1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiếm soát nội bộ tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

107 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, bao gồm phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, tiếp cận thu thập thông tin, phương pháp tổng hợp, phân tích, đối chiếu với th

Trang 1

* * *

NGUYỄN THỊ SƯƠNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIẾM SOÁT NỘI BỘ

TẠI CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đồng Nai – Năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

* * *

NGUYỄN THỊ SƯƠNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIẾM SOÁT NỘI BỘ

TẠI CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Trang 3

Lời đầu tiên tôi muốn cảm ơn ban giám hiệu, lãnh đạo quý thầy cô khoa sau đại học Trường Đại học Lạc Hồng và đặc biệt là PGS.TS Trần Văn Tùng người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới toàn thể lãnh đạo các Trường Trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Biên Hòa đã cung cấp số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù, tôi đã cố gắng rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn Nhưng do hạn chế về mặt thời gian cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu nên đề tài luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn nữa

Đồng Nai, ngày 10 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Sương

Trang 4

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiếm soát nội bộ tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” là công trình nghiên cứu thật sự nghiêm túc của tôi dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Tùng Những kết quả nêu ra trong nghiên cứu này do tôi tự nghiên cứu thực hiện Các số liệu trong luận văn nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, được thu thập từ những nguồn gốc đáng tin cậy

Đồng Nai, ngày 10 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Sương

Trang 5

Biên Hòa là thành phố công nghiệp của tỉnh Đồng Nai, nằm ở khu vực Đông Nam Bộ, Việt Nam Thành phố Biên Hòa là đô thị loại I, là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Biên Hòa là thành phố trực thuộc tỉnh

có dân số đông nhất cả nước

Do vị trí gần thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm giáo dục của cả nước và thêm nữa là trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục của tỉnh Đồng Nai nên thành phố Biên Hòa có rất nhiều trường Trung học cơ sở nổi bật, chất lượng cao

và phân bố rất nhiều khu vực trong thành phố, do nhu cầu dân số quá tải tăng đột biến nên những năm gần đây có một số trường phải học ca 3, đây là vấn đề nan giải của ngành giáo dục và đào tạo thành phố Biên Hòa Dân số như hiện nay đang là thách thức không chỉ của ngành giáo dục mà còn là vấn đề cho các ban ngành và Ủy ban nhân dân thành phố

Thực hiện chủ trương đa dạng hóa trường lớp, cấp trung học cơ sở hiện có 37 trường tại Thành phố Biên Hòa Số học sinh tốt nghiệp THCS là 9.438/9.601 em, tỉ

lệ 98,30%

Một thực trạng khá phổ biến hiện nay là việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ tại các trường THCS hiện nay chưa được quan tâm đúng mức Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ giúp hệ thống trường học đạt được hiệu quả trong các hoạt động Do đó, để hệ thống KSNB phù hợp với điều kiện hiện nay của các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa là một yêu cầu thiết yếu

Nhận thấy tầm quan trọng và bức thiết của vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiếm soát nội bộ tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kế toán

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, bao gồm phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, tiếp cận thu thập thông tin, phương pháp tổng hợp, phân tích, đối chiếu với thực tế và chứng minh được có 5 nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ cao đến thấp, đó là Hoạt động kiểm soát; Môi trường kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Hoạt động giám sát và Đánh giá rủi ro, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Trang 6

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 3

7 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5

1.2 Các nghiên cứu trong nước 7

1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu 9

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 11

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12

2.1.Tổng quan về kiểm soát nội bộ 12

2.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ 12

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ 13 2.2 Kiểm soát nội bộ trong khu vực công 14

Trang 7

2.2.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ trong khu vực công 16

2.2.3 Tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ trong khu vực công 18

2.2.4 Các nhân tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 2013 19

2.2.4.1 Môi trường kiểm soát 19

2.2.4.2 Đánh giá rủi ro 22

2.2.4.3 Hoạt động kiểm soát 23

2.2.4.4 Thông tin và truyền thông 27

2.2.4.5 Giám sát 28

2.3 Hoạt động kiểm soát nội bộ của các trường THCS 28

2.3.1 Đơn vị sự nghiệp giáo dục 28

2.3.2 Khái niệm các trường THCS 29

2.3.3 Hoạt động kiểm soát nội bộ của trường THCS 29

2.3.3.1 Kiểm tra nội bộ trường học 29

2.3.3.2 Giám sát trong giáo dục: 30

2.3.3.3 Đánh giá trong giáo dục 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thiết kế quy trình nghiên cứu 32

3.2 Nội dung thực hiện nghiên cứu định tính 33

3.2.1 Phương thức thực hiện 33

3.2.2 Kết quả đạt được 36

3.3 Nội dung thực hiện nghiên cứu định lượng 38

3.3.1.Thiết kế mẫu và thu thập dữ liệu 38

3.3.2 Phân tích dữ liệu 39

3.4 Mô hình nghiên cứu chính thức và các giả thuyết nghiên cứu 43

3.4.1 Mô hình nghiên cứu chính thức 43

3.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu 43

3.4.2.1 Môi trường kiểm soát 44

Trang 8

3.4.2.3 Hoạt động kiểm soát 45

3.4.2.4 Thông tin và truyền thông 45

3.4.2.5 Giám sát 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 48

4.1 Kết quả thống kê mô tả 48

4.1.1 Thống kê mô tả các biến định tính 48

4.1.2 Thống kê mô tả các biến định lượng 49

4.2 Kết quả kiểm định mô hình 52

4.2.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo - Cronbach’s Alpha 52

4.2.1.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo của các biến độc lập 53

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 56

4.2.2.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc 57

4.2.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến độc lập 57

4.2.3 Tương quan Pearson 60

4.2.4 Kiểm định hồi quy mô hình tuyến tính đa biến 61

4.2.5 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến tính đa biến 62

4.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 67

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Một số kiến nghị 71

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 73

KẾT LUẬN 74 PHỤ LỤC

Trang 9

AICPA: American Institule of Certified Public Accountants

BCTC: Báo cáo tài chính

BGH: Ban giám hiệu

COSO : Committee of Sponsoring Organization

CSVC: Cơ sở vật chất

EFA: Exploratory Factor Analysis

FEI: Financial Executive Institute

GAO: Chuẩn mực về kiểm toán của tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ GV: Giáo viên

HTKSNB: Hệ thống kiểm soát nội bộ

INTOSAI: Các tổ chức quốc tế của các tổ chức kiểm toán tối cao

KSNB : Kiểm soát nội bộ

KTNB: Kiểm tra nội bộ

KMO: Kaiser – Meyer – Olkin measure of sampling adequacy NV: Nhân viên

Trang 10

Bảng 3.1: Các biến được sử dụng cho nghiên cứu sơ bộ 34

Bảng 3.2 Thang đo các yếu tố trong mô hình nghiên cứu chính thức 37

Bảng 4.1: Tỷ lệ thời gian làm ở trường học 49

Bảng 4.2: Tỷ lệ về chức vụ 49

Bảng 4.3: Bảng thống kê các biến quan sát 49

Bảng 4.4: Cronbach’s Alpha của nhân tố môi trường kiểm soát (MTKS) 53

Bảng 4.5: Cronbach’s Alpha của thang đo nhân tố đánh giá rủi ro (DGRR) 53

Bảng 4.6: Cronbach’s Alpha của thang đo nhân tố Hoạt động kiểm soát (HDKS) 54

Bảng 4.7: Cronbach’s Alpha của thang đo nhân tố Thông tin truyền thông (TTTT) 54

Bảng 4.8: Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố Giám sát (HDGS) 55

Bảng 4.9: Cronbach’s Alpha của thang đo Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB (KSNB) 56

Bảng 4.10: Hệ số KMO và kiểm định Barlett 57

Bảng 4.11: Phương sai trích biến phụ thuộc 57

Bảng 4.12: Hệ số KMO và kiểm định Barlett 58

Bảng 4.13: Bảng phương sai trích của biến độc lập 58

Bảng 4.14: Kết quả phân tích nhân tố EFA Rotated Component Matrixa 59

Bảng 4.15: Tương quan các biến trong mô hình Correlations 60

Bảng 4.16: Thông số thống kê trong mô hình hồi qui bằng phương pháp Enter 61

Bảng 4.17: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến tính đa biến 62

Bảng 5.1 Mức độ tác động của các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc trong mô hình 70

Trang 11

Hình 2.1: Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB khu vực công 17

Hình 2.2: Các yếu tố cấu thành Môi trường kiểm soát 22

Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 32

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu chính thức 43

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, cùng với quá trình hội nhập của nền kinh tế, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp ngày càng phong phú và đa dạng, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, để hoạt động của các đơn vị sự nghiệp này thực sự vận hành theo cơ chế thị trường thì phải có phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý phù hợp Phát triển Giáo Dục và Đào Tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Theo đó, các trường THCS đóng vai trò không nhỏ cho sự phát triển này

Ở Việt Nam, KSNB đã được nghiên cứu, ứng dụng trong thực tiễn ở các đơn

vị trong thời gian dài, tuy nhiên phần lớn còn tồn tại nhiều yếu kém, chưa phát huy hết vai trò của nó Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm về việc xây dựng, hoàn thiện

và triển khai hoạt động KSNB của các nước trên thế giới để vận dụng là điều cần thiết đối với Việt Nam hiện nay, qua đó hoàn thiện hệ thống KSNB của mình để phục vụ tốt hơn trong công tác quản lý

Trong quá trình học tập và làm việc, tôi nhận thấy rằng nếu các đơn vị xây dựng được hệ thống KSNB tốt thì có thể ngăn ngừa hoặc hạn chế được những rủi ro

có thể xảy ra trong quá trình hoạt động, cũng như giúp nhà quản lý có thể ngăn ngừa

và phát hiện những sai phạm, yếu kém, giảm thiểu tổn thất, nâng cao hiệu quả hoạt động giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao Hệ thống KSNB là một công cụ quản lý hữu hiệu để kiểm soát và điều hành hoạt động của đơn vị nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất

Mặt khác, trong những năm gần đây do Thành phố Biên Hòa phát triển nhanh, dân số tăng đột biến, thành phố Biên Hòa có rất nhiều trường THCS mới đưa vào hoạt động, việc kiểm soát các hoạt động cũng khó khăn và ngày càng phức tạp trong bối cảnh đòi hỏi các trường phải nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo với điều kiện nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế và việc gặp phải sai sót hoặc rủi ro trong hoạt động của các trường là không thể tránh khỏi Do vậy, để hạn chế, ngăn ngừa rủi ro và sai sót thì các trường cần phải có các quy trình kiểm soát nội bộ phát huy được tính hữu hiệu của mình Theo đó, căn cứ vào hướng dẫn của INTOSAI 2013 về vệc triển khai

Trang 13

vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ của các đơn vị trong khu vực công đạt được sự hữu hiệu thì cần quan tâm nâng cao hiệu quả hoạt động của các yếu tố cấu thành nên

hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, bao gồm Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát

Mặt khác, các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

là các đơn vị hoạt động theo quy định là các đơn vị sự nghiệp công lập, do vậy để nâng cao tính hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ của các trường THCS trên địa bàn

thành phố Biên Hòa, tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài: "Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiếm soát nội bộ tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai" làm Luận văn thạc sĩ cho mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định các nhân tố ảnh

hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai?

Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai như thế nào?

4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống KSNB và các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các đơn vị sự nghiệp, cụ thể tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Phạm vi nghiên cứu:

Trang 14

+ Phạm vi không gian: Các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên

Hòa, tỉnh Đồng Nai

+ Phạm vi thời gian: 09 tháng (từ tháng 02 đến tháng 10 năm 2018)

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính

và định lượng, bao gồm phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, tiếp cận thu thập thông tin, phương pháp tổng hợp, phân tích, đối chiếu với thực tế, kiểm định mô hình nghiên cứu nhằm chứng minh làm rõ vấn đề

Phương pháp định tính:

- Khảo sát sơ bộ, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để nhận diện các yếu tố của hệ thống KSNB trong khu vực công (Chương 1 và Chương 2), từ đó làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Chương 3) Từ đó xây dựng dàn bài thảo luận nhằm xin ý kiến các chuyên gia nhằm đề xuất

mô hình nghiên cứu chính thức với các biến và thang đo phù hợp với điều kiện hiện tại của các trường (Chương 3) Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của mô hình đã được kiểm định, tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp, nội suy nhằm đề xuất các hàm

ý quản trị để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Chương 5)

Nghiên cứu định lượng:

- Khảo sát các công chức, viên chức tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Thông qua bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên thang

đo 5 likert nhằm thu thập số liệu và bằng việc sử dụng mô hình nhân tố khám phá để kiểm định mức độ quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thông qua phần mềm SPSS 22.0 (Chương 4)

6 Đóng góp của đề tài nghiên cứu

- Về khái cạnh thực tiễn: Trên cơ sở kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu về

các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách phù hợp để nâng cao tính hữu hiệu hệ thống KSNB cho các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Ngoài ra, đề tài nghiên cứu

Trang 15

còn là tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức có quan tâm trong cùng lĩnh vực nghiên cứu và hoạt động

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của đề tài này dự kiến gồm phần mở đầu và 5 chương, các chương này

có mối quan hệ logic để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, các chương bao gồm:

Phần mở đầu: Trình bày lý do hình thành đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi

nghiên cứu; đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa khoa học của đề tài và kết cấu của đề tài nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu Trình bày các nghiên cứu nước ngoài

và các nghiên cứu trong nước có liên quan đến luận văn Qua đó xác định được hướng nghiên cứu của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày cơ sở lý thuyết về hệ thống KSNB trong

khu vực công, các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu để

kiểm định mô hình, lý thuyết cùng các giả thuyết nghiên cứu đề ra của đề tài

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Mô tả, phân tích, thống kê dữ

liệu khảo sát; kiểm định mô hình nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày kết luận dựa trên kết quả nghiên

cứu Chương 4, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

[1] Amudo và Inanga (2009) cho rằng có 6 nhân tố tác động đến sự hữu hiệu của HTKSNB bao gồm: (1) Môi trường kiểm soát, (2) Đánh giá rủi ro, (3) hệ thống thông tin truyền thông, (4) các hoạt động kiểm soát, (5) Giám sát, (6) công nghệ thông tin Karagiogos, Drogalas, Dimou (2011) đã nghiên cứu sự tương tác giữa các thành phần của KSNB và hiệu quả của kiểm toán nội bộ Nghiên cứu cho thấy 05 thành phần của KSNB bao gồm (1) Môi trường kiểm soát, (2) Đánh giá rủi ro, (3) hệ thống thông tin truyền thông, (4) các hoạt động kiểm soát, (5) Giám sát tác động tích cực đến hiệu quả kiểm soát và chất lượng cung cấp thông tin kế toán tài chính, quản trị của doanh nghiệp

[2] Nghiên cứu của Gerrit Sarens và cộng sự (2010) với đề tài “Risk Management and Internal Control in the Public Sector: An In-Depth Analysis of Belgian Social Security Public Institutions” đã tiến hành khào sát và nghiên cứu trong

15 tổ chức an sinh xã hội công cộng với 4.289 nhân viên về hệ thống KSNB trong khu vực Công Kết quả cho thấy: kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng thực hành KSNB được liên kết chặt chẽ hơn với các khuôn khổ quốc tế, chủ yếu là với các yếu

tố của khung Coso cơ bản (1992) Hơn nữa, mục tiêu chính của KSNB trong các tổ chức an sinh xã hội công cộng Bỉ dường như là để đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy định Điều này khẳng định rằng kiểm soát nội bộ truyền thống là tập trung mạnh

mẽ vào sự phù hợp thay vì hiệu suất đó sẽ là phù hợp hơn với sự mong đợi của các thỏa thuận thực hiện hợp đồng Nói cách khác, thực tế là triết lý truyền thống kiểm soát nội bộ (tập trung mạnh mẽ vào sự phù hợp) là rộng rãi hơn so với triết lý quản

lý rủi ro gần đây (hơn tập trung vào hiệu suất)

[3] Vijayakumar and Nagaraja (2012) với đề tài nghiên cứu “Internal Control Systems: Effectiveness of Internal Audit in Risk Management at Public Sector Enterprises” chỉ ra rằng các đơn vị thuộc khu vực công nên đảm bảo cho sự hiệu quả cho hệ thống KSNB vì đó là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của tổ chức và là một phần thiết yếu để đạt được mục tiêu trong quản lý, từ đó dẫn đến thành công của tổ chức Có một hệ thống KSNB trong một tổ chức là chưa

đủ, vấn đề là phải xây dựng các quy trình để nó thật sự phát hiệu quả trong khi triển khai và thực hiện

Trang 17

[4] Gamage và cộng sự (2014) trong nghiên cứu với tựa đề: “Energy in Africa: Policy, Management and Sustainability” với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng đã xác định rằng có 5 nhân

tố tác động đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB của các đơn vị hoạt động trong khu vực công bao gồm: (1) Môi trường kiểm soát, (2) Đánh giá rủi ro, (3) Hệ thống thông tin và truyền thông, (4) Hoạt động kiểm soát, (5) Giám sát, trong đó nhân tố môi trường kiểm soát có tác động mạnh nhất và nhân tố giám sát có tác động yếu nhất đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của các đơn vị

[5] Afiah N.N & Azwari P.C (2015), với đề tài “The effect of the Implementation of Government internal control system on the Quality of Financial reporting of The local Government and its impact on the Principles of good Governance: A Research in District, city, and Provincial Government in south Sumatera” - Hiệu quả của việc thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Chính phủ về chất lượng báo cáo tài chính của Chính quyền địa phương và những ảnh hưởng của

nó tới các nguyên tắc quản trị tốt: Một nghiên cứu ở chính quyền huyện, thành phố

và tỉnh ở Nam Sumatera Nhóm tác giả nghiên cứu sự ảnh hưởng của KSNB đến chất lượng BCTC và ảnh hưởng của nó đến việc quản lý tốt của khu vực công Nghiên cứu được tiến hành tại 18 tỉnh, quận, thành phố và đối tượng khảo sát là các lãnh đạo của phòng tài chính, quản lý tài sản và phòng thanh tra ở South Sumatra Biến độc lập gồm 05 biến là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát Biến phụ thuộc là chất lượng BCTC Với việc phân tích thông qua bảng khảo sát, kết quả chỉ ra rằng, KSNB có ảnh hưởng tốt hơn đến chất lượng BCTC và chất lượng BCTC tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của đơn vị Do đó, thông qua chất lượng BCTC, KSNB và quản lý tốt trong khu vực công có mối quan hệ tích cực Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là chưa phân tích và đề xuất được giải pháp cụ thể để nâng cao tính hựu hiệu của hệ thống KSNB

[6] Aziz, Said & Alam (2015) với đề tài nghiên cứu “Assessment of the Practices of Internal Control System in the Public Sectors of Malaysia” đã thực hiện một đánh giá về thực hiện KSNB ở khu vực công ở Malaysia, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát việc thực hiện KSNB thông qua đo lường bằng 10 biến được đánh giá bởi những người đang làm việc ở khu vực công Tác giả sử dụng các kiểm định để

Trang 18

đánh giá dữ liệu có đảm bảo có phân phối chuẩn và tiến hành phân tích nhân tố xem xét kết quả các đơn vị có thực hiện hệ thống KSNB hay không thực hiện KSNB Kết quả thu thập được cho thấy phần lớn người làm việc khu vực công đồng ý rằng đang

có thực hiện KSNB ở các đơn vị, có sự ưu tiên trong việc có được sự phê chuẩn của nhà quản lý cấp cao trong việc thiết kế chính sách và các thủ tục hồ sơ hoạt động nội

bộ nhằm cho các giao dịch và báo cáo tuân theo luật lệ, theo quy định Tuy nhiên lại

có ít sự quan tâm đối với vấn đề hiểu biết về vai trò của cá nhân và các hoạt động có liên quan khác, về sự bảo đảm cho từng luật và các quy định được áp dụng, có hướng dẫn, giải thích

[7] Liu, Lin, Wei, Shu (2017) trong nghiên cứu “Employee quality, monitoring environment and internal control” đã điều tra và nghiên cứu về sự tác động của nhân viên KSNB (ICEs) đến chất lượng KSNB Sử dụng dữ liệu khảo sát đặc biệt từ các công ty Trung Quốc được liệt kê, chúng tôi thấy rằng chất lượng đội ngũ nhân viên

có ảnh hưởng tích cực quan trọng về chất lượng KSNB Nghiên cứu tiến hành kiểm tra hiệu quả của giám sát nội bộ và thấy rằng hiệu quả rõ nét hơn cho công ty đã thực hiện nghiêm ngặt, đặc biệt là khi các công ty thực hiện hệ thống quy chế kiểm soát nội bộ Trung Quốc (CSOX), các doanh nghiệp có sở hữu tổ chức cao sẽ đánh giá tầm quan trọng lớn hơn của soát nội bộ Những phát hiện của nghiên cứu cũng đề nghị rằng ICEs đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết kế và thực hiện hệ thống KSNB

1.2 Các nghiên cứu trong nước

[1] Phạm Thị Hoàng (2013), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Tp.HCM”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Luận văn đã khái quát được lý luận kiểm soát nội bộ theo INTOSAI Tác giả nghiên cứu dựa trên phương pháp định tính, thông qua khảo sát, thống kê dữ liệu thực tế tại trường kết hợp với lý thuyết đã đưa ra những nhận xét, đánh giá, giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Bên cạnh đó, luận văn đã thiết lập lại các quy trình KSNB còn nhiều thiếu sót, đồng thời thiết lập các quy trình kiểm soát nội bộ mới phù hợp với yêu cầu quản lý của nhà trường Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là sử dụng INTOSAI 2004 làm cơ sở lý thuyết để giải quyết mục tiêu nghiên cứu do vậy tính cập nhật chưa cao; đồng thời tác giả chỉ sử dụng

Trang 19

phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống để thực hiện đề tài do vậy độ tin cậy của kết quả nghiên cứu không cao

[2] Nguyễn Thị Thu Hậu (2014) “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Đại Học Bạc Liêu" Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.Luận văn đã nêu được cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ ở đơn vị công, đã cập nhật INTOSAI, đưa ra được bài học kinh nghiệm từ các sự kiện có liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong nước ở đơn vị công; tác giả sử dụng phương pháp khảo sát, quan sát kết hợp phỏng vấn để đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Đại học Bạc Liêu với những mặt chưa làm được, tìm ra nguyên nhân tồn tại; từ đó đưa ra được giải pháp đề nghị giải quyết, xây dựng biểu mẫu, tiêu chí

cụ thể để ứng dụng ngay cho nhà trường

[3] Nguyễn Thị Hoàng Anh (2014), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trường Cao đẳng GTVT Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM)” Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả

đã vận dụng lý thuyết về kiểm soát nội bộ theo hướng dẫn của INTOSAI 2004 để tìm hiểu, đánh giá những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Cao đẳng GTVT Tp.HCM từ đó đề ra các biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại trường Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB chung của toàn trường chứ không đi sâu vào nghiên cứu và hoàn thiện một quy trình nhất định tại trường Bên cạnh đó, những giải pháp

mà tác giả đưa ra là dựa trên những đánh giá về thực trạng hoạt động của hệ thống KSNB của nhà trường và quan điểm của một số lãnh đạo khi tác giả thực hiện trao đổi chứ chưa thử nghiệm những giải pháp này vào một số hoạt động quản lý tại nhà trường bởi hạn chế về thời gian và kinh phí thực hiện Phương pháp nghiên cứu của tác giả là phương pháp định tính, sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát thực trạng việc thực hiện KSNB tại trường; sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ; trao đổi với lãnh đạo các phòng ban và Ban giám hiệu để định hướng giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại trường Tồn tại của nghiên cứu này là tác giả chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để giải quyết mục tiêu nghiên cứu do vậy độ tính cậy của kết quả nghiên cứu không cao; đồng thời tác giả

sử dụng INTOSAI 2004 nên tính cập nhật chưa cao

Trang 20

[4] Lê Đoàn Minh Đức, Hà Hữu Phước, Nguyễn Cao Ngọc Thảo (2016) với nghiên cứu “Khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ quan hành chính”, Tạp chí tài chính kỳ I, số tháng 8/2016 Nghiên cứu những hướng dẫn của tổ chức quốc tế các

cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) cho khu vực công Kết quả là các thành phần trong hệ thống KSNB cũng đang tồn tại trong

cơ chế hoạt động tại các cơ quan hành chính nhưng chưa được hệ thống lại, cũng như chưa được ban hành bằng văn bản cụ thể Trên cơ sở đó, bài viết có những đánh giá khái quát và đưa ra những kiến nghị mang tính định hướng góp phần cho công việc tại các cơ quan hành chính có sự phối hợp, hoạt động hiệu quả, hữu hiệu và có kỷ cương; sử dụng hiệu quả và bảo vệ các nguồn lực; góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ nhà nước giao và tuân thủ đúng quy định quản lý tài chính Hạn chế của đề tài là tác giả sử dụng INTOSAI 2004 làm cơ sở lý thuyết để giải quyết mục tiêu nghiên cứu nên tính cập nhật và tính thời sự không cao

[5] Lê Nguyễn Trường An (2017), “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh Để thực hiện đề tài tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện

hệ thống KSNB của trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật TP HCM và xác định có 5 nhân tố bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát đều có tác động, trong đó nhân tố Môi trường kiểm soát có tác động mạnh nhất Hạn chế của đề tài này là tác giả chưa tổng quan các công trình nghiên cứu và chưa xây dựng được các thang đo của biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu

1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu

Sau khi tìm hiểu những công trình nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước liên quan tương đối đến đề tài của luận văn, tác giả có một số nhận xét cơ bản như sau:

Các công trình nghiên cứu trên đã nêu được thực trạng KSNB tại các đơn vị trong khu vực công và thực trạng của hoạt động quản lý trong các đơn vị sự nghiệp, đặc biệt là tại các cơ sở giáo dục Qua các nghiên cứu đã nhận thấy mặt tồn tại trong việc tổ chức và vận hành hệ thống KSNB của đơn vị, từ đó đề ra các giải pháp để

Trang 21

hoàn thiện Tuy nhiên, để thực hiện công trình, hầu hết các tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính do vậy kết quả nghiên cứu có độ tin cậy chưa cao; đồng thời họ chủ yếu sử dụng INTOSAI 2004 trở về trước làm cơ sở lý thuyết để giải quyết mục tiêu nghiên cứu do vậy tính cập nhật và phù hợp còn hạn chế

Tuy có nhiều nghiên cứu về việc hoàn thiện hệ thống KSNB chung tại các trường học nói riêng và tại các đơn vị trong khu vực công nói chung đã được công bố nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể và chi tiết về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nào được thực hiện Vì vậy, tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiếm soát nội bộ tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai”

Trang 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nội dung chính của chương này nhằm đánh giá một cách tổng quan về bức tranh tổng thể các nghiên cứu khác nhau trong nước cũng như ngoài nước có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến những đề tài kiểm soát nội bộ và hoạt động của các trường học mà tác giả nghiên cứu qua để thực hiện luận văn Từ đó giúp tác giả nhận thấy hướng nghiên cứu của luận văn cần nghiên cứu và làm nền tảng thực hiện các bước tiếp theo của luận văn

Việc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu được tác giả trình bày theo hai phần là ngoài nước và trong nước trên cơ sở chọn lọc các công trình tiêu biểu

đã công bố có liên quan đến nội dung của luận văn Qua những công trình nghiên cứu

có liên quan đã trình bày ở trên cho thấy nghiên cứu về các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là cần thiết và đó chính là hướng nghiên cứu của luận văn

Trang 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1.Tổng quan về kiểm soát nội bộ

2.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ

Theo COSO (1992): “ Kiểm soát nộ bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết

kế để cung cấp mọi sự bảo đảm hợp lý trong việt thực hiện các mục tiêu mà hội đồng quản trị mong muốn là: Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động”

Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu KSNB đã dẫn đến hình thành nhiều định nghĩa khác nhau

Điều 39, Luật kế toán Việt Nam năm 2015 nêu rõ: “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”

- Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS 400)

KSNB là các quy định và thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý có hiệu quả tài sản của đơn vị

- Theo quan điểm của Liên đoàn kế toán quốc tế ( IFAC)

“KSNB là một hệ thống gồm các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn

vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý

và đảm bảo hiệu quả của hoạt động” (Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC))

- Theo quan điểm của AICPA

“ Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách” (Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA))

- Theo Ủy Ban Tổ Chức Kiểm Tra (COSO) 1992

KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây:

• Báo cáo tài chính đáng tin cậy

• Các luật lệ và quy định được tuân thủ

Trang 24

• Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.”

- Tài liệu hướng dẫn của INTOSAI (2013)

"Kiểm soát nội bộ là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản

lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức"

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ

Đầu thế kỷ XX, khái niệm KSNB bắt đầu được sử dụng trong các tài liệu về kiểm toán nhưng nó chỉ được nhắc đến như một “công cụ bảo vệ tiền” khỏi sự biển thủ của nhân viên

Năm 1929, trong một công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), thuật ngữ KSNB đã được đề cập chính thức, được định nghĩa là một công cụ bảo vệ tiền và các tài sản khác

Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA – American Institule of Certified Public Accountants) (1936) đã mở rộng khái niệm KSNB:

“KSNB…là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một

tổ chức để bảo vệ tiền và tài sản khác cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép

sổ sách”

Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán

Đến thập niên 1970, KSNB được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế

hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán

Năm 1977, trong Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài và trong các báo cáo của Cohen Commission và FEI (Financial Executive Institute) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC Securities and Exchange Commission) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống KSNB của tổ chức

Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã thành lập một Ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB Từ năm 1980 đến 1985, AICPA đã tiến hành sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểm toán viên độc

Trang 25

lập về KSNB và báo cáo về KSNB Hiệp hội kế toán nội bộ (IIA –Institute of Internal Auditor) cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ về bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá

hệ thống KSNB

Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn Năm 1985, hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (Ủy ban Treadway) được thành lập Hội đồng này đã đưa ra một loạt các vấn đề về KSNB, nhấn mạnh tầm quan trọng của mội trường kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, các Ủy ban kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ Treadway đã lưu ý rằng có nhiều quan điểm

và khái niệm khác nhau liên quan đến KSNB Do vậy, Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ (COSO – Committee of Sponsoring Organization) đã được thành lập vào năm 1985 nhằm nghiên cứu và thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau, cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn nhằm giúp các đơn vị

có thể đánh giá hệ thống KSNB để đưa ra giải pháp hoàn thiện Báo cáo COSO năm

1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB Đặc biệt, trong báo cáo này, KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà còn mở rộng ra cho tất cả các phương diện hoạt động và tuân thủ

Trong lĩnh vực công, kiểm soát nội bộ rất được xem trọng, là một đối tượng được quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về kiểm soát nội bộ áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp Chuẩn mực về kiểm toán của tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 1999 có đề cập đến vấn đề kiểm soát nội bộ đặc thù trong tổ chức hành chính

sự nghiệp GAO đưa ra 5 yếu tố về kiểm soát nội: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin - truyền thông và Giám sát

2.2 Kiểm soát nội bộ trong khu vực công

2.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB ở khu vực công

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Nhà nước do Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI – International Organization of Supreme Audit Institutions) ban hành Tổ chức này được thành lập vào năm 1953 tại Havana, Cuba

Trang 26

Vào năm 1992 tổ chức INTOSAI đưa ra bản hướng dẫn về Kiểm soát nội bộ của INTOSAI từ đó hình thành bộ tài liệu đề cập đến các chuẩn mực KSNB và hướng dẫn, hỗ trợ việc tổ chức thực hiện và đánh giá KSNB

Năm 1999, cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ (GAO – Government accountability Office) ban hành chuẩn mực về Kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang nhằm đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về kiểm soát nội bộ trong các đơn vị thuộc khu vực công

Từ năm 2001, bản Hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tượng, phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB và công bố vào năm 2004 Hướng dẫn về KSNB của INTOSAI là tài liệu tích hợp các lý luận chung về KSNB của Báo cáo COSO Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết thông thường về KSNB, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù về khu vực công

Cho đến tháng 03 năm 2013 thì tổ chức này đã có 191 nước là thành viên và 4 thành viên dự bị Trụ sở chính của tổ chức được đặt tại thành phố Vienna, nước Áo Đây là một cơ quan được lập nên nhằm để trao đổi kinh nghiệm, ý tưởng giữa các Cơ quan kiểm toán tối cao (Supreme Audit Institutions – SAIs) trong việc kiểm toán chính phủ Những cơ quan tham gia vào tổ chức này được thành lập do luật pháp của quốc gia đó để thực thi pháp luật nhằm đảm bảo các chức năng cao nhất của kiểm toán các đơn vị công Tổ chức INTOSAI đã thiết lập nên những uỷ ban, các nhóm làm việc và các đội thực hiện nhiệm vụ nhằm nghiên cứu các vấn đề về chuyên môn đối với các thành viên SAIs và từ đó phát triển các kết quả thành những văn bản chuyên nghiệp của nghề nghiệp kiểm toán, cụ thể là các chuẩn mực hoặc các bản hướng dẫn

Qua quá trình phát triển của INTOSAI, có thể nhận ra rằng vai trò của tổ chức này chính là thúc đẩy sự trao đổi các kiến thức, nhận định và kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán các đơn vị chính phủ giữa các thành viên SAIs với nhau, đồng thời các

ủy ban và nhóm làm việc sẽ đóng vai trò như một diễn đàn nhằm hợp tác về các vấn

đề chuyên môn, từ đó đưa ra những hướng dẫn cần thiết cho từng trường hợp cụ thể Bên cạnh chức năng chính này, INTOSAI còn tham gia phối hợp công tác với Liên đoàn Kế toán Quốc tế trong việc ban hành Chuẩn mực kiểm toán quốc tế Như vậy,

có thể thấy rằng hiện nay, INTOSAI giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống kế toán,

Trang 27

kiểm toán nói riêng và kinh tế vĩ mô trên thế giới nói chung Hệ thống chuẩn mực kiểm toán do INTOSAI ban hành bao gồm các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán

2.2.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Thứ nhất, đối với mục tiêu bảo vệ tài sản của đơn vị: KSNB phải đảm bảo tài sản của đơn vị được an toàn, tài sản có thể bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình, chúng có thể bị đánh cắp, lạm dụng hoặc bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống KSNB thích hợp Điều này cũng có thể xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khác như: số liệu sổ sách hoặc các tài liệu quan trọng liên quan khác

Thứ hai, mục tiêu đối với BCTC: KSNB phải đảm bảo về tính trung thực, tin cậy, bởi vì chính người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập BCTC phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành

Thứ ba, đối với mục tiêu bảo đảm độ tin cậy của các thông tin: KSNB phải đảm bảo thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế toán của đơn vị cung cấp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý Các thông tin này phải đảm bảo tính kịp thời, tính chính xác, tin cậy, phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế

Thứ tư, đối với bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý: Hệ thống KSNB được thiết kế trong đơn vị hành chính công phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan Cụ thể là:

+ Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt động của đơn vị hành chính công;

+ Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai sót và gian lận trong mọi hoạt động của đơn vị;

+ Bảo đảm việc ghi chép thông tin đầy đủ, chính xác và việc lập báo cáo tài chính trung thực, khách quan

Thứ tư, đối với mục tiêu của việc tuân thủ: KSNB trước hết phải bảo đảm quản lý việc chấp hành luật pháp và các quy định Điều này xuất phát từ trách nhiệm của người quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị Bên cạnh đó, KSNB còn phải hướng mọi hành vi trong đơn vị vào việc tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ đơn vị, qua đó bảo đảm đạt được những mục tiêu đơn vị

Trang 28

Thứ năm, đối với mục tiêu bảo đảm hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý:

Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại

không cần thiết của các tác nghiệp gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém

hiệu quả các nguồn lực trong đơn vị hành chính công Định kỳ, các nhà quản lý

thường đánh giá kết quả hoạt động được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống

kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành

Tóm lại, có thể thấy rằng các mục tiêu của hệ thống KSNB rất rộng, chúng

bao trùm lên mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát

triển của đơn vị Tuy nằm trong một thể thống nhất song các mục tiêu nêu trên đôi

khi cũng có mâu thuẫn với nhau như giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích

bảo vệ tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy Nhiệm vụ của các

nhà quản lý là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài hoà

các mục tiêu trên

KSNB giúp người quản lý có cái nhìn toàn diện về vấn đề kiểm soát trong tổ

chức theo hướng xác định mục tiêu, đánh giá rủi ro và thiết lập các hoạt động kiểm

soát; đồng thời tạo lập một môi trường kiểm soát tốt đi đôi với một hệ thống thông

tin hữu hiệu Do đó, khái niệm và các chuẩn mực KSNB cần được đưa vào chương

trình đào tạo cán bộ quản lý các đơn vị khu vực công

(Nguồn: INTOSAI (2013))

Hình 2.1: Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB khu vực công

Môi trường kiểm soát

Giám sát

Hệ thốngKSNB

Đánh giárủi ro

Thông tin

kiểm soát

Trang 29

2.2.3 Tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Theo từ điển Tiếng Việt, tính hữu hiệu có nghĩa là có hiệu lực, có hiệu quả, trái với vô hiệu (Từ điển Tiếng Việt, 2012)

Hữu hiệu là mức độ hoàn thành nhiệm vụ hay mục tiêu, còn hiệu quả được tính bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra (Business dictionary)

Một hệ thống KSNB được xem là hữu hiệu khi hệ thống đó đã đạt được những mục tiêu, mục đích đặt ra Theo báo cáo COSO 2013, ba nhóm mục tiêu được đưa ra như sau:

Mục tiêu hoạt động: Liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động trong một đơn vị, bao gồm mục tiêu trên các lĩnh vực tài chính, bảo vệ chống mất mát tài sản, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đơn vị

Mục tiêu báo cáo: liên quan đến BCTC và các báo cáo phi tài chính khác phục

vụ cho nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin Các báo cáo phải đảm bảo tính kịp thời, minh bạch, đầy đủ, phù hợp và đáng tin cậy

Mục tiêu tuân thủ: liên quan đến việc chấp hành và thực thi những quy định, luật lệ, nguyên tắc nội bộ của đơn vị, cũng như đảm bảo tuân thủ các quy định liên quan về pháp luật

Theo Vũ Hữu Đức (2010) thì trong quá trình hoạt động thực tiễn, một hệ thống KSNB hữu hiệu cũng cần phải bao hàm 4 đặc điểm chủ yếu:

Thứ nhất, hoạt động dựa trên khả năng có thể nhận diện được rủi ro, cũng như các tác động xấu của rủi ro ảnh hưởng tới mục tiêu hoạt động và mục tiêu chung của đơn vị

Thứ hai, hệ thống KSNB cần đảm bảo được lồng ghép và vận hành song song với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thường ngày của đơn vị Đặc biệt hơn, nếu hệ thống KSNB được nhìn nhận như là một nét văn hóa của tổ chức thì có thể coi là một thành công lớn

Thứ ba, hoạt động và thông tin xuất phát từ hệ thống KSNB cần đảm bảo tính độc lập, chính xác, công khai minh bạch và có tính tham khảo cao, hữu dụng cho các bên liên quan và cho các lãnh đạo cấp cao

Thứ tư, điểm cuối cùng được nhắc đến đối với một hệ thống KSNB được coi là hữu hiệu đó là việc được kiểm tra, rà soát thường xuyên bởi các cấp cao hơn Việc

Trang 30

thường xuyên rà soát, kiểm tra và tự chấn chỉnh lại các hoạt động quản trị là điều cần thiết nhằm đảm bảo tính hữu hiệu trong hoạt động của một hệ thống KSNB tại đơn vị

2.2.4 Các nhân tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 2013

INTOSAI 2013 đưa ra hai nhóm chuẩn mực về KSNB: chuẩn mực chung và chuẩn mực cụ thể (i) Chuẩn mực chung bao gồm các quy định về đảm bảo hợp lý, tinh thần tuân thủ, năng lực và phẩm chất, mục tiêu kiểm soát và giám sát (ii) Chuẩn mực cụ thể đi vào các quy định về tổ chức hồ sơ, tài liệu; ghi chép kịp thời và đúng đắn các nghiệp vụ, phân chia trách nhiệm, tiếp cận và báo cáo về nguồn lực và sổ sách Mục tiêu của hướng dẫn về KSNB của INTOSAI 2013 là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực công Vì vậy, tài liệu này được các nhà lãnh đạo của Chính phủ, các đơn vị hành chính công xem là kim chỉ nan trong việc tổ chức thực hiện và giám sát KSNB trong đơn vị thuộc khu vực công

Dựa trên nền tảng của Báo cáo COSO, hướng dẫn về KSNB của INTOSAI

2013 cũng đưa ra năm yếu tố cấu thành nên hệ thống KSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, và Giám sát Cụ thể như sau:

2.2.4.1 Môi trường kiểm soát

Theo INTOSAI 2013, môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một

tổ chức, nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong tổ chức Môi trường kiểm soát là nền tảng đối với các bộ phận khác của KSNB, tạo lập kỷ cương, đạo đức

và cơ cấu cho tổ chức Các nhân tố trong môi trường bao gồm:

Thứ nhất, sự liêm chính và giá trị đạo đức của cấp lãnh đạo và đội ngũ nhân viên:

Sự liêm chính và các giá trị đạo đức là nhân tố quan trọng của môi trường kiểm soát, tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của KSNB Các giá trị đạo đức chính là văn hóa của tổ chức, là những quy tắc ứng xử của cán bộ công chức, những chuẩn mực đạo đức mà cấp quản lý mong muốn xây dựng nhà nước nhằm hạn chế những hành vi gian lận, tham nhũng… ảnh hưởng xấu đến tổ chức Để đạt được điều này, cấp quản lý trước tiên phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các điều lệ, các quy định về cách ứng xử của CBCC và cần phải phổ biến những quy định này đến mọi thành viên bằng các hình thức thích hợp Đồng thời, các đơn

vị thuộc khu vực công phải cho công chúng thấy được tinh thần nhân văn và các giá trị đạo đức trong nhiệm vụ và sứ mạng của mình thông qua các văn bản chính thức

Trang 31

Thứ hai, năng lực của đội ngũ nhân viên trong tổ chức:

Năng lực của đội ngũ nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỹ năng làm việc cần thiết để đảm bảo việc thực hiện có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, hiệu quả

và hữu hiệu, cũng như có một sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập hệ thống KSNB Đảm bảo về năng lực là đảm bảo cho các thành viên trong tổ chức có được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ Muốn vậy, cấp quản lý cần xác định rõ yêu cầu về năng lực cho một công việc nhất định và cụ thể hóa nó thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng để cá nhân có thể được bố trí công việc thích hợp

Lãnh đạo và nhân viên phải có trình độ đủ để hiểu được việc xây dựng, thực hiện, duy trì của KSNB, vai trò của KSNB và trách nhiệm của họ trong việc thực hiện

sứ mệnh chung của tổ chức Đồng thời, mọi cá nhân trong tổ chức cần có ý thức không ngừng nâng cao trình độ, kinh nghiệm chuyên môn để có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc, vì mỗi cá nhân trong tổ chức là một mắc xích quan trọng không thể thiếu để tạo nên một hệ thống KSNB hoàn chỉnh

Lãnh đạo và nhân viên cũng cần có những kỹ năng cần thiết để đánh giá rủi ro Việc đánh giá rủi ro đảm bảo cho mọi người có thể hoàn thành trách nhiệm được giao

Ngoài ra, cấp quản lý cần nâng cao nhận thức cho các cá nhân giúp họ hiểu được mức đóng góp của mình trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức, hiểu được tầm quan trọng của mình trong việc vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hữu hiệu Đào tạo là một cách thức hữu hiệu để nâng cao trình độ, phát triển kỹ năng cho các thành viên trong tổ chức Một trong những nội dung đào tạo là hướng dẫn về mục tiêu KSNB, phương pháp giải quyết những tình huống gặp phải trong cộng việc

Thứ ba, triết lý quản lý và phong cách điều hành của cấp lãnh đạo:

Triết lý quản lý và phong cách điều hành thể hiện thông qua cá tính, tư cách

và thái độ, quan điểm của nhà lãnh đạo khi điều hành hoạt động của đơn vị Sự khác biệt về triết lý quản lý và phong cách điều hành của các cấp quản lý có thể ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn

vị Nếu nhà lãnh đạo cho rằng KSNB là quan trọng thì những thành viên khác trong

tổ chức cũng sẽ cảm nhận được điều đó thông qua hành động, thái độ của nhà quản

Trang 32

lý và sẽ theo đó mà tận tâm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ Tinh thần này biểu hiện ra thành những quy định đạo đức ứng xử trong cơ quan

Thứ tư, cơ cấu tổ chức và quyền hạn, trách nhiệm của các bộ phận:

Cơ cấu tổ chức là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ đảm bảo cho sự thông suốt trong việc ủy quyền và phân công trách nhiệm Cơ cấu tổ chức phù hợp là cơ cấu tổ chức được thiết kế sao cho có thể ngăn ngừa được sự vi phạm các quy chế KSNB và loại được những hoạt động không phù hợp Cơ cấu tổ chức bao gồm:

Sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn

Sự trao quyền và trách nhiệm giải trình

Hệ thống báo cáo phù hợp

Để thiết kế một cơ cấu tổ chức hiệu quả phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động; không bỏ sót lĩnh vực nào đồng thời không có sự chồng chéo giữa các bộ phận

Thực hiện sự phân chia 3 chức năng: Xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ sách bảo quản tài sản

Bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận

Cơ cấu tổ chức thường được mô tả thông qua sơ đồ tổ chức, trong đó phải xác định được các vị trí then chốt với quyền hạn, trách nhiệm và các thể thức báo cáo cho phù hợp Ngoài ra, cơ cấu cần phù hợp với quy mô và đặc thù hoạt động của đơn vị

Phân chia trách nhiệm và quyền hạn được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức Nó cụ thể hóa về quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong các hoạt động của đơn vị Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hóa bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với nhau

Thứ năm, chính sách nguồn nhân lực:

Chính sách nguồn nhân lực là toàn bộ các phương pháp quản lý và chế độ của đơn vị liên quan đến đội ngũ nhân viên như: chính sách tuyển dụng, đào tạo, huấn luyện, giáo dục, đánh giá, tiền lương, bổ nhiệm, khen thưởng, phúc lợi, kỷ luật Mỗi

cá nhân đóng vai trò quan trọng trong KSNB Khả năng, sự tin cậy của nhân viên rất cần thiết để kiểm soát được hữu hiệu Vì vậy, cách thức tuyển dụng, huấn luyện, giáo

Trang 33

dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật là một phần quan trọng trong môi trường kiểm soát

Quản lý nguồn nhân lực cũng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường kiểm soát bằng cách phát triển tính chuyên nghiệp, thực thi tính minh bạch trong công việc hằng ngày Đơn vị cần ban hành các quy định về tuyển dụng, cũng như các yêu cầu, xây dựng bảng mô tả công việc cần có của từng vị trí trong đơn vị

để có thể quản lý tốt nhân viên, bổ nhiệm đúng người, đúng việc

Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thông qua việc tác động đến các nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và giá trị đạo đức…

(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ INTOSAI 2013)

Hình 2.2: Các yếu tố cấu thành Môi trường kiểm soát 2.2.4.2 Đánh giá rủi ro

Để giới hạn được rủi ro ở mức chấp nhận được, người quản lí phải dựa trên mục tiêu đã được xác định của đơn vị, nhận dạng và phân tích rủi ro, từ đó mới có thể quản trị được rủi ro

Xác định mục tiêu của đơn vị Mục tiêu tuy không phải là một bộ phận của kiểm soát nội bộ nhưng việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro Bởi lẽ một sự kiện có trở thành một rủi ro quan trọng đối với tổ chức hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ tác động của nó đến mục tiêu của đơn vị Xác định mục tiêu bao gồm việc đưa ra sứ mệnh, hoạch định các mục tiêu chiến lược cũng như những

Trang 34

chỉ tiêu phải đạt được trong ngắn hạn, trung và dài hạn Việc xác định mục tiêu có thể được thực hiện qua việc ban hành các văn bản hoặc đơn giản hơn, qua nhận thức

và phát triển hằng ngày của nhà quản lí

Nhận dạng rủi ro Rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ toàn đơn vị hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể

Ở mức độ toàn đơn vị, các nhân tố có thể làm phát sinh rủi ro đó là sự đổi mới

kĩ thuật, sự thay đổi trong chính sách của nhà nước, trình độ nhân viên không đáp ứng được yêu cầu hoặc thay đổi cán bộ quản lí, Trong phạm vi từng hoạt động, rủi

ro có thể phát sinh và tác động đến bản thân từng hoạt động trước khi gây ảnh hưởng dây chuyền đến toàn đơn vị

Để nhận dạng rủi ro, người quản lí có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ việc sử dụng các phương tiện dự báo, phân tích các dữ liệu quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các hoạt động

Phân tích và đánh giả rủi ro Vì rủi ro rất khó định lượng nên đây là một công việc khá phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, một quy trình phân tích và đánh giá rủi ro thường bao gồm những bước sau đây: Ước lượng tầm cỡ rủi

ro qua ảnh hưởng có thể của nó đến mục tiêu của đơn vị, xem xét khả năng xảy ra rủi

ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với rủi ro

Trong lĩnh vực kế toán, có thể kể những rủi ro đe dọa sự trung thực và hợp lí của BCTC như ghi nhận các tài sản không có thực hoặc là không thuộc quyền sở hữu của đơn vị; đánh giá tài sản và các khoản nợ phải trả không phù hợp với các chuẩn mực, chế độ kế toán; khai báo không đầy đủ thu nhập và chi phí, trình bày những thông tin tài chính không phù hợp với yêu cầu của chuẩn mực và chế độ kế toán Các rủi ro trên có thể phát sinh từ trong bản chất hoạt động của đơn vị hoặc từ yếu kém của chính hệ thống KSNB

2.2.4.3 Hoạt động kiểm soát

Theo INTOSAI 2013, thì nội dung của hoạt động kiểm soát được thể hiện như sau:

a.Thủ tục kiểm soát

Để thực hiện các mục tiêu kiểm soát, nhà quản lý phải quy định các thủ tục kiểm soát và chúng được thiết kế tuỳ thuộc vào những nét đặc thù của cơ cấu tổ chức, của hoạt động kinh doanh, thường có ba loại thủ tục kiểm soát sau:

Trang 35

+ Kiểm soát phòng ngừa: là các thủ tục kiểm soát được thiết kế để ngăn chặn các sai phạm hoặc các điều kiện dẫn đến sai phạm Kiểm soát phòng ngừa thường được tiến hành trước khi nghiệp vụ xảy ra và được thực hiện ngay trong công việc hàng ngày của nhân viên theo chức năng của họ: phân chia trách nhiệm, giám sát, kiểm tra tính hợp lý, đầy đủ, chính xác

+ Kiểm soát phát hiện: là các thủ tục kiểm soát được thiết kế nhằm phát hiện các sai phạm hoặc các điều kiện dẫn đến sai phạm nhưng được thực hiện sau khi nghiệp vụ đã xảy ra

+ Kiểm soát bù đắp: là khái niệm về sự bù đắp yếu kém của thủ tục kiểm soát này bằng một thủ tục kiểm soát khác

Nhìn chung các thủ tục kiểm soát được thiết lập trong đơn vị đều dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc bất kiêm nhiệm; Nguyên tắc phân công, phân nhiệm;

Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn

Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục kiểm soát còn bao gồm: việc quy định chứng từ sổ sách phải đầy đủ, quá trình kiểm soát vật chất đối với tài sản và kiểm soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của đơn vị

b Quy trình kiểm soát

Để hiểu rõ hơn về sự kiểm soát và xem xét khả năng áp dụng chúng vào tất cả các hoạt động của đơn vị, quá trình kiểm soát trải qua các bước bao gồm:

- Triển khai các mục tiêu:

+ Bước đầu tiên của quá trình kiểm soát là xác định đơn vị muốn đạt được điều

gì Những mục tiêu này có thể rất tổng quát hoặc rất chi tiết và rõ ràng Điều quan trọng nhất về mặt kiểm soát là tính hợp lý của các mục tiêu, có đặc thù ra sao, có tính hợp pháp không, mức độ thực hiện mục tiêu có đo lường được không Vì thế hiệu quả của quá trình kiểm soát gắn với tình hình các mục tiêu cơ sở đã được xây dựng

+ Để triển khai việc kiểm soát có hiệu quả đơn vị phải biết cái gì cần được kiểm soát Khi xác định được yêu cầu trên, đơn vị tiến hành xem xét những điểm sau: Những nguồn lực chủ yếu là gì? Những chi phí chủ yếu nào? Những vấn đề then chốt

là gì? Kết hợp những nhu cầu kiểm soát gì? Các mục tiêu kiểm soát có nhất quán với chủ trương phân cấp trách nhiệm không?

- Đo lường các kết quả: Khi mục tiêu đã xác định thì bước hai của quá trình

kiểm soát là đo lường cụ thể thành tích hiện tại Đơn vi cần biết thực tế đã hoàn thành

Trang 36

được gì trong tiến trình thực hiện các mục tiêu đã đặt ra Thông qua hoạt động này đơn vị có cơ sở để so sánh và phân tích những gì đã đạt được hoặc có hành động quản

lý nào cần thiết khác Ở giai đoạn này có một số điểm cần lưu ý:

+ Nhất quán với cơ cấu của mục tiêu: hệ thống số liệu về việc thực hiện phải được thiết lập theo cơ cấu các mục tiêu đã xây dựng

+ Chính xác: yêu cầu cơ bản số liệu về thực hiện phải nêu chính xác

+ Sử dụng những cách tính toán sơ bộ

- So sánh thành tích cụ thể với các mục tiêu: Số liệu thực hiện được so sánh

với các mục tiêu đã xây dựng; từ đó biết được những số chênh lệch Tuy so sánh là một bước riêng trong quá trình kiểm soát, nhưng trong thực tế nó được kết hợp với báo cáo kết quả hoạt động Nhưng có một số điểm cần xem xét:

+ Trình bày: để việc sử dụng số liệu có hiệu quả thì điều cần thiết trước tiên là được trình bày rõ ràng và dễ hiểu

+ Sử dụng các dự kiến tương lai: việc sử dụng các dự kiến giúp cho đơn vị có hành động cần thiết giải quyết những vấn đề mới

- Phân tích nguyên nhân chênh lệch: Khi có sự chênh lệch xảy ra thì phải tìm

ra nguyên nhân của nó, đó là xem xét để biết những nhân tố gây ra chênh lệch và để tính toán mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố Phải xác định những nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân cơ bản đồng thời cũng đánh giá nhận định của những nhân

tố cá biệt quan trọng ảnh hưởng cụ thể như thế nào Thể hiện ở các công việc sau:

+ Phạm vi công việc phân tích: việc phân công đảm nhiệm công việc phân tích

để hoàn thành tốt nhất

+ Định thời gian phân tích: vì hành động quản lý tuỳ thuộc việc nhận biết các nguyên nhân nên thời gian phân tích cũng là một mốc quyết định của công việc kiểm soát tốt

+ Nhận biết những nguyên nhân có thể kiểm soát: trung tâm của công việc phân tích là mức độ mà những nguyên nhân có thể kiểm soát đã nhận biết được đánh giá so với những nguyên nhân không thể kiểm soát

- Xác định hành động quản lý thích hợp: sau khi phân tích nguyên nhân

chênh lệch sẽ dẫn đến việc xác định hành động thích hợp của quản lý Trong mọi tình huống việc xác định cụ thể hành động quản lý thuộc về người có trách nhiệm cùng tuyến với những hoạt động có liên quan Cụ thể:

Trang 37

+ Bổ sung phân tích: việc xác định cái gì phải làm đòi hỏi có kiểm tra rõ ràng của công việc phân tích đầy đủ

+ Định thời gian: khi đề ra quyết định về hành động cần phải cân nhắc kỹ không nên vội vàng, song cũng phải xác định được mốc thời gian để tiến hành

+ Đánh giá những nhân tố mâu thuẫn: trong việc xác định hành động cần xem xét các nhân tố trái ngược nhau để tránh được rủi ro đáng tiếc

+ Nhu cầu mềm dẻo: cuối cùng của việc xác định hành động thích hợp đòi hỏi phải có cách làm mềm dẻo Những cách xác định rập khuôn, không đúng với thực tế thay đổi thường dẫn đến những hành động không thích hợp Vì vậy, phải có cách làm nhạy bén và mềm dẻo đối với những quyết định quan trọng

- Để có hành động quản lý thích hợp thì chỉ thị cần thiết được đưa ra phải xem xét tới tính cấp bách của nó, tới trình độ của nhân viên thừa hành và tới tính phức tạp của những hành động Để làm được điều đó cần xác định:

+ Ai phải thực hiện hành động: người nhận trách nhiệm phải là người đáng tin cậy, có năng lực chuyên môn, có trách nhiệm trong công việc

+ Hành động phải được thực hiện như thế nào: để làm được điều này thì trước tiên người thực hiện phải hiểu rõ vì sao có hành động này và hành động này giải quyết vấn đề gì, có như vậy hành động mới đem lại kết quả mong muốn

- Tiếp tục đánh giá lại:

Bước cuối cùng trong quá trình kiểm soát là đánh giá lại kết quả, làm rõ sự liên kết giữa chu kỳ kiểm soát này với chu kỳ sau Tiếp tục đánh giá các hoạt động sẽ

bổ sung quan trọng vào hiệu quả của chu trình kiểm soát sau Việc đánh giá lại cần xem xét tới những điểm sau:

+ Yêu cầu một thái độ học tập: điểm xuất phát của việc tiếp tục đánh giá có hiệu quả là các nhân viên phải có một thái độ mong muốn cải tiến các nghiệp vụ và thực hiện tốt các hành động đã đề ra

+ Chuẩn bị thông tin phản hồi: đi đôi với thái độ học tập là việc chuẩn bị các thông tin phản hồi, thông tin phản hồi cho biết hành động kiểm soát có hiệu lực như thế nào, phải làm gì để cải tiến

Các nghiệp vụ của doanh nghiệp cứ tiếp tục đi vào tương lai do đó những vấn

đề của kiểm soát cũng không bao giờ kết thúc, những hành động kiểm soát trước cứ hoà vào những chu trình kiểm soát sau

Trang 38

2.2.4.4 Thông tin và truyền thông

Theo INTOSAI 2013, thông tin và truyền thông được giải thích như sau:

a Thông tin

Thông tin cần thiết cho mọi cấp của một tổ chức vì nó giúp cho việc đạt được các mục tiêu kiểm soát khác nhau Điều kiện đầu tiên đảm bảo thông tin thích hợp và đáng tin cậy là thông tin phải được ghi chép kịp thời, phân loại đúng đắn các nghiệp vụ và sự kiện, được chuyển đi dưới những biểu mẫu và quy trình bảo đảm nhân viên có thể hiểu đúng nội dung thông tin và thực hiện đúng chức năng trong KSNB Do đó, hệ thống KSNB đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ, sự kiện phải được ghi nhận và lập các chứng từ đầy đủ Chất lượng thông tin được thể hiện thông qua các đặc tính của nó, theo đó thông tin chất lượng cần đảm bảo các đặc tính như: thích hợp, chính xác, kịp thời, cập nhật, bảo mật

Hệ thống thông tin kế toán là một phân hệ quan trọng trong hệ thống thông tin Ngoài ra, các phân hệ thông tin khác như lưu trữ, tra cứu cũng rất cần thiết đối với KSNB vì nó cung cấp cơ sở cho những nhận định, phân tích tình hình hoạt động,

về những rủi ro và những cơ hội liên quan đến hoạt động của đơn vị Khả năng ra quyết định của nhà lãnh đạo bị ảnh hưởng bởi chất lượng thông tin mà họ nhận được

Do đó, một hệ thống thông tin thích hợp phải tạo ra các báo cáo về hoạt động, tài chính, phi tài chính, những vấn đề tuân thủ hỗ trợ cho việc điều hành và kiểm soát hoạt động Thông tin bao gồm các dữ liệu bên trong và thông tin bên ngoài, những điều kiện, hoạt động cần thiết ra quyết định và báo cáo

b Truyền thông

Truyền thông là thuộc tính của hệ thống thông tin Truyền thông là việc trao đổi và truyền đạt các thông tin cần thiết tới các bên có liên quan cả bên trong lẫn bên ngoài đơn vị Ở nội bộ đơn vị, các kênh truyền thông bao gồm việc cung cấp thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp dưới phản hồi lên cấp trên, trao đổi hàng ngang giữa các bộ phận trong tổ chức… Thông tin phải xuyên suốt toàn bộ tổ chức, các cá nhân nhận được thông báo rõ ràng từ nhà lãnh đạo về trách nhiệm của bản thân họ trong hệ thống KSNB Mỗi cá nhân phải hiểu được vai trò của bản thân đối với hệ thống KSNB, đối với các thành viên khác trong tổ chức Ngoài ra, đơn vị còn phải có

sự tương tác đối với các kênh thông tin bên ngoài, các thông tin bên ngoài phải được tiếp nhận một cách kịp thời, trung thực và đầy đủ; các đối tượng bên ngoài khi làm

Trang 39

việc với đơn vị cũng cần phải biết một số quy định của đơn vị nhằm giúp cho công việc được thông suốt, thuận tiện

2.2.4.5 Giám sát

Hoạt động giám sát là quá trình người quản lý đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm xác định hệ thống kiểm soát nội bộ có vận hành đúng theo thiết kế và có cần thiết phải điều chỉnh gì cho phù hợp với tình hình của từng giai đoạn hay không Có hai loại giám sát:

- Giám sát thường xuyên: KSNB được thiết lập cho những hoạt động thông

thường và lặp đi lặp lại hàng ngày của tổ chức cũng như các hoạt động khác mà các

cá nhân tiến hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hàng ngày bao gồm cả những hoạt động giám sát và quản lý mang tính chất định kỳ nay trong quá trình thực hiện của các nhân viên trong công việc hằng ngày

- Giám sát định kỳ: Hoạt động giám sát này được thực hiện trong các tình

huống đặc biệt thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên nội bộ hoặc

do kiểm toán viên độc lập thực hiện hay chỉ thực hiện định kỳ

Phạm vi và tần suất giám sát định kỳ phụ thuộc vào sự đánh giá mức độ rủi ro

và hiệu quả của thủ tục giám sát thường xuyên Giám sát định kỳ bao phủ toàn bộ sự đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB và đảm bảo KSNB đạt kết quả như mong muốn dựa trên các phương pháp và thủ tục kiểm soát

2.3 Hoạt động kiểm soát nội bộ của các trường THCS

2.3.1 Đơn vị sự nghiệp giáo dục

Theo Nghị định số 127/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 9 năm 2018, Đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo được giao quyền tự chủ một phần về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo tự chủ), là đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo tự bảo đảm chi thường xuyên

Trang 40

2.3.2 Khái niệm các trường THCS

Trung học cơ sở là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, còn được gọi

là cấp II, trên Tiểu học và dưới Trung học phổ thông Trung học cơ sở kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9) Thông thường, độ tuổi học sinh ở trường trung học cơ sở là từ

11 tuổi đến 15 tuổi Trước đây, để tốt nghiệp trung học cơ sở, học sinh phải vượt qua một kỳ thi tốt nghiệp vào cuối lớp 9 nhưng kể từ năm học 2005-2006 thì kỳ thi đã chính thức bị bãi bỏ

Trường Trung học cơ sở được bố trí tại từng xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có một số xã không có trường Trung học cơ sở Đó thường là các

xã ở vùng sâu, vùng xa hoặc hải đảo Theo quy định trong Luật Ngân sách Nhà nước, đầu tư xây dựng trường Trung học cơ sở cũng như trường Tiểu học thuộc trách nhiệm của chính quyền cấp quận, huyện

2.3.3 Hoạt động kiểm soát nội bộ của trường THCS

Hoạt động KSNB trong trường THCS chính là hoạt động kiểm tra nội bộ, giám sát, đánh giá trong trường học

2.3.3.1 Kiểm tra nội bộ trường học

Là hoạt động xem xét và đánh giá các hoạt động giáo dục, điều kiện dạy học, giáo dục trong phạm vi nhà trường nhằm mục đích để mỗi cá nhân, bộ phận trong trường học nắm chắc tiến độ và kết quả cần đạt trong phạm vi trách nhiệm của mình Kiểm tra nội bộ ( viết tắt là KTNB) trong trường học là công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể trong nhà trường Công tác KTNB phải được thực hiện bởi từng

cá nhân, bộ phận trong trường học dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng

Hoạt động này được thực hiện theo 2 cấp độ:

+ Các bộ phận, cá nhân kể cả Hiệu trưởng tự kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm

vụ của mình

+ Hiệu trưởng tổng hợp kết quả kiểm tra của các bộ phận, tiến hành kiểm tra kết quả thực hiện các công việc chung, mối quan hệ phối hợp giữa các thành viên, bộ phận và những điều kiện, phương tiện phục vụ dạy học trong nhà trường

Nội dung KTNB trường học bao gồm: Kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên (viết tắt là GV); Kiểm tra hoạt động của khối, tổ chuyên môn; Kiểm tra cơ sở vật chất (viết tắt là CSVC), tài sản trong nhà trường; Kiểm tra tài chính; Kiểm tra

Ngày đăng: 16/08/2020, 11:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w