1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở một số nước trên thế giới

96 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 9,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật không chỉ nhằm đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật, đảm bảo sự tuân thủ Hiến pháp từ các văn bản p

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học 1- TS Vũ Hồng Anh 2- GS Joakim Nergelius

Hà Nội - 2004

Trang 3

'Kin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau

Đại học - Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật -

Trường Đại học Lund - Thụy Điển và các thầy, cô giáo đã

tạo điều kiện cho tôi được tham gia và hoàn thành chương trình cao học Luật Việt Nam - Thụy Điển, khóa ỉ.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai

thầy giáo hướng dẫn: TS Vũ Hồng Anh và GS Joakim

Nergelius đ ã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận

Trang 4

Phần mở đầu Trang

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giám sát tính hợp hiến của

1.1- Sự hình thành và phát triển tư tưởng về giám sát tính hợp hiến 1của văn bản quy phạm pháp luật

1.2- Vai trò của giám sát tính hợp hiến đối với văn bản quy phạm 13pháp luật

1.3- Phân loại hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy 18phạm pháp luật

1.4- Các mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp 24luật

Chương 2: Đặc điểm của các mô hình giám sát tính hợp hiến của

bản quy phạm pháp luật ở nước ngoài vào thực tiễn Việt nam 56

3.1- Quy định của pháp luật và việc thực thi pháp luật về giám sát

tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt nam 563.2- Một số kiến nghị về việc vận dụng kinh nghiệm nước ngoài nhằm hoàn thiện hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt nam

Trang 5

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Hiện nay, xu hướng xây dựng nhà nước pháp quyền đã trở thành phổ biến

ở đa số các nước trên thế giới Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

đã được thừa nhận chung, đó là: sự thống trị của pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (trong đó, Hiến pháp là tối cao); sự ràng buộc bởi pháp luật đối với Nhà nước và cơ quan Nhà nước; xác định rõ trách nhiệm hai chiểu giữa Nhà nước và công dân trên cơ sở pháp luật và phải có những hình thức kiểm tra, giám sát có hiộu quả việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật Do vậy, ở đa số các nước theo mô hình nhà nước pháp quyền đều có thiết chế giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật - một nội dung cốt lõi của giám sát bảo hiến hoặc giám sát Hiến pháp

Nhìn chung, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là hoạt động giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra, xem xét tính phù hợp với Hiến pháp của văn bản quy phạm pháp luật do các

cơ quan nhà nước khác ban hành Hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật không chỉ nhằm đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật, đảm bảo sự tuân thủ Hiến pháp từ các văn bản pháp luật và hành

vi của các cơ quan nhà nước mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và tự do hiến định của công dân Với ý nghĩa quan trọng như vậy, rõ ràng thiết chế giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật là không thể thiếu được trong nhà nước pháp quyền Nói cách khác, một nhà nước pháp quyền luôn phải đảm bảo sự tuân thủ Hiến pháp và buộc phải có thiết chế bảo vệ Hiến pháp

Ở Việt nam, Đảng ta đã khẳng định rõ chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Chủ trương này cũng đã được thể chế hoá ở Điều 2

Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): "Nhà nước Cộng hoà x ã hội chủ

Trang 6

luật cơ bản của Nhà nước và có hiệu lực pháp lý cao nhất Tuy nhiên, cho đến nay, ở Việt nam chưa có một cơ quan chuyên trách giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật Việc giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu được tiến hành thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội Thế nhưng, trong thời gian qua, hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung và giám sát tính phù hợp với Hiến pháp của văn bản quy phạm pháp luật nói riêng vẫn bị đánh giá là yếu và kém hiệu quả hơn so với các chức năng khác của Quốc hội Trong khi đó ở Việt nam không phải là không có những vấn đề về sự vi phạm Hiến pháp của văn bản quy phạm pháp luật Thực tế, có một số văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với quy định của Hiến pháp, và do đó, tính thống nhất của hệ thống pháp luật không được bảo đảm Ở một khía cạnh khác, nhiều văn bản của các cơ quan nhà nước, khi triển khai thực hiện đã làm hạn chế các quyền và tự do của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, gây thiệt hại không nhỏ cho người dân, thế nhưng họ không biết khiếu kiện tới cơ quan nào, với những thủ tục và trình tự ra sao.

Do vậy, trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, việc đổi mới và kiện toàn hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật là hết sức cần thiết

và cấp bách cả về phương diện lý luận và thực tiễn

Cho đến nay, đã có một số công trình khoa học (chủ yếu là các bài viết đăng tạp chí) nghiên cứu về các mô hình giám sát bảo hiến trên thế giới và pháp luật các nước về giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật Các tác giả đã phác thảo một cách khái quát về các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới Đồng thời, sự cần thiết phải xây dựng thiết chế giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt nam cũng đã được đề cập Tuy nhiên, theo chúng tôi, để có thể tìm ra một mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội

Trang 7

pháp luật điển hình trên thế giới mà còn phải phân tích rõ những vấn đề lý luận

cơ bản về giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật và nêu bật vai trò đặc biệt quan trọng của thiết chế này trong nhà nước pháp quyền Bên cạnh

đó, cũng cần phải phân tích thực trạng hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt nam Trên cơ sở những phân tích và nghiên cứu

so sánh đó chúng ta mới có thể đề ra được phương án xây dựng một cơ chế giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật vừa thật sự mang tính khoa học vừa phù hợp với những điều kiện cụ thể của Việt nam

Với những lý do như vậy, tôi chọn vấn đề "Tìm hiểu mô hình giám sát

tính hợp hiến của ván bản quy phạm pháp luật ở một s ố nước trên th ế giới"

làm đề tài luận văn thạc sĩ

2- Mục đích của đề tài:

Luận văn hoàn thành sẽ góp phần làm rõ quá trình hình thành và phát triển

tư tưởng về giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật trên thế giới, giúp cho việc nhận thức đầy đủ hơn về cơ sở, ý nghĩa của việc thiết lập các mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật trong Nhà nước pháp quyền và đặc trưng cơ bản của các mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật phổ biến trên thế giới hiộn nay Đồng thời, trên cơ sở khái quát quy định pháp luật và viộc thực thi pháp luật về giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt nam hiện nay, tác giả luận văn hy vọng sẽ bước đầu đề xuất một số kiến nghị về việc vận dụng kinh nghiêm của nước ngoài nhằm hoàn thiện hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt nam, đảm bảo sao cho hoạt động này thực sự đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

3- Phạm vỉ nghiên cứu của đề tài

Trang 8

cứu một số mô hình điển hình Hơn nữa, ở nhiều mô hình, phạm vi đối tượng văn

bản quy phạm pháp luật chịu sự giám sát tính hợp hiến là tương đối rộng, tác giả luận văn không có điều kiện đi sâu nghiên cứu hết, vì vậy, luận văn tập trung chủ yếu vào phân tích việc giám sát tính hợp hiến đối với những văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp cao, đặc biệt là các văn bản do cơ quan lập pháp ban hành

4- Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong nghiên cứu nhà nước và pháp

Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề cụ thể của luận văn, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp như: phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, phương pháp so sánh

5- Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương với bố cục như

Chương I: Một số vấn đề lý luận về giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật.

1.1- Sự hình thành và phát triển tư tưởng về giám sát tính hợp hiếncủa văn bản quy phạm pháp luật

1.2- Vai trò của giám sát tính hợp hiến đối với văn bản quy phạmpháp luật

1.3- Phân loại hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quyphạm pháp luật

Trang 9

Chương II: Đậc điểm của các mô hình giám sát tính hợp hiến của văn

bản quy phạm pháp luật điển hình trên thế giới.

Chương III- Vận dụng kinh nghiệm giám sát tính hợp hiến của văn

bản quy phạm pháp luật ở nước ngoài vào thực tiễn Việt nam.

3.1 - Quy định của pháp luật và việc thực thi pháp luật về giám sát tính hợp

hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam

3.2- Một số kiến nghị về việc vận dụng kinh nghiệm nước ngoài nhằm hoàn thiện hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở Viột nam

Trang 10

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT TÍNH HỢP HIÊN

CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1 Sự hình thành và phát triển tư tưởng về giám sát tính hợp hiến

của văn bản quy phạm pháp luật

Tư tưởng về giám sát hiến pháp (constitutional review) nói chung và giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (control ofth e constitutionality

oflaw s) nói riêng đã hình thành từ rất lâu trong lịch sử nhà nước và pháp luật thế

giới Theo quan niệm của đa số các tác giả nghiên cứu về vấn đề này, giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra tính phù hợp với Hiến pháp của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ban hành Với mục đích

cơ bản là bảo vệ Hiến pháp như vậy, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật đã trở thành hoạt động không thể thiếu ở hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay

Sự hình thành và phát triển của tư tưởng giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của chủ nghĩa lập hiến ở Mỹ và ở châu Âu Đồng thời, tư tưởng này cũng chính là một phần không thể thiếu của luận thuyết cho rằng Hiến pháp là luật cao nhất, là luật cơ bản Đây

là tư tưởng được đề xướng đầu tiên bởi Locke và Coke Hai ông cho rằng Hiến

pháp là đạo luật tối cao (lex legum), là luật của các luật ịlex aeterna), là luật không thể thay đổi (lex immutabile), và chính luận thuyết này của họ đã góp

phần quan trọng trong lịch sử phát triển pháp luật toàn thế giới

Trang 11

Tuy nhiên, một điều hết sức đặc biệt là, mặc dù trong lịch sử pháp luật của Vương quốc Anh không có Hiến pháp thành văn, nhưng mầm mống của tư tưởng giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật lại được hình thành

ở đất nước này Trước thế kỷ thứ XVII, trong hộ thống pháp luật của Anh, các luật thành văn chỉ là những quy phạm được tạo ra mang tính ngoại lộ và hiếm hoi hơn rất nhiều so với pháp luật chung (common law) đã được hình thành trước đó Trong vụ án Bonham (1610), E Coke đã chỉ rõ mối quan hệ giữa pháp luật chung

và pháp luật do Nghị viện ban hành như sau:

Pháp luật chung luôn thống trị các đạo luật của Nghị viện và trong nhiều trường hợp, pháp luật chung phán quyết các đạo luật đó là vô hiệu: khi một đạo luật của Nghị viện trái với lợi ích và các lý do chung hoặc không thể đem ra thi hành thì pháp luật chung sẽ "kiểm soát" đạo luật đó và phán quyết rằng đạo luật đó vô hiệu [22]

Những quy phạm mà Coke viện dẫn ở đây là những quy phạm mang tính

cơ bản, vĩnh cửu, chắc chắn, nói một cách ngắn gọn, đó là luật có hiệu lực pháp

lý cao hơn, ràng buộc pháp luật của Nghị viện Theo ông, một trong những luật

cơ bản này là Đạo luật Magna Carta Điều quan trọng là, không phải vì độ dài hay độ lớn của luật, mà vì tính quan trọng lớn lao của các vấn đề được chứa đựng trong nó mà Magna Carta là nguồn của tất cả các luật cơ bản của vương quốc Do

đó, Magna Carta được coi là nguồn gốc cổ xưa của các Hiến pháp hiện đại.[19, tr.98]

Với nguyên tắc về tính tối cao của Hiến pháp, dù là Hiến pháp không thành văn, mầm mống của tư tưởng về giám sát hiến pháp nói chung và giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật nói riêng đã hình thành ở nước Anh Theo đó, Hội đồng cơ mật có quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp

Trang 12

của các thuộc địa Anh ban hành trái với luật của Nghị viện hay pháp luật chung

và vì vậy văn bản đó không thể có hiệu lực và cần phải bãi bỏ.[l,tr.69]

Vào những năm 1688 đến 1689, ở nước Anh xảy ra cuộc cách mạng Vinh

quang (Glorious Renovation) Chính từ cuộc cách mạng này, nguyên tắc về tính

tối cao của Nghị viện đã hình thành một cách vững chắc trong pháp luật Anh Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy một điều hết sức nghịch lý là: nguyên tắc về tính tối cao của Nghị viện ở Anh lại ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành chế độ giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật ở Mỹ [24]

Trong tác phẩm "Giám sát hiến pháp trong thế giới đương đại", Cappelletti đã chỉ rõ mối quan hệ giữa cuộc cách mạng 1688 ở Anh và sự hình thành chế độ giám sát Hiến pháp như sau:

Mặc dù cuộc cách mạng Vinh quang 1688 đã đánh dấu sự thắng lợi của nguyên tắc quyền lập pháp tối cao ở Anh, nhưng ở các thuộc địa

Mỹ, người ta đã kế thừa tư tưởng của Coke, tư tưởng khảng định sự ràng buộc Nhà Vua và Nghị viện bởi pháp luật chung (common law) và quyền giải thích pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành của Toà án không phụ thuộc vào pháp luật đó có phù hợp với pháp luật chung hay không Thật là nghịch lý là Cách mạng Vinh quang này không chỉ không cản trở mà còn thúc đẩy sự phát triển của học thuyết mới về giám sát Hiến pháp.[38]

Tư tưởng nêu trên của Coke còn được truyền bá vào những vùng đất thuộc địa Anh ở Mỹ Vì vậy, sau năm 1776, ở một số bang như Pennsylvania và Vermont, phổ biến quan niệm cho rằng luật của bang không thể trái với những luật cơ bản ở bang New Jersey, các toà án bắt đầu đưa tư tưởng về giám sát tính hợp hiến vào áp dụng trong thực tiễn từ năm 1780

Trang 13

Trong Hội nghị lập hiến năm 1787 (Mỹ), vấn đề giám sát tính hợp hiến của các văn bản luật được chưa được bàn đến một cách trực tiếp mà chỉ được xem xét hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên Các cuộc tranh luận ở đây chủ yếu liên quan đến vấn đề tính tối cao của Hiến pháp so với luật pháp của các bang Do đó, nguyên tắc rằng Hiến pháp liên bang phải được áp dụng bởi các thẩm phán và các thẩm phán không áp dụng những điều trong Hiến pháp và luật của các tiểu bang trái với Hiến pháp liên bang đã được đưa vào Hiến pháp 1787 Điều khoản này được coi là Điểu khoản tối cao của Hiến pbáp Mỹ Bình luận về điều khoản này, học giả người Mỹ Allan R Brevver - Carías đã viết như sau:

Điều khoản này đưa ra sự giới hạn mang tính hiến định đối với Nghị viện và giao thẩm quyền cho Toà án Tối cao giải quyết tất cả các vụ việc phát sinh theo Hiến pháp, bên cạnh đó, cùng với cơ sở của hệ thống luật hiến pháp đã dẫn đến sự chấp thuận mang tính lý thuyết về tính tối cao của Hiến pháp và sự tồn tại của chế độ giám sát hiến pháp.[19, tr.99]

Trên thực tế, nguyên tắc về tính tối cao của Hiến pháp lần đầu tiên được nhà tư tưởng chính trị Alexander Hamilton đề ra vào năm 1788 Trong tác phẩm

The Federalist, khi đề cập tới vai trò của Toà án như là những chủ thể giải thích

pháp luật, Hamilton cho rằng:

Hiến pháp phải được coi là luật cơ bản Do đó các thẩm phán phải có quyền xác định nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp cũng như của các đạo

■ • luật do cơ quan lập pháp ban hành Nếu xảy ra trường hợp khác nhau giữa hai loại văn bản này thì đương nhiên, Hiến pháp phải cao hơn Nói cách khác, Hiến pháp phải được coi là ưu thế hơn so với luật, ý chí của nhân dân phải cao hơn ý chí của những người đại diện của họ.[30, tr.491 ]

Trang 14

Đổng thời, ông cũng nhấn mạnh rằng, Toà án có quyền tuyên bố các đạo luật của Nghị viện ban hành bị vô hiệu nếu chúng trái với Hiến pháp.

Xung quanh quan điểm nói trên của Hamilton có rất nhiều ý kiến khác nhau Có quan điểm cho rằng nếu Toà án có quyền tuyên bố đạo luật vi phạm hiến pháp là vô hiệu thì tức là ám chỉ ưu thế lớn hơn của hệ thống tư pháp so với lập pháp Để đáp lại quan điểm đó, Hamilton cho rằng:

Toà án phải ưu tiên Hiến pháp hơn so với các đạo luật thường bởi lẽ, quyền lực của nhân dân cao hơn cả quyền lập pháp và tư pháp và khi ý chí của cơ quan lập pháp được tuyên bố trong các đạo luật của nó chống lại ý chí của nhân dân được tuyên bố trong Hiến pháp thì các thẩm phán phải tuân theo Hiến pháp hơn là theo các đạo luật thường Các phán quyết của thẩm phán phải căn cứ vào luật cơ bản hơn là căn cứ vào các luật không cơ bản Do vậy, không có văn bản quy phạm pháp luật nào trái với Hiến pháp lại có hiệu lực Nếu từ chối điều đó tức là những nghị

sĩ lại cao hơn cái gốc của họ hay nói cách khác, những người công bộc của nhân dân lại cao hơn chính bản thân nhân dân [31 ]

Như vậy, sự ra đời của bản Hiến pháp đầu tiên trên thế giới - Hiến pháp

Mỹ năm 1787, mang ý nghĩa là đạo luật tối cao, đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp

lý cao nhất không chỉ tạo nên bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập hiến thế giới mà còn là nguồn gốc trực tiếp của sự ra đời chế độ giám sát hiến pháp nói chung và giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật nói riêng Bởi lẽ, khi Hiến pháp ra đời với ý nghĩa là đạo luật tối cao, là cơ sở cho toàn bộ

! hộ thống pháp luật thì nhu cầu bảo vệ tính tối cao đó, mà thực chất và sâu xa hơn

ỉ là bảo vệ những giá trị, những nguyên tắc cơ bản chứa đựng trong Hiến pháp (được đặt ra hết sức cần thiết và quan trọng Mục đích của việc bảo vệ Hiến pháp (chính là nhằm bảo vộ nền móng và cơ sở pháp lý của Nhà nước và toàn xã hội

Trang 15

Hơn nữa, chỉ đến khi có Hiến pháp thành văn thì việc giám sát tính hợp hiến nhằm bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp và sự bền vững của Hiến pháp mới thật

sự có cơ sở pháp lý chắc chắn và rõ ràng hơn

Trong lịch sử pháp luật của Mỹ, khả năng huỷ bỏ những đạo luật trái với Hiến pháp bởi các toà án đã được suy tính bởi Nghị viện đầu tiên và được quy định ở Đạo luật Tư pháp 1789 Trong hai vụ án Vanhome's Lessee kiện Dorrance (1795) và Cooper kiện Telfair (1800), Toà án đã tuyên bố đạo luật của bang là vô hiệu vì nó trái với Hiến pháp bang và Hiến pháp liên bang Bằng những lập luận rất cụ thể về Hiến pháp là gì, cơ quan lập pháp là gì, thẩm phán Paterson đã kết luận trước Hội đồng xét xử như sau:

Hiến pháp là nội dung tổng quát của hệ thống chính trị Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải coi Hiến pháp là trung tâm Không còn gì phải nghi ngờ rằng, tất cả những đạo luật của cơ quan lập pháp trái với Hiến pháp đều vô hiệu hoàn to àn [41 ]

Tuy nhiên, ý định của những người sáng lập Hiến pháp và quyết định của Toà án ở hai vụ việc nêu trên chưa đủ để hình thành cơ chế giám sát hiến pháp một cách vững chắc ở Mỹ Chỉ đến khi có phán quyết của Toà án trong vụ Marbury kiện Madison (1803) thì nguyên tắc tính tối cao của Hiến pháp và giám sát tính hợp hiến của các vãn bản quy phạm pháp luật mới được xác lập một cách

rõ ràng Trong phán quyết đó, ông Chưởng lý Marshall đã quyết định, Toà án tối cao có thể thực hiện thẩm quyền của nó được quy định ở Đạo luật tư pháp 1789

và phù hợp với Hiến pháp liên bang được ban hành lệnh của Toà án cấp cao hơn đối với Toà án cấp dưới (vvrits mandamus) đối với các viên chức Nhà nước Ông

đã chứng minh luận thuyết về tính tối cao của Hiến pháp dựa trên lập luận về vấn đề: Liệu một đạo luật trái với Hiến pháp có thể thành luật của Nhà nước hay không? Ồng thừa nhận quan điểm cho rằng "quyền lực gốc" của nhân dân thiết

Trang 16

lập những nguyên tắc về nhà nước của họ như là nền tảng mà trên đó toàn bộ kết cấu nhà nước Mỹ được dựng nên Trên cơ sở đó, ông cho rằng quyền lực gốc hay quyền nguyên bản thông qua những nguyên tắc cơ bản và vĩnh cửu là một nỗ lực

vô cùng lớn và không thể lặp đi lặp lại một cách thường xuyên Chính ý chí gốc

và tối cao của nhàn dân tổ chức nên chính quyền và phân công quyền lực cho các

cơ quan nhà nước khác nhau, thiết lập những giới hạn quyền lực nhất định mà các cơ quan nhà nước này không thể vượt qua Do vậy, quyền lập pháp cũng phải được xác định và giới hạn và chính bản Hiến pháp thành văn phải chứa đựng những nguyên tắc cơ bản và vĩnh cửu này Vì thế, Hiến pháp không thể bị thay đổi bởi lập pháp thông thường.[19tr.l02]

Cuối cùng, Marshall kết luận: nguyên tắc Hiến pháp là luật cơ bản và cao nhất của quốc gia là một trong những nguyên tắc cơ bản của xã hội hiện đại Kết quả tất nhiên của nguyên tắc này là: một đạo luật của cơ quan lập pháp trái với Hiến pháp thì vô hiệu Ông cho rằng nhiệm vụ hết sức cơ bản của các cơ quan tư pháp là quyết định xem nguyên tắc nào chi phối trong trường hợp một đạo luật trái với Hiến pháp Theo ông, trong những trường hợp đó, "Hiến pháp cao hơn so với bất cứ đạo luật thường nào của cơ quan lập pháp Hiến pháp, chứ không phải

là những đạo luật thường, giữ vị trí chi phối trong trường hợp cả Hiến pháp và đạo luật thường được áp dụng".[19, tr 102]

Với phán quyết của Marshall và thông qua những suy luận lôgic của ông, nguyên tắc về tính tối cao của Hiến pháp và về giám sát tư pháp tính phù hợp với Hiến pháp của các đạo luật lập pháp đã trở nên vững chắc trong hệ thống pháp luật của Mỹ

Hầu hết các tác giả khi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của chế độ giám sát Hiến pháp trên thế giới đều cho rằng phán quyết của Marshall trong vụ án Marbury kiện Madison chính là nguồn gốc trực tiếp của chế độ giám

Trang 17

sát Hiến pháp Cho đến nay, vụ án Marbury kiện Madison này đã hơn hai trăm năm và đã xảy ra rất nhiều cuộc tranh luận về phán quyết nói trên, nhưng hầu hết các học giả đều thừa nhận đó là một vụ án kinh điển và là nguồn gốc trực tiếp của hoạt động giám sát tính phù hợp Hiến pháp của các đạo luật lập pháp.

Theo tư tưởng của các học giả và thẩm phán nói trên, hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật đã được tiến hành đầu tiên ở Mỹ

ở đây, không có một cơ quan chuyên biệt nào được thành lập và được trao quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp iuật mà tất cả các thẩm phán ở tất cả các toà án các bang, toà án liên bang và Toà án tối cao đều có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật trong quá trình xét xử Những vấn

đề về Hiến pháp luôn được xem xét bởi các toà án khi chúng nảy sinh trong một

vụ việc cụ thể và các thẩm phán có quyền tuyên bố một đạo luật của Nghị viện

vô hiệu khi đạo luật đó trái với Hiến pháp

Dưới góc độ cơ sở pháp lý của hoạt động giám sát này, từ tnrớc tới nay

có nhiều quan điểm khác nhau, hay nói cách khác, người ta chưa hoàn toàn thống nhất về tính pháp lý của hoạt động giám sát tư pháp tính hợp hiến của các đạo luật lập pháp Thực chất, viộc tất cả các toà án có quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền xét xử thông thường của chúng để đem ra thi hành hoặc từ chối áp dụng những luật đó nếu thấy rằng chúng vi hiến và do đó bị coi là vô hiệu chưa được quy định một cách rõ ràng và trực tiếp trong Hiến pháp Mỹ Trong tác phẩm "Vụ án Marbury kiện Madison và

lý thuyết về giám sát Hiến pháp" (Marbury V Madison and the doctrine o f judicial review), nhà nghiên cứu người Mỹ E.S.Convin cho rằng:

Chức năng xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật của các toà án được suy luận ra bởi Toà án tối cao trong vụ Marbury và Madison từ toàn bộ hệ thống luật hiến pháp Phán quyết của vụ án đó

Trang 18

dựa trên hai quan điểm chính, đó là: l.Tính tối cao của Hiến pháp, Hiến pháp là luật cơ bản, tất cả các luật khác phải phù hợp Hiến pháp;

và 2 Trách nhiệm của Toà án phải giải thích các văn bản luật và không

áp dụng những luật trái với Hiến pháp.[28, tr.538]

Trách nhiệm cơ bản nói trên của các toà án Mỹ cũng đã được tổng kết bởi Toà án Tối cao trong vụ Chính quyền Mỹ và Buttler (1936) như sau:

Hiến pháp là luật tối cao của Nhà nước được quy định và thiết lập bởi nhân dân Toàn bộ hệ thống pháp luật phải phù hợp với nguyên tắc do Hiến pháp đề ra Nếu một đạo luật của Nghị viện bị Toà án coi là không phù hợp với sự giới hạn quyền lực hiến định, hệ thống tư pháp

có trách nhiệm duy nhất là đặt điều khoản của Hiến pháp được viện dẫn bên cạnh đạo luật đó và quyết định xem liệu đạo luật đó có đúng với Hiến pháp hay không Các Toà án phải tuyên bố phán quyết của nó

về vấn đề tính hợp hiến của văn bản luật Quyền duy nhất mà toà án có (nếu được goi là quyền) đó là quyền phán quyết Toà án không phê chuẩn cũng không chỉ trích chính sách lập pháp nào Nhiộm vụ hết sức khó khăn và nhạy cảm của Toà án là xác định và tuyên bố liệu văn bản pháp luật đó có phù hợp hay trái với những điều khoản của Hiến pháp,

và khi làm được điều đó, Toà án mới hoàn thành trách nhiệm.[44]

Từ tổng kết nói trên của Toà án tối cao Mỹ, tất cả các toà án Mỹ được coi như là người bảo vệ đặc biệt của Hiến pháp liên bang và của Hiến pháp các bang

Khoảng 130 năm sau khi giám sát Hiến pháp được hình thành và phát triển ở Mỹ, vào năm 1914, giáo sư người Áo - Hans Kelsen - đã đưa ra một tư tưởng mới đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của giám sát Hiến pháp Giống như lý thuyết luật Hiến pháp của Mỹ, Hans Kelsen cũng

Trang 19

khẳng định tính tối cao của Hiến pháp và nhu cầu phải bảo vệ Hiến pháp tối cao

đó Tuy nhiên, cơ quan có quyền giám sát Hiến pháp không phải là tất cả các toà

án mà là Toà án Hiến pháp hoặc Toà án tối cao Toà án Hiến pháp là cơ quan có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và điều này phải được quy địnhmột cách rõ ràng trong Hiến pháp Để thể hiện nguyên tắc này, Hiến pháp Áo (1920) quy định cấm các thẩm phán thường xem xét hiệu lực của các luật, nghị định hoặc các điều ước quốc tế được ban hành Do vậy, tính tối cao của Hiến pháp chỉ có thể được bảo đảm bởi cách duy nhất là thiết lập một cơ quan hiến định nằm ngoài hộ thống quyền tư pháp có trách nhiệm xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật

Trên cơ sở tư tưởng của Hans Kelsen, Toà án Hiến pháp đã được thiết lập đầu tiên ở Séc (theo Hiến pháp 29/1/1920) và Áo (theo Hiến pháp 1/10/1920) Toà án Hiến pháp Séc đã không đề cao chức năng giám sát tính hợp hiến trong suốt thời gian gần hai mươi năm tồn tại của nó và chức năng này đã biến mất vào năm 1938 nhưng sau đó nó được thành lập lại vào nãm 1968 Mặc dù vậy, những quy định ban đầu của Hiến pháp Séc về Toà án Hiến pháp có thể được xem là tiền lệ của mô hình giám sát hiến pháp ở châu Âu

Hiến pháp xác định rõ nguyên tắc tính tối cao của Hiến pháp và đảm bảo rằng tất cả các văn bản trái với Hiến pháp và quy định của Hiến pháp và luật hiến pháp phải bị coi là vô hiệu Thẩm quyền duy nhất đánh giá tính không phù hợp Hiến pháp của các đạo luật được trao cho Toà án Hiến pháp Toà án Hiến pháp này được thành lập theo Hiến pháp và được quy định bởi luật đặc biệt được thông qua ngay lập tức sau khi ban hành Hiến pháp Cơ quan này có toàn quyền giám sát tư pháp hiến pháp mà không có một sự chia sẻ nào khác.[38, tr.50]

Trang 20

Vấn đề tính không phù hợp Hiến pháp hay sự vô hiệu của các đạo luật chỉ

có thể được đưa ra Toà án Hiến pháp một cách trừu tượng dựa trên sự vi hiến của các đạo luật chứ không liên quan đến một vụ việc cụ thể nào Do đó, giám sát Hiến pháp chỉ được thực hiện thông qua một số cơ quan lập pháp hoặc tư pháp như Quốc hội, Toà án tối cao, Toà án Hành chính tối cao hoặc Toà án về bầu cử

Toà án Hiến pháp Áo được hình thành đầu tiên vào năm 1920 và sau đó được hoàn thiện bởi Cải cách Hiến pháp 1929 đã trở thành thể chế tiên phong của

hệ thống giám sát Hiến pháp tập trung của các rìước châu Âu

Sự hình thành thể chế tư pháp Hiến pháp này ở châu Âu là do ảnh hưởng của lý luận về pháp luật của Hans Kelsen Theo ông, những quy phạm Hiến pháp được xem là những quy phạm cơ bản, là cơ sở của hiệu lực của các quy phạm trong trật tự pháp lý Hộ quả tất yếu của lý thuyết cơ bản này là: yêu cầu phải có một cơ quan nhà nước bảo vệ Hiến pháp nhằm giải quyết các tranh chấp và đảm bảo sự nhất quán của tất cả các quy phạm kể cả quy phạm cụ thể và quy phạm chung đối với hệ thống thứ bậc mà cao nhất là Hiến pháp

Hans Kelsen đã chỉ rõ rằng tư pháp hiến pháp bao gồm cơ quan bảo vệ sự nhất quán của các quy phạm thấp hơn đối với quy phạm cao hơn mà từ đó này chúng được hình thành và trên cơ sở đó nội dung của chúng được xác định Như vậy, cơ quan tư pháp hiến pháp - người bảo vệ Hiến pháp là kết quả của "cấu trúc kim tự tháp" của trật tự pháp lý trên cơ sở đó tính thống nhất và trật tự thứ bậc của của các quy phạm khác nhau được xác lập

Hệ thống giám sát hiến pháp được thực hiện bởi Toà án Hiến pháp trên cơ

sở tư tưởng của Hans Kelsen nói trên đã được áp dụng rất thành công ở các nước theo truyền thống luật châu Âu lục địa Vào giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, mô hình Toà án Hiến pháp của áo chỉ được tiếp nhận ở Séc và Tây Ban

Trang 21

Nha Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều Hiến pháp thành văn được hình thành (kể cả Luật cơ bản của Cộng hoà Liên bang Đức và Hiến pháp của Cộng hoà Italia 1948) đã quy định một cách rõ về chế độ giám sát hiến pháp tập trung đối với văn bản pháp luật do Nghị viện ban hành Sau đó, các Toà án Hiến pháp

đã được hình thành ở Thổ Nhĩ Kỳ (1961), Nam Tư (1963), Tây Ban Nha (1978),

Ấn độ (1949), Luxembourg ( 1 9 5 0 ) ở hầu hết các nước thuộc châu Mỹ La tinh cũng như ở một số nước châu Phi và châu Á có hệ thống pháp luật theo mẫu hình của các nước Tây Âu Riêng ở nước Pháp, theo quy định của Hiến pháp, quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật được trao cho một cơ quan nằm trong hệ thống lập pháp, đó là Hội đồng bảo hiến Cơ quan này được quyền huỷ

bỏ văn bản pháp luật bị coi là vi hiến Hội đồng bảo hiến của Pháp trở thành Toà

án đặc biệt, ở đó, các vấn đề Hiến pháp được đưa đến để xin ý kiến về tính hợp hiến nhưng chỉ mang tính chất tư vấn và trừu tượng

Ý tưởng về việc thành lập Toà án Hiến pháp cũng đã được chấp thuận ở các nước thuộc liên bang Xô viết cũ và cả các nước Xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông

Âu như: Nam tư cũ, Ba lan, Liên bang Nga, Ucraina, Croatia, Slovenia, Latvia,

và ở một số nước châu Á Tất cả các nước này đều tiếp nhận nguyên tắc của chủ nghĩa lập hiến của phương Tây, theo đó, Hiến pháp thành văn được thiết lập Hiến pháp thành văn này quy định cả việc phân chia quyền lực nhà nước, ghi nhận và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của cá nhân công dân Điều quan trọng

là Hiến pháp của tất cả các nước nói trên đều quy định việc thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp mặc dù cách thức tổ chức của chúng không hoàn toàn giống nhau

Tóm lại, trên cơ sở những tư tưởng ban đầu của Coke, Hamilton, Marshall, và sau đó là của Hans Kelsen , nguyên tắc Hiến pháp là luật cơ bản,

Trang 22

luật tối cao của Nhà nước đã trở thành một trong những nguyên tắc nền tảng và

quan trọng nhất của luật Hiến pháp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Xuất

phát từ việc đảm bảo nguyên tắc này, việc giám sát tính hợp hiến của văn bản

quy phạm pháp luật đã trở nên một yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết Dù

hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật này được thực

hiện bởi tất cả các toà án theo mô hình ban đầu của Mỹ hay bởi cơ quan bảo hiến

chuyên trách như Toà án Hiến pháp, nó vẫn đã và đang là một hoạt động không

thể thiếu Hơn nữa, giám sát tính hợp hiến của yăn bản quy phạm pháp luật còn

được như coi là một công cụ hữu hiệu để duy trì sự ổn định chính trị và sự bển

vững của các xã hội dân chủ

1.2 Vai trò của giám sát tính hợp hiến đối với văn bản quy phạm pháp luật

Trước hết, để có thể thấy rõ vai trò của giám sát tính hợp hiến của các văn

bản quy phạm pháp luật, chúng ta cần tìm hiểu thẩm quyền của cơ quan giám sát

Hiến pháp liên quan đến việc giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm

pháp luật

Cơ quan giám sát Hiến pháp (dù là tất cả các toà án hay Toà án Hiến

pháp hay Hội đồng bảo hiến) thông thường đều xem xét tính hợp hiến của các

vãn bản quy phạm pháp luật có hiộu lực thấp hơn hiến pháp, nhưng chủ yếu là

t các đạo luật do Nghị viện ban hành Thực hiện chức năng này, cơ quan giám sát

Hiến pháp có thẩm quyền sau:

- Tuyên bố về tính hợp hiến hay không hợp hiến của các văn bản;

- Tuyên bố về sự vô hiệu của văn bản vi hiến và có thể huỷ bỏ văn bản

đó;

Trang 23

- Tuyên bố về trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản bị coi là vi hiến.

Với thẩm quyền như vậy, giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ Hiến pháp, bảo

vệ tính tối cao của Hiến pháp trong toàn bộ hệ thống pháp luật và do đó, đảm bảo các quyền và tự do hiến định của công dân

+ Vai trò đảm bảo tính tối cao, sự toàn vẹn của Hiến pháp và bảo đảm

sự thống nhất của hệ thống pháp luật.

Khi giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan

có thẩm quyền bảo hiến góp phần quan trọng, chủ yếu và hàng đầu trong việc bảo đảm sự tối thượng của Hiến pháp

Chúng ta biết rằng, trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, ranh giới hiệu lực pháp lý của mỗi loại văn bản là hoàn toàn khác nhau Ý nghĩa hay hiệu lực pháp lý của mỗi loại văn bản tuỳ thuộc vào vị trí cụ thể của văn bản đó trong trật tự thứ bậc của hệ thống pháp luật Theo các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại hệ thống văn bản pháp luật, nhưng nhìn chung có ba loại văn bản pháp luật đó là: 1- Hiến pháp; 2- Văn bản được ban hành theo thẩm quyền xuất phát trực tiếp từ Hiến pháp; 3- Văn bản được ban hành theo thẩm quyền phái sinh từ Hiến pháp

Đối với những văn bản luật mà thẩm quyền ban hành phát sinh trực tiếp

từ Hiến pháp, việc giám sát tính hợp hiến của chúng nhằm đảm bảo rằng tất cả những văn bản quy phạm pháp luật đó được ban hành và thông qua phù hợp với Hiến pháp Điều này đã được Hans Kelsen chỉ rõ rằng: " Bảo vệ Hiến pháp có nghĩa là bảo vệ tính đúng đắn, tính hợp pháp của các quy phạm thấp hơn gần nhất với Hiến pháp, tức là người bảo vệ tính hợp hiến của các đạo luật"[19, tr.82] Đối

Trang 24

với những văn bản loại này, tính hợp pháp của chúng tương đương với tính hợp hiến và giám sát tính hợp pháp của các văn bản này chính là giám sát tính hợp hiến của chúng.

Sự phân biệt giữa những văn bản xuất phát trực tiếp từ Hiến pháp và văn bản không xuất phát trực tiếp từ Hiến pháp và do đó dẫn đến sự phân biệt giữa giám sát tính hợp hiến và giám sát tính hợp pháp chỉ tồn tại ở những hệ thống pháp luật tồn tại Hiến pháp thành văn với ý nghĩa như là đạo luật cơ bản ở những

hệ thống này đều quy định nguyên tắc Hiến pháp được áp dụng trực tiếp và bản thân Hiến pháp chiếm vị trí cao hơn hẳn trong hệ thống thứ bậc của các văn bản pháp luật Hơn nữa, ở những nước mà Toà án có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật thì bản chất quy phạm của Hiến pháp hay bản chất bắt buộc của chúng là rất rõ ràng Trong hầu hết các hệ thống pháp luật có Hiến pháp thành văn, giám sát hiến pháp được đặt ra cụ thể và chủ yếu trong mối quan hệ với văn bản của cơ quan lập pháp Do đó, nó thường được gọi là giám sát tính hợp hiến của hoạt động lập pháp Nghị viện hay Quốc hội là cơ quan lập pháp - cơ quan đại diện cao nhất của chủ quyền nhân dân, phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân nhưng hoạt động của nó không được vượt khỏi khuôn khổ Hiến pháp

mà phải phù hợp với Hiến pháp Vì vậy các đạo luật của Nghị viện hay Quốc hội luôn luôn phải phù hợp với hiến pháp và khi chúng vượt quá các giới hạn do Hiến pháp quy định, chúng bị coi là vi hiến và do đó chúng sẽ vô hiệu và bị loại bỏ khỏi hệ thống pháp luật Khi kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, cơ quan bảo hiến không đặt ý chí của mình đối lập với ý chí của nhân dân, cơ quan này 'được giao nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp - sự thể hiện long trọng nhất, sâu sắc nhất ý chí của nhân dân khỏi mọi sự vi phạm của Nghị viện trong trường hợp Đạo luật cơ bản không được Nghị viện tôn trọng [8, tr.72]

Trang 25

Ngoài ra, thực tiễn ở nhiều nước cho thấy, đối tượng giám sát của các cơ quan bảo hiến không chỉ là các đạo luật do Nghị viện thông qua, mà còn là các văn bản của nhánh hành pháp, đặc biệt là văn bản lập pháp uỷ quyền, và các quyết định tư pháp Những văn bản này chiếm một tỉ lệ lớn trong hệ thống pháp luật của một nhà nước hiện đại và chính ở chúng tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ vi phạm những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp và gây tổn hại đến quyền và tự do của công dân.

Việc giám sát đối với văn bản của cơ quan hành chính và tư pháp nói trên không chỉ tồn tại ở các nước châu Âu lục địa mà còn cả ở các nước theo truyền thống luật Anh Mỹ Nhiệm vụ của cơ quan bảo hiến khi giám sát tính hợp hiến là đảm bảo rằng mỗi hành vi pháp lý phải phù hợp với văn bản luật có hiệu lực pháp

lý cao hơn Nhờ có sự vận hành của thiết chế này, cả văn bản của cơ quan lập pháp, văn bản của cơ quan hành pháp và tư pháp đều bị xem xét tính hợp hiến và hợp pháp

Tóm lại, chế độ giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo nguyên tắc tôn trọng Hiến pháp và pháp luật Nói cách khác, nó đảm bảo việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước luôn tuân thủ nghiêm chỉnh trật tự thứ bậc của hệ thống pháp luật và do đó đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong một nhà nước pháp quyền- nơi mà nguyên tắc tôn trọng Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc quan trọng hàng đầu Do đó, có thể khẳng định rằng, Nhà nước pháp quyền chỉ hình thành khi ở đó có thiết lập chế độ giám sát tính hợp hiến của các vãn bản quy phạm pháp luật

+ Giám sát tính hợp hiến của ván bản quy phạm pháp luật góp phần

bảo vệ quyền và tự do hiên định của công dân.

Trang 26

Từ thẩm quyền của cơ quan bảo hiến đã nêu ở trên, rõ ràng là mục đích của hoạt động bảo hiến nói chung khi kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản pháp luật đó là bảo vệ các quyền và tự do của công dân Trorìg các nhà nước hiện đại, các quyền và tự do của công dân được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật, đặc biệt là trong Hiến pháp Hiến pháp hầu hết các nước đều quy định những quyền và tự do cơ bản của công dân cũng như các nguyên tắc bảo đảm các quyền và tự do đó Trong quá trình xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan có thẩm quyền tuyên bố rằng những văn bản vi phạm Hiến pháp nói chung và vi phạm những quy định về quyền và tự do của công dân nói riêng là vô hiệu Nếu thực thi những văn bản này có thể làm hạn chế việc thực hiện các quyền và tự do của công dân, hơn nữa còn gây thiệt hại không nhỏ trong nhiều mặt cuộc sống của người dân Do vậy, việc đình chỉ thực hiện hay bãi bỏ hoàn toàn những văn bản đó là vô cùng cần thiết nhằm ngăn chặn sự vi phạm của các cơ quan nhà nước, giảm bớt thiệt hại cho công dân, đồng thời góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý thật sự đầy đủ và vững chắc hơn cho công dân thực hiộn các quyền và tự do cơ bản của mình.

+ Giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa

quan trọng trong việc đảm bảo sự cân bằng và Ổn định trong cơ cấu quyền lực nhà nước.

Chúng ta biết rằng, dù trong thể chế nhà nước theo nguyên tắc tập trung quyền lực hay theo nguyên tắc tam quyền phân lập, quyền lực nhà nước đều được thực hiện qua ba nhánh cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong quá trình phát triển của hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia không tránh khỏi tình trạng cơ quan lập pháp ban hành những đạo luật vi phạm Hiến pháp Cơ quan được giao giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (Toà án Hiến pháp hoặc các toà án thường hoặc Toà án tối cao) có vai trò tích cực hạn chế tình trạng đó

t h ư v s ệ n

Ĩ R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C L U Ậ T H À N Ô I

Trang 27

Khi giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan này

không đặt ý chí của mình đối lập với cơ quan lập pháp, mà chúng được giao

nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp khỏi sự vi phạm của cơ quan lập pháp

Bèn cạnh đó, trong mối quan hệ với cơ quan hành pháp, cơ quan bảo vệ

Hiến pháp có vai trò như sự đối trọng quyền lực Bởi lẽ, thực chất phần lớn các

văn bản do cơ quan lập pháp ban hành đều được soạn thảo bởi Chính phủ Do

vậy, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật cũng có thể được coi

là một kênh giám sát đối với Chính phủ

Ngoài ra, vai trò của giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp

luật còn thể hiện ở chỗ kết quả của hoạt động này có ý nghĩa như là một nguồn

đặc biệt của pháp luật Gầy đây, các toà án có xu hướng giảm bớt việc huỷ bỏ văn

bản mà tập trung vào việc đem lại sự giải thích đối với văn bản Những sự giải

thích như vậy có thể được công nhận là nguồn của pháp luật

1.3 Phân loại hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật

Trên cơ sở các tiêu chí khác nhau, hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn

bản quy phạm pháp luật có thể được chia thành các loại như sau:

1.3.1 Giám sát trước ịa priori review) và giám sát sau (ạ posteriory

review)

Căn cứ vào thời gian tiến hành hoạt động giám sát, giám sát tính hợp hiến

của văn bản quy phạm pháp luật được chia thành: giám sát trước (a priori reviexv)

và giám sát sau (a posteriory revỉew)

+ Giám sát trước là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của văn bản quy phạm

pháp luật (thường là các đạo luật của nghị viện) trước khi văn bản đó có hiệu lực

pháp lý Thông thường nó được thực hiện trong giai đoạn đạo luật của cơ quan lập

Trang 28

pháp đã được cơ quan đó thông qua, và trong thời gian chờ nguyên thủ quốc gia công bố.

Hiến pháp nhiều nước quy định có những loại văn bảri pháp luật bắt buộc phải thông qua giám sát, kiểm tra về tính hợp hiến, nếu có quyết định khẳng định về tính hợp hiến của văn bản thì Nguyên thủ quốc gia mới được ký lệnh công bố Chẳng hạn: Hiến pháp Cộng hoà Pháp quy định đối vói các đạo luật về tổ chức nhà nước trước khi đưa ra công bố, quy chế hoạt động của các viện trước khi đưa ra thi hành thì phải trình lên Hội đồng Bảo hiến để kiểm tra về tính hợp hiến Trường hợp đạo luật bị phán xét là không phù hợp với Hiến pháp thì đạo luật đó không được

< công bố, hoặc không được đưa ra thi hành

Giám sát trước cũng thường được áp dụng với các điều ước quốc tế mà quốc : gia ký kết hoặc tham gia

Hình thức giám sát này là giám sát trừu tượng, giám sát mang tính nguyên

1 tắc và thường được áp dụng ở những nước xây dựng thiết chế giám sát tính hợp hiến (của vãn bản quy phạm pháp luật theo mô hình châu Âu lục địa

Giám sát trước (trừ trường hợp giám sát bắt buộc) được thực hiện trên cơ sở : yêu cầu của các chủ thể có thầm quyền do Hiến pháp quy định, đó thường là nguyên

1 thủ quốc gia, Chính phủ, Chủ tịch nghị viộn hoặc một số lượng nghị sỹ nhất định

+ Giám sát sau là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy ] phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp lý và hoạt động của các cơ quan nhà nước, (công chức Nhà nước có thẩm quyền Hình thức này có ở nhiều mô hình thiết chế

l giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, có thể thuộc dạng giám sát

1 trừu tượng hoặc giám sát cụ thể (phát sinh từ một vụ việc cụ thể đã hoặc đang dược icác toà án thường giải quyết) Đối tượng của hoạt động giám sát sau cũng rất đa (dạng, phong phú

1.3.2 Giám sát bên trong và giám sát bên ngoài.

Căn cứ vào vị trí thực hiện hoạt động giám sát, giám sát tính hợp hiến của

Trang 29

văn bản quy phạm pháp luật được chia thành giám sát bên trong và giám sát bên ngoài.

+ Giám sát Hiến pháp bên trong là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản do chính cơ quan ban hành văn bản đó ban hành

+ Giám sát bên ngoài là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước khác Giám sát bên ngoài thông thường là hoạt động giám sát sau khi đạo luật

đã được nghị viện thông qua, vì vậy những dự án luật đang được xây dựng không thuộc đối tượng của quyền giám sát bên ngoài Giám sát bên ngoài theo cách phân loại trên có thể là giám sát trước hoặc giám sát sau

Tất nhiên quyền giám sát từ bên trong là rất quan trọng, là tiền đề đầu tiên cho việc đảm bảo tính hợp hiến của các đạo luật, tuy nhiên, cơ chế này thường không phức tạp, thường do các bộ phận cấu thành nên cơ quan nhà nước đó thực hiện Giám sát bên ngoài là đối tượng nghiên cứu chủ yếu, bởi cần có một cơ chế phức tạp, dựa trên những nguyên tắc hiến định và được thể chế trong những vãn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất của quốc gia

1.3.3 Giám sát khuyến nghị, tư vấn và giám sát quyết định.

Căn cứ vào kết quả của hoạt động giám sát, hiệu lực của quyết định giám sát, quyền giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát khuyến nghị, tư vấn và giám sát quyết định

+ Giám sát khuyến nghị, tư vấn là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản hay hành vi chỉ mang tính chất chính trị, đạo đức chứ không gắn với hậu quả pháp lý (không quy kết nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý) Kết quả của hoạt động giám sát này chỉ có tính chất tham khảo và là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm (quyển xem xét chứ không có tính bắt buộc Chính vì vậy, hiệu lực và hiệu quả của

i hoạt động giám sát loại này không cao

+ Giám sát quyết định gắn với hậu quá pháp lý, phán quyết của cơ quan tiến

Trang 30

hành hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên liên quan và trong trường hợp phán quyết có hiệu

lực erga omnes (hiệu lực bắt buộc chung) Ví dụ, việc cơ quan giám sát tính hợp

hiến của văn bản quy phạm pháp luật tuyên bố một đạo luật không phù hợp với Hiến pháp sẽ dẫn đến việc đạo luật đó bị huỷ bỏ, vô hiệu hoặc không thể được áp dụng nữa

1.3.4 Giám sát bắt buộc và giám sát không bắt buộc.

Căn cứ vào tính bắt buộc của hoạt động giám sát, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật được chia thành giám sát bắt buộc và giám sát không bắt buộc

+ Giám sát bắt buộc là trường hợp hoạt động giám sát tính hợp hiến văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở để phát hiệu lực pháp lý cho văn bản đó Thủ tục giám sát tính hợp hiến được coi như một phần bắt buộc của quá trình thông qua đạo luật

đó Ví dụ văn bản quy phạm pháp luật buộc phải được cơ quan có thẩm quyển kiểm tra tính hợp hiến trước khi ban hành (trước khi có hiệu lực) như trường hợp điển hình

về quyền giám sát trước của Hội đổng Bảo hiến của Pháp

+ Giám sát không bắt buộc là hoạt động giám sát của cơ quan giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền Trường hợp này có thể có giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật hoặc không, cơ quan giám sát không có nghĩa vụ buộc phải thực

I hiện hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật

Đa số các trường hợp giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật

i là giám sát không bắt buộc Thông thường, cơ quan giám sát tính hợp hiến của văn

I bản quy phạm pháp luật không tự mình thực hiện chức năng này của mình, mà thực

1 hiện trên cơ sở đề nghị của các chủ thể khác Trong trường hợp một đạo luật đã được

1 ban hành bị yêu cầu xem xét về tính hợp hiến, Toà án Hiến pháp không có thẩm (quyền tự xem xét mà phải dựa trên cơ sở yêu cầu của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ

Trang 31

tịch nghị viện, một số lượng nghị sỹ nhất định, hoặc của cá nhân công dân theo thủ tục khiếu kiện Hiến pháp.

1.3.5 Giám sát trừu tượng (abstract revieyv) và giám sát cụ thể (concrete review).

Căn cứ vào hình thức thực hiện, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật được chia thành giám sát trừu tượng (hay giám sát về mặt nguyên

tắc - abstract or principle review) và giám sát cụ thể (concrete reviexv).

+ Giám sát trừu tượng là khái niệm chỉ hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các vãn bản quy phạm pháp luật mà không gắn với bất cứ một vụ việc cụ thể nào

Giám sát trừu tượng có thể là trường hợp giám sát trước khi văn bản pháp luật được công bố hoặc có hiệu lực và có thể là giám sát sau, khi Hiến pháp quy định cho cơ quan giám sát Hiến pháp có quyền kiểm tra cả tính hợp hiến của các văn bản pháp luật đã có hiệu lực pháp luật Tất cả các hoạt động giám sát trước đều

là giám sát trừu tượng Giám sát trừu tượng thông thường phát sinh trên cơ sở yêu cầu của các cơ quan, cá nhân có vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước như nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng, Chủ tịch các viện, và nhóm nghị sỹ nhất đinh

+ Giám sát cụ thể là là hình thức giám sát được thực hiộn gắn với một vụ việc cụ thể (thông thường là vụ kiộn tại Toà án), theo đó, hoặc là tòa án trực tiếp tự mình thực hiộn quyền giám sát, xem xét về tính hợp hiến của đạo luật hoặc Toà án (tự mình hoặc theo yêu cầu của các bên) yêu cầu cơ quan giám sát Hiến pháp kết luận về tính hợp hiến của đạo luật đó để áp dụng trong việc giải quyết vụ việc Giám sát cụ thể luôn là giám sát sau và thường gắn liền với việc cụ thể và trong các

vụ việc về bảo vệ các quyền cơ bản của con người và công dân

1.3.6 Giám sát hình thức và giám sát nội dung.

Căn cứ vào nội dung của hoạt động giám sát, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật được chia thành giám sát hình thức và giám sát nội dung

+ Giám sát hình thức là hoạt động kiểm tra việc tuân thủ những yêu cầu, điều

Trang 32

kiện, trình tự, thủ tục do Hiến pháp quy định đối với văn bản quy phạm pháp luật,

tức là kiểm tra văn bản đó có phải do cơ quan có thẩm quyền ban hành hay không,

và việc ban hành có tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục hay không

+ Giám sát nội dung là là hoạt động kiểm tra nội dung của văn bản hay quy

phạm pháp luật có phù hợp với quy định của Hiến pháp hay không

1.3.7 Căn cứ vào hiệu lực theo thời gian của phán quyết, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật được chia thành Ex tunc và Ex nunc.

+ Hiệu lực hồi tố (Ex tunc) có nghĩa là quyết định của cơ quan giám sát về

tính không hợp hiến của văn bản hay quy phạm pháp luật có hiệu lực hồi tố Vì vậy

văn bản hay quy phạm pháp luật bị tuyên bố là vi hiến sẽ bị coi là không có hiệu lực

kể thời điểm ban hành Như vậy các mối quan hệ pháp luật phát sinh hay hình thành

trên cơ sở các quy phạm đó sẽ bị bãi bỏ, quay trở lại nguyên trạng như trước khi ban

hành quy phạm đó Các cơ quan Nhà nước hữu quan phải bồi thường thiệt hại do

việc ban hành văn bản vi hiến đó gây ra

+ Hiệu lực từ thời điểm sau (Ex nunc) có nghĩa là quyết định về tính không

hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật không có hiệu lực hồi tố mà chỉ có hiệu

lực đối với các vụ việc sau này, kể từ thời điểm phán quyết có hiệu lực trở đi Các

quan hệ xã hội đã được phát sinh hay thiết lập trên cơ sở của văn bản hay quy phạm

vẫn có hiệu lực Kể từ ngày tuyên bố về tính không hợp hiến của văn bản hay quy

phạm thì những quan hệ đó không được công nhận và coi là hợp hiến nữa

Giải quyết vấn đề hiệu lực này như thế nào là vấn đề lý luận và thực tiễn có ý

nghĩa to lớn, bởi vì nếu như Ex tunc là phức tạp nhưng có ưu điểm là đảm bảo tối đa

tính hợp hiến nói chung, không thừa nhận bất cứ đạo luật vi hiến nào, nhưng lại rất

phức tạp trong giải quyết hậu quả pháp lý và có thể kéo theo những sự thay đổi do

trong quá khứ đã áp dụng đạo luật nói trên Ngược lại nếu áp dụng hiệu lực Ex ìĩiinc

thì đơn giản hơn về giải quyết hậu quả nhưng như vậy là mặc nhiên thừa nhận hiệu

lực và giá trị của những quy định trái với Hiến pháp, làm giảm bớt giá trị của hoạt

Trang 33

động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật.

1.4 Các mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp

luật

Khi nghiên cứu về các mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm

pháp luật trên thế giới, các chuyên gia về luật Hiến pháp thường xem xét một số nội

dung sau: cơ quan tiến hành hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy

phạm pháp luật, thời điểm tiến hành hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản

quy phạm pháp luật, phương thức, thủ tục hoạt động, tính chất và hiệu lực pháp lý

của các phán quyết Dựa trên những tiêu chí này, người-ta thường chia các mô

hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật thành các nhóm sau

đây:

- Mô hình giám sát tính hợp hiến của ván bản quy phạm pháp luật kiểu

M ỹ (American Model)

Theo mô hình này, khi giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của mình,

các tòa án thường (ordinary courts) khi giải quyết vụ viộc có quyền và trách nhiệm

xem xét tính hợp hiến của các đạo luật sẽ được áp dụng trong vụ việc đó Thủ tục

xem xét tính hợp hiến của các đạo luật không phải là một thủ tục đặc biệt mà được

thực hiộn theo thủ tục thông thường như khi giải quyết các vụ việc khác tại các tòa

án Thẩm quyền này thuộc về tất cả các tòa án thường chứ thành lập cho một Tòa án

đặc biệt nào Nói cách khác, quyền giám sát về tính hợp hiến của đạo luật có tính

chất phân tán, giao cho nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước (mà trực tiếp là hệ

thống các toà án) thực hiện chức năng

Mô hình giám sát này có đặc điểm là các cơ quan tư pháp không có quyền

giám sát trước về tính hợp hiến của một đạo luật trước khi đạo luật đó được công bố,

không có khả năng Chính phủ hay các cơ quan, tổ chức công quyền tìm kiếm quan

điểm của Toà án về tính hợp hiến của các đạo luật đang được đệ trình tại Nghị viện

hoặc trước khi đạo luật được ban hành, hoặc trước khi công bố hay trước khi đạo

Trang 34

luật có hiệu lực Quyền giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở

đây là giám sát sau, giám sát cụ thể Theo đó, Tòa án tối cao hoặc một Tòa án cao

cấp trong hệ thống tòa án thực hiện trong phạm vi thống nhất về thẩm quyền xét xử

Ngoài ra, trong hệ thống giám sát này, phán quyết của tòa án về tính hợp

hiến thông thường có hiệu lực bắt buộc chỉ trong phạm vi các bên của vụ việc được

giải quyết trừ những trường hợp được áp dụng nguyên tắc tiền lệ ịstare decisis -

theo tiếng Latin là “hãy giữ nguyên quyết định”, theo nguyên tắc này khi một

tiền lệ pháp được xác lập thì tất cả các vụ việc tương tự được giải quyết đều phải

quyết định như vậy, phán quyết trước có giá trị bắt buộc, ảnh hưởng tới các phán

quyết sau, trừ trường hợp nó hoàn toàn bị bãi bỏ Theo các nước theo hệ thống

thông luật (common law), nguyên tắc này là cơ sở cho sự ổn định, bền vững của

luật pháp nhàm đảm bảo tính thống nhất cho các quyết định của tòa án, trừ khi

có lý do để thay đổi

Về nguyên tắc, các phán quyết liên quan đến việc xác định tính chất hợp

hiến hay không hợp hiến của các đạo luật mang tính chất giải thích và có hiệu lực

hổi tố (extunc).

Khi Toà án tối cao xác định một đạo luật là vi hiến, toà án thường không có

thẩm quyền huỷ bỏ đạo luật đó, hay tuyên bố đạo luật đó vô hiệu như trong hệ thống

giám sát Hiến pháp tập trung Toà án chỉ không áp dụng đạo luật đó trên thực tế,

phán quyết này có hiệu lực buộc đối với các toà án cấp dưới, nếu đó là phán quyết

của Toà án tối cao thì bắt buộc đối với cả hệ thống tư pháp Như vậy về hình thức

đạo luật vẫn còn hiệu lực nhưng thực tế sẽ không được áp dụng nữa

- Mô hình giám sát tính hợp hiêln của ván bản quy phạm pháp luật kiểu châu Âu lục địa (European Model)

Những vụ việc trong phạm vi giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm

pháp luật sẽ được đảm bảo thực hiện thông qua thủ tục tư pháp, được thực hiện bởi

Trang 35

một cơ quan đặc biệt là Tòa án Hiến pháp (hoặc Tòa án Hiến pháp liên bang) được thành lập và có vị trí độc lập với các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp, với chức năng chuyên trách là giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, gồm những thẩm phán có trình độ cao được bổ nhiệm, bầu theo thủ tục đặc biệt khác với các thẩm phán thường, có sự tham gia của các cơ quan cao cấp của nhà nước như Tổng thống hoặc nghị viện, hoặc một tòa án cao cấp (High Court).

Thẩm quyền giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo một thủ tục đặc biệt, tách khỏi thủ tục giải quyết vụ việc thông

thường tại tòa án iprincipaliter) Thông thường các cơ quan này thực hiện quyền

giám sát trừu tượng, ngoài ra cũng có thể có thẩm quyền giám sát cụ thể; và bên cạnh quyền giám sát sau, quyền giám sát trước cũng có thể được trao cho các cơ quan này

Phán quyết của cơ quan giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc đối với các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nội dung phán quyết

- Mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật kiểu

hỗn hợp Ấu - M ỹ (The Mixed Model)

Mô hình này có cả những yếu tố của cả hai mô hình kiểu Châu Âu và kiểu

MỸ, với cơ sở trao quyền giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật cho một cơ quan chuyên trách có chức năng này như Tòa án Hiến pháp, Tòa án tối cao (hoặc một cơ quan đặc biệt của Tòa án tối cao), đồng thời trao cho tất cả các tòa

án khi giải quyết một vụ việc cụ thể có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, và được quyền không áp dụng các đạo luật được cho là không phù hợp với Hiến pháp

- Mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật kiểu

Pháp (The French Modeĩ)

Các nước thành lập cơ quan giám sát Hiến pháp dựa trên nguyên tắc của mô

Trang 36

hình của Hội đồng Bảo hiến pháp theo Hiến pháp 1958, theo đó, các vụ việc thuộc

phạm vi giám sát Hiến pháp được giao cho một cơ quan đặc biệt có chức năng giám

sát Hiến pháp (phần lớn theo mô hình Hội đồng Bảo hiến) hoặc trao cho một cơ

quan đặc biệt của các Tòa án tối cao thường (quyền giám sát Hiến pháp tập trung)

theo một thủ tục đặc biệt, giám sát Hiến pháp ở đây chủ yều là giám sát trước, hoặc

giám sát có tính chất tư vấn Hệ thống này thường có hoạt động giám sát mang tính

bắt buộc, đặc biệt liên quan đến các vụ tranh chấp, khiếu kiện về bầu cử Hiệu lực

pháp lý của các phán quyết mang tính bắt buộc

- Các mô hình giám sát thông qua các cơ quan khác (không tổ chức cơ

quan giám sát Hiến pháp chuyên trách độc lập mà giao quyền này cho các cơ quan

nhà nước khác không phải cơ quan tư pháp) như Hội đồng nhà nước, Nghị viện hoặc

một cơ quan đặc biệt của Nghị viện

Trang 37

và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của mỗi quốc gia, chế độ giám sát này được tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau Trong chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu đặc điểm của các mô hình giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật điển hình sau đây:

2.1- Mô hình Mỹ

Mô hình giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật loại này được chấp thuận thông qua đầu tiên tại Mỹ Mô hình này được mô tả là mô hình giám sát phi tập trung (hay còn được gọi là mô hình giám sát phổ biến), bởi

lẽ, quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật được trao cho tất cả các thẩm phán và toà án Nguyên tắc nền tảng của hệ thống giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật theo mô hình này là nguyên tắc tính tối cao của Hiến pháp so với toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật Vì Hiến pháp là luật cao nhất của Nhà nước nên không một văn bản nào khác của Nhà nước trái với Hiến pháp lại có hiệu lực pháp luật Điều này đã được thể hiện rất

rõ ràng trong quan điểm của ông Chánh án Marshall trong vụ án Marbury kiện Madison rằng: "Nếu Hiến pháp là luật cơ bản và cao nhất của quốc gia thì điều

đó có nghĩa rằng một đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành nếu trái với Hiến

Trang 38

pháp thì sẽ bị coi là vô hiệu" Trên cơ sở nguyên tắc này, khi các toà án xét xử một vụ việc dựa trên một đạo luật cụ thể, chúng được quyền xem xét hiệu lực của đạo luật đó và có thể áp dụng hay từ chối áp dụng nó căn cứ vào việc chúng coi luật đó là hợp hiến hay là vi hiến.

Mô hình giám sát không tập trung thường được áp dụng ở các nước theo hộ thống pháp luật Anh Mỹ Tuy nhiên, từ thế kỷ thứ XIX, mô hình này cũng tổn tại

ở hầu hết các nước theo truyền thống luật La mã ở châu Mỹ La tinh Bên cạnh

đó, nó cũng tồn tại ở một số nước châu Âu với truyền thống luật La mã như: Thuỵ Sĩ, Hy lạp, Thuỵ điển, Đan Mạch, Nauy Do vậy, yếu tố quyết định sự tổn tại của mô hình giám sát này ở các nước nói trên không phải là việc nước đó theo truyền thống pháp luật nào, mà điều quan trọng là ở các nước đó đều thừa nhận nguyên tắc tính tối cao của Hiến pháp Khi nguyên tắc này được thừa nhận thì kết quả tất yếu là toà án phải có quyền quyết định quy phạm nào được áp dụng khi

có sự mâu thuẫn giữa một đạo luật thường và Hiến pháp Nói cách khác, bất kể pháp luật của quốc gia đó theo truyền thống luật Anh Mỹ hay luật châu Âu lục địa, các toà án đều phải có nghĩa vụ đạt Hiến pháp lên ưu tiên hàng đầu

Trên cơ sở nguyên tắc nền tảng nói trên, mô hình giám sát phi tập trung được nhận dạng bởi các dấu hiệu cụ thể sau đây:

a- Về cơ quan nhà nước được giao thực hiện chức năng giám sát tính hợp hiến của các ván bản quy phạm pháp luật

Trong hệ thống giám sát tính hợp hiến theo mô hình của Mỹ, chức năng giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bởi tất

cả các toà án Không có một cơ quan chuyên trách nào hoặc toà án chuyên trách nào được thành lập để thực hiện chức năng giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật Hơn nữa, thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật của các toà án không xuất phát từ việc trao quyền một cách

rõ ràng trong Hiến pháp mà đây được coi là trách nhiệm vốn có của toà án Do hệ

Trang 39

thống này thừa nhận nguyên tắc tính tối cao của Hiến pháp nên mỗi khi toà án đứng trước một vấn đề liên quan đến áp dụng pháp luật, toà án đó phải giải quyết

vụ việc phù hợp với Hiến pháp chứ không áp dụng những đặo luật vi hiến Việc tôn trọng Hiến pháp và ưu tiên áp dụng Hiến pháp so với các văn bản khác trong

hệ thống pháp luật được coi là nhiệm vụ cốt lõi của hộ thống tư pháp Đối với những hệ thống giám sát phi tập trung, nhiệm vụ này được thực hiện bởi tất cả các toà án chứ không chỉ của một toà án cụ thể nào Điều đó có nghĩa là tất cả các toà án ở Mỹ, từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất của hệ thống toà án, bao gồm: các toà án bang, các toà án liên bang và Toà án tối cao Liên bang đều có quyền gxem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật Các vấn đề và vụ việc liên quan đến Hiến pháp luôn được giải quyết bởi các toà án khi chúng phát sinh trước toà trong các vụ việc cụ thể và việc giải quyết vấn đề Hiến pháp đó là cần thiết để đưa ra phán quyết về vụ việc đó

Chúng ta biết rằng, hệ thống các toà án của Mỹ bao gồm các toà án thẩm

quyền chung {District Court), các toà phúc thẩm (Court o f Appeal) và Toà án Tối cao Liên bang (Federal Supremr Court).

Toà án thẩm quyền chung có quyền xét xử sơ thẩm tất cả các loại tranh chấp hình sự và dân sự phát sinh theo các luật của Mỹ, các tranh chấp giữa các công dân của các bang khác nhau, các vụ việc trong đó Nhà nước là nguyên đơn hoặc bị đơn, và các vụ việc phát sinh do sự vi phạm những quyền tự do hiến định của công dân từ phía các nhân viên hay công chức nhà nước Trong những loại tranh chấp đó tất nhiên các khiếu kiện Hiến pháp cũng có thể được đưa ra trước các toà án thẩm quyền chung này

Các phán quyết của toà án thẩm quyền chung nói trên có thể bị kháng án

và việc giải quyết các kháng án này thuộc thẩm quyền của các toà án phúc thẩm Tuy nhiên, đối với những vụ việc quan trọng Toà án Tối cao Liên bang có thể rút lèn để xét xử phục thẩm Trong các vụ việc có liên quan đến vấn đề Hiến

Trang 40

pháp, Toà án Tối cao liên bang xuất hiện với ý nghĩa như là "một quan toà quan trọng nhất trong hệ thống tư pháp của Mỹ" [20, tr 129] Toà án Tối cao Liên bang được giao quyền xem xét lại tất cả các quyết định của các toà phúc thẩm.[45] Bên cạnh đó, Toà án Tối cao liên bang có thẩm quyền xem xét lại các phán quyết của các toà cao nhất của các bang theo pháp luật liên bang, trong đó

có xem xét lại việc xét xử các vụ án có liên quan đến hiệu lực pháp lý của các đạo luật và các điều ước quốc tế của liên bang căn cứ vào Hiến pháp liên bang Cuối cùng, đạo luật liên bang cho phép bất cứ bên đương sự nào có quyền kháng cáo một cách trực tiếp tới Toà án Tối cao Liên bang về các vấn đề liên quan đến việc chấp nhận hay từ chối áp dụng một đạo luật nào đó của bang hoặc của liên bang dựa trên tính hợp hiến hay không hợp hiến của đạo luật đó

Như vậy, theo mô hình Mỹ, thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bởi tất cả các toà án trong hệ thống các cơ quan tư pháp, trong đó Toà án Tối cao Liên bang là toà án có thể đưa ra phán quyết cuối cùng Nói cách khác, việc xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của tất cả các toà án dưới sự lãnh đạo thống nhất của Toà án Tối cao Liên bang Trong đó, có ba nhánh giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm: 1- giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ quốc gia: đây là quyền của tất cả các toà án đưa ra phán quyết về hiộu lực của các đạo luật của Nghị viện theo Hiến pháp Liên bang Mỹ; 2- giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ liên bang: đây vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của tất cả các toà án phải ưu tiên Hiến pháp của Liên bang so với các điều khoản và các đạo luật hiến pháp của bang khi

có mâu thuẫn với Hiến pháp; 3- giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ bang: đây là quyền của tất cả các toà án đưa ra các phán quyết về hiệu lực của các văn bản do cơ quan lập pháp của mỗi bang ban hành căn cứ theo Hiến pháp của mỗi bang

Ngày đăng: 16/08/2020, 15:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w