góp phần tạo nên những biến đổi lớn lao trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò to lớn của pháp luật trong việc mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, hộ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
** C ỉ s Ị s / O H <
-H À V IỆ T -H Ư N G
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT
TRONG VIỆC MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KINH TẾ Đ ố i NGOẠI
ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ KINH TÊ Đ ố i NGOẠI VÀ
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC MỞ RỘNG VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ Đ ố i NGOẠI Ở VIỆT NAM
Một số vấn đề lý luận về kinh tế đối ngoại
Vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu
quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam
THỰC TRẠNG VỂ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG
VIỆC MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẼ Đ ố i
NGOẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Thực trạng vai trò của pháp luật trong việc mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay
Thực trạng vai trò của pháp luật trong việc nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay
TẢNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC
MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ Đ ố i
NGOẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Sự cần thiết phải đổi mới pháp luật trong việc mở rộng và
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay
Hoàn thiện các qui định pháp luật trong một số ngành luật cơ
bản có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực kinh tế đối ngoại ở
nước ta hiện nay
Tăng cường các biện pháp đưa pháp luật trong lĩnh vực kinh
tế đối ngoại vào thực tiễn đời sống kinh tế xã hội
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu khách quan mà tất cả các quốc gia đều phải tham gia vì sự phát triển của chính mình Thực hiện đường lối đổi mới và chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, trong những năm qua Việt Nam đã tiến hành hội nhập nền kinh tế đất nước với nền kinh tế thế giới
và khu vực Quá trình này đã thu được những thành tựu quan trọng bước đầu góp phần vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi hơn để phát triển Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là chúng ta phải biết tận dụng các cơ hội, vượt qua các thử thách để xác định đúng bước đi và đưa ra lộ trình thích hợp cho việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Sau hơn 17 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), bình thường hoá quan hệ với Mỹ, thiết lập quan hệ chính thức với liên m inh Châu Âu (EU), tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) Trong những năm qua Việt Nam cũng gia tăng quan
hệ với Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
và chúng ta đang tích cực đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), dự kiến năm 2005 Việt Nam sẽ là thành viên chính thức của WTO Những thành tựu trên đây vừa thể hiện quá trình Việt Nam từng bước hội nhập vào đời sống của cộng đồng quốc tế vừa khẳng định vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế
Trong những thành tựu của đất nước, pháp luật nói chung và pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại nói riêng đã có những đóng góp quan trọng
Trang 5góp phần tạo nên những biến đổi lớn lao trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò to lớn của pháp luật trong việc mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, hội nhập quốc tế Thực tiễn trong thời gian qua, Nhà nước ta đã căn bản hình thành một hệ thống pháp luật mới, tạo lập được môi trường pháp lý khá thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước sang một giai đoạn mới của công việc đổi mới và phát triển theo định hướng của Đảng và Nhà nước ta
là "phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế khu vực và thế giới", với những cơ hội và thách thức mới trong phạm vi quốc gia và quốc tế thì hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại nói riêng đang đứng trước những đòi hỏi bức xúc cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu đặt
ra trong quá trình mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Vấn đề vai trò, các giá trị của pháp luật trong việc mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang nổi lên như một vấn
đề không chỉ mang tính lý luận thuần tuý mà còn mang tính thực tiễn, đòi hỏi phải được nghiên cứu góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại Do vậy, đề tài "Vai trò của pháp luật trong việc m ở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay" có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn cần được xác định nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn hiện nay
2 M ục đích và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn hướng tới mục tiêu hoàn thiện làm sáng tỏ các cơ sở lý luận
và thực tiễn khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật trong việc mở rộng và
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, qua đó đánh dấu thực trạng
Trang 6pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay để thấy rõ vai trò ngày càng tăng của pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và những bất cập của sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ kinh tế đối ngoại cần phải được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Trên cơ sở đó xây dựng những phương hướng giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu: Cơ sở lý luận của luận văn là lý ỉuận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật; Các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đổi mới đất nước mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện trong các nghị quyết đại hội VI, VII, VIII và các văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX và nghị quyết 07 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp so sánh và một số phương pháp khác
3 Giới hạn của luận văn
Đề tài luận văn là vấn đề rộng lớn và phức tạp, do vậy trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận Nhà nước và pháp luật, luận văn chỉ tập trung phân tích
m ột số nội dung cơ bản có tính chất khái quát lý luận về vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta, thực trạng vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta và trình bày những định hướng chung về hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay
Trang 74 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống
và tổng quát về vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ lý luận về Nhà nước và pháp luật Luận văn đã phân tích đánh giá một cách tương đối đầy đủ về hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay và khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam
Luận văn đã khái quát về mặt lý luận và thực tiễn vai trò cụ thể của pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại trong việc điều chỉnh xác lập địa vị pháp lý của các chủ thể trong hoạt động kinh tế đối ngoại, tạo lập cơ sở pháp
lý cho việc đảm bảo và khuyến khích thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giải quyết các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài, củng cố bảo vệ các quan hệ trong hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta Trên cơ sở đó đề xuất kiến nghị về các phương hướng hoàn thiện nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong việc mở rộng
và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay và trong tương lai
5 Ý nghĩa của luận văn
Thông qua kết quả nghiên cứu và kiến nghị của luận văn, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại ở Việt Nam
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với các chuyên gia pháp luật, các nhà nghiên cứu và giảng dạy pháp luật, các học viên sau đại học và sinh viên các trường luật
Trang 86 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn để lý luận về kinh tê đỏi ngoại và vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tẽ đối ngoại ả Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng về vai trò của pháp luật trong việc mở rộng
và nâng cao hiệu quả kinh tẽ đối ngoại ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Tăng cường vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ả Việt Nam hiện nay.
Trong quá trình viết luận văn, mặc dù tác giả đã có rất nhiều cố gắng, song bản luận văn này khó tránh khỏi những điểm hạn chế, thiếu sót, rất mong
có sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và đổng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 9Chương I NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ KINH TẾ Đ ố i NGOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KINH TẾ Đ ố i NGOẠI ở VIỆT NAM
1.1 Một sỗ vấn đề lý luận về kinh tê đối ngoại
1.1.1 Hoạt động kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hoá
Kinh tế đối ngoại lả: quan hệ kinh t ế của một quốc gia nhất định với các quốc gia khác trên th ế giới và với các tổ chức kinh t ế và tài chính trên th ế giới [54, tr 2]
Kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực kinh tế, tức là một bộ phận của toàn
bộ nền kinh tế mỗi quốc gia Khi một quốc gia thực hiện chính sách “mở cửa” nền kinh tế thì hầu như toàn bộ các lĩnh vực kinh tế đều tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại Quan hệ kinh tế đối ngoại của quốc gia đó đa dạng và phong phú Ngược lại khi một quốc gia thực hiện chính sách “đóng cửa” hoặc hạn chế theo mô hình nền kinh tế chỉ huy thì chỉ có một số ngành, lĩnh vực tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế đối ngoại
Các nhà chuyên môn cho rằng: kinh tế đối ngoại là tổng thể các mối quan hệ, các hoạt động về kinh tế, khoa học kỹ thuật và các dịch vụ nhằm thu ngoại tệ khác của một nước đối với nước ngoài (qua đó, mỗi nước có thể tham gia vào sự phân công, hợp tác lao động quốc tế và trao đổi mậu dịch quốc tế) Các nội dung chính của hoạt động kinh tế đối ngoại là:
- Toàn bộ nhũng hoạt động về hợp tác đầu tư với nước ngoài
- Các hoạt động ngoại thương xuất nhập khẩu
- Các hoạt động dịch vụ nhằm thu ngoại tệ mạnh mẽ như: Du lịch quốc tế;Bảo hiểm quốc tế; Vận tái quốc tế,
Trang 10- Toàn bộ các hoạt động hợp tác về khoa học kỹ thuật, chuyển giao khoahọc kỹ thuật-công nghệ với nước ngoài.
Mỗi hoạt động nói trên có đặc thù riêng nhưng liên quan hữu cơ với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng lực, có tác dụng thúc đẩy toàn bộ nền kinh
tế một quốc gia phát triển, nếu quốc gia đó có chính sách và tổ chức thực hiện hiệu quả các m ặt chủ yếu của kinh tế đối ngoại
Hoạt động kinh tế đối ngoại có những chức năng rất đặc thù Nó tham gia hiệu quả vào sự phân công lao động quốc tế và sự trao đổi mậu dịch quốc
tế Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, không ngừng tạo thêm việc làm mới tăng thêm các nguồn ngoại tệ Kinh tế đối ngoại là đối trọng tích cực có chức năng hỗ trợ, tương tác, làm hài hoà cân đối, đổng thời tạo sức hút, kích thích
sự phát triển của cả nền kinh tế quốc dân và những lĩnh vực liên quan đến kinh
tế hướng ngoại Tận dụng các lợi thế so sánh của từng nước để tập trung xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, tranh thủ các điều kiện hợp tác quốc tế sao cho các lĩnh vực sản xuất có thể đạt qui mô, phạm vi tối ưu, thúc đẩy các nhân
tố tăng trưởng cả chiều sâu và chiều rộng
Ngày nay, mỗi nước nhất là các nước mới phát triển đều chủ trương nâng cao chất lượng lao động nước mình, đưa sức lao động trong nước vào các
cơ quan tổ chức kinh tế của người nước ngoài đóng ở lãnh thổ mình (xuất khẩu lao động tại chỗ), bên cạnh hình thức xuất khẩu lao động sang các thị trường nước ngoài Ví dụ, vào đầu năm 2000, Trung Quốc có hơn 75 triệu người làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế trên lãnh thổ Trung Hoa
Trong lịch sử, có nhiều nước phát triển thành công bằng con đường kinh
tế đối ngoại và đương nhiên không nước nào có thể phát triển nếu thực hiện chính sách đóng cửa, bế quan toả cảng Lịch sử đã chứng minh ràng: mở cửa phát triển thương mại sẽ có dồi dào tri thức, phồn vinh thịnh vượng, ngược lại, đóng cửa cô lập, đố kỵ, nghi ngờ oán giận nhau thì kết cục là gặp nghèo hèn, đói khổ lạc hậu trì trệ Nhiều nước có đường biển, có nhiều hải cảng như Anh, Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha đã sớm biết tận dụng ưu thế của mình để tăng cường
Trang 11giao thương buôn bán, đẩy mạnh phát triển kinh tế Nhật Bản do sớm nhận thức được sự lạc hậu trong chính sách “đóng cửa” của mình, nên từ sau cách mạng Minh Trị (1868) đã mở cửa phát triển kinh tế đối ngoại, kết quả là vừa tránh được hoạ xâm lăng phương Tây, vừa nhanh chóng hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Một nước lớn như Mỹ cũng đặc biệt chú trọng kinh tế đối ngoại Chính sách kinh tế và kinh tế đối ngoại của Mỹ chủ yếu nhằm: Bảo đảm an ninh tầm xa-tầm gần để giữ vững lợi ích nước Mỹ, bảo vệ và ủng hộ doanh nhân Mỹ tăng cường đầu tư, mở rộng kinh doanh sang các nước khác để thúc đẩy lợi ích buôn bán của chính nước này M ột số nước
ở châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Xingapore đều có những chính sách, chiến lược ưu tiên kinh tế đối ngoại
Trên thực tế, các nước đều nhận thức được rằng tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhằm chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá Trong bối cảnh quốc tế hiện nay “xu hướng toàn cầu hoá diễn ra với tốc
độ nhanh và đa dạng hơn” [28, tr 45] Toàn cầu hoá được thể hiện qua một mạng lưới rất dày đặc các hoạt động kinh tế trên phạm vi quốc tế và các cơ cấu biểu hiện tính tuỳ thuộc lẫn nhau gia tăng Trào lưu này dựa trên quá trình
tự do hoá các chính sách kinh tế; dựa trên tiến bộ công nghệ khoa học kỹ thuật tăng nhanh trong các lĩnh vực giao thông vận tải, viễn thông, truyền thông, đồng thời dựa trên xu hướng quốc tế hoá ngày càng m ạnh mẽ trong các hoạt động doanh nghiệp Trào lưu toàn cầu hoá sẽ vẫn lan rộng trong nhiều năm tới dưới tác động đổng thời của cả hai quá trình Một là, việc tiếp tục tự do hoá thương mại dưới sự điều tiết của WTO cùng sự trao đổi vốn; hai là trong khi giá vận tải thì giảm, còn động cơ thúc đẩy tự do hoá và xã hội hoá, tư nhân hoá đổng thời với việc nhấn mạnh các quyền sở hữu trong nhiều lĩnh vực thì nhằm tăng sự độc đáo về các giá trị cá nhân Theo nhiều nhà phân tích, trong bối cảnh “buôn phải có bạn, bán phải có phường” thì nếu quốc gia kém phát triển, đơn phương độc mã, không có bạn hàng lâu dài, không có đối tác thực
sự với nền kinh tế yếu kém rất rễ bị tổn thương và dễ rơi vào nguy cơ trở thành vật hy sinh cho lợi ích của các nước khác Chính vì vậy “các nước đang
Trang 12phát triển dù rất khó khăn cũng tự mình buộc phải tham gia vào quá trình toàn cầu hoá nếu không muốn bị loại ra khỏi cuộc chơi” [45]
Chỉ lấy việc gia nhập WTO cũng đủ thấy tầm quan trọng của vấn đề
M ột nước khi gia nhập tổ chức này sẽ tránh được sự phân biệt đối xử của các nước cộng đồng quốc tế trong quan hệ thương mại, được hưởng các ưu đãi và miễn trừ theo qui định quốc tế của WTO, trong đó có điều kiện ưu đãi tối huệ quốc (MFN) và ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), hàng hoá của quốc gia đó mới có điều kiện đi vào thị trường rộng lớn và ít gặp trở ngại Nếu có hạn ngạch với các loại hàng hoá cạnh tranh mạnh thì vẫn được hưởng các ưu đãi của luật chơi chung như điều kiện thương mại dễ dàng, mức thuế thấp, hợp đồng lớn Mặt khác đối với các quốc gia mà trình độ khoa học kỹ thuật còn non yếu, khi gia nhập WTO sẽ tranh thủ được sự trợ giúp kỹ thuật, công nghệ, đào tạo nhân lực, đồng thời cũng là điều kiện cần để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm hơn khi đầu tư vào nước đó Vì vậy “W TO càng ngày càng thu hút nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển” [20,
- Trực tiếp tham gia vào quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, trên
cơ sở đó có thể tiếp thu kinh nghiệm thương mại quốc tế và khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
- Có điều kiện tốt hơn để tạo ra môi trường kinh tế, chính trị - xã hội thuận lợi cho sự phát triển của mình
- Có thêm các yếu tố mới có tính thời đại và quốc tế để có thể thúc đẩy nhanh các quá trình cải cách những lĩnh vực mũi nhọn trong nước nhằm
Trang 13phát triển quốc gia bền vững theo kịp tốc độ phát triển chung của cộng đồng quốc tế Phát triển kinh tế đối ngoại ngày nay còn phải tính toán đến đặc điểm toàn cầu hoá Như vậy, xu hướng toàn cầu hoá vừa là tất yếu, vừa là dòng chảy chính, nó thể hiện nhiều mặt, nhiều tầng nấc và nhiều yếu tố cấu trúc khác nhau, như mặt nền tảng vật chất kỹ thuật, công nghệ ngày càng có hàm lượng tri thức cao và có thể do nhiều công ty của nhiều nước hợp tác chế tạo Mức độ liên kết thị trường thế giới về hàng hoá, về tài chính thành một hệ thống quan hệ tương tác ngày càng tăng; hệ thống thông tin toàn cầu càng kết nối thành mạng lưới chặt chẽ tác động mạnh mẽ đến mọi người, mọi tổ chức, mọi quốc gia.
- Ngoài xu hướng trên còn thể hiện ở mặt toàn cầu hoá về kinh tế kỹ
thuật (tự do hoá thương mại toàn cầu, hệ thống phân công lao động quốc tế, hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế) và toàn cầu hoá về mặt thể chế các tổ chức quốc tế (Liên Hợp quốc-UN, Quỹ tiền tệ Quốc tế-IMF, Ngân hàng Thế giới-WB, Ngân hàng phát triển châu Á-ADB), và cả thể chế về định hướng, đặc thù các lĩnh vực kinh tế chính trị, văn hoá, môi trường
Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá là những nước khác biệt nhau về tiềm lực khả năng, hoàn cảnh, điều kiện, lợi ích và mục tiêu Hệ quả là tiến trình phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá nhất định bị tác động theo những hướng khác nhau như tính không thống nhất về lợi ích, kéo theo đó là sự phức tạp của các mối quan hệ tác động khác nhau làm cho sự lựa chọn giải pháp hội nhập vào toàn cầu hoá của mỗi quốc gia trở nên khó khăn hơn, mặt khác nó cũng tạo ra những yếu tố cạnh tranh thuận lợi hơn cho
sự phát triển ở mỗi quốc gia Chình vì vậy “trong xu thế toàn cầu hoá, muốn tiếp tục phát triển, các nước phải chủ động hội nhập quốc tế với những bước đi thích hợp và có chính sách khôn khéo tận dụng những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá” [35, tr 13]
Ngay từ năm 1986 Việt Nam đã tìm thấy một trong các giải pháp hàng đầu để thoát khỏi khủng hoảng, thực hiện thành công các nhiệm vụ chiến
Trang 14lược đó là phát triển kinh tế đối ngoại Chúng ta cũng nhận thức được rằng
“gia nhập WTO là cơ hội lớn và là sự lựa chọn đúng đắn đối với Việt Nam ” [16, tr 52] Để góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam cần nhận thức rõ thời cơ và thách thức và làm tốt các nhiệm vụ để chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá đó là: Tạo nguồn vốn để tạo ra những cú hích mạnh
về tài chính, đáp ứng tốc độ tăng trưởng và duy trì tốc độ phát triển kinh tế
(Theo nguyên tắc phải tăng 5% vốn mới tăng được 1% GDP), thông thường
các nước đang phát triển gọi vốn theo tỷ lệ 70% vốn của trong nước và 30% của nước ngoài
Đối với Việt Nam trong giai đoạn 1995- 2000 vừa qua, theo tính toán của các ngành chức năng, cần 50 tỷ USD để đầu tư cho sản xuất kinh doanh,
và dự định huy động vốn trong nước 50%, 50% còn lại là huy động vốn từ các nguồn của nước ngoài Thực tế ở Việt Nam trong thời gian qua, 70% vốn được gọi từ nước ngoài còn 30% vốn từ trong nước Hạn chế của chúng ta là còn để thất thoát vốn: đáng lẽ ra trong 100% vốn gọi được thì 90% vốn phải được đưa vào sản xuất, phát triển kinh tế (thường chi 10% phí các loại), nhưng đáng tiếc ở Việt Nam đôi khi hao phí thủ tục lên tới 30% Thực tế cho đến nay “các chi phí đầu vào và chi phí trung gian quá lớn đang là một trong những cản trở nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm của các doanh nghiệp Việt N am ” [36]
Đổi mới cơ cấu kinh tế là mục tiêu rất quan trọng của kinh tế đối ngoại
Nó sẽ góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hài hoà cả về lĩnh vực, ngành,
cả về địa bàn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích giữa toàn cục và bộ phận trong nước tạo điều kiện cho các vùng phát huy thế mạnh của m ình và các thành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả Trong quá trình đô thị hoá có chuyên gia cho rằng cần có chiến lược chủ động xây dựng những đô thị có vị trí quan trọng trên cả lãnh thổ đất nước ta thành những đô thị kiểu mới hiện đại để giảm sự quá tải nhiều mặt cho thủ đô và thành phố Hổ Chí M inh Từ nhiều năm về trước, một trong những ưu điểm mà một số chuyên gia đã nhận thấy là mô hình đó sẽ thu hút rất nhiều lao động, nhất là lượng sinh viên tốt nghiệp đại
Trang 15học hàng năm từ mọi miền, tránh được hiện tượng nông thôn thiếu cán bộ khoa học thành phố dư thừa cử nhân Tóm lại hoạt động kinh tế đối ngoại phải làm sao để cơ cấu kinh tế phát triển hợp lý, lành mạnh và chủ động gắn
bó với thị trường thế giới
Hướng tới mục đích duy trì cán cân thanh toán quốc tế, hoạt động kinh
tế đối ngoại có nhiệm vụ góp phần tích cực cân đối ngân sách, thu hút các nguồn vốn chuyển giao, tiếp thu các công nghệ kỹ thuật máy móc mới hiện đại, vay nợ nước ngoài và nhận viện trợ quốc tế để có số vốn ngoại tệ mạnh,
đủ giải quyết các vấn đề kinh tế của đất nước mà không thâm hụt vào ngân sách Mặt khác, nhờ hiệu quả kinh tế, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh tế đối ngoại, có thể trả những khoản nợ đến hạn cho nước ngoài, bảo đảm cán cân thanh toán quốc tế
Đã từ lâu, các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách đều hiểu rất
rõ phải phát triển kinh tế đối ngoại như một tất yếu của nền kinh tế quốc dân nếu muốn mở mang các cơ hội để nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn dân Mặt khác, việc tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại cả chiều rộng lẫn chiều sâu là xu hướng phát triển biện chứng khách quan của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay Chúng ta cũng nhận thức được rằng “để thu được lợi ích và hạn chế những bất lợi trong quá trình hội nhập, đòi hỏi phải tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế, của từng doanh nghiệp, của từng sản phẩm” [36] Nhìn toàn cục, quá trình quốc tế hoá nhiều mặt của nền kinh tế thế giới được biểu hiện là: hình thành thị trường thế giới như một chỉnh thể thống nhất với sự tham gia ngày càng nhiều các quốc gia vừa có quan hệ phức tạp, vừa có quan hệ ràng buộc, tương tác lẫn nhau, vừa đấu tranh, vừa hợp tác với nhau
1.1.2 Những thuận lọi và khó khăn trong việc phát triển kinh tẽ đối ngoại ở Việt Nam hiện nay.
Các mối quan hệ kinh tế đối ngoại chí có thể phát triển có hiệu quả một khi nó được xây dụng trên cơ sở lợi thế tương đối và lợi thế tuyệt đối của quốc
Trang 16gia, chính vì vậy, để phát triển tốt quan hệ kinh tế đối ngoại, cần phải nắm vững các lợi thế của Việt Nam:
- Về vị trí địa lý: Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, là vùng mà
từ khi có khủng hoảng tài chính tiền tệ tốc độ tăng trưởng có giảm sút, nhưng vẫn là vùng có tốc độ phát triển khả quan so với sự trì trệ chung của nền kinh tế thế giới Vị trí của Việt Nam rất thuận lợi để trở thành trung tâm giao nhận vận tải biển quốc tế Nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế từ các nước thuộc Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Triều Tiên sang các nước Nam Á, Trung Đông và Châu Phi Ven biển Việt Nam, nhất là từ Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu, khí hậu tốt, không có bão sương mù điều này cho phép tàu bè nước ngoài có thể thực hiện chuyển tải hàng hoá, sửa chữa tiếp nhiên vật liệu quanh năm
Việt Nam nằm trên trục lộ đường bộ và đường sắt từ Châu Âu sang Trung Quốc qua Cămpuchia, Lào, Thái Lan, Mianma, Pakistan,
Ân Độ Đặc biệt còn đường bộ xuyên Á được đưa vào sử dụng từ năm
2003, đã nối thuận lợi các thị trường Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan góp phần thúc đẩy thương mại, du lịch, vận tải giữa các nước thành viên ASEAN v ề vận tải hàng không ta có nhiều sân bay, đặc biệt sân bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị trí rất lý tưởng, cách đều thủ đô các thành phố quan trọng trong vùng ( Băng Cốc, Gia các ta, Malina, Singapore v.v ) với vị trí địa lý thuận lợi như vậy cho phép ta mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển ngoại thương, các dịch vụ hàng không, hàng hải và du lịch quốc tế
Tài nguyên thiên nhiên so với các nước khác thì nước ta thuộc loại có tài nguyên thiên nhiên phong phú:
- Về đất đai: diện tích đất đai cả nước khoảng 330.363 km2 trong đó có tới 50% là đất dùng vào nông nghiệp và ngư nghiệp Cộng thêm khí hậu nhiệt đới mưa nắng điều hoà cho phép chúng ta phát triển nông sản và lâm sản xuất khẩu có hiệu quả kinh tế cao như gạo, cao su, và các nông
Trang 17sản nhiệt đới Thêm vào đó chúng ta có chiều dài bờ biển 3.260 km, trên mặt đất có 2.860 sông ngòi, với diện tích 63.566 ha Với tài nguyên này cho phép ta phát triển ngành thuỷ sản xuất khẩu và phát triển thuỷ lợi vận tải biển và du lịch.
- Về khoáng sản : tuy chưa có số liệu công bố chính thức nhưng dầu mỏ hiện nay là nguồn tài nguyên có nhiều tiềm năng Năm 2002 Việt Nam xếp hạng 31 trong tổng số nước sản xuất nhiều dầu khí nhất thế giới với tổng sản lượng khai thác 17 triệu tấn dầu thô, 2tỷ m3 khí (năm 2002) mang lại doanh thu ngoại tệ 3,5 tỷ USD Ngành dầu khí mang lại doanh thu ngoại tệ lớn nhất cho quốc gia Tài nguyên khoáng sản đứng hàng thứ hai là than đá với trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn, với mức xuất khẩu hiện nay khoảng xấp xỉ 1 triệu tấn/ năm thì với nguồn tài nguyên đó cho phép chúng ta khai thác hàng thế kỷ mới hết Ngoài ra còn có nguồn than bùn ở đồng bằng sông Cửu Long ước chừng chữ lượng 500 triệu tấn, than nâu ở đổng bằng sông Hồng khoảng 128 tỷ tấn
Về khoáng sản kim loại chúng ta có mỏ sắt với trữ lượng vài trăm triệu tấn ở vùng Thái Nguyên, Cao Bằng và Thạch Khuê (Hà Tĩnh), quặng bốc xít ở vùng Tây Nguyên trữ lượng 6 tỷ tấn Ngoài ra đất nước còn có hàng chục loại khoáng sản kim loại tuy trữ lượng không nhiều như đổng, chì, vàng, kẽm, thiếc V.V VỚĨ nguồn tài nguyên và khoáng sản trên là lực hấp dẫn các chủ đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản
- Nguồn lao động: đây cũng là lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế của Việt Nam, tính đến hết năm 2001 Việt Nam có khoảng 79 triệu người, trong đó gần 40 triệu người đang trong độ tuổi lao động (dân số trẻ) Hàng năm tốc độ tăng dân số bình quân 1,5%, dự báo năm 2010 dân số Việt Nam lên tới 100 triệu người và có khoảng 56,8 triệu người ở tuổi lao động Hơn nữa “trình độ học vấn và dân trí của nguồn nhân lực nước ta nhìn chung là cao nhờ sự phát triển mạnh nền giáo dục quốc dân như là quốc sách hàng đầu” [5, tr 24] Với nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, người lao động cần cù khéo tay, trình độ văn hoá và tay nghề
Trang 18của người lao động ngày càng được nâng lên đã tạo ra lợi thế để phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại như hoạt động xuất khẩu những sản phẩm mang hàm lượng lao động cao như dệt, may, sản xuất dày dép, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, lắp ráp hàng điện, điện tử ; Ngoài ra lợi thế về lao động cũng tạo ra khả năng xuất khẩu lao động; thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành sử dụng nhiều nhân công Thực tế nhiều công ty nước ngoài vào Việt Nam, một trong những lý do quan trọng là tận dụng nguồn lao động dồi dào, rẻ và có khả năng tiếp thu công nghệ mới ở Việt Nam.
Những cơ sở kinh tế- xã hội khác phục vụ cho sự phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại:
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương và chính sách nhất quán cho việc mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại chủ động tham gia vào tiến trình khu vực hoá và toàn cầu hoá Thực tế cho thấy rằng khi bắt đầu bước vào cải cách đổi mới việc mở rộng quan hệ kinh tế với các quốc gia, tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu chưa phải đã có được tiếng nói chung Điều đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế đối ngoại Nay với quan điểm và nguyên tắc rõ ràng chúng ta chủ động đẩy nhanh quá trình hội nhập, m ở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại Đường lối ở tầm vĩ mô,
về xu thế không thể tránh khỏi đối với sự phát triển của việc tham gia toàn cầu hoá thực tế có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp đổi mới hội nhập của Việt Nam Từ nhận thức này mà Việt Nam trong những năm qua đã có bước chuyển đổi lớn trong chính sách phát triển kinh tế nói chung, chính sách phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng Các chính sách này đều theo hướng tự do hoá, tất nhiên ở các tầng cấp khác nhau phụ thuộc vào thực lực cụ thể ở mỗi lĩnh vực
Chúng ta phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong điều kiện đất nước hoà bình, chính trị -xã hội ổn định Đây là cơ hội rất quan trọng để tập trung phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại Chính trị xã hội ổn định theo một khuynh hướng nhất quán chính là bộ lọc quan trọng trong quá trình giao
Trang 19lưu hội nhập, hơn nữa nó đảm bảo vai trò định hướng khi phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại hội nhập quốc tế.
Sự ổn định về chính trị xã hội cho phép tập trung toàn thể sức lực của nhân dân cho phát triển đất nước Trong những năm vừa qua chúng ta không những phát huy tốt nguồn lực trong nước cho đổi mới mà còn thu hút được sự đống góp không nhỏ của kiều bào ta ở nước ngoài bên cạnh một lượng vốn lớn của nước ngoài đổ vào Việt Nam Sự ổn định về chính trị xã hội thực sự là yếu
tố quan trọng tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, tăng sức hút đối với đầu tư
Sau hơn 10 năm thực hiện chính sách kinh tế mở cửa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc tạo ra tiền đề để phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại; tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong điều kiện nền kinh tế khu vực và thế giới đang suy thoái, gặp nhiều yếu tố bất trắc và rủi ro, tốc độ lạm phát ở Việt Nam ở mức độ tốt; đổng tiền ổn định góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư và nâng cao mức sống; hành lang pháp lỳ và cơ chế quản
lý hoạt động kinh tế ngày càng hoàn thiện và đầy đủ m ang tính hội nhập Với hơn 10 năm qua chúng ta tạo ra được một đội ngũ cán bộ tiếp cận được cách thức làm ăn trên thương trường quốc tế, tất nhiên về trình độ đòi hỏi phải nâng cao hơn Thực tế chúng ta đã hoà dần vào nhịp độ chung của nền kinh tế thế giới Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của ASEAN đang có những đóng góp tích cực vào sự liên kết kinh tế trong hiệp hội và tháng 11/1998 Việt Nam chính thức là thành viên của APEC Trong thực tiễn “tham gia sâu rộng vào hoạt động của khu vực thương mại tự do ASEAN đã mở ra khả năng to lớn cho việc hội nhập nền kinh tế của nước ta vào nền kinh tế các nước trong khu vực” [26]
Trong những năm qua Việt Nam cũng gia tăng quan hệ với Liên Hợp quốc, IMF, WTO Cho đến nay đã hơn 20 năm Việt Nam tham gia vào Liên Hợp quốc Sự tham gia này cho phép Việt Nam nhận được sự giúp đỡ của Liên Hợp quốc trong nhiều lĩnh vực, đồng thời qua đó Việt Nam cũng đóng góp vào sự phát triển của chính tổ chức này Ghi nhận sự đóng góp đó, năm
1997, lần đầu tiên Việt Nam đã được bầu vào hội đổng kinh tế xã hội Liên
Trang 20Hợp quốc Đây là điều kiện quan trọng cho phép mở rộng và phát triển quan
hệ của Việt Nam với Liên Hợp quốc cũng như với các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác Đối với WB, hiện tại Việt Nam là thành viên chính thức của một
số tổ chức thuộc WB, đó là Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), Tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) và Công
ty bảo hiểm đầu tư đa biên (MIGA) Cùng với WB chúng ta cũng có quan hệ hợp tác với IMF Năm 1976 chúng ta tiếp tục qui chế thành viên, tuy nhiên do những khó khăn trong phát triển kinh tế cùng tác động về mặt chính trị, quan
hệ với IMF thời gian đầu cũng chưa được phát triển tốt Vào năm 1984 IMF quyết định đình chỉ quyền được vay vốn của Việt Nam Năm 1993 quan hệ với
IM F được tái phục hồi và cũng năm này IMF cho Việt Nam vay 223 triệu USD Trong quan hệ với IMF cũng như với WB chúng ta đã luôn giữ quan hệ hợp tác và đấu tranh Đây là lĩnh vực hợp tác đòi hỏi sự nhạy bén và linh hoạt của ta để vừa đạt được hiệu quả kinh tế mà lại đảm bảo được chủ quyền an ninh quốc gia
Ngoài các tổ chức kinh tế có tính chất toàn cầu và khu vực chủ yếu trên, trong thời gian qua chúng ta cũng đã tham gia hội nhập khá tích cực dưới hình thức quan hệ song phương Đáng chú ý là quan hệ Việt Nam với Nhật, Mỹ và các quốc gia thuộc EU Riêng Nhật Bản và các nước thành viên EƯ là các quốc gia có quan hệ tương đối thuận lợi đối với Việt Nam Từ sau khi trở lại cung cấp viện trợ cho Việt Nam (1992) Nhật Bản luôn là nước cung cấp ODA lớn nhất, bạn hàng thương mại lớn nhất và là một trong ba nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam Đối với EU Việt Nam cũng là một trong những người nhận tài trợ chính từ EƯ Tháng 7/1995 Việt Nam và EU đã ký hiệp định khung về hợp tác Nhiều quốc gia trong E ư có quan hệ khá chặt chẽ với Việt Nam Việc gia tăng quan hệ với các quốc gia tư bản phát triển có ý nghĩa lớn đối với chúng ta trong việc đáp ứng nguồn vốn và kỹ thuật, có thể xem đây là những đầu nguồn về dòng vốn đầu tư mà chúng ta cần có chiến lược tranh thủ thu hút Trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam luôn tỏ ra thiện chí Năm 1994, Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam và nhất là vừa qua Hiệp định thương mại Việt-Mỹ ký kết và
đã có hiệu lực góp phần mở ra điều kiện gia tăng quan hệ thương mại Việt Mỹ
T H Ư Ví Ị N
17
Trang 21cũng như quan hệ Việt Nam với thế giới Bên cạnh đó chúng ta đang đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế giới, dự kiến năm 2005 Việt Nam sẽ
là thành viên chính thức của WTO Nhìn về tổng thể “Việt Nam tham gia
W TO sẽ giành được rất nhiều cơ hội thuận lợi cả về trước mắt và lâu dài” [20,
tr 61]
Những cơ sở kinh tế xã hội của Việt Nam kể trên đã tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng hơn, mang tính hội nhập hơn góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển
Tuy nhiên khi phát triển các quan hệ kinh tê đối ngoại chúng ta cần lưu ý những khó khăn cuả chúng ta trong giai đoạn hiện nay đó là:
- Về đất đai : diện tích bình quân tính trên đầu người vào khoảng 0,5 ha hiện nay, bình quân diện tích canh tác nông nghiệp tính trên đầu người chỉ được 0,1 ha và tính trên lao động là 0,2 ha So với nhiều nước trên thế giới đây là mức thấp
- Về khí hậu tuy khí hậu nhiệt đới là một ưu đãi lớn của thiên nhiên, nhưng chúng ta cũng phải thường xuyên đối đầu với lụt bão, hạn hán, sâu bọ phá hoại do đó nông nghiệp luôn bị một sự đe doạ nặng nề không thể dự đoán trước Sản phẩm lương thực và thực phẩm trước hết
để thoả mãn nhu cầu của trên 80 triệu dân, không thể tạo ra một nguồn tích luỹ lớn cho những đòi hỏi cao hơn của sự phát triển kinh tế
- Về tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam tuy phong phú, nhiều chủng loại nhưng trừ dầu thô và than đá thì trữ lượng tài nguyên từng loại không nhiều, khả năng khai thác thương mại bị hạn chế Tài nguyên rừng ngày càng bị thu hẹp và bị cạn kiệt Tóm lại, nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta không đủ lớn để dân tộc Việt Nam chỉ ngồi không mà hưởng lợi như một số nước có nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Trung Cận Đông
Trang 22- v ề mặt kinh tế trình độ phát triển của ta so với quốc tế còn thấp, lạc hậu Hiện nay 75% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Cho đến nay, nền kinh tế nước ta về thực chất vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, trong đó khu vực nông nghiệp chiếm 25,4% GDP, công nghiệp chiếm 34,5% và dịch vụ chiếm 40,1% Trong khi đó ở các nước phát triển, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm mạnh, chỉ còn khoảng 3% GDP, công nghiệp cũng giảm dần chỉ còn khoảng 20% và khu vực dịch vụ thì đặc biệt phát triển, nhất là lĩnh vực thông tin Nhìn chung trong nền kinh tế của Việt Nam, về công nghệ hiện nay vô cùng lạc hậu, so với thế giới chậm từ 50 - 100 năm Hệ thống thiết bị kỹ thuật ở hầu hết các doanh nghiệp lạc hậu so với mức trung bình hiện nay của thế giới từ 2-3 thế hệ, thậm chí có lĩnh vực 4-5 thế hệ Chính vì vậy năng suất lao động của ta thấp, sản phẩm làm ra giá thành cao, không có sức cạnh tranh.
Sự yếu kém của ta không chỉ ở chất lượng và giá cả, mà còn cả ở
cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng không có tính cạnh tranh cao Hiện nay chúng ta chủ yếu xuất khẩu nguyên nhiên liệu và sản phẩm sơ chế như dầu thô, gạo, cao su, chè, cà phê v.v Các sản phẩm công nghiệp, nhất là những sản phẩm có hàm lượng khoa học cao còn ít, sức cạnh tranh yếu Trong khi đó các doanh nghiệp của Việt Nam còn nhỏ yếu, yếu cả về khả năng quản lý kinh doanh lẫn khả năng, năng lực sản xuất Các doanh nghiệp của chúng ta sau một thời gian dài hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá chuyển sang phương thức kinh doanh mới còn lúng túng, nhất là trong tham gia cạnh tranh quốc tế Hơn nữa thực tế “trong khi nền kinh tế Việt Nam đã và đang cố gắng để tham gia tích cực vào các tiến trình mở cửa và hội nhập, thì không ít các doanh nghiệp vẫn tồn tại tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước” [28, tr 49]
Nền kinh tế thị trường thế giới hiện nay đã phát triển trong khi đó chúng ta mới chuyển sang kinh tế thị trường, vì vậy các yếu tố của thị trường cũng chỉ mới hình thành ở bước đầu, chưa phát triển Do mới chuyên sang nền kinh tế thị trường trình độ cán bộ quản lý, nhất là các cán bộ làm công tác đối ngoại còn mỏng và yếu Phát triển các hoạt
Trang 23động kinh tế đối ngoại đặt ra yêu cầu cao đối với các nhà quản lý doanh nghiệp, bên cạnh kiến thức, năng lực kinh doanh phải hiểu biết về quan
hệ kinh tế quốc tế, nhất là thị trường quốc tế, tổ chức và hoạt động của các thể chế kinh tế quốc tế, các cam kết mà Việt Nam và các quốc gia khác thoả thuận.V V .Có thể nói nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được điều này Vì vậy trên thực tế đã có doanh nghiệp tuỳ tiện phá bỏ hợp đồng gây mất lòng tin với khách hàng quốc tế, tạo tâm
lý e ngại khi làm ăn ở Việt Nam
Cho đến nay tuy chúng ta đã có nhiều cố gắng trong công tác soạn thảo xây dựng ban hành pháp luật nhưng luật và các văn bản dưới luật điều tiết hoạt động của nền kinh tế trong đó có hoạt động kinh tế đối ngoại vẫn chưa hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập so với các qui chuẩn quốc tế Trong lĩnh vực thương mại hệ thống các qui định về thuế quan
và phi thuế quan của ta quá phức tạp lại hay điều chỉnh bổ sung thậm chí thay đổi làm cho các đối tác giảm nhiệt tình kinh doanh Chúng ta vẫn còn áp dụng nhiều qui định riêng trong hợp tác kinh tế quốc tế và ngược lại cũng còn không ít kẽ hở về pháp luật, về các chính sách, qui định để phía đối tác lợi dụng gây thiệt hại cho phía Việt Nam cũng như thất thoát nguồn thu của nhà nước Thực tế “hệ thống pháp luật nước ta hiện tại vẫn còn khá bất cập, chưa đáp ứng đuợc các “chuẩn” của hội nhập quốc tế ” [51, tr 70]
Trong quá trình phát triển, Việt Nam chịu sự tác động toàn diện của xu hướng và thực tiễn toàn cầu hoá ở cả khía cạnh tích cực và tiêu cực Bước vào đầu thế kỷ thứ 21, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế của mình Tuy nhiên, những khó khăn thách thức còn rất nhiều cản trở tiến trình hội nhập, điều quan trọng là xây dựng một chiến lược phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại phù hợp nhằm khai thác được những lợi thế, hạn chế tối đa những trở ngại, nguy
cơ để đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới
Trang 241.2 Vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh
tẽ đối ngoại ở Việt Nam
1.2.1 Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tê
Để hiểu rõ vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại, trước hết cần phải tìm hiểu vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của kinh tế nói chung
Kinh tế quyết định pháp luật cũng có nghĩa nền kinh tế nào có hệ thống pháp luật đó Tuy nhiên pháp luật không thuần túy bị lệ thuộc vào tính chất, trình độ, phương thức của một nền kinh tế, mà nó còn ảnh hưởng trở lại kinh
tế, chi phối quan hệ kinh tế Nghiên cứu quá trình vận động của các mô hình kinh tế trong sự chi phối của pháp luật đã cho chúng ta thấy rằng pháp luật trong mối quan hệ với kinh tế luôn giữ một vai trò quan trọng: hoặc là thúc đẩy sự phát triển kinh tế hoặc là kìm hãm, làm chệch hướng phát triển của kinh tế
Khi pháp luật phản ánh đúng đắn các qui luật kinh tế khách quan và thực sự là hình thức pháp lý của các quan hệ kinh tế, hay nói cách khác khi pháp luật phù hợp với tính chất, trình độ đời sống kinh tế thì nó trở nên một yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
Các cuộc cải cách kinh tế chỉ có thể mang lại kết quả khi các chủ trương, biện pháp cải cách được thể chế hoá thành pháp luật Ở đây pháp luật đóng vai trò của yếu tố đảm bảo quá trình cải cách kinh tế không thể đảo ngược Bởi vì pháp luật phản ánh đúng các đòi hỏi của cải cách sẽ làm cho các quan hệ kinh tế mới xuất hiện và được củng cố một cách vững chắc Pháp luật mới phá vỡ cơ chế kinh tế cũ và khẳng định quan hệ kinh tế mới thông qua những qui tắc pháp luật chặt chẽ Vai trò của pháp luật có ý nghĩa rất lớn với thắng lợi của cải cách kinh tế, sự thành công của các nền kinh tế các nước công nghiệp mới gắn liền với các cải cách hệ thống pháp luật của họ Chính sự thành công trong việc cải cách hệ thống pháp luật ấy mà thúc đẩy, cởi trói cho các quá trình kinh tế, tạo ra các hành lang an toàn cho các quan hệ kinh tế phát triển
Trang 25Pháp luật xác lập tự do và an toàn cho các quan hệ kinh tế mới xuất hiện hoặc củng cố ngay các quan hệ kinh tế xuất hiện trước sự tấn công của các quan hệ kinh tế cũ, làm cho các quan hệ này không ngừng lớn mạnh và phát triển Đồng thời pháp luật cũng phá bỏ các qui tắc pháp luật cũ, vốn là sản phẩm của cơ chế kinh tế cũ, mở ra một môi trường pháp lý rộng lớn cho kinh tế Nếu không, kinh tế sẽ gặp những khó khăn cản trở và chắc chắn những khó khăn cản trở đó nếu không được loại bỏ đi thì kinh tế sẽ không thể phát triển được.
Sự tác động của pháp luật đến kinh tế tạo ra các hành lang an toàn cho kinh tế, dẫn dắt các quá trình kinh tế phát triển, tức là nó có vai trò mở đường cho kinh tế Thực tế cho thấy rằng “một hệ thống pháp luật đổng bộ thống nhất và thích hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội” [27, tr 206] Trong một số trường hợp nhất định pháp luật thậm chí vượt lên trước các quan hệ kinh tế và giữ vai trò mở đường cho kinh tế phát triển Nếu không có pháp luật đi trước mở đường trong một số lĩnh vực thì một số quan hệ kinh tế khó có thể hình thành được, ở đây pháp luật không chỉ phản ánh quan hệ kinh tế đương đại mà pháp luật còn phản ánh những quan hệ kinh tế trong tương lai, do đó ở chừng mực nào đó trong những lĩnh vực và hoàn cảnh nhất định, pháp luật còn đi trước kinh tế trên cơ sở các khoa học dự báo Bởi vì pháp luật có đặc điểm phản ánh cái thực tại, pháp luật sẽ chóng lạc hậu vì nền kinh tế luôn vận động, luôn luôn phát triển Tức là sự năng động của kinh tế,
sự phát triển của kinh tế đòi hỏi pháp luật phải năng động Mặt khác sở dĩ kinh tế có được cái năng động của ngày mai là vì pháp luật đã dự liệu cho ngày mai Chính tính ổn định lâu dài của pháp luật đã hàm ẩn một khả năng
dự báo, hàm ẩn một khả năng bao quát trong mình những tiềm năng của tương lai cho sự phát triển Chỉ có thể trên cơ sở những tiềm năng của tương lai ấy
mà kinh tế phát triển theo Vì vậy ở đây pháp luật mở lối cho kinh tế phát triển
và trong một số trường hợp nó là tiêu chí dẫn đường cho kinh tế phát triển Tính chất, trình độ của hệ thống pháp luật là tiền đề, là điều kiện quan trọng cho sự phát triển của mô hình kinh tế Sự phù hợp giữa kinh tế và pháp luật tạo cho pháp luật khả nãng dẫn đường cho kinh tế phát triển
Trang 26ở Việt Nam ta, trong nền kinh tế bao cấp, Đảng, Nhà nước cũng đã nhiều lần đặt vấn đề tìm kiếm mô hình đối với nền kinh tế Nhưng chỉ đến khi trong nông nghiệp có chính sách khoán 10 TW Chính phủ ban hành tiếp nghị định số 169- HĐBT, số 171-HĐBT ngày 14/11/1998 để triển khai thực hiện Nghị quyết 10, thông qua Quy chế khoán đã được pháp luật qui định, nó
m ở đường cho nông nghiệp phát triển
Một trong những lý do đảm bảo cho cuộc cải cách kinh tế của chúng ta thành công là nhờ kịp thời nhanh chóng sửa đổi pháp luật, những quan hệ kinh
tế mới hình thành 1986 đã được khẳng định ngay trong qui định pháp luật Mặc dù Hiến pháp chưa thay đổi, nhưng bản thân các qui định pháp luật đã tạo tiền đề mở lối cho kinh tế phát triển Nếu không có các qui định pháp luật
về công ty, doanh nghiệp thì chúng ta không thể nào xây dựng được mô hình kinh tế như hiện nay, đó là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó một trong các điều kiện tiên quyết để đổi mới kinh tế thành công
là đổi mới pháp luật Chính vì vậy, những tiến bộ về mặt kinh tế bao giờ cũng gắn liền với sự tiến bộ về pháp luật, một đạo luật được đánh giá là tốt khi nó kích thích kinh tế phát triển theo đúng hướng Chúng ta cũng nhận thức được rằng “muốn phát triển nền kinh tế thị trường cần tổ chức và điều chỉnh các quan hệ kinh tế bằng pháp luật, hạn chế tối đa những trở ngại đối với tự do hoá nền kinh tế” [17, tr 30]
Khả năng tác động tiêu cực của pháp luật đôi với kinh tế:
Như trên đã phân tích, sự phù hợp giữa pháp luật và kinh tế đảm bảo cho pháp luật có vai trò tích cực thúc đẩy các quá trình kinh tế Tuy nhiên
pháp luật trong một ý nghĩa nào đó còn là một phạm trù chủ quan khi pháp I
luật phản ánh ý chí, lợi ích của nhà làm luật Chính trên phương diện này dễ tiềm ẩn một nguy cơ, pháp luật trở nên chủ quan, duy ý chí, xa dời thực tiễn Nguy cơ này khi trở thành hiện thực sẽ thủ tiêu vai trò tích cực của pháp luật
và biến pháp luật trở thành một yếu tố cản trở sự phát triển của kinh tế xã hội Nguy cơ về sự tác động tiêu cực của pháp luật đối với kinh tế có thể được biểu hiện trong các trưòng hợp sau:
Trang 27- Sự lạc hậu của pháp luật so với nhu cầu phát triển kinh tế Điều đó có nghĩa rằng xuất hiện mâu thuẫn giữa pháp luật và kinh tế Pháp luật với tính cách là hình thức pháp lý của các quan hệ kinh tế, luôn là một yếu
tố có tính ổn định và dễ dàng lạc hậu so với yếu tố năng động của sự phát triển kinh tế Các quan hệ kinh tế chỉ có thể dễ dàng phát triển khi
có được các hình thức pháp lý thích hợp Do vậy vấn đề có tính nguyên tắc đặt ra là mỗi bước phát triển kinh tế đều đòi hỏi một bước đổi mới của pháp luật Nhưng trong thực tiễn không phải lúc nào sự thay đổi của kinh tế cũng kèm theo sự thay đổi của pháp luật Pháp luật chậm thay đổi, các qui định của pháp luật vẫn duy trì, bảo vệ các quan hệ kinh tế, các cơ chế kinh tế cũ trong khi đó kinh tế cần có các hình thức mới, các quan hệ mới để phát triển Sự trì trệ của pháp luật sẽ thủ tiêu các khả năng phát triển của kinh tế, làm cho các quan hệ kinh tế mới không được củng cố và tất nhiên, quá trình ra đời của một cơ chế kinh tế mới
sẽ hết sức khó khăn
- Trong lịch sử phát triển của kinh tế, mâu thuẫn giữa cơ chế kinh tế mới
và cơ chế pháp lmật cũ thường xuất hiện rõ nét nhất trong các thời điểm cải cách kinh tế Khi một quốc gia đưa ra chủ trương cải cách kinh tế
mà không kèm theo đó là chủ trương cải cách pháp luật, tất yếu sẽ dẫn đến mâu thuẫn giữa pháp luật và kinh tế Hệ thống pháp luật cũ sẽ là lực cản lớn cho các hoạt động cải cách và các ý tưởng về cải cách dù tốt đẹp và mạnh mẽ đến đâu cũng không mang lại kết quả mong muốn, thậm chí thất bại Thật ra khả năng kìm hãm sự phát triển kinh tế của pháp luật có thể xuất hiện trong trường hợp pháp luật đổi mới không đổng bộ với sự cải cách của nền kinh tế
- Pháp luật cũng sẽ trở thành lực cản to lớn đối với sự phát triển kinh tế trong các trường hợp pháp luật vượt trước xa so với sự phát triển kinh tế Pháp luật là sự phản ánh tập trung các quan hệ kinh tế và luôn bị qui định bởi kinh tế Nhưng pháp luật không phải là sự phản ánh thụ động, một chiều các quan hệ kinh tế mà là sự phản ánh tích cực, đa dạng các
Trang 28quan hệ kinh tế Nhờ vậy pháp luật là một yếu tố củng cố các quan hệ kinh tế, góp phần mở đường cho các quan hệ kinh tế phát triển.
- Pháp luật được nhìn nhận có vai trò tiên tiến và cho phép trong những trường hợp nhất định được vượt trước các quan hệ kinh tế để mở đường cho các quan hệ kinh tế phát triển trong tương lai Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc là việc “đi trước” của pháp luật trong mối quan hệ với kinh
tế là có xác định, chỉ được xác nhận trong một phạm vi phù hợp cho phép Do vậy mọi sự đi trước thiếu xác định, sự vượt lên tuỳ tiện, duy ý chí của các qui định pháp luật đối với trình độ phát triển của kinh tế sẽ không tạo đựoc tiềm năng phát triển của kinh tế thậm chí còn kìm hãm
sự phát triển của các quan hộ kinh tế
Việc đốt cháy giai đoạn muốn xây dựng một hệ thống pháp luật thật tiên tiến phù hợp với trình độ của nền kinh tế thị trường hiện đại sẽ là một nguy hại đối với trình độ thấp kém của một nền kinh tế vừa qua khỏi tính chất tập trung quan liêu bao cấp và đang ở giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường Thực tiễn đổi mới kinh tế đòi hỏi pháp luật phải luôn bám sát thực tiễn chứ không thể vượt lên quá xa thực tiễn, theo ý chí bỏ qua các bước chuyển đổi trung gian và trở nên xa lạ với thực tiễn kinh tế Một khi pháp luật vượt quá xa
sự phát triển của kinh tế, các qui phạm ấy về thực chất không có nội dung thực tiễn và trở nên các mô hình pháp lý trống rỗng, đứng ngoài đời sống kinh
tế Nhưng một khi các qui phạm vượt xa này lại bị áp đặt vào thực tiễn theo một ý chí chủ quan, tất yếu sẽ tạo ra các biến dạng của kinh tế, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển Sự vượt trước một cách chủ quan duy ý chí của các qui phạm pháp luật so với tính chất và trình độ của kinh tế đưa lại cho đời sống kinh tế những hậu quả tiêu cực không kém gì các hậu quả do tình trạng bảo thủ, lạc hậu của pháp luật gây ra cho sự phát triển kinh tế
Khả nãng tác động tiêu cực của pháp luật xẩy ra trong cả trường hợp thể hiện không đúng đắn đường lối kinh tế trong tổng thể đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước Nếu trong trường hợp pháp luật bảo thủ, lạc hậu hoặc quá tiên tiến có thể dẫn tới các rối loạn của đời sống kinh tế, vô hiệu hoá các tiềm năng phát triển, thì trong trường hợp pháp luật không quán triệt đầy đủ đường
Trang 29lối chính trị của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế sẽ tạo ra nguy cơ làm chệch hướng sự phát triển kinh tế của đất nước.
Pháp luật đóng vai trò là yếu tố liên kết giữa chính trị và kinh tế Nói cách cụ thể hơn pháp luật là phương tiện chuyển tải các quan điểm, đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước vào các quá trình kinh tế VI vậy không phải ngẫu nhiên mà một trong những nhiệm vụ xây dựng pháp luật là thể chế hoá đường lối phát triển kinh tế của Đảng thành các qui định pháp luật, đảm bảo điều chỉnh đúng đắn các quan hệ kinh tế và sự phát triển kinh tế theo đường lối chính trị được xác định
Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ của pháp luật được thể hiện ở chỗ phải thể chế hoá được các quan điểm của Đảng ta về con đường phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và phải đảm bảo cho định hướng này được quán triệt nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế Nguy cơ “chệch hướng” phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế đã được Đảng ta chỉ rõ trong các văn kiện quan trọng của Đảng [12]
Thực tế các thế lực thù địch đang ra sức tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thông qua các biện pháp can thiệp, âm ưu làm chệch hướng phát triển của nền kinh tế đất nước Một trong những lĩnh vực mà kẻ thù của chủ nghĩa xã hội xác định để tấn công nhằm làm chệch hướng phát triển của đất nước ta là lĩnh vực pháp luật
Sở dĩ, các thế lực thù địch nhằm vào pháp luật với ý định thông qua cải cách pháp luật để biến đổi chế độ chính trị - kinh tế đất nước, bởi lẽ họ ý thức được rằng pháp luật nếu không được xây dựng đúng đắn theo đường lối của Đảng sẽ đễ dàng trở thành một công cụ có hiệu quả làm chệch hướng sự phát triển Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hay kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa lệ thuộc khá lớn vào việc xác định chế độ pháp lý đối với quan hệ sở hữu, chế độ pháp lý các loại hình doanh nghiệp, các nguyên tắc về quan hệ lao động Điều đó có nghĩa là lệ thuộc vào việc xác định một khung pháp luật kinh tế như thế nào Một khi pháp luật thể chế hoá đúng đắn quan điểm,
Trang 30đường lối chính trị của Đảng trong phát triển kinh tế, tất yếu định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ được quán triệt Nhưng trong trường hợp các quan điểm chính trị của Đảng không được thể hiện đầy đủ hoặc thể hiện không đúng đắn và không nhất quán trong các qui phạm pháp luật, tất yếu sẽ biến pháp luật thành công cụ làm chệch hướng sự phát triển kinh tế.
Pháp luật là một lĩnh vực đấu tranh tư tưởng quan trọng, ở đây nảy sinh các xung đột giữa các quan điểm pháp lý, giữa nội dung các qui phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Chúng ta chủ trương dùng pháp luật để quản lý xã hội, phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ lợi ích và chủ quyền quốc gia, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Các thế lực thù địch đang âm mưu sử dụng cải cách pháp luật theo kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, thông qua các thủ đoạn gây sức ép để làm chệch hướng sự phát triển của đất nước Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta “phải thường xuyên chú
ý đến ý đồ của các nước lớn- vốn đang giữ vai trò dẫn dắt các tiến trình phát triển quốc tế khi họ thường áp đặt các điều kiện bất lợi cho các nước kém phát triển hơn” [49] Chính vì vậy quá trình cải cách pháp luật ở nước ta cần phải đảm bảo pháp luật thể chế hoá đúng đắn đường lối xây dựng và phát triển kinh
tế của Đảng và Nhà nước trong điều kiện hội nhập và xu thế toàn cầu hoá hiện nay
1.2.2 Vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tê đối ngoại ở Việt Nam hiện nay
Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng không phải lúc nào cũng được xác định như nhau Trong thực tế vị trí, vai trò của pháp luật cao hay thấp, chủ yếu hay thứ yếu lệ thuộc rất nhiều vào các mô hình kinh tế cụ thể trong từng điều kiện lịch sử của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, vai trò của pháp luật đối với
sự phát triển của kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng tỏ ra khá hạn chế và không phát huy được tác dụng điều chỉnh của mình Chính tính chất
Trang 31của kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đã không phát huy được vai trò vốn có của bản thân pháp luật, biến pháp luật từ một công cụ điều chỉnh cơ bản thành một công cụ thứ yếu so với các nghị quyết của Đảng, các
kế hoạch của Nhà nước
Trong giai đoạn hiện nay, pháp luật giữ vai trò quan trọng Pháp luật là phương tiện để thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên qui mô toàn xã hội Pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội, thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Thực tiễn đã khẳng định rằng, sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế chỉ có thể thực hiện và phát huy đầy đủ, có hiệu quả nhất khi được xác lập dưới hình thức pháp luật nhất định và được đảm bảo thực hiện bởi cơ chế pháp luật thích hợp ở đây, pháp luật được Nhà nước sử dụng như công cụ hiệu nghiệm và không thể thay thế trong việc quản lý nền kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng
Pháp luật, với tư cách là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội nói chung, cũng như tới tất cả các yếu tố của thượng tầng chính trị pháp lý nói riêng Sự tác động và ảnh hưởng của pháp luật thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào tính chất của các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của pháp luật Những biểu hiện cụ thể của sự tác động đó bao giờ cũng được phản ánh trong khuôn mẫu của các hành vi xử sự được xác định Trên cơ sở đó, các chủ thể pháp luật phải tuân thủ, chấp hành hoặc áp dụng pháp luật phù hợp với những điều kiện
“tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo điều kiện lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta” [13] Pháp luật có vai trò quan trọng đảm bảo cho
Trang 32việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của của kinh tế đối ngoại ở Việt Nam Trong thực tế “một trong những vai trò quan trọng của pháp luật Việt Nam là tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho việc củng cố, mở rộng các mối quan
hộ hợp tác giữa Việt Nam với các nước khác và các tổ chức quốc tế” [15, tr 21] Khi pháp luật của chúng ta phù hợp với qui tắc thông lệ quốc tế, hội nhập được với pháp luật khu vực tạo điều kiện pháp lý rất lớn cho các nhà sản xuất kinh doanh, phát triển quan hộ kinh tế đối ngoại Việc mở rộng phát triển quan
hệ kinh tế đối ngoại chủ động hội nhập quốc tế của nền kinh tế quốc gia đều phải dựa vào sự hội nhập hệ thống pháp luật của quốc gia đó Làm cho việc phát triển mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của quốc gia đó diễn ra có nguyên tắc, được đảm bảo an toàn và mang lại hiệu quả cao
> Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy việc mở rộng quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia, dân tộc.
Trong thời đại ngày nay, trước xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, mối quan hệ giữa các nước ngày càng phát triển và tính chất các mối quan hệ
đó ngày càng đa dạng Cơ sở cho việc thiết lập các mối quan hệ đó chính là pháp luật: Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Xuất phát từ thực tiễn đó,
hệ thống pháp luật của mỗi nước không ngừng được bổ sung hoàn thiện và có những bước phát triển mới; ngoài những văn bản qui định và điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các chủ thể pháp luật trong nước, còn có các vãn bản pháp luật qui định và điều chỉnh các quan hộ liên quan đến các chủ thể nước ngoài Trên cơ sở đó đã hình thành hệ thống pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại điều chỉnh các quan hệ cơ bản đặc thù trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại Trong quá trình đổi mới mở của nền kinh tế, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới, pháp luật nói chung và pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng là công cụ quan trọng không chỉ tạo ra môi trường pháp lý an toàn cho việc mở cửa nền kinh tế mở rộng quan
hệ đối ngoại, mà còn tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho các tổ chức cá nhân nước ngoài tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường quốc tế Pháp luật trong lĩnh
Trang 33vực kinh tế đối ngoại là điều kiện quan trọng để tạo ra niềm tin, là cơ sở để
mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới
Sở dĩ pháp luật nói chung và pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng có vai trò quan trọng trong việc mở rộng quan hệ hợp tác giữa nước
ta với các quốc gia, các dân tộc, chính là nó luôn quán triệt chính sách đổi mới
mở cửa hội nhập của Đảng và Nhà nước ta Tại Đại hội VI (1986), Đảng ta chủ trương mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc “ Cùng tổn tại hoà bình” [10, tr 81] Đại hội VII (1991) đã phát triển thêm, mở rộng đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại theo tinh thần “Việt Nam m uốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đổng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [11 tr 147] Hội nghị trung ương 3 khoá VII đã cụ thể hoá đường lối đối ngoại rộng mở, đẩy mạnh thực hiện: Đa dạng hoá, đa phương hoá các hoạt động đối ngoại Việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá trong những năm đầu thập kỷ 90 đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Đại hội VIII (1996) tiếp tục phát triển đường lối “mở cửa” hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm: “Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực vừa hội nhập toàn cầu” [12, tr 90] Đại hội IX (2001) đã tiếp tục hoàn thiện đường lối
“mở cửa”, hội nhập kinh tế quốc tế của các đại hội trước, khẳng định mở rộng quan đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế [13, tr 191]
> Pháp luật còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tê của nước ta, đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.
- Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta đã được thể chế
hoá thành các qui định trong Hiến pháp Điều 15 Hiến pháp 1992 đã khẳng định tính chất của nền kinh tế nước ta đó là: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Đây là một trong những đặc điểm quan trọng qui định bản chất tiến bộ của nền kinh tế thị trường ở nước ta và chính đặc điểm
Trang 34này đã đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc hoạch định chính sách, đường lối cải cách kinh tế và pháp luật ở Việt Nam.
- Định hướng xã hội chủ nghĩa là sự qui định chính trị đối với quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế và khẳng định các mục tiêu xã hội của sự phát triển kinh tế với ý nghĩa đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển Thực tế “đây là kinh tế thị trường được định hướng cao về mặt xã hội theo nguyên tắc xã hội hoá- XHCN m à nhân loại đang hướng tới” [7, tr 10] Nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức bóc lột, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho con người là những mục tiêu lâu dài và nhất quán của con đường đi lên xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên các nhiệm vụ có tính chất mục tiêu này không thể giải quyết nhanh chóng được mà phải giải quyết từng bước trong tiến trình phát triển kinh tế và phải phù hợp với nhu cầu phát triển của bản thân nền kinh tế thị trường Chính trên cơ sở đó khi chúng ta m ở rộng quan
hệ đối ngoại chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nền kinh tế đất nước, chúng ta phải đảm bảo kết hợp hài hoà sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng trong xã hội ở đây pháp luật đóng vai trò quan trọng trong quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại đó là góp phần vào việc đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia
Chúng ta tiến hành việc mở cửa nền kinh tế trên cơ sở đảm bảo chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, do vậy việc mở cửa nền kinh tế luôn là vấn đề có tính nguyên tắc, đảm bảo việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ chống lại mọi xu hướng nô dịch từ các thế lực bên ngoài.Vì vậy pháp luật phải xây dựng các cơ sở pháp lý vững chắc cho việc mở cửa thị trường để phát huy những mặt tích cực và hạn chế tiêu cực khi mở cửa hội nhập Để làm được như vậy, sự xác lập những hành lang pháp lý cho việc m ở cửa của từng loại thị trường cần được qui định cụ thể về mức độ phạm vi mở cửa và một cơ chế thích hợp cho sự hội nhập từng bước của nền kinh tế nước ta vào nền kinh
tế khu vực và thế giới
Trang 35Mặt khác pháp luật đã góp phần tạo ra khả năng thuận lợi và thông thoáng cho việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam Trong quá trình mở cửa nền kinh tế chúng ta quán triệt tính nguyên tắc tự do hoá thương mại, xoá bỏ mọi cản trở từ phía pháp luật, tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình quốc tế hoá nền kinh tế đất nước Do vậy pháp luật phải tăng cường khả năng chuyển hoá các qui phạm Điều ước quốc tế và qui phạm Tập quán quốc tế vào các qui định pháp luật quốc gia làm cho pháp luật quốc gia phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế Việc hài hoà hoá pháp luật Việt Nam phù hợp với các các qui tắc thương mại và chuẩn mực pháp lý quốc tế, cụ thể
là việc hài hoà hoá các qui định của pháp luật Việt Nam với các qui định của các Điều ước quốc tế, đặc biệt là các chuẩn mực của WTO có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
> Pháp luật còn có vai trò góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại ở Việt Nam
Pháp luật ra đòi là do đòi hỏi khách quan của việc điều chỉnh các quan
hệ xã hội Đặc điểm của các quan hộ xã hội qui định tính chất của các qui phạm pháp luật Khi pháp luật phản ánh đúng đắn các qui luật kinh tế khách quan và thực sự là hình thức pháp lý của các quan hộ kinh tế, nói cách khác khi pháp luật phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế, thì
nó có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội Pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại cũng vậy Nó ra đời là do yêu cầu điều chỉnh các quan
hệ trong hoạt động kinh tế đối ngoại Pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại cũng tác động trở lại làm cho các quan hệ kinh tế đối ngoại phát sinh, phát triển theo chiều hướng có lợi
Quá trình thực hiện chính sách đổi mới mở của do Đảng ta khởi sướng
và lãnh đạo chỉ có thể mang lại kết quả khi pháp luật nói chung, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại nói riêng phản ánh đúng các qui luật kinh tế khách quan trong quá trình mở cửa, phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta ở đây pháp luật đóng vai trò là yếu tố đảm bảo cho quá trình đổi mới
mở cửa nền kinh tế, bởi lẽ khi pháp luật phản ánh đúng những đòi hỏi khách
Trang 36quan, sẽ làm cho các quan hệ xã hội mới xuất hiện và được củng cố một cách vững chắc.Vai trò của pháp luật có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành bại của việc phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại Ngược lại sự thành công của việc phát triển các quan hộ kinh tế đối ngoại gắn liền với sự đổi mới và hoàn thiện của bản thân hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại Chính sự đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tiền đề cho sự cởi trói, thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển Pháp luật nói chung và pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại nói riêng đã có vai trò trong việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại trong những năm qua Đối với việc nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối/ngoại, pháp luật có vai trò cụ thể như sau:
- Pháp luật tạo cơ sở cho việc xác lập những nguyên tắc pháp lý cơ bản đảm bảo cho các hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam diễn ra có hiệu quả
Có thể nói đây là vai trò quan trọng của pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, phản ánh những đòi hỏi khách quan của sự phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại được thể chế hoá hình thành các nguyên tắc pháp lý xuyên suốt chi phối các hoạt động kinh tế đối ngoại cũng như
sự đảm bảo hiệu quả hoạt động của các quan hệ kinh tế đối ngoại Để phát triển quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, không thể bỏ qua các nguyên tắc cơ bản như đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, tự do kinh doanh, nguyên tắc bình đẳng các bên cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nước sở tại Một khi các nguyên tắc trên được thể chế hoá thành những nguyên tắc pháp lý, thì nó trở thành những tiêu chí cho sự lưạ chọn hệ thống các giải pháp, công cụ để tác động lên các hoạt động kinh tế đối ngoại, làm cho nó không thoát ly trật tự hình mẫu mà nó vươn tới và đem lại kết quả cao cho hoạt động kinh tế đối ngoại
- Pháp luật xác lập môi trường an toàn cho sự phát triển các quan hệ kinh
tế đối ngoại, đảm bảo cho các quan hệ đó được điều chỉnh trong trật tự
Trang 37Đây là vấn đề mang tính qui luật, bởi lẽ sự hợp tác kinh tế quốc tế và mối quan hệ giữa các tổ chức cá nhân nước ngoài với nước ta chỉ có thể phát triển trong môi trường chính trị, kinh tế xã hội ổn định Pháp luật nói chung
và pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại nói riêng là phương tiện có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập môi trường ổn định, mà ở đó mọi chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế đối ngoại phải tôn trọng các cam kết và phải chịu trách nhiệm về những hậu quả có thể xảy ra
Vai trò của pháp luật được tăng cường còn được xác định bởi nhu cầu điều chỉnh các chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế đối ngoại Trên thực tế hoạt động kinh tế đối ngoại diễn ra rất phức tạp và đa dạng, do vậy không phải bất cứ ai, bất kỳ tổ chức nào cũng có thể tự do tham gia vào các hoạt động kinh tế đối ngoại mà không tuân thủ các qui định về chủ thể của hoạt động kinh tế đối ngoại Vấn đề đặt ra là phải xác định tư cách chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế đối ngoại
Pháp luật là yếu tố cần thiết qui định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại, đảm bảo sự bình đẳng của các chủ thể và đặc biệt quan trọng có ý nghĩa định ra các qui tắc ứng xử trong hoạt động kinh tế đối ngoại Trong thực tế “nếu không có pháp luật điều chỉnh thì các chủ thể mạnh có thể lấn áp, chèn ép, thậm chí còn áp đặt điều kiện đối với các chủ thể yếu, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể” [52, tr 59] Bởi vậy tính phức tạp của các hoạt động kinh tế đối ngoại đòi hỏi các qui định GỈia pháp luật phải phải xây dựng luật chơi thật cụ thể, để một mặt tạo ra một trật
tự cho các hoạt động kinh tế đối ngoại, đảm bảo cho các chủ thể tham gia đạt được mục tiêu của mình Mặt khác các qui tắc được luật định chính là các đảm bảo quan trọng cho sự an toàn trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, chống lại các hiện tượng không lành mạnh trong kinh doanh như độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh, gian lận thương mại Chính vì vậy các hoạt động kinh tế đối ngoại phải tuân thủ các qui tắc kinh doanh được luật hoá
Công cụ cơ bản để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế là các loại hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại Các loại hợp đồng phản ánh khá toàn diện các hành vi kinh
Trang 38doanh giữa các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ ký kết hợp đổng, thực hiện hợp đổng đến kết thúc chấm dứt hợp đổng Các hành vi này được thực hiện theo các qui tắc luật định, mặc dù khi tham gia vào các hoạt động kinh tế đối ngoại các chủ thể được tự do ý chí khi giao kết hợp đổng, nhimg một khi đã tham gia vào các quan hệ hợp đổng cụ thể trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, các chủ thể lại bị ràng buộc chặt chẽ bởi các luật chơi được qui định trong các văn bản pháp luật về hợp đổng Chẳng hạn khi tham gia vào việc ký kết và thực hiện Hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế, các bên chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc hợp đổng, tính hợp pháp của Hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế như về hình thức, nội dung, thẩm quyền ký kết đến trách nhiệm của các bên trong hợp đổng ở đây pháp luật đã đề ra những qui tắc
xử sự của các bên thể hiện một thứ luật chơi có tính khách quan đối với các bên, nhằm đảm bảo quan hệ đó diễn ra theo một trật tự nhất định, đảm bảo lợi ích của các bên tham gia ký kết hợp đồng và lợi ích của Nhà nước
Vai trò quan trọng của pháp luật trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại không những thể hiện thông qua việc pháp luật định ra các luật chơi cho hoạt động kinh tế đối ngoại m à pháp luật còn định ra các qui tắc xử lý mỗi khi các luật chơi bị vi phạm ở đây vai trò của pháp luật hết sức
to lớn trong việc định ra thủ tục pháp lý giải quyết các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài nảy sinh trong hoạt động kinh tế đối ngoại giữa các bên chủ thể Trong hoạt động kinh tế đối ngoại lợi ích của các chủ thể phải được đảm bảo bằng pháp luật và các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài phải được
xử lý bằng pháp luật trên cơ sở một thủ tục pháp lý công khai và bình đẳng, đảm bảo được quyền lợi chính đáng của các bên Trong thực tiễn khi các quyền và lợi ích chính đáng của các bên chủ thể trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại được đảm bảo thì nó sẽ thúc đẩy sự giao lưu phát triển giữa quốc gia đó với các quốc gia khác đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế và thương mại
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG VỂ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CỦA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ở NƯỚC TA
Sự nghiên cứu đánh giá khái quát về vai trò của pháp luật trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong khuôn khổ đề tài Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của bộ môn Lý luận
về Nhà nước và pháp luật Do vậy phạm vi nghiên cứu về thực trạng vai trò của pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại ở nước ta không đi sâu vào phân tích về thực trạng điều chỉnh pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể của kinh tế đối ngoại, từ địa vị pháp lý của các chủ thể trong hoạt động kinh tế đối ngoại, chế độ pháp lý của các dạng sản xuất kinh doanh, các loại hợp đổng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, đến các thủ tục pháp lý giải quyết các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài vv Vốn là đặc trưng nghiên cứu của bộ môn Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại Đương nhiên, việc nghiên cứu vai trò của pháp luật trong quá trình phát triển kinh tế đối ngoại mặc dù được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận và cách thứ tiếp cận của Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, không thể tách rời các phương pháp ỉuận của luật kinh tế đối ngoại, ở đây đòi hỏi một sự kết hợp giữa hai phương pháp tiếp cận này để sử dụng được các ưu thế của từng phương pháp tiếp cận kể cả Lý
luận chung về Nhà nước pháp luật và Luật kinh h đối ngoại Sự kết hợp này
cho phép khái quát được những vấn đề lý luận chung về thực trạng điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại thông qua việc phân tích các qui định pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại cụ thể Hơn nữa mục tiêu nghiên cứu của chương này là nhằm vào việc làm sáng tỏ cơ sở thực tiễn của những luận điểm lý luận về vai trò của pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại đã được phân tích tại chương 1 của Luận văn Đó là các vấn đề thực trạng vai trò của pháp luật trong việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại; thực trạng vai trò của pháp luật trong việc nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại
Trang 402.1 Thực trạng vai trò của pháp luật trong việc mở rộng quan hệ kinh tê đối ngoại ở Việt Nam hiện nay.
Toàn cầu hoá đang là một xu thế tất yếu khách quan Tất cả các quốc gia đều phải đối mặt với xu hướng này và đang tìm mọi cách mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới và khu vực Việt Nam cũng đang đứng trước xu hướng này và đang phải đối mặt với các thời cơ và thách thức mới của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thực hiện chính sách đổi mới mở cửa nền kinh tế với việc chuyển đổi nền kinh tế từ k ế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế thông qua việc đa dạng hoá,
đa phương hoá các quan hệ quốc tế Chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng
và Nhà nước ta hướng các mục tiêu ưu tiên trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể chủ động hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và th ế giới
Vai trò của pháp luật là rất to lớn không thể phủ nhận đối với hoạt động kinh tế đối ngoại nếu muốn phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên để thực hiện tốt vai trò này không hề đơn giản và không phải lúc nào cũng thành công, đặc biệt trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta Vấn đề khó khăn đặt ra là muốn pháp luật xác lập được vai trò của một yếu tố không thể thay thế trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của các quan hệ kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế xuất phát từ một thực trạng yếu kém, còn nhiều hạn chế của chính bản thân hệ thống pháp luật nước
ta vào thời điểm bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới Xét về tính chất và trình độ phát triển của hệ thống pháp luật nước ta so với hệ thống pháp luật của nhiều nước có nền kinh tế phát triển thì thấy rằng: trong hệ thống pháp luật của nước ta trước đây có nhiều qui định chưa phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế vốn đã được xác lập trong thực tiễn thương mại quốc tế, các qui định trong các văn bản pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển Vì vậy giữa pháp luật của nước ta