1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng Sở Khoa Học và Công Nghệ Đồng Nai: luận văn thạc sĩ

123 58 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Kiểm soát nội bộ KSNB là một quá trình độc lập bị tác động bởi người quản lý và các cá nhân trong tổ chức và được thiết kế để nhận diện rủi ro và cung cấp giải pháp ti

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

HOÀNG NHẬT LINH

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TIÊU CHUẨN ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG -

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đồng Nai, năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HUỲNH ĐỨC LỘNG

Đồng Nai, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Quý Thầy, Cô, Ban lãnh đạo Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

- Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai, bạn bè và các đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Huỳnh Đức Lộng, người hướng dẫn khoa học

cho luận văn, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ cho em về mọi mặt để hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Sau đại học đã hướng dẫn và giúp đỡ

em trong quá trình hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai đã hỗ trợ tác giả trong việc trả lời phiếu khảo sát

Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong Hội Đồng chấm luận văn đã có những

ý kiến đóng góp để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Đồng Nai, ngày 05 tháng 10 năm 2019

Học viên

Hoàng Nhật Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng công bố ở một công trình nghiên cứu khoa học nào

Đồng Nai, ngày 05 tháng 10 năm 2019

Học viên

Hoàng Nhật Linh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa chính

Trang bìa lót

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Tóm tắt luận văn

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa của đề tài 5

7 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KHU VỰC CÔNG 7

1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển hệ thống KSNB trong khu vực công 7

1.1.1 Giai đoạn sơ khai 7

1.1.2 Giai đoạn hình thành 7

1.1.3 Giai đoạn phát triển 8

1.1.4 Giai đoạn hiện đại 9

1.2 Định nghĩa và mục tiêu của hệ thống KSNB 11

1.2.1 Theo INTOSAI 1992 11

1.2.2 Theo INTOSAI 2004 11

1.2.3 Theo INTOSAI 2013 12

1.2.4 Theo INTOSAI 2016 12

1.3 So sánh INTOSAI 1992, 2004, 2013, 2016 14

1.3.1 Điểm giống nhau 14

1.3.2 Sự khác nhau 15

1.4 Các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB trong khu vực công 15

1.4.1 Môi trường kiểm soát 15

Trang 6

1.4.1.2 Tư duy quản lý và phong cách điều hành của cấp lãnh đạo 16

1.4.1.3 Năng lực đội ngũ nhân viên trong tổ chức 16

1.4.2 Đánh giá rủi ro 17

1.4.2.1 Nhận dạng rủi ro 17

1.4.2.2 Đánh giá rủi ro 18

1.4.2.3 Đối phó rủi ro 18

1.4.3 Hoạt động kiểm soát 19

1.4.3.1 Xét theo mục đích của hoạt động kiểm soát 19

1.4.3.2 Xét theo chức năng của hoạt động kiểm soát 19

1.4.4 Thông tin và truyền thông 21

1.4.5 Giám sát 22

1.5 Lợi ích và hạn chế của hệ thống KSNB 22

1.5.1 Lợi ích 22

1.5.2 Hạn chế 22

Tóm tắt chương 1 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TIÊU CHUẨN ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG - SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI 26

2.1 Giới thiệu tổng quan về Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng – Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai 26

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành, phát triển của trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 26

2.1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của Trung tâm 26

2.1.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn 26

2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý tại Trung tâm 29

2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy 29

2.1.2.2 Nhiệm vụ và Quyền hạn 29

2.1.3 Kết quả hoạt động tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai 36

2.2 Thực trạng hệ thống KSNB tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai 37

2.2.1 Quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu 37

Trang 7

2.2.1.1 Mục đích khảo sát và thu thập dữ liệu 37

2.2.1.2 Đối tượng khảo sát và thu thập dữ liệu 37

2.2.1.3 Phương pháp khảo sát và thu thập dữ liệu 37

2.2.2 Thực trạng về hệ thống KSNB tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai 37

2.2.2.1 Thực trạng về môi trường kiểm soát tại Trung tâm 38

2.2.2.2 Thực trạng về đánh giá rủi ro tại Trung tâm 42

2.2.2.3 Thực trạng về hoạt động kiểm soát tại Trung tâm 42

2.2.2.4 Thực trạng về thông tin và truyền thông tại Trung tâm 49

2.2.2.5 Thực trạng về giám sát tại Trung tâm 50

2.3 Đánh giá Ưu điểm và nhược điểm trong hệ thống KSNB tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai 50

2.3.1 Ưu điểm 50

2.3.2.1 Môi trường kiểm soát 50

2.3.2.2 Đánh giá rủi ro 51

2.3.2.3 Hoạt động kiểm soát 52

2.3.2.4 Thông tin và truyền thông 52

2.3.2.5 Giám sát 52

2.3.2 Nhược điểm 52

2.3.2.1 Môi trường kiểm soát 52

2.3.2.2 Đánh giá rủi ro 53

2.3.2.3 Hoạt động kiểm soát 54

2.3.2.4 Thông tin và truyền thông 54

2.3.2.5 Giám sát 54

2.3.3 Nguyên nhân chung dẫn đến những hạn chế 54

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TIÊU CHUẨN ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG - SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI 57

3.1 Quan điểm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai 57

3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai 58

Trang 8

3.2.1 Hoàn thiện về môi trường kiểm soát tại Trung tâm 58

3.2.2 Hoàn thiện về Đánh giá rủi ro tại Trung tâm 63

3.2.3 Hoàn thiện về Hoạt động kiểm soát tại Trung tâm 66

3.2.4 Hoàn thiện về thông tin và truyền thông tại Trung tâm 67

3.2.5 Hoàn thiện về hoạt động giám sát tại Trung tâm 68

3.3 Kiến nghị 68

3.3.1 Kiến nghị với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai 68

3.3.2 Kiến nghị với Bộ, Ban ngành 69

Tóm tắt chương 3 70

KẾT LUẬN 71 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đối tượng nghiên cứu và khảo sát của đề tài của tác giả là hệ thống KSNB tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng- thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai với mục đích nhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện hơn hệ thống KSNB tại đơn vị Trong quá trình nghiên cứu và khảo sát tác giả lần lượt đưa ra các vấn đề và cách thức giải quyết nhằm mang lại những mục tiêu cụ thể của đề tài như sau:

- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công

- Đánh giá thực trạng để làm rõ ưu điểm, nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội

bộ tại Trung tâm Kỹ thuật Ttiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở khoa học và Công nghệ Đồng Nai

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm kỹ thuật tiêu

chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và Công nghệ Đồng Nai

Việc hoàn thiện dựa trên các quan điểm: kế thừa, tiếp cận hệ thống, hiện đại, tình hình thực tế và phù hợp với KSNB của tổ chức INTOSAI tại Trung tâm Kỹ thuật Ttiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở khoa học và Công nghệ Đồng Nai

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KTĐC Kỹ thuật đo lường chất lượng

KH&CN Khoa học và công nghệ

INTOSAI Tổ chức cơ quan kiểm toán tối

cao quốc tế

(Guideline for International Standard)

IACA Hiệp hội Kiểm soát và Kiểm

toán Thông tin

Information System Audit and Control Association

lượng

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.4: Bảng tổng hợp kết quả khảo sát về Hoạt động kiểm soát 42

Bảng 3.1: Số lượng dự tính trong thời gian tới tại Trung tâm 58

Trang 12

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng29

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một quá trình độc lập bị tác động bởi người quản lý

và các cá nhân trong tổ chức và được thiết kế để nhận diện rủi ro và cung cấp giải pháp tin cậy nhằm đạt được sứ mạng của tổ chức, những mục tiêu chung cần đạt được là: Vận hành có trật tự, đúng đắn, tính kinh tế, các hoạt động có hiệu lực và hiệu quả; Thực hiện tốt trách nhiệm giải trình; Tuân theo luật pháp và các quy tắc; Bảo đảm an toàn nguồn lực chống lại mất mát, lãng phí và thiệt hại (Theo Chuẩn mực kiểm soát nội bộ cho đơn vị khu vực công do Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán Tối cao INTOSAI ban hành.)

Vấn đề hệ thống KSNB áp dụng tại các đơn vị sự nghiệp công ở Việt Nam đã được đề cập ở các văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, ở góc độ một hướng dẫn thực hiện thì chưa được ban hành Luật Kế toán năm 2015, KSNB và kiểm toán nội bộ được quy định tại Điều 39, trong đó nêu rõ KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro

và đạt yêu cầu đề ra Trong đó, yêu cầu đơn vị kế toán phải thiết lập hệ thống KSNB trong đơn vị để đảm bảo các yêu cầu: Tài sản của đơn vị được đảm bảo an toàn, tránh

sử dụng sai mục đích, không hiệu quả; Các nghiệp vụ được phê duyệt đúng thẩm quyền và được ghi chép đầy đủ làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2015, việc khảo sát thu thập thông tin và đánh giá về hệ thống KSNB là một nội dung quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán Điều này cho thấy, tầm quan trọng của hệ thống KSNB đối với hoạt động của đơn vị, cụ thể theo Quyết định số 02/2013/QĐ-KTNN ngày 29/3/2013 của Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành Quy trình kiểm toán ngân sách nhà nước quy định, trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán và thực hiện kiểm toán phải tổ chức khảo sát và thu thập thông tin về hệ thống KSNB của đơn vị Như vậy, với vai trò quan trọng của KSNB và tác động tích cực của nó đến kết quả hoạt động và các mục tiêu của đơn vị thì cần xem xét việc quy định về thực hiện KSNB hoặc có hướng dẫn thực hiện về KSNB một cách cụ thể hơn để các đơn vị áp dụng

Trang 14

Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (sau đây gọi tắt là Trung tâm) trực thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Đồng Nai, là đơn vị sự nghiệp công lập có thu, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập Trung tâm thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước

và các hoạt động dịch vụ kỹ thuật về tiêu chuẩn, đo lường, năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Chi cục và các dịch vụ khoa học và công nghệ khác theo quy định của pháp luật Việc tổ chức hoạt động về đo lường hiện nay

đã gặp nhiều khó khăn và thời gian tới khi kinh tế thị trường ngày càng phát triển ở nước ta, hoạt động này sẽ khó đáp ứng yêu cầu của thực tế

Do đó, thực hiện theo lộ trình cải cách hành chính công hiện nay với tinh thần tăng cường áp dụng tiến bộ trong khoa học quản lý ở khu vực công và theo xu hướng chung của thế giới thì việc nghiên cứu áp dụng các chuẩn mực về KSNB cho đơn vị khu vực công theo INTOSAI và triển khai thực hiện một cách bài bản để hoàn thiện hệ

thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện

hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo một số đề tài về kiểm soát nội

(2) Nguyễn Thanh Thủy (2017), Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Luận án tiến sĩ Học viện Tài chính

Từ nội dung luận án có thể lược khảo 4 vấn đề như sau:

Trang 15

Luận án đã hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận về HTKSNB, làm rõ hơn lý luận về HTKSNB trong các TĐKT Nhà nước, nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện HTKSNB của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) theo 5 yếu tố cấu thành là: MTKS; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát kiểm soát, theo đó luận án đã nghiên cứu chỉ rõ hoạt động kiểm soát đối với những rủi ro trọng yếu có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của TĐKT Nhà nước nói chung và rủi ro đối với Tập Đoàn điện lực Việt Nam nói riêng, tuy nhiên luận án chưa nghiên cứu đầy đủ về tất cả các yếu tố HTKSNB hướng đến quản trị rủi ro, ví dụ như chưa nghiên cứu về MTKS hướng đến quản trị rủi ro, trong đó có văn hóa quản trị rủi ro…

(3) Ngô Thế Chi và Phạm Tiến Hưng (2013), Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ các tập đoàn kinh tế Nhà nước trong quá trình kiểm toán do Kiểm toán Nhà nước tiến hành”, Đề tài khoa học

Đề tài đã khái quát hóa những vấn đề lý luận về đặc điểm Tập đoàn kinh tế (TĐKT) Nhà nước và HTKSNB của TĐKT Nhà nước, tiếp cận từ góc độ đánh giá HTKSNB để phục vụ hoạt động kiểm toán khi thực hiện quá trình kiểm toán tại các TĐKT Nhà nước Việc nghiên cứu HTKSNB được trình bày trong đề tài chỉ làm cơ sở xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, tiêu chí nghiên cứu và đánh giá HTKSNB của các TĐKT Nhà nước cũng như xây dựng quy trình nghiên cứu và đánh giá HTKSNB của các TĐKT Nhà nước mà không đi sâu nghiên cứu việc thiết lập và vận hành KSNB nhằm đối phó với các rủi ro của DN

(4) Lê Đoàn Minh Đức, Hà Hữu Phước, Nguyễn Cao Ngọc Thảo (2016), Khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ quan hành chính, Diễn đàn khoa họcTài chính

Bài viết đã nghiên cứu những hướng dẫn của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) cho khu vực công, bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu hợp lý để nhận diện một cách có hệ thống

về KSNB trong các cơ quan hành chính thông qua việc tiến hành gửi bảng khảo sát và tham khảo các tài liệu được các cơ quan công bố Kết quả là các thành phần trong hệ thống KSNB cũng đang tồn tại trong cơ chế hoạt động tại các cơ quan hành chính nhưng chưa được hệ thống lại, cũng như chưa được ban hành bằng văn bản cụ thể

Trang 16

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu Archival Research (Malcolm Smith, 2003) để nghiên cứu văn bản pháp luật, quy chế tại các đơn vị, báo cáo được công khai Phương pháp khảo sát, tham khảo ý kiến chuyên gia và thống kê mô tả kết quả khảo sát cũng được bài viết nghiên cứu sử dụng Dữ liệu là các báo cáo được công khai của cơ quan hành chính năm 2014-2016 Bảng khảo sát gồm 43 câu hỏi, được gửi đến những người làm tại các cơ hành chính trong tỉnh Bình Dương Số mẫu gửi đi 120

Số mẫu nhận về: 120 Số mẫu không bị lỗi: 117

Trên cơ sở đó, bài viết có những đánh giá khái quát và đưa ra những kiến nghị mang tính định hướng góp phần cho công việc tại các cơ quan hành chính có sự phối hợp, hoạt động hiệu quả, hữu hiệu và có kỷ cương; sử dụng hiệu quả và bảo vệ các nguồn lực; góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ nhà nước giao và tuân thủ đúng quy định quản lý tài chính

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng để làm rõ ưu điểm, nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội

bộ tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm kỹ thuật tiêu

chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm kỹ thuật tiêu

chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 17

+ Về không gian: Đề tài được thực hiện tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

+ Về thời gian:

Số liệu nghiên cứu của đề tài được thu thập từ các báo cáo tình hình hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai giai đoạn từ năm 2016 - 2018 và đề xuất giải pháp hoàn thiện KSNB tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai trong tương lai

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm đáp ứng mục tiêu của

đề tài, cụ thể như sau:

- Phương pháp thu thập, phân tích, phân loại và tổng hợp các tài liệu liên quan đến KSNB để hệ thống lý luận về KSNB

- Phương pháp quan sát áp dụng đối với quy trình làm việc thực tế tại đơn vị và phương pháp phỏng vấn, khảo sát, thống kê đối với các đối tượng liên quan đến công tác KSNB để có được thông tin về thực trạng của hệ thống KSNB tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

- Phương pháp so sánh, tổng hợp kết hợp phân tích và suy luận nhằm đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường

chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa về mặt khoa học: Luận văn đã làm sáng tỏ thêm và đưa ra những luận

chứng mới về cơ sở lý luận, nội dung, vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung

tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

-Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ đưa một cái nhìn tổng quát về một

số nội dung của hoạt động kiểm soát nội bộ tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường

chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

Kết quả nghiên cứu này các đơn vị và tổ chức khác có thể vận dụng để làm tốt công tác kiểm soát nội bộ trong điều kiện tương tự đồng thời xây dựng cho tổ chức mình những chính sách phù hợp nhằm cải thiện công tác kiểm soát nội bộ nhằm hoàn

Trang 18

7 Kết cấu luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, các danh mục tài liệu và phụ lục, luận văn được kết cấu theo 3 chương sau:

Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực Công

Chương 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm kỹ thuật

tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG

KHU VỰC CÔNG 1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển hệ thống KSNB trong khu vực công 1.1.1 Giai đoạn sơ khai

Từ những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà kiểm toán viên đã dần quan tâm đến kiểm soát nội bộ khi họ nhận thức được rằng không cần thiết phải kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà chỉ cần họ chọn mẫu để kiểm tra dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán Tuy nhiên, vào thời điểm này, khái niệm kiểm soát nội bộ chỉ được nhắc đến như là một công cụ bảo vệ tiền khỏi sự biển thủ của nhân viên

Năm 1936, trong một công bố của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA-American Institute of Certified Accountants), khái niệm này đã được mở rộng: Kiểm soát nội bộ là “… các biện pháp và cách thức được chấp nhậnvà được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách”

1.1.2 Giai đoạn hình thành

Năm 1949, Hiệp hội kếtoán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) công bốcông trình nghiên cứu với nhan đề “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầmquan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập” Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là “…cơ cấu tổ chức vàcác biện pháp, cách thực hiện liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”

Năm 1958, Ủy ban thủtục kiểm toán (CAP–Committee on AuditingProcedure) trực thuộc AICPA ban hành Báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 (SAP-Stantement on Auditing Procedure) về phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểmtoán viên độc lập, trong đó lần đầu tiên phân biệt kiểm soát nội bộ về quản lý và kiểm soát nội bộ về kế toán;

Năm 1962, CAP tiếp tục ban hành Báo cáo về thủ tục kiểm toán 33 (SAP) nhằm làm rõ khái niệm về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý;

Trang 20

Năm 1972, CAP tiếp tục ban hành Báo cáo về thủ tục kiểm toán 54 (SAP54)

“Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ”, trong đó đưa ra tuyên bố thủ tục kiểm soát

kế toán đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê Năm 1973, AICPA ban hành chuẩn mực kiểm toán 1 (SAS-Statement on Auditing Standard) duyệt xét lại SAP 54 và đưa ra các định nghĩa về kiểm soát quản lý nghiệp kiểm toán đối với các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ

1.1.3 Giai đoạn phát triển

Đặc biệt vào năm 1977, khái niệm kiểm soát xuất hiện trong một văn bản Luật – Luật về phòng chống nước ngoài Trong đó nhấn mạnh vai trò của kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp Luật này ra đời xuất phát từ việc ngày càng có nhiều vụ gian lận gây tổn thất cho nền kinh tế, đáng kể là vụ tai tiếng chính chị Watergate Theo đó, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đưa ra bắt buộc đòi hỏi các công ty phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở đơn vị mình cho công chúng Yêu cầu này gây ra làn sóng phản đối đòi hỏi phải có các tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ Vì thế, Ủy ban COSO thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên báo cáo tài chính được thành lập năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp:

- Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA);

- Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA-American Accounting Association);

- Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI-Financial Executies Institute)

- Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA-Instiute of Management Accountants) Năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo Báo cáo COSO năm 1992 là tàiliệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ

và có hệ thống COSO đã định nghĩa đầy đủ về Kiểm soát nội bộ và dùng từ Kiểm soát nội bộ thay vì kiểm soát nội bộ kế toán Báo cáo COSO năm1992 đưa ra 5 bộ phận của kiểm soát nội bộ bao gồm:

- Môi trường kiểm soát;

- Đánh giá rủi ro;

- Hoạt động kiểm soát;

- Thông tin và truyền thông;

- Giám sát;

Trang 21

1.1.4 Giai đoạn hiện đại

Sau báo cáo COSO 1992, hàng loạt các nghiên cứu phát triển về kiểm soát nội bộ trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời:

- Phát triển theo hướng công nghệ thông tin

Năm 1996, Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin ban hành bản tiêu chuẩn “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan”(CoBIT–Control Objectives for Information and Related Technology) nhấn mạnh đến việc kiểm soát trong môi trường tin học

- Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể

Năm 1998, Báo cáo Basel của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đưa ra công bố

về khuôn khổ kiểm soát nội bộ trong ngân hàng (Framework for Internal Control System in Banking Organisations)

- Phát triển về phía quản trị

Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM –Enterprise Risk Management Framework) trên cơ sở Báo cáo COSO 1992 Năm 2004, ERM chính thức được ban hành bổ sung thêm 3 yếu tố của Kiểm soát nội bộ, theo đó, ERM được định nghĩa gồm 8 yếu tố:

+ Môi trường nội bộ;

+ Thiết lập mục tiêu;

+ Nhận diện sự kiện;

+ Đánh giá rủi ro;

+ Đối phó rủi ro;

+ Hoạt động kiểm soát;

+ Thông tin truyền thông;

+ Giám sát

- Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ

Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “Kiểm soát nội bộ đốivới báo cáo tài chính – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (gọi tắtlà COSO Guidance 2006) Hướng dẫn này vẫn dựa trên nền tảng của báo cáo COSO năm

1992 và giải thích về cách thức áp dụng kiểm soát nội bộ trong các công ty đại chúng quy mô nhỏ

Trang 22

- Phát triển về giám sát hệ thống Kiểm soát nội bộ

Năm 2008, COSO cũng đã đưa ra Dự thảo Hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm giúp các tổ chức giám sát chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ Hướng dẫn này (COSO Guidance 2008) gồm 3 phần:

+ Hướng dẫn;

+ Ứng dụng;

+ Thí dụ

Năm 2009, phần 1 – Hướng dẫn đã chính thức được ban hành

Ở khu vực công, Kiểm soát nội bộ cũng rất được quan tâm với một số các nghiên cứu như: Hướng dẫn về Kiểm soát nội bộ của Tổ chức Quốc tế các cơ quankiểm toán tối cao (International Organization of Supreme Audit Institutions – INTOSAI) ban hành năm 1992, Chuẩn mực vềKiểm soát nội bộtrong chính quyền liên bang của Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ (Government AccountabilityOffice –GAO) được ban hành năm 1999 nhằm đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về Kiểm soát nội bộ trong các đơn vị thuộc khu vực công

Năm 1992, bản hướng dẫn về chuẩn mực Kiểm soát nội bộ của INTOSAI đã hình thành tài liệu cập nhật đến việc nâng cấp các chuẩn mực Kiểm soát nội bộ đã hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá Kiểm soát nội bộ

Năm 2013, mặc dù chưa có văn bản hướng dẫn của INTOSAI nhưng trong INTOSAI 2013 vẫn dựa trên nền tảng của INTOSAI 1992 và vận dụng 17 nguyên tắc công bố trong báo cáo COSO 2013

Trong năm 2016, trong Đại hội XXII INTOSAI, tiêu chuẩn mới đã được thông qua và Quốc hội đã thông qua đổi mới quan trọng trong việc thiết lập tiêu chuẩn INTOSAI, đây là một dự án nhằm hoàn thiện khuôn khổ ISSAI Khung tuyên bố chuyên nghiệp của INTOSAI (IFPP) “INTOSAI Framework of Professiolal Pronouncements (IFPP)” Cấu trúc gồm 3 phần sau:

+ Nguyên tắc INTOSAI (INTOSAI –P);

+ Tiêu chuẩn quốc tế của các tổ chức kiểm toán tối cao (ISSAIS); và Hướng dẫn INTOSAI (GUID)

+ Các dự án sửa đổi sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2019, và được dự kiến vào Đại hội XXIII INTOSAI phê duyệt khung mới

Trang 23

Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI là tài liệu tích hợp các lý luận chung về Kiểm soát nội bộ của Báo cáo COSO Nó ban hành đầu tiên vào năm 1992 (INTOSAI 1992) và cập nhật năm 2001, công bố năm 2004 (INTOSAI 2004)

1.2 Định nghĩa và mục tiêu của hệ thống KSNB

1.2.1 Theo INTOSAI 1992

Tài liệu hướng dẫn của INTOSAI (1992) khái niệm kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau: “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu của tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”

Trong đó, mục tiêu của tổ chức bao gồm:

- Thúc đẩy các hoạt động của đơn vị diễn ra có trình tự, đạt được tính hữu hiệu

và hiệu quả nhằm cung cấp các dịch vụ có chất lượng phù hợp với nhiệm vụ đơn vị;

- Bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên tránh thất thoát, lãng phí, tham ô và sử dụng sai mục đích;

- Tôn trọng pháp luật có liên quan;

- Thiết lập và báo cáo các thông tin quản lý và thông tin tài chính đáng tin cậy và đảm bảo tính kịp thời

1.2.2 Theo INTOSAI 2004

Theo INTOSAI (2004): “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện

bởi nhà quản lý và các cá nhân trong đơn vị, quá trình này được thiết lập để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ chung của tổ chức” So với định nghĩa của báo cáo COSO và hướng dẫn

năm 1992, khía cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh thêm, đó chính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như ngăn chặn và phát hiện sự gian trá, tham nhũng trong khu vực công Do ở khu vực hành chính công hầu hết các tổ chức, đơn vị đều hoạt động bằng ngân sách Nhà nước Do đó, để đảm bảo ngân sách, tài sản Nhà nước được sử dụng đúng mục đích, tránh thất thoát, lãng phí cần thiết phải có một hệ thống quản lý, kiểm soát chặt chẽ

Mục tiêu: Ở khu vực công, mục tiêu của một đơn vị/tổ chức thường liên quan

đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng Bao gồm các mục tiêu:

- Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế,

Trang 24

- Thực hiện đúng trách nhiệm, cung cấp và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính phù hợp, kịp thời cho các đối tượng bên trong, bên ngoài đơn vị

- Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định;

- Bảo vệ các nguồn lực, chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất

- Mục tiêu của tài liệu này là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực công Vì vậy, các nhà lãnh đạo của Chính phủ rất quan tâm đến tài liệu này và xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và giám sát KSNB trong tổ chức

1.2.3 Theo INTOSAI 2013

Hướng dẫn của INTOSAI (2013): “Kiểm soát nội bộ giống như hướng dẫn của INTOSAI (2004), tuy nhiên các nguyên tắc cơ bản Kiểm toán đã được phê duyệt và đã tạo thành “cấp 3” của khung hiện hành”

Về mục tiêu của báo cáo INTOSAI có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức

Một số vấn đề được bổ sung trong INTOSAI năm 2013:

- Các nguyên tắc: nguyên tắc phân công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn; KSNB theo quy định của khuôn mẫu, nguyên tắc kết nối

- Hướng dẫn cụ thể KSNB trong môi trường tin học

- Các phương pháp KSNB: Sự phân chia nhiệm vụ, lưu dữ liệu, giám sát hoặc theo dõi, xử lý thông tin, xét duyệt giao dịch, soát xét của ban lãnh đạo, an ninh điện

tử, bảo vệ vật chất

- Mục tiêu báo cáo có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận Từ đó, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức

Trang 25

INTOSAI GOV 9100 định nghĩa: “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức

Kiểm soát nội bộ là một quá trình Kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay tình huống, mà là một loạt những hành động xảy ra trong suốt hoạt động của một thực thể trên cơ sở liên tục Nó được thực hiện bởi các quy trình quản lý nhân sự cơ bản như: Lập kế hoạch, thực hiện và giám sát Theo đuổi nhiệm vụ của tổ chức Bất kỳ

tổ chức nào cũng chủ yếu quan tâm đến việc hoàn thành nhiệm vụ của mình Các thực thể tồn tại cho một mục đích khu vực công nói chung liên quan đến việc cung cấp một dịch vụ và một kết quả có lợi ích công cộng

Để giải quyết các rủi ro; Bất kể nhiệm vụ có thể là gì, thành quả của nó sẽ đối mặt với tất cả các loại rủi ro Nhiệm vụ quản lý là xác định và đáp ứng những rủi ro này để tối đa hóa khả năng đạt được sứ mệnh của tổ chức Kiểm soát nội bộ có thể giúp giải quyết những rủi ro này, tuy nhiên nó chỉ có thể đảm bảo hợp lý về thành tích của sứ mệnh và mục tiêu chung

Cung cấp sự đảm bảo hợp lý: Dù được thiết kế và vận hành tốt như thế nào, kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo sự quản lý tuyệt đối về việc đạt được các mục tiêu chung Thay vào đó, các hướng dẫn thừa nhận rằng chỉ có thể đạt được mức độ đảm bảo “đáng tin cậy” Sự đảm bảo hợp lý tương ứng với mức độ tự tin thỏa đáng theo các cân nhắc về chi phí, lợi ích và rủi ro Sự đảm bảo hợp lý phản ánh quan niệm rằng sự không chắc chắn và rủi ro liên quan đến tương lai, mà không ai có thể tiên đoán một cách chắc chắn Sự đảm bảo hợp lý nhận ra rằng chi phí kiểm soát nội bộ không được vượt quá lợi ích thu được Các quyết định về phản hồi rủi ro và kiểm soát cơ sở phải xem xét các chi phí và lợi ích tương đối

Mục tiêu chung: Thực hiện các hoạt động có trật tự, đạo đức, kinh tế và hiệu quả: Hoạt động của đơn vị phải có sự trật tự, có đạo đức, tiết kiệm, hiệu quả.Trật tự có nghĩa là một cách có tổ chức, có phương pháp Đạo đức liên quan đến các nguyên tắc luân lý, tầm quan trọng của hành vi đạo đức, phòng ngừa và phát hiện gian lận, tham nhũng trong khu vực công Kỳ vọng là công chức phải phục vụ lợi ích công cộng bằng

sự công bằng và quản lý tài nguyên công đúng Công dân nên được đối xử công bằng

Trang 26

và củng cố niềm tin của công chúng và là một yếu tố chính trong quản trị tốt Kinh tế

có nghĩa là không lãng phí hoặc lãng phí Nó có nghĩa là nhận đúng nguồn lực, chất lượng đúng, được giao đúng thời hạn và địa điểm với chi phí thấp nhất Hiệu quả đề cập đến mối quan hệ giữa các nguồn lực được sử dụng và kết quả đầu ra được sản xuất

để đạt được các mục tiêu

Hoàn thành các nghĩa vụ về trách nhiệm: Trách nhiệm giải trình là quá trình mà các tổ chức dịch vụ công và cá nhân trong họ chịu trách nhiệm về các quyết định và hành động của mình, bao gồm cả việc quản lý quỹ công cộng, sự công bằng và tất cả các khía cạnh của hoạt động Điều này sẽ được thực hiện thông qua việc phát triển, duy trì và cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan đáng tin cậy và có liên quan thông qua các báo cáo kịp thời cho các bên liên quan cũng như bên ngoài Tuân thủ luật pháp và các quy định: Các tổ chức phải tuân theo nhiều luật và quy định Trong các luật và quy định của tổ chức công quy định việc thu và chi tiền công

và cách thức hoạt động Ví dụ như Luật ngân sách, các điều ước quốc tế, luật về quản

lý hợp lý, tiêu chuẩn kế toán, bảo vệ môi trường và luật đan quyền các quy định về thuế thu nhập và chống gian lận và tham nhũng Bảo vệ tài nguyên chống mất mát, sử dụng sai và thiệt hại do lãng phí, lạm dụng, quản lý kém, sai sót, gian lận và bất thường

1.3 So sánh INTOSAI 1992, 2004, 2013, 2016

1.3.1 Điểm giống nhau

INTOSAI 1992, INTOSAI 2004, INTOSAI 2013, INTOSAI 2016 có những điểm chung như sau: Đều xác định kiểm soát nội bộ là một quá trình không thể thiếu của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu về: Tính hữu hiệu, hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị; Tôn trọng pháp luật và các quy định có liên quan; Thiết lập và báo cáo thông tin quản lý và thông tin tài chính đáng tin cậy, đảm bảo tính kịp thời; Bảo vệ nguồn lực không thất thoát và sử dụng sai mục đích Hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 5

bộ phận cấu thành:

- Môi trường kiểm soát;

- Đánh giá rủi ro;

- Hoạt động kiểm soát;

- Thông tin truyền thông;

- Giám sát

Trang 27

1.3.2 Sự khác nhau

Đối với mục tiêu hoạt động: INTOSAI 2004 đã thêm vào yếu tố đạo đức khi thực hiện các hoạt động của đơn vị so với INTOSAI 1992 Đối với mục tiêu báo cáo: INTOSAI 2004 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc báo cáo các thông tin phi tài chính

so với INTOSAI 1992 INTOSAI 2013 tương tự như hướng dẫn của INTOSAI 2004 tuy nhiên về mục tiêu của báo cáo thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, các nguyên tắc cơ bản kiểm toán đã được phê duyệt

INTOSAI 2016 theo dự án sửa đổi, các khuôn khổ mới được cấu tạo thành 3 phần: Nguyên tắc INTOSAI (INTOSAI-P); Tiêu chuẩn Quốc tế của các tổ chức Kiểm toán tối cao (ISSAIs); và Hướng dẫn INTOSAI (GUID)

INTOSAI 2016, tiêu chuẩn mới đây là nội dung chính của một dự án hoàn thiện khuôn khổ ISSAI nhằm cải thiện độ tin cậy của những tuyên bố chuyên nghiệp của INTOSAI, hỗ trợ trong việc đưa ra một khuôn khổ thẩm quyền và nâng cao chất lượng đối với kiểm toán khu vực công

1.4 Các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB trong khu vực công

Dựa trên sự hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI đưa ra 5 yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ

1.4.1 Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ

Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát bao gồm:

- Sự trung thực và các giá trị đạo đức;

- Tư duy quản lý và phong cách điều hành của các cấp lãnh đạo;

- Năng lực của đội ngũ nhân viên trong tổ chức;

- Cơ cấu tổ chức và quyền hạn, trách nhiệm của các bộ phận trong cơ cấu đó;

- Chính sách nguồn nhân lực

1.4.1.1 Tính chính trực và các giá trị đạo đức

- Tính chính trực và các giá trị đạo đức là nhân tố quan trọng của môi trường kiểm soát, tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của kiểm soát nội bộ Nó chính là văn hóa của tổ chức, là những quy tắc ứng xử, những hành vi

Trang 28

lý trước tiên phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các điều lệ, các quy định về cách ứng xử của CBCC và cần phổ biến những quy định này đến mọi thành viên bằng các thể thức thích hợp

- Ngoài ra, các đơn vị thuộc khu vực công còn phải cho công chúng thấy được tinh thần nhân văn và giá trị đạo đức trong nhiệm vụ và sứ mạng của mình

1.4.1.2 Tư duy quản lý và phong cách điều hành của cấp lãnh đạo

Triết lý quản lý và phong cách điều hành thể hiện thông qua thái độ, quan điểm của cấp quản lý đối với hoạt động của đơn vị Sự khác biệt về triết lý quản lý và phong cách điều hành của các cấp quản lý có thể ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị Nếu cấp quản lý của đơn vị ý thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ thì các thành viên còn lại có thể cảm nhận được điều đó thông qua hành động, thái độ của nhà quản lý và sẽ theo đó

mà tận tâm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ; ngược lại, nếu các thành viên trong đơn vị cảm thấy rằng kiểm soát nội bộ không phải là mối quan tâm hàng đầu của nhà quản lý thì điều đó đồng nghĩa với việc mục tiêu kiểm soát của đơn vị có thể sẽ không đạt được một cách hữu hiệu

1.4.1.3 Năng lực đội ngũ nhân viên trong tổ chức

Đảm bảo về năng lực là đảm bảo cho các nhân viên trong tổ chức có được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ Muốn vậy, cấp quản lý cần xác định rõ yêu cầu về năng lực cho một công việc nhất định và cụ thể hóa nó thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng để cá nhân có thể được bố trí công việc thích hợp Ngoài ra, cấp quản lý cần nâng cao nhận thức cho các cá nhân giúp họ hiểu được tầm quan trọng của mình trong việc vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hữu hiệu, từ đó, có kế hoạch phát triển các kỹ năng đủ để xử lý các tình huống gặp phải

1.4.1.4 Cơ cấu tổ chức và quyền hạn, trách nhiệm của các bộ phận trong cơ cấu

Cơ cấu tổ chức là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được mục tiêu Một cơ cấu phù hợp sẽ là cơ

sở để lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động Ngược lại, khi thiết kế không đúng, cơ cấu tổ chức có thể làm cho các thủ tục kiểm soát mất tác dụng

Để thiết kế một cơ cấu tổ chức hiệu quả phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Trang 29

- Thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động; không bỏ sót lĩnh vực nào đồng thời không có sự chồng chéo giữa các bộ phận

- Thực hiện sự phân chia 3 chức năng: Xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ sách, bảo quản tài sản

- Bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận

Cơ cấu tổ chức thường được mô tả thông qua sơ đồ tổ chức, trong đó phải xác định được các vị trí then chốt với quyền hạn, trách nhiệm và các thể thức báo cáo cho phù hợp Ngoài ra, cơ cấu cần phù hợp với quy mô và đặc thù hoạt động của đơn vị Phân chia trách nhiệm và quyền hạn được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức Nó cụ thể hóa về quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong các hoạt động của đơn vị, giúp cho mỗi thành viên hiểu rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến người khác trong việc hoàn thành mục tiêu Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hóa bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với nhau

Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thông qua việc tác động đến các nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và giá trị đạo đức…

1.4.2 Đánh giá rủi ro

Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng và phân tích những sự kiện tạo nên rủi ro ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu của đơn vị, qua đó, xác định các biện pháp thích hợp để đối phó rủi ro Quá trình này có thể bao gồm các bước:

1.4.2.1 Nhận dạng rủi ro

Hoạt động của một đơn vị có thể gặp rủi ro do sự xuất hiện những nhân tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố bên trong như sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức nghề nghiệp, năng lực CBCC thấp, thiếu sự giám sát của các cấp lãnh

Trang 30

khoa học công nghệ Nhận diện rủi ro là việc nhận thức về thời điểm, mức độ một sự kiện hay hoạt động sẽ xảy ra gây ảnh hưởng tiêu cực đến đơn vị

Một khi đơn vị nhận diện được các yếu tố rủi ro trong hoạt động của mình thì nguy cơ không đạt được mục tiêu giảm đi đáng kể Do đó, nhận dạng rủi ro phải được thực hiện liên tục, lặp đi lặp lại để tránh bị thiệt hại do những tác động từ bên trong lẫn bên ngoài

1.4.2.2 Đánh giá rủi ro

Đánh giá rủi ro là việc xác định những ảnh hưởng có thể có của một sự kiện hay một hoạt động đối với hoạt động của đơn vị Trên thực tế không thể loại bỏ hết tất cả rủi ro mà chỉ giới hạn rủi ro xảy ra ở mức độ chấp nhận được Để làm được điều này, cấp quản lý trước hết cần đánh giá:

- Khả năng rủi ro có thể xảy ra

- Mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến mục tiêu của đơn vị

- Nếu rủi ro ảnh hưởng không đáng kể đến đơn vị và ít có khả năng xảy ra thì không cần phải quan tâm nhiều Ngược lại, một rủi ro có ảnh hưởng trọng yếu với khả năng xảy ra cao thì đơn vị cần tập trung chú ý Những tình huống nằm giữa hai thái cực này thường gây khó khăn cho việc đánh giá, do vậy, đơn vị cần phân tích hợp lý

và cẩn thận Đơn vị có thể sử dụng phương pháp định tính, định lượng hoặc kết hợp cả hai để đánh giá mực độ thiệt hai do rủi ro gây ra

1.4.2.3 Đối phó rủi ro

- Một khi đã đánh giá tầm quan trọng và khả năng xảy ra rủi ro, cấp quản lý cần đưa ra các biện pháp thích hợp để đối phó với rủi ro, điều này bao gồm việc xem xét những giả định về rủi ro và sự phân tích hợp lý về những chi phí phải bỏ ra để giảm rủi

ro Thông thường, có bốn biện pháp đối phó với rủi ro, Đó là: Tránh né rủi ro, giảm thiểu rủi ro, chia sẻ rủi ro và chấp nhận rủi ro Tuy nhiên, dù lựa chọn biện pháp nào thì nhà quản lý cần cân nhắc giữa chi phí bỏ ra để đối phó rủi ro với lợi ích mà nó đem lại

- Thêm vào đó, các điều kiện về kinh tế, xã hội, chế độ chính sách, khoa học công nghệ thay đổi liên tục làm cho rủi ro cũng thay đổi theo, do đó việc đánh giá rủi

ro nên thường xuyên xem xét lại và điều chỉnh cho phù hợp từng giai đoạn, thời kỳ

Trang 31

1.4.3 Hoạt động kiểm soát

Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đối phó với rủi ro và tạo điều kiện cho các mục tiêu đề ra được thực thi nghiêm túc, hiệu quả trong toàn đơn vị Hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận và mọi cấp độ tổ chức trong một đơn vị Có các loại hoạt động kiểm soát như sau:

1.4.3.1 Xét theo mục đích của hoạt động kiểm soát

Hoạt động kiểm soát bao gồm kiểm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát bù đắp:

- Kiểm soát phòng ngừa: là những chính sách và thủ tục kiểm soát được đưa ra nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót hoặc gian lận, ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu của đơn vị

- Kiểm soát phát hiện: là những chính sách và thủ tục kiểm soát được đưa ra nhằm phát hiện kịp thời những hành vi sai sót hoặc gian lận nào đó đã được thực hiện

- Kiểm soát bù đắp: là những thủ tục kiểm soát khác được đưa ra để thay thế những hoạt động kiểm soát yếu kém, không hiệu quả

1.4.3.2 Xét theo chức năng của hoạt động kiểm soát

Hoạt động kiểm soát bao gồm phân quyền và phê duyệt, phân chia trách nhiệm, kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ, kiểm soát vật chất, kiểm tra độc lập, phân tích rà soát

Phân quyền và phê duyệt: Việc thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi người được ủy quyền trong phạm vi quyền hạn của mình Ủy quyền đảm bảo rằng chỉ

có những nghiệp vụ hợp lệ, được phê duyệt bởi người quản lý mới được thực hiện Các thủ tục ủy quyền phải được tài liệu hóa và truyền đạt rõ ràng với các điều kiện, điều khoản cụ thể

Tuân thủ những quy định của sự ủy quyền đồng nghĩa với việc nhân viên hành động đúng theo hướng dẫn, trong giới hạn được người lãnh đạo và pháp luật cho phép Phân chia trách nhiệm: Phân chia trách nhiệm là không cho phép một cá nhân nào trong tổ chức được giải quyết mọi mặt của một nghiệp vụ từ khi nó bắt đầu cho đến khi nó kết thúc Khi đó, thông qua cơ cấu tổ chức, công việc của tất cả các cá nhân

sẽ được tự động kiểm soát chéo lẫn nhau Mục tiêu của thủ tục này là nhanh chóng phát hiện sai sót và giảm thiểu hành vi gian lận trong quá trình thực hiện

Trang 32

Tuy nhiên việc phân chia trách nhiệm có thể bị vô hiệu hóa do sự thông đồng giữa các cá nhân trong tổ chức Do vậy, nhà quản lý cần phải kiểm tra, đánh giá thường xuyên các hoạt động kiểm soát và mối quan hệ giữa các cá nhân thực hiện nhiệm vụ

Phân chia trách nhiệm đòi hỏi phải có sự tách biệt giữa các chức năng sau đây:

- Chức năng kế toán với chức năng bảo quản tài sản: Tức là không để cá nhân thực hiện việc ghi chép vào sổ sách kế toán kiêm luôn việc bảo quản các tài sản mình ghi chép Ví dụ như phải tách biệt giữa thủ quỹ và kế toán tiền mặt, thủ kho và kế toán hàng hóa

- Chức năng phê chuẩn nghiệp vụ với chức năng bảo quản tài sản: tức là người được giao nhiệm vụ phê chuẩn, cho phép thực hiện nghiệp vụ không được kiêm việc bảo quản tài sản vì nó tạo khả năng thâm lạm tài sản Ví dụ phải tách biệt người phê chuẩn việc mua sắm tài sản với người sử dụng tài sản

- Chức năng phê chuẩn nghiệp vụ và chức năng kế toán: tức là người được giao nhiệm vụ phê chuẩn không được kiêm việc thực hiện ghi chép trên sổ sách Ví dụ phải tách biệt người phê duyệt mua sắm tài sản với người thực hiện ghi sổ kế toán tài sản Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát nói chung Khi kiểm soát quá trình này đơn vị cần đảm bảo

hệ thống chứng từ, sổ sách phải được kiểm soát một cách chặt chẽ và các loại nghiệp

vụ phải được phê chuẩn một cách đúng đắn, hợp lý

Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển, việc kiểm soát quá trình xử lý thông tin được hỗ trợ ngày càng nhiều của các chương trình máy tính, phần mềm Vì vậy, người ta chia kiểm soát quá trình xử lý thông tin thành: kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng

- Kiểm soát chung: Là hoạt động kiểm soát áp dụng cho tất cả các hệ thống ứng dụng để đảm bảo cho các hệ thống này hoạt động liên tục và ổn định

- Kiểm soát ứng dụng: Là hoạt động kiểm soát áp dụng cho từng hệ thống cụ thể nhằm đảm bảo dữ liệu được nhập và xử lý một cách chính xác, đầy đủ cũng như phát hiện các dữ liệu không hợp lý hay chưa được xét duyệt của nhà quản lý

+ Kiểm soát vật chất Intosai nhấn mạnh mục tiêu sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, trong đó việc kiểm soát tài sản tránh hư hỏng, thất thoát hoặc sử dụng sai mục đích đồng thời phát huy có hiệu quả nguồn lực quan trọng từ tài sản nhà nước

Trang 33

Kiểm soát vật chất là hoạt động nhằm đảm bảo cho tài sản của đơn vị như tiền, máy móc, vật tư hay các chương trình phân mềm, hồ sơ dữ liệu được bảo vệ một cách chặt chẽ

+ Kiểm soát vật chất còn bao gồm cả việc định kỳ kiểm kê tài sản và đối chiếu với số liệu trên sổ sách Khi có bất kỳ sự chênh lệch nào phải tiến hành điều tra, xem xét nguyên nhân và đưa ra hướng xử lý một cách phù hợp nhằm đảm bảo cho sự tồn tại, chất lượng hay tình trạng của các tài sản phục vụ cho hoạt động của đơn vị được

ổn định

+ Kiểm tra độc lập: Kiểm tra độc lập là việc kiểm tra được tiến hành bởi các cá nhân (hoặc bộ phận) khác với cá nhân (hoặc bộ phận) đang thực hiện nghiệp vụ Yêu cầu quan trọng đối với những thành viên thực hiện kiểm tra là họ phải độc lập với đối tượng được kiểm tra để nâng cao tính khách quan trong quá trình thực hiện

+ Phân tích rà soát hoạt động này chính là xem xét lại những việc đã thực hiện bằng cách so sánh giữa các kết quả thực hiện với số liệu dự toán hay giữa các thông tin tài chính với thông tin phi tài chính nhằm phát hiện ra những biến động bất thường để nhà quản lý có biện pháp chấn chỉnh kịp thời

1.4.4 Thông tin và truyền thông

Thông tin và truyền thông là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì

và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ

Thông tin cần thiết cho mọi cấp của một tổ chức vì nó giúp cho việc đạt được các mục tiêu kiểm soát khác nhau Thông tin được cung cấp thông qua hệ thống thông tin

Do đó, hệ thống thông tin một khi được truyền đi phải đảm bảo chất lượng của thông tin là thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện

Truyền thông là thuộc tính của hệ thống thông tin Truyền thông là việc trao đổi

và truyền đạt các thông tin cần thiết tới các bên liên quan cả bên trong lẫn bên ngoài đơn vị Ở nội bộ đơn vị, các kênh thông tin từ trên xuống, từ dưới lên trên hay thông tin hàng ngang phải được thiết lập để đảm bảo rằng bất kỳ một cá nhân nào trong đơn

vị cũng hiểu rõ công việc của mình cũng như ảnh hưởng của nó đến việc đạt được các mục tiêu của đơn vị Ngoài ra, đơn vị còn phải có sự tương tác đối với các kênh thông tin bên ngoài, các thông tin bên ngoài phải được tiếp nhận một cách kịp thời, trung

Trang 34

thực và đầy đủ; các đối tượng bên ngoài khi làm việc với đơn vị cũng cần phải biết một số quy định của đơn vị nhằm giúp cho công việc được thông suốt, thuận tiện

- Giám sát định kỳ: thường chỉ được thực hiện định kỳ hay trong các tình huống đặc biệt thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên nội bộ hoặc do kiểm toán viên độc lập thực hiện

1.5 Lợi ích và hạn chế của hệ thống KSNB

1.5.1 Lợi ích

Hệ thống kiểm soát nội bộ là sự tích hợp một loạt hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp

lý Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ là:

- Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp nhà lãnh đạo tổ chức quản lý được vấn đề của

tổ chức, đảm bảo các hoạt động và mục tiêu của tổ chức cần đạt được

- Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp giảm bớt các rủi ro, đặc biệt là các rủi ro không đáng có

- Tạo môi trường kiểm soát trong sạch, lành mạnh, giúp nhà quản lý và nhân viên làm việc hiệu quả hơn

- Hệ thống kiểm soát nội bộ góp phần điều hòa hoạt động của tổ chức hợp lý theo mục tiêu của tổ chức, tối ưu các nguồn lực hiện có của tổ chức

1.5.2 Hạn chế

Trang 35

Hệ thống kiểm soát nội bộ được các nhà quản lý thiết kế để hoạt động của tổ chức là tốt nhất, vì vậy nó phụ thuộc vào ý chủ quan của nhà quản lý, đôi khi nó trở nên cứng nhắc hoặc hạn chế sự sáng tạo

Hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng không phù hợp với tình hình hoạt động của tổ chức, gây lãng phí

Hệ thống kiểm soát nội bộ xây dựng để hoạt động nhưng thực tế nhân viên không thực hiện một cách tuân thủ hoặc môi trường kiểm soát của tổ chức không hữu hiệu Các thủ tục kiểm soát không được duy trì một cách đều đặn

Hệ thống kiểm soát nội bộ xây dựng nhưng không bao quát được hết các rủi ro của tổ chức, đặc biệt là sai sót của nhân viên

Một hệ thống kiểm soát nội bộ dù có hoàn hảo đến đâu cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Hạn chế xuất phát từ yếu tố con người:

- Sự vô ý, bất cẩn trong ghi chép, nhập liệu gây sai sót trên sổ sách, báo cáo tài chính;

- Sự đánh giá, ước lượng sai các ước tính kế toán, chỉ tiêu tài chính ảnh hưởng đến các báo cáo của đơn vị;

- Sự buông lỏng, thiếu sót trong quản lý gây thất thoát tài sản;

- Hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp dưới gây khó khăn cho quá trình thực hiện

Hạn chế xuất phát từ sự thông đồng, lạm quyền:

- Kiểm soát nội bộ khó ngăn cản được sai sót và gian lận nếu nó xuất phát từ sự lạm quyền của nhà quản lý, họ có thể tìm cách bỏ qua một số thủ tục kiểm soát cần thiết từ đó tận dụng những lỗ hỏng của hệ thống kiểm soát để thực hiện các hành vi gian lận hoặc không tuân thủ

- Sự thông đồng của một trong các thành viên Ban lãnh đạo hay một nhân viên với người khác bên trong hoặc bên ngoài đơn vị để vụ lợi cho cá nhân, gây tổn hại đến tài sản hoặc uy tín của đơn vị

- Sự lạm dụng quyền hạn của các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát nhằm phục

vụ cho mưu đồ riêng làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của đơn vị

Trang 36

Hạn chế từ việc kiểm soát thường chỉ nhằm vào các nghiệp vụ thường xuyên phát sinh mà không chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó, những sai phạm trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua

Hạn chế từ yêu cầu của nhà quản lý là chi phí nhỏ hơn lợi ích: Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do sai sót hay gian lận gây ra

Hạn chế từ những thủ tục kiểm soát không còn phù hợp khi điều kiện hoạt động của đơn vị bị thay đổi

Chính những hạn chế nói trên là nguyên nhân khiến hệ thống kiểm soát nội bộ không đảm bảo tuyệt đối, mà chỉ có thể đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của mình

Trang 37

Tóm tắt chương 1

Chương 1 tác giả trình bày tổng quan chung về lý thuyết KSNB theo INTOSAI, trình bày chi tiết về hoạt động của một hệ thống KSNB có hiệu quả cần thực hiện tốt 5 yếu tố cấu thành là: Môi trường kiểm soát nội bộ; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã trình bày Lợi ích và hạn chế của hệ thống KSNB,

So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa INTOSAI 1992, INTOSAI 2004, INTOSAI

2013, INTOSAI 2016

Việc tìm hiểu những nội dung này sẽ là cơ sở vững chắc cho việc lý giải các vấn

đề được phân tích ở chương tiếp theo Chương tiếp theo sẽ trình bày thực trạng hệ thống KSNB tại trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TIÊU CHUẨN ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG - SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI

2.1 Giới thiệu tổng quan về Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng –

Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành, phát triển của trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng

2.1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của Trung tâm

Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (sau đây gọi tắt là Trung tâm) trực thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Đồng Nai, là đơn vị sự nghiệp công lập có thu, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập Trung tâm thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước

và các hoạt động dịch vụ kỹ thuật về tiêu chuẩn, đo lường, năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Chi cục và các dịch vụ khoa học và công nghệ khác theo quy định của pháp luật

- Tên giao dịch quốc tế: Dong Nai Technical Center of Standards Metrology and Quality

- Tên viết tắt: Trung tâm KTĐC Đồng Nai

phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn

a) Các nhiệm vụ phục vụ công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng (TĐC), gồm:

- Đề xuất, tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản quản lý khác về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

Trang 39

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dài hạn, kế hoạch 5 năm, hàng năm, về hoạt động sự nghiệp và dịch vụ kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Thực hiện công tác giám định chất lượng sản phẩm hàng hóa

- Thực hiện công tác giám định IC chương trình và bo mạch điện tử của cột đo xăng dầu phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra đo lường trong kinh doanh xăng dầu

- Thiết lập, duy trì, bảo quản và khai thác các chuẩn đo lường cao nhất tại địa phương

- Kiểm định, hiệu chuẩn các loại phương tiện đo, chuẩn đo lường trong lĩnh vực

và phạm vi được chỉ định; phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và các hoạt động công

vụ khác

- Thử nghiệm phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông trên thị trường trong phạm vi được chỉ định và các thử nghiệm công vụ khác

- Hướng dẫn xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng, đánh giá giám sát và hợp tác, liên kết các đơn vị chứng nhận phù hợp để tổ chức đánh giá phù hợp, chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn trong các lĩnh vực và phạm vi được phân công, chỉ định theo quy định của pháp luật

- Triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, các dự án thuộc lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; Tổ chức nghiên cứu, áp dụng, chuyển giao tiến

bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và năng suất

b) Các nhiệm vụ tư vấn, dịch vụ kỹ thuật về TĐC theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân, gồm:

- Tổ chức thực hiện các dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện

đo, chuẩn đo lường trong các lĩnh vực và phạm vi đã đăng ký theo nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh

- Tổ chức thực hiện dịch vụ lắp ráp, sửa chữa và cung cấp các loại phương tiện

đo

- Tổ chức thực hiện thử nghiệm, kiểm nghiệm về chất lượng sản phẩm hàng hóa, chất lượng môi trường, vật liệu xây dựng và chứng nhận sự phù hợp chất lượng công

Trang 40

trình xây dựng cho các cá nhân, tổ chức trong và ngoài tỉnh theo đúng quy định của pháp luật

- Tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ tư vấn về đầu tư, trang bị và quản lý phòng đo lường, thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tư vấn áp dụng các công

cụ quản lý chất lượng; tư vấn xây dựng hệ thống bảo đảm về đo lường; dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng và sửa chữa các phương tiện đo, thiết bị thử nghiệm, thiết bị kỹ thuật;

- Thực hiện dịch vụ hỏi đáp về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và hàng rào kỹ thuật trong thương mại

- Tư vấn, xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, công bố tiêu chuẩn áp dụng, hợp chuẩn, hợp quy cho các tổ chức, cá nhân

- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN trong lĩnh vực TĐC sản phẩm, hàng hóa;

Ngày đăng: 16/08/2020, 11:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm