1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật việt nam và thụy điển từ góc độ so sánh

102 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 11,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết cư sở khoa học và thực tiễn của đề tài hôn nhân và gia đình có yếu tố nưóc ngoài, hay còn gọi là tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng có yếu tô' nước ngoài và việc giải quyế

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TổNG HỢP LUND

ĐỒNG THỊ KIM THOA

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN s ự

CÓ YẾU TÔ NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁP LỤẬT VIỆT NAM

VÀ THỤY DIÊN - TỪ GÓC DỘ NGHIÊN m cứu so SÁNH

Chuyên ngành: Luật Quốc tế và So sánh

N gười hướng dẫn khoa học:

i ỉ À N Ộ I - 2004

Trang 3

J lò ’l O í ì t ỉ l ơ n

M x l í ì í l D a n t ù i ụ ĩ t ư o e ỉ ư ù i i t t / ư ì ể i Ỉ L íXÓL L Ư t a a ĩ t í ề u U ỉ ê i L (iLLCL n ũ t í ẵ í i

cSĩXDờL ~ P h ilip rĐ(Ẩit t ạ i (D ỉèt Q ĩxun, DCIlocl JZiiál (D a i h ó e túiưp liổfL

M u itil P h ilip ^Đỉấii ixă ^cĩÍ' 11 ()ỈL(J, <Dai h o e J íu ả t "3ôà QCội tvOiUỊ Lite)á {tào

tạ o @ILC) h ọ e J h u ĩl <Z)LỀt Q ỉxtiìt ~ <DiliL UhúA c7 ( 2 0 0 1 - 2 0 0 4)

£7V3L rxdíL ùltăíL tiùuiÍL (ÍỈUIL ổiL sư giúp đữ của (tcíe tíiẩip, cà ạ iá a a ă

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT s ố VẤN ĐỂ CHUNG VỂ THAM q u y ể n g i ả i q u y ế t TRANH CHẤP DÂN s ự CÓ YẾU T ố NƯỚC NGOÀI 8

1.1 Một sô khấi niệm cơ b ả n 8

1.1.1 T ra n h chấp dân sự có yếu tô' nước ngoài 8

1.1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tô' nước n g o à i 14

1.1.3 Xiing đột thẩm quyền trong tư pháp quốc t ế và quy tắc xác định thẩm quyền của toà án 16

'y 1.1.4 Căn cứ xác định thẩm quyền của toà án trong tố tụng dân sự quốc t ế 19

/.7.5 M ột s ố nội dưng dặc biệt vổ thẩm quyền của toà án trong tố tụng dân sự quốc t ế 22

1.2 Hệ thống toà án và văn bản pháp luật điều chỉnh thẩm quyền giai quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và Thụy Đ iển 25

1.2.1 Hệ thống tocì án có thẩm quyền gidi quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước n g o à i 25

1.2.2 H ệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh thẩm quyền giải quyết tranh chấp dãn sự có yểu tố nước ngoài 27

CHƯƠNG 2: QUY TẮC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỂN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN S ự CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI CỦA TOÀ ÁN ở VIỆT NAM VÀ THỤY Đ IỂ N 38

2.1 Các nguyên tác c h u n g 38

2.1.1 N quyên tắc “nơi cư tr ú ”, ‘‘nơi thường tr ú ” và “quốc tịc h ” trong các mối liên hệ nhân th â n 38

2.1.2 M ột s ố nguyên tắc khác [rong việc xác định thẩm quyền

2 ỉ 3 M ộ t s ố n h ậ n x ét c h u n g 46

Trang 5

2.2 Quy tắc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp dàn sự có yếu

tô nước ngoài của toà án trong một số lĩnh vực cụ t h ể 47

2.2.1 Tranh chấp dân sự, kinh tế - thương m ại, lao động (liên quan đến hợp đống, bồi thường thiệt hại VCI tranh chấp khác liên quan đến tài sả n ) 47

2.2.2 Tranh chấp (rong lĩnh vực hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài 61 2.2.3 M ột sô'nhận xét chung 68

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ THAM q u y ể n GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN s ự c ó YẾU T ố NƯỚC NGOÀI TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 73

3.1 Sư cần thiết hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước n g o à i 73

3.1.1 Quan điểm , chủ trương và chính sách chung của Đảng, N hà nước Việt N am về hội nhập kinh t ế quốc t ế và cải cách tư p há p 73

3.1.2 Yêu cần giải quyết kịp thời, hiệu quả các tranh chấp dân sự có yếu tô' nước ngoài trong XII th ế hội nhập kinh t ế quốc t ế 75

3.1.3 N hững hạn chế, bất cập của c h ế định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự củ yếu tố nước ngoài trong tố tụng dân sự quốc t ế ở Việt Nam hiện n a y

3.2 Một sô định hướng và yêu cầu cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước n goài 82

3.3 Một sỏ kiến nghị cụ thê về hoàn thiện chẻ định thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nưóc ngoài của Toà án ở Việt N a m 83

3.3.1 Giải pháp trước m ắ t 83

3.3.2 Giải pháp lâu dài 88

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

N H Ũ N G C H Ữ V IẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẨU

1 Tính cấp thiết (cư sở khoa học và thực tiễn) của đề tài

hôn nhân và gia đình có yếu tố nưóc ngoài, hay còn gọi là tranh chấp dân sự (theo

nghĩa rộng) có yếu tô' nước ngoài và việc giải quyết các tranh chấp đó là một trong

những vấn đề lý luận và thực tiễn rất được quan tâm trong khoa học pháp lý ở Việt

Nam hiện nay; bởi những lý do sau đây:

T h ứ nhất, cơ chế pháp lý giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài nói

chung và việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài nói

riêng là lĩnh vực có nhiều tính chất phức tạp cả về lý luận và thực tiễn Bởi vì cơ chế

pháp lý này không chi bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà luôn liên quan đến quan hệ

với nước ngoài và có tính chất quốc tế

T h ứ hai, các quan hệ dàn sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài và tranh

chấp phát sinh từ những quan hệ này ngày càng gia tăng trong điều kiện Việt Nam

đang đẩy mạnh công cuộc công nghiêp hoá, hiên đai hoá đất nước và hội nhập kinh

tế quốc tế Đây là yếu tố khách quan đòi hỏi sự điều chỉnh kịp thời về m ặt pháp lý

và sự nghiên cứu thoả đáng về mặt khoa học

T h ứ ba, mặc dù đã có những bước tiến đáng kể trong hoạt động xây dựng và

thực thi, song nhìn chung pháp luật Việt Nam về giải quyết các tranh chấp dân sự có

yếu tố nước ngoài và chế định thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ các

quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Điều

này đã và đang thể hiện rất rõ nét trong quá trình ký kết, tham gia các điều ước quốc

tế cũng như xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật trong nước; nhìn chung chưa

thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

T h ứ tư, trong tiến trình thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế của Đảng và Nhà nước, một trong những yêu cầu quan trọng và có ý nghĩa quyết

định là tạo lập nền tảng pháp lý làm “bệ đ ỡ " cho quá trình hội nhập kinh t ế quốc t ế

và xây dựng nlìà HƯỚC pháp quyền của Việt Nam Cùng với việc xây dựng và hoàn

Trang 8

-2-thiện pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ kinh tế - xã hội khác, việc tiếp tục xây-cỉựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài - trong đó có chế định thẩm quyền giải quyết tranh chấp - là đòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa lớn

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã có nhiều công trình và bài viết nghiên cứu vấn đề “ giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài" theo những khía cạnh và cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên hầu hết và chủ yếu đểu tập trung vào phương thức và thủ tục giải quyết một hoặc một số lĩnh vực tranh chấp nhất định1

Có thể thấy rằng, sự quan tâm thực sự và sâu rộng đến vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp còn nhiều hạn chế

Cho đến n a y, chưa có m ột công trình, bài viết nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đã và có hệ thống về thấm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt N am trong mối liên hệ so sánh với pháp luật nước ngoài nhằm làm rõ thực trạng và yêu cầu hoàn thiện c h ế định này trong tiến trình củi cách tư pháp vả hội nhập kinh t ế quốc t ế của Việt N am hiện nay.

1 Điều này được thể hiện trong các cỏng trinh và bài viết nghiên cứu sau: ,ảGicii quyết tranh chấp kinh t ể và việc tham gia C ông ước N ew york 1 9 5 8 ”, TS Hà H ùng Cường, Tài liệu Hội thảo về phát triển pháp luật theo định hướng xà hội chủ nghĩa, 1996; “P háp luật Việỉ N am và vấn d ề giải quyết tranh chấp có yếu tố nước

n g o à i", Lê Song L ai, Phan Tồn V iệt Anh, Tạp chí N hà nước và pháp luật, số 9/1996; “Các phương thức giải quyết tranh chấp chả yếu tại V iệt N am trong lĩnh vực kỉnh t ế và đầu tư nước ngoài", TS Hoàng T h ế Liên;

“Vấn đ ề hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đ ộ t hướìig dẫn chọn pháp luật diều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện n a ý \ TS Đoàn N ăng, Tạp chí N hà nước và pháp luật, 11/1998; “Giải quyết tranh chấp kinh t ế có yếu tố nước ngoài tại Việt N a m ” , Kỷ yếu hội thảo khoa học tại thành phố Hổ Chí Minh tháng 4/1999; “G iải q u yết tranh chấp trong lĩnh vực cíầu tư nước ngoài ỏ Việt N am - thực trạng vả phương hướng hoàn th iện ”, Đỗ Thị Ngọc, Luận văn thạc sỹ, 2000; “Vấn đ ề xác định thẩm quyền và uỷ thác tư pháp trong t ổ tụng dân s ự có yếu t ố nước ngoài” , Lê M ai Thanh, Tạp chí N hà nước và pháp luật, 2/2000; “Giáo trình T ư p h á p quốc t ể \ Trường Đại học Luật Hà N ội, K hoa Luật (Đại học Q uốc gia H à N ội) 2001; “M ột s ố vấn đ ề ỉ í luận c ơ b ản v ề tư pháp quốc ì ề \ TS Đ oàn N ăng, NXB Chính trị quốc gia H 2001; “M ột s ố nhận xét

về ỉlìực trụng p h á p lu ậ t giải quyết tranh chấp kinh t ế của các doanh nghiệp có vốn đầu í ư nước ngoài tại Việt

N am ", Phan T hị H ương Thuỷ, Tạp chí D ân chủ và pháp luật, 6/2002 và Tạp chí N hà nước và pháp luật, 10/2002; “K hái q uát m ộ t s ố điểm bất tương đống trong cơ c h ế giải quyết tranh chấp thương m ại giữa Việt Nciìti và H oa K ỳ ”, Dương Văn Hậu, Tạp chí Dân chù và pháp luật, 3/2002; “Giải quyết tranh chấp kinh t ế bằng Toà án ", NCS Đ ào Văn Hội, Luân án tiến sỹ, 2003; “Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia dinh có yếu t ố nước ngoài”, NCS N ông Quốc Bình, Luận án tiến sỹ, 2003; “Cơ sở lý luận và thực tiễn của

p h á p lỉiậỉ điều chỉnh m ột s ố quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở nước ĨC I hiện nay” , NCS N guyễn Công

K hanh, Luận án tiến sỹ, 2003; “T ố tụng dân sự có yếu t ố nước ngoài trong việc xây dung Bộ luật T ố tụng dàn

s ự \ N guyễn N gọc K hánh, Tạp chí N ghiên cứu lặp pháp số 10/2003; ‘T h ẩ m quyền của T oà án V iệt N am giải quyết các vụ việc d ân s ự có yếu t ố nước n g o à i”, N guyễn Trung Tín, Tạp chí N ghiên cứu lập pháp số 3/2004;

" V ề thẩm quyền xét x ử của toà án nhân dân trong D ự thảo Bộ luật T ố tụng dán $ỈC’\ Chu Thị Hoa, Tạp chí

Dân chủ và pháp luật số 6/2004 .

Trang 9

- 3

sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài nói chung và chế định thẩm quyền giải

quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng, Việt Nam không thể không

chú-trọng các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng pháp luật để có

một hệ thống cơ sỏ' pháp lý chung với các nước trên thế giới cho các vấn đề phát

sinh và không ngừng “nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc t ế về tổ

chức và hoạt dộng của các cơ quan tư pháp về giải quyết các loại tranh chấp trên

cơ sở bảo đảm độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia" [2].

Trong tình hình hiện nay, quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế của Việt

Nam không chỉ bó hẹp trong phạm vi khu vực m à đã mở rộng sang các châu lục

khác Trong bối cảnh quan hệ hợp tác Á - Âu ngày cànơ phát triển, Việt Nam đã và

đang chú trọng tăng cường quan hệ hợp tác với các nước thuộc khối Liên minh châu

Âu (.European Union - EU) Vì vậy, thực tiễn sẽ tất yếu đòi hỏi những hoạt động

h ợ p ìá c và tương trợ trong lĩnh vực tư pháp để giải quyết tranh chấp dân sự trong các

lĩnh vực giữa Việt Nam và các nước này

Thụy Điển là một trong những quốc gia châu Âu thiết lập quan hệ ngoại giao

và duy trì hoạt đôn° hợp tác sâu rộng, có hiệu quả với Việt Nam trong thời gian qua

Tính chất, đặc điểm của hệ thống pháp luật Thụy Điển cũng có nhiều điểm tương

đổng với Việt Nam nên việc nghiên cứu pháp luật Thụy Đ iển, và thông qua đó tìm

hiểu về p h á p luật chung của E U v ề giải quyết tranh chấp dân sự có yếu t ố nước

ngoài là vô cùng cần thiết trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh chiến lược chủ

động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Cho đến nay, ở Thụy Đ iển (cũng n hư ỏ các nước khác) c h ỉ có các công trình

nghiên cứu các vấn đ ề v ề tư pháp quốc t ế (TPQT) của các nước đó, chưa có một

công trình, bài viết nào v ề thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu t ố nước

ngoài trong pháp luật V iệt N am trong m ối liên hệ so sánh với p h á p luật những nước

này.

Những nội dung trình bày trên đây là cơ sở khoa học và thực tiễn đế tác giả

chọn nghiên cứu đề tài: “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu t ố nước

ngoài trong pháp luật Việt N am và Thụy Đ iển - từ góc độ nghiên cứu so sánh".

Trang 10

2 M ục đích của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong mối liên hệ so sánh với pháp luật Thuỵ Điển; trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành

Với m ục đích nêu trên, luận văn này tự đặt ra những nhiệm vụ cụ th ể sau đây:

- Trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải

quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

- Phân tích nội dung các quy tắc' xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành trong mối liên

hệ so sánh với pháp luật Thuỵ Điển

- Chỉ ra những bất cập, vướng mắc và hạn chế trong các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và yêu cầu khách quan cần hoàn thiện đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp

và hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời nêu một số luận cứ khoa học trong các kiến nghị nhàm hoàn thiện chế định này

3 Phạm vi nghiên cứu

Tranh chấp dân sự có yếu tố nưóc ngoài là hiện tượng phổ biến trong đời sống các quốc gia và cả ở phạm vi quốc tế, do phát sinh từ các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng và phức tạp Do đó, giải quyết tranh chấp dân

sự có yếu tố nước ngoài là vấn đề vô cùng rộng lớn, phức tạp và có thé được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau

Với n h ữ n z m uc đích, nhiêm vu ch ín h đươc nêu trên đây tronọ điều kiên rất han hep về thời 2 Ìan n sh iên cứ u tài liêu tham khảo và tro n e kh u ô n k h ổ của

vói m ôt 2ÓC đô tiếp căn như sau:

T h ứ n h ấ t, luận văn chủ yếu nghiên cứu chế định thẩm quyền giải quyết tranh

chấp dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài dưới góc độ tư pháp quốc tế, đặt trọng tâm vào khía cạnh xung đột pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Trang 11

T h ứ hai, về mặt lý luận, thẩm quyền trong TPQT thuộc về hai chủ thể là toà

án và trọng tài thương mại Luận văn mới chỉ có điểu kiện nghiên cứu thẩm quyển

của toà án (trong lĩnh vực tố tụng dân sự quốc tế) mà không đ ề cập đến thẩm quyền của trọng tài thương mại Hơn nữa, trong lĩnh vực tố tụng dân sự quốc tế, nội hàm

khái niệm “thẩm quyền” ở phạm vi rộng nhất bao gồm các nội dung: i) phân định

thẩm quyền xét xử, ii) thẩm quyển trong việc áp dụng luật để giải quyết tranh chấp,

và iii) thẩm quyền trong việc cônơ nhận, thi hành phán quyết của toà án nước ngoài

Luận vãn chủ yếu nghiên cứu các quy tắc xác địnli thẩm quyền ở loại thứ nhất: thẩm quyền xét xử; hay nói cách khác là các quy tắc giải quyết xung dột thẩm quyền.

T h ứ ba, do việc tiếp cận vấn đề dưới góc độ nghiên cứu so sánh quy tắc xác

định thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong hại hệ

thống pháp luật khác nhau (Việt Nam và Thụy Điển) nên luận văn không trình bày

tất cả những nội dung về lý luận và thực trạng pháp luật về thẩm quyền mà chỉ chủ yếu khai thúc những quy định chung nổi bật nhất trong m ột s ố văn bản pháp luật quan trọng của hai nước để khắc họa mô hình và nội dung các quy tắc thẩm quyền

cơ bản trong pháp luật Việt Nam và Thụy Điển

T h ứ tư, những đề xuất kiến nghị về vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam

nêu'trong luận văn này cũng chủ yếu trên cơ sỏ và xaất phát từ những nhận xét,

đánh giá rút ra trong quá trình nghiên cứu so sánh với pháp luật của Liên minh châu Ầu và Thụy Điển Tác giả xác định đày là kết quả nghiên cứu bước đầu và cần

được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hơn nữa trong quá trình nghiên cứu sau này

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở'vận dụng phương pháp luận của Chủ righĩa Mác- Lênin và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Để làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phướng pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng như phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận duy

Trang 12

vật lịch sử, phươns pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp logic ; trong đó phương pháp so sánh được coi là phương pháp chủ đạo.

5 Điểm mới và ý nghĩa của việc nghiên cứu

Như trên đã trình bày, cho đến nay chưa có công trình, bài viết nào nghiên

cửu toàn d iện , đẩy đủ và có hệ thống về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dàn

sự có yếu tố nước ngoài của pháp luật Việt Nam trong mối liên hệ so sánh với pháp

luật nước ngoài Vì vậy, có thể coi đây là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu

c h ế định này.

Luận văn có m ột s ố điểm mới như sau:

quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

- Trình bảy vả phân tích nội dung các quy tắc xác định thẩm quyền giải

quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và đặt chúng trong tương quan so sánh giữa quy định pháp luật Việt Nam và quy định pháp luật Thụy Điển (và pháp luật của Liên minh châu Âu)

- Đ ề xu ấ t m ột sô' giải pháp nhằm hoàn thiện c h ế định thẩm quyền giải quyết

tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong hệ thống quy định pháp luật Việt Nam hiện hành

Tác giả cho rằng, đề tài nghiên cún này có một số ý nghĩa như sau:

quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong khoa học pháp lý Việt Nam

- Hai là, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết

các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trước yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Ba là, luận văn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động nghiên cứu lý

luận và hoạt động thực tiễn của các cơ quan xây dựng và bảo vệ pháp luật, của các chuyên gia nghiên cứu và những ai quan tâm tới vấn đề này

6 Bô cục của Luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu được thể hiện trons; Luận văn theo kết cấu chung gồm Phán m ở đđu, 03 chương, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 13

Chương 1- M ột số vấn đề chung về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự

có yếu tố nước ngoài

Chương 2- Quy tắc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp dàn sự có yếu

tố nước ngoài của toà án ở Việt Nam và Thụy Điển

Chương 3 - Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh

chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHƯNG VỂ THAM q u y ể n

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN s ự CÓ YẾU T ố NƯỚC NGOÀI

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 T ra n h chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

* Tranh chấp dân sự

Thuật ngữ “ tranh chấp”, trong tiếng Anh là “dispute” , thường được dùng để chỉ “tình trạng tổn tại giữa hai (hay nhiều) cá nhân, được tạo thành bởi một số dấu hiệu của sự phản đối, đối lập ” [39, pp 25] Theo Từ điển Tiếng Việt, tranh chấp được giải thích là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên [35]

ở khía cạnh pháp lý, “tranh chấp” là sự bất đồng liên quan đến quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ giữa các bên khi họ tham gia các quan hệ pháp luật Tuy nhiên cho đến nay, chưa có văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm cụ thể về “tranh chấp“ Theo một định nghĩa của Toà án quốc tế (Permanent Court of International Justice) trong phán quyết năm 1924 về vụ tranh chấp Mavrommatis, “tranh chấp (dispute) là sự bất đồng về mặt pháp lý hay thực tế, sự xung đột về quan điểm pháp lý hoặc mâu thuẫn, lợi ích giữa hai người trở lên” [44, pp 10]

Tranh chấp dân sự được hiểu là những tranh chấp phát sinh từ các quan hệ dân sự Vậy thế nào là quan hệ dân sự? ở Việt Nam, quan hệ dân sự có thể được hiểu và giải thích khác nhau theo hai nghĩa rộng, hẹp của khái niệm này Theo nghĩa hẹp, quan hệ dân sự được hiểu là bao gồm các quan hệ tài sản và nhân thân phi tài sản phát sinh trong giao dịch dân sự2 (điều 1 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 19953) Theo nghĩa rộng - quan điểm của đông đảo các luật gia, nhà nghiên cứu Việt Nam, khái niệm quan hệ dân sự được hiểu tương đối thống nhất là “các quan hệ giữa con

2 Theo Đ iều 130 Bộ luật D ân sự năm 1995, giao dịch dân sự là hành vi pháp lý dơn phương hoặc hợp đồng giữa các cá nhân, pháp nhản hoặc các chù thế khác làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa

vụ dân sự.

3 Bộ luật này được thông qua ngày 28/10/1995 có hiệu lực từ ngày 1/1/1996.

Trang 15

người với nhau trong cuộc sống hàng ngày, các quan hệ về dời sống, sinh hoạt,, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và tự do ý chí” [20,

tr 14] Như vậy, quan hệ dân sự không chỉ bao gồm các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự thuần túy, mà cả các quan hệ có tính chất dân sự như kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân và gia đ ìn h

Công ước Brussels (châu Âu) năm 1968 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, công nhận và thi hành bản án nước ngoài trong các vấn đề dân sự và thương mại 4(sau đây viết tắt là Công ước Brussels 19Ố8) đề cập đến “vấn đề dân sự và thương

mại” (civil and com m ercial m atters), chứng tỏ các vấn đề “thương mại” không phải

là một bộ phận nằm trong khái niệm “dân sự” Tuy nhiên, Công ước này không định nghĩa thế nào là “các vấn đề dân sự và thương mại” Theo giải thích của Toà án châu

Âu (Court o fJ u s tic e o f European C om m unities - ECJ), để hiểu được thuật ngữ này,

cần có sự phân biệt rõ ràng giữa luật công và luật tư theo một nguyên tắc là chính là: nếu một tranh chấp được thực hiện bởi cơ quan công quyền hoặc chống lại một cơ quan công quyền thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước, còn nếu vụ kiện thực hiện bởi cá nhân hoặc chống lại cá nhân (hoặc chủ thể khác của luật tư) được coi là tranh chấp trong luật tư và thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước [49, pp 60-61]

Phạm vi khái niệm “ tranh chấp dân sự và thương mại” ở Thụy Điển hiện nay được hiểu và xác định tương tự như ở các nước khác ở châu Âu, dựa trên cơ sở quy định của hệ thống Brussels về thẩm quyền và thực thi phán quyết trong các vấn đề dân sự và thương mại Công ước Brussels 1968 không nêu rõ khái niệm “tranh chấp dân sự và thương mại” nhưng tại Điều 1 đã xác định phạm vi áp dụng của Công ước không bao gồm các vấn đề về thu nhập (revenue), hải quan (custom) hoặc các vấn

để hành chính (administrative matters) cũng như các tranh chấp liên quan tới tình trạng hoặc năng lực pháp lý của cá nhân, quyền tài sản phát sinh từ các quan hệ hôn nhân, di chúc và sở hữu, phá sản, kiện tụng liên quan tới giải thể công ty hoặc pháp nhân khác không có khả năng thanh toán nợ, thoả thuận về xét xử, an ninh xã hội và

4 The 1968 B russels Convention Oỉì jurisdiction and eníorcem ent judgm ents on civil and com m ercial matters.

Trang 16

-

10-trọng tài Như vậy, tranh chấp dân sự và thương mại luôn gắn liền với nhau, chịu sự điều chỉnh của m ột văn bản pháp lý chung

Ở Việt Nam, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, khái niệm “tranh chấp” (dispute)

có sự phân biệt với “vấn đề” (m atter) hay “ vụ việc” (case) như thường được sử dụng

irong pháp luật Thụy Điển và châu Âu Vụ việc là khái niệm rộng hơn, bao hàm tranh chấp (vụ án) và các yêu cầu (việc dân sự) không có tính chất tranh chấp (là những yêu cầu giải quyết các vấn đề liên quan đến yếu tố nhân thân của một người hoặc xác định một sự kiện pháp lý nào đó)5 Việc phân định sự khác biệt này rất có

ý nghĩa trong việc xác định phạm vi các quan hệ tranh chấp trong tố tụng dân sự nói chung và tố tụng dân sự quốc tế nói riêng6

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế (TPQT) Việt Nam và Thụy Điển, khái niệm “tranh chấp dân sự” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các tranh chấp trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình

* Yếu t ố nước ngoài trong các tranh chấp dân sự

Chúng ta biết rằng, thuật ngữ “yếu tố inrớc ngoài” ựoreign elements) được ghép vói thuật ngữ “quan hệ dân sự” (civil relations) thành khái niệm “quan hệ dân

sự có yếu tố nước ngoài (the civil relation containing foreỉgn elements) Và tương tự như vậy, thuật ngữ “yếu tố nước ngoài” ựoreign elements) được ghép với thuật ngữ

“tranh chấp dân sự” (civil disputes) thành khái niệm “tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài” (the civil dỉspute containing/oreỉgn eỉements) Vấn đề quan trọng trong

lý luận và thực tiễn tư pháp quốc tế là xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ

tranh chấp dân sự, bởi yếu tố nước ngoài chính là điều làm nên đặc trưng của tranh

chấp dân sự có yếu tố nước ngoài so với các tranh chấp dân sự không có yếu tố nước ngoài, từ đó dẫn đến sự phân biệt những tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế với những tranh chấp không thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế

5 Q uy định tại Đ iều 1 Bộ luật T ố tụng dan sự Việt Nam năm 2004.

6 Luận văn này chỉ nghiên cứu việc xác định thẩm quyền đối với các tranh chấp (vụ án) dân sự có yếu tô' nước neoài mà không đề cập đến các việc dân sự có yếu tố nước ngoài ■

Trang 17

- II

-ơ các nước, quan điểm về yếu tố nước ngoài rất khác nhau Trong pháp luật

và khoa học TPQT các nước châu Âu, khái niệm “yếu tố nước ngoài” trong vụ việc

có ihể là những sự kiện xảy ra tại nước ngoài hoặc các nước ngoài, hoặc cũng có thể

là nơi cư trú nước ngoài, nơi thường trú hoặc nơi đặt trụ sở kinh doanh của các bên ở

nước ngoài [43, pp 1] Xuất phát từ yếu tố “nước ngoài” ựoreign), người ta cũng có thể liên hệ đến yếu tố “quốc tế” (.international) vì thực tế của vụ việc hoặc các bên

có liên hệ với một hoặc nhiều nước khác với nước có toà án Nói cách khác, vụ việc

có các yếu tố quốc tế là vụ việc mà trong đó các bên hoặc các vấn đề liên quan có liên hệ với hơn một nước [43, pp.3] Yếu tố “quốc tể” có thể tạo nên một cơ chế mà trong đó các toà án của quốc gia có thẩm quyền giải quỹết tranh chấp, luật quốc gia được áp dụng để giải quyết tranh chấp và cuối cùng là bất kỳ bản án nước ngoài sẽ được thi hành ở nước khác Yếu tố nước ngoài có thể phát sinh ở một trong ba lĩnh vực chính của TPQT là chọn toà án có thẩm quyền xét xử, chọn luật áp dụng và công nhận, thi hành phán quyết của toà án nước ngoài

ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý nói chung và TPQT nói riêng, việc xác định “yếu tố nước ngoài” là vấn đề quan trọng và ở những chừng mực nhất định

đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật Mặc dù trong thực tiễn pháp lý Việt Nam, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đã thực sự phát sinh từ rất lâu và được pháp luật điều chỉnh7 nhưng khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì mới được chính thức quy định tại một điều luật trong Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 826 Phần thứ bảy) như sau:

“ Trong Bộ luật này, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là các quan hệ

clcĩn-sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ đ ể xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó p h á t sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước n g o à i” Theo quy định này, có ba dấu hiệu xác định yếu tố nước

ngoài trong quan hệ dân sự là: i) chủ thể (có người nước ngoài, pháp nhân nước

7 Q uan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thực sự phát sinh ờ V iệt Nam cách đây hàng thế kỷ và sau này được pháp luật điểu chỉnh (trong lĩnh vực hôn nhan gia đình, có thể kể một số văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự Sài gòn ngày 20/2/1972, Thông tư 11/TATC ngày 12/7/1974 cùa TANDTC hướng d ĩn m ột số vấn đề về nguyên tắc và thù tục trong việc giải quyết những việc ly hôn có nhản tố nước ngoài, Pháp lệnh Hỏn nhan và gia đình giữa công dân V iệt Nam và người nước ngoài ngày 2 /1 2 /1 9 9 3

Trang 18

- 12

-ngoài); ii) sự kiện pháp lý phát sinh ở nước ngoài và iii) tài sản liên quan đến quan

hệ đó ở nước ngoài Quan hệ dân sự có một hoặc hai hoặc cả ba yếu tố này thì được gọi là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Theo lý luận về xung đột pháp luật (tư pháp quốc tế) và xuất phát từ tư duy coi Bộ luật Dân sự là luật gốc của các lĩnh vực dân sự, kinh doanh - thương mại, lao động và hôn nhân gia đình, quy định trên đây phải’ là “khuôn m ẫu” chung để xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế Tuy nhiên, do không có quy định rõ ràng và do phạm vi điều chỉnh còn hạn hẹp của Bộ luật Dân sự nên trong thực tế lại

có những quy định riêng biệt trong các văn bản pháp luật khác về xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân gia đình mặc dù nhũng quy định này đều dựa trên cơ sở Điều 826 Bộ luật Dân sự 1995*

Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2004y (khoản 2 Điều 405), “vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc clân sự có

ít nhất một trong các bên là người nước ngoài, người Việt N am định cư ở nước ngoài hoặc các quan hệ clân sự giữa các dương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ đ ể xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước n g o à i Theo

Bộ luật này, cũng có ba yếu tố để xác định yếu tố nước ngoài trong các vụ việc dân

sự là chủ thể, sự kiện pháp lý và tài sản liên quan như quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995; tuy nhiên về nội dung thì phạm vi các vụ việc được coi là yếu tố nước ngoài có những nét khác biệt nhất định10

Trong pháp luật Việt Nam, Thụy Điển cũng như các nước châu Âu, chưa có khái niệm thống nhất về “tranh chấp dân sự có yếu tô' nước ngoài” Từ những phân

tích trên đây, có thể khái quát như sau: Tranh chấp dân sự có yếu tô' nước ngoài là

những mâu thuẫn, xung đột về quyền, lợi ích hoặc/và nghĩa vụ giữa các chủ thế

“ Ví dụ: Pháp lệnh T hủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994 - sẽ hết hiệu lực từ 1/1/2005); Luật Thương mại năm 1997, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Khoản 4 Điều 2); Luật Hôn nhân gia đình nãm 2000 (Đ iều 8 K hoản 4 )

9 Bộ luật này được ĩhông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2005.

10 Nội dung này sẽ được trinh bày chi tiết trong chương III Luận vãn này.

Trang 19

- 13

-tham gia quan hệ dân sự ((heo nghĩa rộnq bao gồm tranh chấp dân sự, kinh t ế - thương mại, lao động, hôn nhân và gia đỉnh) có yếu tố nước ngoài.

* Phân loại tranh chấp dân sự có yêĩi tố nước ngoài

Pháp luật đối với người nước ngoài ở Thụy Điển và các nước châu Âu khác được áp dụng trong lĩnh vực luật gia đinh, hợp đồng và tài sản Theo cách phân chia của một số chuyên gia pháp lý Thụy Điển, có một số nhóm đối tượng chính trong quy.tắc thẩm quyển là i) hợp đổng, bồi thường thiệt hại và các vụ việc liên quan đếntài sản và ii) các vụ việc liên quan đến luật gia đình và thừa kế [40, pp 496-499].Còn ở Việt Nam, theo truyền thống, tranh chấp dân sự có yếu tô' nước ngoài được phân chia cụ thể thành tranh chấp dân sự (theo nghĩa hẹp), tranh chấp kinh tế - thương mại, tranh chấp lao động và tranh chấp hôn nhân và gia đình Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004, có tói 40 loại tranh chấp cụ thể trong các quan hệ dân sự, kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân gia đ ìn h 11 Bộ luật Tố tụng Tư pháp năm 1942 của Thụy Đ iển12 không phân loại các tranh chấp như theo cách hiện sử dụng ở Việt Nam, song cũng liệt kê hơn 15 loại tranh chấp trong chương 10 của Bộ luật này Sự phân loại như vậy cũng mới chỉ là phân loại theo, các lĩnh vực tương đối rộng Trong mỗi lĩnh vực đó lại bao gồm rất nhiều tranh chấp cụ thể với những đặc điểm, tính chất và nội dung riêng tạo nên một tổng thể rất nhiểu tranh chấp khác nhau

Như vậy, ở Việt Nam và Thụy Điển, mặc dù phạm vi các tranh chấp thuộc dối tượng điều chỉnh của TPQT thì giống nhau nhưng cách thức phân loại lại có những khác biệt Ví dụ điển hình nhất trong sự khác biệt này là ở Thụy Điển và trong pháp luật các nước EU, tất cả các tranh chấp liên quan đến hợp đ ồ n g 13 được xếp thành một nhóm, trong khi đó ở Việt Nam lại được tách biệt thành từng loại cụ thể và xếp tương ứng trong từng nhóm tranh chấp về hợp đồng dân sự, hợp đồng

" T heo các Đ iều 25, 27, 29, 31 Bộ luật Tô' tụng D ân sự năm 2004.

12 B ậ luật này áp dụng đối với thù tục tố tụng dân sự và tố tụng hình sự

13 Chỉ tính riêng trong lĩnh vực thương m ại quốc tế, theo m ột số công trinh nghiên cứu (như cuốn T rọng tài và các phương pháp giải quyết tranh chấp lựa chọn, Trung tâm Thương mại quốc tế (ƯNCTAD CN U CED ),

G eneva 2001 - Sách do T rung tam T rọng tài Q uốc tế tại Việt Nam dịch và xuất bản, tr.29 và tiếp theo), cũng

có rất nhiều loại tranh chấp liên quan tới hợp đồng m ua bán hàng hoá, hợp đồng phàn phối, đại lí và trung gian, hợp đổng xây dưng, kỹ thuật và cơ sở hụ tầng, hợp dồng sờ hữu trí tuệ, hợp dồng liên doanh, hợp đồng hàng hải, tín dụng chứng lừ, hợp đồng lao động,

Trang 20

14

-kinh tế- thương mại, hợp đổng lao đ ộ n g 14 Lẽ đương nhiên là điều này không làm ảnh hưởng đến bản chất của quan hệ tranh chấp và phạm vi các đối tượng điều chỉnh của TPQT

1.1.2 T hẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

Thuật ngữ “thẩm quyền” , trong tiếng Anh là “jurisdiction” hoặc

“competence” , được dùng để chỉ quyền phán quyết về một vụ việc nào đó trong phạm vi pháp luật cho phép Trong cuốn sách “Khái quát chung về luật xung đột”

(<ConỊìỉcts in a nutshell), David D Giegel viết: “Thẩm quyền ‘4 là quyền lực giải

quyết tranh chấp của nhà nước đicợc thực hiện thông qua hệ thống toà án hoặc một

s ố cơ quan có tính chất xét xử (quasi- judiciaỉ bocỉy) như hội đồng trọng tài hoặc hội dung tài phán hành cliính.

Trong lĩnh vực luật quốc tế, theo Michael Akehurst, có ba bộ phạn trong thẩm quyền của một nhà nước: Quyền của nhà nước thực hiện các hoạt động trong

lãnh thổ của một nhà nước khác (executive jurisdiction)\ quyền của các toà án trong nhà nước dó xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài (ịudicỉal jurisdiction); quyền của

nhà nước áp dụng pháp luật nước mình trong khi giải quyết các vụ án có yếu tố nước

ngoài (legislative jurisdiction)\ và vấn đổ khi nào thì các nhà nước theo nghĩa vụ

pháp lý phải công nhận sự thực thi thẩm quyền của các nhà nước khác [38, pp 25]

ở Việt Nam, dưới góc độ chung, Từ điển tiếng Việt định nghĩa thẩm quyền của toà án là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật” [35], còn theo Từ điển Luật học thì “thẩm quyền” được hiểu là “ tổng hợp các quyền

và nghĩa vụ hành động, quvết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy

Nhà nước do pháp luật quy định” [34, tr 459] Một sô' tác giả định nghĩa: Thẩm

quyền của toà án là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho toà án được xét

x ử những vụ án cụ th ể và quyết định đối với các vấn đ ề về nội dung vụ Ún hoặc đảm bảo cho việc xét x ử trong giới hạn hoặc phạm vi nhất định [19, tr 26] Trong iĩnh

14 Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dàn sự năm 2004 (các điều 25, 29, 31).

Trang 21

đến như là những phương thức tự giải quyết (self-resolntion)ì5, còn trọng tài và toà

án được coi là phương thức tài phán Ụustice) 16 trong đó toà án hay trọng tài là chủ

thể giải quyết được trao những thẩm quyền nhất định, hay nói cách khác, đây là phương thức giải quyết mang tính thẩm quyền thông qua quyết định của trọng tài huy toà án Vì vậy, trong lĩnh vực luật về thẩm quyền, chỉ có trọng tài và toà án là nhũng chủ thể của thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Trong điều kiện chưa có khái niệm thống nhất trong khoa học pháp lý hiện

nay, từ nhũng phân tích trên đầy, có thể khái quát như sau: Thẩm quyền giải quyết

cúc tranh chấp dãn sự có yếu t ố nước ngoải là tổng hợp các quyền năng của (oà án hoặc trọng tài (là nhũng cơ quan có tính chất xét xử) trong việc giải quyết các tranh chấp dán sự, kinh t ế - thương mại, lao động, hôn nhân giu đình có yếu tô' nước ngoài.

Dư khuôn khổ hạn c h ế của phạm vi nghiên cứu, những nội dung được

trình bày dưóỉ đây c h ỉ tập tru n g vào th ẩ m quyền của toà án các quốc gia (V iệt

N a m và T h ụ y Đ iển) trong h o ạ t đ ộ n g giải quyết các tranh chấp th u ộ c lĩn h vực TPQ T.

Trong một vụ án dân sự có ỵếu tố nước ngoài, điều đầu tiên là toà án phải xác định mình có thẩm quyền giải quyết không Điểu này dẫn tói “vấn đề khi nào toà án của quốc gia có xét xử và phán quyết vấn đệ dựa vào quyết định m à toà án đó đạt được” [46, pp.l] Trong bối cảnh này, đây là thẩm quyền duy nhất, là đặc quyền, trong đó thuật ngữ “thẩm quyền“ nghĩa là quyền năng điều chỉnh, xét xử

(■adjudỉatorỵ com petence) [49, pp.3].

15 M ặc dù trong phương thức hoà giải thường có sự tham gia cù a người thứ ba với vai trò trung gian giữa các bẽn, nhưng tính chất cùa hoà giải vẫn chù yếu là phương thức tự quyết định.

16 T rọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp được pháp luật quy định trong đó tranh chấp được giải quyết bàng m ột phán quyết trọng tài thông q u a thù tục trọng tài và hoạt động cùa trọng tài viên với nhũng quyền hạn nhất định do các bên uỷ nhiêm G iải quyết tranh chấp bằng toà án là phương thức giải quyết tranh chấp được pháp luật quy định [rong đó [ranh chấp được giải quyết bằng m ột phán q uyết cùa toà án thông qua thù tục tô' tụng (tư pháp) và hoạt động của toà án là cơ q uan đại diện clio quyền lực nhà nước.

Trang 22

- 16

-Lý luận chung về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong TPQ T ở các nước

đã chỉ ra rằng, có ba vấn đề cơ bản phải cân nhắc để xác định khi nào thì một toà án

có thẩm quyển: Một là, đối với vụ việc tranh chấp cụ thể có căn cứ để xác định thẩm

quyền không; hai là, mặc dù có căn cứ thẩm quyền, trường hợp nào toà án sẽ từ chối

thực hiện thẩm quyền đó; và ba là, có vấn đề hạn chế thẩm quyền trong vụ việc

không [46, pp 3]

Bên cạnh đó, cần chú ý rằng, trên cơ sở ba lĩnh vực chính của TPQT là chọn

toà án có thẩm quyền giải quyết, chọn luật áp dụng và côn? nhận, thi hành phán

quyết của toà án nước ngoài, phạm vi khái niệm thẩm quyền trong TPQT là thẩm

quyền giải quyết tất cả các vấn đề, bao gồm: i) xác định thẩm quyền xét xử (về loại

việc), ii) thẩm quyền trong việc áp dụng luật để giải quyết tranh chấp, và iii) thẩm

quyền trong việc công nhận, thi hành phán quyết của toà án nước ngoài Tất nhiên,

sự phân định này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì các thẩm quyền đó có mối liên hệ chặt

chẽ với nhau: nếu một toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì đương nhiên

có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật17

của toà án

1.1.3.1 Xung đột thẩm quyền (jitrisdỉctional confỉicts)

Vấn đề “xung đột thẩm quyền xét xử”, trong TPQT các nước, được hiểu rất

khác nhau và mang nhiều tính ước lệ Tại nhiều nước châu Âu, xung đột thẩm quyền

xét xử bao hàm các vấn đề về xác định thẩm quyền xét xử và cả việc công nhận, thi

hành phán quyết của toà án nước ngoài Cách hiểu này đồng nghĩa với khái niệm tố

tụng dân sự quốc tế hiện hành tại Việt Nam [21, tr 337 - 338] Theo một phạm vi

hẹp hơn, xung đột thẩm quyền xét xử là hiện tượng toà án các nước khác nhau đều

cùng có khả năng xét xử và có thẩm quyền đối với một tranh chấp dân sự có yếu tố

nước ngoài Hệ quả của hiện tượng này, nếu không được giải quyết, là khả năng các

17 T rong TPQ T, tất c ả các nội dung thẩm quyền này đẩu rất rộng và có lý luận, quy tắc pháp lý và thực tiễn rất

phức tạp và kh ác biệt Do khuôn khổ hạn c h ế nên Luận văn này chi có điều kiện phân tích sâu vé vấn đề thẩm

quyền xét xử m à không đề cập tới thẩm quyền áp dụng pháp luật và thẩm quyền công nhận và thi hành phán

quyết cùa toà án nước ngoài.

Trang 23

có yếu tố nước ngoài không giống nhau Có thể nói, khả năng xung đột thẩm quyềnxét xử luôn luôn tồn tại trong lĩnh vực tố tụng dân sự quốc tế trừ khi các quốc giaxây dựng được các quy tắc phân định thẩm quyền đối với c iClraiỊÌỊ^^TÍ^Cấ^ếu ĩố j

nước ngoài ĨRƯONG ĐAI HOC LÚÂĨ HA NÒI

1.1.3.2 Quy tắc thẩm quyền và những lợi ích của quy tắc thẩnTqũỹen

Để tránh trường hợp xung đột thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, nhiệm vụ của TPQT là định ra những quy tắc nhằm xác đinh thẩm quyền xét xử của Toà án một quốc gia nhất định (trong các điều ước quốc tế) hoặc toà án cụ thể của quốc gia (trong pháp luật quốc gia), được

gọi là quy tắc xác định toà án có thẩm quyền xét xử (the rules o f the choice o f

/o ru m ) hay quy tắc thẩm quyền Ụurỉsdictional ruỉes).

Như đã đề cập trên đây, việc lựa chọn toà án có thẩm quyển cùng với lựa chọn luật áp dụng và vấn đề công nhận, thi hành phán quyết của toà án hoậc trọng tài nước ngoài trở thành ba vấn đề cơ bản của TPQT18 Trong lý luận và thực tiễn TPQT Việt Nam, Thụy Điển cũng như các quốc gia khác, việc lựa chọn toà án xét

xử và chọn luật áp dụng có mối liên hệ mật thiết với nhau, cái này thường dẫn tới cái kia19; còn trong vấn đề thứ ba, người ta tìm kiếm một cơ chế mà phán quyết không

do toà án một nước hay trọng tài tuyên bố có hiệu lực và được thi hành trên lãnh thổ

IX T P Q T V iệt N am c ũ n g có ba vấn đ ề c ơ bản (thẩm quy ền , luật áp d ụ n g và cô n g n h ậ n thi h à n h p h án quyết

nước ngoài) như T P Q T các nước châu Âu Tuy nhiên, ngoài các vấn đề này TPQ T V iệt Nam còn có một nội dung cơ bản nữa là xác định địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài và nhà nước nước ngoài trong cấc q uan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của TPQT.

19 Trong TPQ T, m ối quan hệ giữa các quy tắc thẩm quyền và quy tắc chọn luật áp dụng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bới vì nếu thẩm quyền không được thực hiện, vấn đề chọn luật sẽ không được điit ra.

Trang 24

-

18-một nước khác Vì vậy, các quy tắc thẩm quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong TPQT và có mối liên hệ mật thiết với quy tắc xung đột luật Các quy tắc xung đột luật được thiết kế để gạt bỏ những xung đột giữa luật pháp của các nước khác nhau bằng việc chỉ ra toà án nào có thẩm quyền và pháp luật nưóc nào cần được áp dụng (quy tắc về xác định luật áp dụng) Chức năng của các quy tắc này là bảo đảm sự hợp lý của các giải pháp trong các vụ kiện có yếu tố nước ngoài hoặc liên hệ vói các nước ngoài [45, pp.l] Quy tắc thẩm quyền có mục đích và nội dung là xác định thẩm quyển của toà án quốc gia cụ thể đối với các vụ việc Đối tượng của quy tắc thẩm quyền là xác định thẩm quyền phù hợp, còn quy tắc chọn luật được thiết kế để tạo nên sự áp dụng luật thích hợp nhất mà các bên đều mong muốn được áp dụng

Các quy tắc thẩm quyền có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động giải quyết tranh chấp của toà án các quốc gia Trước hết, khi bắt dầu quá trình này, quy tắc thẩm quyền được áp dụng để giải quyết xung đột thẩm quyền, nói cách khác là xác định thẩm quyền của toà án cụ thể trong việc giải quyết tranh chấp Sau đó, toà

án có thẩm quyền sẽ xác định luật lựa chọn được áp dụng để giải quyết tranh chấp Như vậy, việc xác định thẩm quyền luôn có ảnh hưởng quan trọnẹ; tới hoạt động chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp, bởi vì trong thực tế các toà án thường có

xu Hướng chọn luật quốc gia mình để áp dụng trong nhũng vụ án thuộc thẩm quyền

của mình (nguyên tắc lex fo ri) Hơn nữa, quy tắc thẩm quyền rất cần thiết trong

hoạt động hợp tác tư pháp giữa các quốc gia để thống nhất các quy tắc xung đột thẩm quvền và nhằm đạt được một cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng và đơn giản

ở Thụy Điển, vấn đề xây dựng các quy tắc thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài cũng được thực hiện như các nước châu Ãu khác Theo quy tắc về thẩm quyền quốc tế của Thụy Điển, vấn đề tiếp theo việc xác định thẩm quyền quốc tế của toà án Thụy Điển là toà án địa phương nào của Thụy Điển

là toà án giải quyết thích hợp hơn cả Vấn để phân định các vụ việc giữa các tòa án khác nhau theo luật tố tụng trong nước là vấn đề thẩm quyền địa hạt và liên quan đến yếu tố truyền thống, được gọi là các quy tắc thẩm quyền [45, pp.74]

Trang 25

-

19-Điều này hoàn toàn có những điểm đổng nhất với pháp luật Việt N am cũng

như lý luận chung của TPQT Đối với một vụ kiện dân sự có yếu tố nước ngoài, toà

án phải giải quyết hai vấn đề: i) vụ việc đó có thuộc thẩm quyền của toà án quốc gia

mình không hay thuộc thẩm quyền của toà án quốc gia khác; và ii) nếu vụ việc

\

thuộc thẩm quyền của toà án quốc gia mình thì tòa án đó có thẩm quyền không hay

một toà án khác trong cùng hệ thống toà án Các vấn đề này định ra hai cấp độ xác

định thẩm quyền của toà án: cấp độ quốc tế (xác định quốc gia mà toà án nước đó có

thẩm quyền bàng việc áp dụag các quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia và

các điều ước quốc tế) và cấp độ quốc gia (xác định một toà án cụ thể theo pháp luật

của quốc gia đã được lựa chọn để trực tiếp giải quyết vụ việc)

1.1.4 Căn cứ xác định thẩm quyền của toà án trong tô'tụng dân sự quốc t ế

Việt Nam, Thụy Điển cũng như các quốc gia trên thế giới, trong pháp luật

quốc gia của mình, đều định ra những quy tắc nhất định để xác định thẩm quyền

giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài Các quy tắc này có thể giống

nhau nhưng cũng có thể khác nhau; và trong trườne hợp có sự khác biệt thì một yêu

cầu tất yếu thuộc nhiệm vụ của TPQ T là phải có những quy tắc cụ thể nhằm giải

quyết xung đột về thẩm quyền và xác định toà án của một quốc gia phù hợp nhất để

giải quyết vụ việc Do tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến

ít nhất hai nước nên trong thực tế, các quốc gia cần phải ký kết với nhau những điều

nhất và cụ thể trong việc phân định thẩm quyền xét xử tư pháp của mỗi bên

Căn cứ xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong TPQT, nói chung,

thường là một trong những yếu tố chính sau đầy: i) yếu tố quốc tịch của đương sự, ii)

yếu tố mối liên hệ của vụ việc với lãnh thổ quốc gia có toà án, iii) theo sự thoả thuận

của các bên đương sự; và iv) áp dụng tương tự các quy tắc thẩm quyền đối với các

tranh chấp dân sư không có yếu tố nước ngoài được quy định trong pháp luật quốc

gia có toà án [21, tr 340]

định thẩm quyền của toà án Pháp luật Việt Nam và nhiều nước khác quy định toà

Trang 26

án quốc gia có thẩm quyền giải quyết vụ việc nếu một hoặc các bên đương sự trong

vụ việc có quốc tịch nước mình Trong hầu hết các nước thuộc hệ thống civil law

(các quốc gia châu Âu lục địa và các nước trước kia là thuộc địa của những quốc gia

này), quốc tịch với dặc trưng là nhằm xác định một công dân thuộc về một nước nào

đó là yếu tố được sử dụng cho mục đích của luật xung đột [43, pp.22]

được coi là một trong những căn cứ chính để xác định thẩm quyền Theo quy định

của pháp luật nhiều nước, toà án có thẩm quyền đối với vụ việc có mối liên hệ nhất

định với lãnh thổ quốc gia mình như đương sự cư trú, thường trú hoặc hiện diện trên

lãnh thổ quốc gia đó, tăi sản liên quan đến tranh chấp tồn tại trên lãnh thổ quốc gia

đó; hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ tranh chấp

xay ra trên lãnh thổ nước này

- V ề yếu t ố nơi cư trú, thường trú hoặc hiện diện của đương sự trên lãnh thổ

quốc gia co toà án: (Trong TPQT Thụy Điển, khái niệm “nơi cư trú” (dom icile) gắn

liền và có những điểm đổng nhất Với “nơi thưòng trú” {habituaì resiclence) [47, pp

372] Theo Điều 48 Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995: “Nơi cư trú của một cá nhân là

nơi ngưòi đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú Trường hợp cá nhân

không có hộ khẩu thường trú và không có nơi thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú

là nơi tạm trú và có đăng ký tạm trú Nếu không xác định được nơi cư trú như trên

thì đó là nơi người đó đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có phần lớn tài sản”

Khái niệm “ thường trú” phù hợp với điều kiện hiện đại khi mọi người di cư

ngày càng nhiều hơn trên khắp thế giới và với các mục đích như ly hôn hoặc nuôi

dưõng con cái nếu không thiết lập một nơi ở thực sự (“real hom é'’’) thì thẩm quyền

giải quyết tranh chấp phải được xác định căn cứ vào các mối liên hệ hợp pháp Khi

thống nhất quy tắc thẩm quyền đối với vụ việc ly hôn, ly thàn hoặc cấp dưỡng trong

phạm vi EU, nơi thường trú được áp dụng như một mối liên hệ chính [43, pp 59]

- V ề m ối liên hệ gần gũi của vụ việc với lãnh th ổ quốc gia có toà án: Việc

một nhà nước thực hiện thẩm quyền giải quyết vụ việc nếu vấn đề trong vụ việc đó

có mối liên hệ với nhà nước đó luôn được coi là hợp lý Vì vậy, pháp luật nhiều nước

Trang 27

thiết lập thẩm quyền trên cơ sở mối liên hệ của vụ việc Hơn nữa, việc phân định thẩm quyền cho nhà nước nơi thực tế vụ việc xảy ra và pháp luật và luật có mối liên

hệ gần gũi nhất với thực tế này sẽ có nhũng thuận lợi nhất định khi giải quyết tranh chấp [38, pp.54-55]

(3) Yếu tô' sự thoả thuận của cúc bên dương sự: mặc dù trên thực tế không

được coi là căn cứ chính để xác định tlìẩm quyền xét xử dân sự quốc tế song pháp luật một số nước cũng cho phép toà án có thẩm quyền đối với những vụ việc dân sự nếu các bên đương sự thoả thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại toà án nước đó mặc dù không có mối liên hệ nào giữa vụ việc tranh chấp VỚI bản thân nước này

(4) Ngoài những nguyên tắc chung nêu trên, khoa học TPQT các nước cũng

thừa nhận việc áp clụng tương tự các quy tắc xúc định thẩm quyền của toà án đối với

cúc vụ việc dân sự trong nước cho các vụ việc cố yếu tô'nước ngoài trong trường hợp

pháp luật quốc gia đó không có quy định riêng về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của toà án

Căn cứ pháp lý để toà-án xác định tỉĩẩm quyền thẽo c ẩ p đ ọ TPQT, trong pháp luật quốc gia, là các quy phạm xung đột thông thường (chỉ xác định thẩm quyền của bản thân toà án của nước ban hành ra quy phạm đó mà không xác định thẩm quyền xét xử của toà án quốc gia khác) và quy phạm xung đột thực chất (không dừng lại ở việc chỉ ra quốc gia (hoặc pháp luật quốc gia) nào giải quyết vụ việc m à trong nhiều trường hợp còn xác định trong những trưòng hợp cụ thể nào thì toà án quốc gia có thám quyền và đó là toà án cụ thể nào) Còn trong các điều ước quốc tế (song phương hoặc đa phương), các quốc gia chỉ định ra những quy phạm xung đột thống nhất để xác định thẩm quyền của toà án mỗi bên trong việc giải quyết tranh chấp

Cũng như các nước khác, Thụy Điển và Việt Naưi đều áp dụng các phương thức và nguyên tắc chung nêu trên Trong pháp luật hai nước đều có những quy phạm xung đột thống nhất nhằm xác định thẩm quyền giải quyết của toà án đối với

Trang 28

các -tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài Mặc dù vậy, cũng có nhưng điểm khác

biệt nhất định trong những quy tắc đó20

sự quốc tê

/./.5 7 Thẩm quyền riêng biệt (excìưsive jurisdiction)

Mặc dù có các quy tắc xác định thẩm quyền của toà án dựa trên những mối

liên hệ nhất định như quốc tịch, nơi cư trú, thường trú của đương sự, hay sự liên hệ

gần gũi của vụ việc với quốc gia có toà án hoặc sự lựa chọn của các bên, pháp luật

Việt Nam, Thụy Điển và các nước khác đều có những quy định về thẩm quyền riêng

biệt.của toà án

Thẩm quyền riêng biệt trong việc giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước

ngoài là thẩm quyền duy nhất luôn thuộc về toà án của một quốc gia cụ thể trong

những trường hợp đặc biệt^Ví dụ: tranh chấp liên quan đến bất động sản luôn thuộc

thẩm quyền của toà án nơi có bất động sản, bất kể quốc tịch hay nơi cư trú của

đương sự Cơ sở của việc quy định thẩm quyền đặc biệt là i) lý luận về sự phù hợp và

mối liên hệ đặc biệt giữa tranh chấp và toà án một quốc gia cụ thể và ii) yếu tổ chủ

quyền, lợi ích quốc gia hoặc vấn đề an ninh trật tự công cộng của quốc gia đó

Trong pháp luật quốc gia, các nước thường quy định một số trường hợp nhất định

mà tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của quốc gia mình (ví dụ: Điều 411

Bộ kiật T ố tụng dân sự Việt Nam năm 2004) Và tương tự như vậy, trong các điều

ước quốc tế cũng thường có những điều khoản cụ thể về thẩm quyền riêng biệt (ví

dụ: Điều 22 Nghị quyết Brussels (EC) số 44/2001 ngày 22/12/2000 hoặc một vài

điều khoản trong các HĐTTTP giữa Việt Nam và các nước ) 21.

sh o p p in g ”), từ chối thẩm quyền (declining jurisdiction) và đình chỉ việc xét xử

(staying proceedings)

20 Vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể tại chương II cùa Luận văn.

21 Nội dung cụ thể của những điều khoản nêu trên sẽ được trình bày chi tiết trong chương II của Luận vãn.

Trang 29

Trong TPQT, quan điểm cho rằng toà án quốc gia cần được mở cửa cho bất

kỳ người nào sẽ có tác dụng khi các bên của một hợp đổng quốc tế thoả thuận trong hợp đồng về những toà án cụ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Mặt khác, có một thực tế là thủ tục tố tụng chỉ nên được xét xử ở một toà án thích hợp, ví dụ: toà

án có mối liên hệ nhất định với các bên hoặc với nguyên nhân của sự việc Vì vậy, các nước trên thế giới khuyến khích việc chọn một toà án có lợi nhất để Đây là hành trình “đi vòng quanh” các toà án cho đến khi tìm ra một toà án mà ngưòi khởi kiện có thể đạt được lợi ích và thành công nhất; và hơn nữa, nếu phán quyết đạt được

ở một toà án có thẩm quyền xét xử thích hợp, bị đơn có thể không có bất kỳ cơ hội nào chống lại phán quyết cần được thi hành [43, pp.5] Việc lựa chọn toà án này

được gọi là chọn toà án có thẩm quyền xét xử thích hợp và có lợi nhất (“ýoriim

shopping”)• F ontm shopping là một thực tế được xác định là việc “một nguyên đơn

bỏ qua toà án ở nước mình và đưa vụ kiện tại một hoặc các toà án nước ngoài mà họ cho rằng sẽ mang lại cho họ niềm tin hay lợi ích mà sẽ không có được nếu đưa vụ kiện tại toà án nước mình” [43, pp.5]

ớ Thụy Điển, học thuyết về fo ru m shopping được áp dung như nhiều nước

châu Âu khác Trong khi đó, ở Việt Nam, học thuyết này chưa được nghiên cứu xem xét Các HĐTTTP giữa Việt Nam với các nước chưa quy định về vấn đề này, còn pháp luật trong nước thì mới chỉ có quy định về thẩm quyền của toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn hoặc theo thoả thuận của các bên đương sự mà chưa đề cập đến việc toà án có thẩm quyền xét xử phù hợp và có lợi nhất như ở Thụy Điển và các nước châu Âu

Việc chọn toà án tốt nhất dẫn đến mọt yếu tố khác trong TPQT, đó là thẩm

quyền thích hợp ựorum conveniens) và thẩm quyền không thích hợp ựorum non

conveniens) Thuật ngữ “thẩm quyền thích hợp” (hay thẩm quyền thuận lợi) có thể

được hiểu là một toà án thực hiện thẩm quyền trên cơ sở cho rằng thẩm quyền của toà án nước mình sẽ thích hợp hơn toà án nước ngoài Thẩm quyền không thích hợp (hay thẩm quyền không thuận lợi) được xác định là căn cứ mà một toà án chủ động

từ chối thẩm quyền của mình trên cơ sở cho rằng thẩm quyền của toà án nước ngoài

Trang 30

- 24

-thích hợp hơn toà án nước mình Học thuyết về thẩm quyền không -thích hợp dẫn đến

việc từ chối thẩm quyền (cleclining ju risd ictio n ) trong TPQT.

Theo quy định của hệ thống Brussels, thẩm quyền luôn luôn được xác định là thẩm quyền xét xử thích hợp Thụy Điển và nhiều nước châu Âu khác (như Pháp, Quebec, Đức, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ và các nước Scandinavian khác ) áp dụng thuyết thẩm quyền thích hợp và coi đây là một loại của quy tắc thẩm quyền Trong thực tiền TPQT, nhiều nước áp dụng thẩm quyền không thích hợp nhưng ngược lại nhiều nước khác lại không chấp nhận thuyết này [47, pp 6] Điều này thể hiện cụ thể ở một thực tế là thuyết thẩm quyền không thích hợp được thừa nhận rộng rãi ở các nước Anh, M ỹ nhưng lại rất hạn chế ở các nước châu Âu lục địa Quy tắc Brussels/Lugano có các quy định nhằm loại trừ việc sử dụng thuyết thẩm quyền không thích hợp trong hoạt động giải quyết tranh chấp của toà án các nước thành viên

Cần có sự phân biệt việc toà án có thẩm quyền từ chối thực hiện thẩm quyền

đó với trường hợp toà án từ chối xét xử với lý do toà én đó không có thẩm quyền đối với vụ việc, mặc dù hệ quả pháp lý trong cả hai trường hợp này là giống nhau: Toà

án từ chối giải quyết vụ kiện và cơ sở của sự từ chối này là i) thẩm quyền không thích hợp hoặc ii) một tình huống m à trong đó thủ tục tố tụng song cùng được tiến hành đối với cùng các bên và cùng một vụ kiện ở hai nước khác nhau trong cùng

một thời điểm (lis pendens) v ề lý thuyết, vấn đề này có liên quan đến việc công

nhận và thi hành phán quyết nước ngoài và có các cách giải quyết như sau: i) toà án

có thẩm quyền có thể từ chối thẩm quyền hoặc đình chỉ tố tụng; ii) toà án có thẩm quyền có thể cố gắng ngăn cản việc tiến hành tố tụng của toà án nước ngoài; iii) cả

hai thủ tục có thể được tiếp tục và quy tắc công nhận và thi hành được sử dụng để

quyết định bản án nào có giá trị; iv) cơ chế khuyên khích các bên chọn lựa m ột toà

án nhất định và đó là toà án có thẩm quyền thích hợp [47, pp 27-29]

- Đ ình ch ỉ việc xét xử (staying proceedỉngs)

Như đã nêu trên đây, có nhiểu trường hợp do các xác định thẩm quyền ở các nước không giống nhau nên các thủ tục tố tụng song cùng được tiến hành đối với

Trang 31

2 5

-cùng các bên và -cùng một vụ kiện ở các nước khác nhau trong -cùng một thời điếm

(lis pendens) Để tránh tình trạng này, các nước cần có điều ước quốc tế trong đó

thống nhất nguyên tắc phân định thẩm quyền cho toà án một nước nhất định Trong truờng hợp không có các điều ước quốc tế như vậy, pháp luật các nước có thể quy định việc toà án quốc gia đình chỉ xét xử vụ việc khi vụ việc đó đã hoặc đang được toà án của nước khác giải quyết

Trên cơ sở học thuyết thẩm quyền không thích họp, để xác định trường hợp nào thì một toà án khác có thẩm quyền thích hợp hơn, toà án quốc gia thành viên EU thường áp dụng việc kiểm tra thẩm quyền của mình theo hai bước: trước hết là cân nhắc xem tòa án nào (toà án nước mình hay toà án nước ngoài) có thẩm quyền phù hợp hơn dưa trên các mối liên hệ lãnh thổ của các bên và vụ việc, cũng như xem xét

c ó việc các bên cùng đưa tranh chấp đó kiện ở nước ngoài không; sau đó tiếp tục xem xét thêm khi toà án cho rằng tranh chấp đó được giải qụyết bởi một toà án nước

Ở Thụy Điển, học thuyết thẩm quyền khỏng thích hợp được áp dụng trong trường hợp vu kiện ít có mối liên hệ với Thụy Điển Ví dụ: một hợp đổng được ký kết giữa hai thương nhân Hoa Kỳ khi họ gặp nhau ở phòng đợi sân bay Stockholm (Thụy Điển) và ngoài ra không có bất kỳ mối liên hệ nào khác với Thụy Điển, toà án Thụy Điển có thể từ chối giải quyết vụ kiện phát sinh từ hợp đồng đó [47, pp 374]

Khoa học pháp lý và pháp luật Việt Nam chưa có các học thuyết và quy định

cụ thể về lựa chọn toà án có thẩm quyền thích hợp nhất, từ chối thẩm quyền với lý

do thẩm quyền không thích hợp, ngoại trừ một vài quy định về từ chối hoặc đình chỉ xét xử mới được đưa vào Bộ luật Tố tung dân sự năm 200422

y l 2 Hệ thống các toà án và văn bản pháp luật điểu chỉnh thẩm quyền

giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tô nước ngoài ở Việt Nam và Thụy Điển

ỉ 2.1 Hệ thống toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu

t ố nước ngoài

22 N ội dung cụ thể của những quy định này sẽ được trình bày chi tiết trong chương II của Luận văn.

Trang 32

Ở Thụy Điển, hệ thống toà án được phân chia thành toà án thường (general

courts)23 và toà án đặc biệt (specỉal courts) Toà án thường bao gồm toà án cấp

huyện, toà án phúc thẩm và toà án tối cao, giải quyết các vụ án hình sự và tranh chấp dân sự (gồm các tranh chấp dân sự, thương mại và gia đình) cũng như những yêu cầu dân sự không có tính tranh chấp Bên cạnh đó, có hai toà án đặc biệt giải quyết

các tranh chấp dân sự là i) Toà án Lao động (Laboitr C oưrt) giải quyết các tranh

chấp liên quan đến hoạt động công nghiệp, như tranh chấp liên quan quan hệ giữa

người sử sụng lao động và người lao động, và ii) Toà án Thị trường (M arket Court)

giải quyết các tranh chấp liên quan đến luật cạnh tranh và kinh doanh tiếp thị Các toà án cấp huyện giải quyết, các tranh chấp dân sự cụ thể Trong số các toà án cấp

huyện ỏ'Thụy Điển, có 25 toà án về đất đai (Lancl Coưrts) Các vụ việc thuộc phạm

vi điều chỉnh của Bộ luật Môi trường đước giải quyết bởi các toà án cấp huyện là 07

toà án môi trường (E nvirm ental C ourts) Tranh chấp theo luật hàng hải được giải quyết bởi các toà án cấp huyện là 05 toà án hàng hải (M aritim e C ourts) Có những

quy tắc đặc biệt đối với nhũng tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đặc biệt là phát m inh sáng chế, thuộc thẩm quyền của Toà án Stockholm Những quy định tương tự áp dụng với các vấn đề liên quan đến luật gia đình bao gồm cả những

vụ việc về gia đình có yếu tố nước ngoài

ở Việt Nam, hệ thống toà án gồm các toà án nhân dàn và toà án quân sự Toà

án nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc lãnh thổ cấp huyện (có 620 toà án cấp huyện), cấp tỉnh (có 64 toà án cấp tỉnh) và Toà án nhân dân tối cao Chức nâng của toà án nhân dân cũng tương tự như toà án thường ở Thụy Điển Việt Nam không có các toà án đặc biệt độc lập với các toà án thường như ở Thụy Điển và một số các nước châu Âu khác m à chỉ có duy nhất m ột hệ thống toà án tư pháp thường Pháp luật Việt N am có sự phân loại các vụ việc và giao cho các bộ phận của toà án thực hiện Do đó, trong tòa án tư pháp thường có các “ toà chuyên trách” để xét xử các vụ

án (cấp toà án tối cao và cấp tỉnh) hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Tại toà án cấp huyện không có toà chuyên trách nhưng có các Thẩm phán chuyên trách giải quyết các loại án khác nhau Không phải tất cả các toà án đều có thẩm quyền

21 Bao gồm các toà án tư pháp thường và toà án h ành chính thường.

Trang 33

-

27-eiải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài mà thẩm quyền này được phân

cấp chủ yếu cho toà án cấp tỉnh trở lên và cũng tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm

của các vụ việc có yếu tố nước ngoài trong từng lĩnh vực V í dụ: Theo Điều 33, 34

Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam 2004: Những tranh chấp dân sự, hôn nhân gia

đình, kinh doanh thương mại và lao động mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài

hoặc cần uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài hoặc toà án

nước ngoài thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh mà không thuộc thẩm

quyền của toà án cấp huyện

chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài là vấn đề

phức tạp, cá trong pháp luật Thụy Điển, Việt Nam và các nước khác, vì một thực tế

là có hai bộ phận cấu thành nên các luật lệ về thẩm quyền Đối với Thụy Điển, có

các quy tắc EC/EFTA (có nguồn là các Công ước Brussels và Lugano) và pháp luật

trong nước'củd Thụy Điển Đối với Việt Nam, có hệ thống quy phạm trong các điều

ước quốc tế có liên quan và pháp luật trong nước Do đó, khi nghiên cứu cơ cấu pháp

lý về giải quyết các tranh chấp dàn sự có yếu tố nước ngoài nói chung và thẩm

quyền xét xử dan sự quốc tế của toà án nói riêng, cần nghiên cứu cả hai bộ phận đó

/.2.2.7 Lược sử phát triển pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp

dân sự có yếu tô'nước ngoài Ở Thụy Điển [45] [52]

Hệ thống pháp luật Thụy Điển thuộc về truyền thống luật Châu Âu lục địa

(civil law) và có đặc điểm là luật thành văn Với hoạt động pháp điển hoá được bắt

đầu từ thế kỷ thứ 13 Vấn đề địa vị pháp lý của người nước ngoài và tài sản, quyền

lợi của họ được chú trọng từ rất sớm trong lịch sử Thụy Điển mà giai đoạn đầu tiên

ỉà áp dụng những luật lệ đặc biệt liên quan đến người nước ngoài (the law o f alỉens)

và sau đó là việc áp dụng pháp luật nước ngoài tại các toà án Thụy Điển đối với

những vụ việc có liên hệ gần gũi với các nước hữu quan Từ khoảng những năm

1350, luật lệ về người nước ngoài được ban hành Trong khoảng giữa thế kỉ 15,

nguyên tắc lãnh thổ đã được thừa nhận ở Thụy Điển Trong thế kỉ 16 và 17, xuất

Trang 34

hiện những quan điểm về việc thừa nhận và áp dụng pháp luật nước ngoài Đến giữa thế kỉ 19, không có thêm những học thuyết về xung đột pháp luật (TPQT) ở Thụy Điển, mặc dù điều này đã trở nên rộnơ rãi trên thế giới.

Từ năm 1894, Thụy Điển tham gia Hội nghị quốc tế về các vấn đề của TPQT

tổ chức tại H ague24 và các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Cộng đổng châu Âu,

hệ thống pháp luật chung các nước Bắc Âu (Inter - Nordic) Vì vậy, TPQT Thụy Điển phát triển mạnh trong thế kỷ 20

Trong thực tế, pháp luật Thụy Điển chịu ảnh hưởng nhiều của luật chung trong Cộng đổng châu Âu (EC) và Liên minh châu Âu (EƯ) Vào nhũng năm 50 của thế kỷ 20, Thụy Điển nằm ngoài danh sách những nước sáng lập Cộng đổng châu

Âu.-thay vào đó đã gia nhập Hiệp hội Tự do Thương mại châu Âu (Eưropean Free

Tracle A ssociation - EFTA) Trong thập kỷ 60, Thụy Điển trở thành thành viên

không đầy đủ của EC [52, pp 40] và đến 1/1/1995 mới chính thức gia nhập EU25 Theo các nguyên tắc được Toà án châu Âu thiết lập, luật chung của EU có hiệu lực trực tiếp ở các nước thành viên và cao hơn pháp luật quốc gia thành viên [52, pp 41]

Do đó, chúng ta phái đề cập trước tiên tới luật chung của EU khi nghiên cứu pháp luật nói chung và TPQT nói riêng ở Thụy Điển26

Như các nước thành viên EƯ khác, có hai bộ phận pháp luật chính về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài của các toà án ở Thụy Điển Một là, bộ phạn có nguồn gốc châu Âu là hệ thống Brussels (xuất phát từ Công ước

24 H ội nghị này được tổ chức lẩn đầu tiên năm 1893, lần thứ hai nãm 1894 Các lần tiếp theo được tổ chức năm 1900 và 1904, lần thứ năm vào năm 1925, các lần tiếp theo vào năm 1928, 1951, 1956 Từ năm 1956, Hội nghị được tổ chức 4 nãm m ột lần, lần thứ 18 vào năm 1'996 nhằm mục đích đàm phán và soạn thảo các diều ước quốc tế đa phương trong lĩnh vực TPQT Phương thức hoạt động của Hội nghị là thông qua tổ chức liên hợp của chính phủ các nước thành viên và có mối liên hệ với các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc (chủ yếu thông q u a U ỷ ban Luật Thương mại quốc tế - U N CITRA L), UNICEF, Uỷ ban về quyền trẻ em - CRC Hội đổng châu  u, Liên minh châu Âu, V iện quốc tế về Luật tư - Unidroit,

35 Cho đến nay EU đ ã có tổng số 25 nước thành viên.

26 L iên q uan đến luật chầu Âu và vị trí cùa nó ờ Thụy Điển, các quy định cơ bản đã được thiết lập trong Luật

về sự gia nhập L iên m inh châu Âu cùa Thụy Đ iển (SFS 1994: 1500) trong đó quy định rằng các điều ước cấp Liên m inh và các vãn kiên cụ thê’ khác cũng như các luật, điểu ước và quyết định khác được ban hành bời Hội đổng châu  u (EC) trước khi Thụy Đ iển gia nhập Liên m inh có hiệu lực bắt buộc đối với nước này Các vãn kiện ban hành sau khi Thụy Đ iển gia nhập liên m inh có hiệu lực bắt buộc ở nước này theo quy định trong các điểu ước của L iên m inh và các vãn kiện khác Quy định pháp luật chung (C om m unity legislations) phải được coi là một bộ phận và được áp' dụng như pháp luật trong nước cùa Thụy Điển Trong trường hợp có sự xung đột giữ a quy định cù a Liên m inh và quy định pháp luật trong nước, giải pháp phải được tìm ra trong các quy tắc do T oà án châu  u xác lập, theo đó luật chung cùa Liên m inh có hiệu lực cao hơn.

Trang 35

2 9

-Brussels 1968 về thẩm quyền và thực thi phán quyết trong các vụ kiện dân sự và thương mại Hai là, các văn bản pháp luật Thụy Điển áp dạng trong các vụ kiện khỏng được điều chỉnh bởi hệ thống Brussels và những văn bản giải thích, hướng dẫn vấn đề thẩm quyền tại Thụy Điển

Tiến trình p h á t triển p há p luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài trong hệ thống pháp luật Thụy Điển được khái quát như sau:

Trong lĩnh vực các vấn đề dân sự, thương mại, năm 1968, sáu nước thành viên EEC (Bỉ, Đức, Pháp, Italia, L uxãm bua và Hà Lan) ký kết Công ước Brussels về thẩm quyền và thực thi phán quyết trong các vấn đề dân sự và thương mại (được gọi

là Công ước Brussels I, để phân biệt với Công ước Brussels 1998 về thẩm quyền trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình)27 Trong xu thế không ngừng m ở rộng các thành viên EU tham gia Công ước, Công ước này đã được sửa đổi nhiều lán: bản sửa đổi -đẩu tiên năm 1978 đã được ký bởi 06 nước sáng lập, Đan Mạch, Ireland và Anh28; về sự gia nhập của Thổ Nhĩ Kỳ năm 1982, có hiệu lực từ 1/4/1989; bản sửa đổi tiếp theo được thực hiện khi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha gia nhập năm 1989, có hiệu lực vào 1/2/1991 và 1/7/1991 và sự gia nhập của Cộng hoà Áo, Phần Lan và Thụy Điển năm 19962y

Năm 1988, các nước thành viên châu Âu ký một công ước song song với

Công ước Brussels (P arallel C onvention) với các nước thành viên EFTA - đó là

Công ước Lugano về thẩm quyền và thực thi phán quyết trong các vấn đề dân sự và thương m ại30 Với những quy định chính đồng nhất với Công ước Brussels, Công ước này điều chỉnh quan hệ giữa các nước thành viên EC và Ireland, Nauy, Thụy Sĩ

và Ba Lan31

27 Công ước có hiệu lực ở các nước này vào 1/2/1973.

M Có hiệu lực với các nước này vào 1/11/1986 đối với Đ an M ạch, 1/1/1987 đối với A nh và 1/5/1988 với

Ireland.

29 Bản cuối cùng có hiệu lực từ 1/12/1998 đối với C ộng hoà Áo, 1/1/1999 với T hụy Đ iển và 1/4/1999 với Phần Lan.

30 The 1988 L ugano C onvention o n j u r i s d i c t i o n and the en ío rcem en t on civil and com m ercial m atters.

31 K hác với thời điểm kí kết Cống ước L ugano, vì hiện nay Ba L an đã trở thành thành viên EU nên N ghị quyết Brussels I (chứ không phải C ồng ước L ugano) được áp dựng để điều chinh q uan hệ giữa Ba L an và các nước thành viên EU khác.

Trang 36

3 0

-Bước phát triển tiếp theo của hệ thống Brussels là sự thay thế Công ước Brussels bằng Nghi quyết của Hội đồng Liên minh châu Âu (EC) số 44/2001 ngày 22/10/2000 về thẩm quyền và công nhận, thi hành phán quyết trong các vấn đề dân

sự và thương mại (sau đây gọi là Nghị quyết Brussels I32) Nghị quyết này bắt đẩu có hiệu lực vào 1/3/2002 và được coi là sự cải cách các Công ước Brussels và Lugano [43 pp 64], được áp dụng chung và trực tiếp ở tất cả các nước thành viên EƯ không cần bất kỳ sự chuyển hoá vào pháp luật các quốc gia [51, pp.20]

Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, năm 1998, Công ước về thẩm quyền và thực thi các phán quyết trong vụ kiện hôn nhân (được ơọi là Công ước Brussels II)

ký kết bởi các nước thành viên Liên minh châu Âu Công ước này được sửa đổi năm

2000 bởi Nghị quyết của Hội đồng Liên minh châu Âu (EC) số 1347/2000 có hiệu lực từ 1/3/2000 đối với tất cả các nước thành viên EU (trong đó có Thụy Điển) ngoại trừ Đan Mạch Nghị quyết này hiện đã được thay thế bởi Nghị quyết số 2201/2003 ngày 27/12/2003 về thẩm quyền và công nhận, thi hành phán quyết trong các vấn đề hôn nhân và vấn đề trách nhiệm của cha mẹ, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/8/2004 và 1/3/2005 (được gọi là Nghị quyết Brussels II)

Các Công ước và Nghị quyết nêu trên này giới thiệu những quy tắc thẩm quyền thống nhất trong toàn Liên minh châu Âu và áp dụng tự động với việc công nhận tất cả các phán quyết về dân sự, thương mại và hỏn nhân, gia đình của các toà

án của các nước thành viên [43, pp 381]

Bên cạnh việc áp dụng trực tiếp các quy định trong hệ thống công ước Brussels, Thụy Điển cũng có các văn bản pháp luật trong nước quy định cụ thể về các vấn đề có liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài như:

32 Theo quy định chung trong hoạt động lập pháp chau Âu (từ Điều 29 EC), một “N ghị q u y ế t” (Regulation) trong EƯ dược áp dụng trực tiếp vào các nước thành viên, khống yêu cầu một sự chuyên hoá vào luật quốc gia hay công nhận hiệu lực hay hướng dẫn thi hành nào Vì vậy, Nghị quyết này được áp dụng trực tiếp ở Thụy Điển và trở thành luật tối cao cùa Thụy Điển, v ề mối quan hệ với Công ước Brussels, Nghị quyết này có phạm vi diều chỉnh như Công ước, những thay đổi trong quy định của Công ước được Nghị quyết thể hiện ở các diều 5(1), 17, 24, 27(1) và 27 (2) Như vậy, Công ước Brussels đã được chuyển hoá vào Nghị quyết hiện hành.

Trang 37

31

Luật năm 1937 về các vấn đề quốc tế liên quan đến di sản của người chết (5/3/1937)

- Luật năm 1904 về các quan hệ hôn nhân và giám hộ quốc tế (8/7/1904)

- Luật năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản (29/5/1964)

- Luật năm 1938'gổm các quy định về tàu biển nước ngoài

- Luật năm 1955 về quyền của công ty nước ngoài và các tổ chức hiệp hộikhác kinh doanh tại Thụy Điển

- Luật năm 1962 về đặc quyền của tổ chức quốc tế

- Chương 10 Bộ luật Tố tụng Tư pháp năm 1942 và bản sửa đổi

- Chương 15:4 Bộ luật về Hôn nhân, chương 20: 1 - 5, 9, 14, 15, 24 và 30 Bộ luật về cha mẹ và con cái

- Luật về Công ước Brussels ở Thụy Điển (SFS 1998: 358), Luật về Công ước Lugano ở Thụy Điển (SFS 1992: 794)

Theo quy định trong hệ thống Brussels, trong trường hợp các quy định thuộc

hệ thống Brussels/Lugano không được áp dụng (do tranh chấp trong vụ việc không thuộc phạm vi điều chỉnh của các công ước này hoặc do bị đơn không cư trú ở một nước thành viên nào của Công ước), thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mỗi nước thành viên sẽ được xác định bởi luật quốc gia của nước thành viên đó Như vậy, trong trường hợp vụ việc không thuộc phạm vi áp dụng của hệ thống Brussels, các

luật T ố tụng tư pháp (Swedish Code of Judicial procedure - SFS33 1942: 740, đã sửađổi 1998: 6534) [40, tr 496]

11 ớ T hụy Đ iển, các luật và văn bản khác được tổng hợp và xuất bản thành “Tuyển tập VBPL Thụy Đ iển” (Svvedish collection o f statues - Svensk Forfattnings Samling - SFS), xuất hiện lần đầu tiên năm 1825 và đến năm 2000, lần biên tập thứ 121 đã được xuất bản.

34 Bộ luật T ố tụng tư pháp Thụy Điển được thông qua năm 1942 và có hiệu lực từ 1/1/1948 Bản dịch Bộ luật này dược bổ sung ngày 1/1/1967 và xuất bản năm 1968 tại tạp 15 Tuyển tẠp các Bộ luật nước ngoài của Mỹ Bdn sửa đổi của Bộ luật này có hiệu lực từ 1/1/1999 (SFS: 65).

Trang 38

ở Thụy Điển, theo nguyên tắc chung về hiệu lực của luật chung trong EU đối

với các nước thành viên, quy tắc thẩm quyền trong hệ thống Brussels bao giờ cũng được áp dụng trực tiếp và trước hết đối với vụ việc tranh chấp có yếu tố nước ngoài, nếu vụ việc tranh chấp đó: i) thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Brussels hoặc các Nghị quyết Brussels và ii) nếu bị đơn cư trú ở một trong các nước thành viên Trong trường hợp bị đơn không cư trú ở một nước thành viên, thẩm quyền của toà án mỗi nước thành viên sẽ được xác định bởi luật quốc gia của nước thành viên đó Như vậy, để xác định thẩm quyền xét xử tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài của toà

án Thụy Điển, cần áp dụng hai nhóm quy tắc pháp luật: i) hệ thống Brussels (trường hợp bị đơn cư trú ở Thụy Điển) hoặc ii) pháp luật trong nước của Thụy Điển (trường hợp bị đơn không cư trú ở bất kỳ nước thành viên nào của hệ thống Brussels nhưng

bị kiện ở Thụy Điển)

Trong trường hợp chưa có các điều ước quốc tế giữa Thụy Điển với nước ngoài về xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế, thì về nsuyên tắc, việc phân định thẩm quyền sẽ được thực hiện trên cơ sở áp dụng quy định của pháp luật Thụy Điển

ỉ 2.2.2 Lược sử phát triển pháp luật vổ thẩm quyền giải quyết tranh chấp clân

sự có yếu tô' nước ngoài ở Việt Nam

Do điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, khoa học TPQT Việt Nam phát triển muộn hơn nhiều so với Thụy Điển Trải qua thòi kỳ chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 19, chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước phong kiến là “ ức thương” , “ bế quan toả cảng” nên pháp luật cũng không có quy định nào điều chính quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Thời

kỳ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (thời kỳ Pháp thuộc), mặc dù Việt Nam đã có quan

hệ rộng rãi hơn với nước ngoài nhưng các quan hệ ngoại giao vẫn còn bó hẹp và rất hạn chế Pháp luật tuy có đề cập và điều chỉnh vấn đề quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nhưng thực chất chủ yếu mới chỉ nhằm vào vấn để quốc tịch Sau khi giành được độc lập, từ năm 1945 trở đi, pháp luật'Việt Nam đã từng bước điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong

Trang 39

3 3

-hầu hết các lĩnh vực cụ thể Do quan hệ ngoại giao, hợp tác với các nước (đặc biệt là các ‘nước XHCN) ngàv càng phát triển, nhũng quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh cũng ngày càng nhiều Để đáp ứng yêu cầu từ thực tế đó, từ nhũng năm

1980 trở lại đây, Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã đàm phán, ký kết nhiều Hiệp định Tương trợ tư pháp (HĐ TTTP)35, Hiệp định về quan hệ thương mại với một số nước trong khu vực và trên thế giới, trong đó có đề cập đến vấn đề xác định thẩm quyền của toà án các bên trong việc giải quyết tranh chấp Cho đến nay, đã có 14 HĐTTTP được ký kết giữa Việt Nam và các nước, cụ thể là: HĐTTTP Việt Nam - CHDC Đức (15/12/1980), hiện đã hết hiệu lực; HĐTTTP Việt Nam - Liên Xô cũ (10/12/1981), hiện Liên bang Nga k ế thừa (từ 25/8/1998); HĐTTTP Việt Nam - Tiệp Khắc cũ (12/10/1982), hiện CH Séc và Xlôvakia kế thừa; HĐTTTP Việt Nam - Cuba (30/11/1984); HĐTTTP Việt Nam - Hungari (18/1/1985); HĐTTTP Việt Nam

- Bungari (3/10/1986); HĐTTTP Việt Nam - Ba Lan (22/3/1993); HĐTTTP Việt Nam - Lào (6/7/1998); HĐTTTP Việt Nam - CHND Trung Hoa (19/10/1998); HĐTTTP Việt Nam - CH Pháp (24/2/1999); HĐTTTP Việt Nam - Ucraina (6/4/2000); HĐTTTP Việt Nam - Mông c ổ (17/4/2000); HĐTTTP Việt Nam -

35 v ề khái niệm “Ỉicơỉìg trợ tư p h á p ” (judicial assistance) trong pháp luật V iệt Nam và Thụy Điển: ở Thụy

Đ iển, phạm vi tương trợ tư pháp (chỉ riêng trong lĩnh vực dân sự - thương mại) cũng được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp với nội dung khác nhau Theo nghĩa rộng, tương trợ tư pháp là hoạt động hợp tác giữa các cơ quan tư pháp của các quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề thuộc TPQ T như: phân định và xác định thẩm quyển của toà án, lựa chọn luật áp dụng trong các lĩnh vực cụ thể, hỗ trợ trong việc thực hiện các hoạt động tố tong cụ thể ( như tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, công nhận và thi hành phán quyết cùa toà án và cùa trọng' tài nước n g o à i )• T heo nghĩa hẹp, tương trợ tư pháp chỉ là việc hỗ trợ lẫn nhau thực hiện các hoạt động

tố tụng cụ thế (tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ ở nước ngoài, áp dụng pháp luật nước ngoài, trao đổi thông tin, hỗ trợ pháp lí cho công dân nước ngoài, công nhận và thi hành phán quyết dân sự cùa toà án nước ngoài,

trọng tài nước ngoài )' Viện nghiên cứu khoa học pháp lí-(Bộ T ư pháp), C ơ s ỏ lí luận và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh về ỉ ương trợ tư pháp quốc tế, chuyên đ ề 3/2001, tr 35.) Như vậy, nếu hiểu theo phạm vi rộng thì

việc xác định (giải quyết xung đột) thẩm quyền cùa toà án cũng thuộc hoạt động tương trợ tư pháp nhưng theo phạm vi hẹp thì việc xây dung quy tắc thẩm quyển và quy tắc chọn luật không thuộc hoạt động tương trợ tư pháp Cách hiểu này hiện cũng được áp dụng m ột cách không thống nhất ở V iệt Nam v ề nguyên tắc, tương trợ tư pháp phải được hiểu theo phạm vi rộng, song trên thực tế hầu hết các H Đ TTTP giữa Việt Nam và các nước (trừ HĐTTTP Việt Nam - CH Pháp) đều có điều khoản quy định về phạm vi tương trợ tư pháp theo nghĩa hẹp nhirng trong nội dưng lại có nhiều điều khoản quy định về giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền giải quyết các vụ việc trong các lĩnh vực Lý luận và thực tiễn TPQ T đã chỉ ra rằng, các vấn

đề xung đột pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ không thể được giải quyết triệt để và thuận lợi nếư giữa các nước không có điểu ước quốc tế với nhau hoặc có điếu ước quốc tế nhưng không quy định Tuy nhiên, do tính phức tạp của vấn đề xác định thảm quyền và pháp luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp

m à việc đàm phán đi đến thống nhất giữa các nước thường rất khó khãn, không phải khi nào cũng thực hiện được Do đó, nhiều H Đ TTTP giữa V iệt Nam và các nước ngày càng thiếu nhiều quy định cụ thể có liên quan đến vấn để này.

Trang 40

-34

-Trong lĩnh vực quan hệ thương mại, cho đến nay Việt Nam đã ký kết các hiệp định song phương về các vấn đề thương mại với trên 80 nước, trong đó điển hình nhất phải kể đến là Hiệp định về quan hệ thương mại với Hoa Kỳ (BTA)-16 Tuy nhiển, những Hiệp định này cũng có rất ít điều khoản đề cập trực tiếp tới vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Trong hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TPQT, sự tham gia của Việt Nam vào các điều ước quốc tế đa phương còn hạn chế Cho đến nay, Việt Nam

đã tham gia một số điều ước quốc tế trong các lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động (ví dụ như lĩnh vực bao hộ sở hữu trí tuệ, mua bán hàng hoá quốc tế, đầu tư nước

tế, Việt Nam mới chỉ tham gia một công ước duy nhất về tương trợ tư pháp, đó là Công ước Nevv York 1958 về công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài37; còn lại rất nhiều công ước quốc tế đa phương khác được thông qua tại Hội nghị Hague (Lahay) về TPQT (tính đến năm 2002 là 42 công ước) đều chưa tham gia

Hiện tại, Việt Nam không phải là thành viên EU nên không chịu sự ràng buộc của pháp luật châu Âu nói chung cũng như hệ thống Brussels về thẩm quyền giải quyết và thi hành phán quyết của toà án nước ngoài nói riêng Trong quan hệ xác định thẩm quyền giữa toà án các quốc gia với nhau, Thụy Điển áp dụng hệ thống Brussels (điều ước quốc tế đa phương) để xác định thẩm quyền trong các vụ kiện tranh chấp dân sự yà thương mại; còn Việt Nam căn cứ vào quy định trong các HĐTTTP và một số hiệp định về quan hệ thương mại (điều ước quốc tế song phương) với các nước Điểm chung giữa Việt Nam và Thụy Điển trong việc áp dụng pháp luật là trong trường hợp không có quy định trong điều ước quốc tế về xác định thẩm quyền thì việc xác định thẩm quyền sẽ căn cứ vào quy định pháp luật trong nước

36 Hiệp định này được ký năm 2000 chù yếu gồm các quy định về nội dung quan hệ giữa Chính phù hai nước (Việt Nam và H oa Kỳ) trong các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư và thương mại sò hữu trí tuệ, trong đó chỉ có m ột vài điều khoản liên quan đến vấn đề khiếu kiện và giải quyết tranh chấp tại toà án Nội dung các điều khoản này sẽ được trinh bày chi tiết trong chương II của Luận văn.

37 T heo Q uyết định số 453 - QĐ-CTN ngày 28/7/1995 cùa Chủ tịch nước CHXHCN V iệt Nam.

Ngày đăng: 16/08/2020, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w