1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LV Thạc sỹ_hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị hà nội

202 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các doanh nghiệp xây lắp ngày càng được mở rộng phát triển cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu, làm cho quy mô của ngành này càng lớn mạnh.Trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng hợp lý, tiết k

Trang 1

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có

sự hỗ trợ từ Thầy hướng dẫn Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong

đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ côngtrình nào

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 4

1.1 Đặc điểm hoạt động xâp lắp và ảnh hưởng của nó đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 4

1.2 Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 7

1.2.1 Chi phí sản xuất 7

1.2.1.1 Bản chất của chi phí 7

1.2.1.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 9

1.2.1.3 Nội dung kinh tế của chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 13

1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp 15

1.2.2.1 Bản chất của giá thành 15

1.2.2.2 Phân loại giá thành sản xuất sản phẩm 17

1.2.2.3 Nội dung kinh tế của việc tính giá thành sản phẩm trong DN xây lắp 19

1.2.3 Vị trí, vai trò của của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 20

1.2.4 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp .23 1.3 Nội dung kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 24

1.3.1 Đối tượng và phương pháp kế toán chi phí sản xuất 24

1.3.2 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm 27

1.3.3 Trình tự kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 34

1.3.4 Cơ chế khoán trong doanh nghiệp xây lắp và ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 37

Trang 3

1.3.5 Lập và kiểm soát việc thực hiện dự toán 41

Trang 4

1.3.5.2 Các báo cáo dự toán phục vụ cho việc kiểm soát, đánh giá và ra quyết

định 43

1.3.6 Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm để tăng cường quản trị doanh nghiệp 44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI 45

2.1 Tổng quan chung về Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng đô thị Hà Nội 45

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 45

2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý 46

2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh: 49

2.1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán 50

2.2 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng đô thị Hà Nội 52

2.2.1 Phân loại chi phí và giá thành sản phẩm 52

2.2.2 Thực trạng hạch toán các khoản mục chi phí sản xuất 53

2.2.2.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất 53

2.2.2.2 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 53

2.2.2.3 Kế toán mục chi phí nhân công trực tiếp 56

2.2.2.4 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công 58

2.2.2.5 Kế toán chi phí sản xuất chung 59

2.2.3 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất, đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm 62

2.3 Đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CP đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội 75

2.3.1 Những ưu điểm đạt được: 75

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu 76

Trang 5

CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI 80

3.1 Sự cần thiết và nguyên tắc hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội 80

3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm 80

3.2 Phương hướng và Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng đô thị Hà Nội 83

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống chứng từ, sổ sách và báo cáo kế toán 83

3.2.2 Hoàn thiện kế toán các khoản mục chi phí sản xuất 84

3.2.3 Hoàn thiện nội dung tính giá thành sản phẩm 90

3.2.3.1 Hoàn thiện đối tượng và kỳ tính giá thành sản phẩm: 90

3.2.3.2 Hoàn thiện phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang: 91

3.2.3.3 Hoàn thiện kế toán các khoản điều chỉnh giá thành sản phẩm: 92

3.2.3.4 Hoàn thiện kế toán sản phẩm hỏng và thiệt hại nguồn sản xuất 92

3.2.3.5 Hoàn thiện phương pháp tính giá thành sản phẩm 93

3.3 Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí – giá thành nhằm tăng cường công tác quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 95

3.3.1 Xác định trung tâm chi phí 96

3.3.2 Tổ chức thu thập thông tin 97

3.3.3 Phân tích thông tin 98

3.3.4 Lập các báo cáo quản trị chi phí – giá thành 99

3.3.5 Xây dựng cơ chế khoán gọn nội bộ 99

3.4 Những điều kiện để hoàn thiện giải pháp trên 100

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 7

- BHXH : Bảo hiểm xã hội

- BHYT : Bảo hiểm y tế

- CPBH : Chi phí bán hàng

- CTCP : Công ty cổ phần

- CPBH : Chi phí bán hàng

- CPQLDN : Chi phí quản lý doanh nghiệp

- CPNCTT : Chi phí nhân công trực tiếp

Trang 8

Tên danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá thành

Sơ đồ 2.1 Mô hình bộ máy CTCP Đầu tư và xây dựng HN

Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy kế toán của CTCP Đầu tư và XD HN

Sơ đồ 2.2 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành

Bảng 2.1 Khoản mục chi phí phát sinh trong năm

Bảng 2.2 Khoản mục chi phí

Bảng 2.3 Thẻ tính giá thành sản phẩm

Bảng 2.4 Khoản mục chi phí dở dang

Bảng 2.5 Khoản mục chi phí phát sinh

Bảng 2.6 Giá trị khoán của công ty thi công

Bảng 2.7 Thẻ tính giá thành sản phẩm

Bảng 3.1 Tỷ lệ giá tành ở từng khoản mục chi phí

Bảng 3.2 Chỉ tiêu giá thành ở từng khoản mục

Trang 9

TÓM TẮT

Xây lắp là ngành sản xuất vật chất tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật chủyếu cho nền kinh tế Sản phẩm của ngành là những công trình xây dựng, kiếntrúc, giao thông có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, có ý nghĩa quan trọng

về kinh tế, là cơ sở hạ tầng, là huyết mạch của nền kinh tế, là điều kiện tiền đề

để phát triển các ngành kinh tế khác và thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Các doanh nghiệp xây lắp ngày càng được mở rộng phát triển cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu, làm cho quy mô của ngành này càng lớn mạnh.Trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực cùngvới việc hạ thấp giá thành sản phẩm là mục tiêu sống còn của các doanhnghiệp, do đó mà công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm trở thành khâu quan trọng trong quá trình tổ chức hạch toán kế toán củadoanh nghiệp xây lắp

Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong cácdoanh nghiệp xây lắp đã biểu hiện những hạn chế nhất định, quy trình hạchtoán có nhiều bất cập, tùy tiện, việc quản lý vật tư, lao động và tiền vốn cònlỏng lẻo đã không phản ánh đúng thực tế công việc, gây ra những lãng phíđáng kể, không đáp ứng được nhu cầu của quản lý Vì vậy để cho loại hìnhdoanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả, tiết kiệm của cải cho nền kinh tếquốc dân, đem lại lợi ích cho toàn xã hội, thì việc hoàn thiện hạch toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản trị chi phí trongcác doanh nghiệp xây lắp là điều hết sức cần thiết

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn của quản lý sản xuất kinh doanh, yêucầu đặt ra cho công tác tổ chức hạch toán chi phi sản xuất và tính giá thành sảnphẩm của các doanh nghiệp xây lắp trong cơ chế hiện nay, tác giả mạnh dạn đi

sâu nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội ”.

Trang 10

Bố cục của luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp

o Đặc điểm hoạt động xây lắp và ảnh hưởng của nóđến công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm

o Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.1.2.1.Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuẩt

1.2.2.Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm xâylắp

1.2.3.Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.1.3 Nội dung kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dướigóc độ kế toán tài chính

1.3.1.Đối tượng và phương pháp kế toán chi phí sản xuất

1.3.2 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm

1.3.3.Trình tự kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm

1.3.4 Cơ chế khóan trong doanh nghiệp xây lắp và ảnh hưởngcủa nó đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.4 Nội dung kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trêngóc độ kế toán quản trị chi phí phục vụ nội bộ doanh nghiệp

Trang 11

Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội.

2.1.Tổng quan chung về Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị

Hà Nội

2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần đầu tư

và xây dựng đô thị Hà Nội

2.1.2.Đặc điểm mô hình tổ chức quản lý

2.1.3.Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán

2.2.Thực trạng hạch tóan chi phí sản xuẩt và tính giá thành tại Công ty

cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội

2.2.1.Phân loại chi phí và giá thành sản phẩm

2.2.2 .Thực trạng hạch tóan chi phí sản xuẩt và tính giá thành tạiCông ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội

2.3.Đánh giá chung về công tác quản lý, hạch toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị HàNội

2.3.1.Những ưu điểm đạt được

Trang 12

Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí được định nghĩa theophương diện khác nhau.

Theo chuẩn mực kế toán số 01 của Việt Nam – chuẩn mực chung (VAS

01) thì chi phí được hiểu như sau: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu; không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.

Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiềncủa toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các hao phíkhác bằng tiền cần thiết mà doanh nghiệp bỏ ra không kể đến thời kỳ sản xuấtnào để hoàn thành một công trình, hạng mục công trình hay một giai đoạncông việc của hạng mục công trình có điểm dừng kỹ thuật của các sản phẩmcủa dự án nhà ở, đô thị thời kỳ này

Trong hệ thống các chỉ tiêu phân tích kinh tế ngành xây dựng thì giáthành là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng bởi vì chỉ tiêu này phản ánh chất lượngmọi mặt lao động tổ chức quản lý của doanh nghiệp, trình độ trang thiết bịcủa sản xuất, tình hình tổ chức sử dụng lực lượng lao động, tình hình sử dụngvốn của chủ sở hữu và thực hiện, bàn giao thanh lý hợp đồng nhận thầu xâydựng

Chi phí và giá thành có mối quan hệ mật thiết với nhau Chi phí sản xuấttrong kỳ là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành của sản phẩm, công việc, lao vụ

đã hoàn thành Sự tiết kiệm hoặc lãng phí về chi phí sản xuất có ảnh hưởngtrực tiếp đến giá thành của sản phẩm hạ hoặc cao Vì vậy quản lý giá thànhphải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất

Như vậy trong chương 1 luận văn đã trình bày được nội dung cơ bảncủa lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanhnghiệp xây lắp theo các chế độ, chính sách của Nhà nước có liên quan Từ cơ

Trang 13

sở lý luận này luận văn đã hệ thống hoá, khái quát hoá và nghiên cứu các vấn

đề lý luận chung về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong doanhnghiệp Trên cơ sở đó luận văn vận dụng lý luận nghiên cứu thực trạng kếtoán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP Đầu tư vàXây dựng đô thị Hà Nội trong chương 2

Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng đô thị Hà Nội là doanh nghiệpđược cổ phần hóa từ Công ty Thi công cơ giới xây dựng thuộc Tổng công tyĐầu tư phát triển hạ tầng đô thị theo Quyết định số 8037/QĐ-UB ngày 09tháng 12 năm 2005 của UBND thành phố Hà Nội

Công ty CP Đầu tư và Xây dựng đô thị Hà Nội có đặc điểm kinh doanhchính là: Lĩnh vực xây dựng bao gồm xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng

và giao thông, xây dựng các khu công nghiệp, nhà cao tầng Xây dựng cáccông trình công nghiệp như lắp dựng nhà xưởng, các nhà máy xi măng, sắtthép, giấy; sản xuất kinh doanh công nghiệp và dân dụng; Kinh doanh pháttriển nhà, khu đô thị và khu công nghiệp

Công ty CP Đầu tư và Xây dựng đô thị Hà Nội được tổ chức và hoạtđộng theo Luật doanh nghiệp 2005, tuân thủ đầy đủ các quy định của phápluật hiện hành về quy chế hoạt động, điều lệ công ty, chế độ kế toán…Giốngnhư các công ty cổ phần khác cấu trúc tổ chức của công ty được xây dựngdưới dạng cấu trúc chức năng nhằm đảm bảo phù hợp với đặc điểm hoạt độngkinh doanh của mình

Dựa vào lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

đã trình bày trong chương 1 luận văn sử dụng phương pháp khảo sát, so sánh,đánh giá, phân tích, tổng hợp…để làm rõ vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm đềxuất được những giải pháp hoàn thiện và khả thi Luận văn đi vào nghiên cứuthực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công tytrong mối liên hệ với các xí nghiệp qua các nội dung: Thực trạng kế toán chi

Trang 14

phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP Đầu tư và xây dựng

đô thị Hà Nội Các nội dung này được tác giả đề cập rất kỹ trong từng nộidung cụ thể của luận văn từ đó đưa ra đánh giá nhận xét những ưu điểm,nhược điểm về thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩmtại Công ty CP Đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội nhằm xây dựng giải pháp

cụ thể giúp công ty hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm của mình trong mối liên kết với từng xí nghiệp, tổ đội xây lắp

Qua tìm hiểu thực tế và khảo sát tình hình hạch toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng đô thị HàNội có thể nhận xét khái quát như sau: Công tác hạch toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm nhà ở, đô thị tại công ty và các đơn vị thành về cơbản đã được thực hiện theo đúng chế độ kế toán hiện hành; tuân thủ đầy đủcác nguyên tắc của pháp lệnh kế toán thống kê và điều lệ tổ chức kế toán Nhànước

Bên cạnh những ưu điểm đã trình bày ở trên, việc hạch toán chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm tại các xí nghiệp còn tồn tại một số vấn đềcần hoàn thiện hơn nữa nhằm phát huy vai trò và hiệu quả của công tác kếtoán trong DN Cụ thể các tồn tại này nằm ở tất cả các khâu trong quá trìnhhạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Dựa trên những tồn tạitrong hạch toán đó, chương 3 đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơnhạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cụ thể

Về chi phí nguyên vật liệu : cơ bản doanh nghiệp đã hạch toán đầy đủ

và tuân thủ theo chế độ kế toán hiện hành Và khi xuất vật liệu chính như cát,

đá, sỏi, xi măng, sắt thép cho thi công công trình, hạng mục công trình nào

kế toán đều mở sổ chi tiết hạch toán trực tiếp cho công trình, hạng mục côngtrình đó Nhìn chung về cơ bản hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếptương đối tốt, ít bị sai phạm trong hạch toán

Trang 15

Về chi phí nhân công trực tiếp: Việc hạch toán chi phí nhân công trực

tiếp có nhiều sai phạm cần sửa đổi Về nội dung chi phí nhân công trực tiếptheo chế độ kế toán hiện hành không bao gồm các khoản BHXH, BHYT,KPCĐ trích theo tiền lương công nhân sản xuất như một số xí nghiệp đã hạchtoán Về mặt quản lý chi phí nhân công trực tiếp : do đặc thù của ngành xâylắp hiện nay phần lớn bộ máy tổ chức của các đơn vị gọn nhẹ, số lượng cán

bộ ký hợp đồng dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ chỉ bao gồm cán bộ quản lý vànhân viên kỹ thuật có tay nghề, còn lại là ký hợp đồng thời vụ với công nhânlao động giản đơn Số lượng công nhân này do đơn vị cơ sở tự quyết địnhthuê mướn và trả tiền công Chính vì vậy có những trường hợp đơn vị sử dụngcách này để dấu một phần lợi tức trong năm Việc làm này ảnh hưởng đếntính trung thực của công tác kế toán Các doanh nghiệp thường thực hiện phânphối trước cho người lao động vào chi phí tiền lương, tiền ăn ca, tiền thưởnglàm giá thành tăng không hợp lý, nhằm giảm lãi thực hiện, giảm thuế thu nhậpdoanh nghiệp phải nộp

Về chi phí sử dụng máy thi công: Hiện nay trong Công ty CP Đầu tư

và Xây dựng đô thị Hà Nội phổ biến hình thức thi công hỗn hợp vừa kết hợpthi công bằng máy đồng thời sử dụng cả phương pháp thủ công Chính vì vậychi phí sử dụng máy thi công được hạch toán trên tài khoản 623 Tuy nhiên cómột số đơn vị chưa tổ chức theo dõi riêng chi phí sử dụng máy thi công trêntài khoản 623 mà đang gộp theo dõi ở các tài khoản chi phí khác

Về chi phí sản xuất chung: Khoản mục chi phí chung là khoản mục

chi phí phức tạp nhất trong các khoản mục chi phí phát sinh khi thi công côngtrình, do vậy đã kiểm soát được khoản mục chi phí này, kế toán cần phải mởtài khoản cấp hai cho TK 627 Những khoản mục chi phí chung phát sinh chocông trình nào thì tiến hành hạch toán trực tiếp cho công trình đó Nhữngkhoản mục chi phí chung phát sinh liên quan đến nhiều công trình thì thì tiến

Trang 16

hành phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình theo tiêu thức lựachọn nhất định Một số tiêu thức phân bổ để áp dụng cho từng yếu tố chi phísản xuất chung như sau:

+ Chi phí về nhân viên quản lý xí nghiệp, đội và các khoản trích trêntiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất thì có thể tiến hành phân bổ Chiphí nhaan công trực tiếp

+ Chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ cho thi công: có thể phân

bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

+ Chi phí khấu hao tài sản cố định có thể phân bổ theo chi phí máy thicông hoặc chi phí nhân công trực tiếp

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác như điện, nước,điện thoại…có thể tiến hành phân bổ chi phí nhân công trực tiếp

Về đối tượng tập hợp chi phí sản xuất:

Để thực hiện tốt công tác phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giáthành xây lắp các dự án thì ngoài việc tập hợp chi phí sản xuất theo từng côngtrình, hạng mục công trình kế toán có thể tiến hành tập hợp được chi phí sảnxuất theo từng loại công tác xây lắp: Công tác san lấp, bê tông, xây, hoànthiện… Điều này có thể thực hiện rất dễ dàng thông qua việc áp dụng phầnmềm kế toán vào công tác tổ chức hạch toán kế toán tại các công ty, xínghiệp

Về đối tượng và kỳ tính giá thành sản phẩm:

Trên cơ sở giá thành tổng hợp các hạng mục, công trình; kế toán có thểtính giá thành sản phẩm chi tiết: Giá thành từng căn hộ các loại, diện tích sànxây dựng… hoặc giá thành của từng khối lượng công việc đến điểm dừng kỹthuật nhằm cung cấp được những thông tin đầy đủ, chính xác nhất cho ngườiquản lý

Trang 17

Kỳ tính giá thành là thời điểm bàn giao khối lượng công việc, hạngmục, công trình, dự án hoàn thành bàn giao hoặc có thể được chọn theo thời

kỳ có nhu cầu cần thông tin chi phí sản xuất và ước lượng giá thành, lợinhuận trong kỳ (tháng, quý…) chứ không nhất thiết phải chọn trùng với thời

kỳ báo cáo kế toán trong kế toán tài chính

Về phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang:

Việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giáthành sản phẩm trong kỳ của doanh nghiệp, do đó đánh giá sản phẩm dở dangđối với những công trình, hạng mục công trình bàn giao theo từng giai đoạnhoàn thành cần phải tiến hành theo trình tự sau:

- Cuối kỳ nhân viên kế toán công ty hoặc tại các xí nghiệp, đội phảiphối hợp với cán bộ kỹ thuật tiến hành lập biên bản xác định mức độ hoànthành theo từng loại công việc của từng công trình hạng mục công trình

- Căn cứ vào dự toán thi công để xác định giá trị dự toán của khốilượng xây lắp dở dang cuối kỳ theo mức độ hoàn thành

- Tính chi phí sản xuất dở dang thực tế cuối kỳ của công trình, hạngmục công trình theo công thức:

- Giá trị của sản phẩm dở dang cuối kỳ phải được phân tích theo từngkhoản mục chi phí để phục vụ cho công tác phân tích tình hình thực hiện kếhoạch giá thành và tính giá thành kỳ tiếp theo

Trang 18

dựng mô hình kế toán quản trị chi phí – giá thành Việc tổ chức công tác kếtoán quản trị chi phí – giá thành phải được xuất phát từ thực tế đặc điểm sảnxuất kinh doanh cũng như về yêu cầu quản lý của doanh nghiệp quản lý củadoanh nghiệp để xây dựng cho phù hợp Nội dung chính của công tác này nhưsau:

* Xác định trung tâm chi phí

* Phân loại chi phí

* Tổ chức thu thập thông tin

* Phân tích thông tin

* Lập các báo cáo quản trị chi phí – giá thành

Điểm mới trong luận văn đề cập đến là cách thức hạch toán các khoảnmục chi phí và cách lập mô hình quản trị chi phí – giá thành nhằm đảm bảocho công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm được quản lý để cóthể đưa ra hình thức sử dụng tối ưu nguồn đầu vào để hạ thấp giá thành, tăngsức cạnh tranh trên thị trường Đây là việc làm hết sức quan trọng và cần thiếttrong công ty nói riêng và trong tập đoàn kinh tế nói chung nhằm phản ánhđầy đủ các thông tin kinh tế một cách chính xác nhất

Thực tế hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cụ thể chi tiết

về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty xây lắp ở Việt Nam

Do năng lực, trình độ và thời gian nghiên cứu của tác giả có hạn nên luận vănmới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thực trạng hạch toán kế toán chi phi sảnxuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Vì vậy những giải pháp mà luận vănđưa ra sẽ không thực sự hiệu quả nếu việc hạch toán chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm tại công ty chỉ mang tính cá nhân, riêng lẻ Để việc hạchtoán đúng theo chuẩn mực kế toán đã quy định thì cần phải có sự kết hợp tổchức thực hiện đồng bộ giữa tất cả các bộ phận, phát huy vai trò của công ty

Trang 19

trong việc định hướng đường lối, hướng dẫn và điều hành hoạt động tại các xínghiệp.

Với phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty CP Đầu tư và Xâydựng đô thị Hà Nội nhằm xây dựng một mô hình kế toán thống nhất trong tất

cả các xí nghiệp giúp công tác hạch toán chi phí được hợp nhất và hoàn thiện.Tác giả hy vọng vấn đề này sẽ được nghiên cứu sâu hơn nhằm góp phần hoànthiện tổ chức kế toán cho các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay, giúpcác doanh nghiệp có thể hoàn thiện công tác kế toán của mình để có thể pháttriển bền vững Qua đây luận văn cũng nêu một số điều kiện phối hợp cùngthực hiện giải pháp đã đề cập đối với từng đối tượng cụ thể: Cơ quan nhànước, Công ty , Các xí nghiệp, tổ đội sản xuất, thi công

Trang 20

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây lắp là ngành sản xuất vật chất tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật chủyếu cho nền kinh tế Sản phẩm của ngành là những công trình xây dựng,kiến trúc, giao thông có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, có ý nghĩaquan trọng về kinh tế, là cơ sở hạ tầng, là huyết mạch của nền kinh tế, làđiều kiện tiền đề để phát triển các ngành kinh tế khác và thu hút vốn đầu tưnước ngoài

Các doanh nghiệp xây lắp ngày càng được mở rộng phát triển cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu, làm cho quy mô của ngành này càng lớnmạnh.Trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lựccùng với việc hạ thấp giá thành sản phẩm là mục tiêu sống còn của cácdoanh nghiệp, do đó mà công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm trở thành khâu quan trọng trong quá trình tổ chức hạch toán

kế toán của doanh nghiệp xây lắp

Như vậy việc kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp hợp

lý, đầy đủ, xác định giá thành sản phẩm một cách kịp thời, chính xác có ýnghĩa vô cùng to lớn trong công tác quản lý hiệu quả và chất lượng hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cũng góp phần không nhỏnâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường cạnhtranh rất gay gắt

Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong cácdoanh nghiệp xây lắp đã biểu hiện những hạn chế nhất định, quy trình hạchtoán có nhiều bất cập, tùy tiện, việc quản lý vật tư, lao động và tiền vốn cònlỏng lẻo đã không phản ánh đúng thực tế công việc, gây ra những lãng phíđáng kể, không đáp ứng được nhu cầu của quản lý Vì vậy để cho loại hình

Trang 21

doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả, tiết kiệm của cải cho nền kinh tếquốc dân, đem lại lợi ích cho toàn xã hội, thì việc hoàn thiện hạch toán chiphí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản trị chi phítrong các doanh nghiệp xây lắp là rất cần thiết và mang tính thời sự cao.

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn của quản lý sản xuất kinh doanh, yêucầu đặt ra cho công tác tổ chức hạch toán chi phi sản xuất và tính giá thànhsản phẩm của các doanh nghiệp xây lắp trong cơ chế hiện nay, tác giả mạnh

dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng đô thị Hà Nội ”.

ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xâylắp tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong luận văn là phương phápduy vật biện chứng kết hợp với duy vật lịch sử Bên cạnh đó một số cácphương pháp khác cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là: phươngpháp tổng hợp, phân loại, thống kê, so sánh

Trang 22

Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung luận văn được kết cấu gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành

sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp

Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản

phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản

xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đôthị Hà Nội

Trang 23

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1 Đặc điểm hoạt động xâp lắp và ảnh hưởng của nó đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.

Sản xuất kinh doanh xây lắp là một ngành sản xuất có tính chất côngnghiệp, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Tuy nhiên, đây là mộtngành sản xuất công nghiệp đặc biệt Sản phẩm xây lắp cũng được tiến hànhsản xuất một cách liên tục từ khâu thăm dò, điều tra, khảo sát đến thiết kế thicông và quyết toán khi công trình hoàn thành Sản xuất xây lắp được thựchiện theo quy trình công nghệ, giữa các khâu của quá trình sản xuất có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau, nếu một khâu ngừng trệ sẽ ảnh hưởng đến hoạtđộng của các khâu khác

Hoạt động sản xuất xây lắp có những đặc điểm riêng mang tính đặcthù:

Thứ nhất, sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc rõ rệt, mỗi sản

phẩm là một công trình hay hạng mục công trình được xây lắp theo thiết kế

kỹ thuật, mỹ thuật, kết cấu, hình thức, phương pháp thi công, địa điểm thicông xây dựng khác nhau, riêng biệt theo từng hợp đồng giao nhận thầu xâylắp của bên giao thầu, đặc biệt sản phẩm được sản xuất ngay tại nơi tiêu thụ

Do vậy việc tổ chức quản lý và tổ chức hạch toán kế toán nhất thiết phải cócác dự toán thiết kế thi công Điều này giúp cho các doanh nghiệp xây lắp cóthể giám sát các chi phí phát sinh đối với từng công trình và tổ chức quản trịchính xác từng giá trị công trình

Trang 24

Mặt khác, do mỗi sản phẩm xây lắp có tính chất đơn chiếc, riêng lẻ vàđược sản xuất theo các hợp đồng giao nhận thầu xây lắp nên chi phí bỏ vàosản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khicông trình thi công theo các thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở các địa điểmkhác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm của công trình cũng khác nhau (vì đơn giá vật liệu, nhân công

ở các địa phương khác nhau là khác nhau) Vì vậy kế toán phải tính chi phí, giáthành và kết quả thi công cho từng công trình xây lắp riêng biệt Một điều đặcbiệt nữa là do sản xuất xây lắp được thực hiện theo các hợp đồng giao nhậnthầu xây dựng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông, tiêu thụ

Thứ hai, sản phẩm xây lắp chỉ được tiến hành sản xuất sau khi có đơn

đặt hàng (hợp đồng giao thầu) của chủ đầu tư (người giao thầu, người muasản phẩm) Nói cách khác là sản phẩm xây lắp thường được sản xuất theohợp đồng đã được ký kết do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắpthường không thể hiện rõ nét Sản phẩm được bán theo giá dự toán hay giáthỏa thuận với người giao thầu từ trước Hầu hết các sản phẩm hoàn thànhđược nghiệm thu và bàn giao không qua nhập kho Bên cạnh đó, tình hình vàđiều kiện sản xuất xây lắp thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểmxây dựng và giai đoạn xây dựng Cụ thể là trong xây dựng, con người vàcông cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này sang công trìnhkhác, còn sản phẩm xây lắp (công trình xây dựng) thì hoàn thành đứng yênmột chỗ (một đặc điểm ngược lại và hiếm thấy đối với các ngành sản xuấtkhác) Các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất luônphải thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng Đặc điểm này gâykhó khăn cho việc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện làm việc chongười lao động, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượngsản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất như: chi phí điều động nhâncông, điều động máy thi công, chi phí xây dựng tạm công trình phục vụ công

Trang 25

nhân, máy móc thi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng và dọn mặt bằng tập kếtvật liệu và máy thi công…do đó đòi hỏi kế toán phải phản ánh chính xác chiphí này và phân bổ chi phí cho hợp lý.

Thứ ba, sản phẩm xây lắp có giá trị lớn vượt qua số vốn lưu động của

doanh nghiệp xây lắp Hơn nữa thời gian thi công thường kéo dài, trong thờigian thi công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưnglại sử dụng rất nhiều nguồn lực điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng côngtrình và vốn sản xuất của doanh nghiệp xây lắp thường bị ứ đọng lâu Chính

vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải lựa chọn phương án thi công hợp lý,kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải có quy ước thanh toán chia thành nhiềugiai đoạn thi công, dự trữ vốn phù hợp, theo dõi sát chi phí phát sinh trongquá trình thi công tránh thất thoát, lãng phí

Mặt khác, do thời gian thi công công trình thường kéo dài nên kỳ tínhgiá thành không phải hàng tháng như các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

mà thường tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công trình đượcthể hiện qua phương pháp lập dự toán và phương thức thanh toán giữa bêngiao thầu và bên nhận thầu Cũng do chu kỳ sản xuất sản phẩm xây lắp lâudài nên đối tượng tính giá thành có thể là toàn bộ công trình xây lắp hoànthành hay đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý Sản phẩm xây lắp có kết cấu phứctạp nên giá trị sản phẩm xây lắp đòi hỏi tính toán tỉ mỉ Việc xác định đúngđối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịpthời và chặt chẽ chi phí sản xuất, đánh giá đúng đắn tình hình quản lý thicông trong từng thời kỳ nhất định

Thứ tư, hoạt động xây lắp thường tiến hành ngoài trời, chịu tác động

trực tiếp của môi trường, khí khậu, thời tiết Năng lực sản xuất của doanhnghiệp xây lắp không được sử dụng điều hòa trong cả năm gây khó khăn choviệc lựa chọn trình tự thi công, đòi hỏi vật tư dự trữ nhiều hơn Đặc điểm

Trang 26

phân phối, điều hòa, cắt cử lực lượng lao động, vật tư hợp lý đảm bảo thicông nhanh, gọn, hiệu quả Hơn thế nữa, trong điều kiện thời tiết khôngthuận lợi, có thể có nhiều rủi ro bất ngờ như bão lụt làm phát sinh các khoảnthiệt hại phải làm lại, thiệt hại do ngừng sản xuất Những khoản thiệt hại nàyđòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải theo dõi riêng.

Thứ năm, sản phẩm xây lắp có yêu cầu về độ bền vững cao, do vậy

trong công tác thi công cần phải thận trọng, tuân thủ đúng kỹ thuật để tránhgây ra những thiệt hại không thể khắc phục, sửa chữa được

Thứ sáu, để nhận được công trình, các doanh nghiệp thường phải trải

qua khâu đấu thầu Do đó, công tác xác định giá dự toán của công trình, phântích hiệu quả đầu tư cần phải được coi trọng để từ đó xác định mức giá bỏ thầuhợp lý Giá dự toán khi xây dựng cần phải căn cứ vào khung giá xây dựng donhà nước ban hành, tránh tình trạng chênh lệch giá quá lớn gây tổn thất khókhăn cho nhà thầu trong quá trình thi công

Thứ bảy, sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch

do điều kiện của thi công mang lại

1.2 Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp

1.2.1 Chi phí sản xuất

1.2.1.1 Bản chất của chi phí

Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí được định nghĩa theonhiều phương diện khác nhau

Theo chuẩn mực kế toán số 01 Việt Nam – chuẩn mực chung (VAS

01) thì chi phí được hiểu như sau: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu; không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở

Trang 27

hữu” Như vậy, chi phí được hiểu theo nghĩa chung nhất là sự ghi nhận trên

góc độ chủ sở hữu những gì đã bỏ ra với mục đích sẽ thu được lợi ích lớnhơn trong tương lai Chi phí có thể hiểu như là một sự giảm tạm thời nguồnvốn chủ sở hữu, giảm để mà tăng Sẽ là không đầy đủ nếu tách khái niệm chiphí ra khỏi khái niệm thu nhập Chi phí là biểu hiện bằng tiền của sự tiêuhao nguồn lực của chủ sở hữu nhưng không phải là sự tiêu hao thông thường

mà là một sự tiêu hao để tạo ra thu nhập và sẽ được bù đắp bằng thu nhập do

nó tạo ra Do đó, khi phát sinh chi phí mà thường biểu hiện bằng sự tiêu haonguồn lực do hoạt động kinh doanh, kế toán chưa ghi giảm nguồn vốn chủ

sở hữu mà thay vào đó ghi tăng chi phí Bản chất kinh tế này giúp nhà quảntrị phân biệt được chi phí với chi tiêu, chi phí với vốn

Thật vậy, chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, được tàitrợ từ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinhdoanh Chi tiêu không gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh và khôngđược bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh, còn vốn là biểuhiện bằng tiền của những tài sản của doanh nghiệp chi ra trong kỳ mà chỉnhững khoản chi ra để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa thì mới được coi là chiphí Chính vì vậy cần phân biệt hai khái niệm chi phí và chi tiêu Chi phí vàchi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau Chitiêu là cơ sở để phát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí Tuynhiên không phải tất cả các khoản chi tiêu trong một kỳ nhất định đều là chiphí sản xuất mà chỉ những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đếnkhối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ thì mới được tính là chi phí Chiphí và chi tiêu không những khác nhau về lượng mà còn khác nhau về thờigian Có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí,đồng thời có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa phát

Trang 28

vận động, phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trìnhsản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng.

Trong kế toán tài chính, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền củatoàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệpxây lắp đã bỏ ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong mộtthời kỳ nhất định Chi phí được nhận thức như những khoản phí tổn thực tếphát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một sảnphẩm, dịch vụ nhất định, mục đích cụ thể trong kinh doanh Nó được địnhlượng bằng một lượng tiền chi ra, một mức giảm sút giá trị tài sản, mộtkhoản nợ dịch vụ, thuế….những khoản phí tổn góp phần làm giảm vốn chủ

sở hữa của doanh nghiệp nhưng không phải là phân chia vốn hoặc hoàn trảvốn cổ đông Như vậy, trong lĩnh vực kế toán tài chính chi phí được đặttrong mối quan hệ với tài sản, vốn sở hữu của doanh nghiệp và thường phảiđược đảm bảo bởi những chứng cứ nhất định (chứng từ) chứng minh là phítổn thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong kế toán quản trị, mục đích của kế toán quản trị là cung cấpthông tin thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của nhà quản trị

Vì vậy, với kế toán quản trị không chỉ đơn thuần nhận thức chi phí như trong

kế toán tài chính, chi phí còn được nhận thức theo phương pháp nhận diện

thông tin ra quyết định Lý do này, chi phí có thể là những phí tổn thực tế

phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng có thể là những phí tổn

ước tính để thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh, những phí tổn mất

đi do chọn lựa phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh…Như vậy, trong kếtoán quản trị, khi nhận thức chi phí cần chú ý đến sự lựa chọn, so sánh theomục đích sử dụng, ra quyết định kinh doanh hơn là chú trọng vào chứng cứ

Trong doanh nghiệp xây lắp, để làm ra các công trình có kết cấu vàthiết kế kiến trúc đã được đặt hàng bởi chủ đầu tư thì doanh nghiệp xây lắp

Trang 29

phải hao tổn các chi phí về vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị…và khicông trình hoàn thành sẽ được chủ đầu tư thanh toán.

1.2.1.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp

Để tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực thìdoanh nghiệp cần phải nghiên cứu kết cấu chi phí kinh doanh của đơn vịmình Tùy theo yêu cầu quản lý, đối tượng cung cấp thông tin mà chi phí sảnxuất kinh doanh được phân loại như sau:

* Căn cứ vào nội dung kinh tế ban đầu

Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có chung nội dung kinh tếđược xếp vào một yếu tố chi phí không kể chi phí đó phát sinh tại đâu, phục

vụ mục đích gì Cách phân loại này chỉ quan tâm đến chi phí phát sinh lầnđầu và được chia thành các yếu tố sau đây:

- Chi phí nguyên vật liệu: Là toàn bộ các chi phí về các loại nguyên

vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xâydựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩmxây lắp

- Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền lương (tiền công) và các khoản

bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn tính trên tiền lương củacông nhân xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý ởcác tổ, đội sản xuất thi công

- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là giá trị hao mòn của những tài

sản cố định dùng phục vụ cho hoạt động xây lắp

- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ chi phí về các dịch vụ như

điện, nước, điện thoại…phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpxây lắp

- Chi phí khác bằng tiền: là toàn bộ các chi phí phục vụ sản xuất kinh

Trang 30

Cách phân loại chi phí này cho biết trong kỳ doanh nghiêp đã chi ratừng loại chi phí nào, và số tiền là bao nhiêu và tỷ trọng của mỗi loại chi phí

từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và lập bảng thuyết minh báocáo tài chính phục vụ cho việc lập dự toán chi phí sản xuất cho kỳ sau

Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí trong giá thành sản phẩm

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí về giá trị nguyên vật liệu

thực tế đã sử dụng phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp

- Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí về tiền lương, tiền công phải

trả cho công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp trong đó không bao gồm khoảntrích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp

- Chi phí sử dụng máy thi công: đối với trường hợp doanh nghiệp thực

hiện việc xây lắp theo phương pháp thi công hỗn hợp vừa thi công bằng thủcông vừa kết hợp thi công bằng máy, trong giá thành xây lắp còn có khoản mụcchi phí sử dụng máy thi công Chi phí sử dụng máy thi công gồm các chi phítrực tiếp liên quan đến việc sử dụng máy thi công như: tiền lương, phụ cấplương, tiền ăn của công nhân điều khiển máy, khâu hao máy móc thiết bị thicông, chi phí về sửa chữa bảo trì máy và các chi phí bằng tiền khác phục vụcho máy thi công

- Chi phí sản xuất chung: là các chi phí trực tiếp khác ngoài chi phí

nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sử dụng máythi công và các chi phí về tổ chức, quản lý phục vụ sản xuất xây lắp, các chiphí có tính chất chung phát sinh ở công trường thi công gắn liền với các tổđội thi công

* Căn cứ vào khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng chịu phí.

- Chi phí trực tiếp: là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến

từng đối tượng chịu chi phí, có thể quy nạp trực tiếp vào từng đối tượng chịu

Trang 31

chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp…loại chi phí này thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí Tuynhiên, chúng dễ được nhận dạng, hạch toán chính xác Vì vậy, cũng ít gây ra

sự sai lệch thông tin chi phí ở từng bộ phận, từng quá trình sản xuất kinhdoanh

- Chi phí gián tiếp: là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối

tượng chi phí như chi phí vật liệu phụ, chi phí nhân công phụ, chi phí quảngcáo… Với chi phí gián tiếp, đối tượng chịu chi phí rất khó nhận dạng Vìvậy thường phải tập hợp chung, sau đó lựa chọn tiêu thức phân bổ cho từngđối tượng chịu chi phí Và cũng chính điều này việc tính toán, phân bổthường dẫn đến những sai lệch chi phí trong từng bộ phận, từng quá trìnhsản xuất kinh doanh và cũng dẫn đến những quyết định khác nhau

Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp tậphợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng và trong việc đánh giá tính hợp lýcủa chi phí và tìm biện pháp không ngừng làm giảm chi phí gián tiếp, nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh

* Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng sản phẩm hoàn thành

- Chi phí biến đổi (biến phí): là các chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với

mức độ hoạt động của doanh nghiệp Biến phí trong doanh nghiệp xây lắpthường là chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp xây lắp…

- Chi phí cố định (định phí): đó là các khoản chi phí thường không

thay đổi trong phạm vi giới hạn của quy mô hoạt động Trong thực tế hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp, chi phí cố định thường là chi phíkhấu hao tài sản cố định dùng tại doanh nghiệp và khấu hao máy thi công,tiền lương của nhân viên quản lý đội xây lắp…

Trang 32

- Chi phí hỗn hợp: đó là các khoản chi phí bao gồm cả biến phí và

định phí Trong thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp chiphí dịch vụ mua ngoài, chi phí sự dụng máy thi công…là các chi phí hỗnhợp

* Các cách phân loại khác

- Phân loại chi phí nhằm mục đích ra quyết định: chi phí bao gồm chiphí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

- Phân loại chi phí trong việc lựa chọn phương án kinh doanh: chi phí

cơ hội và chi phí thực tế, chi phí hiện hữu và chi phí chìm

1.2.1.3 Nội dung kinh tế của chi phí trong doanh nghiệp xây lắp

Chi phí là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc xácđịnh kết quả kinh doanh Do vậy, việc tính đúng, tính đủ các khoản chi phí

là hết sức cần thiết Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 – Hợp đồngxây dựng, những khoản chi phí bao gồm:

- Chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng;

- Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng có thể phân

bổ cho từng hợp đồng;

- Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoảncủa hợp đồng;

* Chi phí liên quan đến từng hợp đồng bao gồm:

+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu bao gồm cả thiết bị cho công trình;+ Chi phí nhân công tại công trường bao gồm cả chi phí giám sát côngtrường;

+ Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị và các tài sản cố định khác sửdụng để thực hiện hợp đồng;

Trang 33

+ Chi phí vận chuyển lắp đặt, tháo dỡ máy móc, thiết bị đến và đi khỏicông trường;

+ Chi phí thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị để thực hiện hợp đồng;+ Chi phí thiết kế, trợ giúp kỹ thuật liên quan trực tiếp đến hợp đồng;+ Chi phí liên quan trực tiếp khác;

+ Các chi phí liên quan đến việc đàm phán để thực hiện hợp đồng: sẽđược ghi nhận vào chi phí trong kỳ nếu nó thỏa mãn hai điều kiện: được xácđịnh riêng rẽ, có thể ước tính một các đáng tin cậy, có nhiều khả năng hợpđồng sẽ được ký kết

Chi phí liên quan trực tiếp đến hợp đồng có thể được ghi giảm khi cónhững khoản thu nhập khác không bao gồm trong doanh thu hợp đồng nhưcác khoản thu từ việc bán nguyên liệu, vật liệu thừa, thu thanh lý máy móc,thiết bị thi công công trình

- Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng và có thể phân bổ cho từng hợp đồng bao gồm:

+ Chi phí bảo hiểm: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra đểmua bảo hiểm cho công trình và cho công nhân;

+ Chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật không liên quan đến một hợpđồng cụ thể Tiêu thức phân bổ có thể là chi phí dự toán cho mỗi công trìnhhoặc chia đều cho các công trình;

+ Chi phí quản lý chung trong xây dựng

* Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp đồng như: chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai mà khách

hàng phải trả lại cho nhà thầu đã được quy định trong hợp đồng

* Chi phí không liên quan đến hoạt động của hợp đồng hoặc không thể phân bổ cho hợp đồng thì không tính vào chi phí Chẳng hạn chi phí

Trang 34

định khách hàng phải trả cho nhà thầu, chi phí bán hàng, chi phí khấu haomáy móc thiết bị và tài sản không dùng cho hoạt động trong hợp đồng xâydựng.

Có thể nhận thấy rằng, chi phí để hoàn thành một công trình xây lắprất đa dạng Kế toán cần phải xác định rõ chi phí nào được tính vào chi phícủa công trình, chi phí nào thì không Việc xác định rõ nội dung chi phí nhưvậy sẽ giúp cho kế toán xác định kết quả kinh doanh sẽ chính xác

Trang 35

1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp

1.2.2.1 Bản chất của giá thành

Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiềncủa toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các hao phíkhác bằng tiền cần thiết mà doanh nghiệp bỏ ra không kể đến thời kỳ sảnxuất nào để hoàn thành một công trình, hạng mục công trình hay một giaiđoạn công việc của hạng mục công trình có điểm dừng kỹ thuật của các sảnphẩm của dự án nhà ở, đô thị thời kỳ này

Chỉ tiêu giá thành phản ánh mức chi phí lao động cá biệt của cácdoanh nghiệp sản xuất sản phẩm của mình, muốn có lợi nhuận thì mức haophí lao động cá biệt phải nhỏ hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết đểsản xuất ra sản phẩm đó Giá thành là giới hạn thấp nhất của giá cả hànghoá, nếu doanh nghiệp bán hàng hoá trên thị trường với giá cả thấp hơn giáthành sẽ dẫn đến thua lỗ, phá sản Chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phảiphản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất,tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan đến việc bù đắp hao phí laođộng sống Mọi cách tính toán chủ quan không phản ánh đúng giá trị các yếu

tố chi phí trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hànghoá - tiền tệ, không xác định được hiệu quả sản xuất kinh doanh và khôngthực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng

Chỉ tiêu tổng giá thành sản phẩm hoàn thành trong một kỳ hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được xác định như sau:

Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành = Chi phí SX dở dang đầu kỳ +Chi phí SX phát sinh trong kỳ - Chi phí SX dở dang cuối kỳ

Về bản chất của giá thành chính là sự chuyển dịch giá trị các yếu tốvật chất và giá trị các sản phẩm được sản xuất ra và tiêu thụ trong điều kiện

Trang 36

chuyển dịch các yếu tố vật chất tham gia vào khối lượng sản phẩm vừa thoát

ra khỏi quá trình sản xuất và tiêu thụ nhằm mục đích thực hiện các chứcnăng giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọngtrong công tác quản lý của doanh nghiệp và của nền kinh tế thể hiện qua ý nghĩacủa nó:

- Tính chất lượng của giá thành: thông qua nó người ta có thể đánh giáđúng năng suất lao động và hiệu quả của quá trình sản xuất Do đó xác địnhgiá thành chính là căn cứ để xác định giá bán hàng hoá trên thị trường Dẫnđến yêu cầu phải tính chính xác, tính đủ nhất là đối với doanh nghiệp xây lắpthì điều này lại quan trọng hơn cả do những đặc thù phức tạp của ngành như

đã trình bày ở trên Xác định đúng là cơ sở cho việc ra quyết định kinhdoanh đúng, đề xuất các giải pháp phù hợp với từng giai đoạn cụ thể

- Tính chất giá trị của giá thành được thể hiện qua các chức năng củanó: chức năng thước đo bù đắp; chức năng lập giá; chức năng đòn bẩy kinhtế Trong sản xuất xây dựng, chỉ tiêu giá thành đặc trưng cho hạn mức chiphí thi công xây lắp công trình Nếu khối lưọng sản phẩm xây lắp đặc trưngcho kết quả về mặt lượng của công tác xây lắp thì giá thành công tác xây lắpbiểu hiện chất lượng quá trình sử dụng các nguồn vật tư, tiền vốn, lao độngcủa doanh nghiệp xây dựng trong quá trình sản xuất thi công

Trong hệ thống các chỉ tiêu phân tích kinh tế ngành xây dựng thì giáthành là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng bởi vì chỉ tiêu này phản ánh chất lượngmọi mặt lao động tổ chức quản lý của doanh nghiệp; trình độ trang thiết bịcủa sản xuất, tình hình tổ chức sử dụng lực lượng lao động, tình hình sửdụng vốn của chủ sở hữu và thực hiện, bàn giao thanh lý hợp đồng nhận thầuxây dựng

Trang 37

1.2.2.2 Phân loại giá thành sản xuất sản phẩm

Có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm Tùy theo tiêu chí lựachọn mà giá thành sản phẩm có thể được phân loại thành các trường hợpsau:

Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành

Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán,giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế

Giá thành dự toán: là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành một khối

lượng sản phẩm xây lắp nhất định Giá dự toán được xác định trên cơ sở cácđịnh mức chi phí theo thiết kế được duyệt và khung giá quy định áp dụngtrong lĩnh vực XDCB do các cấp có thẩm quyền ban hành

Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sảnphẩm xây lắp theo công thức:

Giá thành dự toán

sản phẩm xây lắp =

Khối lượng sảnphẩm xây lắp dự

công, về tổ chức quản lý, về hao phí lao động vật tư cho từng loại công

trình hoặc từng công việc nhất định Giá thành dự toán có tính cố định tươngđối và mang tính chất xã hội

Giá thành kế hoạch: là giá thành được xây dựng từ những điều kiện

cụ thể cửa DN trên cơ sở phân đấu hạ giá thành dự toán bằng các biện phápquản lý kỹ thuật và tổ, chức thi cộng, các định mức và đơn giá áp dụng trong

DN xây lắp

Trang 38

sản phẩm xây lắp phẩm xây lắp dựtoán hoạch

Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thức hiện

kế hoạch giá thành, là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanh nghiệp

Giá thành định mức: là tổng số chi phí để hoàn thành một khối lượng

xây lắp cụ thể được tính toán trên cơ sở đặc điểm kết cấu công trình, vềphương pháp tổ chức thi công và quản lý thi công theo các định mức chi phí

đã đạt được ở DN, công trường tại thời điểm bắt đầu thi công

Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu dược xác định sau khi

kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinhtrong quá trình sản xuất sản phẩm

Các phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí,xác định được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ hạch toán

Từ đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp

Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí

Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giáthành sản xuất và giá thành tiêu thụ

Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh

liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sảnxuất Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vậtliệu chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung

Giá thành tiêu thụ: (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu tiêu

thụ sản phẩm Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:

+ Chi phí quản lýdoanh nghiệp +

Chi phíbánhàng

Trang 39

Sự phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chủ yếu phục vụcho quản trị doanh nghiệp Kế toán quản trị quan tâm đến chi phí và kết quảsản xuất của từng sản phẩm, từng bộ phận sản xuất hay từng hoạt động kinhdoanh cụ thể của DN Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phục vụ chocác nhà quản trị để đưa ra các quyết định quản lý kinh doanh- Báo cáo quảntrị được lập thường xuyên, tuỳ thuộc yêu cầu quản lý nhằm cung cấp thôngtin kịp thời, ít chú trọng đến tính chính xác.

Còn kế toán tài chính quan tâm đến chi phí và kết quả sản xuất trênphạm vi toàn DN Kế toán tài chính cung cấp thông tin cho các chủ thểngoài DN như: nhà cung cấp, chủ đầu tư, ngân hàng, cổ đông, cơ quanthuế, thông qua Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính được lập định kỳ (quý,năm) và thông tin do kế toán tài chính cung cấp thường phản ánh quá khứnên độ chính xác cao Do vậy, Kế toán Quản trị và Kế toán Tài chính có sựkhác biệt nhất định Tuy nhiên, chúng có mối quan hệ mật thiết với hệ thốngthông tin kế toán và đều phục vụ cho quản lý DN

1.2.2.3 Nội dung kinh tế của việc tính giá thành sản phẩm trong DN xây lắp

Giá thành có hai chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá Sốtiền thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm sẽ bù đắp phần chi phí mà doanhnghiệp đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó Tuy nhiên, sự bù đắp các yếu tốchi phí đầu vào mới chỉ là đáp ứng yêu cầu của tái sản xuất giản đơn

Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí vềlao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có liênquan tới khối lượng xây lắp đã hoàn thành

Giá thành sản xuất sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa,phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa

Trang 40

phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sảnxuất và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn haophí lao động sống

Chỉ tiêu giá thành nếu được xác định một cách chính xác, trung thực

có thể giúp cho các doanh nghiệp cũng như Nhà nước có cơ sở để xem xét,đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra những biệnpháp, đường lối thích hợp cho từng giai đoạn cụ thể

Giá thành có hai chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá Sốtiền thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm sẽ bù đắp phần chi phí mà doanhnghiệp đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó Tuy nhiên, sự bù đắp các yếu tốchi phí đầu vào mới chỉ là đáp ứng yêu cầu của tái sản xuất giản đơn Trongkhi đó mục đích chính của cơ chế thị trường là tái sản xuất mở rộng tức làgiá tiêu thụ hàng hóa sau khi bù đắp chi phí đầu vào vẫn phải bảo đảm cólãi Do đó, việc quản lý, hạch toán công tác giá thành sao cho vừa hợp lý,chính xác vừa bảo đảm vạch ra phương hướng hạ thấp giá thành sản phẩm

có vai trò vô cùng quan trọng

1.2.3 Vị trí, vai trò của của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp

Tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng, tính

đủ giá thành công trình xây lắp có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chiphí, giá thành xây dựng, trong việc kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của chi phíphát sinh ở doanh nghiệp nói chung và ở các tổ đội xây dựng nói riêng Vớichức năng là ghi chép, tính toán, phản ánh và giám đốc thường xuyên liêntục sự biến động của vật tư, tài sản, tiền vốn, kế toán sử dụng thước đo hiệnvật và thước đo giá trị để quản lý chi phí Thông qua số liệu do kế toán tậphợp chi phí, tính giá thành, người quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và

Ngày đăng: 15/08/2020, 09:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2002), Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nhà xuấtbản Tài chính
Năm: 2002
2. Bộ Tài chính (2006), Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006, về việc ban hành Chế độ Kế toán DN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
3. Bộ tài chính (2007), Thông tư 167/TT-BTC ngày 31/12/2007, về việc nội dung và hướng dẫn 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 167/TT-BTC ngày 31/12/2007
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2007
5. TS. Võ Văn Nhị (2001), Hướng dẫn thực hành kế toán doanh nghiệp xây lắp và kế toán đơn vị chủ đầu tư, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành kế toán doanh nghiệp xâylắp và kế toán đơn vị chủ đầu tư
Tác giả: TS. Võ Văn Nhị
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
6. TS. Võ Văn Nhị (2002), Kế toán chi phí, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán chi phí
Tác giả: TS. Võ Văn Nhị
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
7. GS.TS. Nguyễn Văn Chọn (1999), Quản lý nhà nước về kinh tế trong quản trị và kinh doanh xây dựng, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về kinh tế trongquản trị và kinh doanh xây dựng
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Văn Chọn
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1999
8. PGS.TS Nguyễn Minh Phương (2000), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2000
9. PGS.TS Lê Thị Hoà (2005), Hướng dẫn thực hành kế toán doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành kế toán doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS Lê Thị Hoà
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2005
10. TS Đặng Thị Loan (2001), Kế toán tài chính trong các doanh nghịêp, Nhà xuất bản Gíao dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán tài chính trong các doanh nghịêp
Tác giả: TS Đặng Thị Loan
Nhà XB: Nhà xuất bản Gíao dục
Năm: 2001
11. Văn bản hướng dẫn thực hiện qui chê quản lý đầu tư và xây dựng (2000), NXB Xây dựng Khác
12. PGS.TS. Nguyễn Đăng Hạc, Phân tích kinh tế hoạt động SXKD của các doanh nghiệp xây dựng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w