Mục đích nhiệm vụ của đề tài Thông qua việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích các quy định của pháp luật quốc tế về QCN Các quyền về dân sự và chính trị, các quyền về kinh tế, xã hội và vă
Trang 1^ MỘT SO VAN ĐELỸLƯẠN
CA THỰC TIEN VỂ NỘI LUẬT HÓA CÁC
i ) N G ƯỚC QUỐC TẾ VỂ QUYỂN CON
m NGƯÒI ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẶT HOC
Trang 2TẠ QUANG NGỌC■ ■
MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẺN v ề • • •
NỘI LUẬT HOÁ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỂ QUYỂN
CON NGƯỜI ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYẼN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ VÀ s o SÁNH
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS CHU HỔNG THANH 2 GS TS HANS - HEINRICH - VOGEL
HÀ NỘI - 2004
m
Trang 31 CHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
12 VBPL : Vãn bản pháp luật
Trang 4MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG ỉ: C ơ SỞ LÝ LUẬN “NỘI LUẬT H O Á ” CÁC CÔNG ƯỚC
ư ố c TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 6
I Q uyền con người và công ước quốc tế về quyền con n g ư ờ i 61.1 Lịch sử hình thành và phát triển quyền con người 61.2 Khái niệm quyền con người và luật quốc tế về quyền con người 111.2.1 K hái niệm quyền con n g ư ờ i 111.2.2 L uật quốc tế về quyền con người 14
II Q uan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, vấn đề nội luậthoá các công ước quốc tế 152.1 Cơ sở lý luận về nội luật hoá công ước quốc tế về quyền con ngưcd 152.2 Sự cần th iết của nội luật hoá các công ước quốc tế về quyền conngười 232.3 Thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người và vấn đề nộiluật hoá các C Ư Q T về quyền con n g ư ờ i 27CHƯƠNG II: Q U Á T R ÌN H N Ộ I LUẬT HOÁ CÁC CỒNG ƯỚC QUỐC
T Ế V Ề Q U Y ỀN C O N NGƯỜI Ở VIỆT N A M 33
I Sự hinh thành và phát triển hệ thống Pháp luật V iệt Nam bảo đảmthực hiện quyền con n g ư ờ i 331.1 Khái lược về quyển con người trong lịch sử dân tộc Việt nam từtrước năm 1945 .331.2 Sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảmquyền con người từ 1946 đến trước thời kỳ đổi m ới 35
a1.3 Sự phát triển hệ thống pháp luật V iệt Nam bảo đảm quyền con người từ năm 1986 đến n a y 41
Trang 5II Thực trạng nội luật hoá công ước quốc tế về quyền con người ở nước
ta hiện n a y 472.1 Nội luật hoá công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính tr ị 472.2 Nội luật hoá các công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và vănhoá 622.3 Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình nội luật hoá các côngước quốc tế về quyền con n g ư ờ i 742.4 N guyên nhân của những thành tựu và hạn ch ế về nội luật hoá cáccông ước quốc tế về quyền con người 76CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NỘI LUẬTHOÁ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ BẢO ĐẢM QUYỀN c o n n g ư ờ i
TRONG SựN G H IỆ P Đ ổ i MỚI ĐẤT n ư ớ c 823.1 Những quan điểm , chính sách của Đảng và N hà nước Việt Nam
về quyền con người trong sự nghiệp đổi mới đất n ư ớ c 823.2 Phương hướng bảo đảm thực hiện các công ước quốc tế về quyền conngười trong quá trình hoàn thiện hộ thống pháp luật Viột N am 863.3 M ột số giải pháp tiếp tục nội luật hoá các công ước quốc tế vềquyền con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước 91
K ẾT LU ẬN 96
D A N H M ỤC CÁC CH Ữ VIẾT T Ắ T 98
DA NH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CÁC V Ă N BẢ N PHÁP LUẬT 102
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, QCN luôn mang giá trị nhân văn cao quý, là mối quan tâm chung của nhân loại, cũng là một trong những vấn đề thiêng liêng quan trọng trong đời sống ở mỗi chế độ chính trị - xã hội Trong xã hội hiện đại, QCN được coi là những vấn đề thiết yếu cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, nó xuất hiện từ rất sớm và ngày càng được phát triển mở rộng hơn, nhất là khi nền kinh tế thế giới phát triển trong xu thế hội nhập toàn cầu, việc bảo đảm thực hiện tốt QCN đã và đang được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm sâu sắc
Trong quá trình phát triển lịch sử, có nhiều quan điểm, nghiên cứu về QCN (như: Hobbes, J J Rousseau, Montesquieu ) Với tư tưởng, xây dựng, các thiết chế, các biện pháp nhằm thực hiện iốt hơn QCN, cho đến nay vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau trong nhận thức về QCN, về cơ chế đảm bảo QCN Cho thấy QCN là vấn đề nhạy cảm và phức tạp, trong đời sống cộng đồng quốc tế Giữa các quốc gia có chế độ chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội và truyền thống cũng như phong tục tập quán khác nhau Rất khó khăn trong việc tìm ra những quan điểm thống nhất về QCN Nhưng ở mỗi thời kỳ, trong quá trình thực hiện, các quốc gia đều ghi nhận QCN trong HTPL của mình (như Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp năm 1789, Tuyên ngôn độc lập của Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945 )
Trong thế giới hiện đại sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ trên thế giới diễn ra mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện thuận lợi để đảm bảo thực hiện tốt hơn QCN QCN được xác định là một trong những nội đung trọng yếu của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia QCN không ngừng phát triển và mở rộng, nhất là sau
chiến tranh thế giới thứ 2 (ở những năm giữa thế kỷ 19) QCN đã được quy định trong
Luật quốc tế hiện đại, ở đó các cam kết quốc tế về QCN không chỉ được thực hiện ở một số quốc gia mà còn được thực hiện ở tất cả các quốc gia thành viên Trên cơ sở nội luật hoá các Công ước quốc tế phù hợp với điều kiện của quốc gia mình Mỗi quốc gia nhằm vào việc đảm bảo cho QCN được thực hiện trong thực tế
Quá trình thực hiện các quy định của pháp luật quốc tế về QCN cho thấy, không
Trang 7phải tất cả các quốc gia đều có thể kv kết hoặc tham gia đầy đủ các Công ước quốc tế
về QCN Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các cam kết quốc tế, mỗi quốc gia phải căn cứ vào các điều kiện về kinh tế, chính trị xã hội hay văn hoá, phong tục tập quán, truyền thống Nhằm thực hiện có hiệu quả các công ước quốc tế và đảm bảo quyền, lợi ích dân tộc Vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là phải có sự chuyển hoá các công ước quốc tế vào pháp luật quốc gia
Ở Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, chúng ta đã từng bước quan tâm, ghi nhận QCN Trong HTPL cùng với sự phát triển mở rộng QCN ở HTPL trong nước, chúng ta luôn nỗ lực cố gắng, tích cực tham gia các công ước quốc tế, nhằm từng bước phát triển và hoàn thiện pháp luật
về QCN, theo các chuẩn mực chung của quốc tế Chúng ta đã nội luật hoá các QPPL quốc
tế vào HTPL trong nước , thông qua hoạt động sửa đổi bổ sung hoặc xây dựng, ban hành các VBPL phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế
Trong thực tiễn Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chú trọng phát triển, hoàn thiện các cơ chế chính sách và pháp luật, phân tích ,đánh giá cũng như tạo các điều kiện thuận lợi cần thiết, để đảm bảo QCN phù hợp với các công ước quốc tế trong điều kiện hoàn cảnh kinh tế, chính trị văn hoá xã hội và các phong tục tập quán, truyền thống của Việt Nam Nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN đáp ứng hợp lý với xu hướng phát triển kinh tế , khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực của đời sống nhân loại, rút ngắn khoảng cách, bất bình đẳng giữa các quốc gia Bảo vệ và thực hiện tốt QCN không còn là công việc riêng của quốc gia mà còn là vấn đề mang tính toàn cầu Do đó phải xem xét, nghiên cứu , rà soát hệ thống các VBPL nói chung, từng bước hoàn thiện HTPL quốc gia Tạo điều kiện thuận lợi để nội luật hoá các điều ước quốc tế, nhất là đối với các công ước quốc tế về QCN, thực hiền hội nhập khu vực và quốc tế, phù hợp với quy luật khách quan Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: " chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các ĐƯQT về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia" [20, tr.134]
Để pháp luật nói chung và những quy định của pháp luật về QCN được tôn trọng
Trang 8và bảo đảm thực hiện trên thực tế Trong những năm qua (nhất là từ 1986 đến nay) chúng ta đã từng bước nâng cao kỹ thuật lập pháp, ban hành và hoàn thiện các cơ chế, thủ tục, thực hiện giám sát nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và
có hiệu quả, đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn đặt ra trong quá trình đổi mới, phù hợp với các quy định của luật quốc tế, nhằm tôn trọng, bảo vệ QCN Trong khi hiện nay vẫn còn một số thế lực lợi dụng nhân quyền (trong luận văn sử dụng nhân quyền và QCN được hiểu thống nhất như nhau) để phục vụ cho mục đích chính trị và can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, nhất là đối với các quốc gia chậm hoặc đang phát triển Do đó, để đảm bảo các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, mỗi quốc gia cần thiết phải vận dụng và chuyển hoá các công ước quốc tế nói chung, cũng như công ước quốc tế về QCN, trong quá trình xây dựng và ban hành HTPL quốc gia
2 Tình hình nghiên cứu
Đến nay, QCN đã được nhiều tổ chức quốc tế và các quốc gia quan tâm nghiên cứu, có những công trình, bài viết, bài phát biểu và báo cáo của các quốc gia về việc thực hiện QCN hiện nay như: ‘Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” trong lịch sử tư tưởng
về QCN của NERSESJANCE, V.S; Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền và các QCN trong thế giới hiện đại của KARTASHKIN.V.A; Hiện thực mới trên thế giới và QCN của PENOUSKIN;
Ở nước ta, QCN cũng được đề cập từ rất sớm đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nh-ều bài viết của các nhà khoa học về QCN như: “QCN, quyền công dân” của Học viện Chính trị Quốc gia Hổ Chí Minh, xuất bản năm 1993; “Tuyên ngôn độc lập” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và một số vấn đề giá trị nhân quyền hiện đại cụa PGS-T.S Chu Hổng Thanh; Sự phát triển Quyền dân sự và chính trị trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam do GS-T.S Hoàng Văn Hảo làm chủ nhiệm đề tài; “ QCN, quyền công dân” của GS-T.S Hoàng Văn Hảo và Chu Thành năm 2000; Việt Nam với vấn để QCN của Luật gia Nguyễn Chí Dũng năm 1992 Tuy nhiên các công trình khoa học, các bài viết đó đã đi nghiên cứu một cách tổng quát hoặc chuyên sâu về QCN, luận giải phân tích, đánh giá các vấn đề về QCN dưới các giác độ khác nhau, nghiên cứu và đưa ra các thiết chế bảo đảm QCN đã có công trình đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ giữa luật quốc tế với luật quốc gia, nhưng chưa có công trình, bài viết nào đi sâu nghiên cứu toàn
Trang 9diện và có hệ thống về vấn đề nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của minh
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
QCN có phạm vi và nội dung rất rộng Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, tác giả không có tham vọng nghiên cứu tất cả các công ước quốc tế về QCN, mà chỉ nghiên cứu việc nội luật hoá đối với các công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam ký kết
hoặc tham gia Trong đó sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu hai công ước đó là: “công ước quốc tế vé các quyền dân sự và chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hoá” là hai công ước được Đại hội đổng Liên hợp quốc thông qua
ngày 16/12/1966
4 Mục đích nhiệm vụ của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích các quy định của pháp luật quốc tế về QCN (Các quyền về dân sự và chính trị, các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá) từ đó đưa ra những nhận thức về lý luận và thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc nội hoá các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam, hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện QCN ở nước ta trong mối quan hệ với các công ước quốc tế về QCN Vì vậy đề tài tập trung làm sáng
tỏ các vấn đề sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình nội luật hoá
và thực hiện các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam hiện nay;
- Rà soát, hệ thống hoá các VBPL Việt Nam quy định về QCN mà Việt Nam tham gia ký kết hoậc phê chuẩn, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế với pháp luật quốc gia;
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề nội luật hoá các Công ước quốc tế về QCN ở nước ta hiện nay, những thành tựu đã đạt được và hạn chế còn tổn tại, từ đó tìm kiếm các giải pháp, kiến nghị góp phần bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật về QCN trong quá trình nội luật hoá
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận Mac Lênin Đổng thời luận văn còn kết hợp các phương pháp như phân tích, thống kê, so sánh, phương pháp lịch sử để nghiên cứu đề tài
6 Những điểm mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ khái niệm "nội luật hoá" các công ước quốc tế, sự cần thiết phải nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN
- Luận văn phân tích quá trình hình thành và phát triển HTPL của Việt Nam
và thực trạng nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam hiện nay
- Từ nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn và các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước Viột Nam, luận văn xác định một số phương hướng chủ yếu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN trong sự nghiệp đổi mới đất nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về nội luật hoá các Công ước quốc tế về QCN.
Chương II: Quá trình nội luật hoá các Công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam Chương III: Phương hướng, giải pháp nội luật hoá QCN trong sự nghiệp đổi
mới đất nước
Trang 11CHƯƠNG I
C ơ SỞ LÝ LUẬN “NỘI LUẬT HOÁ” CÁC CÔNG ƯỚC« • •
QUỐC TẾ VỂ QUYỂN CON NGƯỜI
I QUYỂN CON NGƯỜI VÀ CÔNG ước QUỐC TỂ VỀ QUYỂN CON NGƯỜI
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển quyền con người
Nếu xem xét QCN từ góc độ lịch sử (qua các hình thái kinh tế, xã hội trong lịch
sử) thì QCN cũng có quá trình phát triển từ thấp đến cao, ngày càng phát triển cả về
chiều sâu và chiều rộng với nội dung phong phú, đa dạng Đến nay QCN không chỉ
được xuất hiện từ những quan niệm, quan điểm của các nhà tư tưởng kinh điển vĩ đại,
nó còn được ghi nhận trong HTPL trong nước và pháp luật quốc tế Vì vậy QCN đã và
đang trở thành mối quan tâm, những vấn đề mang tính toàn cầu trong đời sông của
cộng đồng nhân loại
Mặc dù QCN có quá trình hình thành và phát triển gắn liẻn với lịch sử phát triển
của xã hội Nhưng không phải khái niệm hay chế định về QCN được đề cập đến từ khi
xuất hiện loài người, mà nó chỉ xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp Trong xã
hội ấy, nhu cầu đòi hỏi phải xác lập những sự bình đẳng trong xã hội giữa hai giai cấp
thống trị và bị trị đã đánh dấu sự hình thành QCN trong lịch sử Từ đó đến nay các vấn
đề về nhân quyền liên tục phát triển qua các giai đoạn khác nhau, từ những tư tướng giải
phóng con người đến các cuộc cách mạng đã giành lại cho con người những quyền cơ
bản vốn có của họ được ghi nhận trong các văn bản pháp lý ở các cấp độ khác nhau
(quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới) Chúng ta có thể phân tích sự hình thành và phát
triển các quyền của con người qua bốn giai đoạn cụ thể sau [1, tr.7-19]
* Giai đoạn thứ nhất: (Giai đoạn xuất hiện tư tưởng về QCN) Trong thực tế tư
tưởng về QCN ra đời từ rất sớm, cùng với sự ra đời của Nhà nước Bước đầu chỉ là
những quan niệm, tư tưởng và nhận thức sơ khai về QCN, ở thời kỳ này QCN đã dẩn
phát triển Từ những tư tưởng đó, nó đã nhanh chóng được đề cập trong các đạo luật,
bộ luật ở xã hội cổ đại (như trong bộ luật La Mã cổ đại, Luật Manu, Luật Hamurabi )
Trang 12trong đạo luật của vua Babilon (Hoàng đế Hamurabi) thế kỷ 18 TCN đã ghi nhận: “Ta thiết lập những điều luật này nhằm ngăn ngừa kẻ mạnh áp bức kẻ yếu” [l, tr.7] Có thể nói, bộ luật này tuy là công cụ phục vụ cho mục đích thống trị, nhưng phần nào đó nó cũng đã chứa đựng được tư tưởng về bình đẳng, nhân đạo và dân chủ Cũng trong giai đoạn này, trong xã hội Trung Quốc cổ đại đã sớm xuất hiện quyền bình đẳng tự nhiên của con người, quyền tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân đã được Mặc Tử đề cập tới (478 - 392 TCN).
Đến thời Trung cổ, QCN tiếp tục phát triển Với vai trò thống soái, can thiệp vào các lĩnh vực chính trị xã hội của giáo hội, tôn giáo đã chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội Điều đó được thể hiện trong các học thuyết thần quyền của mình Thomas
Đa canh (1225 - 1274) Khi đề cập đến vấn đề con người ông cho rằng: “ Thần dân có quyền sống, hôn nhân và sinh đẻ, nhà cầm quyền không thể xâm phạm” hay quan niệm
“quyền lực nhân dân tối cao" của nhà tư tưởng Arập Abum Ala Maari (973 - 1057) đã đánh giá và đề cao vai trò của con người trong xã hội Qua đó cho thấy, mặc dù ở thời
kỳ này, tư tưởng về QCN còn chưa phổ biến, dưới góc độ Nhà nước và pháp luật thì chưa được phản ánh đầy đủ
Nhưng khi chúng ta xem xét về nguồn gốc của tư tưởng nhân quyền thì ít nhiều giữa các tư tưởng ở các giác độ khác nhau (tôn giáo, triết học và pháp luật) đã bước đầu
có sự kết hợp hài hoà Mặt khác nó cũng đã thể hiện được nhu cầu, khát vọng của quần chúng nhân dân trong xã hội về QCN, điều đó thể hiện là các tư tưởng, quan điểm này đều liên quan, gắn bó với đời sống xã hội của con người, hướng tới tự do, nhân đạo và
đề cập đến một số yêu sách chính trị Với sự xuất hiện các tư tưởng về QCN ở thời kỳ này, mặc dù còn mang tính sơ khai, nhưng nó đã đặt nền móng quan trọng trong lịch sử hình thành và từng bước phát triển QCN trong đời sống nhân loại
VI vậy, như ở trên đã nêu, mặc dù quốc gia có những điều kiện kinh tế, chính tri
xã hội khác nhau, tổ chức bộ máy Nhà nước và nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước cũng như các yếu tố khác có tác động ảnh hưởng sâu sắc đến việc đảm bảo nhân quyền thì tuỳ thuộc vào những điều kiện cụ thể của mỗi nước để chuyển hoá được các quy định của pháp luật quốc tế vào HTPL trong nước, có thể hình thức chuyển hoá là khác nhau (như chuyển hoá, tiếp nhận trực tiếp hoặc ban hành các quy định mới nhắc lại nội dung của các CƯQT, hoặc sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật trong nước cho
Trang 13phù hợp với CƯQT để tham gia công ước đó ).
* Giai đoạn thứ hai: (Giai đoạn hình thành và hưng thịnh các tư tưởng học thuyết về QCN)
Xã hội phong kiến ra đời đã xoá bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội mà ở
đó con người chỉ được coi là “công cụ biết nói”, mặc dù "trên thực tế, địa vị của người
nông dân chỉ khác rất ít địa vị của nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ" [2, tr.87] quyền
con người không được bảo vệ thể hiện: " ở đâu người nông dân cũng được đối xử
như một đổ vật, như một súc vật thô" [3, tr.471] Chính vì vậy, Nhà nước phong kiến đã
đánh dấu một sự tiến bộ và phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên Nhà nước phong
kiến đã thiết lập HTPL phong kiến với những quy định khắt khe hà khắc, sự phân biệt
sâu sắc đẳng cấp cùng với điều kiện phát triển kinh tế, chính trị khép kín đã triệt tiêu,
kìm hãm sự phát triển QCN mọi quyền lực tập trung vào tay nhà vua "sự tuỳ tiện là
quyền lực của vua, hay quyền lực của vua là sự tuỳ tiện" [4, tr.335] trong khi quyền tự
do, dân chủ của con người vẫn là những nhu cầu trực tiếp bức súc mà nhân loại vươn
tới Vì vậy các cuộc đấu tranh chống lại giai cấp thống trị tiếp tục diễn ra Với sự ra đời
và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Tây âu, giai cấp tư sản ngày
càng lớn mạnh dương cao các khẩu hiệu về bình đẳng, tự do, dân chủ, bác ái vì thế đã
nhanh chóng thu hút, tập hợp đông đảo các lực lượng tiến bộ xã hội tiến hành các cuộc
đấu tranh không khoan nhượng, chống lại chế độ chuyên chế phong kiến và các tầng
lớp thượng lun quý tộc, nhà thờ Sự phục hưng và phát triển các giá trị nhân vãn ở thời
kỳ cổ đại đã mang lại thắng lợi cho cách mạng tư sản, một hình thái kinh tế xã hội mới
xuất hiện, hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa ở giai đoạn này QCN không chí
được thể hiện qua tư tưởng mà nó còn kế thừa, phát triển những tư tưởng tiến bộ thời kỳ
cổ đại thành các học thuyết pháp lý tự nhiên của giai cấp tư sản Với những quan niệm
coi quyền này là quyền bẩm sinh của con người Sự ra đời của Nhà nước và pháp luật
chỉ là sự thoả thuận thông qua ý chí của con người, xác lập nên mối quan hệ giữa Nhà
nước với công dân, những mối quan hệ giữa con người với con người Từ đó phủ nhận
quan niệm cho rằng nguồn gốc của Nhà nước và pháp luật là do thượng đế, chúa trời
hay các tôn giáo, kinh thánh tạo ra, quy định nên
Những tư tưởng, quy định của pháp luật thời kỳ này vẫn còn có những hạn chế
Trang 14nhất định, nhưng nó đã thể hiện những nội dung, tư tưởng tiến bộ góp phần cổ vũ, động viên, thúc đẩy con người tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại sự ngự trị của vương quyền và thần quyền đối với con người, phục hưng lại các giá trị nhân văn cao quý của nhân loại theo tinh thần nhân đạo tư sản.
Đến thế kỷ 18, Monstesquieu, một trong những nhà tư tưởng khai sáng pháp đã
kế thừa và phát triển học thuyết về quyền tự nhiên của con người, trong tư tưởng của Locke, theo ông "con người sinh ra vốn bình đẳng và cần phải được bảo vệ ở các chế
độ xã hội" và "Trong trạng thái tự nhiên, mọi người sinh ra bình đẳng" [5, tr.87] Monstesquieu cũng như các nhà khai sáng Pháp đã cổ vũ cho cách mạng tư sản Pháp, phủ nhận vai trò của thần quyền, giáo hội ở thời kỳ trước đối với con người
Đến thế kỷ 19 nhà duy tâm khách quan Hegel và các tư tưởng vĩ đại trong thời
kỳ này như John Locke, J.J Rouseau tiếp tục kế thừa, phát triển các tư tưởng trước
đó để thiết lập, xây dựng các nguyên tắc cơ bản ban đầu về QCN, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm quyền tự do của cá nhân, mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân,
tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước (như cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp) Bởi vì con người sinh ra vốn là tự do và bình đẳng, vì vậy đòi hỏi phải được bảo đảm những tự do bình đẳng đó cho con người
Trong giai đoạn này, tự do, dân chủ, bình đẳng và bác ái khòng chỉ là khẩu hiệu mà phần nào nó đã bước đầu được gh nhận trong các vãn bản pháp lý như trong đạo luật của Anh về các quyền (1689), Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) đã khẳng định “Tất cả mọi người dàn đều sinh ra và có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” [6, tr.96] Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền Pháp (1789) cũng như các vãn bản pháp lý khác của một sô' nước trên thế giới thời kỳ này cũng tiếp tục khẳng định, ghi nhận và phát triển các QCN Như vậy các tư tưởng
và các văn bản pháp lý trong giai đoạn này đã đánh dấu một bước tiến bộ phát triển vĩ đại trong lịch sử phát triển QCN Nhất là với việc ghi nhận QCN thành những chế định trong các văn bản pháp lý, như Jacques Mourgon đã khẳng định: "không có pháp luật thì không có quyền" [7, tr.ll] góp phần cống hiến cho nhân loại một trong những giá trị nhân văn cao cả
Trang 15* Giai đoạn thứ ba: (Từ cuối thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới lần thứ
hai - tư tưởng về QCN bị lắng chìm)
Sau khi cách mạng tư sản thành công, giai cấp tư sản đã bộc lộ những tính chất phản động của mình, từ bỏ ngọn cờ dân chủ, tự do, binh đẳng, bác ái mà họ đã giương cao trong cuộc cách mạng trước đó Vì thế các tư tưởng cũng như quy định về QCN trong giai đạo này tạm thời chìm lắng Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã phát triển chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, cùng với những cuộc chạy đua vũ trang, tranh giành lợi nhuận, sự phân biệt chủng tộc đã đưa con người tới một thảm hoạ của hàng trăm cuộc đấu tranh đẫm máu nổ ra khắp nơi trên thế giới Các cuộc chiến tranh đi qua để lại những hậu quả khủng khiếp cho nhân loại, hàng chục vạn mạng sống của con người
đã bị cướp đi, sự tàn phá, huỷ diệt môi trường sống vẫn còn ảnh hưởng nặng nề cho đến ngày nay, bệnh tật, nghèo nàn, lạc hậu cũng là hậu quả tất yếu mà cuộc chiến đó đã để lại cho con người Như vậy, sau một thời kỳ QCN phát triển mạnh mẽ QCN lại bị vi phạm trong đời sống xã hội lịch sử nhân loại lại một lần nữa chứng kiến sự lắng chìm
và lãng quyên vấn đề QCN
* Giai đoạn thứ tư: (Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay - thời kỳ
phát triển của tư tưởng về QCN)
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước đổng minh chống phát xít đã giành thắng lợi Song lực lượng tiến bộ trên thế giới cũng như nhân loại vẫn kinh hoàng về hậu quả của các cuộc chiến tranh Trước tình hình đó các quốc gia nhận thức rằng QCN không chỉ bảo đảm ở phạm vi quốc gia mà cần phải được bảo
vệ trên phạm vi toàn cầu
Nếu ở các giai đoạn trước, tư tưởng, quan điểm trong nhận thức về tự do, dân chủ, bình đẳng của mỗi con người và vấn đề bảo vệ quyền cơ bản của con người đã được đề cập, ghi nhận ở mức độ trong phạm vi các quốc gia những chuẩn mực quốc tế cần phải được ghi nhận thành những chế định pháp lý, trên cơ sở đó, để ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với mọi quốc gia thì ở giai đoạn này, lần đầu tiên trong lịch sử cộng đồng quốc tế đã quan tâm và đảm nhận trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ nhân quyền, đưa QCN vào thực hiện trong đời sống cộng đổng quốc tế Với Hiến chương Liên hợp quốc ngày 24 tháng 10 năm 1945 và Tuyên ngôn nhân quyền tháng 12 năm
Trang 161948 thể hiện nội dung về bảo vệ QCN không chỉ ở cấp độ quốc gia mà nó còn được bảo vệ trên phạm vi toàn cầu Những quyền tự do cơ bản của con người lần đầu tiên được khẳng định trong các văn bản pháp lý quốc tế từ đó đến nay, QCN đã không ngừng được mở rộng và phát triển, Với hàng chục công ước quốc tế về QCN được các quốc gia thừa nhận và cam kết thực hiện (như Công ước chống tội diệt chủng (1948), Công ước chống phân biệt chủng tộc (1965), các công ước về tỵ nạn (1951), Công ước
về các quyền chính trị của phụ nữ (1952), Công ước về các quyền dân sự, chính trị của con người và Công ước các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (1966) và các hiệp định, hiệp ước hay nghị định thư về QCN được Liên hợp quốc thông qua trong những năm gần đây, trong đó có những công ước thể hiện tính nhân đạo, ghi nhận tinh thần trách nhiệm sự quan tâm tôn trọng và bảo đảm thực hiện QCN của cộng đồng quốc tế
Như vậy, QCN đã được hình thành, kế thừa và phát triển qua các giai đoạn khác nhau, từ chỗ chỉ được thể hiện trong tư tưởng, quan niệm về con người, QCN Đến nay
nó đã được ghi nhận, phát triển mở rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại QCN cũng đã được đề cập đầy đủ và toàn diện hơn trong các văn kiện pháp lý quốc tế Các nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ quốc tế đảm bảo thực hiện QCN đã được xác lập, phù hợp với sự phát triển tiến bộ, đúng quy luật của thời đại đáp ứng đưạc các nhu cầu bức súc, những đòi hỏi của con người là phải tôn trọng những phẩm giá vốn có của con người, quyền tự do, bình đẳng giữa con người với con người trong mỗi quốc gia, khu vực và trên phạm vi toàn cẩu Góp phần giữ vững an ninh hoà bình thế giới
1.2 Khái niệm quyền con người và luật quốc tế về quyền con người.
1.2.1 Khái niệm quyền con người
Trong thực tiễn cũng như trên phương diện lý luận, QCN là một trong những vấn đề nhạy cảm Hiện nay QCN đã và đang được xác định là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia và cộng đồng nhân loại Trong lừng giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử xã hội và cho đến nay luôn có các cuộc tranh luận với những quan điểm, cách tiếp cận cũng như quan niệm khác nhau về QCN Xác định khái niệm QCN là một trong những khó khăn phức tạp tồn tại trong quá trinh hình thành, phát triển QCN Đến ngày nay, mặc dù trong luật quốc tế hiện đại, đã cố quy định những nguyên tắc cơ bản
về thực hiện các cam kết quốc tế nói chung và các cam kết quốc tế về QCN nói riêng
Trang 17thì việc bảo đảm thực hiện QCN, quan niệm, nhận thức về nó vẫn luôn có những khoảng cách và sự khác nhau, đôi khi mâu thuẫn, trái ngược nhau Việc phân tích, nghiên cứu về con người, QCN để nâng cao nhận thức từ đó có những quan điểm đúng đắn trong nhìn nhận đối với QCN là một trong những vấn đề bức súc có tính thời đại
Có nhận thức đúng đắn về QCN thì trên cơ sở đó chúng ta mới xác định được những nội dung, điều kiện cần thiết để xây dựng những cơ chế, chính sách pháp luật trong nước và quốc tế phù hợp với yêu cầu đấu tranh và bảo vệ con người Trong thế giới hiện đại, hoàn thiện HTPL trong việc bảo vệ QCN là rất cần thiết và cần được ưu tiên hàng đầu
Trong lịch sử, nhận thức về QCN xuất hiện từ rất sớm nhưng khái niệm về QCN phải đến thế kỷ 17, 18 mới được đề cập trong tư tưởng của các nhà tư tưởng nổi tiếng và
nó đã trở thành học thuyết về QCN Trong thực tiễn QCN đã được các quốc gia nhanh chóng tiếp cận, vì thế nó đã ưở thành vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia và nhanh chóng được tiếp tục quốc tế hoá Bởi vậy khái niệm QCN đến nay vẫn
vô cùng phức tạp ở phạm vi quốc gia, khu vực cũng như trên bình diện quốc tế Các quan niệm về QCN được thể hiện ỏ các khía cạnh khác nhau, trong các khía cạnh ấy, có khía cạnh đề cập đến QCN trong xu thế tuyệt đối hoá giá trị tự nhiên, cho rằng “ Con người thì đương nhiên phải có QCN, bản thân con người cũng là sản vật của tự nhiên sinh ra” (2) và QCN là thuộc tính tự nhiên vốn có của con người Cũng trong quan niệm về giá trị
tự nhiên của QCN, nhưng ở thòi kỳ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã tác động trực tiếp vào đòi sống xã hội thì QCN trở nên phức tạp hơn
Bên cạnh những quan niệm này còn có nhiều quan niệm khác về nhân quyền như có quan niệm nhấn mạnh về nội dung đạo đức của con người, có quan niệm lại đề cao các bản tính vốn có của con người, coi tự do lằ là giá trị tối cao và phổ biến “ nhân quyền cao hơn chủ quyền” “ nhân quyền không biên giới quốc gia” Vì thế nhân quyền
là điểm xuất phát, cũng là đích cuối cùng là giá tri cao nhất trong mọi giá trị có thể nói còn có rất nhiều quan niệm khác nhau về QCN, có khi trái ngược nhau Khái niệm nhân quyền là một vấn đề phức tạp nó luôn chứa đựng những yếu tố mâu thuẫn cả trên thực tiễn cũng như lý luận Bởi lẽ QCN vừa thể hiện những giá trị chung, phổ biến lại vừa mang những giá trị đặc thù riêng biệt Vừa trừu tượng lại vừa cụ thể QCN thể
Trang 18hiện những khả năng xu hướng và nhu cầu cần được xã hội thừa nhận và Nhà nước đảm bảo thực hiện trong thực tiễn của đời sống xã hội.
V Theo quan niệm chung hiện nay: "Quyền con người l à những năng lực, nhu
cầu vốn có và chỉ có ở con người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại
được thể chế hoá bằng pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế [8, tr.26]
Từ những quan niệm khác nhau ở trên, chúng ta có thể hiểu tổng quát về khái niệm QCN như sau: "QCN, khả năng tự nhiên và khách quan của con người, với tư cách là con người và là thành viên trong xã hộị, được đảm bảo thực hiện bởi HTPL iquốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế về các giá trị cao quý của con người trongcác quan hê về vật chất, văn hoá và tinh thần, các nhu cầu về tự do, phát triển"
QCN là khả năng của con người vì nó xuất hiện xu hướng, nhu cầu, quan niệm, lợi ích, khát vọng và được xác định trong xã hội với những nội dung cụ thể Trong chuỗi quan hệ quyền - thực hiện quyền - bảo vệ quyền - kiểm soát quyền thì quyền mới
là thể hiện năng lực, lợi ích, ý trí
QCN thể hiện khả năng tự nhiên và khách quan của con người, do con người nắm giữ trong mối quan hộ với tự nhiên, xã hội, Nhà nước và với những cá nhân con người khác Mỗi con người sinh ra đã có những quyền bình đẳng, tự do, mưu cầu hạnh phúc
Con người tổn tại thực tế trong cuộc sống vừa với tư cách cá thể riêng biệt, vừa với tư cách thành viên của cộng đồng xã hội, là cồng dân của một quốc gia, là thành viên của nhóm, cộng đổng, hình thành nên xã hội loài người Fedeirico Mayer từng viết:
"Trong mỗi con người là duy nhất, song chỉ có một xã hội loài người” [1, tr.27]
QCN phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm truyền thống và lịch sử quốc gia, được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận, điều chỉnh và luôn bị hạn chế bởi các chế định pháp lý và đời sống thực tế Bởi vì: "Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế quyết định" [9, tr.36] QCN vừa cần đến nhà nước, xác nhận vai trò của Nhà nước trong
tổ chức xã hội, vừa đặt ra các yêu cầu hạn chế và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực từ phía Nhà nước làm xâm hại đến QCN, "Quyền con người, quyền công dân khi được
Trang 19Hiến pháp, luật ghi nhận trở thành độc lập với bất kỳ quyền uy nào kể cả cơ quan viên chức Nhà nước cao nhất" [10, tr.50].
QCN phải được bảo vệ bằng pháp luật, được thể chế hóa trong pháp luật, là mục đích của việc sử dụng pháp luật Trong quan hệ với Nhà nước và pháp luật, nhân quyền
là mục tiêu còn Nhà nước và pháp luật là phương tiện, là công cụ thực hiện mục tiêu đảm bảo QCN Các QCN là các giá trị xã hội cần phải được quy phạm hoá bằng pháp luật theo các yêu cầu xã hội khách quan QCN là giá trị khách quan, vận động trong sự ghi nhận của pháp luật một cách tất yếu, không thể tùy tiện "tặng cho", "ban phát", cũng không thể "mở rộng" hay "thu hẹp" QCN theo ý trí chủ quan hoặc sự áp đặt hành chính thuần tuý
1.2.2 Luật quốc tế về quyền con người.
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến chưa có những chế định cụ thể về QCN ở trong HTPL quốc gia cũng như chưa hình thành HTPL quốc tế Do đó QCN và vấn đề bảo vệ con người chưa được đặt ra trong luật quốc tế (Lúc này các QPPL quốc
tế điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực giữa các quốc gia ở thời kỳ cổ đại và trung đại để giải quyết các vấn đề về tranh chấp lãnh thổ, về chiến tranh để thôn tính đất đai và nguồn nhân lực được thiết lập rất ít và giản đơn)
Cách mạng tư sản diễn ra dưới ngọn cờ tự do, dân chủ, bác ái và bình đẳng đã giành được thắng lợi với sự tham gia đông đảo của nhân dân và các lực lượng tiến bộ xã hội Cách mạng tư sản đã để lại cho nhân loại những giá trị có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vộ nhân quyền Đó là việc ghi nhận QCN bằng các chế định pháp lý cụ thể nhưng nó
đã thức tỉnh lương tri tiến bộ trên thế giới nhận thức và đấu tranh cho các quyền và tự do
cơ bản của con người Tuy nhiên không được bao lâu, giai cấp tư sản đã phản động từ bỏ ngọn cờ dân chủ, tự do, bình đẳng tiến bộ đó, để thực hiện mục đích chính trị của mình
Vì vậy, QCN chỉ được ghi nhận trong pháp luật nhiều khi vẫn mang nặng tính hình thức Những khát vọng tự do và các quyền cơ bản của con người đã bị lắng chìm trong hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc
Đến những năm cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, đánh dấu bằng cách mạng tháng mười Nga vĩ đại QCN được xem xét và đề cập đến một cách khá toàn diện triệt để hơn trong luật quốc tế hiện đại Với tư tưởng của chủ nghĩa Mac Lênin quyền tự do cơ bản
Trang 20của con người không những được ghi nhận mà nó còn được xem xét và bảo đảm thực hiện trên cơ sở thực tiễn của các điều kiện kinh tế xã hội Bằng những cơ chế chính sách và chiến lược phát triển con người QCN được ghi nhận trong HTPL quốc gia và quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (như các quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, quyền của người già, trẻ em, quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền sống trong môi trường trong lành ) đã được cộng đổng quốc tế ghi nhận bằng các văn kiện pháp lý quốc tế và các quốc gia thừa nhận cam kết bảo đảm thực hiện Như vậy, luật quốc tế hiện đại đã đặt con người vào vị trí trung tâm của xã hội, QCN là mục đích của sự phát triển và trở thành tiếng nói chung của nhân loại trong quá trình phát triển.
Tóm lại, QCN đã đã được đề cập đến từ thời cổ đại và trung đại, phát triển các QPPL quốc tế trong thời kỳ cách mạng tư sản Từ sau cách mạng tháng mười Nga đến nay, luật quốc tế hiện đại đã ra đời và khẳng định vai trò vị trí của mình trong việc điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế nói chung và các quan hệ quốc tế về QCN nói riêng Nhằm đáp ứng các yêu cầu về hội nhập quốc tế, nội dung và nguyên tắc của luật quốc
tế về QCN đã phát triển mạnh mẽ trong HTPL quốc tế và quốc gia Nhiều QPPL quốc
tế mới về vấn đề nhân quyền được thiết lập, nó đã điều chỉnh kịp thời các quan hệ về vấn đề con người giữa các quốc gia, góp phần giữ vững ổn định hoà bình, an ninh thế giới Luật quốc tế về QCN đã tạo ra những chuẩn mực, khuổn khổ pháp lý để đảm bảo thực hiện tôn trọng và bảo vệ QCN trên phạm vi toàn cầu
IL QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA, ■ ■ •VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HOÁ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ.■ •
2.1 Cơ sở lý luận về nội luật hoá công ước quốc tế về quyền con người.
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, nhất là trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đã tạo ra những chuyển biến lớn trong quan hộ quốc tế Yêu cầu về hợp tác phát triển bền vững và toàn cầu hoá đã diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống quốc tế, nhất là về kinh tế, chính trị đã trở thành xu thế chung của thời đại Với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ quốc tế, khoảng cách giữa các quốc gia đã được rút ngắn và tạo nên mối
Trang 21quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, khu /ực và cộng đồng quốc tế.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ quốc tế, các QPPL quốc tế cũng đã tăng lên đáng kể Đặc biệt là các QPPL vềĐƯQT đã đặt ra vấn đề là mỗi quốc gia sẽ áp dụng quy phạm ĐƯQT như thế nào chc phù hợp? Có thể áp dụng trực tiếp ĐƯQT hay chỉ áp dụng khi ĐƯQT đó đã được ciuyển hoá thành QPPL trong nước? Vấn đề này hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận với những ý kiến khác nhau cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Để góp phần làm sáng tỏ các vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu ĐƯQT và pháp luật quốc gia qua những khái niệm chung sau đây:
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế do chủ thể của luật quốc tế thoả thuận, ký kết, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau
Còn pháp luật quốc gia là hệ thống các QPPL, do Nhà nước đặt ra hoặc công nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể của pháp luật [11, tr.7, 8]
Qua khái niệm trên chúng ta thấy rằng: ĐƯQT xác định những quy tắc xử sự giữa các quốc gia trên phạm vi quốc tế, do vậy nó có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia (khi tham gia ĐƯQT) và quốc tế Còn pháp luật quốc gia chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia Vậy khi áp dụng các QPPL quốc tế có những điểm mâu thuẫn với QPPL trong nưóc sẽ được xừ lý như thế nào, để đảm bảo cho ĐƯQT đó được tôn trọng thực hiện đầy đủ?
Ở Việt Nam, vấn đề áp dụng các ĐƯQT được thực hiện theo quy định của Pháp lênh về ký kết và thực hiện điều ưức quốc tế, cụ thể là “Trong trường hợp việc thực hiện ĐƯQT đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành VBPL của CHXHCN Việt Nam thì cơ quan các ngành hữu quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trình kiến nghị về việc bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành VBPL đó” (khoản 6 điều 11)
Ngoài ra trong các VBPL khác, thường có quy định mang tính công thức như
“Trong trường hợp ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với văn bản này thì áp dụng với các quy định của ĐƯQT đó”
Với những quy định như hiện nay, trong thực tiễn chúng ta chưa có quy định cụ thể và thống nhất về vấn đề chuyển hoá các QPPL quốc tế vào trong các QPPL quốc
Trang 22gia, do đó các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi lựa chọn và áp dụng sẽ rất lúng túng, hoặc không đạt hiệu quả cao trong thực hiện ĐƯQT Vì vậy vấn đề nội luật hoá (hay chuyển hoá) các ĐƯQT nói chung và các CƯQT về QCN nói riêng đã trở nên bức súc trong thực tiễn áp dụng các QPPL quốc tế
Để khắc phục kịp thời những bất cập trong vấn đề này, thời gian qua đã có nhiều cuộc hội thảo bàn luận đến các mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật trong nước, trong đó đã đề cập đến vấn đề nội luật hoá các CƯQT, nhằm làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình áp dụng pháp luật quốc tế Trong đó đề tài : Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế của CHXHCN Việt Nam và pháp luật Việt Nam” do phó Giáo sư, tiến sĩ Hà Hùng Cường làm chủ nhiệm đã được triển khai thực hiện Đề tài đã quan tâm đến những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật Việt Nam; và nhắc đến việc chuyển hoá các quy phạm ĐƯQT vào pháp luật trong nước khi quốc gia ký kết, phê chuẩn hoặc tham gia, thảo luận về chuyển hoá các quy phạm của ĐƯQT vào pháp luật quốc gia và thời điểm phát sinh hiệu lực của ĐƯQT Trong quá trình bàn luận đã có các loại ý kiến khác nhau về bản chất của hành vi phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT như sau:
Ý kiến thứ nhất:
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia ký kết để quy định các quyền và nghĩa vụ đối với các quốc gia, do đó nó khồng ràng buộc các cá nhân, tổ chức của quốc gia ký kết Để thực hiện các quyền và nghĩa vụ này đòi hỏi các quốc gia
phải chuyển hoá các QPPL quốc tế vào pháp luật quốc gia (xác định chuyển hoá là
trách nhiệm của mỗi quốc gia) Chỉ sau khi được chuyển hoá, ĐƯQT mới có hiệu lực đối với cá nhân, tổ chức của quốc gia đó Cách thức chuyển hoá được thực hiện bằng
phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành VBPL mới để "nội luật hoá" các quy phạm của ĐƯQT.
Ý kiến thứ hai:
Điều ước quốc tế có hiệu lực độc lập với pháp luật quốc gia, nhưng khi quốc gia đã ký kết hoặc tham gia ĐƯQT thì quốc gia đã thể hiện ý chí của mình một cách tự nguyện đối với việc thực hiện ĐƯQT đó Hiệu lực của ĐƯQT và việc
THƯVlêN
TRƯONG ĐAI HOC LỦẬTHA NÒI PHONG G V Sũ ỈT-
Trang 23kiện có hiệu lực của từng văn bản điều ước cụ thể, mà không phụ thuộc vào việc quốc gia ký kết có thực hiện việc chuyển hoá hay không Khi ĐƯQT có hiệu lực đối với quốc gia ký kết, thì đương nhiên ràng buộc không chỉ quốc gia, mà còn ràng buộc cả tổ chức và cá nhân của quốc gia đó Không được chuyển hoá thì điều ước vẫn có hiệu lực và việc không tận tâm thực hiện ĐƯQT đã ký kết sẽ dẫn đến trách nhiệm pháp lý của quốc gia ký kết Do đó, phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT không phải
là cách thức chuyển hoá ĐƯQT vào pháp luật quốc gia, mà là một trong những giai đoạn của việc ký kết ĐƯQT [13, tr.12]
Trong thực tế, có một số ĐƯQT mà Nhà nước ta là thành viên không cần phải chuyển hoá mà vẫn có hiệu lực như: Hiệp định tương trợ tư pháp, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Tuy nhiên, có phần lớn những ĐƯQT chúng ta tham gia lại đòi hỏi phải có sự chuyển hoá thông qua hoạt động sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành VBPL mới như CƯQT về quyền trẻ em chúng ta dã chuyển hoá vào trong một VBPL mới như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đồng thời nó còn được chuyển hoá rải rác vào các VBPL khác (như BLHS, BLDS, Luật giáo dục Qua đó cho thấy vấn
đề nội luật hoá rất phức tạp Tuỳ thuộc vào tính chất, nội dung của mỗi ĐƯQT để xem xét và quyết định có chuyển hoá hay không, hình thức chuyển hoá được thực hiện như thế nào? để đảm bảo hiệu lực của ĐƯQT
Theo ý kiến thứ nhất thì nội luật hoá được hiểu là sự chuyển hoá các quy định của HTPL ở bên ngoài vào HTPL trong nước cho phù hợp với nhau, nhằm mục đích áp dụng đồng bộ giữa hai hay nhiều HTPL với nhau Nội luật hoá chính là sự chuyển hoá,
sự tiếp nhận và tạo ra sự phù hợp của HTPL trong nước với các QPPL quốc tế
Như vậy, ĐƯQT khi được các chủ thể của luật quốc tế ký kết, phê chuẩn hoặc tham gia thì tuỳ thuộc vào nội dung của nó ĐƯQT có thể được áp dụng theo theo hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp
ở Việt Nam hiện nay vấn đề áp dụng ĐƯQT được thực hiện như sau:
1- Nếu nội dung của ĐƯQT không trái vói các quy định pháp luật trong nước thì sẽ áp dụng trực tiếp (Chuyển hoá được coi như thực hiện ở giai đoạn quốc gia phê chuẩn, ký kết ĐƯQT đó)
2 Nếu ĐƯQT không trái với các quy định của Hiến pháp, nhưng lại có nội
Trang 24dung mâu thuẫn với đạo luật và các VBPL khác trong nước (các VBPL có giá trị pháp
lý thấp hơn Hiến pháp) thì ưu tiên áp dụng các ĐƯQT (ĐƯQT sẽ có hiệu lực cao hơn
so với đạo luật trong nước)
3 Trong trường hợp ĐƯQT có mâu thuẫn với pháp luật quốc gia thì việc nội luật hoá được thực hiện bằng hoạt động sửa đổi, bó sung hoặc ban hành VBPL mới (cụ
thể ban hành một văn bản luật, pháp lệnh kịp thời cho phù hợp) để chuyển hoá các
QPPL trong ĐƯQT trở thành các QPPL trong HTPL quốc giaệvới quan điểm này đã
đề cập hoạt động nội luật hoá trong mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế với pháp luật
quốc gia Trong đó xác định hiệu lực pháp lý của ĐƯQT cao hơn hiệu lực pháp lý của
pháp luật quốc gia và coi những điều ước quốc tê mà quốc gia đó ký kết, phê chuẩn
tham gia là một bộ phận cấu thành của HTPL trong nước Đổng thời, đề cao tính tối
cao của Hiến pháp
Tóm lại, nội luật hoá các ĐƯQT nói chung và các CƯQT về QCN nói riêng đó là
hoạt động chuyển hoá, tiếp nhận các QPPL quốc tế vào HTPL quốc gia, theo những
nguyên tắc, chuẩn mực của luật quốc tế
Trong thời đại ngày nay, việc tăng cường hợp tác quốc tế và mở rộng hội nhập
để phát triển là một yêu cầu khách quan Thực tiễn trong những năm gần đây đã khẳng
định rõ điều này, khi quá trình quốc tế hoá các lĩnh vực trong đời sống của cộng đồng
nhân loại đang diễn ra mạnh mẽ, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Vì vậy,
mỗi quốc gia, trong tiến trình hội nhập quốc tế để đảm bảo được quyền, lợi ích quốc
gia và tuân thủ, thực hiện các nghĩa vụ trong cam kết của mình khi tham gia, phê
chuẩn, ký kết hoặc công nhận các ĐƯQT nói chung và các công ước quốc tế về QCN
nói riêng, đểu có những quan điểm, nhận thức trong việc lựa chọn các hình thức công
nhận, chuyển hoá các QPPL quốc tế vào HTPL trong nước
Như vậy, nội luật hoá các ĐƯQT nói chung và các CƯQT về QCN nói riêng là
cần thiết Tuy nhiên việc quan niệm, nhận thức và lựa chọn hình thức chuyển hoá nào
cho phù hợp còn tuỳ thuộc vào các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội cũng
như các yếu tố khác của mỗi quốc gia Có như vậy các quốc gia mới “tìm kiếm” được
sự phù hợp, tạo ra cơ sở pháp lý đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc của luật quốc
tế cũng như các ĐƯQT mà quốc gia ký kết hoặc tham gia
Trang 25Vấn đề nội luật hoá (hay chuyển hoá) các 3PPL quốc tế trong các ĐƯQT nói chung, cũng như CƯQT về QCN nói riêng, đã được đề cập trong quá trình hình thành và phát triển của các CƯQT Đến nay, có nhiều quan điểm cho rằng khi ĐƯQT được các chủ thể của luật quốc tế tham gia, ký kết, hoặc phé chuẩn thì phải có hiệu lực thi hành ngay đối với mỗi cá nhân, tổ chức ở mỗi quốc gia Bởi vì những người ủng hộ quan niệm này họ cho rằng ĐƯQT sẽ trở thành một bộ phận câu thành của HTPL quốc gia khi quốc gia nào đó ký kết, phê chuẩn hoặc tham gia công ưóc, vì thế nó có hiệu lực thi hành ngay đối với quốc gia mà không cần phải thực hiện chuyển hoá bằng các hình thức ban hành VBPL, các văn bản để hướng dẫn thực hiện, việc quốc gia ban hành hoặc quy định các
cơ chế để thực hiện là công việc nội bộ của quốc ga Nếu CƯQT khi được các chủ thể của luật quốc tế phê chuẩn, ký kết hoặc tham gia mà phải tiến hành nội luật hoá, thông qua hoạt động ban hành VBPL thì nó sẽ tạo ra những trở ngại cho việc thực hiện về ĐƯQT, làm chậm trễ quá trình thi hành, gây sức ỳ và không đảm bảo nguyên tắc của luật quốc tế đối với việc thực hiện ĐƯQT Mặt khác hoạt động ban hành văn bản sẽ gây tốn kém về kinh phí và không thể hiện tính khoa học Trong thực tiễn các quốc gia trong quá trình gia nhập, phê chuẩn, ký kết ĐƯQT phải có trách nhiệm xem xét kỹ lưỡng, thận trọng và cân nhắc, quyết định có gia nhập hay không để lựa chọn sao cho phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia mình, phù hợp với các quy định trong HTPL trong nước (đảm bảo lợi ích của quốc gia)
Có không ít ý kiến cho rằng về thứ bậc thì các QPPL quốc tế có hiệu lực pháp lý cao hơn QPPL trong nước, hay nói cách khác ĐƯQT là một bộ phận cấu thành trong HTPL quốc gia và có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp và cao hơn các VBPL khác ở HTPL trong nước Vì vậy không cần phải thực hiện nội luật hoá, khi quốc gia ký k ế t , phê chuẩn hoặc tham gia thì CƯQT đó đương nhiên có hiệu lực (quốc gia phải có nghĩa vụ thực hiện) hoặc họ quan niệm rằng nội luật hoá (chuyển hoá được thực hiện trong giai đoạn đàm phán, thương lượng, thoả thuận)
Cũng có những ý kiến đề cập đến quá trình chuyển hoá các ĐƯQT theo hai hình thức đó là áp dụng trực tiếp ĐƯQT nếu nội dung của điều ước này không có mâu thuẫn với các quy định của pháp luật trong nước Trong trường hợp ĐƯQT có những quy định phức tạp, chứa đựng những mâu thuẫn nhất định với Hiến pháp thì sẽ áp dụng
Trang 26gián tiếp các ĐƯQT đó thông qua hình thức chuyển hoá thích hợp, để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện ĐƯQT Nếu ĐƯQT có sự mâu thuẫn với các văn bản luật, dưới luật thì được ưu tiên áp dụng ĐƯQT Cách thức này được coi là phổ biến, hợp lý hơn, nó hiện đang được áp đụng ở một số quốc gia như Pháp, Nga, Thuỵ Điển, Nhật (theo chiều hướng chuyển hoá đặc biệt, tức là ban hành vãn bản nội luật
để điều chỉnh luật quốc gia cho phù hợp với luật quốc tế và nhằm mục đích thực hiện cam kết quốc tế)
Như vậy với hai hình thức áp dụng ĐƯQT ở trên, chúng ta có thể đưa ra những nhận xét chung trong nhận thức về vấn đề nội luật hoá các ĐƯQT nói chung cũng như các CƯQT về QCN nói riêng như sau:
Nếu áp dụng gián tiếp ĐƯQT thì vẫn có nghĩa là thừa nhận hiệu lực độc lập của ĐƯQT với pháp luật quốc gia Tuy nhiên trong quá trình đàm phán thoả thuận hay thương lượng và quyết định phê chuẩn, ký kết hoặc tham gia thì ý chí của quốc gia đã được thể hiện trong công ước đó Bởi vì quốc gia trong trường hợp này với tư cách là chủ thể của luật quốc tế, thể hiện ý chí, tiếng nói của quốc gia là tự nguyện để thực hiện các CƯQT đó Trong quan niệm này hiệu lực của CƯQT và việc nội luật hoá (chuyển hoá)
là hai vấn đề khác nhau, có nghĩa là nếu chúng ta xét theo hiệu lực của các CƯQT khi quốc gia tham gia sẽ phát sinh trên cơ sở các điều kiện có hiệu lực tuỳ thuộc vào từng loại văn bản CƯQT quy định cụ thể, nó không phụ thuộc ở việc quốc gia ký kết tham gia
có quy định hoặc thực hiện có cần thiết phải nội luật hoá hay không
Nếu áp dụng trực tiếp các ĐƯQT thì khi ĐƯQT được quốc gia ký kết, phê chuẩn, công nhận hoặc tham gia, các điều ước quốc tế đó sẽ có hiệu lực thi hành trực tiếp, thể hiện sự đề cao giá trị pháp lý của ĐƯQT trong mối quan hệ giữa luật quốc tế với luật quốc gia Tuy nhiên, nếu chỉ nhận thức như vậy thì chưa toàn diện Bởi lẽ trong thực tiễn cho thấy ở mỗi quốc gia thường có các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, những quy định của HTPL trong nước cũng khác nhau, hình thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước khác nhau, vì vậy chúng sẽ có những bất cập nhất định trong quá trình thực hiện ĐƯQT Trong Hiến pháp nước ta khẳng định: "Hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản có hiệu lực cao nhất ” [12, tr.335] điều đó có nghĩa là hiệu lực của Hiến pháp cao hơn các VBPL khác, các VBPL khác có nội dung
Trang 27không được trái với Hiến pháp Trong khi có một số quốc gia quy định cụ thể ĐƯQT mà quốc gia đó tham gia, ký kết, phê chuẩn chỉ được coi là một bộ phận cấu thành trong HTPL trong nước Mặt khác xét về thực tiễn cho thấy Hiến pháp thường có tính ổn định cao, việc sửa đổi Hiến pháp không thể tiến hành thường xuyên kịp thời khi quốc gia tham gia ĐƯQT có nội dung trái Hiến pháp VI vậy, trong thực tiễn cho thấy các ĐƯQT trong quá trình ký kết mà có những yếu tố phức tạp hoặc mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp thì sẽ phát sinh những khó khăn nhất định đối với quốc gia đó (hoặc phải sửa đổi Hiến pháp hoặc không có điều kiện để tham gia điều ước đó)
Hiện nay cũng đang còn rất nhiều các câu hỏi khác nhau trong nhận thức về nội luật hoá như: ĐƯQT được thiết lập bởi chính các chủ thể của luật quốc tế khi tham gia
ký kết, vậy khi Nhà nước hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ký kết điều ước quốc
tế thì vấn đề ĐƯQT đó có trực tiếp ràng buộc đối với cá nhân, tổ chức trong Nhà nước
đó không? Và nếu quốc gia nào đó quy định ĐƯQT mà quốc gia tham gia ký kết là một bộ phận cấu thành của HTPL trong nước thì giá trị của “ bộ phận pháp luật này” ở
vị trí nào trong HTPL của quốc gia (so với Hiến pháp và các luật, đạo luật, văn bản dưới luật ) cũng cần phải được quy định thống nhất
Ngay cả khi quốc gia mặc nhiên thừa nhận ĐƯQT có hiộu lực ngay sau khi quốc gia ký kết (không cần phải nội luật hoá) thì việc quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước khi cần thiết phải tiến hành ban hành một văn bản có thể là quy định chi tiết hoặc giải thích hoặc cụ thể hoá ĐƯQT Hoạt động này có được coi là sợ chuyển hoá hoá ĐƯQT không? Bởi vì thực tế các quốc gia trong thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước của mình thường phải ban hành các VBPL
và hướng dẫn thi hành, tuyên truyền, vận động để cá nhân, tổ chức hiểu rõ và nâng cao
ý thức tự giác chấp hành được tốt hơn
Như vậy giữa pháp luật quốc tế (trong đó có ĐƯQT) với pháp luật quốc gia có mối quan hộ mật thiết và rất phức tạp nhất là trong thời đại ngày nay, khi quá trình hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế đã và đang phát triển mạnh mẽ Cùng với quá trình
đó, các ĐƯQT song phương, đa phương cũng được thiết lập ngày càng phong phú đa dạng Việc nghiên cứu để nâng cao nhận thức vễ nội luật hoá các ĐƯQT nói chung cũng như các CƯQT về QCN là rất cần thiết
Trang 28Tóm lại: Tuy còn tồn tại nhiều ý kiến, các qian niệm khác nhau về nội luật hoá các ĐƯQT Song hiện nay trên thế giới nổi lên hai quan niệm chính về vấn đề nội luật hoá (chuyển hoá) các ĐƯQT vào HTPL quốc gia C I thể là:
Một là ĐƯQT khi được quốc gia ký kết, phê chuẩn, tham gia thì nó sẽ trở thành một bộ phận cấu thành của HTPL quốc gia và có hiậu lực bắt buộc thi hành đối với các
cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà nước Quan niệm này cho rằng ĐƯQT có hiệu lực pháp
lý cao hơn pháp luật quốc gia và cần phải thực hiện nghiêm túc không phụ thuộc vào quá trình nội luật hoá (chuyển hoá, tiếp nhận) các QPPL quốc tế trở thành các QPPL quốc gia
Hai là ĐƯQT khi được quốc gia ký kết, phê chuẩn hoặc tham gia trở thành một
bộ phận cấu thành của HTPL quốc gia (đối với những ĐƯQT không phức tạp có thể áp dụng trực tiếp mà không nhất thiết phải nội luật hoá) Đối với những ĐƯQT phức tạp thì cần phải nội luật hoá cho phù hợp với HTPL trong nước Hoạt động nội luật hoá được tiến hành thồng qua việc ban hành VBPL (có thể là hoạt động sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành một đạo luật mới của quốc gia để thực hiện) Theo quan niệm này, về thứ bậc ĐƯQT sẽ có hiệu lực pháp lý thấp hơn Hiến pháp của quốc gia và cao hơn các VBPL khác trong nước (bộ luật, đạo luật ) Trong quá trình áp dụng quốc gia có thể thực hiện nội luật hoá, để tham gia thực hiện ĐƯQT thuận lợi, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với quốc gia và phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế, góp phần gìn giữ hoà bình an ninh thế giới và phát triển kinh tế, hội nhập toàn cầu
2.2 Sự cần thiết của DỘi luật hoá các công ước quốc tế về quyền con người.
Qua tiến trình hình thành, phát triển QCN trong lịch sử nhân loại, cho thấy
nó luồn là những vấn đề trung tâm của mọi cuộc cách mạng và tiến bộ xã hội QCN trong mỗi giai đoạn được tôn trọng và thực hiện ở những mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế chính trị trong các chế độ xã hội khác nhau, cũng như phụ thuộc vào các yếu tố khác trong xã hội của các quốc gia khác nhau Các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử đã chứng minh điều đó
Ở hình thái kinh tế xã hội chiếm hữii nô lệ và phong kiến: Những cuộc đấu tranh
cho con người đã nổ ra giữa giai cấp thống trị với giai cấp bị trị, đã xuất hiện Nhưng trong giai đoạn này khái niệm về QCN chưa xuất hiện cũng như chưa có chế định cụ
Trang 29thể về QCN, QCN hầu hết mới chỉ được đề cập đến trong tư tưởng Vì vậy có thể nói vấn đề QCN trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến chưa được đề cạp và bảo vệ trong luật quốc tế.
Đến hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, bằng cuộc cách mạng tư sản ớ phương tây đã mở ra một kỷ nguyên mới trong sự hình thành và phát triển QCN Từ đây QCN, quyền công dân lần đầu tiên được ghi nhận trong các văn bản pháp lý Với các chế định cụ thể nó đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nãm 1776, Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1789, Luật về quyền công dân của Anh Từ đó QCN tiếp tục phát triển cùng với các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân và các tư tưởng tiến bộ trên thế giới QCN không ngừng phát triển và được đề cập một cách triệt để, mạnh mẽ, toàn diện hơn qua cuộc đấu tranh của Công xã Pa ri và cách mạng tháng mười Nga vĩ đại
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, đã cướp đi quyền sống của hàng chục vạn con người, nhân loại đã coi cuộc chiến tranh này là thảm họa của con người Trước tình hình đó, cộng đổng quốc tế thấy cần phải có một hành lang pháp lý, để ràng buộc trách nhiệm giữa các quốc gia và bảo vệ quyền sống cho mọi người tránh những cuộc chiến tranh huỷ diệt hàng loạt và tàn phá môi trường, cũng như các lý do khác, để lại hậu quả nặng nề cho con người, thế giới nhận thấy rằng cần thiết phải có một tổ chức quổc tế để thực hiện vai trò, sứ mộnh lịch sử đang đặt ra Nhằm hướng thế giới tới tiếng nói chung của nhân loại là bảo vệ con người, hãy đảm bảo cho con người những quyền cơ bản thiêng của họ Đứng trước các đòi hỏi bức súc đó, Tổ chức Liên hợp quốc đã được thành lập ngày 10 tháng 12 năm 1948 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua và tuyên bố bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, đây là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên về QCN Trong nội dung của vãn bản này đã khẳng định những quyền
tự do, quyền cơ bản của con người Những quyền đó được thừa nhận rộng rãi và được đảm bảo thực hiện trên phạm vi toàn thế giới.Từ đó đến nay QCN ngày càng được mở rộng và dần hoàn thiện, với hàng chục CƯQT về QCN đã được quốc tế thông qua Sự tham gia đông đảo của các quốc gia, cho thấy QCN đã thực sự trở thành sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế Những vấn đề QCN giờ đây không phải là công việc nội bộ của một quốc gia, nó đã được “quốc tế hoá” vào đời sống nhân loại Khi xem
Trang 30xét, đối xử và giải quyết vấn đề nhân quyền trong các quan hệ của đời sống xã hội, phải được dựa trên cơ sở các chuẩn mực và nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Vì vậy mỗi quốc gia, dù muốn hay không cũng đều phải hướng tới bảo vệ con người, nâng cao nhận thức về QCN xác định QCN như “ngôn ngữ chung của nhân loại” như Boutros Ghali nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc đã khẳng định trong Hội nghị thế giới về nhân quyền tại Vienna tháng 6 năm 1993 Tuy nhiên để đạt đến những nội dung chung nhất của “ngôn ngữ chung” ấy là cả một quá trình đấu tranh, thương lượng, đàm phán giữa các quốc gia Bởi vì cho đến nay trên thế giới vẫn còn rất nhiều các quan điểm, những nhận thức khác nhau về QCN Trong thực tế người ta đã phân ra thành ba thế hệ QCN trong lịch sử Chúng ta có thể đề cập một vài nét cơ bản sau đây [13, tr.10]:
ở thế hệ quyền thứ nhất: QCN được thực hiện với sự đấu tranh cho các nhóm quyền về dân sự, chính trị của cá nhân, cho sự bình đẳng của con người Như vậy, QCN
ở thế hệ thứ nhất này có quan điểm gắn liền với cuộc cách mạng tư sản Đề cao và khẳng định các quyền cá nhân mà chủ yếu là các quyền về dãn sự, chính trị của cá
Thế hệ quyền thứ hai: nếu như ở thế hệ quyền thứ nhất gắn liền với cách mạng
tư sản thì ở thế hệ quyền thứ hai này gắn với cuộc cách mạng tháng mười Nga, cùngvới sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa trong những năm
giữa thế kỷ XIX ở đây QCN tiếp tục được khẳng định và phát triển rộng hơn cả chiều sâu và chiều rộng Các quyền mới của con người đã được ghi nhận Theo thế hệ quyền này, QCN không những được ghi nhận về các quyền dân sự, chính trị mà còn được ghi nhận cả các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá Các quyển cơ bản của dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc và quyền tự quyết của dân tộc
Thế hê quyền thứ ba: Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, QCN ở giai đoạn này đã kế thừa các quyền ở thế hệ quyền thứ nhất và thứ hai, đổng thời đã mở rộng nội dung mới về các quyền được thông tin, quyền được sống trong hoà bình, trong môi trường trong lành của con người, nó đã được ghi nhận và thực sự trở thành các văn kiện quốc tế quan trọng về QCN trong thế giới hiện đại Tuy nhiên, trong giai đoạn này, vấn đề QCN vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau cả về cách thức, biện pháp thực hiện và nội dung QCN Có quan điểm đồng tình ủng hộ với việc ghi nhận
Trang 31QCN theo xu thế mở rộng (QCN bao gồm cả các quyền dân sự, chính trị và các quyền
về kinh tế, xã hội, văn hoá ) Nhưng cũng có quan điểm không thừa nhận cả hai nhóm quyền nàv (như Hoa Kỳ hiện nay vẫn chưa phê chuẩn CƯQT về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hoá)
Như vậy, QCN được cộng đồng quốc tế thừa nhận, nó đã trở thành giá trị chung của nhân loại, nhưng trong quá trình đảm bảo cho giá trị chung đó được thực hiện nghiêm túc và đạt được mục tiêu cho con người, là cả một quá trình lâu dài, gian khổ của nhân loại Trong thực tiễn cho thấy từ khi hình thành và phát triển đến nay luôn có những quan điểm, những nhận thức khác nhau về QCN Ngay cả khi QCN đã được các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc thừa nhận, ký kết hoặc tham gia các CƯQT về QCN, vẫn có những cơ chế, chính sách, nguyên tắc và biện pháp, bảo đảm khác nhau, trách nhiệm pháp lý đối với vấn đề bảo vệ nhân quyền giữa các quốc gia đến nay vẫn còn nhiều tranh luận với những quan điểm nhận thức khác nhau Sự khác nhau này xuất phát
từ thể chế, tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về điều kiện kinh tế, vị trí địa lý, khu vực, cũng như nhiều yếu tố khác (văn hoá, truyền thống, tôn giáo, phong tục, tập quán, trình độ dân trí ) Vì vậy, việc lựa chọn các QPPL, để áp dụng thống nhất về QCN nói chung là rất phức tạp Do đó, một vấn đề đặt ra cho các quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế nói chung và gia nhập các CƯQT về QCN nói riêng, phải lựa chọn các QPPL quốc tế phù hợp vói các QPPL trong nước để đảm bảo thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế của mình, dựa trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là rất cần thiết
Trong những năm qua, mặc dù QCN đã được các quốc gia ghi nhận Song vấn
đề bảo vệ nhân quyền thông qua các cơ chế chính sách, pháp luật rất khác nhau Đôi khi vấn đề nhân quyền đã bị lợi dụng như một lý do để thực hiện mục đích chính trị của một số quốc gia (nhất là đối với các nước kém phát triển, đang phát triển khi chưa
có đủ các điều kiện để thực hiện QCN, thường bị một số quốc gia phát triển chi' trích hoặc can thiệp bằng các chính sách đối ngoại để can thiệp vào công việc nội bộ c 1 d các quốc gia đó) Hơn nữa việc bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của con người, nhất là trong hai nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã hội vãn hoá được các quốc gia quan niệm cũng rất khác nhau Một số quốc gia phương Tây đề cao
tự do cá nhân và chỉ thừa nhận nhóm quyền dân sự, chính trị đối với quyền của con người còn nhóm các quyền kinh tế xã hội và văn hoá họ quan niệm không phải là
Trang 32quyền của con người Tuy nhiên việc áp dụng thực hiện các CƯQT về QCN còn tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế và các khả năng khác của quốc gia (bởi vì trên thực tế không phải mọi quốc gia đều có đủ điều kiên để phát triển kinh tế xã hội đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của QCN ví dụ các nước kém phát triển, vấn đề QCN sẽ ít được quan tâm bảo đảm hơn, nhất là các quyền của trẻ em trong lĩnh vực văn hoá; các nước theo đạo hổi thì sự bình đẳng về giới sẽ rất khó được đảm bảo )
Tóm lại QCN được hình thành và phát triển theo các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, ở mỗi hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử có các kiểu Nhà nước và pháp luật tương ứng, ở đó QCN cũng có sự phát triển với những mức độ rất khác nhau trong HTPL quốc gia cũng như HTPL quốc tế Có thời kỳ HTPL trong nước đề cập đến QCN
cụ thể hơn HTPL quốc tế (như thời kỳ cách mạng tư sản mới giành chiến thắng) Nhưng từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, ở thời kỳ của luật quốc tế hiện đại thì vấn đề nhân quyền đã được phát triển đầy đủ, sâu rộng hơn Với các quy định, chuẩn mực của luật quốc tế, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện, tôn trọng
và bảo vệ QCN ở phạm vi quốc gia, khu vực hoặc trên thế giới, phải phù hợp với các thông lệ và nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
2.3 Thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người và vấn đề nội luật hoá các CƯQT về quyền con người
Nhằm đảm bảo duy trì trật tự pháp lý quốc tế nói chung cũng như các trật tự pháp lý về QCN Các quốc gia (chủ thể của luật quốc tế) phải có nghĩa vụ tôn trọng những nguyên tắc của luật quốc tế và nghĩa vụ quốc tế của mình khi tham gia các ĐƯQT vể QCN Bởi vì như chúng ta biết, đối tượng điều chỉnh của các CƯQT về QCN, có liên quan trực tiếp đến các quyền và tự do cơ bản của con người Đồng thời trong thực tiễn cho thấy khi thực hiện CƯQT này là một trong những lĩnh vực nhạy
cảm, nó khồng chỉ liên quan đến các QCN ở mỗi quốc gia mà còn liên quan tới chủ
quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc và ảnh hưởng tới lợi ích của từng quốc gia Nếu các cam kết quốc tế không được tôn trọng và bảo đảm thực hiện theo đúng nội dung của CƯQT về QCN và nguyên tắc cơ bản trong thực hiện ĐƯQT nói chung, nó sẽ có ảnh hưởng hoặc tác động sâu sắc tới hoạt động hợp tác quốc tế và hoà bình an ninh thế giới
Một trong những yếu tố thực tiễn nữa là QCN luôn có tính phổ biến, thống nhất,
vì vậy khác với các CƯQT trong các lĩnh vực khác của quan hệ quốc tế Khi thực hiện
Trang 33các cam kết quốc tế về QCN, thường là những vấn đề hết sức phức tạp, nó được thể hiện qua quan điểm nhận thức của mỗi chế độ Nhà nước, về các điều kiện chính trị xã hội, các yếu tố có ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền và tự do cơ bản cho con người trong đời sống của cộng đồng quốc tế cũng như trong mỗi quốc gia Vậy tính thống nhất đó được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, dân sự và kinh tế xã hội, văn hoá ở quốc gia cũng như các phương thức, thiết chế, biện pháp bảo đảm thực thi QCN cho phù hợp với khả năng và các điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của quốc gia Còn trong tính phổ biến nó được thể hiện trong hoạt động phê chuẩn, công nhận ĐƯQT và hợp tác quốc tế để tôn trọng và bảo vệ QCN trên phạm vi thế giới Do đó khi tham gia các ĐƯQT về QCN, yêu cầu đặt ra đối với mỗi quốc gia thành viên của công ước là phải hoàn thành nghĩa vụ của mình, trong thực thi các cam kết quốc tế về QCN,
mà không được viện dẫn các yếu tố khác biệt về chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế, tôn giáo, truyền thống để coi đó là những lý do trì hoãn, từ chối hoặc không thực hiện đúng các cam kết quốc tế
Hơn nữa các CƯQT về QCN nhằm đạt được những mục tiêu quan trọng cơ bản cho dân tộc, quốc gia và cho con người, bảo đảm môi trường hoà bình và ổn định thế giới, tăng cường hợp tác đảm bảo tự do dân chủ, binh đẳng giữa các dân tộc để cùng phát triển Vì vậy như trên đã đề cập với các điều kiện, hoàn cảnh riêng biệt ở mỗi quốc gia Song trong thực hiện CƯQT về QCN thì không được phép hạn chế bất kỳ yếu
tố nào trong QCN
Có thể nói các ĐƯQT về QCN có vị trí vai trò quan trọng trong việc xác định tiêu chí, chuẩn mực pháp lý QCN trên cơ sở đó các quốc gia trong quá trình chuyển hoá CƯQT vào HTPL trong nước và quy định các cơ chế, biện pháp bảo đảm thi hành trên thực tế ở từng quốc gia Vì vậy, nghĩa vụ của các quốc gia trong quá trinh thực hiện các cam kết quốc tế về QCN phải bảo đảm đúng nội dung, mục đích và quy định của CƯQT
và phải dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế, bảo đảm nguyên tắc cơ bản trong luật ĐƯQT như nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta Sunt Servanda)
Cho đến nay Liên hợp quốc đã thông qua 70 văn bản quốc tế về QCN trong đó Việt nam đã tham gia 8 công ước bao gồm: [14]
1 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, công ước này được thông
Trang 34qua tháng 12 năm 1948 theo Nghị quyết số 260A (III) của Đại hội đồng Liên hợp quốc Có hiệu lực ngày 12 tháng 01 năm 1951, Viét Nam gia nhập công ước này ngày
9 tháng 6 năm 1981
2 Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc Được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1965, theo Nghị quyết số 2106A (XX) có hiệu lực ngày 04 tháng 01 năm 1969, Việt Nam gia nhập công ước này ngày 9 tháng 6 năm 1981
3 Công ước không áp dụng những hạn chế luật định đối với tội phạm chiến tranh và tội chống nhân loại Được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 26 tháng 11 năm 1968, theo Nghị quyết số 2391 (XXUI) có hiệu lực từ ngày 11 tháng 11 năm 1970, Việt Nam gia nhập công ước này ngày 4 tháng 6 năm 1983
4 Công ước quốc tế về ngăn ngừa về tội Apácthai Được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 30 tháng 11 năm 1973, theo Nghị quyết số 3068 (XXVIII) có hiệu lực từ ngày 18 tháng 7 năm 1976, Việt Nam gia nhập công ước này ngày 9 tháng
6 năm 1981
5 Công ước về xoá bỏ mọi hình thức đối xử với phụ nữ, công ước này được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979, theo Nghị quyết số 34/180 có hiệu lực từ ngày 03 tháng 9 năm 1981, Việt Nam phê chuẩn công ước này ngày 19 tháng 3 năm 1982
6 Công ước về quyền trẻ em Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20 tháng
11 năm 1989, theo Nghị quyết số 44/25 có hiệu lực từ ngày 02 tháng 9 năm 1990, Việt Nam phê chuẩn công ước này ngày 20 tháng 2 năm 1990
7 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị Công ước này được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966, theo Nghị quyết số 2200A (XXI) của Đại hội đồng Liên hợp quốc Công ước có hiệu lực từ ngày 23 tháng
3 năm 1976, "Công ước này sẽ có hiệu lực ba tháng sau ngày văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập thứ 35 được Tổng thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu" Việt Nam gia nhập Công ước này ngày 24 tháng 9 năm 1982
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị gồm: Lời nói đầu, 6 phần với
53 điều
Trang 35Lời nói đầu của Công ước xác định lại những nguyên tắc và nội dung đã được
đề cập trong Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền xác định mỗi cá nhân và mỗi thành viên phải có trách nhiệm phấn đấu cho việc thúc đẩy và tôn trọng các quyền đã được thừa nhận trong Công ước này
Phần I, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị xác định nguyên tấc: Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết, tự do quyết định thể chế chính trị cua mình
và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá, tự do định đoạt tài nguyên thiên nhiên, đổng thời có nghĩa vụ tôn trọng cam kết quốc tế và các nguyên tắc pháp luật quốc tế
Phần II, Công ước gồm 4 điều (từ Điều 2 đến Điều 5) xác định sự cam kết của các quốc gia thành viên tôn trọng và đảm bảo cho mọi người các quyền đã được công nhận trong Công ước này, tiến hành các bước cần thiết trong công tác lập hiến và lập pháp để thực hiện các quyền trong Công ước Mỗi người, không phân biệt nam nữ, chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc, tài sản, dòng dõi đều được sự bảo hộ pháp lý một cách có hiệu quả, cho dù sự xâm phạm các quyền là do hành vi của những người thi hành công vụ gây ra Không được phép tuỳ tiện giải thích Công ước này hoặc có hành động vì mục đích huỷ bỏ, hạn chế bất
kỳ quyền và tự do nào đã được công nhận trong Công ước
Phần III của Công ước gồm 21 điều (từ Điều 6 đến Điều 27) là phần quan trọng nhất của Công ước về quy định các quyền dân sự và chính trị Công ước quy định các quyền: Quyền sống; không một người nào có thể bị tra tấn, nhục hình, hoặc áp dụng hình phạt tàn nhẫn vô nhân đạo; không ai có thể bị bắt làm nô lệ, lao động nô dịch hoặc lao động cưỡng bức; mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân; những người bị tước quyền tự do phải được đối xử nhân đạo; quyền tự
do đi lại và cư trú được bảo đảm; quyền bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ; nghiêm cấm tuyên truyền cho chiến tranh, gây thù hằn giữa các dân tộc, kích động phân biệt chủng tộc, thù địch hoặc bạo lực; quyền trẻ em; quyền tham gia vào quản lý công việc Nhà nước và xã hội
Phần IV của Công ước gồm 17 điều (Điều 28 đến điều 45)
Phần V của Công ước có 2 điều (Điều 46 và Điều 47) xác định: không một quy định nào của Công ước này làm phương hại đến Hiến chương Liên hợp quốc,
Trang 36Luật quốc tế nói chung về quyền đương nhiên của mọi dân tộc.
Phần VI của Công ước gồm 6 điều (từ Điều 48 đến Điều 53) quy định về giá trị, thời hiệu của Công ước và thủ tục sửa đổi, phê duvệt, phê chuẩn, lưu chiểu Công ước
8 Công ước quốc tế về các kinh tế, xã hội và văn hoá
Công ước này được thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 theo Nghị quyết
số 2200A (XXI) của Đại hội đồng Liên hợp quốc
Công ước có hiệu lực từ ngày 3 tháng l năm 1976 căn cứ theo Điều 27:
"Công ước này sẽ có hiệu lực 3 tháng sau ngày văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập thứ 35 được Tổng thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu" Việt Nam gia nhập Công ước này ngày 24 tháng 9 năm 1982
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá gồm: Lời nói đầu,
Phần II Công ước gồm 4 điều (từ Điểu 2 đến Điều 5) quy định các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm thực hiên các quy định của Công ước này bằng mọi biện pháp, trong đó có biện pháp lập pháp Bảo đảm sự bình đẳng đối với các quyền trong Công ước này trong mỗi quốc gia, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc, xã hội, tài sản dòng dõi không thể có bất cứ sự giải thích bị hạ thấp nào đối với các quyển đã nêu trong Công ước này
Phần III Công ước gồm 10 điều (từ Điều 6 đến Điều 15) là phần quan trọngnhất quy định các quyền kinh tế, xã hội, bao gồm: Quyền làm việc, quyền của tất cả mọi người có cơ hội được kiếm sống; quyền được hưởng những quyền làm việc cồng bằng và thuận lợi; quyền được thành lập và gia nhập công đoàn, quyền đình công; quyền được hưởng an toàn xã hội và bảo hiểm xã hội; quyền được giúp đỡ và báo hộ đối với gia đình, đối với các bà mẹ trước và sau khi sinh con; quyền của tất
Trang 37cả mọi người có mức sống đủ cho bản thân và gia đình; quyền của mọi người được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ; quyền được huởng nền giáo dục; quyền của mọi người được tham gia vào đời sống văn hoá, hưởag các lợi ích của tiến bộ khoa học, lợi ích phát sinh từ sáng tạo khoa học
Phần IV Công ước bao gồm 10 điều (từ Điều 16 đến Điều 25) xác định quan
hệ giữa các quốc gia thành viên với Hội đổng kinh tế xã hội, Uỷ ban nhân quyền và các cơ quan của Liên hợp quốc về việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và vãn hoá trong công ước này
Phần V Công ước gồm 6 điều (từ Điều 26 đến Điều 31) quy định về giá trị, thời hiệu, thủ tục gia nhập, thủ tục sửa đổi và bổ sung đối với công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá [1, tr.70-89)
Đến nay các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã thừa nhận Bộ luật
nhân quyền quốc tế bao gồm: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền và hai công
ước quốc tế về QCN (1966), đó là Công ước về các quyền dân sự và chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, và Nghị định thư bổ sung [1, tr.62]
KẾT LUẬN CHƯƠNG I:
Như vậy QCN xuất hiện, tồn tại vận động và phát triển gắn liền với quá trình phát triển trong lịch sử loài người Tư tưởng QCN được phát triển qua các giai đoạn khác nhau, từ sơ khai đến hoàn thiện, từ những quan niệm, tư tưởng đó, đã phát triển thành các học thuyết và đến nay đã được quy định trong pháp luật quốc tế
QCN là một phạm trù chính trị pháp lý, phản ánh hình thái ý thức xã hội Do vậy nó vừa mang tính nhậy cảm, phức tạp, vừa có tính phổ biến lại mang tính đặc thù riêng Điều đó được thể hiện ở mỗi quốc gia, dân tộc, khu vực có các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, truyền thống khác nhau sẽ có sự tác động đến việc bảo đảm QCN Nhưng phải đáp ứng các nguyên tắc và chuẩn mực của pháp luật quốc tế VI vậy, mỗi quốc gia trong điều kiện của mình phải có hình thức tiếp nhận, chuyển hoá các QPPL quốc tế phù hợp với quy phạm trong nước, để thực hiện bảo đảm tốt nhất QCN
Trang 38BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI ■ »
1.1 Khái lược về quyền con người trong lịch sử dân tộc Việt nam từ trước năm 1945
Quá trình nhận thức về QCN ở Việt Nam được kế thừa và phát triển cùng với lịch
sử phát triển của dân tộc Việt Nam Ngay từ thời kỳ nhà nước phong kiến, tư tưởng về
QCN đã xuất hiện, các cuộc đấu tranh chống lại áp bức bất công, đã liên tục diễn ra
Nghiên cứu QCN trong chế độ xã hội phong kiến ở triều đại nhà Lý cho thấy, ở mức độ
nhất định, pháp luật nhà Lý đã bước đầu có sự đề cập đến quyền sống của con người
Đến thế kỷ XV, dưới thòi kỳ Hậu Lê Bộ luật Hồng Đức (Bộ Quốc triều hình
luật) đã đề cao những quyền “bẩm sinh vốn có” của con người Nội dung của bộ Luật
hình Triều Lê đã chứa đựng những giá trị quý báu, tiến bộ về nhận thức vấn đề con
người và bảo vệ con người như: Bảo vệ quyền sống của mọi người (Luật quy định,
người từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, dù có phạm tội chết cũng khồng bị hành
hình (điều 16); Phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ dưới 100 ngày được miễn thi hành
án tử hình (điều 680); Chăm sóc những người không nơi nương tựa khi đau ốm (điều
294) ngoài ra quyền sống còn được quy định tại các điều 429, 451, 542, 663, 662,
284 580, 581, 312, 453, 501, 715 ) Hơn nữa Bộ Quốc triều hình luật còn có các quy
định bảo vệ quyền tự do an ninh cá nhân, QCN trong hoạt động tố tụng hình sự (ví dụ
về trình tự thủ tục tố tụng, những nguyên tắc chỉ đạo quá trình xét xử bảo vệ người
già, trẻ em, người thiểu số, phụ nữ )• Từ góc độ nhận thức về con người, đề cao những
phẩm giá của con người, Bộ Quốc triều hình luật đã thể chế hoá được một số khía cạnh
thuộc QCN Đề cập đến việc bảo vệ nhân phẩm và các quyền về sở hữu, quyên lao
động, quyền sống (lần đầu tiên được giai cấp thống trị quan tâm và bảo đảm bởi nhà
Trang 39nước) Cùng với việc nhận thức giá trị con người, Bộ luật Triều Lê cũng đã lần đầu tiên trong lịch sử ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong xã hội đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc trong nhận thức về con người, nhất là khi mà ở xã hội chuyên chế phong kiến
có sự phân biệt khắt khe nặng nề giữa nam và nữ (Trong khi lịch sử nhân loại phải đến thế kỷ XVII, XVIII mới xuất hiện các cuộc đấu tranh cho quyền tự do, bình đẳng của phụ nữ) [7, tr.127]
Mặc dù còn những hạn chế về tư tưởng về con người, trong xã hội phong kiến (nhất là sự phân biệt, bất bình đẳng trong xã hội) Với quy định trong Quốc triều hình luật, đã phản ánh tư tưởng tiến bộ trong nhận thức về QCN ở chế độ chuyên chế phong kiến phương đông Trên cơ sở đó nó đã đặt nền móng cho những nhận thức mới về con người trong xã hội
Đến chế độ xã hội thuộc địa phong kiến, các tư tưởng về QCN tiếp tục được phát triển, thông qua hai khuynh hướng tư tưởng trong xã hội Việt Nam ở những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thể kỷ XIX Tư tưởng về QCN phải được thể hiện qua một bản Hiến pháp dân chủ, khuynh hướng theo những tư tưởng thân Pháp mà đại diện là Bùi Quang Chiêu, Phạm Huỳnh, Lê Văn Bông, và tư tưởng của những chí sĩ yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Tư tưởng này nhận thức được những quyền
tự do, độc lập của dân tộc của con người trong xã hội [15, tr.19]
Vào những năm đầu của thế kỷ XX Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục kế thừa, phát triển tư tưởng về QCN gắn với tinh thần yêu nước, yêu tự do và hoà bình Quá trình hình thành và phát triển về QCN ở Việt Nam từ đây luôn gắn liền với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh Lần đầu tiên người đã đưa vấn đề QCN ở Việt Nam ra bàn luận trên bình diện quốc tế Với bản yêu sách tám điểm gửi tới Hội nghị Vecxay ở Pháp, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã đề cập đến những quyền cơ bản của con người như quyền hưởng tự do về tư tưởng, quyền tự do hội họp, tự do lập hội năm 1926 người tiếp tục khẳng định: Khi được độc lập, Việt nam sẽ quan tâm phát triển QCN, xây dựng một văn bản pháp lý cao nhất về phương diện chính trị và lý tưởng về QCN Bảo hộ cho người lao động
Như vậy, QCN trong giai đoạn trước năm 1945 ở Việt Nam không chí được nhận thức qua các tư tưởng tiến bộ, nó còn thể hiện tính kế thừa những truyền thống
Trang 40tốt đẹp của dân tộc, thể hiện nguyện vọng khát khao về quyền tự do cơ bản của nhân dân Từ những tư tưởng, nhận thức đúng đắn về QCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấu tranh vĩ đại để giành lại chủ quyền dân tộc Với thắng lợi của cách mạng tháng tám, mở ra kỷ nguyên mới về độc lập dân tộc, những quyền tự do cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong các VBPL,
đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam về hình thành và phát triển QCN
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng học thuyết của chủ nghĩa Mác Lênin vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam Tư tưởng
của người thể hiện rõ về QCN:
‘Tư tưởng giải phóng quần chúng nhân dân lao động ra khỏi sự nô dịch, sự tha hoá
về nhân tính, nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp, chứa đựng tính nhân văn cao cả đã
xuyên suốt toàn bộ cuộc đòi cách mạng của người Nét đặc sắc trong quá trình
nhận thức về con người trong tư tưỏng của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là ở chỗ
đồng bào được hưởng hạnh phúc, tự do là hạt nhân, là thước đo giá trị của độc lập
tự do, độc lập dân tộc không tách rời QCN, quyền công dân” [7, tr.7]
HỒ Chí Minh đã đặt sự thống nhất giữa QCN, quyền công dân và quyền dân tộc
trong mối quan hệ biện chứng, người chỉ rõ: “Không phải cứ có độc lập dân tộc là có
QCN” Bởi vì Ngưòi nhận thức rằng để thực hiện QCN là cả một quá trình lâu dài và phức
tạp Vì vậy phải giải quyết đúng đắn, phù hợp giữa đấu tranh giải phóng dân tộc, giải
phóng con người và hiện thực hoá QCN trong thực tiễn đời sống xã hội
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN đã thể hiện mối quan hệ biện chứng của
Chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng
con người (mục tiêu cuối cùng là vì con người)
1.2 Sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con người từ 1946 đến trước thời kỳ đổi mới.
Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
phát triển vấn đề quyền tự nhiên của con người lên một tầm cao mới, và khẳng định
dân tộc Việt Nam phải được hưởng đầy đủ các quyền cơ bản ấy Tuyên ngôn độc lập
đó sau này đã trở thành những nguyên tắc hiến định trong quá trình lập pháp của nước
ta, trong đó QCN, quyền công dân ngày càng được phát triển, mở rộng và hoàn thiện
hơn trong HTPL phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước Phản ánh đúng xu