1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thương nhân theo pháp luật thương mại việt nam dưới góc độ so sánh với pháp luật thương mại cộng hoà pháp

72 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực này, sự khác biệt khá rõ rệt về địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước, nhất là sự hạn chế về tư cách thương

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

N G U Y ỄN TIẾN DIỆN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60.38.50

LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Viết Tý GS Hervé LECUYER

ỉ HƯ V *Ề w

1 nG t l( ị ' 1

HÀ NỘI ■ NÃM 2004

Trang 3

Tôi xin chân thành càm ơn Trường Đại học Luật Hà Nội và Trưòng Đại học Tổng hợp Phanthéon - ASSAS Paris II đã tạo mọi điều kiện thuộn lợi cho tôi nghiên cứu và hoàn thành khoá học Cao học Việt - Pháp.

Tôi xin chân thành càm ơn Tiến sĩ Nguyễn Viết Tý và Giáo sư Hervé LECUYER đã chỉ báo tộn tỉnh, giúp tôi hoàn thành luận vân của mình.

Tôi củng xin chân thành cảm ơn Nhà pháp luật Việt - Pháp

đã cung cốp nhiều tài liệu nghiên cứu, và các quý thây cô, các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành bàn luận vãn này.

Hà Nội, ngày 30 tháng 8 nỡm 2004

Trang 4

MỤC LỤC ■ ■

LỜI NÓI Đ Ầ U 3

CHƯƠNG 1: THƯƠNG NHÂN 6

1.1 NHỮNG YỂU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI 6

1.2 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG NHÂN 10

1.2.1 Khái niệm thương n h â n 11

1.2.2 Đặc điểm của thương n h â n 13

1.3 ĐĂNG KÝ TƯ CÁCH THƯƠNG NHÂN VÀ CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 21

1.3.1 Đăng ký tư cách thương n h ân 21

1.3.2 Bắt đầu và chấm dứt nghề thương mại của thương n h ân 24

1.3.3 Bằng chứng về tư cách thương n h ân 25

1.4 CÁC LOẠI THƯƠNG NHÂN 27

1.4.1 Thương nhân là cá nhân 27

1.4.2 Thương nhân là hộ gia đình, tổ hợp tá c 30

1.4.3 Thương nhân là pháp nhân 31

1.4.4 Quy định về thương nhân nước ngoài hoạt động thương m ại 33

1.5 CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VỚI NGƯỜI KINH DOANH 37

1.6 QUY CHẾ CỦA THƯƠNG NHÂN 43

1.6.1 Những người không được hưởng quy chế thương nhân 43

1.6.2 Nghĩa vụ của thương n h ân 45

1.6.3 Quyền của thương n h ân 49

1.7 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH THƯƠNG NHÂN TRONG LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 50

1.7.1 Những định hướng cơ bản hoàn thiện chế định thương nhân trong pháp luật thương mại Việt N a m 50

Trang 5

1.7.2 Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện chế định thương nhân trong

pháp luật thương mại Việt N am 51

CHƯƠNG 2: HÀNH VI CỦA THƯƠNG N H Â N 55

2.1 HÀNH VI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI CỘNG HOÀ PHÁ P 55

2.1.1 Hành vi thương mại do bản ch ất 55

2.1.2 Hành vi thương mại do hình th ứ c 58

2.1.3 Hành vi thương mại phụ th u ộ c 58

2.2 HÀNH VI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 59

2.2.1 Hành vi thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1 9 9 7 59

2.2.2 Hành vi thương mại theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2 0 0 3 61

2.2.3 Hành vi thương mại theo quy định của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000 61

2.3 NHẬN XÉT CHUNG 62

2.4 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN HÀNH VI CỦA THƯƠNG NHÂN TRONG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 66

KẾT LUẬN 67

TẢI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật so sánh là khoa học nghiên cứu và so sánh các hệ thống pháp luật các nước Luật so sánh xuất hiện từ lâu ở nhiều nước trên thế giới, đóng góp quan trọng vào việc tìm ra những nét điển hình, tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật của các nước; lý giải được nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt, đánh giá tính hợp lý của các giải pháp pháp lý của các hệ Ihống pháp luật qua việc nghiên cứu và so sánh chúng dựa trên những tiêu chí nhất định, và rút ra những kinh nghiệm lập pháp áp dụng vào hoạt động xây dựng pháp luật, ở Việt Nam, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà luật so sánh xuất hiện muộn hơn rất nhiều so với các nước khác và chỉ thực sự phát triển khi nhà nước Việt Nam thi hành chính sách mở cửa, hội nhập khu vực và quốc tế

Một trong những trở ngại của quá trình mở cửa và hợp tác chính là sự khác nhau về pháp luật, đặc biệt là pháp luật thương mại Trong lĩnh vực này,

sự khác biệt khá rõ rệt về địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước, nhất là sự hạn chế về tư cách thương nhân theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành đã gây ra trở ngại không nhỏ đối với việc phát triển hoạt động thương mại irong nước, mở rộng và hoà hợp trong giao lưu thương mại giữa Việt Nam

và các nước

Với xu thế hội nhập hiện nay, Việt Nam cần tiếp nhận những tinh hoa của nền pháp lý nhân loại thông qua sự sàng lọc của luật so sánh Với việc nghièn cứu luật so sánh sẽ góp phần không nhỏ tạo ra những điều kiện giúp Việt Nam có được một hệ thống pháp luật thương mại nói chung và chế định thươig nhân trong Luật Thương mại nói riêng phù hợp với điều kiện kinh tế -

Trang 7

xã hội của mình và tương thích với pháp luật quốc tế Điều này chính là tiền

đề cho Việt Nam hội nhập nhanh hơn, sâu hơn và toàn diện hơn vào đời sống kinh tế - chính trị quốc tế

Ở nước ta cho đến nay, bước đầu đã có một số công trình nghiên cứu so sánh trong lĩnh vực pháp luật Tuy nhiên, phải thấy rằng chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu về chế định thương nhân dưới góc độ luật so sánh Việc nghiên cứu chế định này trở thành một nhu cầu rất cần thiết, khi mà Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện pháp luật thương mại và ngày càng có vị trí quan trọng trong các nước pháp ngữ Đó chính là lý do tác

giả chọn đề tài: “Thương nhân theo pháp luật thương m ại Việt N am dưới

góc độ so sánh với pháp luật thương m ại Cộng hoà P háp”, với mong muốn

là đóng góp một phần vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam phù hợp với yêu cầu đổi mới

2 Mục đích của luận văn

- Nghiên cứu để có thể đem lại một sự hiểu biết rộng rãi hơn về sự giống nhau và khác nhau về chế định về thương nhân theo pháp luật thương mại Việt Nam và pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp Qua đó giúp chúng ta đánh giá hệ thống pháp luật kinh doanh thương mại nói chung và chế độ pháp

lý với những chủ thể kinh doanh thương mại hiện hành của Việt Nam nói riêng

- Việc nghiên cứu nhằm đưa ra một số giải pháp xây dựng và hoàn thiện chế định này thích ứng với sự phát triển thương mại trong nước và phù hợp với thông lệ chung của thế giới

3 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin, đồng thời tác giả sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp phân tích, tổng hợp, V V , và đặc biệt là phương pháp luật so sánh Phương pháp luật so

Trang 8

sánh nghiên cứu trên cơ sở phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới việc hình thành chế định thương nhân theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hoà Pháp, như các nhân tố về chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá, hệ thống pháp luật, V V , qua đó tìm ra những nét tương đồng và khác biệt điển hình của chế định này theo pháp luật thương mại Việt Nam và pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp.

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong nội dung nghiên cứu của luận văn, tác giả nghiên cứu, so sánh giữa pháp luật thương mại Việt Nam và pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp nói chung và chế định thương nhân nói riêng, nghiên cứu những vấn đề chung

về thương nhân và hành vi của thương nhân của mỗi nước, tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau của chế định này

5 Những đóng góp mới của luận văn

Là luận văn đầu tiên nghiên cứu so sánh giữa thương nhân theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam với pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp, luận văn phân tích một cách có cơ sở khoa học những vấn đề về quy chế thương nhân trong pháp luật thương mại Việt Nam và pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp, chỉ ra những hạn chế của chế định này trong hệ thống pháp luật thương mại Việt Nam

Luận văn đề xuất những định hướng cơ bản, kiến nghị những giải pháp

cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của chế định thương nhân trong pháp luật pháp luật thương mại Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài lời nói đầu và kết luận, gồm hai chương: Chương I về Thương nhân, Chương II về Hành vi của thương nhân

Trang 9

CHƯƠNG 1: T H Ư Ơ N G N H Â N

1.1 NHỮNG YỂU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI

Pháp luật thương mại của Việt Nam và Cộng hoà Pháp được xây dựng trên cơ sở kinh tế - xã hội đặc thù riêng, với những tác động, ảnh hưởng riêng biệt nhất định của kinh tế, chính trị, truyền thống văn hoá, truyền thống lịch

sử của mỗi nước dẫn đến sự khác nhau nhất định về quan điểm pháp lý trong

hệ thống pháp luật của hai nước Trong khi pháp luật thương mại của Cộng hoà Pháp được xây dựng từ rất sớm trên cơ sở một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, có ảnh hưởng rất lớn đến thương mại quốc tế Ngược lại, pháp luật thương mại của Việt Nam được chú trọng xây dựng khi nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường (định hướng

xã hội chủ nghĩa), ngày càng được giao lưu mở rộng với kinh tế khu vực và quốc tế Những đặc trưng của hai nền kinh tế ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình xây dựng pháp luật thương mại, cụ thể như sau:

T h ứ nhất, nền kinh tế của Việt Nam phát triển từ một nền kinh tế tập trung cao độ, quan liêu bao cấp dựa trên chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, trong

đó sở hữu toàn dân hay sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể là chủ đạo Ngành luật kinh tế điều chỉnh các quan hệ xã hội mang hai yếu tố là yếu tố tổ chức kế hoạch và yếu tố tài sản, với hai phương pháp điều chỉnh là phương pháp mệnh lệnh phục tùng và phương pháp thoả thuận

Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở một nền kinh tế sản xuất nhỏ, với sự phát triển mất cân đối giữa các vùng, các lĩnh vực Sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp chưa phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn lạc hậu, sức cạnh tranh còn

Trang 10

thấp Đa số các doanh nghiệp, xí nghiệp vẫn là doanh nghiệp, xí nghiệp vừa và nhỏ, với đặc trưng một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Xã hội Việt Nam với thói quen sản xuất nhỏ, xuất phát điểm là những hộ gia đình, cá nhân kinh doanh có quy mô không lớn nhưng rất đa dạng, nhiều

về số lượng, tồn tại quan hệ kinh doanh dựa trên quan hệ huyết thống hoặc quen biết [2, tr 122]

Vì vậy, khi xây dựng pháp luật nói chung và Luật Thương mại nói riêng

ở Việt Nam, vẫn còn những quan điểm “tó/ỉ d ứ ’ của kinh tế cũ, với quan niệm

máy móc, tư tưởng bảo thủ không hoặc chưa đổi mới; nhiều quy định còn cản trở sự phát triển của thương mại Mục đích của pháp luật thương mại Việt Nam là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, với vai trò chủ đạo

là kinh tế nhà nước “Luật Thương mại là cơ sở pháp lý để phát triển nền kinh

lế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế Hợp tác xã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân” [6,

tr 1] Vì vậy, pháp luật thương mại nói chung và Luật Thương mại nói riêng

vẫn mang đậm dấu hiệu quản lý nhà nước, với tư cách “Luật Công”, hướng tới

những lợi ích công

Nước Pháp là một nước công nghiệp phát triển có lịch sử kinh tế thị trường lâu đời Các loại thị trường như thị trường vốn, thị trường bất động sản, thị trường lao động, v.v tổn tại phổ biến, sâu rộng, với nhiều trung tâm tài chính ngân hàng có sức cạnh tranh cao Hệ thống pháp luật thực định của Cộng hoà Pháp được phân chia thành luật công (điều chỉnh các quan hệ giữa nhà nước với công dân hoặc giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong quá trình thực hiện công quyền) và luật tư (điều chỉnh mối quan hệ giữa các cá nhân) Đối tượng điều chỉnh của luật tư hướng tới lợi ích tư, với phương pháp thoả thuận ý chí Pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp là luật tư

Trang 11

T h ứ hai, pháp luật thương mại Việt Nam có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam.

“Đường lối chính sách của Đảng Cộng sản giữ vai trò chủ đạo, chỉ đạo phương hướng xây dựng pháp luật, chỉ đạo nội dung pháp luật và chỉ đạo tổ chức việc thực hiện và áp dụng pháp luật” [3, tr 332] Điều 4 - Hiến pháp

1992 quy định: “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước

và xã hội” Pháp luật thương mại là sự phản ánh đường lối chính sách của Đảng thành quy phạm pháp luật mà nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư iưởng Hồ Chí Minh Sự khác biệt về cấu trúc chính trị ở Việt Nam so với các nước công nghiệp phương Tây nói chung và nước Pháp nói riêng là: ở Việt Nam, không có các đảng phái chính trị khác nhau ganh đua quyền lực chính trị mà vai trò lãnh đạo thuộc về Đảng Cộng sản, không có những nhóm lợi ích như thành phần tư nhân có sức mạnh đáng kể và không có một giới hàn lâm có ảnh hưởng mạnh

T h ứ ba, về nguồn của luật Việt Nam chỉ thừa nhận văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là nguồn chủ yếu của pháp luật Mặc dù Luật Thương mại là nguồn cơ bản của hệ thống pháp luật thương mại, song trên thực tế, các văn bản dưới luật đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại, một số những văn bản này còn được dùng để thay thế luật trong một vài trường hợp nhất định

Về nguyên tắc, các án lệ ở Việt Nam không được coi là nguồn của pháp luật thương mại Tuy nhiên, toà án tối cao vẫn thường làm công tác tổng kết việc giải quyết một số loại vụ việc để từ đó đề ra đường lối, hướng dẫn giải quyết những vụ việc cụ thể Tương tự như vậy, tập quán cũng không phải là nguồn chính của pháp luật thương mại Việt Nam Khoản 3, Điều 4 - Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định: “Các bên trong hợp đồng được thoả thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế, nếu tập quán thương mại quốc tế đó không trái với pháp luật Việt Nam”

Trang 12

Còn ở Pháp, bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật (các văn bản pháp quy) là nguồn chủ yếu của pháp luật thương mại, tập quán của địa phương, của nghề nghiệp, tập quán quốc tế có vai trò nhất định khi áp dụng Các án lệ trong lĩnh vực thương mại được áp dụng rất hạn chế, vì xuất phát từ đặc thù của hoạt động thương mại, các quan hệ thương mại trong các trường hợp khác nhau không hoàn toàn giống nhau Ngoài ra, còn phải kể đến một nguồn quan trọng khác là hệ thống pháp luật của cộng đồng chung Châu Âu, của ủ y ban Châu Âu.

So với Cộng hoà Pháp thì Việt Nam mới bắt đầu trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế thị trường, cơ sở kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, các hoạt động thương mại của nền kinh tế thị trường mới bước đầu hình thành nên tập quán và tiền lệ pháp trong lĩnh vực thương mại áp dụng ít hơn ở Cộng hoà Pháp

Thứ tư, pháp luật thương mại Việt Nam chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ

của pháp luật Liên Xô, Trung Quốc và Cộng hoà Pháp

Pháp luật thương mại chịu sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Liên

Xô, không phân chia thành luật công và luật tư như hệ thống pháp luật Châu

Âu lục địa Về bề ngoài, hệ thống pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa có

vẻ giống như hệ thống pháp luật của các nước thuộc hệ thống Châu Âu lục địa, nhưng nội dung của từng khái niệm pháp lý, của từng chế định lại rất khác nhau, do được xây dựng trên nền tảng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin

“Pháp luật thương mại Việt Nam chịu ảnh hưởng của pháp luật Trung Quốc với tố tụng pháp lý của Đạo Khổng, ở các nước như Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam V V , Đạo Khổng vẫn đóng vai trò nhất định trong việc giải quyết tranh chấp thể hiện ở phương pháp hoà giải, thoả hiệp” [5, tr 126]

Khi Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật thương mại nói riêng đã tiếp thu một số kinh nghiệm lập pháp của Cộng hoà Pháp, chính phủ

Trang 13

Việt Nam đã mời một số chuyên gia pháp lý của Cộng hoà Pháp sang cộng tác giúp đỡ trong việc xây dựng pháp luật.

Thứ năm, về xây dựng pháp luật.

Trong công tác xây dựng pháp luật thương mại nói chung và Luật Thương mại năm 1997 nói riêng, các nhà lập pháp Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động thương mại của nền kinh tế thị trường Các nhà làm luật xây dựng pháp luật thương mại theo hướng chính là học hỏi kinh nghiệp nước ngoài và xây dựng một số chế định có tính chất thử nghiệm để áp dụng trong những điều kiện thực tế cụ thể ở trong nước Trong quá trình soạn thảo, không có sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, các ngành, đôi khi, các nhà soạn thảo còn xuất phát

từ lợi ích cục bộ của Bộ, ngành mình, cho nên, nhiều quy phạm pháp luật đã ban hành có sự mâu thuẫn, chồng chéo và tạo ra nhiều lỗ hổng trong hệ thống pháp luật

Tóm lại, dưới sự ảnh hưởng của những yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, pháp luật thương mại của Việt Nam và của Cộng hoà Pháp vừa có những nét tương đồng (về bản chất của hoạt động thương mại), vừa có phạm vi điều chinh sâu, rộng khác nhau Việc nghiên cứu so sánh pháp luật thương mại của hai nước là cần thiết trong quá trình hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam theo xu thế hội nhập thương mại song phương và đa phương

Trong phạm vi giới hạn của luận văn, tác giả sẽ cố gắng làm sáng tỏ chế định thương nhân trong hai hệ thống pháp luật thương mại này

1.2 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG NHÂN

Chế định thương nhân trong pháp luật thương mại luôn là một chế định pháp luật quan trọng, ở các nước khác nhau thì khái niệm thương nhân có mức độ và phạm vi rộng hẹp khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm truyền thống lịch sử, kinh tế, chính trị của từng nước

Trang 14

Nhìn chung, pháp luật của hầu hết quốc gia trên thế giới nói chung, pháp luật thương mại của Cộng hoà Pháp và Việt Nam nói riêng, đều xác định thương nhân bao gồm hai loại hình là cá nhân và pháp nhân Tùy thuộc vào mục đích, tiêu chí mà pháp luật mỗi quốc gia theo đuổi thì thương nhân được xác định căn cứ vào bản chất của hành vi mà chủ thể đó thực hiện (như theo pháp luật của Cộng hoà Pháp), hoặc căn cứ vào đăng ký kinh doanh (như theo pháp luật của Việt Nam), nhưng đều có những điểm chung nhất định Chúng

la sẽ tìm hiểu chế định này như sau:

1.2.1 Khái niệm thương nhân

Chế định thương nhân trong pháp luật thương mại Việt Nam được quy định chủ yếu trong Luật Thương mại năm 1997, tại Khoản 6, Điều 5 quy định:

“Thương nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình cố đăng ký kinh doanh, hoạt động thương mại một cách độc lập và thường xuyên” Để trở

thành thương nhân thì bốn chủ thể này phải có những đặc điểm sau:

- Thương nhân phải thực hiện các hoạt động thương mại;

- Thương nhân phải thực hiện các hoạt động thương mại một cách độclập;

- Thương nhân phải thực hiện các hoạt động thương mại một cách thường xuyên;

- Thương nhân phải đăng ký kinh doanh

Còn theo pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp thì khái niệm thương nhân theo quy định tại Điều 121-1 Bộ luật Thương mại Pháp (Đ iềul, Bộ luật

thương mại năm 1807) là: “Thương nhân là người thực hiện những hành vi

thương mại và lấy đó làm nghề nghiệp thường xuyên của mình” Để trở thành

một thương nhân thì một người nào đó phải có hai điều kiện sau:

+ Thực hiện những hành vi thương mại;

Trang 15

+ Thực hiện những hành vi thương mại mang tính nghề nghiệp thường xuyên.

Mặt khác, trong quá trình thi hành Bộ luật Thương mại, các thẩm phán

và các học giả pháp lý đều thừa nhận thêm hai điều kiện nữa là:

+ Thực hiện hành vi mang danh nghĩa của chính mình và vì lợi ích củamình;

+ Có năng lực hành vi thương mại

Như vậy, khái niệm đầy đủ về thương nhân theo luật thực định của Cộng hoà Pháp là: Thương nhân là những người có năng lực hành vi thương mại, thực hiện hành vi thương mại một các độc lập, mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của mình,và lấy đó là nghề nghiệp thường xuyên

So sánh từ hai khái niệm trên, ta thấy, điểm giống nhau giữa khái niệm thương nhân trong Bộ Luật Thương mại Pháp và Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 là:

• Thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại;

• Thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của bản thân mình (nói cách khác, thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại một cách độc lập);

• Thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại mang tính thường xuyên;

• Thương nhân phải có năng lực hành vi thương mại

Khi xây dựng Luật Thương mại năm 1997, các nhà lập pháp Việt Nam cho rằng đăng ký kinh doanh là một thủ tục để thực hiện quản lý nhà nước đối với các hoạt động thương mại, để thống kê các dữ kiện có ý nghĩa pháp lý liên quan đến hoạt động của một thương nhân, công khai chúng và qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan Vì vậy, Luật Thương mại quy định đăng ký kinh doanh là điều kiện bắt buộc để có tư cách thương nhân, tất cả chủ thể chỉ có tư cách thương nhân khi có giấy phép đăng ký kinh

Trang 16

doanh Còn theo Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp thì cá nhân, pháp nhân

có giấy phép đăng ký kinh doanh được suy đoán là có tư cách thương nhân trừ

những chứng cứ trái lại Đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ của thương nhân

Đày là điểm khác nhau cơ bản giữa khái niệm thương nhân theo Luật Thương

mại Việt Nam năm 1997 và Bộ Luật Thương mại Cộng hoà Pháp

1.2.2 Đặc điểm của thương nhân

> Thương nhân phải thực hiện hành vi thương m ại

Thương nhân là chủ thể thực hiện hành vi thương mại Vì thế, muốn

xem chủ thể có phải là thương nhân hay không thì phải xem chủ thể đó có

thực hiện hành vi thương mại không Thực hiện hành vi thương mại là một đặc

điểm không thể tách rời tư cách thương nhân, đây là tiêu chí quan trọng để

phân biệt thương nhân với các chủ thể khác không phải là thương nhân Theo

Khoản 6, Điều 5 - Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, Điều 121-1 Bộ luật

Thương mại Cộng hoà Pháp đều quy định thương nhân phải thực hiện hành vi

thương mại Tuy nhiên, nếu hiểu hành vi thương mại theo quy định của Luật

Thương mại Việt Nam năm 1997 thì rất hẹp chỉ bao gồm 14 hành vi được liệt

ké tại Điều 45 của luật này Ngược lại, theo quy định của Bộ luật Thương mại

Cộng hoà Pháp thì những hành vi mang lại tư cách thương nhân là những hành

vi thương mại do bản chất được liệt kê tại Điều 110-1, 110-2, những hành vi

này bao gồm tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh từ sản

xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục

đích lợi nhuận

> Thương nhân phải thực hiện hành vi thương m ại m ang danh

nghĩa chính m ình và vì lợi ích của bản thân m ình

- Thực hiện hành vi thương mại mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của bản thân mình là dấu hiệu cần thiết để xác định chủ thể tham gia vào

CcC hoạt động thương mại có phải là thương nhân hay không Trong hoạt động

Trang 17

thương mại thường có nhiều người tham gia vào như người làm công ăn lương, các nhân viên quản lý điều hành Trong đó, việc xác định ai là thương nhân phải dựa vào tính độc lập của hành vi chủ thể Khoản 6, Điều 5 - Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định thương nhân phải hoạt động thương mại một cách độc lập Khoản 1, Điều 121 - Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp quy định thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của bản thân mình Thực hiện hành vi thương mại mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của bản thân mình được hiểu là thương nhân thực hiện hành vi thương mại một cách tự thân (độc lập), nhân danh mình, vì lợi ích của bản thân và tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi thương mại đó Hành vi thương mại không bị chi phối bởi ý chí của chủ thể khác mà được hoạch định bởi ý chí của chính thương nhân Việc nhân danh của thương nhân xuất phát từ quyền độc lập kinh doanh của chủ thể Bởi vậy, nếu thiếu điều kiện trên thì chủ thể không có tư cách thương nhân (ví dụ: người làm công ăn lương, người quản lý do chủ sản nghiệp thương mại thuê, người quản lý một chi nhánh hoặc một cửa hàng thương mại, v.v đều không phải là thương nhân, vì họ thực hiện những hành vi thương mại vì lợi ích của ông chủ, họ được nhận một khoản tiền lương từ công việc của mình) Tuy nhiên, theo pháp luật thương mại của Cộng hoà Pháp, trong trường hợp những người này thực hiện những hành vi thương mại vượt ra ngoài vai trò công việc của mình đảm nhận và vì lợi ích của bản thân mình, thì có tư cách thương nhân Chúng ta sẽ làm rõ tư cách thương nhân của một số người sau:

+ Người quản lý công ty, người quản lý tự do

Theo quy định pháp luật thương mại của Cộng hoà Pháp và Việt Nam thì người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đều không phải là thương nhân, vì họ thực hiện những hành vi thương mại mang danh nghĩa của công ty và vì lợi ích của công ty Còn đối với người quản lý tự

do (người thuê một sản nghiệp thương mại và tự kinh doanh, tự chịu trách

Trang 18

nhiệm đối với những rủi ro về hoạt động kinh doanh của mình), ở Việt Nam, không được quy định là có tư cách thương nhân hay không Còn theo quy định của pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp, người này có tư cách thuơng nhân

Luật ngày 20/3/1956 quy định: “Người quản lý tự do cố tư cách của thương

nhân”.

+ Những người đại diện, đại lý thương mại

Theo pháp luật thương mại của Cộng hoà Pháp thì người đại diện, nhân viên bảo hiểm đều không có tư cách thương nhân, vì họ thực hiện những hoạt động thương mại không phải nhân danh mình mà nhân danh người uỷ nhiệm,

họ chỉ là những người làm công ăn lương Dĩ nhiên, nếu họ rời bỏ chức năng đại diện của mình để thực hiện hành vi thương mại thì họ có đặc điểm của thương nhân Ngược lại, ở Việt Nam, chỉ có người đại diện là thương nhân

Điều 83 - Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định: “Người đại diện

cho thương nhân là một thương nhân nhận ủy nhiệm của một thương nhân khác đ ể thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa và theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện”.

Tư cách thương nhân của người đại lý thương mại trong pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp chưa được làm rõ Quan điểm được thừa nhận rộng rãi nhất là nếu đại lý thương mại không có hợp đồng lao động với thương nhân, với người uỷ quyền thì có tư cách thương nhân, ngược lại thì họ không

có tư cách thương nhân Còn theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, để được làm đại lý thương mại thì chủ thể bắt buộc phải có tư cách

thương nhân Điều 111 - Luật Thương mại quy định: “Đại lý mua bán hàng

hoá là hành vi thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý tỉĩoả thuận việc bên đại lý nhản danh mình mua hoặc bán hàng hoá cho bên giao đại lý

đ ể hưởng thù l a o Điều 112 quy định: “7 Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho bên đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua; 2.

Trang 19

Bên đại lý là thương nliân nhận hàng hoá đ ể làm đại lý bán hoặc nhận tiên

mua hàng đ ể làm đại lý mưa”.

+ Người chủ cửa hàng thuốc lá.

ở Cộng hoà Pháp, sản xuất và buôn bán thuốc lá thuộc sự độc quyền

của nhà nước “Chủ cửa hàng thuốc lá bán thuốc lá cho nhà nước và họ được

hưởng hoa hồng từ hoạt động này, những người này đại diện cho nhà nước nên

không phải là thương nhân” [17, tr 4] Tuy nhiên, nếu họ thực hiện hành vi

thương mại bổ trợ kèm theo, ví dụ họ mua bia để bán, thì họ có tư cách thương

nhân Ngược lại, ở Việt Nam, nhà nước không đặt ra vấn đề độc quyền kinh

(loanh thuốc lá, mà coi thuốc là như những mặt hàng thông thường khác nên

nếu người nào kinh doanh mặt hàng này và có giấy phép đăng ký kinh doanh

thì có tư cách thương nhân

- Ngoài dấu hiệu thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của bản thân mình, pháp luật thương mại

Cộng hoà Pháp còn quy định hai ngoại lệ, đó là người môi giới trung gian và

người cho mượn tên - những người không phải thực hiện hành vi mang danh

nghĩa chính mình nhưng vẫn là thương nhân Những hành vi của người môi

giới trung gian như hãng việc làm, hoạt động trung gian trong lĩnh vực nhà đất

hoặc sản nghiệp thương mại là những hành vi thương mại Những người mượn

tên thương mại, về mặt hình thức thì họ thực hiện hành vi thương mại mang

danh nghĩa của người khác nhưng lại cho lợi ích của bản thân mình, nên

những người này vẫn là thương nhân

> Thương nhân phải thực hiện các hành vỉ thương mại mang tính nghê nghiệp thường xuyên

Hoạt động thương mại thường xuyên là một trong các dấu hiệu pháp lý

không thể thiếu để xác định tư cách thương nhân Một chủ thể thực hiện hành

vi thương mại một cách độc lập, tự thân, nhân danh chính mình, nhưng hành

Trang 20

vi thương mại đó không diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, thì không thể là thương nhân Theo Khoản 6, Điều 5 - Luật Thương mại Việt Nam năm

1997 quy định: “thương nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên”, Khoản 1, Điều 121-1, Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp quy định chủ thể chỉ có tư cách thương nhân nếu thực hiện hành vi thương mại mang tính nghề nghiệp thường xuyên Yếu tố thường xuyên trong điều luật thực ra không nhằm vào nghề nghiệp của thương nhân mà nhằm vào những hành vi do người này làm, những hành vi phải thực hiện thường xuyên, liên tiếp mới tạo ra được nghề nghiệp

+ Quan niệm về tính thường xuyên.

Để trở thành thương nhân thì các chủ thể phải thường xuyên thực hiện những hành vi thương mại, điều đó có nghĩa là chủ thể thực hiện những hành

vi thương mại riêng lẻ sẽ không có tư cách thương nhân Ví dụ: một người thỉnh thoảng mua chứng khoán mặc dù với mục đích là để tìm kiếm lợi nhuận, nhưng không mang lại cho người thực hiện tư cách thương nhân hoặc một hộ gia đình có nhà ở không dùng hết cho một nhóm giáo viên thuê để luyện thi đại học trong một mùa hè thì không trở thành thương nhân Song nếu hộ gia đình đó xây nhà để cho các doanh nghiệp thuê một cách liên tục thì có thể trở thành thương nhân

+ Quan niệm về nghề nghiệp.

Vậy nghề nghiệp là gì ? “Mỗi nghề nghiệp chỉ nhằm vào một loại hoạt động nào đó, làm một nghề nghiệp tức là hằng ngày thực hiện những hành vi thuộc loại hoạt động ấy, như bác sỹ ngày nào cũng khám bệnh kê đơn, nhà buôn lúc nào cũng tiếp xúc với khách hàng, mua bán” [10, tr 89]

Điều 121 - Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp và các án lệ của Cộng hoà Cộng hoà Pháp đều thừa nhận sự cần thiết của hai yếu tố nghề nghiệp và tính thường xuyên Nếu chỉ có yếu tố thường xuyên thì không mang lại tư cách thương nhân cho chủ thể, trong một số lĩnh vực hoạt động nhất định, chủ

Trang 21

thể thường xuyên thực hiện hành vi thương mại nhưng không mang đến cho chủ thể tư cách thương nhân, ví dụ: giao dịch về hối phiếu Những hành vi thương mại một khi đã đem lại thu nhập cho người làm, thì là một nghề nghiệp, không cứ hành vi ấy được làm một cách công khai hay không công khai, ví dụ như những người dấu tên làm thương mại bằng cách lén lút mượn tên người khác thì vẫn coi là thương nhân.

Nếu một người làm nhiều nghề nghiệp, nếu nghiệp chính của họ là nghề thương mại, thì họ có tư cách thương nhân; ngược lại, nếu nghề nghiệp chính là nghề dân sự, nghề thương mại là một nghề phụ, có nghĩa

là thu nhập từ nghề thương mại chiếm tỷ lệ không đáng kể so với thu nhập từ nghề khác thì không có tư cách thương nhân [17, tr 6]

> Thương nhân phải có năng lực hành vi thương mại

Năng lực hành vi là khả năng nhà nước thừa nhận cho tổ chức, cá nhân bằng những hành vi của chính bản thân mình có thể xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý Tổ chức, cá nhân có năng lực hành vi

sẽ được tham gia với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật, bằng hành

vi của mình có thể độc lập xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý, cũng như độc lập chịu trách nhiệm về những hành vi của mình [3, tr 438]

Năng lực hành vi trong lĩnh vực thương mại là khả năng của cá nhân, pháp nhân bằng những hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý thương mại Theo quy định của Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp thì năng lực hành vi thương nhân vừa phải tuân thủ những quy định của Bộ Luật thương mại, vừa tuân theo quy định của Bộ luật Dân sự (Luật Dân sự là luật chung, Luật Thương mại là luật riêng) Còn ở Việt Nam, tuy chưa xác định rõ nguyên tắc áp dụng giữa luật chung và luật chuyên ngành nhưng đa số các luật gia đều cho rằng Bộ Luật Dân sự là luật chung, Luật Thương mại là luật riêng, vì vậy, năng lực hành vi thương mại theo pháp luật thương mại Việt

Trang 22

Nam cũng phải tuân theo quy định của Luật Dân sự Điều 17, Luật Thương

mại Việt Nam năm 1997 quy định: “Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực

hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thương mại thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng kỷ kinh doanh và trở thành thương nhân”.

Để bảo vệ lợi ích xã hội, pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp và Việt Nam đều quy định một số người không được công nhận là thương nhân Điều

18 - Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không thể là thương nhân Điều 121-2 - Bộ luật

Thương mại Cộng hoà Pháp quy định: “Người chưa thành niên không th ể là

thương nhân” Người bị hạn chế năng lực hành vi cũng giống như người chưa

thành niên đều không thể trở thành thương nhân vì họ không có khả năng nhận thức đầy đủ về hành vi của mình cũng như không có khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý phát sinh từ các giao dịch của họ, vì vậy, để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích của nhà nước và xã hội, cũng như lợi ích của chính họ, pháp luật không công nhận họ là thương nhân Theo quy định của

Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp, người chưa thành niên không có năng lực hành vi thương mại Người giám hộ, người trợ quản không thể làm thương mại mang danh nghĩa của người chưa thành niên, vì sự hành nghề không thể đại diện được Nếu người chưa thành niên được hưởng một sản nghiệp thương mại

do thừa kế tài sản hoặc tặng cho thì sản nghiệp thương mại của người chưa thành niên có thể do người cha hoặc người mẹ của người của người này khai thác với tư cách là người có quyền hưởng quyền sử dụng hợp pháp trên tài sản của người con cho đến khi người con đủ 18 tuổi tròn, với điều kiện là việc hành nghề thương mại này không được kiêm nhiệm với một nghề mà pháp luật cấm (ví dụ công chức không được làm thương mại) Sản nghiệp thương

Trang 23

mại của người chưa thành niên có thể cho người quản lý tự do thuê cho đến khi họ có thể thực hiện được nghề thương mại Người chưa thành niên có thể được góp vốn vào việc thành lập một công ty giữa những người cùng thừa kế hoặc với người khác Ví dụ: “người chưa thành niên chỉ có thể trở thành thành viên góp vốn trong công ty hợp vốn đơn giản, thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông trong công ty cổ phần” [18, tr 251] Cũng như vậy, theo quy định của pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp thì người mất năng lực hành vi cũng không thể trở thành thương nhân.

“Theo Điều 121-2 - Bộ Luật Thương mại Cộng hoà Pháp thì người chưa thành niên chỉ có thể thực hiện nghề thương mại khi đủ 18 tuổi tròn, thoát quyền và có sự cho phép của cha mẹ hoặc hội đồng gia tộc” [17, tr 9] Sự thoát quyền của người chưa thành niên sẽ do toà án quyết định theo đơn yêu cầu của cha, mẹ hoặc một trong hai người Nếu người cha hoặc người mẹ đều không còn sống thì sẽ do hội đồng gia tộc yêu cầu Vị thành niên không có năng lực để thực hiện hành vi thương mại một cách thường xuyên Tuy nhiên, người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể thực hiện một số hành vi thương mại đơn lẻ như: ký hối phiếu, V V Người chưa thành niên không có tư cách thương nhân nên họ không thể bị tuyên bố giải thể hoặc phá sản

Tóm lại, pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp và Việt Nam bên cạnh

những điểm giống nhau về đặc điểm của thương nhân (như thương nhân là những người có năng lực hành vi thương mại, thực hiện hành vi thương mại mang danh nghĩa của chính mình và vì lợi ích của bản thân mình, lấy đó làm nghề nghiệp thường xuyên, - đó là những đặc điểm để xác định tư cách thương nhân), còn có nhiều điểm khác nhau (như người đại diện, người đại lý thương mại có hợp đồng lao động đối với thương nhân không có tư cách thương nhân theo Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, nhưng lại có tư cách thương nhân theo Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp; hoặc là, những người buôn bán mặt hàng này đại diện cho Nhà nước nên không có tư cách thương nhân, nhưng lại

Trang 24

có tư cách thương nhân ở Việt Nam, vì thuốc lá được coi như hàng hoá thông thường khác, V V ) Sự khác biệt về các điều kiện kinh tế - xã hội như đã nêu ở trên dẫn đến quan niệm khác nhau về chủ thể này và nó sẽ được thể hiện rõ hơn ở các nội dung kế tiếp.

1.3 ĐĂNG KÝ TƯ CÁCH THƯƠNG NHÂN VÀ CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

1.3.1 Đăng kỷ tư cách thương nhân

Pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp quy định đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ của thương nhân và được dùng để suy đoán tư cách thương nhân, trừ khi có những chứng cứ trái lại Nó không phải là điều kiện bắt buộc để suy đoán chủ thể có tư cách thương nhân Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam, đăng ký kinh doanh là một thủ tục pháp lý bắt buộc để hoạt động thương mại, một sự kiện pháp lý xác lập tư cách của tất cả các thương nhân và để giúp cho việc giám sát, thanh tra và kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì chủ thể mới có tư cách thương nhân, các hoạt động diễn ra trước thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không phải là hoạt động của thương nhân, chỉ là các hoạt động đơn lẻ

Việc đăng ký kinh doanh theo quy định hiện hành của pháp luật thương mại Việt Nam và Cộng hoà Pháp bao gồm những vấn đề sau:

a Vê cơ quan đàng ký kỉnh doanh

Ở Việt Nam, pháp luật quy định thẩm quyền đăng ký kinh doanh thương mại thuộc về nhiều cơ quan khác nhau (thẩm quyền đăng ký kinh doanh của các cơ quan nhà nước căn cứ vào đơn vị hành chính, quy mô dự án kinh doanh và ngành chuyên môn mà mình quản lý) như Bộ kế hoạch và Đầu

lư, Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Ban quản lý khu công nghiệp, khu

Trang 25

chế xuất, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, Phòng đăng ký kinh doanh cấp huyện Do có nhiều cơ quan đăng ký kinh doanh trong hệ thống quản lý nhà nước, nên đã tạo ra sự không bình đẳng giữa các thương nhân; gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước và tổng hợp tình hình doanh nghiệp, tình hình kinh

tế, làm cơ sở để đưa ra những chính sách kinh tế của nhà nước thiếu chính xác Còn theo quy định của Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp thì tất cả các thương nhân đều đăng ký tại Phòng lục sự Toà án cấp sơ thẩm mở rộng (cơ sở phân quyền dựa vào địa lý hành chính), việc đăng ký thống nhất tại một cơ quan nhà nước như ở Cộng hoà Pháp khắc phục được những nhược điểm của

cơ quan đăng ký kinh doanh như ở Việt Nam

b Vê hồ sơ đăng ký kỉnh doanh

Hồ sơ đăng ký kinh doanh là tài liệu đầy đủ nhất về lý lịch của thương nhân, làm cơ sở để nhà nước có căn cứ quản lý thương nhân Hồ sơ đăng ký kinh doanh là điều kiện cần và đủ để nhà nước xem xét quyết định liệu một thương nhân có được ra đời hay không Tùy thuộc vào từng loại thương nhân, ngành nghề, quy mô, nhà nước có quy định khác nhau về hồ sơ đăng ký kinh doanh với từng loại thương nhân Tuy nhiên, về cơ bản hồ sơ đăng ký kinh doanh của thương nhân là tổ chức bao gồm: đơn xin đăng ký kinh doanh, điều

lệ, danh sách thành viên, V V , còn đối với thương nhân là cá nhân thì chỉ cần đơn xin đăng ký kinh doanh Ngoài ra, đối với những ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề thì thương nhân phải đáp ứng được yêu cầu này Đây là những nội dung cần thiết để đảm bảo cho việc quản lý nhà nước đối với thương nhân Theo pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp thì hồ sơ đăng ký kinh doanh chỉ là đơn xin đăng ký kinh doanh theo mẫu do Phòng lục sự cung cấp, có các chỉ dẫn về lý lịch, kinh doanh, v ề nội dung đăng ký thương mại và công ty cũng giống nội dung đơn xin đăng ký kinh doanh của Việt Nam, nhưng điểm khác nhau cơ bản là đối với thương nhân thể nhân ở chỗ nếu cá nhân có quan hệ hôn nhân thì pháp luật thương

Trang 26

mại Cộng hoà Pháp yêu cầu chỉ rõ chế độ tài sản của người có quan hệ hôn

nhân, khế ước hôn sản

c Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thời hạn cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam thì cơ quan đăng ký

kinh doanh có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký kinh doanh trong thời hạn

15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ đăng ký kinh doanh Trong trường hợp

không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì cơ quan đăng ký kinh

doanh phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho đương sự Đương sự không

được cấp giấy phép kinh doanh có thể khiếu nại lên Phòng đăng ký kinh

doanh cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc có thể kiện ra Toà hành chính

Đối với những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì thời hạn cấp giấy

phép đầu tư (thực chất là giấy đăng ký kinh doanh) có kéo dài hơn tùy thuộc

vào việc thẩm định cấp giấy phép đầu tư Theo pháp luật thương mại Cộng hoà

Pháp, nếu đơn xin đăng ký hoạt động thương mại hợp lệ thì lục sự phải cấp

giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong thời hạn là 5 ngày kể từ ngày nhận

đơn Nếu đơn không hợp lệ thì lục sự nêu lý do từ chối cấp giấy phép (đặt dưới

sự giám sát của thẩm phán) người bị từ chối cấp giấy phép có thể kiện ra toà

phúc thẩm Phán quyết của toà phúc thẩm là phán quyết cuối cùng

Chúng ta thấy những quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký kinh

doanh còn nhiều điểm không hợp lý, có rất nhiều các cơ có thẩm quyền cấp

giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và quy định của pháp luật về hồ sơ đăng

ký kinh doanh đôi khi còn nhiều loại giấy phép gây khó khăn cho thương

nhân Theo báo cáo của tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp thì các cơ

quan đăng ký kinh doanh ở nhiều địa phương đôi khi còn cản trở hoạt động

kinh doanh của thương nhân bằng cách đặt ra nhiều giấy phép mà luật pháp

không yêu cầu Pháp luật thương mại Việt Nam chỉ biết đến ý nghĩa thiết lập

(khai sinh) tư cách thương nhân bằng hành vi đăng ký kinh doanh Quy định

Trang 27

này nhiều khi không phù hợp với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể đặc biệt là cá nhân thương nhân.

1.3.2 Bắt đẩu và châVn dứt nghề thương mại của thương nhân

B ắ t đầu nghề thương mại:

Theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam thì tất cả các thương nhân chỉ được phép bắt đầu hành nghề thương mại khi có giấy phép hoạt động thương mại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Khoản 2, Điều 17 - Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định “Doanh nghiệp có quyền hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”, Điều 27,

N ghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004 “Hộ kinh doanh cá thể có quyền tiến hành hoạt động kinh doanh sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trừ những trường hợp kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh phải có điều kiện” Ngược lại, theo Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp thì thời điểm bắt đầu nghề thương mại căn cứ vào hành vi thương mại mà chủ thể thực hiện Cho nên, kể từ khi tạo ra hoặc mua một sản nghiệp thương mại để kinh doanh là hành vi thương mại đầu tiên Các án lệ của Cộng hoà Pháp thừa nhận các hành vi của thương nhân được thực hiện để hình thành một sản nghiệp thương mại trong tương lai cũng đã là hành vi thương mại

Châm dứt nghê thương mại:

Chấm dứt nghề thương mại cũng là chấm dứt hoạt động thương mại Điều 36 - Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định thương nhân chấm dứt hoạt động thương mại trong các trường hợp sau:

a) Thương nhân tự chấm dứt hoạt động thương mại;

b) Hết thời hạn hoạt động trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;c) Thương nhân bị tuyên bố phá sản hay giải thể;

d) Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Trang 28

e) Thương nhân là cá nhân chết mà không có người thừa kế hoặc người thừa k ế không tiếp tục hoạt động thương mại.

Sau khi chấm dứt hoạt động thương mại thương nhân phải có nghĩa vụ xoá đăng ký kinh doanh (Điều 37) Tuy nhiên, vì không có một chế tài nào đối với việc không xoá đăng ký kinh doanh nên trong hầu hết các trường hợp chấm dứt hoạt động thương mại, thương nhân không tồn tại, người đại diện không còn vị trí đại diện, vì thế, thương nhân không làm thủ tục xoá đăng ký kinh doanh

Về đặc điểm này, ta thấy quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm

1997 có nhiều điểm không phù hợp với thực tế hoạt động thương mại, như quy định về xoá đăng ký kinh doanh khi hết thời hạn hoạt động thương mại, về trường hợp thương nhân là cá nhân chết mà không có người thừa k ế hoặc người thừa kế không tiếp tục hoạt động thương mại Theo quy định của pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp thì:

Thương nhân tư cách thương nhân khi chấm dứt hoạt động thương mại Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, tư cách thương nhân của chủ thể vẫn còn khi thương nhân đã nhượng lại vốn kinh doanh cho chủ thể khác, ví dụ người bán sản nghiệp thương mại phải chịu trách nhiệm với khoản nợ cho đến khi xoá tên trong sổ thương mại [16, tr 170]

1.3.3 Bằng chứng về tư cách thương nhân

Ở mức độ khái quát, có thể thấy rằng, pháp luật thương mại là pháp luật

áp dụng riêng cho các thương nhân Bởi vậy, việc nhận định tư cách thương nhân là việc làm rất cần thiết vì thương nhân có quyền và nghĩa vụ do pháp luật thương mại quy định, có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn tại toà thương mại Việc xác định tư cách thương nhân theo pháp luật thương mại Việt Nam

có phần đơn giản, chỉ cần xem chủ thể có giấy phép đăng ký kinh doanh hoạt

Trang 29

động thương mại hay không Nếu chủ thể có giấy phép đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại thì có tư cách thương nhân Còn ở Cộng hoà Pháp thì tư cách thương nhân được xác định như sau: Đối với pháp nhân thì căn cứ vào hình thức hoặc mục đích hoạt động, còn đối với thương nhân thể nhân thì tư cách thương nhân được xác định căn cứ vào bản chất hành vi mà chủ thể thực hiện Vì vậy, việc chứng minh tư cách thương nhân thể nhân có phức tạp hơn

và được thực hiện bằng mọi cách khác nhau như đưa ra các chứng cứ, suy đoán lỗi, V V Thông thường thì sự suy đoán có thể được thực hiện bằng một trong những cách sau:

T hứ nhất, sự suy đoán pháp lý.

- Điều 41 nghị định ngày 23 tháng 3 năm 1967 Cộng hoà Pháp quy định: “Tất cả những người đã đăng ký vào sổ thương mại, có tư cách thương nhân, có quyền và nghĩa vụ của thương nhân, ngoại trừ những chứng cứ đối lập khác” Việc thương nhân đăng ký vào sổ thương mại chỉ là sự suy đoán, không phải là chứng cứ duy nhất khẳng định chủ thể có tư cách thương nhân hay không Nếu như người này có tên trong sổ thương mại và công ty nhưng

có những bằng chứng cho rằng không tiến hành hoạt động thương mại thì thẩm phán cũng có thể đưa ra phán quyết là họ không có tư cách thương nhân Thông thường, chủ thể có đặc điểm của thương nhân cho đến khi bị gạch tên trong sổ thương mại Đó là trường hợp thương nhân bán sản nghiệp thương

m ại, thương nhân nghỉ hưu hoặc giải thể hoặc theo quyết định của toà án

- Bản án của toà án Toà án nhân danh quyền lực của nhà nước và bản

án của toà án có hiệu lực tố tụng đối với các vụ tranh chấp, theo đó mà các chủ thể được xác định là có tư cách thương nhân hay không

Thứ hai, sự thừa nhận của thẩm phán.

Đó là những suy đoán trong những trường hợp mà pháp luật không quy định thuộc quyền xem xét của thẩm phán, ví dụ như việc đánh giá tính nghề nghiệp thường xuyên, sự đánh giá tư cách thương nhân khi chủ thể chịu thuế

Trang 30

môn bài hoặc thuế thu nhập (có thể được thẩm phán suy đoán là có tư cách thương nhân) Nhưng chỉ điều này thì không đủ căn cứ pháp lý để kết luận chủ thể có tư cách thương nhân, vì chủ thể nộp thuế theo Luật thuế của Cộng hoà Pháp (luật công) rộng hơn thương nhân theo Luật Thương mại (Luật tư) Việc xác định chủ thể nộp thuế theo Luật Thuế không là căn cứ pháp lý để thẩm phán đánh giá chủ thể có tư cách thương nhân Sự ghi tên vào danh sách bầu

cử thẩm phán toà thương mại cũng không đủ căn cứ để kết luận tư cách của thương nhân, vì theo pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp, một số người không phải là thương nhân cũng có quyền bầu cử và ứng cử thẩm phán ở toà thương mại \

N h ư vậy, việc xác định tư cách thương nhân đối với thương nhân là

pháp nhân theo pháp luật thương mại Việt Nam và pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp, đều căn cứ vào việc đăng ký kinh doanh Còn đối với việc xác định

tư cách thương nhân là cá nhân thì pháp luật thương mại Việt Nam và Cộng hoà Pháp có sự khác nhau, tư cách thương nhân là cá nhân theo pháp luật Cộng hoà Pháp căn cứ vào hành vi mà chủ thể thực hiện, còn tư cách thương nhân là cá nhân theo pháp luật thương mại Việt Nam căn cứ vào việc đăng ký kinh doanh

1.4 CÁC LOẠI THƯƠNG NHÂN

1.4.1 Thương nhân là cá nhân

Theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam, cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên không thuộc vào các trường hợp cấm hoạt động kinh doanh Những cá nhân này muốn hoạt động kinh doanh thương mại thì phải đăng ký kinh doanh (tại Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đối với doanh nghiệp tư nhân, hoặc Phòng đăng ký kinh doanh cấp huyện đối với hộ kinh doanh cá

1 T h e o pháp luật thương mại cộng hoà Pháp thì một số người lãnh đạo, điều h ành công ty T N H H công ty cổ phần cũng có qu y ển bầu th ẩm phan toà thương mại.

Trang 31

thể) Kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thương

nhân là cá nhân sẽ có tư cách thương nhân và được phép hoạt động thương

mại Quy định này của pháp luật thương mại Việt Nam, về mặt hình thức, giúp

cho cơ quan quản lý nhà nước quản lý đối tượng này được thuận lợi Tuy

nhiên, quy định này dẫn đến việc không thừa nhận tư cách chủ thể của những

người hoạt động thương mại một cách thường xuyên nhưng không đăng ký

kinh doanh, không bảo vệ được quyền lợi của chủ thể khác khi tiến hành giao

dịch với những người không đăng ký kinh doanh

Theo Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp, nếu cá nhân thực hiện hành

vi thương mại mang tính nghề nghiệp thường xuyên thì có tư cách thương

nhân Đăng ký kinh doanh chỉ là nghĩa vụ của thương nhân, không phải là

điều kiện để có tư cách thương nhân Nếu chủ thể không có đăng ký kinh

doanh mà hoạt động thương mại một cách thường xuyên thì vẫn có tư cách

thương nhân, nhưng không được hưởng các quyền pháp lý của thương nhân

mà vẫn phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý của thương nhân

Chúng ta s ẽ phân tích rõ hơn về chủ th ể này như sau:

- Đối với những cá nhân không thể là thương nhân, pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp và pháp luật thương mại Việt Nam đều không thừa nhận

những người hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thợ thủ

công là thương nhân, vì những người này không thực hiện hành vi thương mại

(theo bản chất) và không có giấy phép đăng ký kinh doanh thương mại Ngoài

ra, các luật gia Cộng hoà Pháp còn giải thích rằng:

Những người này không thuê hoặc thuê nhân công có số lượng

dưới 10 người Họ là những người lao động chân tay và mang tính chất

gia đình Tuy nhiên, có một vài trường hợp xảy ra trong thực tế là những

người này đôi khi có thực hiện những hành vi thương mại nhưng những

hành vi thương mại mà họ thực hiện là để bổ trợ cho nhu cầu của hành vi

Trang 32

dân sự Hành vi dân sự là hoạt động chính, chủ yếu đem lại thu nhập cho

họ [18, tr 208]

- Đối với cá nhân sở hữu sản nghiệp thương mại, Điều 121-1 - Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp không quy định sản nghiệp thương mại là một đặc điểm để có tư cách thương nhân, nhưng qua một số văn bản pháp luật, ta có thể thấy rằng: Nếu chủ thể không có sản nghiệp thương mại thì cũng không thể là thương nhân Sản nghiệp thương mại là tài sản để chủ thể cam kết thực hiện trách nhiệm trước chủ thể khác về nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, có ngoại lệ là thực tế xảy ra trong trường hợp một người con chưa thành niên được hưởng một sản nghiệp thương mại (một cửa hàng) thì cha, mẹ của người con chưa thành niên với tư cách là người đại diện đương nhiên cho người con chưa thành niên, có thể thực hiện hành vi thương mại mang danh nghĩa chính mình và có tư cách thương nhân

Chủ sở hữu sản nghiệp thương mại theo pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp, hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân theo luật doanh nghiệp Việt Nam thuê người khai thác quản lý điều hành Trong trường hợp này, chủ sở hữu vẫn có

tư cách thương nhân mặc dù họ không trực tiếp thực hiện hành vi thương mại

mà là gián tiếp qua người khác - người làm thuê, thực hiện hành vi thương mại

vì lợi ích của mình và tự chịu trách nhiệm bằng sản nghiệp thương mại của mình

Theo quy định tại Điều 101 - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 1999, trong trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân (thực chất là cá nhân có đăng ký kinh doanh) thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì vẫn phải chịu trách nhiệm trước mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, và vẫn là thương nhân

- Đối với các cá nhân là người lao động làm thuê, Luật Thương mại Việt Nam và Bộ luật Thương mại Cộng hoà Pháp đều thừa nhận những nhân viên trong các công ty thương mại (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ

Trang 33

phần), như người làm công ăn lương, người quản lý, v.v đều không phải là

thương nhân Vì những người này không thực hiện hành vi thương mại mà là

công ty thực hiện hành vi thương mại và công ty mới có tư cách thương nhân

- Đối với các thành viên của công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản M ột mặt, pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp thừa nhận công ty hợp

danh, công ty hợp vốn đơn giản có tư cách pháp nhân và là thương nhân Mặt

khác, theo Điều 40 Luật số 66 - 537 ngày 24/7/1967 quy định “tất cả những

thành viên trong công ty hợp danh có đặc điểm thương nhân” và Điều 13 luật

này quy định “những thành viên hợp danh trong công ty hợp vốn đơn giản

cũng có quy chế pháp lý như thành viên công ty hợp danh” Ở đây ta hiểu rằng

thành viên trong công ty hợp danh và thành viên hợp danh trong công ty hợp

vốn đơn giản vừa thực hiện hành vi thương mại mang danh nghĩa chính mình,

vừa thực hiện hành vi danh nghĩa công ty Các thành viên này đều là thương

nhân vì liên đới chịu trách nhiệm vô hạn tất cả mọi khoản nợ của công ty Còn

Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định công ty hợp danh, công ty

hợp vốn đơn giản không phải là chủ thể của Luật Thương mại vì không phải là

cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình Các công ty này cũng như các

thành viên của chúng đều không có tư cách thương nhân Trên thực tế, các

công ty hợp danh ở Việt Nam mới bắt đầu xuất hiện, với lĩnh vực hoạt động

rất hẹp chủ yếu là lĩnh vực pháp lý Các chế định pháp lý điều chỉnh hoạt động

của công ty này còn rất sơ sài, công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản

lần đầu tiên được quy định trong Luật Doanh nghiệp 1999 và Nghị định

03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật

Doanh nghiệp

1.4.2 Thương nhân là hộ gia đình, tổ hợp tác

Pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp chỉ thừa nhận thương nhân là cá

nhân, pháp nhân Tuy nhiên, ở Việt Nam, theo quy định của Luật Thương mại

Trang 34

năm 1997 ngoài các cá nhân và pháp nhân thì tổ hợp tác và hộ gia đình cũng

có thể trở thành thương nhân Quy định này được xây dựng trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 Hộ gia đình bao gồm nhiều thành viên trong một gia đình có tài sản chung dùng để tiến hành hoạt động kinh tế và chịu trách nhiệm bằng tài sản của cả hộ, nếu tài sản chung của cả

hộ không đủ thì các thành viên phải liên đới chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình, hộ gia đình có giấy phép kinh doanh thương mại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (Phòng đăng ký kinh doanh cấp huyện) thì có tư cách thương nhân Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ưỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ 3 cá nhân trở lên cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm Theo quy định tại Khoản 6, Điều 5 - Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, tổ hợp tác là một trong những chủ thể có thể trở thành thương nhân sau khi đăng ký hoạt động thương mại Nhưng trên thực

tế, không có cơ quan nào đảm nhận việc đăng ký kinh doanh của tổ hợp tác nên chủ thể này không thể trở thành thương nhân

1.4.3 Thương nhân là pháp nhân

Pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật thương mại, đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động thương mại và công nghiệp Pháp nhân ra đời

từ thế kỷ XIX ở Châu Âu và ngày càng mở rộng quy mô và lĩnh vực hoạt động Nếu như pháp luật Cộng hoà Pháp không quy định dấu hiệu của pháp nhân mà chỉ liệt kê những tổ chức là pháp nhân thì khái niệm pháp nhân trong pháp luật Việt Nam được quy định tại Điều 94 - Bộ luật Dân sự năm 1995:

“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ điều kiện sau đây:

1 Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận;

2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

Trang 35

3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

4 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.”Tùy theo mục đích hoạt động của pháp nhân, pháp nhân trong pháp luậtViệt Nam, được phân thành các loại sau:

■ Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang;

■ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

■ Tổ chức kinh tế;

■ Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

■ Quỹ xã hội, quỹ từ thiện;

■ Các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 của Bộ luật Dân sự năm 1995

Cũng giống với pháp luật thương mại Cộng hoà Pháp, pháp luật thương mại Việt Nam quy định pháp nhân là các cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng

vũ trang, là những tổ chức được nhà nước giao tài sản để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, hoạt động văn hoá, xã hội và thực hiện các chức năng khác không nhằm mục đích kinh doanh, thì không phải là thương nhân

Tiếp nữa, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, v.v có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, nhằm thực hiện những mục tiêu của tổ chức đề ra, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, nên không có tư cách thương nhân Ngược lại, theo quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp, những tổ chức, những nhóm có lợi ích kinh

tế có thể có mục đích thương mại hay dân sự, nếu có mục đích hoạt động thương mại thì có tư cách thương nhân

Pháp nhân trong pháp luật Việt Nam được chia thành nhiều loại khác nhau, dựa trên tiêu chí chính là mục đích hoạt động Mặt khác, ở Cộng hoà Pháp, pháp nhân được chia thành pháp nhân công và pháp nhân tư, dựa trên hộ thống luật công và luật tư

Trang 36

Những chủ thể được công nhận là pháp nhân trong Bộ luật Dân sự Việt

Nam năm 1995 hẹp hơn rất nhiều so với chủ thể được công nhận là pháp nhân

trong pháp luật Cộng hoà Pháp Một số tổ chức được thừa nhận có tư cách

pháp nhân ở Cộng hoà Pháp nhưng lại không được công nhận là pháp nhân ở

Việt Nam (ví dụ: công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản) Theo quy

định của pháp luật thương mại Việt Nam thì thương nhân là pháp nhân gồm:

doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ

phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp của các tổ chức

chính trị - xã hội và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân Việc không thừa

nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh và công ty hợp vốn trong pháp

luật Việt Nam, mặc dù đây là những chủ thể kinh doanh, đã không khuyến

khích việc thành lập hai loại hình công ty này ở nước ta

Vì nhà nước Việt Nam xác định vị trí, vai trò và sự định hướng phát

triển các thành phần kinh tế nên các chủ thể kinh doanh được điều chỉnh bằng

rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh

nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, V.V Các chủ thể có quyền và nghĩa vụ

pháp lý khác nhau trong hoạt động kinh doanh, cho nên, không thực sự bình

đẳng với nhau Còn ở Cộng hoà Pháp thì tất cả các thương nhân đều được điều

chỉnh bằng Bộ luật Thương mại nên tạo được sự bình đẳng hơn giữa các loại

thương nhân

Qua những phân tích ở trên, ta thấy rằng, những quy định pháp luật về

thương nhân là pháp nhân trong pháp luật Việt Nam còn cứng nhắc và có

nhiều điểm không hợp lý chưa phù hợp với chủ thể này

1.4.4 Quy định về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại

Nghị định ngày 17 tháng 6 năm 1938 của Cộng hoà Pháp quy định về

người nước ngoài hoạt động thương mại tại Pháp quy định một người nước

Ngày đăng: 16/08/2020, 15:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm