Hệ thống giáo dục Việt Nam nói chung, các trường đại học công lập nói riêng đang nỗ lực hết mình trong tiến trình xây dựng và khẳng định thương hiệu ở khu vực và trên thế giới, nhưng nhìn chung sự chuyển biến của giáo dục, giáo dục đại học công lập Việt Nam còn chậm, cả ở giác độ thể chế và quá trình tổ chức thực thi, thể hiện ở chất lượng đào tạo thấp, quy mô chưa đáp ứng với nhu cầu phát triển và đòi hỏi của xã hội, cơ cấu hệ thống các trường đại học công lập còn nhiều bất hợp lý, quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường chưa cao, chương trình đào tạo còn cứng nhắc, kém linh hoạt, chậm hội nhập, phương pháp giảng dạy, học tập lạc hậu, cơ sở vật chất chưa được quan tâm đầu tư thỏa đáng,… Và một trong những hạn chế, bất cập có thể được coi là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, NCKH của các trường đại học công lập, đó là vấn đề quản lý tài chính.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
LÊ THẾ TUYÊN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ TÀI CHÍNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
LÊ THẾ TUYÊN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ TÀI CHÍNH
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 9.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS TRẦN XUÂN HẢI
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thế Tuyên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu ……… 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 3
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu ……… 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu ……… 3
3.3 Phương pháp nghiên cứu ……… 5
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án ……… 23
6 Kết cấu của luận án 23
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 24
1.1 Tổng quan về giáo dục đại học công lập 24
1.1.1 Giáo dục đại học và vai trò của giáo dục đại học với phát triển bền vững 24
1.1.2 Trường đại học công lập và phân loại trường đại học công lập 37
1.2 Quản lý tài chính các trường đại học công lập ……… 42
1.2.1 Quan niệm về quản lý tài chính các trường đại học công lập ……… 42
1.2.2 Vai trò của quản lý tài chính các trường đại học công lập ………… 50
1.2.3 Nội dung quản lý tài chính các trường đại học công lập ……… 52
Trang 51.2.4 Tiêu chí đánh giá tình hình quản lý tài chính các trường đại học công lập
72
1.2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính các trường đại học công lập 73
1.3 Kinh nghiệm về quản lý tài chính các trường đại học công lập và bài học rút ra 79
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt Nam ….……… 79
1.3.2 Thực tiễn trong nước và bài học cho Bộ Tài chính 90
Kết luận Chương 1 95
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ TÀI CHÍNH 96
2.1 Khái quát về các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính 96
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và những đặc điểm cơ bản …… … 96
2.1.2 Mục tiêu, ngành, chuyên ngành và quy mô đào tạo ……… 100
2.2 Thực trạng quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính ……… ……… 105
2.2.1 Thực trạng quản lý huy động nguồn lực tài chính ………… 105
2.2.2 Thực trạng quản lý phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính … 128
2.2.3 Thực trạng kiểm soát tài chính …… ……… 142
2.2.4 Thực trạng tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý tài chính 149
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính ……… ……… 154
2.3.1 Những kết quả đạt được ……… 154
2.3.2 Một số hạn chế ……… 157
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế ……… 162
Kết luận Chương 2 167
Chương 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ TÀI CHÍNH 168
3.1 Mục tiêu chiến lược, định hướng phát triển các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính đến năm 2030 ……… 168
Trang 63.2 Quan điểm và nguyên tắc quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính ……… ……… ……… 174
3.2.1 Về quan điểm 174 3.2.2 Về nguyên tắc 174
3.3 Giải pháp quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính … …… ……… 176
3.3.1 Nhóm giải pháp về quản lý huy động nguồn lực tài chính 176 3.3.2 Nhóm giải pháp về quản lý phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính … 180 3.3.3 Nhóm giải pháp về kiểm soát tài chính ………… ……… 188 3.3.4 Nhóm giải pháp về tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý tài chính
……… 195
3.4 Điều kiện thực hiện các giải pháp quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính 200 Kết luận Chương 3 215 KẾT LUẬN ……… 216 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 218 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin CTMT : Chương trình mục tiêu
ĐT : Đầu tư ĐTPT : Đầu tư phát triển ĐTXD : Đầu tư xây dựng KBNN : Kho bạc nhà nước KTKTNB : Kiểm tra, kiểm toán nội bộ KTNN : Kiểm toán nhà nước
NCKH : Nghiên cứu khoa học NSNN : Ngân sách nhà nước
SN, DV : Sự nghiệp, dịch vụ
TX : Thường xuyên
WB : Ngân hàng Thế giới (World Bank) XDCB : Xây dựng cơ bản
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Quan niệm về quản lý tài chính các trường đại học công lập 50 Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính (tháng 6/2017) 99 Bảng 2.2: Tổng hợp nguồn lực tài chính của các trường đại học công lập trực thuộc
Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 106 Bảng 2.3: Tổng hợp dự toán chi nguồn NSNN được bố trí của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 112 Bảng 2.4: Tổng hợp dự toán chi ĐTPT được bố trí của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 113 Bảng 2.5: So sánh nhu cầu và dự toán chi nguồn NSNN được bố trí của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 114 Bảng 2.6: Nhu cầu vốn thực hiện các dự án ĐTXD trọng điểm của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính năm 2018 và dự kiến năm 2019 115 Bảng 2.7: Cơ cấu NSNN bố trí chi TX giai đoạn 2013-2018 đối với các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính 117 Bảng 2.8: Mức trần học phí đối với các chương trình đào tạo đại trà trình độ đại học giai đoạn 2010-2021 ……… ……… 120 Bảng 2.9: Mức độ bảo đảm chi hoạt động TX từ nguồn thu học phí giai đoạn 2013-
2018 122 Bảng 2.10: Cơ cấu nguồn thu học phí đào tạo giai đoạn 2013-2018 124 Bảng 2.11: Tổng hợp nguồn thu SN, DV khác của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 127 Bảng 2.12: Kết quả phân bổ dự toán chi TX nguồn NSNN đối với các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 135 Bảng 2.13: Kết quả phân bổ dự toán chi hoạt động từ nguồn thu SN, DV của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 137 Bảng 2.14: Tổng hợp số liệu quyết toán thu, chi hoạt động SN, DV của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 139
Trang 9Bảng 2.15: Tổng hợp số liệu quyết toán chi nguồn NSNN của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 141 Bảng 2.16: Tổng hợp kết luận, kiến nghị xử lý về tài chính của KTNN đối với các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 147
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa nguồn lực tài chính và chất lượng đào tạo 115 Hình 2.2 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính 150
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu bình quân nguồn lực tài chính của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 107 Biểu đồ 2.2: Biến động nguồn lực tài chính của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 107 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn thu SN, DV khác (ngoài học phí) của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 127 Biểu đồ 2.4: Tình hình thực hiện thu, chi hoạt động SN, DV của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 139 Biểu đồ 2.5: Cơ cấu chi quyết toán nguồn NSNN của các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2013-2018 ……… 142
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
“Nếu lên kế hoạch cho một năm thì hãy gieo một hạt giống Nếu lên kế hoạch cho 10 năm thì hãy trồng cây Nếu lên kế hoạch cho 100 năm hãy trồng người Gieo một hạt giống sẽ thu hoạch một mùa vụ Giáo dục con người sẽ thu được trăm mùa vụ” (Guan Zhong - Nhà triết học Trung Quốc) Quan điểm trên đã nêu bật tầm quan trọng của giáo dục, đào tạo đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Ở Việt Nam, giáo dục và đào tạo được xác định là mục tiêu ưu tiên chiến lược, là quốc sách hàng đầu Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng là mục tiêu cao nhất mà Việt Nam đã đặt ra trong thời gian tới, nhất là trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - với sự phát triển mạnh mẽ và kỳ diệu của công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc nhiều mặt của đời sống xã hội Hệ thống giáo dục Việt Nam nói chung, các trường đại học công lập nói riêng đang nỗ lực hết mình trong tiến trình xây dựng và khẳng định thương hiệu ở khu vực và trên thế giới, nhưng nhìn chung sự chuyển biến của giáo dục, giáo dục đại học công lập Việt Nam còn chậm, cả ở giác độ thể chế và quá trình tổ chức thực thi, thể hiện ở chất lượng đào tạo thấp, quy mô chưa đáp ứng với nhu cầu phát triển và đòi hỏi của xã hội, cơ cấu hệ thống các trường đại học công lập còn nhiều bất hợp lý, quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường chưa cao, chương trình đào tạo còn cứng nhắc, kém linh hoạt, chậm hội nhập, phương pháp giảng dạy, học tập lạc hậu, cơ sở vật chất chưa được quan tâm đầu tư thỏa đáng,… Và một trong những hạn chế, bất cập có thể được coi là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, NCKH của các trường đại học công lập, đó là vấn đề quản lý tài chính, mà cụ thể hơn là quản lý huy động, phân bổ, sử dụng, và kiểm soát các nguồn lực tài chính, cũng như tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý tài chính các trường đại học công lập chưa thực sự hoàn thiện, và chưa phát huy được đầy đủ vị trí, vai trò của mình trong mối quan hệ hữu cơ với các nhân
tố bảo đảm chất lượng giáo dục đại học khác
Trang 12Thực tế hiện nay, tiến trình thực hiện tự chủ tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam nói chung và các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính nói riêng, mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực qua các giai đoạn thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP [45], Nghị định số 43/2006/NĐ-CP [39] và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP [37], song tiến độ còn chậm so với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn; việc sử dụng nguồn lực tài chính tại các trường đại học công lập chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, vẫn còn tồn tại những yếu kém Hơn nữa, tính chất quản lý tài chính lỏng lẻo cố hữu của một số trường còn tồn tại là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng đào tạo, NCKH chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội, năng lực cạnh tranh của các trường đại học công lập Việt Nam với các trường đại học trong khu vực và trên thế giới còn thấp Mặt khác, xuất phát từ đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể, khi tình hình kinh tế - xã hội và quy luật của sự phát triển thay đổi, thì quản lý tài chính cũng phải thay đổi theo, và phải được xem xét để lựa chọn, bổ sung cho phù hợp
Từ thực trạng trên, việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam trong thời gian tới là một đòi hỏi cấp thiết, đặc biệt đối với Bộ Tài chính - mặc dù số các trường đại học công lập trực thuộc không nhiều, nhưng cơ chế quản lý (điều hành), mức độ phân loại tự chủ tài chính đa dạng và thuộc những ngành, chuyên ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, nên áp lực cạnh tranh là rất lớn, trong đó có những trường đóng trên các địa bàn/khu vực thuận lợi về tuyển sinh, nhu cầu dịch vụ tư vấn lớn, nhưng cũng có những trường đóng trên các địa bàn/khu vực còn khó khăn cho công
tác này Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài luận án “Quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính” có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và
thực tiễn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý tài chính các trường đại học công lập; đề tài tập trung phân tích và làm rõ thực trạng quản lý tài chính
Trang 13các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính; từ đó đề xuất giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc
Bộ Tài chính nói riêng, các trường đại học công lập ở Việt Nam nói chung trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra với đề tài luận án, đó là:
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận chung về giáo dục đại
học, giáo dục đại học công lập, và quản lý tài chính, quản lý tài chính các trường đại học công lập; vai trò, vị trí (hay hệ thống các quyền - lợi ích) của các chủ thể tham gia quản lý tài chính các trường đại học công lập; kinh nghiệm của một số nước về quản lý tài chính các trường đại học công lập và bài học cho Việt Nam; thực tiễn trong nước và bài học cho Bộ Tài chính
Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý tài chính đối với các trường
đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính trong giai đoạn 2013-2018, từ đó chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế trong quá trình quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính, và nguyên nhân của những hạn chế này
Ba là, đề xuất giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý tài chính các
trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính nói riêng, các trường đại học công lập ở Việt Nam nói chung trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Bộ Tài chính (cơ quan chủ quản - đơn vị dự toán cấp I) và các trường đại học công lập (gồm các trường đại học, học viện - đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách) trực thuộc Bộ Tài chính
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính các trường đại học công lập
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14- Về nội dung: Quản lý tài chính các trường đại học công lập nói chung, và quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính nói riêng phải thực hiện nhiều nội dung quản lý, với sự tham gia của các chủ thể: nhà nước, nhà trường, và các thực thể khác trong xã hội (người học, gia đình người học, doanh nghiệp,…) Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian nghiên cứu, điều kiện thực tế và để bảo đảm việc nghiên cứu có chiều sâu, đề tài luận án sẽ chỉ tập trung phân tích, làm
rõ một phần của nội dung quản lý tài chính, đó là: (i) quản lý huy động nguồn lực tài chính; (ii) quản lý phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính; (iii) kiểm soát tài chính;
và (iv) tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý tài chính Việc nghiên cứu thực tiễn quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính, được đề tài luận án xem xét từ giác độ (1) các văn bản pháp lý (cơ chế, chính sách chung), và (2) quá trình Bộ Tài chính (cơ quan chủ quản), các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính tổ chức thực hiện các văn bản này (cơ chế quản lý) Các vấn đề khác nếu được đề cập đến trong đề tài chỉ nhằm làm rõ thêm những mối quan hệ trong tổng thể có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án
- Về không gian: Đề tài luận án nghiên cứu quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính, với 04 trường gồm: Học viện Tài chính, Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Tài chính - Marketing
- Về thời gian: Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2013-2018 Đây là giai đoạn thể hiện khá rõ nét (i) những điều chỉnh về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (trong đó có các trường đại học công lập), với sự ra đời của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP [37], và (ii) sự thích ứng của Bộ Tài chính (cơ quan chủ quản), các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính với những điều chỉnh này của nhà nước Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ hơn tính lịch sử của vấn đề, các dữ liệu của giai đoạn trước đó cũng được sử dụng Trong đó, từ tháng 9/2017 Trường Cao đẳng Tài chính - Hải quan đã được sáp nhập vào Trường Đại học Tài chính - Marketing, nhưng để bảo đảm tính lôgíc về dữ liệu nghiên cứu, đề tài luận
án có thống kê, sử dụng số liệu về tài chính của Trường Cao đẳng Tài chính - Hải
Trang 15quan trong giai đoạn 2013-2017 Mốc đề xuất giải pháp là từ nay đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030
3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung:
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề, bảo đảm tính toàn diện, tính hệ thống, tính lôgíc và tính thực tiễn (lịch sử cụ thể); đồng thời quán triệt các quan điểm của Đảng
và Nhà nước về đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập
- Phương pháp cụ thể:
+ Nghiên cứu định tính (với các phương pháp chủ yếu gồm: tổng quan tư liệu và khái quát hóa lý luận; thống kê; phân tích; so sánh; suy luận lôgíc), được sử dụng để làm rõ từng nội dung có liên quan đến đề tài luận án đã được đề cập đến và giải quyết ở các công trình nghiên cứu trước đây; khái quát hóa cơ sở lý luận, chỉ rõ các nhân tố ảnh hưởng, và đưa ra quan niệm về quản lý tài chính các trường đại học công lập; nghiên cứu kinh nghiệm một số nước và thực trạng trong nước về quản lý tài chính các trường đại học công lập; mô tả, đánh giá thực trạng quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính; đề xuất hệ thống các quan điểm, nguyên tắc và một số nhóm giải pháp quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính trong thời gian tới
+ Nghiên cứu định lượng (với phương pháp chủ yếu là thống kê mô tả và thống kê suy luận), được sử dụng để thu thập số liệu, mô tả và trình bày dữ liệu bằng bảng, biểu đồ, tính toán và dự báo các chỉ số (tuyệt đối, tương đối) nhằm minh chứng, đánh giá cụ thể về thực trạng quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính; khuyến nghị mức độ tự chủ tài chính, xu hướng điều chỉnh
cơ cấu các khoản chi đối với các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính trong thời gian tới
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Với nguồn dữ liệu nghiên cứu đa dạng, phong phú từ các công trình/đề tài, luận án khoa học đã nghiên cứu và công bố; sách, giáo trình chuyên khảo; hệ thống
Trang 16các bài nghiên cứu chuyên sâu đăng tải trên báo, tạp chí, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế…, nhưng do giới hạn về thời gian nghiên cứu, nên trong luận án này tác giả chỉ tập trung đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu của nhóm các
đề tài, luận án khoa học đã được các nhà khoa học công bố trước đây có liên quan
về quản lý tài chính các trường đại học công lập Và việc phân nhóm các nghiên cứu dưới đây của tác giả cũng chỉ mang tính chất tương đối, do quan điểm, hướng tiếp cận nghiên cứu đối với cùng một vấn đề của các nhà khoa học là không giống nhau Đối với nguồn dữ liệu khác có được, tác giả sẽ chắt lọc, trích dẫn đầy đủ, tường minh làm cơ sở luận giải rõ hơn đối với những nhận định, đánh giá và giải pháp khuyến nghị trong phần sau của luận án
Nhóm nghiên cứu có liên quan về cơ chế quản lý tài chính các trường đại học công lập
Trong đề tài luận án “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam” [62], tác giả Bùi Tiến Hanh đã hệ thống hóa và phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của giáo dục, xã hội hóa giáo dục,
cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục, với nội dung/các bộ phận cấu thành chủ yếu của cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục được luận án giới hạn, tập trung nghiên cứu gồm: (1) cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục, (2) cơ chế quản
lý thu và sử dụng học phí, (3) cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục công lập, (4)
cơ chế khuyến khích và quản lý tài chính đối với giáo dục ngoài công lập Trên cơ
sở (i) tổng kết, đánh giá trung thực, khách quan thực trạng xã hội hóa giáo dục, những tác động tích cực và bất cập của cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục
ở nước ta trong giai đoạn 1997-2005, (ii) bám sát tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước, luận án đã
đề xuất một số quan điểm, định hướng xã hội hóa giáo dục và 04 nhóm giải pháp lớn, với 05 điều kiện hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục có tính khả thi, nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục phát triển nhanh và bền vững hơn, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong ngắn hạn (đến năm 2010), và trong những năm tiếp theo Trong luận án này, tác giả Bùi Tiến Hanh đã có những phân tích khá sâu sắc về vai trò trọng tâm
Trang 17của chủ thể Nhà nước trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và thúc đẩy vận hành cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục
Với đề tài luận án “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia trong tiến trình đổi mới quản lý tài chính công ở nước ta hiện nay” [100], tác giả Phạm Văn Ngọc đã nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia trong mối quan hệ biện chứng với mô hình và cơ chế hoạt động mang tính đặc thù/khác biệt của Đại học Quốc gia (là đơn vị sự nghiệp công do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập; với tư cách là đơn vị dự toán cấp I, Đại học Quốc gia thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước tương đương các Bộ, ngành đối với đơn vị
sự nghiệp có thu trực thuộc; trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như một đơn
vị cơ sở) Theo Phạm Văn Ngọc, cơ chế quản lý tài chính ở các trường đại học công lập (và Đại học Quốc gia) là phương thức điều hành hoạt động tài chính do nhà trường tiến hành dưới tác động trực tiếp và gián tiếp của cơ chế quản lý tài chính chung của nhà nước, với nội dung chủ yếu gồm: (i) cơ chế phân cấp quản lý ngân sách giáo dục đại học; (ii) cơ chế quản lý quá trình huy động nguồn lực tài chính ngoài NSNN cho giáo dục đại học; (iii) cơ chế quản lý các khoản chi cho giáo dục đại học Qua phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia trong tiến trình đổi mới quản lý tài chính công ở Việt Nam và gắn với triển khai Nghị định số 10/2002/NĐ-CP [45], luận án đã đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm (1) hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý tài chính của Đại học Quốc gia, (2) cải tiến phân bổ NSNN, (3) đa dạng hóa nguồn lực tài chính và tăng cường tính hiệu quả, công bằng, (4) nâng cao năng lực quản lý tài chính và hệ thống thông tin, đánh giá, kiểm tra và kiểm toán, (5) tăng cường sự gắn kết giữa đào tạo, NCKH và sản xuất kinh doanh Ngoài ra, tác giả Phạm Văn Ngọc cũng đã nêu một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả Nguyễn Anh Thái với đề tài luận án “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam” [111] đã tập trung (i) nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học, và (ii) qua khảo sát, phân tích thực trạng tài chính, cơ chế quản lý tài chính của một số trường đại học (công lập, ngoài công lập) ở Việt Nam giai đoạn
Trang 182002-2006, để đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học trong thời gian tới theo hướng tăng quyền tự chủ, đồng thời tăng tính
tự chịu trách nhiệm của các trường trong (1) huy động, tạo nguồn lực tài chính và quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính, (2) quản lý tài sản, và (3) kiểm tra, kiểm soát tài chính Bên cạnh đó, luận án cũng đã (i) liệt kê các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học, (ii) đề xuất các kiến nghị với Nhà nước
về cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học, và (iii) phân tích các điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học
Lựa chọn đề tài luận án “Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam” [155], tác giả Hồ Thị Hải Yến đã tập trung phân tích nội dung của cơ chế tài chính cho khoa học và công nghệ trong các trường đại học (một trong hai hoạt động quan trọng/chủ yếu của các trường đại học) trên phương diện (i) huy động, và (ii) sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ của khu vực này Luận án cũng đã chỉ ra trong điều kiện kinh tế thị trường, mô hình vận động nguồn tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ là mô hình 03 nhân tố, gồm: (1) nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, cá nhân, tổ chức nước ngoài, (2) các trường đại học, và (3) các nhà khoa học Qua đánh giá thực trạng cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn 1995-2005, luận án đã chỉ
ra cần tăng cường huy động nguồn tài chính từ NSNN và ngoài NSNN cho đầu tư
cơ bản, đầu tư chiều sâu; cải thiện chính sách tài chính, tín dụng, huy động nguồn tài chính cho khoa học từ quỹ tự có của nhà trường, và tăng cường khai thác nguồn vốn nước ngoài… đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học; đồng thời trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong hoạt động khoa học và công nghệ, để tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, người sử dụng và nhà nước trong huy động và sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học Trong luận án này, nhiều khuyến nghị về cơ chế, chính sách với nhà nước đã được đưa ra, nhưng mới chủ yếu mang tính định hướng, và còn chưa rõ nguyên tắc ban hành, hoàn thiện đối với từng cơ chế, chính sách cụ thể như thế nào, để bảo đảm tính khả thi của từng
Trang 19khuyến nghị, mà về bản chất nguyên tắc này phải xuất phát từ vị trí, vai trò (hay cụ thể hơn là phải hài hòa được quyền - lợi ích) của các chủ thể trong mô hình 03 nhân
tố nói trên
Tác giả Nguyễn Thu Hương với luận án “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đạo tạo chất lượng cao trong các trường đại học công lập Việt Nam” [83], đã tập trung nghiên cứu và có những phân tích, đánh giá khá sâu sắc về cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao trên giác độ nhà nước - với tư cách là chủ thể quản lý, đã sử dụng các phương pháp, công cụ tài chính để tác động đến đối tượng quản lý là các chương trình đào tạo chất lượng cao như thế nào; đồng thời, luận án cũng xem xét vai trò của nhà nước trong mối quan hệ với các chủ thể khác tham gia vận hành cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao, gắn với yêu cầu nâng cao quyền tự chủ, trách nhiệm xã hội của trường đại học, đã cho thấy tính tổng thể và toàn diện trong nghiên cứu của tác giả Theo đó, Nguyễn Thu Hương đã xây dựng và đề xuất
mô hình khung về cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường đại học công lập, gồm: (1) quản lý nguồn NSNN, (2) quản lý nguồn thu ngoài NSNN, (3) quản lý chi phí, (4) quản lý tài sản, (5) vai trò
và mối quan hệ của các chủ thể khi vận hành cơ chế, để làm cơ sở: (i) đánh giá, tham chiếu mức độ phù hợp giữa thực trạng cơ chế quản lý tài chính chương trình đạo tạo chất lượng cao trong các trường đại học công lập Việt Nam hiện nay với mô hình khung do tác giả xây dựng, và (ii) đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đạo tạo chất lượng cao trong các trường đại học công lập Việt Nam Tuy nhiên, luận án của Nguyễn Thu Hương sẽ có tính thực tiễn cao hơn nếu những bất cập, hạn chế trong thực tế vận hành cơ chế quản lý tài chính các chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường đại học công lập Việt Nam được tác giả phân tích kỹ hơn về nguyên nhân của những bất cập, hạn chế này, gắn với vị trí, vai trò (hay hệ thống các quyền - lợi ích) của từng chủ thể tham gia vận hành cơ chế; đồng thời, giải pháp đưa ra cũng cần có lộ trình/điểm dừng kỹ thuật cụ thể hơn
Trang 20Trong đề tài luận án “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020” [50], tác giả Trương Anh Dũng cho rằng tùy vào mỗi hệ thống dạy nghề và đặc điểm tài chính của nó mà sẽ có cơ chế quản lý tài chính khác nhau, nhưng nội hàm cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở hầu hết các nước đều bao gồm các nội dung cơ bản là: (1) cơ chế quản lý việc huy động, tạo lập nguồn tài chính, (2) cơ chế quản lý việc phân phối, sử dụng nguồn tài chính, (3) cơ chế kiểm tra, giám sát, và (4) cơ chế phân cấp quản lý tài chính dạy nghề Việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề là cần thiết khách quan, và xuất phát từ: (i) nguồn gốc hình thành cơ chế, (ii) vai trò kích thích dạy nghề phát triển của cơ chế,
và (iii) yêu cầu phải phù hợp với cơ chế quản lý tài chính công trong từng thời kỳ Trên cơ sở đó, luận án đã tiếp cận phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam “từ góc độ các văn bản pháp lý và quá trình tổ chức thực hiện các văn bản này” [50, tr.4], để đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề của Việt Nam trên các khâu: cơ chế quản lý huy động, tạo lập nguồn tài chính; cơ chế quản lý phân phối, sử dụng nguồn tài chính; cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính; cải thiện tính minh bạch; công khai tài chính dạy nghề và nâng cao năng lực bộ máy quản lý tài chính dạy nghề; lộ trình và điều kiện thực hiện các giải pháp có hiệu quả
Đề tài luận án “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán trong tiến trình cải cách tài chính công ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hồng
Hà [55], đã đặt vấn đề nghiên cứu với phạm vi khá rộng về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán, gồm (i) các đơn vị dự toán khu vực hành chính, và (ii) đơn vị dự toán khu vực dịch vụ công cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa thể thao… cho xã hội Trong nghiên cứu này, Nguyễn Hồng Hà
đã thống nhất cho rằng “cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán là tổng hòa các quy định, quy tắc, biện pháp, công cụ, cách thức quản lý tài chính được pháp quy hóa (bằng các văn bản pháp quy) do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành áp dụng đối với các đơn vị dự toán” [55], từ đó kết hợp đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính đang áp dụng tại các cơ quan hành chính, đơn vị
sự nghiệp y tế, đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo, gắn với chu trình dự toán ngân
Trang 21sách hàng năm, để chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác lập, chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách, các chế độ, định mức chi tiêu hiện hành, và tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị dự toán Theo đó, Nguyễn Hồng Hà
đã đưa ra 05 nhóm giải pháp cơ bản và các nhóm giải pháp bổ trợ nhằm: đổi mới quy trình dự toán và phân bổ dự toán gắn với kết quả đầu ra; cơ cấu lại nguồn NSNN cấp và đổi mới điều hành tài chính đối với các đơn vị dự toán; thay đổi căn bản phương thức cấp phát ngân sách thường xuyên cho khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp công; hoàn thiện chính sách giá, phí dịch vụ công trong tiến trình cải cách tài chính công ở Việt Nam hiện nay Tuy vậy, do nghiên cứu với phạm vi rộng
và chủ yếu từ giác độ quản lý nhà nước, nên mặc dù có những phân tích khá kỹ về
hệ thống các văn bản pháp lý quy định về công tác quản lý tài chính đang áp dụng đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, nhưng vị trí, vai trò (hay
cụ thể hơn là quyền - lợi ích) của các chủ thể khác ngoài nhà nước, như (chính) các đơn vị sự nghiệp công lập, trong xây dựng, vận hành cơ chế quản lý tài chính (những quy định về công tác quản lý tài chính) còn khá mờ nhạt, nên các giải pháp đưa ra chủ yếu mang tính định hướng vĩ mô
Với đề tài luận án “Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” [123], tác giả Vũ Thị Thanh Thủy đã tiếp cận và giới hạn phạm vi nghiên cứu
về nội dung quản lý tài chính gồm: (1) quản lý thu - chi, (2) quản lý tài sản, và (3) quản lý tài chính theo hướng tự chủ tài chính, trong đó “mục tiêu của việc quản lý tài chính là tăng thu, tiết kiệm chi, tăng tích lũy hướng đến bền vững tài chính” [123, tr.41] Thông qua phân tích mô hình nghiên cứu (i) các nhân tố ảnh hưởng/tác động tới quản lý tài chính các trường đại học công lập (nhân tố vĩ mô, nhân tố vi mô), (ii) các nhân tố ảnh hưởng/tác động tới tự chủ tài chính của các trường đại học (tài sản công hiện có, đội ngũ giảng viên, thương hiệu trường đại học và tính chất kinh doanh năng động của người đứng đầu trường đại học), luận án đã phân tích, đánh giá những hạn chế trong quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập
ở Việt Nam, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến hạn chế và đề xuất các giải pháp (vĩ mô, vi mô) khá toàn diện, nhằm hoàn thiện quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập Việt Nam, trong đó theo Vũ Thị Thanh Thủy giải pháp
Trang 22tăng cường/đảm bảo thiết lập điều kiện tự chủ tài chính các trường đại học công lập cần được ưu tiên thực hiện trước Tuy nhiên, một trong những quan điểm/quan niệm mới rất có giá trị tham khảo của luận án đó là “bền vững tài chính” lại chưa được tác giả hệ thống, phân tích một cách sắc nét để thấy được rõ hơn mục tiêu của quản
lý tài chính (không chỉ dừng lại ở tự chủ tài chính, mà cuối cùng là bền vững tài chính)
Tác giả Lương Thị Huyền với luận án “Quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam” [85], đã tổng kết và có những đánh giá khá cụ thể về quản lý tài chính các trường đại học công lập thông qua phân tích 03 nội dung: (1) quản lý thu, (2) quản lý chi, và (3) quản lý việc phân phối kết quả hoạt động tài chính, với chủ thể quản lý là Nhà nước - dưới giác độ đưa ra các cơ chế quản lý tài chính, nhằm tạo hành lang pháp lý cho các trường đại học công lập hoạt động một cách hiệu quả Trong luận án này, Lương Thị Huyền đã tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý thu, quản lý chi và quản lý việc phân phối kết quả hoạt động tài chính tại các trường đại học công lập thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, với 03 trường được chọn mẫu điển hình, thuộc các mức độ phân loại tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên khác nhau, để chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân của các cơ chế hiện hành Trên cơ sở đó, luận án đã đưa
ra (i) quan điểm đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam,
và (ii) đề xuất 03 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính các trường đại học công lập thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Qua tổng kết, hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về giáo dục đại học với phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học,
và xuất phát từ những đặc thù trong hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an, trong đề tài luận án “Hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an” [67], tác giả Nguyễn Xuân Hiệp quan niệm chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học là “hệ thống các quan điểm, các mục tiêu, các giải pháp trong việc khai thác, huy động và phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học đảm bảo thực thi chính sách và chiến lược giáo dục đại học trong từng thời kỳ” [67, tr.28]; theo đó, chính sách tài chính
Trang 23đối với các cơ sở giáo dục đại học được xác định gồm 05 yếu tố: (i) mục tiêu của chính sách, (ii) chủ thể của chính sách, (iii) đối tượng của chính sách, (iv) các giải pháp của chính sách, (v) các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoạch định và thực thi chính sách Từ đó, Nguyễn Xuân Hiệp đã tập trung (1) phân tích, chỉ ra những thành tựu, kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, bất cập của chính sách khai thác, huy động và phân phối, sử dụng nguồn tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an, (2) đề xuất quan điểm, định hướng và 03 nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an, trong
đó nhấn mạnh một số giải pháp như: chuyển dần phương thức quản lý theo đầu vào sang phương thức quản lý theo kết quả hoạt động đối với nguồn tài chính từ NSNN; xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học;
mở rộng xã hội hóa các nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an; nghiên cứu ban hành chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho đội ngũ giáo viên và cán bộ làm công tác tài chính, kế toán tại các cơ sở giáo dục đại học;… Tuy vậy, luận án chưa phân tích được rõ nét vị trí, vai trò của các cơ sở giáo dục đại học (các trường trực thuộc Bộ Công an), Bộ Công an (cơ quan chủ quản/đơn vị dự toán cấp I) trong quá trình xây dựng, thực thi và hoàn thiện chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an; các giải pháp được đưa ra trong luận án mới chủ yếu dừng lại ở tầm chủ trương, định hướng hơn là những giải pháp, khuyến nghị cụ thể
để bảo đảm sớm khắc phục được hạn chế, bất cập của chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an mà luận án đã chỉ ra
Với giả thiết “các trường đầu tư nhiều hơn vào các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thì chất lượng giáo dục đại học sẽ tăng lên” [148, tr.61], trong đề tài luận
án “Tác động của công tác quản lý tài chính đến chất lượng giáo dục đại học - nghiên cứu điển hình tại các trường đại học thuộc Bộ Công thương” [148], tác giả Nguyễn Minh Tuấn đã đi sâu nghiên cứu tác động của công tác quản lý tài chính đến chất lượng giáo dục đại học thông qua (việc tác động đến) các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học, gồm: (1) chương trình đào tạo, (2) đội ngũ giảng viên, (3) cơ sở vật chất, (4) học liệu phục vụ học tập, và (5) quản lý hoạt động đào tạo Kết hợp với nghiên cứu thực tiễn tại các trường đại học thuộc Bộ Công thương,
Trang 24luận án đã chỉ ra rằng công tác quản lý tài chính có tác động lớn tới chất lượng giáo dục, và tác động này thể hiện ở cơ cấu sử dụng nguồn lực tài chính, tỷ lệ đầu tư tài chính càng cao cho các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, thì chất lượng giáo dục càng cao Có thể thấy đây là công trình nghiên cứu khá công phu của tác giả Nguyễn Minh Tuấn, với dữ liệu phân tích phong phú và thông tin phản ánh nhiều chiều
Trong đề tài luận án “Điều chỉnh cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam ” [1], thông qua nghiên cứu (i) lý luận về cơ sở đầu tư tài chính cho giáo dục đại học (từ giác độ kinh tế và xã hội) gắn với từng chủ thể đầu
tư, và (ii) thực trạng cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam giai đoạn 2001-2012 gắn với cơ chế, chính sách của nhà nước, tác giả Bùi Phụ Anh đã chỉ ra xu hướng vận động của các nguồn/cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập, và khẳng định “cơ cấu tài chính đầu tư có tác động rất mạnh đến kết quả giáo dục đại học cả về quy mô đào tạo và chất lượng đào tạo” [1, tr.51], nên cần thiết phải “hình thành cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học công lập nói riêng cả từ khu vực nhà nước và khu vực tư nhân một cách hợp lý, tối ưu, phù hợp và hiệu quả nhất để hạn chế những rủi ro, đồng thời làm tăng tính linh hoạt và sự thuận chiều trong quá trình điều hành chính sách” [1, tr.159], từ đó rất nhiều giải pháp được tác giả khuyến nghị, nhằm hoàn thiện cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập trong giai đoạn đến năm
2020, và tầm nhìn đến năm 2030, như: tiếp tục đảm bảo nguồn lực tài chính từ NSNN; đổi mới chính sách học phí; thu hút đầu tư, đóng góp của cựu sinh viên, học viên thành đạt; phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học công lập theo kết quả đầu
ra, chuyển hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục sang hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng; đầu tư từ NSNN phải có trọng điểm và có kế hoạch trung hạn, dài hạn; ban hành các tiêu chí cơ bản để phân loại, xếp hạng các trường, tiêu chuẩn đánh giá mức
độ hoàn thành và chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập; hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập; nghiên cứu áp dụng mô hình cổ phần hóa một số cơ sở đào tạo công lập có khả năng tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt
Trang 25động thường xuyên và chi phí đầu tư; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kiểm soát, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan chức năng và xã hội đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập; nới lỏng chính sách tín dụng cho sinh viên có khó khăn về tài chính; thúc đẩy xã hội hóa hoạt động giáo dục đại học thông qua ưu đãi cơ sở vật chất, thuế, tín dụng… Tuy vậy, đề tài cũng còn có một
số hạn chế như: mới xem xét biểu hiện bên ngoài của cơ cấu tài chính “thể hiện ở quan hệ tỷ lệ của từng nguồn, từng bộ phận so với tổng thể, tổng nguồn tài chính được tạo lập, phân bổ và sử dụng” [1, tr.40]; chưa đi sâu phân tích mối quan hệ tác động giữa các nguồn tài chính với nhau và với cơ cấu tài chính được lựa chọn phân tích (theo quan điểm hệ thống); một số khuyến nghị chưa thật sự phù hợp, như: nghiên cứu, áp dụng cơ chế thu phí từ người sử dụng sản phẩm đào tạo để tạo thêm nguồn lực đầu tư cho hoạt động đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập;…
Ở một giác độ khác, trong đề tài luận án “Hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam theo cách tiếp cận phân tích chi phí - lợi ích” [64], tác giả Đặng Thị Minh Hiền đã sử dụng cách tiếp cận chi phí - lợi ích để xây dựng mô hình, và thực hiện ước lượng hiệu quả đầu tư (xã hội, cá nhân) cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam, từ đó xác định những bất cập, hạn chế trong hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học công lập, nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này, và đề xuất một số định hướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam trong giai đoạn tới, gắn với từng chủ thể đầu tư là nhà nước, nhà trường và người học Mặc dù không trực tiếp nêu vấn đề nghiên cứu, nhưng thông qua việc xác định, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu
tư cho giáo dục đại học, và cụ thể hơn là các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí, lợi ích của từng chủ thể đầu tư, luận án đã gián tiếp chỉ ra sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học công lập, nhằm bảo đảm hài hòa quyền - lợi ích của các chủ thể tham gia vận hành cơ chế, như: đổi mới đầu
tư cho giáo dục đại học theo hướng tăng cường chia sẻ chi phí, và thay đổi phương thức cấp vốn nhằm bảo đảm chất lượng, công bằng, hiệu quả (xây dựng lộ trình tăng học phí một cách phù hợp, thay đổi phương thức phân bổ vốn cho giáo dục đại học,…); tăng cường tính tự chủ và trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học;…
Trang 26Bên cạnh những đề tài luận án đã được công bố nêu trên, liên quan đến cơ chế, chính sách quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các trường đại học công lập ở Việt Nam nói riêng, phải kể đến một số đề tài NCKH cấp
Bộ tiêu biểu giai đoạn từ năm 2010 đến nay của Bộ Tài chính, như: “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục đại học và cao đẳng công lập” [124], “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và định hướng 2020” [53], “Đổi mới tài chính đơn vị sự nghiệp công và dịch vụ công” [48],… Các đề tài đã có những đóng góp quan trọng trong việc làm rõ hơn các vấn đề lý luận cơ bản và thực trạng
về chính sách tài chính, cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính đối với các
cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta, với nhiều giải pháp, khuyến nghị được đưa ra rất có giá trị tham khảo với đề tài luận án của nghiên cứu sinh
Nhóm nghiên cứu có liên quan về tự chủ tài chính của các trường đại học công lập
Tác giả Trần Đức Cân với luận án “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” [34], đã bổ sung làm rõ khái niệm, bản chất và nhân tố tác động tới tự chủ tài chính, cơ chế tự chủ tài chính trường đại học công lập trên các khía cạnh: (1) tự chủ tài chính là một thẩm quyền của tự chủ đại học, (2) bản chất của cơ chế tự chủ tài chính là một văn bản pháp luật quy định việc chuyển đổi quyền ra quyết định về tài chính của nhà nước sang các trường, (3) nhân
tố ảnh hưởng tới cơ chế tự chủ tài chính là các cơ chế, chính sách tài chính của nhà nước, của mỗi trường xây dựng, mục tiêu phát triển giáo dục đại học của quốc gia Theo Trần Đức Cân, nội dung cơ chế tự chủ tài chính là các trường được quyền tự chủ trong (i) quản lý và khai khác nguồn thu, (ii) quản lý chi tiêu, (iii) quản lý và sử dụng tài sản của nhà trường Từ góc độ các trường đại học công lập, luận án đã tập trung phân tích, đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính hiện hành (Nghị định số 43/2006/NĐ-CP [39]) theo 06 tiêu chí, bao gồm: tính hiệu lực; tính hiệu quả; tính linh hoạt; tính công bằng; tính ràng buộc về mặt tổ chức; và sự thừa nhận của cộng đồng, để đưa ra 06 nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính cho từng chủ thể là nhà nước và nhà trường Với quan điểm nghiên cứu của Trần
Trang 27Đức Cân, có thể thấy tự chủ tài chính vừa là mục tiêu mà nhà nước cần hướng tới khi ban hành các văn bản pháp luật về cơ chế, chính sách tài chính có liên quan nhằm thúc đẩy phát triển giáo dục đại học công lập, vừa là mục tiêu mà bản thân các trường đại học công lập cũng cần phải có những thay đổi trong tư duy quản trị, điều hành để thích ứng và hướng tới Tuy nhiên, do tiếp cận đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính từ góc độ trường đại học công lập, nên luận án sẽ hoàn thiện hơn nếu được bổ sung phân tích về vị trí, vai trò (hay hệ thống các quyền
- lợi ích) của nhà nước và của các trường trong quá trình tham gia vận hành cơ chế
Trong đề tài luận án “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” [82], tác giả Phan Huy Hùng
đã tập trung nghiên cứu và có những luận giải khá sâu sắc, toàn diện về vị trí, vai trò của nhà nước (tác nhân chính tạo môi trường và động lực phát triển giáo dục đại học) trong việc định hướng, chỉ dẫn, khuyến khích, bảo vệ và làm cho sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học được thực hiện Trên phương diện nguồn lực để phát triển giáo dục đại học, luận án đã chỉ ra rằng: nhà nước có trách nhiệm thiết lập chính sách và cơ chế để huy động và quản lý các nguồn lực, nhằm đảm bảo
sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học; các cơ chế, chính sách huy động và quản lý tài chính ảnh hưởng rất lớn đến sự tự chủ của các trường đại học; đồng thời tài trợ cũng là công cụ mạnh giúp cho nhà nước điều khiển và thay đổi hệ thống giáo dục đại học Nhà nước đảm bảo tự chủ tài chính với vai trò chủ đạo trong hướng dẫn, kiểm tra, giám sát tài trợ và phân bổ nguồn lực tài chính công cho trường đại học Việc cung cấp và kiểm soát tài chính của nhà nước nhằm thực hiện
02 chức năng: (i) phân phối vốn, mà cụ thể là phân phối lại để đáp ứng nhu cầu giáo dục đại học; (ii) kiểm tra, mà cụ thể là kiểm tra việc xây dựng và thực hiện các chính sách giáo dục đại học, cũng như sử dụng có hiệu quả các khoản đầu tư của nhà nước cho trường đại học Qua tổng kết thực tiễn, luận án cũng đã đề xuất đồng
bộ 06 nhóm giải pháp, nhằm đổi mới quản lý nhà nước bảo đảm sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học, trong đó đổi mới quản lý nhà nước về tài chính giáo dục đại học là một giải pháp được khuyến nghị, với trọng tâm tập trung vào 02 nội dung chính, đó là: (1) đổi mới chính sách tài chính hướng tới huy động tối đa các
Trang 28nguồn lực cho giáo dục đại học, nâng cao hiệu quả đầu tư và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh; (2) đổi mới phương thức quản lý tài chính, tách bạch giữa quản lý nhà nước về tài chính và quản lý của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu các trường đại học công lập về tài chính Những luận giải, khuyến nghị của luận án rất có giá trị tham khảo không chỉ đối với các nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hành chính công, mà còn hữu ích đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà quản lý trong quá trình hoạch định, ban hành chính sách phát triển giáo dục đại học Tuy vậy, do quan điểm tiếp cận vị trí, vai trò của nhà nước chủ yếu trên giác độ quản lý
vĩ mô, nên luận án còn vắng bóng những kiến giải hoàn thiện cơ chế, chính sách hiện hành có liên quan của nhà nước (trong đó có cơ chế quản lý tài chính các trường đại học công lập), nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình đảm bảo tự chủ,
tự chịu trách nhiệm (trong đó có tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính) của các trường đại học ở Việt Nam
Cùng hướng nghiên cứu với tác giả Phan Huy Hùng khi đề cập đến nhà nước
và vai trò quản lý của nhà nước đối với giáo dục đại học nói chung, và với việc đảm bảo/mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học công lập nói riêng, nhưng trong đề tài luận án “Vai trò nhà nước trong mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học công lập Việt Nam” [56], tác giả Lương Văn Hải đã tập trung phân tích về quyền tự chủ của các trường đại học trên 06 lĩnh vực cơ bản (gồm: học thuật; tài chính; tổ chức, nhân sự; tuyển sinh và đào tạo; khoa học và công nghệ; quan hệ quốc tế), mô hình/phương thức quản lý nhà nước đối với các trường đại học, và chỉ ra rằng “để thực hiện quyền tự chủ đại học phải có sự phân định rạch ròi giữa quyền quản lý, giám sát của nhà nước (quản lỹ vĩ mô) và quyền quản trị đại học của các trường đại học (quản lý vi mô)” [56, tr.37] Theo đó, vai trò của nhà nước trong việc mở rộng quyền tự chủ cho các trường đại học được thể hiện thông qua việc thực hiện chức năng: (1) định hướng và chiến lược cho phát triển giáo dục đào tạo, (2) xây dựng lộ trình tăng quyền tự chủ cho các trường đại học, (3) ban hành các chuẩn mực thiết yếu cho các trường đại học, (4) tổ chức kiểm tra, kiểm định chất lượng hoạt động đại học, và (4) điều phối nguồn lực hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng công khai của nhà nước Qua khảo sát, đánh giá thực
Trang 29trạng vai trò của nhà nước trong việc mở rộng quyền tự chủ cho các trường đại học công lập Việt Nam giai đoạn 2000-2010 thông qua hệ thống các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, văn bản pháp luật của nhà nước, luận án đã đề xuất 12 giải pháp để mở rộng có hiệu quả quyền tự chủ đại học, và 04 điều kiện để thực hiện các giải pháp này Tuy vậy, các giải pháp, điều kiện được đưa ra mặc dù khá toàn diện, nhưng mới chủ yếu dừng lại ở tầm chủ trương, định hướng hơn là những giải pháp, khuyến nghị gắn với lộ trình cụ thể, để bảo đảm sớm khắc phục được những hạn chế trong thực hiện vai trò quản lý của nhà nước đối với việc mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học công lập mà luận án đã chỉ ra, đặc biệt những khuyến nghị về cơ chế quản lý tài chính, về “mức độ phân cấp tài chính cho phép của nhà nước” - một chỉ dấu cho mức độ/quyền tự chủ tài chính của các trường còn mờ nhạt và gần như không có dẫn chứng về số liệu
Nhóm nghiên cứu có liên quan về quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tài chính
Trong/với cùng không gian nghiên cứu là các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc/trực thuộc thuộc Bộ Tài chính, phải kể đến một số công trình
có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài luận án, như: Lê Thị Thanh Huyền
“Sử dụng công cụ kế toán, kiểm toán trong việc quản lý tài chính ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính” [86], Bùi Tuấn Minh “Phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn kinh phí trong các đơn vị sự nghiệp đào tạo thuộc Bộ Tài chính” [98], Nguyễn Đức Thọ “Đổi mới hoạt động kiểm soát nội bộ về sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính” [114], Trong đề tài nghiên cứu của mình, xác định nội dung công tác quản
lý và sử dụng nguồn kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp đào tạo được tiến hành qua ba khâu “lập dự toán thu - chi, chấp hành dự toán thu - chi và quyết toán thu - chi hàng năm”, và thông qua sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích (phương pháp phân tích tỷ lệ, phương pháp đánh giá, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ), Bùi Tuấn Minh đã có những đánh giá, phân tích khá toàn diện về thực trạng huy động,
sử dụng nguồn kinh phí, và thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát tài chính trong các đơn vị sự nghiệp đào tạo thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2007-2010, từ đó chỉ ra
Trang 30những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý, và biện pháp sát thực nhằm nâng cao kết quả hoạt động của đơn vị Tuy nhiên, xét về mặt lý luận, hệ thống các khái niệm có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài luận án, như: phân tích, hiệu quả, quản lý tài chính/kinh phí, cơ chế quản lý tài chính/kinh phí… chưa được tác giả quan tâm thể hiện rõ nét, nhằm luận giải sâu sắc hơn vấn đề nghiên cứu Ở một giác độ khác, tiếp cận nghiên cứu về hoạt động kế toán, kiểm toán, kiểm soát nội bộ trong vai trò/như là những công cụ của quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng, hai tác giả Lê Thị Thanh Huyền và Nguyễn Đức Thọ đều thống nhất cho rằng cần phải tiếp tục hoàn thiện, phối hợp sử dụng đồng bộ, có hiệu quả các công cụ quản lý này trong thời gian tới, nhằm kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả việc huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính, tài sản trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Tài chính, với nhiều giải pháp, khuyến nghị được đưa ra rất có giá trị cả về lý luận và thực tiễn đối với đề tài luận án mà nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu, đặc biệt trong tiến trình cải cách tài chính công, đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay
Ngoài ra, hệ thống các bài nghiên cứu, trao đổi có liên quan về cơ chế quản
lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập trong những năm gần đây của các nhà khoa học, các cơ quan quản lý, chuyên gia trong nước đã được trình bầy tại các hội nghị/hội thảo, xuất bản trên các ấn phẩm/tạp chí có uy tín trong nước là rất đa dạng và phong phú, trong đó phải kể đến: Kỷ yếu hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học” (Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Bộ Tài chính, UNDP, 2012); Kỷ yếu hội thảo “Đổi mới cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập” (Bộ Tài chính, 2015); Kỷ yếu hội thảo “Giải pháp đẩy mạnh thực hiện Cơ chế tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Tài chính” (Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Trường Đại học Tài chính - Kế toán, 2016); Kỷ yếu hội thảo “Lộ trình chuyển đổi cơ chế từ phí, lệ phí sang giá trong bối cảnh kinh tế thị trường và đẩy mạnh xã hội hóa cung cấp dịch vụ công” (Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Trường Đại học Tài chính - Marketing, 2016); Kỷ yếu hội thảo “Cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh: Thực trạng và khuyến nghị” (Học viện Tài chính, Ủy ban
Trang 31nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2016); Kỷ yếu hội thảo “Cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Bắc Giang” (Học viện Tài chính, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, 2017); loạt bài viết đăng trên Tạp chí Tài chính về (i) quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập, kỳ 1 - tháng 12/2016 (646); (ii) tài chính đối với giáo dục đại học, kỳ 1 - tháng 5/2017 (656);…
Tóm lại, hệ thống các công trình/đề tài, luận án khoa học đã nghiên cứu và
công bố; sách, giáo trình chuyên khảo; hệ thống các bài nghiên cứu chuyên sâu đăng tải trên báo, tạp chí, hội thảo khoa học… có liên quan về cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính và quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập là rất đa dạng và phong phú, với nhiều quan điểm, hướng tiếp cận, đánh giá khác nhau Đây đều là những nguồn tư liệu có giá trị tham khảo hữu ích đối với đề tài luận án của nghiên cứu sinh Thông qua đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu này, những giá trị/kết quả nghiên cứu được nghiên cứu sinh kế thừa, và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh chưa được đề cập đến hoặc giải quyết, đó là:
Thứ nhất, những giá trị/kết quả nghiên cứu được kế thừa
Một là, hệ thống cơ sở lý luận khá toàn diện, sâu sắc về giáo dục đại học
công lập và cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập trong các công trình nghiên cứu đã công bố nêu trên, được nghiên cứu sinh kế thừa, phân tích và phát triển thêm nhằm làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính các trường đại học công lập từ giác độ cơ quan chủ quản và các trường đại học công lập trực thuộc
Hai là, thực trạng cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính đối với
các trường đại học công lập được các công trình nghiên cứu trước đây tổng kết, đánh giá gắn với các giai đoạn thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP [45], Nghị định số 43/2006/NĐ-CP [39] và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP [37], đã giúp cho nghiên cứu sinh: (i) có được những nhận thức tổng quan về thực trạng vận hành cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập trong nước thời gian qua, nhất là trong giai đoạn 2013-2018; (ii) lựa chọn được phương pháp tiếp cận, tổng hợp, phân tích dữ liệu và xây dựng hệ thống các chỉ
Trang 32tiêu, chỉ số thống kê nhằm đánh giá, minh chứng rõ nét về thực trạng quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính
Ba là, kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố nêu trên là
cơ sở để nghiên cứu sinh tham khảo, đề xuất một số giải pháp quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính trong giai đoạn tới
Thứ hai, những vấn đề liên quan đến đề tài luận án chưa được đề cập đến
hoặc giải quyết
Một là, các công trình nghiên cứu đã công bố trước đây chủ yếu tiếp cận
nghiên cứu về quản lý tài chính các trường đại học công lập từ giác độ quản lý vĩ
mô của nhà nước, hoặc từ giác độ quản trị nội bộ của các trường đại học công lập,
mà chưa có công trình nào tiếp cận nghiên cứu một cách hệ thống về quản lý tài chính các trường đại học công lập từ giác độ/trong mối quan hệ tác động qua lại giữa cơ quan chủ quản và các trường đại học công lập trực thuộc, để thấy rõ nét hơn thực trạng vận hành/áp dụng cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Hai là, quản lý tài chính các trường đại học công lập phải thực hiện nhiều nội
dung quản lý, và đã được các công trình nghiên cứu trước đây đề cập đến theo những quan điểm, hướng tiếp cận, mục tiêu nghiên cứu khác nhau, nhưng chưa có công trình nào nêu vấn đề nghiên cứu về tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý tài chính - với vai trò là một nội dung của quản lý, một “kênh dẫn động” nhằm bảo đảm vận hành có hiệu quả cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập trong thực tiễn
Ba là, đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý tài chính các cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Tài chính, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính, góp phần tăng cường công tác quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính nói riêng, các trường đại học công lập ở Việt Nam nói chung trong thời gian tới
Trang 33Chính vì vậy, việc đặt vấn đề nghiên cứu đề tài “Quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính” mà nghiên cứu sinh đã lựa chọn thực hiện
là cần thiết, và không trùng lặp với các đề tài đã nghiên cứu trước đây
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Về lý luận, đề tài luận án đã hệ thống hóa, phân tích và phát triển thêm nhằm
làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về: giáo dục đại học, giáo dục đại học công lập, và quản lý tài chính, quản lý tài chính các trường đại học công lập; vai trò,
vị trí (hay hệ thống các quyền - lợi ích) của các chủ thể tham gia quản lý tài chính các trường đại học công lập; kinh nghiệm của một số nước về quản lý tài chính các trường đại học công lập và bài học cho Việt Nam; thực tiễn trong nước và bài học cho Bộ Tài chính
Về thực tiễn, đề tài luận án đã đi sâu phân tích, đánh giá rõ nét thực trạng
quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính trong giai đoạn 2013-2018 từ giác độ cơ quan chủ quản và các trường đại học công lập trực thuộc (là các chủ thể tham gia vận hành cơ chế) Thông qua đó, đề tài đã dẫn chứng
và chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế trong quá trình quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính, và nguyên nhân của những hạn chế này Đây là những luận cứ quan trọng để tác giả đề xuất hệ thống các quan điểm, nguyên tắc và một số giải pháp quản lý tài chính các trường đại học công lập, góp phần tăng cường công tác quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính nói riêng, và các trường đại học công lập ở Việt Nam nói chung trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài luận án gồm 03 chương:
Chương 1 Lý luận chung về quản lý tài chính các trường đại học công lập Chương 2 Thực trạng quản lý tài chính các trường đại học công lập trực
thuộc Bộ Tài chính
Chương 3 Giải pháp quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc
Bộ Tài chính
Trang 34Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
1.1 TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
1.1.1 Giáo dục đại học và vai trò của giáo dục đại học với phát triển bền vững
1.1.1.1 Giáo dục đại học
Trong xu thế phát triển giáo dục hiện nay, giáo dục luôn luôn có xu thế
“mở”, không chỉ trong phạm vi quốc gia, dân tộc mà cả ở phạm vi quốc tế “Giáo dục không đơn thuần là sự phản ánh các lực lượng kinh tế và xã hội đang hoạt động trong một xã hội Nó còn là một phương tiện quan trọng để đào tạo nên các lực lượng kinh tế - xã hội và văn hóa, khoa học, kỹ thuật, quyết định chiều hướng phát triển của các lực lượng này Đến lượt mình, động lực của chúng lại tác động trở lại đối với giáo dục” (Raja Roy Singh) Như vậy giáo dục vừa có vai trò thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội, vừa chịu sự quy định của trình độ phát triển chung của nền kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Cũng chính bởi việc thực hiện những chức năng của giáo dục ngày càng có hiệu quả, nên vị trí của giáo dục ngày càng được ý thức sâu sắc hơn, thống nhất hơn Những nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc đã chỉ ra rằng, trong sự phát huy và phát triển nguồn lực con người có 05 nguồn phát năng, đó là: (1) giáo dục; (2) sức khoẻ và dinh dưỡng; (3) môi trường; (4) việc làm; và (5) tự do chính trị - kinh doanh, trong đó giáo dục được coi là nhân tố cơ bản đối với các nhân tố phát năng còn lại Chính vì vậy, khi thiết kế kế hoạch để thúc đẩy, tạo “gia tốc” cho sự phát triển thì hầu như các quốc gia đều nhấn mạnh đến chính sách giáo dục Đó là sự thể hiện một cuộc cách mạng về vị trí giáo dục
Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt/các quá trình xã hội, và tạo ra sự phát triển cho xã hội, hay nói một cách khác trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc
Trang 35điểm phát triển của xã hội Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đang không ngừng cải cách, đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế phát triển mới mẻ, năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những nguồn lực mới để phát triển nhanh, bền vững hơn
Giáo dục đại học là một bộ phận của giáo dục, có vai trò quan trọng trong việc đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, Luật Giáo dục
số 38/2005/QH11, Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13, và Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đều chưa đưa ra khái niệm (giải thích từ ngữ) cụ thể nào về “giáo dục đại học” Do vậy, để có những nhận thức cơ bản nhất về giáo dục đại học, thì việc mô tả khái quát hệ thống giáo dục quốc dân, và mục tiêu của giáo dục đại học theo quy định của Luật là một giải pháp phù hợp
Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 quy định: Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Các cấp học và trình độ đào tạo của
hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; d) Giáo dục đại học và sau đại học (gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ Trong đó, với mục tiêu “đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, giáo dục đại học bao gồm: (1) Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; (2) Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối
Trang 36với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành; (3) Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học; (4) Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Theo Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH12 và Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, các trình độ đào tạo của giáo dục đại học được thực hiện theo hai hình thức là: giáo dục chính quy (hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung toàn bộ thời gian tại cơ sở giáo dục đại học để thực hiện chương trình đào tạo một trình độ của giáo dục đại học), và giáo dục thường xuyên (gồm vừa làm vừa học và đào tạo từ xa, là hình thức đào tạo theo các lớp học, khóa học tại cơ sở giáo dục đại học hoặc cơ sở liên kết đào tạo, phù hợp với yêu cầu của người học để thực hiện chương trình đào tạo ở trình độ cao đẳng, đại học) Cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học
và công nghệ, phục vụ cộng đồng Cơ sở giáo dục đại học bao gồm: (i) trường đại học, học viện (được gọi chung là trường đại học) là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật; (ii) đại học là
cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật; các đơn vị cấu thành đại học cùng thống nhất thực hiện mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung
Như vậy, có thể hiểu giáo dục đại học là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông, và là giai đoạn giáo dục không bắt buộc với các trình độ đào tạo gồm: trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ Điều khác căn bản giữa giáo dục phổ thông và giáo dục đại học là ở chỗ: giáo dục phổ thông truyền dạy những kiến thức đã ổn định, trang bị nền tri thức và rèn luyện những phẩm chất cơ bản cho công dân, còn giáo dục đại học lại chủ yếu đào tạo nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo, và ngay trong quá trình học tập đã tham gia sáng tạo tri thức mới Ở các nước tiên tiến, những phát minh và giải thưởng khoa
Trang 37học quốc tế lớn đều từ các trường đại học là do đặc điểm này của đại học Xét về mặt lịch sử, nền giáo dục đại học đã xuất hiện ở nước ta cách đây trên cả nghìn năm Cho đến nay, lịch sử giáo dục đại học Việt Nam đã trải qua các nền giáo dục khác nhau: phong kiến, thuộc địa và chủ nghĩa thực dân mới (ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975) Sự nghiệp giáo dục đại học từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trải qua hơn 70 năm, và đạt được những thành tựu to lớn, trong đó quan trọng nhất là đã góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam - nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Với những hiểu biết như trên về giáo dục đại học và trong nền kinh tế thị trường, có thể thấy giáo dục đại học vừa là một quá trình, vừa là một hành động Là một hành động, giáo dục đại học được thực hiện dưới hình thức cung cấp sức lao động của người dạy (các giáo sư, giảng viên) cho người học (các sinh viên, học viên), và người học mua lao động của người dạy bằng phí, học phí hoặc đóng thuế
để nhà nước trả lương, trả công cho các giáo sư, giảng viên Là một quá trình và dưới góc độ phân công lao động xã hội trong nền sản xuất hàng hóa, loại lao động giảng dạy của các giáo sư, giảng viên không sản xuất ra tư bản mà theo K Marx đó
là loại lao động phi sản xuất và khi trao đổi, nó được mua - bán như một hàng hóa (sản phẩm, dịch vụ) thông thường K Marx viết “Trong trường hợp tiền trực tiếp được trao đổi lấy loại lao động sản xuất không sản xuất ra tư bản, do đó là lao động phi sản xuất thì lao động ấy được mua như là một dịch vụ Biểu hiện ấy nói chung chẳng qua là giá trị sử dụng đặc biệt mà lao động ấy cung cấp, giống như mọi hàng hóa khác” [95, tr.98] Như vậy, dịch vụ giáo dục đại học là một loại hàng hóa với những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, là sản phẩm của lao động, nên giống như các loại hàng hóa khác,
dịch vụ giáo dục đại học cũng có hai thuộc tính: giá trị (mà biểu hiện ra bên ngoài là giá trị trao đổi hay đơn giản là học phí, giá dịch vụ giáo dục đại học), và giá trị sử dụng Dịch vụ giáo dục đại học là hàng hóa có giá trị sử dụng đối với người học, vì
nó được cung cấp để thỏa mãn nhu cầu, lợi ích cơ bản nào đó của người học, như: nhu cầu về cuộc sống tinh thần, nhu cầu về đời sống vật chất, nhu cầu về địa vị xã
Trang 38hội , và theo UNESCO thì nhu cầu, lợi ích đó là “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Dịch vụ giáo dục đại học là hàng hóa có giá trị trao đổi đối với người dạy (các giáo sư, giảng viên), bởi lẽ để tham gia sáng tạo, cung cấp và truyền thụ, phổ biến tri thức mới giúp người học thỏa mãn nhu cầu, lợi ích nào đó của bản thân, các giáo sư, giảng viên đều phải hao phí lao động (tiêu hao lao động sống, lao động vật hóa), và việc thu hồi chi phí để cung cấp dịch vụ, đảm bảo tái sản xuất là tất yếu khách quan, thể hiện sự vận động của giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường (các quan hệ trao đổi tạo ra nhu cầu thỏa dụng đối với người học và nhu cầu cạnh tranh đối với người cung cấp dịch vụ) Giáo dục đại học là một sản phẩm của lao động, nhưng lao động tạo ra sản phẩm giáo dục đại học
là lao động phi sản xuất (không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất), và vì vậy giáo dục đại học không trực tiếp tạo ra các sản phẩm vật chất Giáo dục đại học vừa mang nội dung kinh tế như những hàng hóa khác, vừa có nội dung của quan hệ sản xuất xã hội
Thứ hai, dịch vụ giáo dục đại học cũng giống như các loại dịch vụ khác
mang tính vô hình/không hiện hữu (không thể thấy trước khi tiêu dùng như những sản phẩm vật chất), tính đồng thời (việc cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời), tính không thể tách rời (việc cung cấp dịch vụ giảng dạy/kết quả lao động không thể tách rời khỏi các giáo sư, giảng viên/người cung cấp dịch vụ), tính không đồng nhất (chất lượng giảng dạy của các giáo sư, giảng viên là không thể tiêu chuẩn hóa và không đồng nhất), không lưu trữ được và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả
Thứ ba, mặc dù dịch vụ giáo dục đại học có đầy đủ các tính chất kinh tế như
các loại hàng hóa khác, nhưng nó không thích hợp để kinh doanh/mua - bán (giáo dục đại học không phải là một loại hàng hóa đơn thuần, mà là loại hàng hóa đặc biệt), bởi vì theo K Marx “Những dịch vụ, nói cách khác, những giá trị sử dụng thuộc loại nào đó - kết quả của những hình thức hoạt động lao động nào đó - được thể hiện trong các hàng hóa, còn những dịch vụ thì khác, ngược lại không để lại kết quả rõ rệt, tách rời khỏi bản thân người thực hiện; nói cách khác, kết quả của chúng không thích hợp với việc bán hàng hóa” [95, tr.97] Các giáo sư, giảng viên (người
Trang 39cung cấp dịch vụ giáo dục) có nhu cầu thu hồi chi phí, song không phải là những người kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, và người học cũng không phải là người mua dịch vụ giáo dục đơn thuần Người học là khách hàng, đối tượng phục vụ của các cơ sở giáo dục, và họ có quyền đòi hỏi nhận được chất lượng giáo dục tốt hơn khi chấp nhận nộp học phí hay trả giá dịch vụ cao hơn, song người học không thể đòi hỏi nội dung và cách thức cung cấp dịch vụ hoàn toàn theo ý mình bất chấp đạo
lý, thuần phong, mỹ tục Trong giáo dục, không chấp nhận đòi hỏi người thầy phải cho điểm cao vì học trò trả học phí cao Đây không chỉ là đặc điểm có tính truyền thống trong nền giáo dục cổ điển, mà tiếp tục được chấp nhận như một đặc điểm của nền giáo dục hiện đại ở cả những nước mà giáo dục được cung cấp chủ yếu bởi nhà nước (như: Đức, Pháp…), và ở các nước mà mức độ tư nhân hóa trong giáo dục cao (như: Anh, Mỹ…) Hơn nữa, giáo dục đại học là nhằm đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội (những chủ nhân tương lai của đất nước), nên dưới giác độ quản lý, hầu hết mọi nhà nước đều chống xu thế thương mại hóa giáo dục, bởi nếu thương mại hóa giáo dục có thể dẫn đến nguy cơ suy giảm nguồn nhân lực của một quốc gia trong tương lai
Thứ tư, dịch vụ giáo dục đại học là hàng hóa công cộng không thuần túy, bởi
vì nó vừa có tính chất của hàng hóa công cộng thuần túy, vừa có tính chất của hàng hóa cá nhân thuần túy Hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích mà hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó [130, tr.103] Hàng hóa công cộng có hai thuộc tính cơ bản là: (1) không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, và (2) không có tính loại trừ trong tiêu dùng Đây là cơ sở để phân loại hàng hóa công cộng thuần túy, hàng hóa cá nhân thuần túy và hàng hóa công cộng không thuần túy Hàng hóa nào mang đầy đủ hai thuộc tính nêu trên là hàng hóa công cộng thuần túy, và khi đã được cung cấp cho một cá nhân, thì lập tức nó có thể được tiêu dùng bởi tất cả các cá nhân khác trong cộng đồng Ngược lại, hàng hóa cá nhân thuần túy
là những hàng hóa mà sau khi đã để người sản xuất nhận lại được đầy đủ chi phí cơ hội sản xuất của mình, thì nó chỉ tạo ra lợi ích cho người nào đã mua nó mà không cho bất kỳ ai khác (hàng hóa cá nhân thuần túy vừa có tính cạnh tranh trong tiêu
Trang 40dùng, vừa dễ loại trừ tất cả những ai không sẵn sàng thanh toán theo mức giá thị trường) Hàng hóa công cộng không thuần túy là hàng hóa công cộng chỉ có một trong hai thuộc tính nêu trên, và có ở mức độ khác nhau - đây là trường hợp trung gian, nằm giữa hai thái cực hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa cá nhân thuần túy Dịch vụ giáo dục đại học (i) vừa có tính chất của hàng hóa cá nhân thuần túy, bởi nó đòi hỏi người sử dụng dịch vụ/người học phải trả tiền sử dụng để bù đắp chi phí, đảm bảo tái sản xuất (tính loại trừ trong tiêu dùng), và việc một người dành được một chỗ học trong trường đại học đương nhiên sẽ loại trừ, ảnh hưởng đến việc
sử dụng dịch vụ giáo dục đại học của người khác (tính cạnh tranh trong tiêu dùng); (ii) vừa có tính chất của hàng hóa công cộng thuần túy, do giáo dục đại học ngoài việc mang lại lợi ích cho người học, còn tạo ra những ngoại ứng tích cực đối với xã hội, nên Chính phủ các nước ở những mức độ khác nhau đều có sự can thiệp, điều tiết nhất định để hạn chế tính loại trừ trong tiêu dùng dịch vụ giáo dục đại học (thông qua các nhóm công cụ chính sách và quy định pháp lý, chính sách tạo cơ chế thúc đẩy thị trường giáo dục, chính sách điều tiết bằng thuế và trợ cấp, hay sử dụng khu vực kinh tế nhà nước/các đơn vị sự nghiệp công lập tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục đại học…), nhằm phân bổ nguồn lực xã hội một cách tối ưu nhất Và dưới góc độ quản lý nhà nước, thì dịch vụ giáo dục đại học được xem là một loại hàng hóa khuyến dụng
Thứ năm, dịch vụ giáo dục đại học có thị trường, khách hàng riêng, và trong
nền kinh tế thị trường, dịch vụ giáo dục là một loại hàng hóa, nên tác động/ảnh hưởng của các yếu tố/mối quan hệ thị trường đến dịch vụ giáo dục đại học là tất yếu khách quan Thị trường giáo dục đại học là nơi diễn ra quan hệ cung - cầu về dịch
vụ giáo dục đại học Thực chất đó là mối quan hệ giữa những kiến thức, kỹ năng mà người học tích lũy được trong trường học với nhu cầu của thị trường lao động, là sự gắn kết giữa đào tạo và sử dụng nhân lực trong thị trường sức lao động Khách hàng của các trường đại học rất đa dạng, nhưng đều có cùng mục đích khi tiêu dùng dịch
vụ giáo dục đại học đó là lợi ích (lợi ích cá nhân đối với người học và doanh nghiệp
- người sử dụng lao động; lợi ích xã hội đối với nhà nước)