1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong luật hình sự việt nam và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này

85 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 8,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đối tượng nghiên cứu: Để thực hiện nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu đề tài, đối tượng nghiên cứu được xác định là các quan điểm khoa học về khái niệm các tội xâm phạm tình dục trẻ em, cá

Trang 2

B ộ G IÁ O D Ụ C VÀ Đ À O T Ạ O BỘ T ư PH Á P

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRỊNH THỊ THU HƯƠNG

CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM

TRONG LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM

VÀ ĐÂU TRANH PHÒNG CHỐNG LOẠI TỘI PHẠM NÀY

C huyên ngành : L uật H ình sự

M ã sô : 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC• • • •

Người hướng dẫn k hoa học: PG S.TS NGUYỄN NGỌC HOÀ

THU' V I Ệ N

ĨRƯÒNG ĐAỉ hoc lữãĩ h a nòi PHÒNG G V S ồ ỉ f

H À N Ộ Ĩ N Ă M 2004

Trang 3

MỞ Đ Ầ U 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG 6 VỂ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM 1.1 Khái niệm các tội xâm phạm tình dục trẻ e m 6

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm 11 tình dục trẻ e m

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH s ự NĂM 1999 2 0 VÊ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM 2.1 Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 B L H S ) 20

2.2 Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 B L H S ) 30

2.3 Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 B L H S ) 33

2.4 Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 B L H S ) 38

2.5 Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 B L H S ) 41

Chương 3 ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG 45 CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM 3.1 Tinh hình tội phạm của các tội xâm phạm tình dục trẻ em ở Việt 45 Nam từ năm 1999 đến năm 2003

3.2 Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm các tội xâm phạm 57 tình dục trẻ e m

3.3 Các biện pháp đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm tình dục 66 trẻ e m

KẾT L U Ậ N 76

DANH MỰC TÀI LIỆU THAM K H Ả O 78

Trang 4

MĐGTHN Mức độ gia tăng hàng năm

DÔĐVTE Dâm ô đối với trẻ em

Trang 5

1 Tính cấp thiết của để tài

Trẻ em là tương lai của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại Chính vì vậy, bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của mỗi quốc gia và của cả cộng đồng quốc

tế Điều 34 Công ước của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em đã ghi nhận: "Các

quốc gia thành viên cam kết bảo vệ tre’ em, chống mọi hình thức bóc lột cũng như lạm dụng về tình dục '' Chống sự xàm hại trẻ em trong đó có xâm hại

tình dục được thực hiện bằng nhiều biện pháp Trong các biện pháp đó, sự can thiệp của nhà nước bằng công cụ pháp luật có hiệu lực đặc biệt

ở Việt Nam, ngay sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, tư tưởng bảo vệ trẻ em đã từng bước được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là trong các quy định pháp luật hình sự Sau khi phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, về lao động chưa thành niên, về thủ tục tố tụng đối với các vụ án có người chưa thành niên tham gia tố tụng v.v Đặc biệt, Bộ luật hình sự của Nhà nước ta mặc dù qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng đều có các quy định

về tội xâm phạm tình dục trẻ em là cơ sở pháp lý quan trọng để đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này

Cũng như các loại tội phạm khác, tội phạm về tình dục trẻ em chỉ xảy

ra khi hội đủ hai yếu tố: nguyên nhân và điều kiện Trong điều kiện nền kinh

tế vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta, các nguyên nhân và điều kiện của các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em rất đa dạng và phong phú

Trước hết, nền kinh tế thị trường bên cạnh mặt tích cực cũng bao hàm mặt trái, mặt tiêu cực đó là nạn thất nghiệp, sự phát triển mất cân đối giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa đổng bằng và miền núi, sự phân hoá giàu -

Trang 6

n g h è o Đặc biệt, ở nước ta phần lớn dân cư sống ở nông thôn, đời sống còn nhiều khó khăn nên một bộ phận người lao động trong đó có cả trẻ em tràn về các đô thị để kiếm sống đã tạo nên một tầng lớp sống phiêu bạt, khó kiểm soát là' môi trường tạo ra các tội phạm chứa mại dâm, lạm dụng tình dục trẻ em [33, tr.61] Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước về trật tự và an toàn xã hội còn lỏng lẻo, kém hiệu quả trong tổ chức, điều hành cũng là một nguyên nhân làm cho tình hình tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm tình dục trẻ

em nói riêng chưa có chiều hướng giảm bớt, ngược lại còn diễn biến phức tạp

và nghiêm trọng hơn

Về tuyên truyền giáo dục pháp luật, trong những năm gần đây mặc dù việc tuyên truyền giáo dục pháp luật về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em đã được chú trọng nhưng hiệu quả chưa cao nên chưa tạo ra được mạng lưới toàn dân đấu tranh phòng chống loại tội phạm này

Sự tác động mạnh của nhu cầu vật chất, lối sống theo kiểu phương Tây

đã dẫn đến tình trạng tỷ lệ ly hôn gia tăng cũng là một nguyên nhân đẩy trẻ em vào cảnh lang thang, cơ nhỡ và lâm vào cảnh bán dâm, bị lợi dụng tình dục

Về phương diện xây dựng, áp dụng pháp luật, mặc dù nhà nước ta ban hành nhiều văn bản pháp luật hinh sự nhưng vẫn còn tình trạng trong công tác xét xử các loại tội phạm về xâm phạm tình dục trẻ em có những vướng mắc trong áp dụng pháp luật chưa được hướng dẫn kịp thời, gây chậm trễ trong việc xét xử làm cho tác dụng răn đe, phòng ngừa chung của các bản án chưa cao

Trong thời gian qua, đội ngũ của những người làm công tác đấu tranh phòng chống bọn tội phạm này ngày càng đông đảo và được đào tạo nghiệp vụ tương đối cơ bản Nhưng bên cạnh những thành tích, kết quả đạt được còn có không ít thiếu sót, khiếm khuyết Việc điều tra, truy tố và xét xử tội phạm nói chung và tội phạm tình dục trẻ em nói riêng còn có sai sót, bỏ lọt tội phạm, xét

xử chưa nghiêm cũng là điều kiện để thúc đẩy tội phạm phát triển

Với những nguyên nhân và điều kiện trên đây đã dẫn tới thực trạng

Trang 7

hiện nay ở nước ta là mặc dù Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới cuộc đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm tình dục trẻ em và đã có nhiều chính sách, biện pháp tích cực nhưng loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Các tội xâm phạm tình dục trẻ em đã và đang gây

ra những hậu quả nghiêm trọng cho trẻ em và cho xã hội trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội, đạo đức, sức khoẻ, tâm lý, tình cảm Thực tế đó đòi hỏi phải tìm giải pháp để tăng cường cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm tinh dục trẻ em ở nước ta

Chính vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm tình dục trẻ em, làm rõ tình hình tội phạm cũng như những nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm phạm tình dục trẻ em và qua đó kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này là một đòi hỏi bức thiết ở nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Do tính bức thiết của đề tài cả về khoa học và thực tiễn nên đây là vấn

đề được một số nhà nghiên cứu và nhiều cơ quan chức năng của nhà nước quan tâm, thể hiện ở một số công trình nghiên cứu sau: Kỷ yếu hội thảo "Nạn

lạm dụng tình dục trẻ em và hiếp dâm trẻ em" {Hội Liên hiệp phụ nữ Việt

N am - Hà N ội 1997)', "Pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế bảo vệ trẻ em

trước tệ nạn lạm dụng tình dục" (Viện Khoa học pháp lý, thông tin chuyên đề,

1998); "Một số vấn đề về sửa đổi và nâng cao hiệu quả pháp lý của luật bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" (Viện Khoa học pháp lý, Thông tin chuyên

đề, 2002)-, "Toà án và quyền trẻ em" (Trường Cán bộ Toà án, Hà N ội 7995);

"Tìm giải pháp ngăn chặn tệ nạn mua, bán dâm trẻ em" (Hoàng Bá Thịnh -

N xb Chính trị Quốc gia, 1998)', "Phòng chống buôn bán và mại dâm trẻ em" (Vũ N gọc Bình, N xb Chính trị Quốc gia, 2002)\ "Vai trò của Toà án nhân dân

trong việc đấu tranh phòng và chống các tội phạm về tình dục" ợ oà án nhân

dân tối cao, công trình khoa học cấp Bộ, Hà N ội 2001) v.v Các công trình

Trang 8

trên có nhiều đóng góp cho việc làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em nhưng không tập trung nghiên cứu các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em trong mối quan hệ tổng thể hoặc chí đề cập đến thực tiễn cách đây nhiều năm

3 Mục đích và phương pháp nghiên cứu đề tài

- Mục đích nghiên cứu đ ề tài: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận

cơ bản liên quan đến các tội xâm phạm tình dục trẻ em, phân tích các dấu hiệu pháp lý, tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm hại tình dục trẻ em luận văn nhằm kiến nghị các biện pháp cần áp dụng để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này

- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng

duy vật, luận văn sẽ áp dụng các phương pháp sau để giải quyết nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu đề tài: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội, phương pháp dự báo khoa học

4 Phạm vi và đôi tượng nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ Luật hình

sự và Tội phạm học v ề Luật hình sự, tập trung nghiên cứu Bộ luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 v ề Tội phạm học, giới hạn nghiên cứu tình hình tội phạm từ năm 1999 đến năm 2003

- Đối tượng nghiên cứu: Để thực hiện nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu

đề tài, đối tượng nghiên cứu được xác định là các quan điểm khoa học về khái niệm các tội xâm phạm tình dục trẻ em, các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục trẻ em, các thông tin, tư liệu thực tế, các bản án và quyết định hình sự của Toà án nhân dân các cấp liên quan đến đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm tình dục trẻ em

5 Các kết quả nhằm đạt được của việc nghiên cứu đề tài

T hứ nhất, hệ thống hoá các quan điểm khoa học và làm rõ khái niệm

Trang 9

các tội xâm phạm tình dục trẻ em.

Thứ liai, làm rõ những đặc điểm chủ yếu của quá trình lập pháp hình

sự ở Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục trẻ em

Thứ ba, làm rõ các dấu hiệu pháp lý và đường lối xử lý của các tội

phạm cụ thể trong nhóm các tội phạm tình dục trẻ em

Thứ tư, phân tích tình hình tội phạm, các nguyên nhân và điều kiện của

tinh hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em; qua đó đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm tình dục trẻ em

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

C hương 1: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm tình dục trẻ em

1.1 Khái niệm các tội xâm phạm tình dục trẻ em

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục trẻ em

Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự nước Công hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam nãm 1999 về các tội xâm phạm tình dục trẻ em

2.1 Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS)

2.2 Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS)

2.3 Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS)

2.4 Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS)

2.5 Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS)

C hương 3: Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm tình dục trẻ em

3.1 Tinh hình tội phạm của các tội xâm phạm tình dục trẻ em ở Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2003

3.2 Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm các tội xâm phạm tình dục trẻ em

3.3 Các biện pháp đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm tình dụctrẻ em

Trang 10

em (là quốc gia đầu tiên của châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới).

Về mặt pháp lý, việc xác định loại dân cư được xem là trẻ em có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng và áp dụng pháp luật Bởi vì, đây là loại dân

cư được Nhà nước bảo hộ theo chế độ pháp lý riêng so với loại dân cư không phải là trẻ em Để xác định loại dân cư trong xã hội là trẻ em, các quốc gia và cộng đồng Quốc tế đều căn cứ vào tiêu chí duy nhất là độ tuổi Tuy nhiên, độ tuổi được xác định là độ tuổi trẻ em không giống nhau ở tất cả các quốc gia vì việc xác định này phụ thuộc vào những điều kiện thực tiễn cụ thể của mỗi nước như: Điều kiện về nhân chủng học, về văn hoá, quan niệm đạo đức của dân tộc, tập quán pháp lý truyền thống, điều kiện về kinh tế - xã hội v.v Trong đó, điều kiện về kinh tế - xã hội giữ vai trò quan trọng hàng đầu Điều kiện này ảnh hưởng đến việc xác định độ tuổi trẻ em theo hai hướng:

T hứ nhất, điều kiện về kinh tế - xã hội là một trong những điều kiện

quan trọng hàng đầu có ảnh hưởng đối với sự phát triển về thể lực, trí tuệ và

Trang 11

nhân cách của trẻ em Trong đó, điều kiện về kinh tế được hiểu là các yếu tố vật chất tác động tới nhu cầu cá nhân và giao tiếp xã hội của trẻ em như ăn, mặc, điều kiện vật chất để vui chơi, giải trí v.v Các yếu tố này tác động trực tiếp tới mức độ phát triển về thể lực và trí tuệ của trẻ em Rõ ràng là trẻ em có điều kiện sinh hoạt vật chất cao hơn thì có điều kiện phát triển tốt hơn về thể chất và trí tuệ so với trẻ em khác Bên cạnh đó, điều kiện về xã hội đối với sự phát triển của trẻ em là tổng thể các yếu tố thuộc về quan hệ xã hội như: Điều kiện giáo dục, chế độ chính trị- xã hội, điều kiện giao lưu văn hoá v.v Các công trình nghiên cứu xã hội học đã chứng minh rằng, nhận thức xã hội, trí tuệ, nhân cách của mỗi cá nhân luôn chịu sự tác động của các điều kiện xã hội cụ thể Trẻ em ở các điều kiện xã hội khác nhau sẽ có sự phát triển khác nhau.

Thứ hai, điều kiện về kinh tế - xã hội là một yếu tố mà các nhà lập

pháp phải cân nhắc đến khi xác định độ tuổi của một bộ phận dân cư được coi

là trẻ em Bởi lẽ, không thể xem một bộ phận dân cư là người thành niên nếu

ở từng điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể họ không có đủ điều kiện để phát triển tương ứng với lứa tuổi Mặt khác, cũng cần thấy rằng việc xác định tuổi là trẻ

em sẽ làm tăng hoặc giảm số lượng bộ phận dân cư được xem là trẻ em Điều này sẽ liên quan đến việc thực hiện chính sách của Nhà nước về trẻ em Bởi vì trong các chính sách của Nhà nước đối với trẻ em có chính sách ưu đãi và bảo đảm các điều kiện vật chất Nếu khả năng vật chất không đáp ứng được yêu cầu thì việc tăng số lượng trẻ em do tăng độ tuổi của người được coi là trẻ

em sẽ làm cho việc thực hiện chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em khổng hiệu quả Mặc dù vậy, cũng cần phải thấy rằng, việc hạ thấp độ tuổi được coi là trẻ em do điều kiện kinh tế - xã hội là việc làm không xuất phát từ đặc trưng của chính đối tượng được xem là trẻ em Do vậy, chúng tôi cho rằng, việc xác định độ tuổi của dân cư được xem là trẻ em trước hết phải xuất phát từ những thuộc tính khách quan tức là thuộc tính về thể chất và tinh thần của đối tượng chưa hoàn thiện để có thể xem là người đã thành niên hay "người lớn"

Trang 12

Tại Điều 1 Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em do Đại Hội đồng liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/ 1989 và có hiệu lực thi hành ngày

2/9/1990 quy định: "Trong phạm vỉ của công ước này trẻ em có nghĩa là tất cả

những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" [35]\ Hiện naý, nhiều nước và tổ chức 'quốc tế

thôìtg nhất còi "trẻ em là người dưới '18 tuổi" như Điều 1 củá Công trớc.

ở Việt Nam, ngay sau khi phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ

em năm 1990, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 12/8/1991, có hiệu lực từ ngày 16/8/1991 Cơ sở pháp lý của việc quy định độ tuổi của trẻ em trong Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em của nước ta là quy định của Điều 1 của Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em và Tuyên bố của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (1989) Dựa vào cơ sở pháp lí nói trên cũng như xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, Điều 1 của Luật bảo vệ chăm sóc và

giáo dục trẻ cm quy định: "T rẻ em quy định trong luật này là công dân Việt

Nam dưới 16 tuổi" Đây là tiêu chuẩn cũng như cơ sở pháp lí để xác định về

độ tuổi của trẻ em trong các văn bản pháp luật khác I

Hiện nay, Nhà nước ta căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng như các điều kiện khác quy định độ tuổi của trẻ em là dưới 16 tuổi Điều này tiến

bộ hơn so với quy định của Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979 Theo pháp lệnh này, độ tuổi của trẻ em là người dưới 15 tuổi Việc nâng độx tuổi của trẻ em là phù hợp với với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, cùng với việc nâng độ tuổi, số lượng trẻ em cần được chăm sóc và bảo vệ sẽ tăng lên, điều này thể hiện rõ quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Chúng tôi cho rằng, việc xác định độ tuổi của dân cư được xem

là trẻ em trước hết phải xuất phát từ những thuộc tính khách quan tức là thuộc tính về thể chất và tinh thần của đối tượng chưa hoàn thiện để có thể

xem là "người lớn” Do vậy, cần tránh việc Nhà nước và xã hội chưa có khả

Trang 13

năng đáp ứng điều kiện vật chất cho một bộ phận dân cư được xem là trẻ em nên dẫn tới quyết định hạ thấp độ tuổi để xác định người là trẻ em Trái lại, chúng ta cần khuyến khích việc tăng độ tuổi của trẻ em khi khả năng của Nhà nước và xã hội trong việc đáp ứng những ưu đãi đối với trẻ em cho phép.

Bên cạnh khái niệm trẻ em - người dưới 16 tuổi, pháp luật hiện hành ở

Việt Nam còn sử dụng khái niệm người chưa thành niên là khái niệm đối lập với khái niệm người thành niên "Thành niên" là từ Hán - Việt, có nghĩa là

"Tuổi mà pháp luật nhận cho rằng thăn th ể và tinh thần đ ã có năng lực hoàn toàn" [1, tr.436] Như vậy, người chưa thành niên là người chưa hội đủ điều

kiện để được xem là người đã thành niên Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em là hai khái niệm không đồng nhất với nhau Khái niệm

“người chưa thành niên” rộng hơn khái niệm “trẻ em” “Người chưa thành

niên” là người dưới 18 tuổi Còn “trẻ em ” chỉ là những người dưới 16 tuổi

Như vậy, xét về phạm vi độ tuổi thì khái niệm “/rẻ em” hẹp hơn

1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm tình dục trẻ em

Hiện nay, trong các sách báo pháp lý cũng như các công trình nghiên cứu về Luật hình sự, chưa có công trình nào nghiên cứu hoặc đưa ra một định nghĩa chung về các tội xâm phạm tình dục trẻ em Chúng tôi cho rằng, để có thể đưa ra định nghĩa chung về các tội xâm phạm tình dục trẻ em cần nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý õhung của các tội xâm phạm tình dục trẻ em

Theo luật hình sự Việt Nam, tội phạm phải là hành vi của con người, những gì mới chỉ hình thành trong tư tưởng chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì chưa thể bị coi là tội phạm Khác với hành vi không phải là tội phạm hành vi bị coi là tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự và do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Như vậy, các tội xâm phạm tình dục trẻ em đòi hỏi phải có những dấu

Trang 14

hiệu pháp lý chung sau:

T hứ nhất, hành vi xâm hại tình dục trẻ em là những hành vi nguy hiểm

cho xã hội, xâm phạm tự do thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em nói chung, đặc biệt xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em nói riêng Trẻ em có quyền được phát triển bình thường, khoẻ mạnh, được xã hội và gia đình quan tâm, chăm sóc.'Nhưng hành vi xâm hại tình dục trẻ em

đã chà đạp lên tuổi thơ yên bình của trẻ em, làm xáo trộn cuộc sống hiện tại cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống tương lai sau này của trẻ em

Do vậy, có thể nói, hành vi xâm hại tình dục trẻ em là những hành vi thực sự

vô nhân đạo, phi nhân tính Trẻ em không những chỉ bị xâm hại đến quyền tự

do được phát triển bình thường mà còn phải chịu sự đau đớn dai dẳng cả về thể xác lẫn tinh thần Mặt khác, những hành vi đồi bại đó đồng thời xâm phạm đến những giá trị đạo đức, gây hậu quả xấu về mặt xã hội, gây tâm lý bất bình,

lo ngại cho cả cộng đồng

Thứ hai, tôi xâm phạm tình dục trẻ em phải được quy định trong Bộ

luật hình sự Một nguyên tắc quan trọng đã được ghi nhận trong tuyên ngôn

toàn thế giới về nhân quyển của Liên hợp quốc: "Không ai bị kết án về một

hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia và quốc t ế không coi là tội phạm" (khoản 2 Điều 11) Nguyên tắc này cũng đã được luật hình sự Việt Nam

phản ánh và cụ thể hoá tại Điều 8 Bộ luật hình sự khi quy định về khái niệm tội phạm Theo đó, các tội xâm phạm tình dục trẻ em đã được quy định cụ thể tại các Điều 112, 114, 115, 116 và 256 Bộ luật hình sự Đây là cơ sở pháp lí quan trọng để bảo vệ trẻ em cũng như để xử lí nghiêm khắc các tội xâm phạm tình dục trẻ em, đồng thời đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm cho nguyên tắc pháp chế được thực hiện

T hứ ba, các tội xâm phạm tình dục trẻ em là hành vi do người có

năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý Một nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam là nguyên tắc có lỗi Luật hình sự Việt Nam

Trang 15

không chấp nhận việc quy tội khách quan Năng lực trách nhiệm hình sự là

điều kiện cần thiết để một người có thể có lỗi khi thực hiện hành vi nguy

hiểm cho xã hội Chỉ có người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là

chủ thể của tội phạm Họ là người đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều

12 Bộ luật hình sự) và không thuộc trường hợp trong tình trạng không có

năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13 Bộ luật hình sự)

Với mục đích nhằm thoả mãn dục vọng thấp hèn của mình người thực

hiện hành vi xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em đều

có lỗi cố ý Khi thực hiện hành vi xâm phạm tình dục trẻ em, chủ thể của các

tội xâm phạm tình dục trẻ em đều nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội

của hành vi của mình, thấy trước các tác hại về mọi mặt mà hành vi có thể gây

ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó để thoả mãn một cách bất hợp

pháp và vô đạo đức nhu cầu tình dục của cá nhân

Từ những phân tích trên đây, có thể rút ra khái niệm chung về các tội

xâm phạm tình dục trẻ em như sau:

“Các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em là những hành vi nguy hiểm

cho x ã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách c ố ỷ,

xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục và sự phát triển bình thường

về th ể chất và tâm sinh lý của trẻ em nói riêng cũng như xâm phạm trật tự, trị

ạn của x ã hội nói chung”.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành cồng, Nhà nước Việt Nam dân

chủ cộng hoà ra đời Cùng với việc ra đời của Nhà nước, nhân dân ta vừa phải

xây dựng củng cố chính quyền nhân dân, vừa phải tiến hành cuộc kháng chiến

Trang 16

chống thực dân Pháp xâm lược Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn này là củng cố chính quyền, đấu tranh chống thù trong giặc ngoài Điều kiện đó không cho phép Nhà nước ban hành ngay các vãn bản pháp luật Do vậy, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL quy định tạm thời về việc sử dụng luật lệ cũ hiện hành

ở Việt Nam Theo nội dung của sắc lệnh, khi xét xử, Toà án xét xử theo luật hình cũ mà thực dân phong kiến trước đó đã đề ra nhưng không được trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà Do vậy,

ở giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, việc xét xử các tội xâm phạm tình dục trẻ em vẫn dựa vào luật lệ hình sự cũ để xét xử Đó là Bộ hình luật Bắc Kì năm

1923, Bộ hình luật Nam Kì năm 1912, Bộ hình luật Trung Kì năm 1933

Năm 1954, miển Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng nhưng đất nước bị chia cách thành hai miền Miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược

Do điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc đã có những biến đổi về căn bản so với trước đó nên toàn bộ hệ thống pháp luật của chế độ cũ không được phép áp dụng nữa Do vậy, Toà án khi xét xử các loại tội phạm xâm phạm tình dục nói chung và tội xâm phạm tình dục trẻ em nói riêng phải theo các án lệ cũng như theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Tất nhiên, việc xét xử như vậy chắc chắn sẽ không tránh khỏi tình trạng tuỳ tiện Để khắc phục tình trạng này ngày 15/6/1960, Toà án nhân dân tối cao ra chỉ thị số

1024 hướng dẫn xử lý tội hiếp dâm Trong đó yêu cầu phải khắc phục khuynh hướng coi nhẹ tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm này, đặc biệt là khuynh hướng coi nhẹ tội hiếp dâm trẻ em Tuy nhiên, nội dung hướng dẫn vẫn còn chung, chưa thật cụ thể

Tiếp đó, trong thông báo về Hội nghị Ban bí thư Trung ương Đảng ngày 25/3/1963 bàn về phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1963 của ngành

Toà án ở điểm 3 có chỉ rõ: “Đấí< tranh chống tệ nạn x ã hội đặc biệt phải

Trang 17

nghiêm trị tội giết người, tội hiếp dâm trẻ m ” [30, tr.389].

Trong các báo cáo tổng kết hàng năm từ năm 1961 đến năm 1966, Toà

án nhân dân tối cao tiếp tục rút kinh nghiệm về việc xử lý tội hiếp dâm, mặt khác hướng dẫn việc xử lý một số hình thức phạm tội mới mà luật cũ chưa đề cập tới như tội cưỡng dâm, tội giao cấu với người dưới 16 tuổi

Trên cơ sở những kinh nghiệm đã đúc kết từ thực tiễn xét xử, ngày 11 tháng 5 năm 1967, Toà án nhân dân tối cao đã có Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và các tội khác về tình dục (số 329/HS2 ngày 11/1/1967) Bản tổng kết này đã đề cập một cách cụ thể bốn hình thức phạm tội với nội dung khá toàn diện Đó là:

- Hiếp dâm (trong đó có hiếp dâm trẻ em);

- Cưỡng dâm (trong đó có cưỡng dâm trẻ em);

- Giao cấu với người dưới 16 tuổi;

- Dâm ô (trong đó có dâm ô với trẻ em)

Bản tổng kết cũng hướng dẫn về cách định tội danh đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em Tuy hướng dẫn này chưa toàn diện, đầy đủ nhưng

đã thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn so với những văn bản trước đó Cụ thể là: “Cấc

hành vi giao cấu với các em dưới 13 tuổi tròn nói chung, không k ể các em có

sự thoả thuận hay không thoả thuận đều phải coi là hiếp dâm vì trí óc non nớt của các em, phải coi các em ở trong tình trạng không th ể tự vệ và biểu lộ ý chí đúng đắn Riêng đối với các em từ 13 tuổi tròn đến 14 tuổi tròn, trong một s ố trường hợp cá biệt, có em đã dậy thì thì có th ể thực sự thuận tình giao cấu Cho nên, khi có sự thuận tình giao cấu với các em đó cần căn cứ vào mọi tình tiết của vụ án (như tính tình, thân hình, thái độ các em) đ ể nhận định xem có tội hiếp dâm trẻ em hay là tội giao cấu với người dưới 16 tuổi ” [30, tr.391-392].

Về đường lối xử lí đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em, Bản tổng kết trên cũng có sự tiến bộ hơn so với những văn bản trước Cụ thể, Bản tổng kết đã chỉ rõ những trường hợp cần xử nặng, những trường hợp cần xử nhẹ hơn

Trang 18

so với trường hợp bình thường Những trường hợp cần xử nặng là hiếp dâm nơười dưới 18 tuổi, hiếp dâm người thân thuộc về trực hệ, hiếp dâm nhiều người, hiếp dâm với động cơ đê hèn Những trường hợp cần được xử nhẹ là phạm tội chưa đạt, tác hại còn hạn chế, bị cáo còn ít tuổi Đối với các tội cưỡng dâm và dâm ô Bản tổng kết cũng khẳng định phạm tội với trẻ em thì bị trừng trị nghiêm khắc hơn phạm tội đối với người lớn Khẳng định này xuất phát từ cơ sở cho rằng phạm tội đối với trẻ em có thể gây tác hại lớn về nhiều mặt đặc biệt là về sự phát triển tâm, sinh lý, tình cảm, nhân cách, gây cho các

em sự mặc cảm kéo dài Có thể nói đây thực sự là văn bản có giá trị mà nhiều nội dung của nó cho đến nay vẫn còn được áp dụng

Tiếp đó, do yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, Bản báo cáo tổng kết năm 1968 đã kịp thời bổ sung các hình thức dâm ô mới xâm phạm nghiêm trọng thuần phong, mĩ tục, trật tự trị an đòi hỏi cần phải bị trừng trị Đó là các trường hợp thuận tình có hành vi tình dục (bao gồm cả hành vi giao cấu) ở nơi công cộng hoặc có đông người tham gia

Trước năm 1975, ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến nhóm tội xầm phạm tình dục trẻ em, trong đó điển hình nhất là Bộ hình luật ban hành ngày 20/12/1972 Bộ hình luật này có nhiều điều khoản quy định việc trừng trị các tội xâm phạm tình dục đặc biệt là có quy định về các tội xâm phạm tình dục trẻ em Các điều

355, 356 Bộ hình luật quy định kẻ hiếp dâm vị thành niên dưới 15 tuổi sẽ bị phạt khổ sai hữu hạn Điều 358 quy định hình phạt cấm cố cho kẻ mối lái mãi dâm đối với nạn nhân là người chưa thành niên Điều 360 quy định việc trừng trị những kẻ kích động, giúp đỡ trẻ em thực hiện những hành vi dâm đãng, truỵ lạc nhằm ngăn ngừa tình trạng xâm phạm tình dục trẻ em Cụ thể, Điều

360 quy định: S ẽ bị phạt giam từ hai năm đến 5 năm và phạt vạ từ 10 ngàn

đồng đến 500 ngàn đồng người nào xâm phạm mỹ tục bằng cách khiêu động,

Trang 19

giúp đỡ, làm d ể dàng việc dâm đãng hay sự truy lạc của thanh niên nam nữ dưới 16 tuổi hoặc của vị thành niên nam nữ 16 tuổi trở lên nếu hành vi nói trên có tính chất thường xuyên " [5, tr 126-127].

Ngay sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 15/3/1976 Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03/SL quy định các tội phạm và hình phạt làm cơ sở pháp lý

để xử lý các hành vi xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, tài sản công cộng, thân thể và các quyền lợi khác của công dân Điều 5 của sắc luật này

quy định "tội xâm phạm đến thân th ể và nhân phẩm của công dân" Tại điểm

c, Điều luật này quy định: "Hiếp dâm vị thành niên thì bị phạt tù từ năm năm

đến bảy năm, trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì ph ạ t tù từ 20 năm, chung thân hoặc bị xử tử hình" Theo quy định của sắc luật 03, hành vi phạm tội

hiếp dâm, đặc biệt là hành vi hiếp dâm người chưa thành niên bị trừng phạt rất nghiêm khắc Tuy sắc luật không ghi rõ các hành vi phạm tội khác về mặt tình dục nhưng qua thực tế cũng như theo Thông tư số 03/BTP hướng dẫn thi hành sắc luật này thì những hành vi được coi là tội phạm khác xâm phạm đến thân thể, nhân phẩm của công dân có thể là hành vi cưỡng dâm, hành vi thông gian với gái vị thành niên hoặc hành vi dâm ô v.v

Như vậy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, các văn bản được coi là cơ sở pháp lí để xét xử nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em bao gồm: Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội khác về mặt tình dục số 329/HS2, sắc luật số 03-SL/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời, Thông tư số 03/BTP tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành sắc luật số 03-SL/76 Theo đó, các hành vi xâm hại tình dục trẻ em bao gồm: tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm, tội giao cấu với người dưới

16 tuổi và tội dâm ô Tuy nhiên, đây chỉ là những văn bản dưới luật nên giá trị pháp lý của những văn bản pháp luật này chưa cao đồng thời các quy định còn

Trang 20

chưa cụ thể, rõ ràng nên dẫn đến việc xét xử gặp nhiều vướng mắc, chất lượng

xét xử cũng như hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này

còn hạn chế

1.2.2 Thời kỳ từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 và

có hiệu lực từ ngày 1/11/1986 là Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta Sự

ra đời của Bộ luật này đánh dấu một bước quan trọng trong lịch sử lập pháp

hình sự Việt Nam

Trong Bộ luật này, các tội xâm phạm tình dục trẻ em được quy định tại

chương 2 với những chế tài nghiêm khắc Các điều luật quy định về nhóm tội

phạm này bao gồm: Điều 112 (tội hiếp dâm); Điều 113 (tội cưỡng dâm); Điều

114 (tội giao cấu với người dưới 16 tuổi)

Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, Bộ

luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm 1989,

1991, 1992 và 1997 Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự liên quan đến nhóm

tội xâm phạm tình dục là nhằm điều chỉnh kịp thời chính sách hình sự, phát

huy hiệu quả của pháp luật hình sự trong cuộc đấu tranh phòng chống tội

phạm về tình dục trẻ em trước diễn biến khá phức tạp và có chiều hướng gia

tăng của nhóm tội phạm này

Tại lần sửa đổi, bổ sung thứ nhất (năm 1989), Điều 114 Tội giao cấu

với trẻ em quy định thêm một khung hình phạt Trong Bộ luật hình sự năm

1985, điều luật này chỉ quy định một khung hình phạt Qua lần sửa đổi này

điều luật đã có hai khung hình phạt khác nhau để đảm bảo có độ phân hoá

trách nhiệm cao hơn

Tại lần sửa đổi, bổ sung thứ hai (năm 1991), Điều 112 quy định về tội

hiếp dâm (trong đó có hiếp dâm trẻ em) đã được sửa đổi, trong đó, mức hình

Trang 21

phạt của khung hình phạt tại khoản 4 đã được tăng lên: "M ọi trường hợp giao

cấu với trẻ em dưới 13 tuổi đều là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở khoản 2 và khoản 3 điều này thì bị phạt tủ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình".

Sau lần sửa đổi, bổ sung lần thứ ba, ngày 2/3/1995 Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 73/TK về việc xét xử loại tội xâm phạm tình dục

trẻ em có nội dung: "Người có hành vi hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ em

hoặc giao cấu với người dưới 16 tuổi lại có cùng dòng máu về trực hệ với nạn nhân hoặc anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc anh chị em cùng mẹ khác cha với nạn nhân thì ngoài việc xét xử bị cáo theo quy định tại các Điều 112, Điều 113, Điều ỉ 14 Bộ luật hình sự còn phải xét xử bị cáo thêm về tội loạn luân theo Điều 146".

Tại lần sửa đổi, bổ sung lần thứ 4 (năm 1997), các quy định về các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản, có hệ thống nhất, thể hiện chính sách nhất quán của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền trẻ em, đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng có tính thời sự, bức xúc của nhân dân Cụ thể có các sửa đổi, bổ sung sau:

- Luật sửa đổi, bổ sung đã tách hành vi hiếp dâm trẻ em ra khỏi tội hiếp dâm nói chung và quy định thành tội danh riêng là tội hiếp dâm trẻ em Tội này được quy định tại Điều 112a Tội hiếp dâm trẻ em có tính nguy hiểm cao hơn so với tội hiếp dâm, do vậy đường lối xử lí có tính nghiêm khắc hơn Việc tách riêng như vậy thể hiện rõ nguyên tắc cá thể hoá hành vi phạm tội và

cá thể hoá hình phạt theo hành vi phạm tội tương ứng, đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

- Tương tự như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung cũng tách hành vi cưỡng dâm trẻ em ra khỏi tội cưỡng dâm nói chung và quy định thành tội danh riêng

T H Ư V I Ẹ N I

TRƯỜNG OAI HOC llÌÂ I H« NŨI

PHỎNG GV _

Trang 22

là tội cưỡng dâm người chưa thành niên (Điều 113a)

- Luật sửa đổi, bổ sung sửa tội danh “Giao cấu với người dưới 16 tuổi” thành tội danh “Giao cấu với trẻ em” (Điều 114) Việc sửa đổi này nhằm thể hiện rõ hơn chính sách hình sự của Nhà nước ta trong việc trừng trị các hành

vi xâm hại tinh dục trẻ em

- Luật sửa đổi, bổ sung đã phân hoá trách nhiệm hình sự của tội chứa mãi dâm và tội môi giới mãi dâm ở mức cao hơn qua việc xây dựng 4 khung hình phạt khác nhau cho mỗi tội

- Luật sửa đổi, bổ sung quy định thêm hai tội danh mới nhằm bảo vệ trẻ em về mặt tình dục Đó là tội mua dâm người chưa thành niên và tội dâm ô đối với trẻ em

Đối vói hành vi mua dâm, từ trước đến nay, pháp luật nước ta chưa coi

là tội phạm Nhưng ngày nay, tệ nạn này đang lan tràn đặc biệt là hiện tượng mua dâm trẻ em đang có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng xấu tới đạo đức, thuẩn phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm nghiêm trọng đến sự phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần của trẻ em Trước tình hình như vậy, Luật sửa đổi

bổ sung đã quy định tội mới - tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 202a)

Hành vi dâm ô đối với trẻ em cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhân phẩm, danh dự cũng như sự phát triển bình thường của trẻ em, bị dư luận xã hội lên án gay gắt Tuy nhiên, hành vi này lại chưa bị coi là tội phạm Để khắc phục hạn chế này Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định tội mới - tội dâm ô với trẻ em

Các sửa đổi, bổ sung trên đây là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho việc bảo vệ quyền được tôn trọng và bảo vệ của trẻ em, là vũ khí cần thiết của cuộe đấu tranh không khoan nhượng với các tội xâm phạm tình dục trẻ

em Đây là bước tiến mới trong việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật hình sự nước ta nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống nhóm tội

Trang 23

phạm xâm hại tình dục trẻ em.

Nghiên cứu khái niệm Các tội xâm phạm tình dục trẻ em và quá trình phát triển của pháp luật Hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục trẻ

em có thể rút ra những kết luận sau đây:

1 Nạn nhân của các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo quy định củapháp luật hiện hành là người dưới 16 tuổi Tuổi của người bị xâm phạm tìnhdục là một trong các căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em

2 Quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

3 Pháp luật hình sự là công cụ sắc bén của Nhà nước ta trong cuộcđấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm tình dục trẻ em Trải qua gần 60năm xây dựng, pháp luật hình sự của Nhà nước ta nói chung cũng như các quy định liên quan đến bảo vệ trẻ em về mặt tình dục nói riêng ngày càng được

hoàn thiện

Trang 24

Chương 2

Q U Y Đ ỊN H C Ủ A BỘ L U Ậ T H ÌN H s ự N Ă M 1999

V Ể C Á C T Ộ I X Â M P H Ạ M T ÌN H D Ụ C T R Ẻ EM

2.1 TỘI HIẾP DÂM TRẺ EM (ĐIỂU 112 BỘ LUẬT HÌNH s ự )

2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm trẻ em

Trong Bộ luật hình sự năm 1985, hiếp dâm trẻ em không được quy định thành một tội danh độc lập mà chỉ được quy định như một loại cấu thành tội phạm tăng nặng của tội hiếp dâm (khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự năm 1985) Trong lần sửa đổi, bổ sung lần thứ tư (năm 1997), Bộ luật hình sự năm

1985 đã tách trường hợp hiếp dâm trẻ em thành một tội danh độc lập (Điều

1 12a) Việc tách tội danh này là cần thiết nhằm thực hiện triệt để hơn nguyên tắc cá thể hoá hành vi cũng như cá thể hoá hình phạt, đồng thời thể hiện thái

độ lên án nghiêm khắc của Nhà nước đối với loại tội xâm hại tình dục trẻ em Hiện nay, tội hiếp dâm trẻ em được quy định tại Điều 112 Bộ luật hình sự năm

1999 Tại khoản 1 Điều 112 quy định: "Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13

tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm " Từ quy

định này và quy định về tội hiếp dâm (Điều 111) có thể hiểu tội hiếp dâm trẻ

em là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu với trẻ em từ

đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ hoặc lợi dụng tình trạng không có khả năng thể hiện ý chí đúng đắn của trẻ em dưới 13 tuổi để giao cấu với họ

Việc quy định tội hiếp dâm trẻ em trong Bộ luật hình sự trước hết nhằm mục đích bảo vệ trẻ em, người chủ tương lai của đất nước Họ là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý, chưa có khả năng tự bảo

vệ mình, do đó dễ bị tổn thương về nhiều mặt khi bị những hành vi trái pháp luật tác động tới Hành vi hiếp dâm trẻ em xâm hại quan hệ xã hội được Luật

Trang 25

hình sự bảo vệ là quyền bất khả xâm phạm về tình dục, là danh dự, nhân phẩm của trẻ em Đổng thời hành vi hiếp dâm trẻ em dễ dẫn đến tổn thương về sức khoẻ và có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ em Ngoài ra, hành vi hiếp dâm trẻ em còn xâm phạm đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ

em, xâm phạm đến các giá trị đạo đức xã hội, gây nên sự căm phẫn, bất bình trong quần chúng nhân dân

Cũng như mọi tội phạm, tội hiếp dâm trẻ em cũng có những biểu hiện diễn ra bên ngoài mà con người có thể nhận biết được mà trước hết ià hành vi khách quan Hiếp dâm trẻ em là một dạng cụ thể của tội hiếp dâm nói chung nên các nhà làm luật không mô tả lại hành vi khách quan của tội hiếp dâm trong điều luật quy định về tội hiếp dâm trẻ em Tội hiếp dâm trẻ em chỉ khác tội hiếp dâm ở đặc điểm của đối tượng tác động và là nạn nhân của hành vi phạm tội Đối tượng tác động của tội hiếp dâm là phụ nữ còn ở tội hiếp dâm trẻ em thì đối tượng tác động là trẻ em nữ dưới 16 tuổi

Hành vi khách quan của tội hiếp dâm trẻ em được mô tả chung ở điều

luật quy định về tội hiếp dâm là: " Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi

dụng tình trạng không th ể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ỷ muốn của họ " (khoản 1 Điều 111 Bộ luật hình sự).

Như vậy, dấu hiệu hành vi của tội hiếp dâm nói chung cũng như của tội hiếp dâm trẻ em nói riêng là hành vi giao cấu trái ý muốn nạn nhân (nhằm thoả mãn dục vọng thấp hèn của người phạm tội) Các tội phạm này đều là tội phạm có cấu thành hình thức Trong cấu thành tội phạm của những tội phạm này chỉ có hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân là dấu hiệu khách quan được mô tả Do vậy, tội hiếp dâm trẻ em được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân Hiện nay, thực tiễn xét xử vẫn dựa theo giải thích của Bản tổng kết 329/HS2 để xác định thế nào là hành vi giao cấu đã hoàn thành Cụ thể, Bản tổng kết này đã

xác định: “Giao cấu là sự cọ sát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của

Trang 26

người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức ấn vào trong không k ể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không k ể có xuất tinh hay không thì coi tội hiếp dâm đ ã hoàn thành bởi vì nhân phẩm, danh dự của người phụ nữ

dùng vũ lực càng mạnh Ví dụ: “Vào hồi 9 giờ 30 phút sáng ngày 6/4/ỉ 999 tên

Lê Th, sinh ngày 121111979 đang xáo cỏ ở đồi chề thấy em Nguyễn Thị B sinh ngày 25-3-1985 Y lại chỗ B bất ngờ dùng tay túm c ổ B, đe doạ "Nếu kêu tạo

s ẽ giết chết" Sau đó, y dùng tay túm tóc vật cháu B ngã xuống đất Cháu B vẫn chống cự và kêu la, y xé quần dài và quần lót của B chỉ còn lại chiếc cạp

quần dính ở thắt lưng Sau đó y tự cởi quần mình nằm đè lên người cháu ổ ”

(Theo bản án hình sự sơ thẩm 295/HSST ngày 29-11-1999 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá) Trong vụ án này, người phạm tội đã dùng vũ lực nhằm thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với nạn nhân Nạn nhân là cháu B đã kháng cự quyết liệt nhưng cháu càng kháng cự thì hành vi dùng vũ lực của người phạm tội càng mạnh Y đã dùng thủ đoạn dùng vũ lực để giao cấu trái ý muốn với nạn nhân nhằm thoả mãn dục vọng thấp hèn của mình

- Thủ đoạn đe doạ dùng vũ lực: Đây là trường hợp người phạm tội dùng lời nói hoặc cử chỉ đe doạ dùng vũ lực như doạ giết, doạ gây thương tích nhằm uy hiếp tinh thần trẻ em làm cho người bị đe doạ sợ hãi phải để

cho người phạm tội giao cấu trái với ý muốn của mình V í dụ: “Khoảng 8h 45

ngày 15/3/2003, Lê Ngọc Th đi chơi từ nhà dượng về, đến nhà làm nấm của ông Dũng thì gặp cháu Hà Thị Mai Tr (101611992) đi học về Th kéo cháuTr vào vườn cà phê đ ể thực hiện việc giao cấu, cháu Tr không chịu, kêu khóc và

Trang 27

ngày 25 tháng 7 năm 2003 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng).

- Thủ đoạn lợi dụng tinh trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: Đây

là trường hợp người phạm tội lợi dụng tình trạng trẻ em không thể chống cự được như đang trong tình trạng bệnh tật, ốm đau .để thực hiện hành vi giao

cấu V í dụ: “Khoảng tháng 5 năm 1999, Lò Văn Ng từ bản Noong Hẻo đến

bản của ông Lò Văn ón, đến đoạn gần suối thấy hai chị em Lò thị B và Lò Thị

u (con của ông ón) đang tắm Biết hai chị em B và u bị câm điếc từ nhỏ nên khi hai chị em tắm xong, Ng chạy đến cầm tay B kéo lên đồi Ng cỏi váy cháu

B và thực hiện hành vỉ giao cấu với B Do B bị cảm điếc từ nhỏ nên không kêu

và không chống cự được ” (Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 103/HSST ngày

24/7/2000 của Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu)

- Thủ đoạn khác: Đây là trường hợp trong đó thủ đoạn mà người phạm tội thực hiện không phải là thủ đoạn nói trên nhưng vẫn có thể tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn nạn nhân như cho trẻ em uống thuốc kích dục, đưa trẻ em vào tình trạng say ma tuý

Đối với trường hợp đối tượng bị xâm hại tình dục là trẻ em dưới 13

tuổi, khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "Mọi trường hợp

giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em " Điều này

có nghĩa hành vi giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi dù có sự đồng ý vẫn bị coi là phạm tội hiếp dâm trẻ em Quy định này xuất phát từ quan điểm cho rằng ở độ tuổi dưới 13, trẻ em chưa có khả năng biểu hiện ý chí đúng đắn, dễ bị người khác lợi dụng, lôi kéo, rủ rê Do vậy, có thể coi đây là một thủ đoạn của tội hiếp dâm trẻ em - thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể biểu lộ ý chí đúng đắn được của trẻ em dưới 13 tuổi

Chủ thể của tội hiếp dâm trẻ em cũng giống như chủ thể của tội hiếp

Trang 28

dâm chỉ có thể là nam giới có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, ở đây, ngoài những dấu hiệu bắt buộc chung của mọi chủ thể của tội phạm tội hiếp dâm nói chung và tội hiếp dâm trẻ em nói riêng có thêm một dấu hiệu bắt buộc về chủ thể đó là giới tính Người thực hiện hành vi hiếp dâm trẻ em chỉ có thể là nam giới Phụ nữ cũng có thể là đồng phạm của tội hiếp dâm trẻ em (là người tổ chức, người giúp sức hoặc người xúi giục) nhưng không thể là người thực hành Việc khẳng định chủ thể của tội hiếp dâm trẻ

em chỉ có thể là nam giới là xuất phát từ cơ sở cho rằng hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân chỉ có thể là hành vi của nam giới (nạn nhân của hành vi giao cấu trái với ý muốn của họ chỉ có thể là nữ) Mặc dù vậy, quy định của Bộ luật hình sự hiện hành không thể hiện rõ ràng điều này Điều luật

chỉ quy định chủ thể một cách chung là “người nào ” mà không mô tả rõ dấu

hiệu chủ thể đặc biệt - dấu hiệu giới tính Do vậy, chúng tôi đồng tình với ý kiến cho rằng cần phải sửa đổi điều luật quy định về tội hiếp dâm cũng như của tội hiếp dâm trẻ em theo hướng xác định rõ chủ thể của những tội phạm này là “người đàn ông nào” [18, tr.47; 12, tr.99]

Về mặt chủ quan của tội phạm, hành vi hiếp dâm trẻ em được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp của người phạm tội Người phạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của mình trên cơ sở nhận thức được tính chất của hành vi khách quan và của đối tượng tác động Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự, việc xác định, chứng minh ý thức chủ quan của người phạm tội hiếp dâm trẻ em của các trường hợp trẻ em ở lứa tuổi giáp ranh giữa trẻ em và người thành niên nhìn chung rất phức tạp ở độ tuổi này, nhiều

em gái đã dậy thì, phát triển nhanh về thể chất và do vậy, bề ngoài các em có thể cao lớn như người đã thành niên, tác phong, xử sự giống như người lớn (vì

ở lứa tuổi này các em đang bắt chước làm người lớn) Mặt khác, bản thân nạn nhân có thể cố tình giấu hoặc nói sai độ tuổi của mình làm cho người phạm tội lầm tưởng nạn nhân là người đã thành niên và thực hiện hành vi giao cấu với

Trang 29

các em Vậy trong trường hợp này để định tội danh một cách chính xác, các

cơ quan có thẩm quyền cần phải giải quyết như thế nào? Hiện nay, có hai quan điểm về vấn đề này

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc định tội danh trong trường hợp này chỉ căn cứ vào tuổi thực của nạn nhân (còn trong độ tuổi trẻ em) mà không cần xác định ý thức chủ quan của người phạm tội, không cần xác định chủ thể của tội phạm có biết nạn nhân là trẻ em hay không [33, tr 176]

- Quan điểm thứ hai cho rằng, việc định tội danh trong trường hợp này phải căn cứ vào cả tuổi thực của nạn nhân (còn trong độ tuổi trẻ em) và ý thức chủ quan của người phạm tội (họ phải nhận biết được nạn nhân là trẻ em) [16, tr.93]

Quan điểm thứ nhất đảm bảo được tuyệt đối việc thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên tránh khỏi hành vi xâm hại về tình dục Mọi hành vi xâm hại hiếp dâm trẻ em đều phải bị trừng trị nghiêm khắc Tuy nhiên, quan điểm này lại chưa đảm bảo được một cách đầy đủ nguyên tắc có lỗi của người phạm tội Trong khi đó, quan điểm thứ hai đảm bảo dược nguyên tắc này, tránh được trường hợp quy tội khách quan nhưng việc thực hiện theo quan điểm thứ hai không đơn giản

mà có thể rất phức tạp, khó khăn

Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai vì theo quy định của Bộ luật hình sự lỗi của người phạm các tội xâm phạm tình dục trẻ em đểu là lỗi cố ý trực tiếp Điều đó đòi hỏi họ phải biết đặc điểm “trẻ em” của đối tượng tác động - đặc điểm có ý nghĩa quan trọng đối với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Nếu người phạm tội có sự sai lầm về đặc điểm này của đối tượng tác động thì cũng có nghĩa lỗi cố ý đã bị loại trừ Việc buộc một người không nhận thức được đối tượng mà mình xâm hại là trẻ em phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đối với trẻ em là biểu hiện của việc truy tội khách quan - Điều mà luật hình sự Việt Nam không chấp nhận

Khi phân tích dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm trẻ em, chúng ta cấn

Trang 30

chú ý phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có cùng dấu hiệu khách quan là hành vi giao cấu Đó là tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 Bộ luật hình sự); tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 Bộ luật hình sự)

và tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 Bộ luật hình sự) Tội giao cấu với trẻ em

có dấu hiệu đặc trưng là người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi để

dụ dỗ, lừa gạt trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thuận tình giao cấu; Tội mua dâm người chưa thành niên có dấu hiệu đặc trưng là người phạm tội dùng tiền bạc hay lợi dụng vật chất khác để đánh đổi lấy sự thuận tình giao cấu của người chưa thành niên; Tội cưỡng dâm trẻ em có dấu hiệu đặc trưng là người phạm tội lợi dụng tình trạng bị lộ thuộc hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân để buộc họ phải miễn cưỡng giao cấu với mình

2.1.2 Đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm trẻ em

Thể hiện đường lối xử lý nghiêm khắc đối với người phạm tội hiếp dâm trẻ em Bộ luật hình sự quy định 4 khung hình phạt khác nhau được phép

áp dụng cho tội phạm này vối mức hình phạt thấp nhất là 7 năm tù và hình phạt cao nhất là hình phạt tử hình

So với tội hiếp dâm (Điều 111 Bộ luật hình sự) thì đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm trẻ em cũng nghiêm khắc hơn Điều này thể hiện ở chỗ: Khoản 1 Điều 111 quy định khung hình phạt cơ bản của tội hiếp dâm có mức phạt tù từ 5 năm đến 7 năm tương ứng với loại tội phạm nghiêm trọng Trong khi đó khoản 1 Điều 112 quy định khung hình phạt cơ bản của tội hiếp dâm trẻ em có mức hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm tương ứng với loại tội phạm rất nghiêm trọng

Tương tự như vậy, khoản 2 Điều 112 và khoản 2 Điều 111 quy định hai khung hình phạt có mức độ nghiêm khắc khác nhau mặc dù có cùng tình tiết định khung tăng nặng (phạm tội có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; phạm tội đối với người mà họ có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa

Trang 31

20 năm tù Trong khi đó khung hình phạt ở tội hiếp dâm có một trong những tình tiết này là 7 năm tù đến 15 năm tù.

Cùng là tình tiết định khung tăng nặng phạm tội có tổ chức; phạm tội trong trường hợp nhiều người hiếp một người; phạm tội nhiều lần; phạm tội đối với nhiều người nhưng ở tội hiếp dâm, những tình tiết này được quy định tại khoản 2 Điều 111 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm; Còn ở tội hiếp dâm trẻ em, những tình tiết này được quy định tại khoản

3 Điều 112 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Từ những so sánh trên đây, chúng ta thấy mức hình phạt được quy định đối với tội hiếp dâm trẻ em luôn luồn cao hơn nhiều so với tội hiếp dâm Điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước ta trong việc bảo vệ trẻ

em trước tệ nạn xâm phạm tình dục trẻ em

Nghiên cứu cụ thể các tình tiết định khung tăng nặng của tội hiếp dâm trẻ em, chúng tôi có những nhận xét sau:

So với Bộ luật hình sự năm 1985 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định thèm một số tình tiết định khung hình phạt tăng nặng hình phạt được áp dụng cho tội hiếp dâm trẻ em Đó là tình tiết phạm tội đối với nhiều người; tình tiết gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân với tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; tình tiết biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội

Khi áp dụng những tình tiết này cũng như những tình tiết khác đã được quy định từ trước có thể phát sinh những vướng mắc, tranh luận nhất định liên quan đến các tình tiết sau:

Thứ nhất, hiếp dâm trẻ em có tính chất loạn luân (điểm a khoản 2 Điều

112 Bộ luật hình sự) Tình tiết "Cớ tính chất loạn luân" được được hiểu là nạn

nhân bị hiếp dâm phải có cùng dòng máu về trực hệ hoặc bàng hệ với người

Trang 32

phạm tội Đó là, quan hệ giữa cha và con, giữa ông và cháu, giữa anh chị em ruột với nhau (cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha) (Xem Thông tư liên tịch số 0 1 /r í LT/TANDTC/VKSNDTC/BCA ngày 2.1.1998 của Toà án nhân dàn tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an hướng dẫn áp dụng một số điều của luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự)

Tinh tiết định khung hình phạt tăng nặng này được quy định nhằm bảo

vệ thuần phong, mĩ tục, bảo vệ hạnh phúc gia đình, giữ gìn đạo đức xã hội, bảo đảm sự sinh tồn và phát triển bình thường về nòi giống dân tộc Hành vi hiếp dâm trẻ em có tính chất loạn luân thể hiện sự suy đồi, tha hoá nghiêm trọng về đạo đức Do đó, hành vi này đòi hỏi phải bị trừng trị nghiêm khắc

Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử có vấn đề vướng mắc phát sinh khi

áp dụng khoản 4 Điều 112 "Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13

tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em '' ở đây câu hỏi được đặt ra là người phạm

tội theo khoản 4 này phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào nếu hành vi phạm tội của họ có tính chất loạn luân?

Có quan điểm cho rằng, ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 Điều 112 người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội loạn luân theo Điều 150 Bộ luật hình sự năm 1999 [11, tr.51]

Quan điểm khác lại cho rằng, việc quy định "mọi trường hợp" tức là nhà làm luật đã dự liệu hết mọi khả năng nên người phạm tội trong trường hợp này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em dưới 13 tuổi theo khoản 4 của điều luật

Theo chúng tôi, người phạm tội trong trường hợp này ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 Điều 112 còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân theo Điều 150 thì mới hợp

lí bởi hành vi phạm tội trong trường hợp này thoả mãn hai tội nói trên Nếu chỉ

xử về một tội - tội hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 thì sẽ bỏ lọt tội phạm

Trang 33

Ngoài ra, việc áp dụng tình tiết này cũng đặt ra câu hỏi: Người phạm tội có đòi hỏi phải biết rõ quan hệ huyết thống giữa mình và nạn nhân không? Theo chúng tôi, tình tiết phạm tội có tính chất loạn luân có hai dấu hiệu sau:

- Về khách quan phải tồn tại quan hệ huyết thống giữa người phạm tội

và nạn nhân và

- Về chủ quan, người phạm tội phải biết quan hệ huyết thống này

Nói một cách khái quát, người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình

sự về tình tiết định khung hình phạt này khi có lỗi cố ý đối với tình tiết đó

T h ứ hai, tình tiết gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ

thương tật từ 31% đến 60% Đây là trường hợp nạn nhân bị hành vi hiếp dâm gây tổn hại tới sức khoẻ Việc quy định tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% là điểm mới so với Bộ luật hình sự năm 1985 Ở đây câu hỏi được đặt ra là người phạm tội bị xử lý như thế nào trong trường hợp thương tích gây ra có tỷ lệ thương tật dưới 31%?

Theo chúng tôi, trường hợp hiếp dâm trẻ em gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 31% phải bị xét xử về hai tội là tội hiếp dâm trẻ em và tội cố ý gây thương tích (khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự) vì đây là trường hợp một hành vi cấu thành nhiều tội và tội thứ hai (khoản 1 Điều

104 Bộ luật hình sự) không được quy định là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội thứ nhất (Điều 112 Bộ luật hình sự)

T hứ ba, tình tiết phạm tội “đối với nhiều người” Đây là tình tiết định

khung tăng nặng mới được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 Phạm tội đối với nhiều người là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm

từ hai nạn nhân trở lên mà các nạn nhân đều dưới 16 tuổi Nếu người phạm tội hiếp dâm hai nạn nhân nhưng có một nạn nhân đã đủ 16 tuổi thì không thể áp dụng tình tiết này Hành vi hiếp dâm phải thực hiện với ít nhất hai nạn nhân và các đối tượng bị hại đó phải dưới 16 tuổi để thoả mãn yêu cầu của tội hiếp dâm trẻ em Nếu không người phạm tội sẽ bị xử lý về hai tội riêng biệt là tội

Trang 34

hiếp dâm và tội hiếp dâm trẻ em Do vậy, để cho rõ, tránh hiểu sai, tình tiết này cần sửa lại là “ phạm tội đối với nhiều trẻ em ”

T hứ tư, tình tiết biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội Tinh tiết

này chưa được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 vì ở thời điểm đó đại dịch HIV chưa bùng phát mạnh như những năm gần đây Nhận thức được tính chất nguy hiểm của việc truyền HIV từ người phạm tội sang trẻ em bị hiếp dâm, gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân nên nhà làm luật đã bổ sung thêm tình tiết này vào một số điều luật trong đó có Điều 112 và một số điều luật xâm phạm tình dục khác Theo quy định của điều luật thì người phạm tội trong trường hợp này tuy biết mình bị nhiễm HIV nhưng vẫn cố ý iây truyền cho nạn nhân Điều đó có nghĩa, tình tiết định khung tăng nặng hình phạt này không được phép áp dụng khi người phạm tội không biết mình bị nhiễm HIV hoặc tuy biết mình bị nhiễm HIV nhưng không có ý thức lây truyền HIV cho nạn nhân qua việc thực hiện biện pháp phòng tránh là dùng bao cao su [15, tr.9] Với nôi dung như vây, tình tiết này, theo chúng tôi cần được quy định là:

"Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn c ố ý lây truyền cho người khác".

2.2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm trẻ em

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định tội cưỡng dâm trẻ em tại Điều 114 Đây là trường hợp đặc biệt của tội cưỡng dâm được quy định tại Điều 113 Bộ luật hình sự Căn cứ vào quy định về tội cưỡng dâm tại Điều 113 và về tội cưỡng dâm trẻ em tại Điều 114 có thể hiểu cưỡng dâm trẻ em là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang lệ thuộc vào mình hoặc đang trong tình trạng quẫn bách phải giao cấu một cách miễn cưỡng

Khách thể của tội cưỡng dâm trẻ em cũng giống như khách thể của tội hiếp dâm trẻ em là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em Hành vi cưỡng dâm trẻ em có đối tượng tác động là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16

30

Trang 35

hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 Điều 112 Trẻ em là đối tượng của tội cưỡng dâm trẻ em có thể là người bị lệ thuộc vào người phạm tội về mặt vật chất hay tinh thần như con lệ thuộc cha; trò lệ thuộc thầy; bệnh nhân lệ thuộc bác sỹ; người làm thuê lệ thuộc chủ thuê v.v Họ cũng có thể là người đang trong tình trạng quẫn bách như đang ở trong tình trạng lang thang, không nơi nương tựa, đói khát; bố mẹ ốm nặng không có tiền đóng viện phí Khi rơi vào tình trạng này các em không còn sáng suốt lựa chọn một xử sự phù hợp.

Hành vi khách quan ở tội cưỡng dâm trẻ em là hành vi của người phạm tội giao cấu với nạn nhân bằng thủ đoạn lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân để dụ dỗ, mua chuộc, đe doạ Bằng thủ đoạn này người phạm khống chế tư tưởng của trẻ em để trẻ em phải miễn cưỡng

chịu sự giao cấu Ví dụ: “Biết cháu Nguyễn Thị Q (14 tuổi) lang thang, không

có cha mẹ nuôi dưỡng, H đã nhận cháu về nuôi Thời kì đầu, H đ ã đ ể cháu rủa bát tại quán ăn của mình Sau khi Q đã quen với công việc, cuộc sống ổn định, H đ ã yêu cầu cháu phải cho y giao cấu H doạ, nếu không cho H giao cấu, H s ẽ đuổi cháu Q, Q s ẽ phải lang thang không nhà cửa, đói khát như trước V ì sợ mất chỗ ở và việc làm, Q đ ã miễn cưỡng cho H giao cấu ” (Theo

Bản án số 1672/HSST ngày 13/2/2001 của Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình) Trong vụ án này, H đã lợi dụng nạn nhân lệ thuộc y về mặt kinh tế, buộc nạn nhân phải miễn cưỡng chịu sự giao cấu

Khác với hành vi hiếp dâm trẻ em, hành vi khống chế tư tưởng bằng cách lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc tình trạng quẫn bách ở tội cưỡng dâm trẻ

em chưa thực sự làm cho nạn nhân khiếp sợ đến mức ý chí tự vệ bị tê liệt mà ở đây họ vẫn có khả năng kháng cự; còn ở tội hiếp dâm trẻ em, hành vi đe doạ làm cho ý chí kháng cự của trẻ em bị tê liệt hoàn toàn

Tội cưỡng dâm trẻ em được coi là hoàn thành khi các em phải miễn

Trang 36

cưỡng giao cấu Nếu các dấu hiệu khác đã thoả mãn nhưng chưa có việc giao cấu miễn cưỡng của nạn nhân thì tội phạm chưa hoàn thành.

Chủ thể của tội cưỡng dâm trẻ em là nam giới, có quan hệ lệ thuộc với trẻ em hoặc là người “giúp” trẻ em thoát khỏi tình trạng quẫn bách Người phạm tội cưỡng dâm trẻ em thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp Họ không chỉ biết quan hệ lệ thuộc hoặc tình trạng quẫn bách mà còn biết nạn nhân là trẻ em

2.2.2 Đường lối xử lý đối với tội cưỡng dâm trẻ em

Hình phạt được quy định đối với tội cưỡng dâm trẻ em có 3 khung hình phạt khác nhau: Mức hình phạt thấp nhất được quy định tại khoản 1 là 5 năm tù, mức cao nhất được quy định tại khoản 3 là tù chung thân Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng cho phép áp dụng các khung tăng nặng tương

tự như ở tội hiếp dâm trẻ em

So với tội hiếp dâm trẻ em quy định tại Điều 112 thì hình phạt đối với tội cưỡng dâm trẻ em nhẹ hưn Nhưng so với tội cưỡng dâm thì hình phạt quy định cho tội cưỡng dâm trẻ em là nặng hơn, thể hiện ở chỗ mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội cưỡng dâm là 18 năm tù, còn mức cao nhất của tội cưỡng dâm trẻ em là 20 năm tù hoặc tù chung thân

So với tội cưỡng dâm người chưa thành niên được quy định tại Điều 113a Bộ luật hình sự năm 1985 thì đường lối xử lý đối với tội cưỡng dâm trẻ

em quy định tại Điều 114 Bộ luật hình sự năm 1999 có xu hướng nghiêm khắc hơn Mức hình phạt cao nhất được quy định trong khung hình phạt cơ bản được nâng lên 10 năm tù là mức cao hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985 Các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt của tội cưỡng dâm trẻ em trong Bộ luật hình sự năm 1999 so với Bộ luật hình sự năm 1985 có sự bổ sung và một

số thay đổi có tính cụ thể hoá hơn Cụ thể, tình tiết "gây tổn hại nặng cho sức

khoẻ của nạn nhân" (điểm d khoản 2 Điều 113a Bộ luật hình sự năm 1985)

được thay bằng tình tiết "gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ

Trang 37

khoản 3 Điều 113a Bộ luật hình sự năm 1985) được thay bằng tình tiết "gây

tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên" (điểm d

khoản 3 Điều 114 Bộ luật hình sự năm 1999) Bộ luật hình sự năm 1999 cũng

bổ sung thêm tình tiết phạm tội "Đối với nhiều người" là tình tiết định khung

hình phạt tăng nặng của tội cưỡng dâm trẻ em Tinh tiết này có nội dung tương

tự như ở tội hiếp dâm trẻ em Do vậy, cũng đòi hỏi phải được sửa lại là phạm

tội “Đối với nhiều trẻ e m ”.

2.3 TỘI GIAO CẤU VỚI TRẺ EM (ĐIỂU 115 BỘ LUẬT HÌNH s ụ )

2.3.1 Dấu hiệu pháp lý của tội giao cấu với trẻ em

Tội giao cấu với trẻ em được quy định tại Điều 115 Khoản 1 của điều

luật quy định: "Người nào đ ã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi

đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm".

Như vậy, giao cấu với trẻ em là hành vi của người đã thành niên (từ đủ

18 tuổi trở lên) thực hiện việc giao cấu với trẻ em mà việc giao cấu đó có sự thoả thuận, đồng ý của trẻ em và không nhằm mục đích có tính vật chất

Hành vi giao cấu với trẻ em có tính nguy hiểm cho xã hội, xâm hại sự phát triển bình thường về thể chất cũng như tâm, sinh lý của trẻ em Việc quy định tội phạm này trong Bộ luật hình sự có tác dụng ngăn chặn những hành vi lợi dụng sự non nớt, nhẹ dạ của trẻ em, đẩy các em vào quan hệ tình dục quá sớm gây ảnh hưởng xấu đến mọi mặt

Đối tượng tác động của tội phạm giao cấu với trẻ em là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Đây là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này Trong các tội xâm phạm tình dục trẻ em nói chung và tội giao cấu với trẻ em nói riêng vấn để xác định độ tuổi của nạn nhân là rất quan trọng trong việc xác định tội phạm cũng như xác định khung hình phạt Tuy nhiên, việc xác định này không

Trang 38

phải luôn luôn dễ dàng vì có nhiều trường hợp nạn nhân không có các giấy tờ cần thiết là căn cứ cho việc xác định độ tuổi Có trường hợp chúng ta chỉ có thể xác định được năm sinh hoặc năm sinh và tháng sinh mà không xác định được ngày sinh Đổng thời cũng có trường hợp chúng ta không xác định được

cả ngày, tháng và năm sinh Trong những trường hợp này, chúng ta phải giải quyết như thế nào?

Hiện nay, có quan điểm cho rằng, nếu chỉ biết được tháng sinh mà không biết được chính xác ngày sinh của người bị hại thì cần phải coi người bị hại sinh vào ngày đầu tiên của tháng Nếu chỉ biết năm sinh thì phải coi người

bị hại sinh vào ngày 1 tháng 1 của năm đó, nếu không có cơ sở để xác định cả năm sinh thì cần phải giám định độ tuổi [15, tr.9] Ngược lại, quan điểm khác lại cho rằng, nếu không xác định được ngày sinh thì ngày sinh sẽ là ngày cuối cùng của tháng, nếu không xác định được cả tháng sinh thì ngày sinh sẽ là ngày 31 tháng 12 của năm sinh [2, tr.8]

Theo chúng tôi, việc theo quan điểm nào trên đây phải xuất phát từ những nguyên tắc chung của luật hình sự và luật tố tụng hình sự Trong đó có

nguyên tắc “có lợi cho bị c á o ” Với nguyên tắc này chúng ta không thể chấp

nhận được quan điểm thứ nhất mà chỉ có thể chấp nhận được quan điểm thứ hai Cụ thể: Nếu chỉ biết được tháng sinh của nạn nhân mà không biết ngày sinh của họ thì ngày sinh được tính là ngày cuối cùng của tháng Nếu chỉ biết được năm sinh của nạn nhân mà không biết ngày, tháng sinh thì phải coi họ được sinh vào ngày cuối cùng của tháng 12 năm đó Nếu không xác định được năm sinh của nạn nhân thì phải trưng cầu giám định độ tuổi Nếu cơ quan giám định đưa ra độ tuổi của nạn nhân là một khoảng tương đối thì phải coi họ

có độ tuổi lớn nhất trong khoảng tuổi đã kết luận

Hành vi khách quan của tội giao cấu với trẻ em là hành vi giao cấu thuận tình của người đã thành niên với trẻ em trong độ tuổi từ 13 tuổi đến dưới

16 tuổi Sự thuận tình này có thể là do có quan hệ tình cảm yêu đương giữa hai

Trang 39

đình bả Tuyết Minh Từ đó, H thường xuyên lui tới quán của bà Tuyết Minh đ ể uống cà phê và trò chuyện với cháu D (sinh năm 1982) là con gái của bà Sau

đó, giữa H và D nảy sinh mối quan hệ tình cảm Lợi dụng mối quan hệ trên, vào tháng 8 năm 1996 khi bà Minh đi vắng H đ ã thực hiện hành vi giao cấu với cháu D Sau đó y còn lén lút quan hệ sinh lỷ với cháu Dung nhiều lần nữa tại nhà bà Minh " (Theo bản án hình sự sơ thẩm số 540/HSST ngày 16/4/1997

của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh) Theo nội dung của vụ án, có thể thấy người phạm tội đã lợi dụng quan hệ tình cảm yêu đương để thực hiện hành vi giao cấu thuận tình với trẻ em

Trong thực tiễn xét xử, việc xác định hành vi giao cấu có sự thuận tình của nạn nhân và người phạm tội là hết sức phức tạp vì đây là thỏa thuận mang tính tình cảm riêng tư Do đó, khi giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét một cách toàn diện những tình tiết, diễn biến của sự việc chứ không chỉ dựa vào lời khai của nạn nhân hoặc của can phạm

Hiện nay, có ý kiến cho rằng trong điều luật quy định về tội giao cấu

với trẻ em nên bổ sung thêm yếu tố "thuận tình"[ 18, tr.48] Chúng tôi hoàn

toàn đồng ý với quan điểm này vì dấu hiệu thuận tình giao cấu của nạn nhân trong tội giao cấu với trẻ em là dấu hiệu cần thiết để phân biệt với các tội phạm khác xâm phạm tình dục trẻ em Ở tội hiếp dâm trẻ em, việc giao cấu với trẻ em

là trái với ý muốn của họ; ở tội cưỡng dâm trẻ em, việc giao cấu với người phạm tội là sự miễn cưỡng của nạn nhân Việc quy định thêm dấu hiệu “thuận tình” giao cấu trong điều luật sẽ làm rõ ràng hơn dấu hiệu pháp lý của tội giao cấu với trẻ em, tạo điều kiện thuận tiện hơn cho người áp dụng pháp luật

Tội giao cấu với trẻ em là tôi phạm có cấu thành hình thức nên chỉ cần

có hành vi giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là tội phạm đã hoàn thành bất kể hành vi giao cấu đã kết thúc về mặt sinh lý hay chưa

Trang 40

Xuất phát từ bản chất nguy hiểm của tội phạm là việc lợi dụng sự nhẹ

dạ, cả tin của trẻ em, tội giao cấu đối với trẻ em đòi hỏi chủ thể phải là người

đã thành niên (tức là người từ đủ 18 tuổi trở lên) Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra

ở đây là chủ thể của tội phạm này chỉ là nam hay còn gồm cả nữ? v ề mặt lý thuyết, trẻ em nam cũng có thể bị người thành niên là nữ lợi dụng để thực hiện hành vi thuận tình giao cấu Nhưng xét về khả năng xảy ra và mức độ nguy hiểm cho xã hội chúng ta có thể loại trừ trường hợp này ra khỏi phạm vi của tội giao cấu với trẻ em được không? Đây là câu hỏi đặt ra cho nhà làm luật và giải thích luật Theo chúng tôi, về nguyên tắc, chủ thể của tội này vẫn bao gồm cả người thành niên là nữ

Lỗi của chủ thể trong tội giao cấu với trẻ em là lỗi cố ý trực tiếp Trong đó, chủ thể khi quyết định thực hiện hành vi đã nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi qua việc nhận thức được đặc điểm của đối tượng tác động là trẻ em Trong thực tế, việc phân biệt trường hợp cố ý với trường hợp người có hành vi thực sự lầm tưởng về độ tuổi của nạn nhân không phải luôn luôn đơn giản Điều này đòi hỏi các cơ quan khi tiến hành tố tụng phải xem xét tất cả các tình tiết có liên quan như sự phát triển cơ thể của nạn nhân, mức độ thân quen giữa can phạm và nạn nhân, Có như vậy mới có cơ

sở để xác định lỗi của người phạm tội

So sánh tội giao cấu với trẻ em với tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 Bộ luật hình sự) cho thấy, trong tội cưỡng dâm trẻ em, người phạm tội dùng rất nhiều thủ đoạn để trẻ em lệ thuộc mình hoặc trẻ em đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng chịu sự giao cấu với họ; còn ở tội giao cấu với trẻ

em, người phạm tội lợi dụng sự nhẹ dạ, thiếu hiểu biết của trẻ em để dụ dỗ các

em thuận tình giao cấu với mình Thái độ tâm lý của nạn nhân đối với việc giao cấu là điểm khác nhau cơ bản để phân biệt hai tội này ở tội cưỡng dâm trẻ em, vì bị khống chế về tư tưởng nên nạn nhân miễn cưỡng phải giao cấu, còn ở tội giao cấu với trẻ em, nạn nhân hoàn toàn tự nguyên chấp nhận giao

Ngày đăng: 15/08/2020, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[9] Phạm Hồng Hải (2003)," Các quy định của pháp luật về hoạt động phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện", Tạp chí N hà nước và Pháp luật, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định của pháp luật về hoạt động phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2003
[10] Nguyễn Ngọc Hoà (2001), "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người - So sánh giữa Bộ luật hình sự năm1999 và Bộ luật hình sự năm 1985", Tạp chí luật học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người - So sánh giữa Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 1985
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Năm: 2001
[11] Nguyễn Ngọc Hoà (2001), Mô hình Luật hình sự Việt nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Luật hình sự Việt nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
[19] Đặng Xuân Nam (1999), Tội hiếp dâm trẻ em và đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội hiếp dâm trẻ em" và "đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bình Định
Tác giả: Đặng Xuân Nam
Năm: 1999
[20] Đinh Văn Q uế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm, Nxb Thành phố Hổ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm
Tác giả: Đinh Văn Q uế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hổ Chí Minh
Năm: 2000
[21] Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2000), "Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999", Sô'chuyên đề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999
Tác giả: Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Năm: 2000
[22] Hoàng Bá Thịnh (1998), Tìm giải pháp ngăn chặn tệ nạn mua, bán dâm trẻ em, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm giải pháp ngăn chặn tệ nạn mua, bán dâm trẻ em
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[23] Nguyễn Văn Thông (1998), Toà án và quyền trẻ em , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toà án và quyền trẻ em
Tác giả: Nguyễn Văn Thông
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[24] Nguyễn Văn Thông (2002), s ổ tay thẩm phán và hội thẩm nhân dân về quyền phụ nữ và trẻ em , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: s ổ tay thẩm phán và hội thẩm nhân dân về quyền phụ nữ và trẻ em
Tác giả: Nguyễn Văn Thông
Năm: 2002
[25] Toà án nhân dân tối cao (1999), Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2000
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 1999
[26] Toà án nhân dân tối cao (2000), Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2000 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2001 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2000 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2001
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2000
[27] Toà án nhân dân tối cao (2001), Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2001 và phương hướng, nhiệm vụ công tấc năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2001 và phương hướng, nhiệm vụ công tấc năm 2002
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2001
[28] Toà án nhân dân tối cao (2002), Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2002 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2002 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2003
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2002
[29] Toà án nhân dân tối cao (2003), Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2003 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2003 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2004
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2003
[30] Toà án nhân dân tối cao (1975), Tập hệ thống hoá luật lệ về hỉnh sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập hệ thống hoá luật lệ về hỉnh sự
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 1975
[32] Toà án nhân dân tối cao, phòng tổng hợp (2004), Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự năm ỉ 999-2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê xét xử sơthẩm hình sự năm ỉ 999-2003
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao, phòng tổng hợp
Năm: 2004
[33] Toà án nhân dân tối cao (2001), Vai trò c ủ a T o à án nhân dân trong việc đấu tranh phòng và chống các tội phạm về tình dục, công trình khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò c ủ a T o à án nhân dân trong việc đấu tranh phòng và chống các tội phạm về tình dục
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2001
[34] Trung tâm nghiên cứu quyền con người (1999), Giáo trình quyền trẻ em, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quyền trẻ em
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu quyền con người
Năm: 1999
[35] Trung tâm nghiên cứu quyền con người và viện thông tin khoa học thuộc Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Văn kiện Quốc t ế về quyền con người, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Quốc t ế về quyền con người
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu quyền con người và viện thông tin khoa học thuộc Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2000
[36] Trường đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm