Theo luật hình sự Việt Nam, để truy cứu TNHS các cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh được rằng chủ thể đã thực hiện tội phạm, nghĩa là đã có “hành vi nguy hiểm cho x ã hội được quy địn
Trang 2PHẠM THỊ THANH NGA
TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH sự TRONG■ i ■
VIỆC ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT■ ■ ■ ■ ■
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn khoa học: TSKH Lê Văn Cảm
H à Nội - 2004
Trang 3được biết bao sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cán bộ đang công tác tại Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội; của gia đình, bạn bè; đặc biệt là sự tận tình, ân cần chỉ bảo của Thầy giáo, Tiến sỹ khoa học Lê Vần Cảm - Chủ nhiệm khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, người trực tiếp hướng dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ƠIĨ chân thành và sâu sắc nhất tới Thầy giáo- Tiến sỹ khoa học Lê Văn Cảm, tới các thầy cô giáo và cán bộ Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tới gia đình và bàn bè.
Hà Nội, tháng 5/ 2004
r r i / • 2
Tác giả
Phạm Thị T h an h Nga
Trang 4riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Phạm Thị Thanh Nga
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 T ín h cấp th iết của đề tàiTội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các khách
thể được pháp luật hình sự bảo vệ Nó phá vỡ trật tự quản lý kinh tế; phá vỡ
môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn; gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh [ 1, tr 5] Vì vậy chủ thể tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) Tuy
nhiên, mục đích của việc truy cứu TNHS không chỉ nhằm trừng trị người
phạm tội mà còn giáo dục họ trỏ thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa [1, tr 14] nên
TNHS phải được cân nhắc, xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều yếu tố Với tính cách là những ảnh hưởng có lợi cho chủ thể, các tình tiết giảm nhẹ TNHS đã trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong pháp luật hình sự của tất cả các quốc gia qua các thời đại Hơn bao giờ hết, khi xã hội càng phát triển, các quyền con người ngày càng được quan tâm và tôn trọng thì mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội càng trở nên quan trọng Điều này đòi hỏi các tình tiết giảm nhẹ TNHS phải được nghiên cứu và áp dụng một cách xác đáng, hiệu quả
Việc quy định và thừa nhận vai trò của các tình tiết giảm nhẹ trong giải quyết vấn đề TNHS là biểu hiện của sự phân hoá, cá thể hoá TNHS và hình phạt một cách sâu sắc và rõ nét; là thước đo trình độ phát triển của văn minh
xã hội và của khoa học luật hình sự Nó thể hiện việc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của con người là cần thiết và có ý nghĩa ngay cả khi chính chủ thể đã có hành vi nguy hiểm gây ra những thiệt hại cho cộng đồng xã hội
ề
Trang 7Cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, của khoa học luật hình sự, các tình tiết là cơ sở để xác định TNHS trong đó có tình tiết giảm nhẹ ngày càng tỏ rõ đòi hỏi phải được quan tâm nghiên cứu để phát triển
và hoàn thiện
Tinh tiết giảm nhẹ TNHS không phải là một nội dung cố hữu, bất biến;
nó luôn vận động theo chiều hướng nhân đạo hơn, chú trọng tới mục đích giáo dục, cải tạo con người; nó bảo vệ, ảnh hưởng có lợi cho chủ thể tội phạm một cách phù hợp, công bằng Vì vậy, vai trò và ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ trong việc giải quyết vấn đề TNHS cũng vận động, biến đổi, đòi hỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật phải nhận thức, áp dụng một cách đầy đủ, đúng đắn và chính xác
Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985 cũng như các văn bản pháp luật của nước ta trước đây, đã có những quy phạm trong đó tình tiết giảm nhẹ là yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP), được ghi nhận trong các điều luật thuộc Phần các tội phạm cụ thể Nghĩa là trong một số trường hợp, tình tiết giảm nhẹ TNHS
có vai trò định tội danh và định khung hình phạt Nhưng số lượng các CTTP loại này chưa nhiều, các quy định của pháp luật cũng chưa rõ ràng, chưa thống nhất Hơn nữa khi giám đốc xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) chủ yếu chỉ nhấn mạnh tới vai trò của tình tiết giảm nhẹ trong việc quyết định hình phạt, đồng nghĩa tình tiết giảm nhẹ TNHS với tình tiết làm giảm mức độ nguy hiểm của tội phạm [74, tr 262], không thấy rằng có những trường hợp tình tiết giảm nhẹ xuất hiện làm thay đổi tính chất của tội phạm Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến khoa học luật hình sự hầu như: 1 Chỉ thừa nhận vai trò là căn cứ quyết định hình phạt, làm giảm nhẹ hình phạt hoặc để xem xét cho áp dụng biện pháp miễn hình phạt, cho hưởng án treo của tình tiết giảm nhẹ và; 2 Có sự phân chia rạch ròi giữa tình tiết định tội danh, tình tiết định khung với các tình tiết giảm nhẹ Điều này được thể hiện rất rõ trong nhiều nghiên cứu khoa học như: sách “Các
Trang 8tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS” của tác giả Đinh Văn Quế do Nhà xuất bản chính trị quốc gia ấn hành năm 1995; Luận án tiến sỹ luật học: “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong luật hình sự Việt Nam ” của tác giả Trần Thị Quang Vinh (năm 2002); các bài viết: “Một vài suy nghĩ về các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 38 BLHS” của tác giả Tố Lâm (Tạp chí Pháp lý, Số 7/1989), “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thanh Bình, (Tạp chí Toà án nhân dân, Số 7 & 8/1995), “Phân loại tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự Việt Nam ” của tác giả Trần Thị Quang Vinh (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 7/1996), “Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS theo BLHS năm 1999” và “Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật” của tác giả Dương Tuyết Miên (Tạp chí Toà án nhân dân, Số 10/2002 & Số 1/2003)
Kinh tế xã hội- cơ sở hạ tầng ngày càng có sự thay đổi, tiến bộ nhanh chóng, nó đòi hỏi luật pháp- kiến trúc thượng tầng, bao hàm pháp luật hình sự
phải có những phát triển cho thích ứng và phù hợp Trên cơ sỏ k ế thừa và phất
huy những nguyên tắc, c h ế định pháp luật hình sự của nước ta, nhất là BLHS năm 1985, cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh chống
và phòng ngừa tội phạm [1, tr 5], BLHS năm 1999 ra đời đã đáp ứng được
những yêu cầu cơ bản mà thực tế đặt ra M ột trong những điểm tiến bộ nổi bật của BLHS năm 1999 là có sự phân hoá TNHS mạnh mẽ, sâu sắc; các khách thể loại không chỉ được bảo vệ bởi một điều luật theo cùng một tội danh mà trong một số trường hợp có sự chia tách thành nhiều điều luật - nhiều tội danh với các mức hình phạt khác nhau, là cơ sở cho việc áp dụng pháp luật, cá thể hoá TNHS và hình phạt được thuận lợi, công bằng, chính xác và nhân đạo hơn [39] Điều này dẫn đến các tình tiết giảm nhẹ TNHS đã không còn chủ yếu có vai trò làm thay đổi mức hình phạt mà trong một số trường hợp nó đã được quy định rõ ràng là yếu tố CTTP - là tình tiết làm thay đổi tính chất của tội phạm, là căn cứ để xác định tội danh, xác định khung hình phạt
Trang 9Những quy định mới của BLHS năm 1999 thể hiện trình độ phát triển cao hơn về mặt lập pháp hình sự của Nhà nước ta Đồng thời nó cũng đòi hỏi khoa học pháp lý phải nhìn nhận và đánh giá đầy đủ về tình tiết giảm nhẹ TNHS cho phù hợp với tình hình mới Đây là một yêu cầu bức thiết Nhận thức đúng đắn về vai trò, ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ trong định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt có ý nghĩa to lớn với việc hoàn thiện pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng tại Toà án và các cơ quan tiến hành
tố tụng khác Vì vậy tôi đã chọn “TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỤ TRONG VIỆC ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYÊT ĐỊNH HÌNH PHẠT" làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp khoá học
2 M ục đích, phạm vi và kết quả nghiên cứu
Trên cơ sở sự phát triển chung của khoa học pháp lý, các quy định của luật hình sự, đặc biệt là những điểm mới tiến bộ, ưu việt của BLHS năm 1999
so với BLHS năm 1985 và các văn bản pháp lý trước đây về tình tiết giảm nhẹ TNHS, đề tài cố gắng đưa ra sự nhìn nhận đầy đủ, có cơ sở khoa học trong việc đánh giá chính xác, khách quan về TNHS, về tình tiết giảm nhẹ và mối quan hệ giữa chúng Mong tạo thuận lợi cho hoạt động áp dụng pháp luật, giải quyết đúng đắn các hậu quả phát sinh từ hành vi phạm tội của chủ thể
Tuy nhiên, TNHS và tình tiết giảm nhẹ TNHS là những thiết chế trung tâm, nền tảng; có lịch sử ra đời từ rất sớm của pháp luật hình sự, bao hàm những nội dung lớn nên nó đã vượt quá phạm vi của một luận văn thạc sỹ Vì vậy, tác giả giới hạn nội dung nghiên cứu của đề tài trong diện hẹp hơn, đề tài tập trung vào sự ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ đối với những vấn đề cơ bản nhất của TNHS: tội danh, khung hình phạt và hình phạt cụ thể
Kết quả nghiên cứu của luận văn đã đưa ra được quan điểm đúng đắn về tình tiết giảm nhẹ cũng như ảnh hưởng của nó đối với TNHS mà cụ thể là:
Trang 101 Tinh tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết phản ánh mặt khách quan, chủ quan của tội phạm, nhân thân người phạm tội; phản ánh khả năng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo lớn khi áp dụng hình phạt hoặc thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của N hà nước ta Là tình tiết mà sự xuất hiện của nó làm cho tội phạm hoặc người phạm tội trở nên ít nguy hiểm hơn Và đó là lý do để giảm nhẹ TNHS, giảm nhẹ hình phạt cho chủ thể.
2 TNHS chỉ phát sinh khi có tội phạm được quy định trong BLHS Theo đó, chủ thể thực hiện tội phạm có nguy cơ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi có tính nghiêm khắc nhất: chịu sự tác động của các hoạt động truy cứu TNHS, bị kết án, phải chịu hình p h ạt T u ỳ theo từng trường hợp phạm tội mà tính chất và mức độ TNHS là khác nhau TNHS được thể hiện ở nhiều nội dung nhưng cơ bản và chủ yếu là ở tội danh, khung hình phạt và hình phạt cụ thể
Tình tiết giảm nhẹ có thể ảnh hưởng tới hầu hết mọi nội dung của TNHS song không phải mọi vụ án đều có tình tiết giảm nhẹ Và ngay cả khi cùng có tình tiết giảm nhẹ thì sự ảnh hưởng đó cũng không giống nhau Tác động nổi bật nhất của tình tiết giảm nhẹ tới TNHS thể hiện ở các nội dung: nó là căn cứ để định tội danh nhẹ hơn, định khung hình phạt nhẹ hơn, quyết định hình phạt nhẹ hơn, là căn cứ để loại trừ hoặc hạn chế
Trang 113 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các quy luật, nguyên lý, các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt, về đường lối xử lý, chính sách hình sự, luận văn đã trình bày các nội dung một cách lôgic có trật tự Cụ thể:
TNHS là vấn đề trung tâm của luật hình sự, là hậu quả của tội phạm, chỉ bàn đến hình phạt (nội dung chủ yếu của TNHS) và những sự ảnh hưởng đối với TNHS khi đã có tội phạm.Tình tiết giảm nhẹ là một trong những yếu
tố tác động tới TNHS Vì vậy, không thể có tinh tiết giảm nhẹ TNHS khi chưa xác định được rằng đã xuất hiện TNHS Để đánh giá một cách chính xác, khách quan đầy đủ về ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ tới TNHS thì phải đặt
nó trong mối quan hệ, tác động qua lại với các yếu tố khác, cấu thành và ảnh
hưởng tới TNHS - xét trong từng vụ việc cụ thể, trên cơ sở các quy định của
BLHS
TNHS và các tình tiết giảm nhẹ không phải là những nội dung cố hữu, bất biến, nó vận động và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị- xã hội Do vậy việc nghiên về tình tiết giảm nhẹ và TNHS cũng như mối liên hệ giữa chúng phải đặt trong sự vận động chung đó
Để đưa ra những nhận định về tình hình nghiên cứu trong khoa học luật hình sự, các quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, so sánh, thống kê và tổng hợp
4 K ết cấu của luận văn
Ngoài phần Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chủ yếu của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Trang 12Chương 1 : M ột sô vấn đề chung về trá c h nhiệm hình sự và tình tiết
giảm nhẹ, trình bày những vấn đề lý luận chung nhất về TNHS và tình tiết giảm nhẹ; chỉ ra rằng việc giới hạn ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ tới TNHS như phổ biến các quan niệm hiện nay là sự bó hẹp và chưa thoả đáng, chưa đúng với tên gọi cũng như bản chất của tình tiết giảm nhẹ đã ghi nhận thông qua các quy định của BLHS
Chương 2: T ình tiết giảm nhẹ trá c h nhiệm hình sự tro n g việc định
tội danh, trình bày khái quát về định tội danh, nghiên cứu ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ với việc xác định tên gọi của tội phạm; chỉ ra rằng trong một số trường hợp tình tiết giảm nhẹ là căn cứ định tội danh nhẹ hơn; đi sâu phân tích các tình tiết giảm nhẹ định tội trong BLHS năm 1999
Chương 3: T ình tiết giảm nhẹ trá c h nhiệm hình sự tro n g việc quyết
định hình phạt, trình bày một số nội dung cơ bản về quyết định hình phạt; làm sáng tỏ vai trò là căn cứ định khung hình phạt trong môt số trường hơp của tình tiết giảm nhẹ; là tình tiết loại trừ hoặc hạn chế việc áp dụng hình phạt đặc biệt nghiêm khắc; là căn cứ để áp dụng hình phạt ở mức dưới khung và; là căn cứ quyết định hình phạt ở mức thấp so với các trường hợp phạm tội thông thường
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG VỂ TRÁCH NHIỆM HÌNH s ự
VÀ TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ
1.1 T rá ch nhiệm hình sự
1.1.1 K hái niệm và các đặc điểm củ a trá c h nhiệm hình sự
TNHS là vấn đề cơ bản của luật hình sự Thuật ngữ TNHS được sử dụng phổ biến trong hệ thống pháp luật thực định: BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành; trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong sách báo pháp lý và đời sống chính trị, xã hội Song về TNHS lại rất phức tạp và có nhiều tranh luận Diễn đàn khoa học tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, các học giả đều có những phân tích, giải thích, chứng minh để bảo vệ kết luận của mình Mỗi luận giải đều chứa đựng những hạt nhân hợp lý, có ý nghĩa trong việc nghiên cứu về TNHS
Tiến sỹ (TS.) luật học người Nga, Kapushin.M p khi bàn về TNHS và CTTP đã nói [96, tr 20- 21]: Để nghiên cứu về TNHS trước hết phải nghiên cứu cái nền chung của nó là quan hệ pháp luật hình sự Còn TNHS là hạt nhân của quan hệ pháp luật hình sự TNHS được hiểu theo hai nghĩa: TNHS hiểu theo nghĩa vật chất và TNHS hiểu theo nghĩa tố tụng
TNHS trong trường hợp thứ nhất là việc kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm về việc đã gây ra tội phạm, phải chịu một số hạn chế về quyền lợi, bị Nhà nước coi là kẻ đã can án và phải chịu hình phạt Cơ sở của TNHS là CTTP
TNHS trong trường hợp thứ hai là kẻ phạm tội phải chịu những hậu quả trong mức độ truy tố Cơ sở để truy cứu TNHS theo nghĩa tố tụng là chứng cứ;
Trang 14thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự là lúc khởi tố vụ án và Cơ quan điều tra công bố ai là kẻ bị truy tố.
TS Bagri (người Nga) nghiên cứu TNHS và hình phạt từ cả 3 góc độ: đạo đức, tâm lý và pháp luật đã luận giải từ khái niệm: trách nhiệm, trách nhiệm pháp lý và kết luận về TNHS như sau [96, tr 29-31]:
- Về tính chất, TNHS là loại cưỡng chế Nhà nước áp dụng đối với kẻ phạm tội Kẻ gây ra tội phạm phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về hành vi hay bất hành vi phạm tội của mình, nó được thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế về hình sự, về tố tụng hình sự, về thủ tục thi hành án TNHS là một công cụ rất quan trọng để đấu tranh chống tội phạm
- Về bản chất, TNHS là tổng thể các quan hệ xã hội hình thành giữa một bên là kẻ phạm tội và một bên là Nhà nước thông qua các cơ quan của nó Các quan hệ đó chỉ phát triển theo chiều hướng có lợi cho Nhà nước và xã hội nếu được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Khi được pháp luật điều chỉnh, các quan hệ này có thể ở dạng quan hệ pháp luật hình sự, quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, quan hệ pháp luật về lao động cải tạo, về hành chính
- Về hình thức, TNHS được thể hiện ở những trình tự hay thủ tục đặc biệt do pháp luật quy định đó là thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục hành chính
Do đó giữa các ngành luật này có mối quan hệ khăng khít trong quá trình điều chỉnh TNHS
- Về mục đích, TNHS nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi bị tội phạm xâm hại M ặt khác, luật hình sự còn có mục đích giáo dục, cải tạo và phòng ngừa cho nên bản thân TNHS còn phải có mục đích giáo dục, cải tạo kẻ phạm tội
Ngoài tính chất pháp lý đã trình bày ở trên, TNHS còn có những nhiệm
vụ quan trọng khác về mặt chính trị, mang tích chất xã hội, nó thể hiện sự đánh giá có tính chất phủ định của Nhà nước đối với hành vi phạm tội và đối
Trang 15với kẻ phạm tội - muốn thủ tiêu tình trạng phạm tội và những nguyên nhân gây ra tình trạng đó.
Trong giới khoa học luật hình sự Việt Nam cũng tồn tại nhiều quan điểm không thống nhất:
- “TNHS theo nghĩa tổng thể bao gồm hai mặt: thực hiện TNHS từ phía
Nhà nước và chịu TNHS của người phạm tội Đó là hai mặt đan xen tạo thành
th ể thống nhất là TNHS Tuy đều là hậu quả của việc phạm tội nhưng phải có việc truy cứu TNHS từ phía Nhà nước mới đưa đến việc phải chịu TNHS của người phạm tội TNHS thực chất là nội dung của mối quan hệ giữa Nhà nước
và người phạm tội phát sinh từ thời điểm tội phạm được thực hiện ” [78, tr 7].
- “ TNHS là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt phát sinh khi có hành
vi phạm tội xảy ra giữa một bên là Nhà nước và bên kia là người phạm tội, trong đó, Nhà nước thông qua các cơ quan cố thẩm quyền của mình có quyền
áp dụng bằng biện pháp cưỡng chê chê tài hình sự đôi với người phạm tội vả người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi (được quy định trong
c h ế tài hình sự) do việc thực hiện hành vi phạm tộ i” [75, tr 110].
- “ TNHS được hiểu là: trách nhiệm của người phạm tội phải chịu
những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình [77, tr 164]
TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả của việc phạm tội với nội dung của nó bao gồm hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích; TNHS được thực hiện từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp lu ậ t” [91].
Qua các khái niệm nêu trên cho thấy tuỳ theo cách đặt vấn đề và góc độ xem xét khác nhau mà có những cách hiểu khác nhau về TNHS Tuy nhiên, các quan điểm đều thống nhất ở những nội dung sau: 1 TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, là hậu quả của việc thực hiện tội phạm; 2 TNHS là trách nhiệm cá nhân; 3 Người bị truy cứu TNHS có nguy cơ phải
Trang 16Nguyên nhân của việc tồn tại các quan điểm khác nhau và một phần nội hàm chung về TNHS vì các học giả đều xuất phát từ luận điểm: TNHS là một dạng “trách nhiệm pháp lý” Mà trách nhiệm pháp lý lại khởi nguồn từ “trách nhiệm” Trong khi đó, thuật ngữ: “trách nhiệm” có hai cách hiểu cơ bản khác nhau: nghĩa chủ động - tích cực và bị động - tiêu cực, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể [79, tr 394- 395].
Ở nghĩa tích cực, “trách nhiệm” chỉ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn
mà Nhà nước trao cho một số chủ thể nhất định, theo đó họ có thể chủ động ihực hiện Ví dụ: trách nhiệm đấu tranh phòng và chống tội phạm; trách nhiệm của cán bộ, lãnh đ ạo
“Trách nhiệm” hiểu theo nghĩa bị động, hàm chứa những hậu quả bất lợi đối với các chủ thể bị áp dụng; xảy ra khi có sự vi phạm pháp luật hoặc thoả thuận hợp đồng Ví dụ: trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm hành chính
Trong lĩnh vực tư pháp - hình sự, hoạt động áp dụng pháp luật - truy cứu TNHS của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định chế tài luật hình sự đối với chủ thể vi phạm pháp luật (chủ thể của tội phạm) được gọi là hoạt động áp dụng TNHS hay thực hiện TNHS Việc người phạm tội phải chịu những hậu quả bất lợi gọi là chịu TNHS hay thi hành TNHS [78, tr 7]
Trong BLHS năm 1985, năm 1999; các văn bản hướng dãn thi hành và vtrong hoạt động tố tụng, thuật ngữ TNHS thường đi liền với một số từ ngũ' khác cho phép xác định phạm vi nghĩa sử dụng, như: phải chịu TNHS, bị truy cứu TNHS, tình tiết tăng nặng TNHS, tình tiết giảm nhẹ TNHS, miễn TNHS
Trang 17V ới đa số các trường hợp, TNHS được dùng theo nghĩa bị động - nói tới hậu quả bất lợi mà người phạm tội có nguy cơ phải gánh chịu, sự phản ứng mang tính chất trừng phạt mà Nhà nước áp dụng đối với họ Đây cũng là nghĩa
mà luận văn sử dụng, ở góc độ này, TNHS có các đặc điểm cơ bản sau:
1.1.1.1 TNHS là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất
Đều là hậu quả, chế tài pháp lý áp dụng đối với người đã có hành vi vi phạm pháp luật Song so với các dạng trách nhiệm pháp lý khác (trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật) thì TNHS nghiêm khắc hơn rất nhiều và chỉ những chủ thể được quyền nhân danh Nhà nước mới có thể áp dụng Khi phải chịu những dạng trách nhiệm pháp lý khác, người vi phạm có thể bị khiển trách, cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu công cụ, phương tiện
vi phạm, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện đúng hợp đổng N hưng trong mọi trường hợp họ đều được đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, các quyền dân sự chính trị cơ bản Còn nếu phải chịu TNHS, người phạm tội có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nhiều quyền cơ bản: bị thiệt hại về tài sản, bị hạn chế cư trú, đi lại; bị cách ly với đời sống cộng đồng
có thời hạn hoặc không xác định thời hạn, thậm chí họ có thể bị tước cả sinh mạng
1.1.1.2 TNHS chỉ đặt ra khi có yếu tố lỗi
Trách nhiệm pháp lý đặt ra khi người vi phạm có lỗi: đã không thực hiện, thực hiện không đúng các quy định đã được Nhà nước ban hành hoặc các điều khoản của hợp đồng mà các bên ký kết, tham gia Trong một số trường hợp đặc biệt, trách nhiệm dân sự đặt ra mà không cần tính đến yếu tố lỗi Điều này tuyệt đối không áp dụng với TNHS Phạm vi áp dụng TNHS hẹp hơn nhiều, chỉ đặt ra khi có tội phạm: hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới khách thể được luật hình sự bảo vệ
Trang 181.1.1.3 TNHS là trách nhiệm cá nhân
Luật hình sự nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới quy định TNHS
là trách nhiệm cá nhân, chính con người cụ thể đã thực hiện tội phạm phải chịu hậu quả bất lợi (trừ một số trường hợp đặc biệt: chủ thể đã sử dụng người không có năng lực TNHS như công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm); không có sự thoả thuận, chuyển giao TNHS giữa các chủ thể như các nghĩa vụ dân sự - lao động
Ớ một số quốc gia (Pháp, Trung Quốc, ú c , Singapore ), TNHS đặt ra với cả pháp nhân song pháp nhân là chủ thể hạn chế, chỉ áp dụng với một số ít loại tội phạm và loại hình phạt [9, tr 24]
1.1.1.4 TNHS được xác định theo trình tự, thủ tục chặt chẽ: thủ tục tố tụng hình sự
Người thực hiện tội phạm có nguy cơ phải chịu những hậu quả bất lợi ngay khi tội phạm xảy ra thậm chí cả khi mới chuẩn bị công cụ phương tiện cho việc phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên, đó
là lý thuyết về thời điểm làm phát sinh khả năng phải chịu TNHS của chủ thể tội phạm Thực tế, để áp dụng bất kỳ hậu quả bất lợi nào đối với người phạm tội đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), phải được tiến hành bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã Để xác định chắc chắn TNHS của người phạm tội thì Toà án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước chính thức kết tội một con người bằng bản án hình
sự Bản án là kết quả quá trình tiến hành truy cứu TNHS của hệ thống cơ quan
tư pháp: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án So với các dạng trách nhiệm pháp lý khác, TNHS được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn rất nhiều Các dạng trách nhiệm pháp lý khác thường chỉ do một cơ quan; một cán bộ - công chức có thẩm quyền giải quyết hoặc các bên
Trang 19có thể tự thương lượng, hoà giải với nhau TNHS được tiến hành bởi Cơ quan điều tra: thu thập, đánh giá chứng cứ chứng minh tội phạm; Viện kiểm sát: truy tố, buộc tội bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng và Toà án xét xử, kết tội Bất kỳ sự thiếu sót, nhầm lẫn nào trong quá trình truy cứu TNHS đều có nguy cơ dẫn đến sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bản án không thể
có hiệu lực pháp luật, không thể kết tội người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
1.1.1.5 TNHS có giới hạn về thời gian
Đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý là có giới hạn về thời gian: phát sinh cùng với hành vi vi phạm pháp luật và chấm dứt theo các căn cứ luật định
TNHS phát sinh ngay khi tội phạm xảy ra, nghĩa là chủ thể có nguy cơ phải chịu hậu quả bất lợi khi hành vi của họ CTTP theo quy định của BLHS Tuy nhiên, về mặt thực tế người phạm tội chỉ có thể bị hạn chế hay tước bỏ các quyền và lợi ích khi các cơ quan Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với họ Quá trình này thường bắt đầu bằng việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can Các hậu quả bất lợi chấm dứt khi có căn cứ: Người phạm tội được miễn TNHS; được miễn hình phạt, được xoá án tích
Đối với các tội phạm ẩn: tội phạm không bị phát hiện, không bị xử lý,
về lý thuyết có làm phát sinh TNHS nhưng thực tế người thực hiện tội phạm không bị hạn chế hay tước bỏ các quyền và lợi ích nào do việc đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Và khi hết thời hiệu truy cứu TNHS thì TNHS của họ được giải phóng hoàn toàn, chủ thể sẽ không bao giờ phải chịu những hậu quả bất lợi về mặt pháp lý hình sự cho dù sau đó tội phạm bị phát hiện Ngoại trừ một số loại tội phạm không áp dụng thời hiệu: các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hoà bình, chống phá loài người và tội phạm chiến tranh [1, tr 26]
Trang 201.1.1.6 Các nội dung thể hiện TNHS
Mặc dù cùng xác định: TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể
do việc thực hiện tội phạm, song hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của TNHS
TS Lê Thị Sơn cho rằng: “ TNHS là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể: Nhà nước- bên thực hiện TNHS và người phạm tội - bên chịu
T N H S Đối với người phạm tội, chịu TNHS có nghĩa là phải chịu tất cả các hậu quả do việc thực hiện tội phạm đem lại: Bị truy cứu TNHS; bị kết tội; phải chịu biện pháp cưỡng ch ế của TNHS và chịu mang án tích ” [78, tr 8].
TS Trần Thị Quang Vinh cho rằng: Nội dung của TNHS bao gồm hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích; TNHS được thực hiện từ khi bản án kết tội
cổ hiệu lực [91, t r i 7]
Theo chúng tôi, khi thống nhất rằng: TNHS là những hậu quả pháp lý bất lợi về hình sự do việc thực hiện tội phạm; TNHS phát sinh từ thời điểm tội phạm được thực hiện thì tất cả các biện pháp cưỡng chế có tính chất tư pháp- hình sự áp dụng đối với người thực hiện tội phạm khi họ bị truy cứu và việc thi hành án, mang án tích đều là những nội dung biểu hiện TNHS Bởi vì tất cả các bất lợi này đều có nguyên nhân từ việc thực hiện tội phạm và nó không thể
là dạng trách nhiệm pháp lý nào khác Tính chất, mức độ của TNHS thường được thể hiện qua: tính nghiêm khắc của biện pháp ngăn chặn, tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt, biện pháp tư pháp, án tích Khi TNHS nhẹ,
do có sự thay đổi của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội, có nhiều tình tiết giảm n h ẹ .người phạm tội
có thể được miễn TNHS, miễn hình phạt (nghĩa là họ không phải chịu hoặc chỉ phải chịu một phần nhỏ hậu quả bất lợi) [1, tr 1; 25]
Trang 21Trong số các nội dung của TNHS thì tội danh, khung hình phạt, và hình phạt cụ thể là sự biểu hiện tập trung và cơ bản nhất Khi biết các nội dung này chúng ta có thể hình dung tương đối đầy đủ về TNHS của chủ thể.
Hình phạt là một nội dung của TNHS, là m ột biện pháp cưỡng chế trong số các biện pháp mà Nhà nước áp dụng đối với người thực hiện tội phạm Song đó là biện pháp cưỡng chế chủ yếu, là kết quả của cả quá trình
tố tụng thể hiện thái độ phủ định của Nhà nước đối với tội phạm và người phạm tội Vì vậy trong nhiều trường hợp, hình phạt được sử dụng đồng nghĩa với TNHS - nói tới hình phạt là nói tới TNHS Và ngược lại, khi nói
về TNHS của một chủ thể nào đó người ta chỉ bàn tới hình phạt mà Toà án
đã tuyên đối với họ Hình phạt được tuyên, bản án có hiệu lực, nghĩa là đã Nhà nước đã chính thức xác định việc hạn chế, tước bỏ các quyền, lợi ích
mà chủ thể lẽ ra được hưởng trong một khoảng thời gian hoặc vĩnh viễn Chủ thể phải thi hành hình phạt theo quy định của pháp luật về thi hành án: nộp tiền, bị hạn chế việc tự do đi lại, đi cải tạo tập trung, .T rong một số trường hợp: Chủ thể là người chưa thành niên, phạm tội ít nghiêm trọng, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì Toà án áp các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng [1, tr 32-33]
Sau khi thi hành án xong, người phạm tội thường phải mang án tích trong một khoảng thời gian luật định; bị hạn chế một số quyền dân sự, chính trị
Tóm lại: Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm ph áp lý nghiêm
khắc nhất, p h á t sinh khi có hành vi phạm tội, theo đó người thực hiện tội phạm có nguy cơ phải gánh chịu những hậu quả ph áp lý bất lợi- chịu tác động của các hoạt động truy cứu TNHS, bị áp dụng các biện ph áp ngăn chặn, bị kết án, phải chịu hình ph ạt, các biện ph áp tư ph áp và án tích; TNHS chấm dứt khi có các căn cứ luật định.
Trang 221.1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Từ khái niệm “cơ sở”: cái nền tảng trong quan hệ với những cái xây
clựng trên nó hoặc dựa trên nó mà tồn tại, phát triển [95], thuật ngữ “cơ sở
của TNHS” được hiểu là những căn cứ, là nền tảng, khuôn mẫu chuẩn để dựa
vào đó xác định TNHS BLHS năm 1999 quy định cơ sở của TNHS tại Điều 2:
"Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định là tội phạm thì mới
phải chịu T N H S ” Đây là quy phạm có tính nguyên tắc, khái quát và chung
nhất về TNHS, biểu thị các nội dung: 1 Chỉ những người đã thực hiện tội
phạm mới phải chịu TNHS; 2 Những người không phạm tội thì không thể bị
áp dụng TNHS; 3 Tội phạm phải được quy định trong BLHS Như vậy cơ sở
làm phát sinh TNHS là hành vi phạm tội Nội dung này là sự kết tinh những
giá trị xã hội, thành quả quá trình đấu tranh dai dẳng và bền bỉ của lực lượng
tiến bộ, nhân đạo, của các tư tưởng khoa học trong suốt lịch sử phát triển lâu
dài của luật hình sự Nó bao hàm hai nguyên tắc: nguyên tắc hành vi và
nguyên tắc không có tội nếu không có luật
1.1.2.1 Nguyên tắc hành vi đảm bảo rằng: luật hình sự cũng như pháp luật nói chung chỉ điều chỉnh hành vi của con người, những biểu hiện ra bên
ngoài thế giới khách quan gây nên tình trạng nguy hiểm cho xã hội chứ không
điều chỉnh, truy nã tư duy hay các đặc điểm nhân thân Các chủ thể tuyệt đối
không thể bị áp dụng TNHS vì những tư tưởng, ý nghĩ, niềm tin hay đặc điểm
nhân thân cho dù đó là âm mưu hay ý định phạm tội xấu xa, phản động mà
chưa được thể hiện bằng hành vi Cơ sở khoa học của nguyên tắc này là: các tư
tưởng, đặc điểm nhân thân không có khả năng gây nên bất kỳ sự nguy hại thực
tế nào; chỉ bằng hành vi con người mới có thể gây ra các tác động đối với xã
hội Và do đó pháp luật bảo đảm trật tự xã hội không thể áp dụng các hậu quả
bất lợi đối với con người khi họ chưa có bất kỳ hành vi nào hiện thực các suy
nghĩ, niềm tin ấy Tuy nhiên khi các tư tưởng, suy nghĩ đã được thực hiện thì
TRƯỜNG Đ A I H O C UJÂT HA NÒI
PHÒNG G V Ố~M*Ì
Trang 23các yếu tố về lỗi, động cơ mục đích, đặc điểm nhân thân người phạm tội đều
có thể ảnh hưởng tới TNHS của chủ thể - nó biểu thị tính chất, mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội và người phạm tội v ề mối quan hệ giữa con người
và pháp luật, c Mác đã viết:
“C hỉ theo mức độ tôi tự biểu hiện ra, theo mức độ tôi bước vào lĩnh vực
thực t ế thì tôi mới bước vào phạm vi dưới quyền lực của nhà lập pháp Ngoài
hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn
không phải là đối tượng của nó Những hành vi của tôi đó là lĩnh vực duy nhất
vì nó mà tôi đòi quyền tồn tại, quyền hiện thực và như vậy là do nó mà tôi rơi
vào quyền lực của pháp luật hiện hành” [12, tr 19].
Để có được nhận thức như C.Mác đã đúc kết, loài người đã phải trải qua
thời kỳ đen tối, các quan điểm có tính chất tôn giáo- nhà thờ truy bức dã man
những kẻ khác tín ngưỡng, những kẻ vô thần hoặc vì những đặc điểm nhân
thân của con người [16, tr 128-149;], [75, tr 533-568], [80]: 1.Thuyết về tình
trạng nguy hiểm của nhân thân (thế kỷ XX) đại diện là F List và
A.Gramanchika cho rằng: có loại người luôn bị coi là nguy hiểm cho xã hội
do nhân thân của họ, để bảo vệ mình xã hội cần phát hiện ra họ và áp dụng
biện pháp an ninh trước khi họ xâm hại đến các lợi ích của xã hội; các căn cứ
và giới hạn của TNHS cần được xác định bằng chính nhân thân của họ;
2.Thuyết nhân chủng học ở Ý những năm 70- 80 của thế kỷ XIX cho rằng: có
những người ngay từ khi sinh ra đã là những kẻ phạm tội và cần phải cách ly
vĩnh viễn khỏi xã hội bằng cách đưa đi biệt xứ hoặc đến nơi khổ sai hoặc các
hòn đảo xa xôi không có người ở
1.1.2.2 Nguyên tắc: không có tội nếu không có luật, không có hình phạt nếu không có luật- là nguyên tắc cơ bản của luật hình sự hiện đại, phản
ánh yêu cầu về hình thức pháp lý của tội phạm Ngày nay, nó được thể chế
trong hầu hết mọi BLHS của các quốc gia và luật pháp quốc tế Tuyên ngôn
Trang 24nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc đã ghi nhận: “Không ai có th ể bị kết
án vê một tội phạm nếu thực hiện một hành vi nào đó mà không cấu thành tội phạm theo luật pháp của nước mình hoặc theo luật quốc têu [36] Sự ra đời và
hiệu lực của nguyên tắc đảm bảo hành vi chỉ trở thành tội phạm nếu trước khi thực hiện đã có các quy định của pháp luật dự liệu xác định nó là tội phạm và
có hình phạt kèm theo Nguyên tắc này có vị trí quan trọng trong các BLHS,
đã chấm dứt sự tuỳ tiện, vô căn cứ khi áp dụng pháp luật, tự do trừng phạt con người kéo dài suốt các thời kỳ nô lệ, phong kiến với quyền uy tuyệt đối thuộc
về giới chủ nô, lãnh chúa, các đế vương Đồng thời nó loại trừ việc áp dụng nguyên tắc tương tự khi truy cứu TNHS Nguyên tắc: Không có tội nếu không
có luật ra đời có công lao to lớn của các nhà luật học nổi tiếng thuộc trường phái Khai sáng nhân đạo (thế kỷ XVIII):Sarl Monteskiơ (1689- 1755), Volte (1694- 1778), Treraze Beccaria (1738- 1794) và sau được các các nhà luật học thuộc trường phái Luật hình sự cổ điển (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ở Đức): G.Hcghen (1770- 1830); A Phơbach (1775- 1833) kế thừa, phát triển nâng lên thành hệ thống lý luận, thành các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự [16, tr 128-149;] [75, tr 533-568]
Theo luật hình sự Việt Nam, để truy cứu TNHS các cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh được rằng chủ thể đã thực hiện tội phạm, nghĩa là đã
có “hành vi nguy hiểm cho x ã hội được quy định trong BLHS, do người có
năng lực TNHS thực hiện một cách c ố ỷ hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ T ổ quốc, xâm phạm c h ế độ chính trị,
c h ế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [1, tr 9]
Trong khoa học luật hình sự, tội phạm được hiểu là hành vi thoả mãn CTTP-
Đó là tổ hợp các dấu hiệu pháp lý gồm yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan,
Trang 25chủ thể, khách thể của tội phạm tạo nên hệ quy chiếu cho phép xác định một hành vi có đủ các dấu hiệu mà nó quy định là tội phạm CTTP được xây dựng trên cơ sở trừu tượng, mô hình và khái quát hoá các hiện tượng tiêu cực, nguy hiểm cho xã hội dưới giác độ của luật hình sự Giữa các CTTP bất kỳ có thể có chung một hoặc vài dấu hiệu nhưng trong sự kết hợp của cả 4 yếu tố chúng tạo nên tính đặc trưng, không thể có sự trùng lặp hoàn toàn Các dấu hiệu trong cấu thành có tính chất chung và bắt buộc đối với mọi tội phạm, nó được nhận thức thông qua những quy định trong Phần chung của BLHS: tuổi chịu TNHS, tình trạng không có năng lực TNHS, lỗi, thời hiệu truy cứu TNHS .V à các đặc điểm về hành vi, hậu quả, đối tượng, công cụ, phương tiện có tính chất bắt buộc riêng biệt cho từng tội phạm trong các điều luật thuộc Phần các tội phạm cụ thể Nếu hành vi thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của CTTP thì nó là tội phạm với tội danh là tên của điều luật thuộc Phần các tội phạm cụ thể và chủ thể có nguy cơ phải chịu TNHS theo chế tài mà điều luật quy định.
Khi xem xét một hành vi có thoả mãn CTTP hay không phải sử dụng đồng thời các phương pháp phân tích và tổng hợp, đánh giá từng yếu tố trên cơ
sở mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác Hành vi xảy ra trên thực tế có đặc điểm thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu mà CTTP mô tả thì đó phải là tội phạm và ngược lại, đã là tội phạm thì phải là hành vi đã xảy ra và có đầy đủ các đặc điểm như các dấu hiệu mà CTTP mô tả, trừ một số trường hợp đặc biệt: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm Từ đặc tính đó, CTTP (khái niệm của khoa học luật hình sự) được coi như khuôn mẫu pháp lý của tội phạm - hiện tượng tiêu cực của xã hội Như vậy khi pháp luật xác định cơ sở của TNHS là tội phạm thì trong nghiên cứu khoa học luật hình sự CTTP là khuôn mẫu pháp lý của TNHS
Cơ sở của TNHS (Điều 2 BLHS) cho phép xác định chỉ người nào phạm tội mới phải chịu TNHS nhưng không bao hàm nghĩa: bất kỳ ai phạm tội cũng phải chịu TNHS như một số quan điểm đang tồn tại trên diễn đàn khoa học
Trang 26hiện nay [56]: “Điều 2 BLHS là cơ sở chung của TNHS, thực chất cố hai nội
dung: ỉ Chỉ người nào phạm tội mới phải chịu TNHS; 2.Bất kỳ ai phạm tội
cũng phải chiu T N tìS ” hoặc [75, tr 111] “C/ỉ/ người nào phạm tội mới phải
chịu TNHS, và điều đó cũng có nghĩa là bất kỳ ai phạm tội cũng phải chịu
T N H S ” Bởi vì tội phạm làm phát sinh khả năng phải chịu TNHS chứ không
đồng nghĩa với việc người thực hiện tội phạm chắc chắn phải chịu những hậu
quả bất lợi đó Một thực tế phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới là tồn
tại tình Irạng tội phạm ẩn- tội phạm không bị phát hiện, không xác định được
chủ thể tội phạm, đã hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc trong một số trường
hợp được miễn TNHS, cho thấy rằng người phạm tội đã không phải chịu bất
kỳ hậu quả bất lợi nào dù tội phạm đã xảy và gây những thiệt hại cho cộng
đồng xã hội
Tóm lại, pháp luật hình sự xác định cơ sở của TNHS là tội phạm - hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS; và về mặt khoa học pháp
lý ứng dụng thì CTTP là khuôn mẫu pháp lý, là cơ sở để xác định tội phạm,
xác định TNHS Mọi hành vi thoả mãn các yếu tố CTTP đều bị coi là tội
phạm và ngược lại; khi thực hiện tội phạm chủ thể có nguy cơ phải chịu những
hậu quả bất lợi, phải chịu TNHS
1.2 Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1.2.1 Khái niệm và các đặc điểm của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Tinh tiết giảm nhẹ TNHS (gọi tắt là tình tiết giảm nhẹ), là phần không
thể thiếu của hầu hết các BLHS, là một trong các căn cứ để phân hoá và cá thể
hoá TNHS Nó ảnh hưởng có lợi cho các chủ thể tội phạm và thường xuyên
được Toà án áp dụng Trong khoa học pháp lý, tình tiết giảm nhẹ TNHS thu
hút sự quan tâm, sự chia sẻ kinh nghiệm của đông đảo các học giả, các nhà áp
Trang 27dụng pháp luật Song hiện vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về tình tiết giảm nhẹ TNHS, diễn đàn khoa học tồn tại nhiều quan điểm khác nhau:
Thạc sỹ Đinh Văn Quế, Chánh toà Toà phúc thẩm TANDTC, một
chuyên gia áp dụng pháp luật đã định nghĩa: “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS ỉà
các tình tiết trong một vụ án cụ th ể nó s ẽ làm giảm TNHS của người phạm tội trong một khung hình phai” [60, tr 240].
Tác giả Dương Tuyết Miên, chuyên nghiên cứu và giảng dạy luật hình
sự đã viết: “Tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết đã được quy định
trong BLHS hoặc do Toà án xác định phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của họ Những tình tiết này có ý nghĩa làm giảm nhẹ mức
độ TNHS của người phạm tội” [49].
Tác giả Phạm Thanh Bình lại cho rằng: “Những tình tiết giảm nhẹ
T NHS là những tình tiết chứng tỏ mức độ ít nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội hoặc tội phạm đã được thực hiện so với trường hợp người phạm tội tương tự trong hoàn cảnh khác” [6].
Còn rất nhiều tác giả cũng đưa ra các định nghĩa về tình tiết giảm nhẹ
TNHS trên cơ sở phân tích, bình luận từ những góc độ khác nhau: “Các tình
tiết giảm nhẹ là những tình tiết có liên quan đến việc giải quyết TNHS, có giá tri giảm nhẹ TNHS mà giá trị đó chưa được ghi nhận trong c h ế tài được quy định đối với tội phạm cụ thể Giá trị giảm nhẹ TNHS của chúng được xác định bằng khả năng làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; khả năng cải lioá của người phạm tội hoặc vì hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng” [91]; “Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong Phần chung BLHS với tính chất ỉà tình tiết giảm nhẹ chung hoặc tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp
Trang 28luật hay do Toà án tự xem xét, cân nhắc và ghi rổ trong bản án đồng thời là một trong những căn cứ đ ể Toà án cá th ể hoá TNHS và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt ”
[98, tr 93]
Hoàn toàn không trùng nhau song các quan điểm trên đều thể hiện rõ những đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ TNHS là: 1 Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được ghi nhận trong Phần chung của BLHS (Điều 46), trong văn bản hướng dẫn thi hành hoặc do Toà án xác định và không phải là những tình tiết được ghi nhận trong các điều luật thuộc Phần các tội phạm cụ thể; 2 Tinh tiết giảm nhẹ là căn cứ để quyết định hình phạt; ảnh hưởng làm giảm nhẹ TNHS của người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt xác định, trừ một số trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật; 3 Là các tình tiết của vụ án hình sự có liên quan đến việc giải quyết TNHS, phản ánh mức
độ ít nguy hiểm so với các trường hợp phạm tội thông thường, phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội hoặc hoàn cảnh đặc biệt
Như vậy, theo các quan điểm trên, tình tiết giảm nhẹ TNHS chỉ có vai trò trong quyết định hình phạt, là cãn cứ để Toà án lựa chọn loại hình phạt nhẹ, mức hình phạt thấp hơn Sự xuất hiện của tình tiết giảm nhẹ TNHS trong mọi trường hợp đều không có ảnh hưởng tới tính chất của tội phạm, không làm thay đổi tội danh và khung hình phạt Có nghĩa là tình tiết giảm nhẹ TNHS không thể là tình tiết định tội danh hay định khung hình phạt giảm nhẹ
ớ phần “1.1.1 Khái niệm và các đặc điểm của trách nhiệm hình sự”
đã phân tích: TNHS là khái niệm rộng, bao hàm nhiều dạng biểu hiện, trong
đó tội danh, khung hình phạt và hình phạt là những nội dung cơ bản và quan trọng nhất Hình phạt là khái niệm hẹp thuộc nội hàm của TNHS, đó là sự đánh giá chính thức, thể hiện thái độ của Nhà nước về tội phạm và người phạm tội Đúng như tên gọi và bản chất của nó, tình tiết giảm nhẹ TNHS phải được
Trang 29hiểu là bất kỳ tình tiết nào mà sự xuất hiện của nó làm giảm tính chất, mức độ nghiêm khấc của TNHS Những sự giới hạn cho rằng tình tiết giảm nhẹ chỉ ảnh hưởng làm giảm hình phạt theo khung và tội danh đã xác định là chưa thoả đáng, đã đồng hoá TNHS với hình phạt, là sai lệch bản chất của các nội dung này.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn xét
xử cho thấy có những trường hợp TNHS của chủ thể được xử lý theo tội danh, khung hình phạt hoặc hình phạt nhẹ hơn do sự xuất hiện của tình tiết giảm nhẹ Đối với các trường hợp này nếu bỏ qua các tình tiết giảm nhẹ thì vẫn tồn tại tội phạm Và TNHS của chủ thể được giải quyết theo tội danh cơ bản, khung hình phạt cơ bản và hình phạt ở mức cao hơn Với những tính cách đó,
sự ảnh hưởng của mỗi tình tiết giảm nhẹ trong các trường hợp khác nhau là khác nhau song tất cả các tình tiết giảm nhẹ TNHS đều có đặc điểm cơ bản sau:
1.2.1.1 Về mối quan hệ với tội phạm
Tinh tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết phản ánh hoặc có liên quan đến tội phạm và TNHS của chủ thể Đây là yêu cầu chung đối với mọi loại tình tiết của vụ án hình sự Các tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh những mặt, khía cạnh của tội phạm cho phép xác định tính ít nguy hiểm hơn của tội phạm hoặc người phạm tội so với các trường hợp phạm tội thông thường Đó có thể
là các yếu tố của CTTP hoặc các tình tiết bổ sung làm rõ mức độ nguy hiểm của tội phạm Các tình tiết này mô tả: hành vi, hậu quả của tội phạm; khách thể bị xâm hại; năng lực nhận thức, kinh nghiệm sống của chủ thể; lỗi, động
cơ, mục đích, công cụ, phương tiện, hoàn cảnh phạm tội N goài ra còn có một số tình tiết không trực tiếp phản ánh về tội phạm nhưng lại có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề TNHS, cho phép tin tưởng khả năng cải tạo tốt của người phạm tội hoặc thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự
Trang 30Với đặc điểm ảnh hưởng giảm nhẹ TNHS, các tình tiết giảm nhẹ thường gặp là những tình tiết phản ánh mức độ ít nguy hiểm hơn của tội phạm hoặc người phạm tội Những tình tiết giảm nhẹ TNHS ảnh hưởng tới tính chất của tội phạm thường ít gặp hơn, chỉ xảy ra ở một số trường hợp đặc biệt - thể hiện
sự phân hoá TNHS ở mức độ cao
1.2.1.2 Về vai trò và mức độ ảnh hưởng tới TNHS
Là các tình tiết có ảnh hưởng có lợi cho chủ thể, không phải là căn cứ
để xác định có hay không có tội phạm, tình tiết giảm nhẹ TNHS chỉ phản ánh tính ít nguy hiểm hơn của hành vi phạm tội hoặc người phạm tội Sự xuất hiện của nó trong vụ án hình sự làm giảm các hậu quả bất lợi đối với người phạm tội: chủ thể được miễn TNHS, miễn chấp hành hình phạt; TNHS của chủ thể được xử lý theo tội danh nhẹ hơn, khung hình phạt nhẹ hơn, loại hình phạt nhẹ hơn, mức hình phạt thấp hơn; chủ thể được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (được hưởng án treo)
1.2.1.3 Về cơ sở pháp lý
Là những tình tiết được quy định trong BLHS hoặc Toà án thừa nhận
Để ảnh hưởng giảm nhẹ tới TNHS, các tình tiết phải được quy định trong BLHS (trực tiếp hoặc gián tiếp) Nghĩa là nó phải thuộc vào nhóm: 1 Các tình tiết được được liệt kê tại khoản 1 Điều 46; 2 Tinh tiết được Toà án công nhận khi quyết định hình phạt theo khoản 2 Điều 46 (bao gồm những tình tiết được quy định trong Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC [1, tr 216]; tình tiết do Toà án công nhận, ghi rõ trong bản án) hoặc; 3 Những tình tiết có tính chất đặc biệt: chủ thể tội phạm
là người chưa thành niên, phụ nữ mới sinh con, chuẩn bị tội phạm, phạm tội chưa đạt, người đồng phạm khác (được quy định trong các điều luật về tội
Trang 31xâm phạm an ninh quốc gia, tội giết con mới đẻ, hoặc được hiểu thông qua một số điều luật khác thuộc Phần chung của BLHS).
Khi giải quyết các nội dung cụ thể của TNHS: miễn hình phạt; áp dụng
án treo; hoãn chấp hành hình phạt tù; tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; xoá
án tích trong trường hợp đặc biệt Một số tình tiết cụ thể khác, phù hợp với từng giai đoạn cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS: người phạm tội là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; chủ thể bị bệnh; có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt
1.2.1.4 Về nguyên tắc áp dụng tình tiết giảm nhẹ
Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ phải đảm bảo: một tình tiết giảm nhẹ TNHS không thể đồng thời là tình tiết giảm nhẹ định tội, định khung hay
giảm nhẹ hình phạt Khoản 3 Điều 46 BLHS quy định rõ: “Các tình tiết giảm
nhẹ đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không
dược coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt” [1 tr 22] Quy
định này là sự cụ thể hoá nguyên tắc chung: một tình tiết không thể được sử dụng nhiều lần đối với các tình tiết giảm nhẹ Trong pháp luật hình sự Việt Nam, các tội phạm có tình tiết giảm nhẹ là dấu hiệu định tội, định khungchiếm tỷ lệ không nhiều, ở những trường hợp này, ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ đến TNHS rất cao: làm thay đổi tính chất của tội phạm, có giá trị xác định tội danh nhẹ hơn hoặc khung hình phạt nhẹ hơn Vì thế nó không chỉ được ghi nhận trong khoản 1 Điều 46 mà còn được ghi nhận trong các điều luật thuộc Phẩn các tội phạm cụ thể Để đảm bảo tính khoa học cũng như các nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS phải tuân thủ thứ tự ưu tiên như sau: 1 Tình tiết giảm nhẹ định tội, 2 Tinh tiết giảm nhẹ định khung, 3 Tinh tiết giảm nhẹ hình phạt Nghĩa là, một tình tiết giảm nhẹ TNHS chỉ được coi là tình tiết
Trang 32giảm nhẹ hình phạt khi nó không phải là tình tiết định tội hay tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ Ví dụ: A đi làm đồng về thì thấy mọi người đang chửi mắng B vì B đã có hành vi hãm hiếp cháu c (con gái của A) Quá bực tức, A liền cầm cuốc đánh vào đầu B B bị chết khi được đưa đến bệnh viện Khám nghiệm tử thi xác định B chết do bị đánh vào đầu bởi nhát cuốc của A
Vụ việc đã được xác định rằng: A đã giết B và có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên TNHS của A được giải quyết theo Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 BLHS năm 1999) chứ không phải theo Tội giết người (Điều 93) và coi tình tiết tinh thần
bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây nên là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt
1.2.1.5 Về thuộc tính vận động của tình tiết giảm nhẹ TNHS
Không phải là đại lượng bất biến, số lượng các tình tiết giảm nhẹ cũng như sự ảnh hưởng của mỗi tình tiết là không cố định, chủ quan mà nó có tính khách quan, phản ánh yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm Tình tiết giảm nhẹ vận động, biến đổi cùng với sự phát triển của luật hình sự nói chung Thực tế đã chứng minh rằng: có sự thêm, bớt về số lượng các tình tiết giảm nhẹ, có sự thay đổi về nội dung của các điều luật quy định về tình tiết giảm nhẹ, liên quan đến tình tiết giảm nhẹ Sự phân hoá TNHS: tách các khung hình phạt giảm nhẹ của các loại tội phạm truyền thống, điển hình thành các điều luật riêng với tên gọi mới đã làm cho tình tiết giảm nhẹ định khung chuyển thành tình tiết giảm nhẹ định tội V í dụ: Tội giết con mới đẻ (Điều 94 BLHS năm 1999), được tách từ Tội giết người (Điều 101 BLHS năm 1985 nay là Điều 93 BLHS năm 1999)
Tóm lại: Tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết thuộc vê mặt khách
quan, chủ quan của tội phạm, phản ánh nhân thán người phạm tội hoặc chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự mà sự xuất hiện của nó làm cho tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, người phạm tội giảm đi và vì vậy TNHS của chủ thế thực hiên tội phạm củng giảm đi: được xử lý theo tội danh nhẹ hơn, khung hình phạt nhẹ horloại hình phạt nhẹ hoặc mức hình phạt thấp hon.
Trang 331.2.2 Phân loại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Trong khoa học, phân chia đối tượng nghiên cứu thành các nhóm nhỏ là
điều cần thiết và phổ biến Việc xem xét, đánh giá đối tượng từ các góc độ,
bình diện khác nhau rồi tổng hợp lại cho ta cái nhìn toàn diện và đầy đủ, là cơ
sở cho các kết luận chính xác, khách quan Mỗi cãn cứ đem đến một cách
phân loại khác nhau và ở mức độ nhất định chúng đều có ý nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có đặc điểm chung là mô tả tính ít nguy
hiểm hơn của tội phạm, người phạm tội; làm giảm nhẹ những hậu quả bất lợi
mà Nhà nước có thể áp dụng đối với chủ thể Song chúng lại rất khác nhau
trong nội dung phản ánh; cơ chế, tính chất, mức độ ảnh hưởng tới tội phạm và
TNHS Trong khoa học luật hình sự có nhiều cách phân loại tình tiết giảm
nhẹ, từ góc độ nghiên cứu về quan hệ của tình tiết giảm nhẹ với tội phạm và
TNHS, tình tiết giảm nhẹ được phân loại theo 3 căn cứ sau:
1.2.2.1 Phân loại tình tiết giảm nhẹ TNHS căn cứ vào ý nghĩa pháp lý: vai trò, mức độ ảnh hưởng tới TNHS của chủ thể
Cơ sở của TNHS là tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong BLHS Nhưng tội phạm không phải là hiện tượng giản đơn, thuần
nhất; nó cực kỳ đa dạng, phức tạp do sự khác biệt và phong phú của nhiều loại
khách thể, chủ thể; tính chất, mức độ của hành vi, hậu quả; trạng thái tâm lý
của kẻ tội phạm, vai trò của người bị h ạ i Để việc truy cứu TNHS được chính
xác, thuận lợi; đảm bảo sự tương xứng giữa tội phạm và hình phạt; đạt được
mục đích của hình phạt, BLHS - nguồn duy nhất để xác định tội phạm và các
chế tài hình sự đã được cấu trúc thành các nhóm tội (tương ứng với các
chương trong Phần các tội phạm cụ thể); thành các tội (tương ứng với các điều
luật) và mỗi tội lại thường được phân thành các khung hình phạt khác nhau
Mỗi khung hình phạt là một khoảng giới hạn cho phép nhà áp dụng luật lựa
Trang 34chọn một mức phù hợp với từng trường hợp cụ thể Việc xác định TNHS phải
căn cứ vào từng vụ án Dựa vào vai trò trong quá trình truy cứu TNHS, xác
định hình phạt, các tình tiết của vụ án được chia thành: tình tiết định tội, tình
tiết định khung, tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt Đối với các tình
tiết giảm nhẹ TNHS chúng ta có sự phân loại tương ứng: tình tiết giảm nhẹ
định tội; tình tiết giảm nhẹ định khung và tình tiết giảm nhẹ hình phạt
- Tinh tiết giảm nhẹ TNHS định tội (hay tình tiết giảm nhẹ định tội) là những tình tiết có vai trò trong định tội danh: dùng để xác định tên gọi của tội
phạm mà chủ thể phạm phải Các tình tiết này được quy định trong CTTP, là
yếu tố của CTTP cơ bản nếu tội phạm đó có nhiều cấu thành Sự khác biệt của
tinh tiết giảm nhẹ so với các tình tiết định tội thông thường là: Các tình tiết
định tội thông thường trong sự kết hợp với nhau tạo nên đặc trưng của từng
tội, không một loại tội phạm nào khác có thể thoả mãn (trừ tội phạm chứa tình
tiết giảm nhẹ là yếu tố cấu thành) và sự thiếu đi của chúng có thể dẫn tới vô
tội Các tình tiết giảm nhẹ định tội là dấu hiệu dể phân định tội danh chứa nó
với tội phạm có tính chất gốc, cơ bản và điển hình mà tội phạm chứa tình tiết
giảm nhẹ TNHS là một trường hợp đặc biệt Trong quan hệ với các loại tội
phạm nói chung, tình tiết giảm nhẹ định tội được xem như tình tiết bổ sung: sự
xuất hiện, mất đi của nó không làm xuất hiện hay mất đi một tội phạm mà làm
cho tội phạm bị thay đổi về chất theo hướng giảm đi, và được phân hoá bằng
cách chuyển sang tội phạm khác thuộc loại nhẹ hơn với tên gọi mới Thông
thường tên của loại tội phạm giảm nhẹ đã bộc lộ rõ điểm đặc thù, thường xuất
phát từ tên gọi của tội phạm gốc cộng thêm tên tình tiết giảm nhẹ So với các
tình tiết giảm nhẹ khác, tình tiết giám nhẹ định tội có ảnh hưởng lớn nhất tới
TNHS của chủ thể Nó ảnh hưởng lớn tới tính chất nguy hiểm (theo hướng
giảm nhẹ) của tội phạm Trong pháp luật hình sự hiện hành, các tình tiết giảm
nhẹ định tội chiếm một số lượng không nhiều và chỉ bắt gặp ở các tội phạm
xâm hại tính mạng, sức khoẻ Đó là phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ
Trang 35chính đáng (PVCĐ), phạm tội trong trạng thái tình thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên và một trường hợp rất đặc biệt là người mẹ giết con mới đẻ do lạc h ậ u
- Tinh tiết giảm nhẹ TNHS định khung hình phạt (gọi tắt là tình tiếtgiam nhẹ định khung) là tình tiết phản ánh tính ít nguy hiểm hơn của tội phạm
so với trường hợp phạm tội phản ánh ở CTTP cơ bản Trong giới hạn của một loại tội phạm cụ thể thì sự thay đổi này được coi như làm biến đổi tính chất của tội phạm theo hướng giảm nhẹ Đó là cơ sở để TNHS của chủ thể cũng giảm đi, xác định trong giới hạn thấp hơn khung hình phạt cơ bản
Tinh tiết giảm nhẹ định khung là yếu tố thuộc CTTP giảm nhẹ Nó không là dấu hiệu để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác song là dấu hiệu để phân biệt các tội phạm có cùng tội danh, cùng quy định trong một điểu luật nhưng khác nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội Tinh tiết giảm nhẹ định khung ảnh hưởng đến TNHS thấp hơn tình tiết giảm nhẹ định tội nhưng cao hơn tình tiết giảm nhẹ hình phạt Trong truy cứu TNHS, tình tiết giảm nhẹ định khung chỉ được xem xét, cân nhắc áp dụng sau khi đã xác định được tội danh Các tình tiết giảm nhẹ định khung, hiện nay, chỉ còn gặp trong một số ít loại tội phạm thuộc nhóm Các tội xâm phạm an ninh quốc gia với các tình tiết là: có nhiều tình tiết giảm nhẹ; người đồng phạm khác; phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng
- Tinh tiết giảm nhẹ hình phạt hay tình tiết giảm nhẹ TNHS chung làtinh tiết mà sự xuất hiện của nó làm giảm mức hình phạt của chủ thể Đó thường là những tình tiết phản ánh rõ hơn về mức độ nguy hiểm của tội phạm, người phạm tội hoặc các tình tiết phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của chủ thể, thể hiện chính sách hình sự nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước Các tình tiết này không phải là yếu tố CTTP Khi truy cứu TNHS, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt chỉ được xem xét, sử dụng khi nó không là tình tiết định tội hay tình tiết
Trang 36định khung giảm nhẹ Là căn cứ để quyết định hình phạt, sự ảnh hưởng tới
TNHS của tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp này thấp hơn so tình tiết giảm
nhẹ định tội và tình tiết giảm nhẹ định khung Nó không làm thay đổi tính
chất của tội phạm, của TNHS mà chỉ làm giảm nhẹ mức độ nghiêm khắc của
hình phạt, làm cho hình phạt áp dụng với chủ thể ở mức thấp theo tội danh và
khung hình phạt đã xác định
Các tình tiết giảm nhẹ định tội, định khung được ghi nhận trong các
điều luật thuộc Phần các tội phạm cụ thể của BLHS và là yếu tố bắt buộc của
CTTP, biểu hiện sự phân hoá TNHS Còn tình tiết giảm nhẹ hình phạt được
ghi nhận trong các điều luật ở Phần chung, hoặc trong văn bản hướng dẫn áp
dụng pháp luật, do Toà án xác định - Là căn cứ để cá thể hoá TNHS và hình
phạt
Việc phân chia tình tiết giảm nhẹ TNHS thành 3 loại như trên chỉ có
tính chất tương đối trong nghiên cứu chung về tội phạm và TNHS Với mỗi vụ
án cụ thể, việc xác định một tình tiết nào đó là tình tiết giảm nhẹ định tội,
giảm nhẹ định khung hay giảm nhẹ hình phạt hoàn toàn có tính chất bắt buộc
và tuyệt đối Mọi sự nhầm lẫn đều là sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp
luật và dẫn đến kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử không thể được
chấp nhận Chính vì vậy việc nghiên cứu về tình tiết giảm nhẹ theo cách phân
loại này có ý nghĩa thiết yếu với việc tiếp tục phát triển luật hình sự và hoạt
động áp dụng pháp luật
1.2.2.2 Phân loại tình tiết giảm nhẹ TNHS căn cứ vào sự phản ánh về tội phạm
Tội phạm là cơ sở của TNHS Tuy nhiên, TNHS không chỉ phụ thuộc
vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà nó còn chịu ảnh
hưởng của một số yếu tố khác Các tình tiết giảm nhẹ TNHS cũng vậy, ngoài
việc mô tả về tội phạm nó còn bao gồm các tình tiết phản ánh khả năng của
Trang 37người phạm tội trong việc tiếp nhận sự giáo dục, cải tạo từ phía Nhà nước để hoàn lương; hoặc thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự xã hội chủ nghĩa.
- Các tình tiết giảm nhẹ mô tả tội phạm: là những tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, sự xuất hiện của nó làm cho tội phạm trở nên ít nguy hiểm hơn Đó là những tình tiết được mô tả trong các CTTP (phản ánh tính chất của tội phạm) hoặc tình tiết bổ sung, làm rõ cho các yếu tố đã được phản ánh trong cấu thành của tội phạm, thể hiện sự giảm đi về mức độ nguy hiểm Gồm:
* Các tình tiết phản ánh hành vi và hậu quả: chuẩn bị phạm tội; phạm tội chưa đạt; người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớ n
* Các tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân người phạm tội: phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội chưa thành niên, phụ nữ có thai
* Các tình tiết ảnh hưởng đến lỗi: phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạnh PVCĐ, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc của người khác gây nên; phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải
do tự mình gây ra; phạm tội do bị người khác cưỡng bức; do lạc hậu; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi
- Các tình tiết phản ánh phản ánh khả năng của người phạm tội trong việc tiếp nhận sự giáo dục, cải tạo từ phía Nhà nước để hoàn lương: đó là những tình tiết thuộc về nhân thân của người phạm tội mà sự xuất hiện của nó
Trang 38không liên quan đến hành vi và hậu quả trực tiếp của tội phạm nhưng nó lại
cho phép tin tưởng rằng việc áp dụng TNHS đối với họ chỉ cần ở mức thấp hơn
các trường hợp thông thường vẫn đạt được mục đích của hình phạt Đó là các
tình tiết: người phạm tội tự thú; thành khẩn khai báo, ãn năn hối cải; tích cực
giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; lập công
chuộc tội
- Những tình tiết phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước: là các tình tiết dường như không qua hệ gì tới tội phạm và mục đích của hình phạt nhưng
nó thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước Các tình tiết thường
gặp là: người phạm tội là trẻ em, phụ nữ có thai, người già, thương binh, bị tàn
tật nặng do tai nạn lao động; người tội phạm có người nhà thân thích như: cha,
mẹ hoặc con là liệt sỹ; người tội phạm có thành tích xuất sắc trong sản suất,
chiến đấu, học tập hoặc công tác
Việc phân loai như chỉ có tính chất tương đối vì một tình tiết giảm nhẹ
TNHS có thể vừa phản ánh tính ít nguy hiểm của tội phạm, vừa thể hiện chính
sách hình sự của Nhà nước hoặc khả năng hoàn lương của chủ thể Ví dụ: tình
tiết người phạm tội là trẻ em: là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, nó vừa thể hiện
chính sách hình sự: giáo dục, giúp đỡ trẻ em đồng thời nó cũng phản ánh mức
độ lỗi giảm đi, bởi thông thường trẻ em nhất thời phạm tội, chưa có ý thức,
quyết tâm phạm tội cao độ, đến cùng và khả năng hoàn lương của trẻ phạm tội
cũng cao vì chúng dễ học tập, dễ uốn nắn
1.2.2.3 Phân loại tình tiết giảm nhẹ TNHS căn cứ vào cơ sở pháp lý
Để có vai trò trong vụ án, làm căn cứ giải quyết vấn đề TNHS, các tình
tiết phải có cơ sở pháp lý là được BLHS quy định Tuy nhiên việc áp dụng
nguyên tắc này không phải là như nhau đối với mọi trường hợp
Trang 39Các quy định về tội phạm và hình phạt, các tình tiết tăng nặng TNHS có ảnh hưởng bất lợi cho người phạm tội phải triệt để tuân thủ nguyên tắc: không
có tội, không có hình phạt nếu không có luật, không áp dụng tương tự pháp luật BLHS phải quy định rõ, và chỉ khi nào BLHS có quy định trực tiếp thì chủ thể mới có nguy cơ phải chịu những hậu quả bất lợi do hành vi của mình đem lại Những tình tiết giảm nhẹ thì khác, với đặc tính ảnh hưởng có lợi cho chủ thể, nội dung này được vận dụng linh hoạt và mềm dẻo hơn, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Các tình tiết giảm nhẹ TNHS bao gồm: các tình tiết giảm nhẹ được BLHS quy định trực tiếp; các tình tiết giảm nhẹ được ghi nhận trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật; các tình tiết giảm nhẹ do Toà án quyết định và ghi rõ trong bản án
- Các tình tiết giảm nhẹ được BLHS trực tiếp quy định: BLHS năm 1999 quy định về tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 Điều 46 với 18 tình tiết cụ thể Ngoài ra các tình tiết giảm nhẹ còn được ghi nhận với tư cách là tình tiết giảm nhẹ định tội hoặc giảm nhẹ định khung trong các điều luật thuộc Phần các tội phạm cụ thể; và rải rác trong các điều luật ở Phần chưng quy định về miễn TNHS (Điều 25); miễn hình phạt (Điều 54); giảm hình phạt (Điều 58, Điều 5 9) hoặc thông qua nội dung của một hoặc một số điều luật về đồng phạm, chuẩn bị phạm tội; những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội (Chương X ) Các tình tiết giảm nhẹ được quy định trong BLHS có sự ảnh hưởng lớn đến tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm cũng như TNHS của chủ thể Và chỉ những tình tiết này mới có khả năng ảnh hưởng làm giảm tội, giảm khung hình phạt, là căn cứ để áp dụng hình phạt ở mức dưới khung
- Các tình tiết giảm nhẹ được quy định trong các văn bản hướng dẫn pháp luật hình sự: Không thể dự liệu một cách tuyệt đối và đầy đủ về các tình huống có thể xảy ra trong thực tế là một đặc điểm của pháp luật nói chung Vì vậy, trong quá trình hướng dẫn áp dụng pháp luật, TANDTC đã có quy định
Trang 40bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Các tình tiết giảm nhẹ TNHS
bổ sung hiện được ghi nhận tại Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP ngày
4/8/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC với 8 tình tiết Đó là những tình
tiết ảnh hưởng giảm nhẹ thường gặp, ngoài những tình tiết được quy định
trong BLHS v ề nguyên tắc cũng như thực tiễn áp dụng tại Toà án, các tình
tiết này có mức độ ảnh hưởng giảm nhẹ thấp hơn các tình tiết được quy định
trong BLHS, chúng chỉ có thể làm giảm nhẹ hình phạt trong giới hạn khung
hình phạt và tội danh đã xác định
- Các tình tiết giảm nhẹ do Toà án xác định và ghi rõ trong bản án: Đây
là những tình tiết có tính chất riêng của từng tội phạm, người phạm tội cụ thể
(chưa được ghi nhận trong BLHS và trong các văn bản hướng dẫn của
TANDTC) Các tình tiết giảm nhẹ này thường có mức ảnh hưởng thấp hơn so
với các tình tiết giảm nhẹ được quy định trong BLHS và Nghị quyết của Hội
đồng thẩm phán TANDTC; nó không là cơ sở cho việc giảm nhẹ tội danh và
giảm khung hình phạt hay quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung BLHS cho phép Toà án có quyền xác định những tình tiết khác là tình
tiết giảm nhẹ xuất phát từ tính đa dạng, phức tạp của tội phạm; từ các nguyên
tắc công bằng, nhân đạo cũng như yêu cầu của việc cá thể hoá hình phạt và
việc đạt được mục đích của hình phạt Tuy nhiên, không phải vì thế mà Toà án
có thể dễ dãi, giản đơn khi áp dụng quy định này Chỉ được coi là tình tiết
giảm nhẹ nếu sự xuất hiện của nó là căn cứ cho phép xác định mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội giảm đi hoặc cho thấy kẻ phạm tội có khả năng cải
tạo tốt, phù hợp với chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta