kết một hiệp định thương mại song phương lịch sử (viết tắt tiếng Anh là BTA) nhằm bình thường hoá quan hệ thương mại giữa hai nước với việc dành cho nhau quy chế tối huệ quốc (MFN) có đi có lại BTA là một hiệp định rộng bao gồm các nguyên tắc, cam kết và các nghĩa vụ trong thương mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, đầu tư và tạo thuận lợi cho kinh doanh Đó là hiệp định toàn diện nhất mà Việt Nam từng ký kết và chứa đựng các lộ trình, kế hoạch chi tiết cần cải cách có tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam Đồng thời đây cũng là một hiệp định có mức độ cam kết cao nhất mà Việt Nam đã ký kết trên trường quốc tế bởi vì nó được đàm phán
và ký kết trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của WTO
Phát triển quan hê đầu tư là một trong những nội dung cơ bản quan trọng của hiệp định, được thể hiện trong toàn bộ chương IV cũng như m ột số phụ lục
và điều khoản khác của hiệp định Ngoài nghĩa vụ về đối xử tối huệ quốc (MFN)
và đối xử quốc gia, hiệp định còn yêu cầu các bên dành sự đối sử “công bằng và bình đẳng” cho các khoản đầu tư và cấm các bên sử dụng các biộn pháp không hợp lý hoặc phân biệt đối xử nhằm vồ hiệu hoá các khoản đầu tư [20tr 308]
Thông qua hiệp định này, Việt Nam cam kết từng bước dành quy chế đối
xử quốc gia cho nhà đầu tư Mỹ trong một số lĩnh vực, cam kết loại bỏ một số biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại nhất định, bao gồm các biện pháp cân bằng thương mại và kiểm soát ngoại hối đối với nhập khẩu ngay sau khi hiệp định có hiệu lực (10/12/2001) và bãi bỏ tất cả các biện pháp TRIMs khác (như các yêu cầu sử dụng hàng trong nước) vào đầu tháng 12/2006 (5 năm sau khi hiệp định có hiệu lực) hoặc thời điểm trở thành thành viên của WTO Việt Nam cũng cho phép các nhà đầu tư Mỹ thành lập doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 1 0 0% vốn nước ngoài để kinh doanh xuất nhập khẩu tất cả các hàng hoá, xoá bỏ dần hạn chế tiếp cận thị trường của nhà đầu tư trong 7 ngành dịch vụ: dịch vụ chuyên ngành (pháp lý), kiểm toán, kế toán, kiến trúc sư tư vấn
kỹ thuật, vi tính, quảng cáo, thăm dò thị trường, dịch vụ thông tin liên lạc (viễn thông, giá trị gia tăng, viễn thông cơ bản, điện thoại cố định, dịch vụ nghe nhìn), dịch vụ xây dựng, dịch vụ phân phối (bán buôn, bán lẻ), dịch vụ giáo dục, dịch
Trang 23vụ tài chính (bảo hiểm ngân hàng) và dịch vụ y tế Các nhà đầu tư Mỹ được góp vốn hoặc tăng vốn tái đầu tư bằng tiền Việt Nam thu được từ hoạt động kinh doanh hợp pháp Việt Nam cũng cam kết dành quy chế đối xử quốc gia và tối huệ quốc tuỳ sự đối xử nào tốt hơn cho các khoản đầu tư Tuy nhiên trong phụ lục 4 Việt Nam cũng đưa ra các bảo lưu quyền ban hành hoặc duy trì các ngoại
lệ về đối xử quốc gia đối với một số lĩnh vực 'hoặc một số lĩnh vực Việt Nam có thể yêu cầu dự án đầu tư phải gắn với việc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước2 hay nhiều lĩnh vực trong đó Việt Nam có thể yêu cầu dự án đầu tư phải xuất khẩu ít nhất 80% sản phẩm.3
Một cam kết quan trọng nữa góp phần khuyên khích các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là theo BTA, Việt Nam cam kết chuyển từ chế độ cấp phép đầu tư sang chế độ đăng ký các dự án đầu tư trong giai đoạn từ 2 năm đến 9 năm
kể từ khi hiệp định có hiệu lực.4 Thư đính kèm của BTA cũng ràng buộc Việt Nam dành đối xử quốc gia và MFN đối với việc cấp giấy phép đầu tư, trong khi bảo đảm rằng các tiêu chí được yêu cầu trong các thủ tục đó được quản lý một cách minh bạch, công khai, v ề phía Mỹ, Mỹ cam kết dành cho các nhà đầu tư Việt Nam sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với nước thứ 3 về đầu tư Đồng thời Mỹ cũng sẽ dành cho nhà đầu tư Việt Nam bất kỳ sự ưu đãi nào cao hơn các nguyên tắc đối xử nói trên được quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành, các hiệp định quốc tế hoặc thoả thuận cụ thể với nhà đầu tư
Có thể nói, việc phê chuẩn và thực hiện hiệp định BTA là một yếu tố quan
trọng cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam cam kết về đầu tư của Việt Nam
trong hiệp định thương mại được đánh giá là có mức độ cao nhất so với các điều ước quốc tế song phương và đa phương về đầu tư mà Việt Nam đã ký kết và thực hiện cho tới nay
Trên nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc, những cam kết này cũng sẽ áp dụng cho tất cả các nhà đầu tư của các nước đã ký hiệp định song phương về
1 V iệt Nam c ó thể ban hành hoặc duy trì những ngoại lệ đối với ngh ĩa vụ dành đối xử qu ốc g ia ch o các khoản đẩu tư theo hiệp định này trong các lĩnh vực hay đối với những vấn đề: phát thanh truyền hình; sản xuất, xuất bản và phân phối các sản phẩm văn hoá; đầu tư trong lĩnh vực bảo h iểm , ngân hàn g, m ôi giớ i, kinh doanh chứng khoán, tiền tệ và các dịch vụ c ó liên quan khác; thăm dò và khai thác khoáng sản; xây dựng, lắp đặt, vận hành và bảo trì phương tiện viễn thông; xây dựng và vân hành cả n g sôn g, cản g biển, ga hàng kh ông, vận tải hàng hoá và hành khách bằng đường sắt, đường hàng khòng, đường bộ, đường biển, dường sông; đánh bắt cá và hải sản; kinh doanh bất độn g sản.
2 N hững lĩnh vực trong đó V iệt N am có thể yêu cầu dự án đầu lư phải gắn với việc phát triển nguồn nguyên liệu trong n ư ớ c x h ế biến giấ y , dầu thực vât, sữa đường m ía, c h ế biến g ỗ ( trừ dự án sử dụng g ỗ nhâp khẩu ).
Y êu cẩu phát triển nguồn nguyên liệu trong nước đối với các lĩnh vực nói trên c ó thể được duy trì tới 5 năm kể từ ngày hiệp định c ó hiệu lực.
3 N h ữ ng lĩnh vực trong đó V iệt Nam có thể yêu cầu dự án đầu tư phải xuất khẩu ít nhất 80% sản phẩm: sản xuất
xi m ăng, các loại sơn và sơn xây dựng, gạch ốp lá( và sứ vệ sinh, nhựa PVC và các sản phẩm nhựa khác, giày dép, hàng m ay m ặc, ihép xây dựng, bộl giặt, sâm lốp ôtô và xe m áy, phân bón N PK , đổ uống c ó cồn, thuốc lá, giấy ( bao gồm g iấ y in, giấy viêì, giấy pholocopy ).Y êu cầu xuâì khẩu ít nhất 80% sản phẩm đối với các ĩình vực nói trên c ó thể được duy trì tới 7 năm kế từ ngày hiệp định này có hiệu lực.
4 V iệt N am có [hể duy trì c h ế độ xét duyệl cấp phép dầu lư trong các lĩnh vực: phát thanh truyền hình, dịch vụ vận tải, xãy dựng và vận hành cáng sông, cảng biển và cáng hàng khống, một s ố dịch vụ tài chính nhất định, xây dựng
Trang 24khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Việt Nam Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải tiến hành điều chỉnh một số quy định hiện hành để tạo khuôn khổ pháp luật đổng bộ về đầu tư như tiến tới xoá bỏ biện pháp đối xử, hướng tới thiết lập một mặt bằng pháp luật thống nhất giữa các nhà đầu tư nước ngoài cũng như giữa nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước Vấn đề diều chỉnh và hoàn thiện pháp luật chính sách về đầu tư không chỉ nhằm thực hiện các cam kết riêng của một số hiệp định cụ thể mà chính là một biện pháp để cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các nhà đầu tư, từ đó tăng cường sức cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Mặt khác, thông qua BTA, Việt Nam
đã cam kết thực hiện nhiều điều khoản để gia nhập WTO Đặc biệt việc Việt Nam cam kết thực hiện loại bỏ các biện pháp đầu tư theo đúng lịch trình của BTA sẽ giúp Việt Nam đáp ứng được các đòi hỏi của hiệp định TRIMs trong khuôn khổ WTO, góp phần tạo nên một bước tiến lớn hướng tới WTO
Bên cạnh đó để thực hiện những cam kết trong BTA cũng đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện hơn nữa các quy định của mình cho tương thích, điều đó góp phần làm cho pháp luật Việt Nam về khuyên khích đầu tư nước ngoài thêm hấp dẫn, tạo sức cạnh tranh trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.4.3.Hiệp định khung vê khu vực đầu tư A SE A N (AIA)
Hiệp hội các quốc gia Đông nam á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng Cốc với 5 thành viên đầu tiên là Indonexia, Malayxia, Philipin, Xingapore, Thái Lan Viêt nam chính thức tham gia vào ASEAN từ tháng 7 năm 1995 Sau khi kết nạp thêm Lào, Miama, Campuchia, ASEAN từ một tổ chức trong khu vực đã trở thành một tổ chức của khu vực, có vị thế và ảnh hưởng lớn đối với các vấn đề của khu vực và quốc tế Một trong những mục tiêu đầu tiên của ASEAN
là xây dựng một khu kinh tế lớn mạnh có sức hấp dẫn và cạnh tranh cao đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài Có thể nói hầu hết các nước ASEAN đều đi lên từ sự đói nghèo và kém phát triển cho nên các nước đều lựa chọn “phát triển công nghiệp làm nền tảng, coi đầu tư nước ngoài là yếu tố căn bản để công nghiệp hoá đất nước” [17, tr 9] Thực tiễn phát triển kinh tế cho thấy, các nước ASEAN được xem là những ví dụ điển hình trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tư bản nước ngoài để phát triển đất nước Mặc dù có sự khác biệt về trình độ kinh
tế và trình độ công nghiệp hoá nhưng tất cả các nước ASEAN đều trải qua giai đoạn công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu[10, tr.27] Trên con đường công nghiệp hoá đó, các nước ASEAN thông qua chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài, đều tạo điều kiện tối đa để có thể thu hút nguồn vốn đầu tư vào nước mình Trong những năm gẩn đây, ASEAN là khu vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài với tốc độ lớn thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc Tuy nhiên xu thế tự do hoá đầu tư và thương mại toàn cầu,
Trang 25một mặt tạo ra sự dịch chuyển tự do và năng động của vốn đầu tư quốc tế, mặt khác gây ra sự cạnh tranh quyết liệt trong việc tìm kiếm vốn đầu tư nước ngoài, càng đòi hỏi các nước ASEAN phải cố gắng cải thiện môi trường đầu tư đặc biệt
là chính sách pháp luật nhằm tạo ra lợi thế tối ưu để thu hút vốn đầu tư Xuất phát từ lý do đó, ngày 8/10/1998 tại Philippine, các Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN đã ký hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Free Trade Area — AIA) Hiệp định này là sự kế tiếp của Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư năm 1987, Nghị định thư năm 1996 với mục đích mở ra triển vọng tốt đẹp xây dựng ASEAN thành một khu vực tự do hoá thương mại thông thoáng hấp dẫn, có sực cạnh tranh cao trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm dần tiến tới loại bỏ những rào cản đối với đầu tư, hướng tới tự do lưu chuyển đầu tư vào năm 2 0 0 2
Nguyên tắc quan trọng nhất trong hiệp định là thực hiện chế độ đối xử quốc gia và mở cửa các ngành nghề cho các nhà đầu tư vào năm 2 0 1 0 và cho tất
cả các nhà đầu tư vào năm 2020 (ngoại trừ một số ngoại lệ nhất định) Điều 7 của
Hiệp định đã ghi rõ: “ Các nước ASEAN cam kết dành ngay lập tức cho các
nhà đầu tư ASEAN sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đôi x ử dành cho các nhà đầu tư và đầu tư tương tự của nước mình" Khoản 2 của Điều 7 cũng cho
phép các quốc gia thành viên đưa ra một danh mục loại trừ tạm thời và danh mục nhạy cảm đối với bất kỳ ngành nghề hoặc biện pháp nào tác động đến đầu tư mà quốc gia đó không thể mở cửa hoặc đối xử quốc gia
Ngoài việc thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia, các nước thành viên còn
có nghĩa vụ dành ngay lập tức và vô điều kiện cho nhà đầu tư của nước thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của bất kỳ nước thứ ba nào Tuy nhiên hiệp định cũng cho phép nước thành viên không áp dụng MFN đối với một số ưu đãi trong khuôn khổ các Hiệp định mà nước đó đã ký kết trước ngày ngày ký Hiệp định, nhưng phải thông báo danh sách các Hiệp định này cho Hội đồng Khu vực đầu tư ASEAN trong vòng 6
tháng kể từ ngày Hiệp định được ký kết Ngoài các nguyên tắc trên Hiệp định đã
mở rộng nguyên tắc về khuyến khích và bảo hộ đầu tư của Hiệp định đã ký kết năm 1987, đồng thời bổ sung một số vấn đề mới trên cở sở vận dụng các nguyên tắc của hiệp định quốc tế đa biên như: thực hiện các nghĩa vụ chung, tăng cường tính minh bạch và có thể dự đoán trước được của luật pháp, chính sách đầu tư, cho phép nước thành viên áp dụng các biện pháp tự vệ khẩn cấp hoặc biện pháp bảo vệ cán cân thanh toán trong một số trường hợp và những điều kiện nhất định
Để thực hiện các nghĩa vụ theo hiệp định này, các nước thành viên cam kết thực hiện các chương trình hợp tác nhằm tạo ra đầu tư lớn hơn từ các nước trong và ngoài ASEAN, đó là ba chương trình: Chương trình hợp tác và tạo thuận
Trang 26lợi cho đầu tư, chương trình xúc tiến đầu tư và tăng cường hiểu biết về pháp luật, chính sách đầu tư của mồi nước và chương trình tự do hoá đầu tư.
Mục tiêu chủ yếu của các chương trình này là thúc đẩy hợp tác giữa các nước trong việc cải tiến thủ tục đầu tư, trao đổi thông tin, đào tạo nhân lực, hợp tác kỹ thuật, phối hợp tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, tăng cường đối thoại giữa Chính phủ các nước ASEAN với các thành phần tư nhân, các tổ chức quốc tế và khu vực khác Đặc biệt chương trình tự do hoá đầu tư đã đặt ra một số nội dung hợp tác quan trọng góp phần trực tiếp vào việc cải thiện môi trường đầu tư của từng nước và cả khu vực như: giảm dần các hạn chế đầu tư và thường xuyên điều chỉnh chế độ đầu tư nhằm tự do hoá các quy định và chính sách về đầu tư, các điều kiện cấp phép, các quy định liên quan đến việc tiếp cận nguồn vốn trong nước, tiếp nhận và chuyển lợi nhuận của nhà đầu tư ra nước ngoài, thúc đẩy việc lưu chuyển tự do các dòng vốn, lao động lành nghề, chuyên gia và công nghệ giữa các nước thành viên
Có thể nói, việc ký kết Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN là bước thành công lớn trong chương trình hợp tác của các nước ASEAN, tạo cơ sở pháp lý cho khuyến khích đầu tư khổng cho trong nội bộ m à còn cả ngoài khối
ASEAN “Với việc triển khai hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, nhất định luồng đầu tư vào ASEAN s ẽ được tăng cường, môi trường đầu tư s ẽ trở nên thông thoáng hơn, hấp dẫn hơn” [19, tr 35] Thực hiện các cam kết trong
ASEAN nói chung và hiệp định khung AIA nói riêng một m ặt đòi hỏi Việt nam phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đầu tư cho phù hợp, m ặt khác tạo ra sự hấp dẫn hơn cho pháp luật đầu tư Việt Nam trong cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế
1.2.4.4 Cam kết trong diễn đàn hợp tác kinh tê' Châu á- Thái bình dương (APEC)
Diễn đàn hợp tác Châu á- Thái bình dương là diễn đàn của các nước và lãnh thổ thuộc Châu á, Châu Mỹ và Châu Đại Dương ở ven bờ Thái Bình Dương APEC chỉ là một diễn đàn cho nên các cam kết trong khuôn khổ APEC không mang tính ràng buộc cao như các tổ chức quốc tế khác m à nó được thực hiện mang tính tự nguyện đơn phương thông qua các chương trình hành động quốc gia Hiện nay các nước trong APEC đang cùng nhau thực hiện chương trình hành động quốc gia với các cam kết trên 15 lĩnh vực về thuế quan, thương mại, dịch vụ M ột trong những cam kết quan trọng đó là chương trình tự do hoá đầu
tư theo đó các nước sẽ thực hiện chương trình hành động quốc gia về tự do hoá đầu tư va mở cửa thị trường cho các nước vùng Châu á thái bình đương trên nguyên tắc: giảm dần tiến tới bãi bỏ các rào cản trong đầu tư, thực hiện các quy định đòi hỏi của WTO về đầu tư, mở rộng hệ thống các hiệp định hợp tác đa phương vể đầu tư trong khuôn khổ APEC Để thực hiện được mục tiêu trên,
Trang 27APEC đã đưa ra một cơ chế hợp tác đa phương với những hoạt động chung như: nâng cao môi trường cạnh tranh trong các nước APEC, xây dựng các nguyên tắc đầu tư của APEC cũng như thiết lập một cơ chế đối thoại Ngay từ tháng 11 năm
1998, sau khi gia nhập APEC, Việt nam đã cùng các quốc gia khác thực hiện chương trình hành động quốc gia về đầu tư Theo chương trình này, Việt nam cam kết dành quy chế đối xử quốc gia cho các nhà đầu tư nước ngoài vào cuối năm 2 0 1 0, thiết lập cơ sở pháp lý và áp dụng cơ chế chung về thuế quan và giá
cả dịch vụ (giá thuê đất, điện, nước, điện thoại, bưu chính, giá vận chuyển hàng không ) cho cả nhà đầu tư trong nước lẫn nhà đầu tư nước ngoài, từng bước giảm dần tiến tới xoá bỏ các hạn chế đầu tư cũng như yêu cầu thực hiện đối với các dự án đầu tư cho phù hợp với hiệp định TRIMS của WTO, đa dạng hoá các hình thức và giải pháp để khuyến khích đầu tư nước ngoài
Ngoài việc tham gia vào APEC, Việt nam còn là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác á-âu (Asia Europe Metting - ASEM) gồm 10 nước Châu á và 15 nước Châu âu (từ tháng 3 năm 1996) với nhiều thoả thuận nhằm hướng tới viễn cảnh ASEM 2020 Một trong những nôi dung quan trọng được ưu tiên hàng đầu trong khuôn khổ ASEM là thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư liên châu lục thông qua việc thực hiện hai chương trình hợp tác: chương trình hành động xúc tiến thương mại và chương trình hành động xúc tiến đầu tư Mục đích của chương trình hành động xúc tiến đầu tư là xây dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn để thúc đẩy dòng vốn đầu tư hai chiều giữa Châu á và Châu âu, đưa ra một chương trình hợp tác nhằm thúc đẩy tự do hoá đầu tư giữa các nước, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài
Trong khuôn khổ chương trình hành động xúc tiến đầu tư, các nước thành viên sẽ đưa ra m ột chương trình nhằm thực hiện chính sách và pháp luật có liên quan đến đầu tư như: cam kết dành quy chế đãi ngộ quốc gia cho các nhà đầu tư nước ngoài, hạn ch ế các rào cản cho việc chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài, xoá bỏ các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại cho phù hợp với hiệp định TRIM S của W TO, áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế
Việt nam đang từng bước hội nhập nền kinh tế quốc tế thông qua việc chủ động hội nhập vào các tổ chức khu vực Việc Việt nam thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế trong khuôn khổ các tổ chức khu vực sẽ tạo điều kiện cho việc hoàn thiện môi trường pháp lý về đầu tư nước ngoài nói chung và tăng sức hấp dẫn trong chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của nói riêng, đồng thời là nền tảng cơ sở để Việt nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới trong tương lai không xa
Trang 281.3 KHUYÊN KHÍCH ĐẨU T ư TRONG KHUÔN K H ổ WTO.
Thực tiễn phát triển của lịch sử kinh tế thế giới đã cho thấy vai trò không thể phủ nhận của FDI Các nước với mục đích mở rộng khung pháp lý, tạo điều kiện cho quá trình tự do lưu chuyển dòng vốn đầu tư đã cùng nhau ký kết các hiệp định quốc tế song phương và đa phương về đầu tư Trong khuôn khổ WTO cho đến nay vẫn chưa có một cơ chế pháp lý đa phương nào về lĩnh vực đầu tư quốc tế giống như các quy định của hơn 1800 hiệp định song phương đã được ký kết giữa các quốc gia Hiệp định GATT (1947) có một vài các quy định đặc biệt
về đầu tư mà theo đó các nước phía bắc (nước công nghiệp phát triển) cho rằng thực chất nghĩa vụ đãi ngộ quốc gia (điều 2.4) và nghĩa vụ không phân biệt đối
xử (điều XI) áp dụng cho đầu tư trong một số trường hợp, còn các nước phía nam (nước đang phát triển) lại cho rằng GATT không đề cập đến vấn đề đầu tư Trong vụ Mỹ khiếu nại Canada về đạo luật FIRA của Canada (Foreign Investment Review Act-Luật xét lại đầu tư nước ngoài) thẩm quyền dành cho tiểu bang trọng tài được diễn tả bằng lối văn tránh nêu lên “những vấn đề đầu tư” thuần túy Do đó, GATT vốn được xem như không áp dụng cho các biện pháp đầu tư [24, tr 243]
Cho mãi tới vòng đàm phán Uruguay (1986 — 1994), vấn đề đẩu tư mói được chính thức đưa ra thảo luận trong chương trình nghị sự và một trong những hiệp định ngắn gọn về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (hiệp định TRIMS) đã được thông qua như một giải pháp khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế
Về cơ bản, Hiệp định TRIMs ít mang nội dung luật lệ mà chủ yếu là liên quan tới việc lý giải các biện pháp đãi ngộ quốc gia trong điều III của GATT Với quy định không cho phép các nước thành viên được sử dụng các biện pháp đầu tư (như những yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, yêu cầu về cân bằng xuất nhập khẩu, cân bằng thanh toán) trái với điều III (đãi ngộ quốc gia) và điều XI (cấm hạn chế về số lượng) của GATT, Hiệp định TRIMs được coi là bước thử đầu tiên của GATT nhằm mục đích khuyến khích đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, WTO đã giới hạn hiệp định trong phạm vi mối quan hệ giữa đầu tư với thương mại, cho nên hiệp định đã không đề cập đến những khía cạnh khác của khuyến khích đầu tư như vấn đề hỗ trợ đầu tư, ưu đãi đầu tư, vấn đề về việc làm và những yêu cầu đối với doanh nghiệp liên doanh [33, tr 3]
Một hiệp định quan trọng nữa của vòng Uruguay có liên quan trực tiếp tới đầu tư nước ngoài là hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (hiệp định GATs) Hiệp định GATs đã coi đầu tư là sự hiện diện thương mại - một trong bốn hình thức cung cấp dịch vụ qua biên giới mà theo đó đòi hỏi nước thành viên không được phân biệt đối xử, phải dành cho nhà đầu tư nước thành viên khác được hưởng quy chế đãi ngộ quốc gia và quy chế tối huệ quốc khi nhà đầu
Trang 29tư nước thành viên này đầu tư vào nước mình Có thể nói, không phân biệt đối
xử là một trong những nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất trong WTO, được thể chế hoá trong hầu hết các hiệp định và trở thành nguyên tắc cơ bản của GATS Quy chế tối huệ quốc được hiểu là mỗi thành viên phải dành ngay lập tức
và vô điều kiện quy chế đối xử đối với nhà đầu tư của các nước thành viên khác không kém phần thuận lợi hơn so với sự đối xử dành cho nhà đầu tư của bất kỳ một nước nào khác (Điều II i Hiệp định GATS) Còn theo nguyên tắc đãi ngộ quốc gia, mỗi thành viên phải có nghĩa vụ đối xử bình đẳng với nhà đầu tư của nước thành viên khác như nhà đầu tư của nước mình (Điều XVII Hiệp định GATS) Nguyên tắc này trong GATs được mở rộng hơn so với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được quy định trong hiệp định TRIMS bởi nó không chỉ dừng lại ở việc dành sự đối xử bình đẳng giữa hàng hoá của nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài mà còn mở rộng sự đối xử bình đẳng nói chung trên mọi lĩnh vực giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên các nước thành viên WTO cũng quy định một số ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử quốc gia theo đó các nước thành viên chỉ có nghĩa vụ tuân theo nguyên tắc đãi ngộ quốc gia khi nước đó có cam kết cụ thể về việc cho phép công ty nước ngoài tiếp cận thị trường mình chứ không phải tuân theo nguyên tắc này trong các lĩnh vực không cam kết Kể cả trong trường hợp có cam kết thì GATS cũng vẫn quy định một số hạn chế đối với việc áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia Việc quy định nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được coi là một trong những quy định quan trọng nhằm khuyến khích đầu tư, tăng cường sự lun chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng cũng là một hiệp định quan trọng đề cập trực tiếp tới vấn đề khuyến khích đầu tư Trợ cấp được định nghĩa rõ ràng là một khoản đóng góp tài chính của Chính Phủ chỉ áp dụng cho một doanh nghiệp hoặc một số ngành công nghiệp Hiệp định đưa ra 3 loại trợ cấp: trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể bị khiếu kiên và trợ cấp không thể bị khiếu kiện Trợ cấp đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại trợ cấp phổ thông do Chính Phủ nước tiếp nhận đầu tư cung cấp cho nhà đầu tư với mục đích khuyến khích đầu tư Trợ cấp đầu tư không phải là hình thức trợ cấp đặc biệt nếu “cơ quan có thẩm quyền hoặc các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của cơ quan này, đặt ra tiêu chuẩn khách quan hay những điều kiện để được hưởng một (hay một
số trợ cấp) với điều kiện là quyền được hưởng trợ cấp là đương nhiên và các điều kiện, tiêu chuẩn phải được tuân thủ triệt để Các điều kiện và tiêu chuẩn phải được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật, các quy định hay văn bản chính thức khác để có thể kiểm tra một cách dễ dàng” (Điều 2.(1 a) Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng) Tuy nhiên trợ cấp đầu tư sẽ bị coi là những khoản trợ cấp ngăn cấm nếu khoản trợ cấp đó là trợ cấp xuất khẩu hoặc tiợ cấp
Trang 30khuyến khích đùng hàng trong nước (theo tỷ lê nội địa hoá) (Điều 3 hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng) Trợ cấp đầu tư cũng được coi là khoản trợ cấp có thể bị khiếu kiện nếu việc trợ cấp đầu tư của nước thành viên gây ra những ảnh hưởng bất lợi cho lợi ích của nước thành viên khác như làm thiệt hại tói các ngành công nghiệp trong nước của nước thành viên khác, làm vô hiệu hoá hoặc tác động xấu tới lợi nhuận hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng tới lợi ích của nước thành viên Trợ cấp đầu tư không thể bị khiếu kiện nếu đó là trợ giúp cho một số hoạt động nghiên cứu, trợ cấp cho các vùng khó khăn và trợ cấp bảo vệ môi trường (Điều 5 của hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng) Tuy nhiên cũng giống như hiệp định TRIMs, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng chỉ đề cập tới khía cạnh đầu tư liên quan tới thương mại.
Trên thực tế cho đến nay vẫn chưa có một quy định nào trong khuôn khổ WTO cho phép các nước sử dụng các biện pháp khuyên khích đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở đó làm chệch hướng, hay bóp méo, làm sai lệch các dòng đầu tư [3 l,tr 17] Có thể nói rằng các quy định hiện tại trong WTO về đầu tư bị giới hạn trong một phạm vi rất hẹp và thiếu sự liên kết Hiệp định NAPTA (giữa Mỹ, Canada, Mehico) đã đi xa hơn so với các Hiệp định của vòng đàm phán Uruguay
và dành hẳn một chương (chương XI) quy định về các biện pháp đầu tư, bàn đến hầu hết các cơ sở cho các thoả ước đầu tư song phương, các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư Nhằm thúc đẩy hơn nữa tự do hoá đầu tư, 29 nước thành viên trong tổ chức OECD cũng bắt đầu quyết định đàm phán một hiệp định đa phương về đầu tư (MAI) “Việc đàm phán để xây dựng một hiệp định đa phương
về đầu tư đã khoét sâu thêm mối rạn nứt bắc — nam trong nội bộ WTO bởi các nước đang phát triển thì phản đối cho rằng kế hoạch này chính là âm mưu của các nước giàu áp đặt đối với các nước nghèo mà không hề hỏi ý kiến họ Tổ chức OECD thì phớt lờ ý kiến và cho rằng chỉ bằng cách này mới nhanh chóng thoả thuận được về các quy định hữu hiệu cho đầu tư ” [11] Tuy nhiên trong quá trình đàm phán hiệp định, có rất nhiều ý kiến bất đồng đã nảy sinh và cuối cùng kết quả là các nước thành viên OECD đã nhất trí ủng hộ các cố gắng xây dựng một hiệp định đa phương về đầu tư trong khuôn khổ WTO khi tổ chức này đưa đầu tư trở thành một trong vấn đề mới tại hội nghị các Bộ trưởng ở Singapore (1996) Dưới tác động của sự lưu chuyển mạnh mẽ dòng tư bản giữa các quốc gia cũng như vai trò ngày càng quan trọng không thể phủ nhận của đầu tư trực tiếp nước ngoài, W TO nhận thấy rằng cần phải xây dựng một hiệp định đa phương (M ultilateral Investment Agreement - MIA) cho đầu tư quốc tế WTO đã thành lập nhóm nghiên cứu (Working Group) về mối quan hệ giữa đầu tư và thương mại Hội nghị các Bộ trưởng lần thứ 4 tại Doha vào tháng 11/2001 tiếp tục từng bước đàm phán để xây dựng những nguyên tắc đa phương cho FDI Mặc dù gặp phải những khó khăn trong việc cân bầng lợi ích giữa các nước phát triển và đang
Trang 31phát triển trong nội bộ WTO, cuối cùng hội nghị cũng đã thành công trong việc
đưa ra tuyên bố về sự cần thiết phải thiết lập một hiệp định đa phương về đầu tư
quốc tế, đổng thời nhóm nghiên cứu cũng tập trung đưa ra những vấn đề chính
làm cơ sở cho vòng đàm phán tiếp theo Những vấn đề chính đó là:
-Mở rộng khái niệm “đầu tư” Các nước phát triển cho rằng nên mở rộng
khái niệm không chỉ là đầu tư trực tiếp nước ngoài mà còn bao gồm mọi khoản
đầu tư dài hạn qua biên giới
-Áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử theo đó các nước thành viên
phải dành cho nhà đầu tư nước ngoài được hưởng nguyên tắc đối xử quốc gia và
tối huệ quốc
-Đòi hỏi về minh bạch hóa theo đó các nước thành viên phải có nghĩa vụ
thông báo cũng như minh bạch các luật, chính sách, thủ tục cấp phép đầu tư
-Bãi bỏ các yêu cầu thực hiện theo đó các nước thành viên sẽ không được
áp dụng các biện pháp như yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, về cân bằng xuất nhập
khẩu, yêu cầu chuyển giao công nghệ, yêu cầu sử dụng lao động nước sở tại, yêu
cầu tỷ lệ vốn góp tối thiểu trong liên doanh và những hạn chế cho việc chuyển
vốn và lợi nhuận ra nước ngoài
-Giảm dần và cấm sử dụng ưu đãi đầu tư Đây là một vấn đề gây nhiều
tranh cãi Theo các nước đang phát triển, việc sử dụng các biện pháp ưu đãi đầu
tư là một biện pháp cần thiết nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư vào những vùng, những lĩnh vực phù hợp với chính sách phát triển kinh tế đất
nước Ngược lại, các nước phát triển thì lại cho rằng việc sử dụng các ưu đãi đầu
tư sẽ là nguyên nhân dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các các nước
tiếp nhận đầu tư và việc bãi bỏ các quy định này nhằm tránh việc bóp méo, làm
chệch hướng trong đầu tư và thương mại
- Tăng cường các biện pháp bảo đảm đầu tư và có một cơ chế hiệu quả để giải quyết tranh chấp đầu tư: Theo nguyên tắc này, các nước thành viên sẽ áp
dụng các biện pháp để bảo vệ các khoản thanh toán qua biên giới, chuyển lợi
nhuận, các nguyên tắc đền bù trong trường hợp tài sản của nhà đầu tư bị quốc
hữu hoá
Những vấn đề được ghi trong tuyên bố của vòng Doha được tiếp tục đưa
ra thảo luận tại vòng Cancun vào tháng 10/2003 Trong tương lai không xa,
WTO sẽ có một hiệp định đa phương về đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục
đích khuyến khích tạo thuận lợi cho tự do hoá các dòng vốn đầu tư
Từ những phân tích trên có thể thấy, lý luận về khuyến khích đầu tư trực
tiếp nước ngoài được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Nếu nhìn nhận từ nước
tiếp nhận đầu tư thì khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một
biện pháp hữu hiệu để thu hút đầu tư thông qua những ưu đãi kinh tế có lợi mà
nước tiếp nhận đầu tư dành cho nhà đầu tư nước ngoài Nhưng theo quan điểm
Trang 32của số đông các nước phát triển cũng như trong khuôn khổ WTO thì lại nhìn nhận ưu đãi đầu tư như là những biện pháp làm chệch hướng, “bóp méo” dòng vốn đầu tư Theo cách tiếp cận này khuyến khích đầu tư nước ngoài được hiểu là tất cả các quy định tạo điều kiện thúc đẩy quá trình tự do hoá đầu tư, bãi bỏ các rào cản đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đối với Việt Nam-một nước đang phát triển thì FDI lại càng có vai trò quan trọng, đòi hỏi phải có một chính sách khuyến khích đầu tư hợp lý để thu hút dòng vốn đầu tư Mặt khác, Việt Nam cũng sớm nhận thức được rằng “Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế” ” [25, tr.41 ] Toàn cầu hoá làm cho thế giới xích lại gần nhau, tạo ra những sân chơi chung mà ở đó muốn không bị loại khỏi sân chơi chung thì phải tuân thủ luật chơi chung Và vì vậy, các quốc gia khác nhau buộc phải giao lưu hợp tác, đấu tranh, thoả nhượng để cùng được xây dựng luật chơi chung và tham dự vào sân chơi chung mà không bị phụ thuộc[18, tr.2]
Do đó trong những năm qua Việt nam đã chủ động từng bước hội nhập vào nền kinh tế quốc tế và khu vực, cố gắng đẩy nhanh tiến trình đàm phán để gia nhập W TO vào cuối năm 2005 Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư nói chung và các quy định về khuyến khích đầu tư nói riêng cho phù hợp với các cam kết quốc tế cũng như phù hợp với các quy định trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới
Trang 33CHƯƠNG // QUY ĐỊNH CỦA WTO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐAU t ư n ư ớ c n g o à i
— - — Ặ e « ể v — —
2 1 n h ũ n g q u y đ ị n h h i ệ n h à n h c ủ a w t o v ề k h u y ế n k h í c h ĐẦU T ư NƯỚC NGOÀI
Trong số các hiệp định của WTO đề cập tới vấn đề đầu tư, thì hiệp định Trims về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại là hiệp định quan trọng nhất-là bước thử đầu tiên của GATT nhằm mục đích khuyến khích đầu tư nước ngoài Các nước thành viên WTO nhận thấy rằng bên cạnh các quy định nhằm khuyên khích đầu tư, nước tiếp nhận đầu tư thường đưa ra những đòi hỏi thực hiện mà theo đó nhà đầu tư sẽ được hưởng một số ưu đãi đầu tư nếu thực hiện các đòi hỏi đó Mục đích của việc đưa ra các yêu cầu thực hiện là để bảo hộ nền sản xuất trong nước, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, cũng như góp phần thực hiện các chính sách kinh tế thương mại của nước tiếp nhận đầu tư trong từng thời kỳ nhất định Những yêu cầu thực hiện này rất phong phú có thể
là yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, yêu cầu chuyển giao công nghệ, yêu cầu vẻ tỷ lệ vốn góp trong doanh nghiệp liên doanh, yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu, yêu cầu về lao động Đây được coi là những biện pháp làm hạn chế hoặc chệch hướng thương mại, trở thành rào cản cho tự do hoá đầu tư quốc tế Với mục đích “thúc đẩy việc mở rộng và tự do hoá hơn nữa thương mại thế giới và thuận lợi hoá đầu
tư qua biên giới quốc tế nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế của tất cả các đối tác tham gia thương m ại” tại vòng đàm phán Uruguay, các nước thành viên của
W TO đã thảo thuận thông qua hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại v ề cơ bản, Hiệp định Trims tái khẳng định nghĩa vụ đãi ngộ quốc gia được quy định tại Điều 3 của GATT theo đó, không một nước thành viên nào được áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại trái với Điều III (đãi ngộ quốc gia) và Điều XI (cấm hạn chế về số lượng) của GATT Với quy định này, các nước thành viên không chỉ dành sự đối xử không phân biệt giữa hàng hóa của nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài mà còn phải không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, Điều đó có nghĩa rằng các nước thành viên phải cam kết dành cho nhà đầu tư nước ngoài những ưu đãi không kém thuận lợi hơn những ưu đãi dành cho nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài không thể trở thành chủ thể bị áp dụng những cơ chế riêng, quy phạm pháp luật riêng so với nhà đầu tư trong nước Tuy nhiên hiệp định đã không đưa ra khái niệm thế nào là “các biện pháp đầu tư” mà trong phụ lục chỉ liệt kê ra các biện pháp được coi là trái với nghĩa
Trang 34vụ được quy định tại hiệp định Các biện pháp không phù hợp với nghĩa vụ đối
xử quốc gia được quy định tại Điều III của GATT (1947) bao gồm những biện pháp mang tính chất bắt buộc hoặc được thực thi thông qua luật trong nước và các quyết định mang tính chất hành chính hoặc các điều kiện mà chỉ khi tuân các điều kiện này mới được hưởng một ưu đãi nào đó Biên pháp này có thể:
-Buộc một doanh nghiệp (đầu tư nước ngoài) phải mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất xứ trong nước hoặc từ một nguồn cung cấp trong nước (tỷ lệ nội địa hoá)
-Quy định doanh nghiệp chỉ được mua hoặc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu hoặc giới hạn trong một tổng số tính theo số lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất khẩu
Danh mục minh hoạ cũng được đưa ra các biện pháp đầu tư không phù hợp với quy định tại Điều XI (hạn chế số lượng) của GATT, bao gồm những biện pháp mang tính chất bắt buộc hoặc thực thi thông qua luật trong nước và các quyết định mang tính chất hành chính hoặc các điều kiện mà chỉ khi tuân thủ các điều kiện này mới được hưởng một ưu đãi nào đó và biện pháp này:
- Hạn chế kim ngạch hoặc giá trị hàng nhập hoặc sử dụng hàng nhập theo tỷ trọng tương đương với hàng xuất của doanh nghiệp nước ngoài (hay còn gọi là yêu cầu tỷ lệ về cân bằng xuất khẩu),
- Hạn chế khả năng tiếp cận đến nguồn ngoại tệ của doanh nghiệp hay yêu cầu đòi hỏi một doanh nghiệp nước ngoài phải xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu các sản phẩm của nó
Những biện pháp dù không có ở trong Danh mục minh hoạ nhưng trái với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia hoặc nghĩa vụ hạn chế sô' lượng cũng được coi là những biện pháp vi phạm hiệp định TRIMs
Đối với thành viên đang phát triển có thể tạm thời chưa phải là tuân theo nghĩa vụ trong hiệp định và được phép áp dụng một số biện pháp hiện bị coi là trái với nghĩa vụ trong hiệp định nhưng chỉ trong giới hạn có thể chấp nhận được theo quy định của hiệp định GATT liên quan đến việc bảo đảm cân bằng thanh toán và bảo hộ các ngành sản xuất mới thiết lập Tuy nhiên các nước này phải công bố rõ ràng việc áp dụng các biện pháp đó trong một thời gian nhất định
Hiệp định cũng quy định nghĩa vụ thông báo bắt buộc về tất cả các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại được áp đụng và việc loại bỏ tất cả các biện pháp này trong thời hạn 2 năm (đối với nước phát triển), 5 năm (đối với nước đang phát triển) và 7 năm (đối với nước chậm phát triển) Một ủ y ban về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại cũng được thành lập với chức năng giám sát việc thực hiện các cam kết Ngoài ra, hiệp định còn có các điều khoản về thông báo và công bô' các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại,
về thông tin và tư vấn khi có yêu cầu nhằm đảm bảo tính minh bạch Tuy nhiên
Trang 35trong quá trình đàm phán, có rất nhiều ý kiến bất đồng nảy sinh giữa các nước
phát triển và đang phát triển trong nội bộ WTO Do đó để dung hoà lợi ích, hiệp
định TRIMs đã tự giới hạn phạm vi của mình “chỉ áp dụng cho các biện pháp
đầu tư liên quan đến thương mại hàng hoá” chứ không áp dụng cho lĩnh vực
thương mại dịch vụ Mặt khác, Hiệp định cũng tự giới hạn vào một số biện pháp
cụ thể mà trước đây đã gây ra nhiều rắc rối trong những tranh chấp và đối thoại
về chính sách thương mại giữa các nước thành viên Mặc dù các nước thành viên
trong WTO đã cố gắng xây dựng một hiệp định nhằm khuyến khích, tăng cường
sự tự do hoá đầu tư quốc tế nhưng với một hiệp định ngắn gọn như hiệp định
TRIMs đòi hỏi các nước phải nghĩ đến việc xây dựng một cơ chế đa phương cho
đầu tư quốc tế nói chung và khuyến khích đầu tư nước ngoài nói riêng Hiệp
định TRIMS mới chỉ dừng lại ở việc đòi hỏi các quốc gia thành viên phải dành
cho nhà đầu tư nước ngoài sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành
cho các nhà đầu tư trong nước Những khía cạnh khác của vấn đề khuyên khích
đầu tư chưa được đề cập đến Trong tương lai không xa, khi hiệp định đa phương
về đầu tư được thông qua trong khuôn khổ WTO, sẽ có những quy định hữu hiệu
về khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn
nữa cho quá trình tự do hoá đầu tư và thương mại quốc tế
2.2 NHŨNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỂ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
nền kinh tế cho nên ngay từ những văn bản pháp lý đầu tiên về đầu tư nước
ngoài, Việt nam đã có những quy định về khuyến khích đầu tư Trong Hiến
pháp 1992 (Điều 25) cũng thể hiện tinh thần: “ N hà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhản nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt nam phù hợp với
pháp luật Việt nam" Như vậy khuyến khích đầu tư nước ngoài có định hướng là
một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm mang lại hiệu
quả lâu dài và tích cực đối với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước Trên cơ
sở hiến định này, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1992, Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1996, Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 cùng các văn bản hướng
dẫn thi hành đã từng bước xây dựng, hoàn thiện chế định về khuyến khích đầu tư
nước ngoài, đáp ứng được nhu cầu thu hút đầu tư trong bối cảnh cạnh tranh với
các nước cũng như phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của các cam kết quốc tế Các
biện pháp khuyên khích đầu tư được xây dựng đã định hướng, thu hút các nhà
đầu tư nước ngoài đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực, những địa bàn nhất
định cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng
thời kỳ Thực tiễn tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam
Trang 36trong những năm qua đã cho thấy vai trò và ý nghĩa to lớn của các quy định về
khuyên khích đầu tư cũng như càng khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và
Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định này v ề cơ bản, nội dung
của các quy định khuyến khích đầu tư nước ngoài trong pháp luật Việt nam là
tương đồng với các quy định trong pháp luật về đầu tư của nhiều nước trên thế
giới Các biện pháp đó bao gồm các biện pháp ưu đãi đầu tư, các biện pháp hỗ trợ
đầu tư và các biện pháp khuyến khích đầu tư khác được thể hiện cụ thể như sau:
2.2.1 Các biện pháp ưu đãi đầu tư
Cũng giống như các nước đang phát triển, ưu đãi đầu tư là một biện pháp
được sử dụng phổ biến trong các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam Ư u đãi đầu tư tác động trực tiếp tới tài chính của doanh nghiệp, từ đó
có ảnh hưởng sâu sắc tới quyết định của nhà đầu tư Do đó, ưu đãi đầu tư được
coi là một đòn bẩy kinh tế hữu hiệu trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các biện pháp ưu đãi đầu tư chủ yếu thông qua các quy định ưu đãi về thuế
Trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực rõ rệt trong cải cách các
chính sách về thuế, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp đồng thời khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào
Việt Nam Bên cạnh đó, Việt Nam còn ký kết các hiệp định song phương về
tránh thuế trùng 2 lần với hơn 40 nước, khổng ngừng hoàn thiện pháp luật đầu tư
Việt Nam cho phù hợp với những quy định của các cam kết và thông lệ quốc tế
2.2.1.1 Các quy định ưu đãi về thuê thu nhập doanh nghiệp
* ưu đãi vê th u ế su ất th u ế thu nhập doanh nghiệp và thời gian được hưởng th u ế su ất ưu đãi th u ế thu nhập doanh nghiệp.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận thu
được của doanh nghiệp sau khi trừ đi các chi phí có liên quan đến thu nhập chịu
thuế của doanh nghiệp Theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
(1996), luật sửa đổi bổ sung năm 2000, Nghị Định24/2000/NĐ-CP (31/7/2000),
Nghị Định 27/2003/N Đ -CP (19/3/2003) thì các dự án FDI (trừ dự án dầu khí)
được áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông là 25% Trong khi đó
đối với các nhà đầu tư trong nước, theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư
trong nước thì mức thuế thu nhập phổ thông là 32% Nhằm từng bước tạo ra mặt
bằng pháp ]ý chung theo hướng không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong
nước với nhà đầu tư nước ngoài, phù hợp với thông lệ và các cam kết quốc tế
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2003, Nghị Định 164/NĐ-CP
(22/12/2003) quy định chi tiết thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã quy
định mức thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông cho mọi loại hình doanh nghiệp
là 28% So với quy định trong luật đầu tư nước ngoài hiện hành thì thuế thu nhập
Trang 37doanh nghiệp phổ thông áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài đã tăng thêm 3% và nhiều nhà đầu tư nước ngoài cho rằng việc tăng mức thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông làm mất đi ý nghĩa của khuyến khích đầu tư thông qua ưu đãi về thuế Tuy nhiên mức thuế này vẫn được coi là mức thuế ưu đãi vì cùng với việc tăng mức thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông lên 28% là quy định về bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, do đó nhà đầu tư nước ngoài chỉ phải đóng thuế một lần thay vì 2 lần cho 2 loại thuế như trước đây Mặt khác so với các nước trong khu vực, thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức phổ thông áp dụng cho các dự
án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thuộc loại thấp vì mức thuế suất thu nhập công
ty của các nước thường vào khoảng 30% đến 60% như Trung Quốc 30%, Philipin 35%, Indonexia 15-35%, Ấn Độ 25-65%, Malayxia 30-40%, Hàn Quốc 18-32%, Myanmar 30%, Thái Lan 30%, Brunei 30%
Bên cạnh mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông thì tuỳ vào các lĩnh vực khuyến khích đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư khác nhau mà doanh nghiệp có thể được hưởng mức thuế suất ưu đãi 10%, 15% hay 20% Khi nhà đầu tư nước ngoài có dự án đầu tư vào những lĩnh vực khuyến khích đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư thì sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế suất đầu tư
Do đó những quy định này sẽ giúp Nhà nước định hướng đầu tư, hướng hoạt động đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực, những địa bàn cần phát triển phù hợp với chính sách phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên tuỳ vào chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ khác nhau mà Chính Phủ sẽ đưa ra danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư khác nhau Theo quy định của điều 3 luật đầu tư nước ngoài 2000 thì “Nhà nước Việt Nam khuyên khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực:
-Sản xuất hàng xuất khẩu
-Nuôi trổng chế biến nông lâm thủy sản
-Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái -Sử dụng nhiều lao động
-Xây dựng cơ sở hạ tầng và các cơ sở sản xuất công nghiệp quan trọng Đồng thời Điều 3 cũng quy định: Nhà nước Việt Nam không cấp phép đầu tư vào các lĩnh vực và địa bàn gây thiệt hại đến an ninh quốc qia, trật tự và
an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục và môi trường sinh thái Trên cơ sở quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Chính Phủ đã đưa ra danh mục các lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đặc biệt khuyên khích đầu tư, danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn tại Nghị Định 24/2002/NĐ-CP (31/7/2000) và Nghị Định 27 NĐ-CP bổ sung một số điều NĐ 24/2000, theo đó nhà đầu tư nước ngoài
sẽ được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi trong trường hợp:
-Thuế suất 20% áp dụng đối với:
Trang 38+Doanh nghiệp khu công nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ +Dự án sản xuất không thuộc dự án nêu tại Khoản 2, 3 Điều 46 NĐ24 -Thuế suất 15% áp dụng đối với:
+Dự án thuộc danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư
+Đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư
+Doanh nghiệp dịch vụ trong khu chế xuất
+Doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp
+Dự án sau khi kết thúc hoạt động chuyển giao không bổi hoàn tài sản cho nhà nước Việt Nam
-Thuế suất 10% đối với:
+Dự án có 2 tiêu chuẩn nêu tại khoản 2 điều này +Dự án thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư (theo quy định tại NĐ 27/2003)
+Dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư
+Doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, doanh nghiệp chế xuất trong lĩnh vực xuất khẩu
+Thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo và nghiên cứukhoa học
* v ề thời hạn được hưởng các m ức th u ế ưu đãi được quy định cụ thể tại
điều 46.4 Nghị định 24/2000/NĐ-CP theo đó: mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% được áp dụng trong 15 năm, mức thuế suất thuế 15% được áp dụng trong 12 năm, mức thuế suất 20% được áp dụng trong 10 năm kể từ khi dự
án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với các dự án đầu tư thuộc Danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư, thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trong Danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư; hoặc những
dự án đầu tư phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao; đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao; hay đầu tư vào lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học thì sẽ được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi suốt toàn bộ thời gian thực hiện dự án
Nhằm sửa đổi các đạo luật về thuế cho phù hợp với các hiệp định tránh đánh thuế trùng 2 lần mà Việt nam đã ký kết với các nước khác cũng như từng bước hoàn thiện hệ thống thuế cho phù hợp với các quy định quốc tế, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới sửa đổi và Nghị Định 164 NĐ-CP (22/12/2003) quy định chi tiết thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã được ban hành Theo các văn bản mới về thuế thu nhập doanh nghiệp này thì các quy định về hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trong trường hợp khuyến khích đầu tư đã được sửa đổi theo hướng quy định cụ thể điều kiện ưu đãi thuế thu nhập doanh
Trang 39nghiệp, danh mục ngành nghề lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Mặc dù mức thuế suất ưu đãi vẫn giữ nguyên ở các mức 1 0%, 15%, 2 0% nhưng các trường hợp để hưởng ưu đãi thuế suất đã có thay đổi so với các quy định trước
đó Cụ thể là:
-Thuế suất 20% áp dụng :
+Cho các cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư thuộc ngành nghề lĩnh vực khuyến khích đầu tư quy định tại danh mục A ban hành kem Nghị Định 164 NĐ-CP/2003
+Các cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn được hưởng ưu đãi quy định tại danh mục B ban bành kèm theo Nghị Định 164/2003 NĐ-CP
-Thuế suất 15% áp dụng đối với:
+Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư thuộc nghành nghề, lĩnh vực quy định tại danh mục A và thực hiện tại địa bàn quy định tại danh mục B phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 164NĐ-CP/2003
+Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại danh mục c ban hành kèm theo Nghị định 164/NĐ-CP/2003
-Thuế suất 10% áp dụng đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư thuộc ngành nghề, lĩnh vực quy định tại danh mục A và thực hiện tại địa bàn quy định tại danh mục c phụ lục ban hành kèm theo NĐ 164/2003
*Thời hạn áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi đối với mức thuế suất 1 0% áp dụng trong 15 năm, mức thuế 15% áp dung trong 1 2 năm
và mức thuế suất 2 0% áp dụng trong 1 0 kể từ khi cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư bắt đầu hoạt động kinh doanh Theo Nghị định 164/NĐ- CP/2003 không có quy định về trường hợp được hưởng thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi đến hết toàn bộ quá trình thực hiện dự án như trước đây
Theo đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài thì các quy định về thuế suất ưu đãi đầu tư quy định trong Nghị Định 164 kém ưu đãi hơn so với các quy định trước Ví dụ như theo quy định của Nghị Định 24/2000 và Nghị định 27/2003 sửa đổi bổ sung Nghị Định 24/2000, các doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, doanh nghiệp chế xuất trong lĩnh vực sản xuất được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 10% nhưng Nghị Định 164/2003 đòi hỏi các dự án này phải được thực hiện tại các địa bàn có điều kiện đặc biệt khó khăn mới được hưởng thuế suất ưu đãi 10% Tương tự như vậy, những doanh nghiệp dịch vụ trong khu chế xuất trước đây được hưởng 15% thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi, thì nay theo Nghị Định 164/2003 NĐ-
Trang 40CP, doanh nghiệp này phải thực hiện tại các địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn mới được hưởng thuế suất ưu đãi 15% Thêm vào đó, thời hạn hưởng
ưu đãi đầu tư cũng bị giới hạn ở mức 1 0, 1 2 hay 15 năm tùy thuộc vào ngành nghề và địa bàn của dự án Trước đây một số dự án đầu tư thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn, đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi 1 0% cho suốt đời dự án thì nay chỉ được hưởng mức 20% và thời hạn được hưởng là 10 năm Ngoài ra, NĐ164 cũng không có
sự phân biệt giữa các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư, đánh đồng các dự án cho nên, dự án đầu tư thuộc dự án khuyến khích đầu tư, ngành nghề khuyến khích đầu tư rất rộng (16 ngành nghề ), nhưng chưa thể hiện được tính chất đặc biệt khuyến khích đầu tư Do đó một số dự án đầu tư vào lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, các dự án đầu tư theo hình thức BOT, BT, BTO ỒỊ giảm ưu đãi hơn so với quy định trước đây
Mục đích của việc ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2003 và Nghị Định 164/NĐ-CP là tạo ra một mặt bằng pháp lý chung cho các loại hình doanh nghiệp, từng bước xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài cho phù hợp với các cam kết quốc tế và những quy định của WTO Mặt khác, việc quy định mức thuế suất ưu đãi 10, 15,
2 0% và thời gian hưởng mức thuế ưu đãi phụ thuộc vào địa bàn đầu tư là xuất phát từ ý định của nhà nước muốn định hướng khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những nơi xa xôi, khó khăn để thúc đẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên các nhà hoạch định chính sách đã không xét đến thực tế là hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ở Việt Nam đều tập trung tại khu vực các tỉnh đổng bằng, do đó những quy định của Nghị Định 164/NĐ-CP coi như không có tác dụng, đồng thời các doanh nghiệp cũ lại bị mất hết các ưu đãi về thuế đã được hưởng theo quy định trước đây Theo phản ánh của Hiệp hội các nhà đầu tư Nhật Bản tại Hổ Chí Minh và ban quản lý doanh nghiệp các khu chế xuất, khu công nghiệp, thì sự tăng mạnh thuế bất ngờ đã làm tăng chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu chế xuất, dẫn đến giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài đang và muốn đầu tư vào Việt Nam, gây cho các nhà đầu tư những tâm lý hoang mang, mất niềm tin vào chính sách và pháp luật của Việt Nam Vì vậy có rất nhiều nhà đầu
tư nước ngoài đã làm đơn xin Thủ tướng chính phủ giữ nguyên chính sách ưu đãi
về thuế như trước đây Căn cứ vào tình hình thực hiện và theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ tài chính, ngày 6 tháng 8 năm 2004 Thủ tướng chính phủ đã ban hành NĐ152/NĐ-CP sửa đổi bổ sung NĐ/164/NĐ-CP theo hướng cho các doanh