1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LV Thạc sỹ_một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân ở việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

114 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 703,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hơn 20 năm thực hiện thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã bộc lộ một số tồn tại, chưa thực sự trở thành một sắc thuế đem lại nguồnthu quan trọng cho NSNN, chưa hướng vào vi

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 4

1.1 Lý luận chung về Thu nhập và thuế Thu nhập cá nhân 4

1.1.1 Khái niệm thu nhập, phân loại thu nhập 4

1.1.1.1 Khái niệm thu nhập 4

1.1.1.2 Phân loại thu nhập 5

1.1.2 Khái niệm và các yếu tố cơ bản của thuế TNCN 7

1.1.2.1 Khái niệm về thuế TNCN 7

1.1.2.2 Các yếu tố cơ bản của thuế TNCN 7

1.1.3 Đặc điểm của thuế TNCN 13

1.1.4 Vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế 13

1.1.5 Mối quan hệ giữa thuế TNCN và thuế TNDN 15

1.2 Sự cần thiết ban hành, sửa đổi chính sách thuế TNCN tại Việt Nam 16

1.3 Bài học về xây dựng, thực hiện chính sách thuế TNCN của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng ở Việt Nam 17

1.3.1 Luật thuế TNCN tại Trung Quốc 19

1.3.2 Luật thuế TNCN tại Nhật Bản 20

1.3.3 Luật thuế TNCN tại Thái Lan 20

1.3.4 Luật thuế TNCN tại Pháp 21

1.3.5 Bài học kinh nghiệm để hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 26

2.1 Chính sách thuế Thu nhập cá nhân tại Việt Nam giai đoạn trước năm 1990 26

2.1.1 Thời kỳ phong kiến, thực dân trước Cách mạng Tháng 8 26

2.1.2 Thời kỳ trước 30/4/1975 ở miền Nam Việt Nam 29

2.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2008-Pháp lệnh thuế TNĐVNCTNC29 2.2.1 Nội dung cơ bản của Pháp lệnh thuế TNĐVNCTNC 29

2.2.1.1 Giai đoạn năm 1990 – trước năm 1994 30

2.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1994 – trước năm 2004 32

Trang 2

2.2.2.1 Kết quả đạt được: 35

2.2.2.2 Hạn chế 39

2.3 Luật thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam 42

2.3.1 Nội dung cơ bản của Luật thuế TNCN ở Việt Nam 42

2.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện nay 51

2.3.2.1 Những thành tựu đạt đợc 51

2.3.2.2 Những hạn chế 57

2.3.2.3 Nguyờn nhõn 63

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM TRONG TIẾN TRèNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 67

3.1 Định hướng xõy dựng Luật thuế TNCN trong thời gian tới 67

3.2 Một số giải phỏp nhằm hoàn thiện chớnh sỏch thuế TNCN ở Việt Nam 67

3.2.1 Thu nhập chịu thuế 67

3.2.2 Thu nhập chưa thu thuế 68

3.2.3 Thu nhập miễn thuế 69

3.2.4 Thu nhập khụng thuộc diện nộp thuế 73

3.2.5 Mức giảm trừ gia cảnh 73

3.2.5.1 Đối với người nộp thuế 74

3.2.5.2 Người phụ thuộc 77

3.2.6 Xỏc định thuế suất, biểu thuế 77

3.2.7 Cấp mó số thuế TNCN 79

3.2.7 Quản lý thu thuế 79

3.2.8 Thanh tra thuế 80

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Sốliệu được nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn Kết quảnghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào khác.

Trang 4

- TNĐVNCTNC: Thu nhập đối với người có thu nhập cao.

- TNC: Thu nhập cao

- TNCN: Thu nhập cá nhân

- NSNN: Ngân sách Nhà nước

- TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

- PL-UBTVQH: Pháp lệnh-Uỷ ban thường vụ Quốc hội

- BC-UBTVQH12: Báo cáo-Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 12

- TT-BTC: Thông tư-Bộ Tài chính

Trang 5

Bảng 2.1: BTLTTP đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt

Nam 30

Bảng 2.2: BTLTTP đối với người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam 31

Bảng 2.3: BTLTTP đối với thu nhập không thường xuyên 31

Bảng 2.4: BTLTTP đối với người có thu nhập cao là công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam 34

Bảng 2.5: Biểu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài 35

Bảng 2.6: Số thuế TNĐVNCTNC trong tổng thu NSNN giai đoạn 1991-2008 36 Bảng 2.7: Mức động viên của thuế TNĐVNCTNC ở một số tỉnh và thành phố năm 2004 38

Bảng 2.8: So sánh mức động viên của thuế qua hai chính sách thuế (TNĐVNCTNC và TNDN) đối với thu nhập của cá nhân Việt Nam 40 Bảng 2.9: Biểu thuế TNCN đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú 46

Bảng 2.10: Biểu thuế TNCN đối với các khoản thu nhập khác 47

Bảng 2.11: Số thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2009-2011 51

Bảng 2.12: Kết quả thu thuế TNCN của Cục thuế Hà Nội 53

Bảng 2.13: Số liệu thu thuế TNCN năm 2010 và 6 tháng đầu năm 2011 54

Bảng 2.14: Tình hình cấp mã số thuế cá nhân trên địa bàn Hà Nội 55

Bảng 3.1: Số người nộp thuế từ tiền lương, tiền công và kinh doanh 75

Bảng 3.2: Thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2006 – 2011 76

Bảng 3.3: Mức giảm trừ gia cảnh của một số nước trong khu vực 76

Bảng 3.4: Biểu thuế luỹ tiến từng phần theo Luật quy định 78

Bảng 3.5: Mức thuế suất cao nhất của một số nước trong khu vực 78

Bảng 3.6: Biểu thuế luỹ tiến từng phần thay đổi 79

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập nền kinh tế thếgiới, chúng ta đã ký kết các hiệp định thuế quan AFTA, hiệp định thương mạiViệt-Mỹ, đồng thời là thành viên chính thức của WTO thì những biến đổi về

cơ cấu thuế và nguồn thu ngân sách là điều không thể tránh khỏi Nhận thứcđược điều đó, Việt Nam đang từng ngày đổi mới hệ thống thuế để góp phầnphát triển kinh tế-xã hội theo mục tiêu mà Nhà nước đề ra

Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, điều hòa thu nhập, thựchiện công bằng xã hội và là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực tài chính choNhà nước Trong điều kiện kinh tế Việt Nam chưa phát triển thì ngoài mụcđích huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước, thuế còn có ý nghĩa điều tiếtmột phần thu nhập đối với người có thu nhập cao cho NSNN đảm bảo côngbằng xã hội Thuế thu nhập cá nhân là một trong những chính sách đạt đượcmục tiêu trên góp phần hình thành các quỹ tiền tệ tập trung cho Nhà nước

Sau hơn 20 năm thực hiện thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

đã bộc lộ một số tồn tại, chưa thực sự trở thành một sắc thuế đem lại nguồnthu quan trọng cho NSNN, chưa hướng vào việc phân phối lại thu nhập từngười giàu sang người nghèo mà trên thực tế chỉ thu được vào những người

mà họ thực sự không thể trốn thuế được

Để hướng đến một hệ thống thuế hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế,một chính sách thuế TNCN tốt, có diện chịu thuế rộng và độ giao động củabiên độ thuế suất vừa phải nhằm tăng sự tuân thủ trong việc thực hiện nghĩa

vụ thuế của đối tượng nộp thuế, thì việc xem xét lại chính sách thuế thu nhậpcao một cách cẩn trọng để đưa ra các giải pháp mà từ đó xây dựng một chínhsách thuế theo đúng nghĩa là thuế TNCN Vì vậy pháp lệnh thuế TNC đượcthay thế bắng Luật thuế TNCN, thuế TNCN không phải là sắc thuế mới đốivới Việt Nam Tuy nhiên sau thời gian áp dụng từ 01/01/1999, Luật thuếTNCN đã bộc lộ một số hạn chế do mức thu nhập của người dân ngày càng

Trang 7

cải thiện, đi kèm với nó là sự gia tăng của lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng tăngcao thì mức giảm trừ gia cảnh đối với bản thân người nộp thuế là 4.000.000đ/người/tháng, đối với người phụ thuộc là 1.600.000đ/người/tháng không đủđảm bảo nhu cầu thiết yếu về đời sống của họ Đồng thời Luật thuế TNCNcũng chưa kiểm soát được các khoản thu nhập phát sinh, nhiều khoản thunhập miễn thuế chưa hợp lý, tình trạng kê khai, trốn thuế vẫn tồn tại làm thấtthu NSNN Do đó, Luật thuế TNCN cần được hoàn thiện để đảm bảo tínhcông bằng xã hội và tạo lập được nguồn thu tăng trưởng và bền vững choNSNN từ sắc thuế này

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.

Xuất phát từ thực tế của Việt Nam, góp phần hoàn thiện Luật thuế thunhập cá nhân và để chống lại nạn thất thu thuế thu nhập cá nhân, tăng nguồnthu cho ngân sách nhà nước, nên tôi đã chọn

“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài Luận

văn Thạc sĩ kinh tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của đề tài này, tôi tập trung phân tích, đánh giá thựctrạng việc áp dụng Pháp lệnh thuế TNĐVNCTNC và Luật thuế TNCN ở nước

ta từ năm 1991 đến nay, đồng thời có tham khảo việc áp dụng thuế Thu nhập

cá nhân ở một số quốc gia trên thế giới Từ đó đưa ra những vấn đề cần hoànthiện và xây dựng một chính sách thuế Thu nhập cá nhân sao cho phù hợp vớiđiều kiện kinh tế xã hội tại Việt Nam trong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu.

Trên cơ sở lý luận về thuế TNĐVNCTNC và thuế TNCN, bằng phươngpháp thực nghiệm từ thực tế qua thống kê, phân tích, tổng hợp để đánh giáthực trạng áp dụng thuế TNCN tại Việt Nam Từ đó, tìm ra nguyên nhân tồntại của các hạn chế và đưa ra các giải pháp

Trang 8

5 Kết cấu của luận văn

- Lời cam đoan

- Mục lục

- Danh mục viết tắt

- Danh mục bảng biểu, sơ đồ

- Mở đầu

Chương 1: Lý luận chung về thuế Thu nhập cá nhân

Chương 2: Thực trạng về chính sách thuế Thu nhập cá nhân ở ViệtNam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế TNCN ởViệt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Kết luận

- Danh mục tài liệu tham khảo

- Phụ lục đính kèm

Trang 9

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN1.1 Lý luận chung về Thu nhập và thuế Thu nhập cá nhân.

1.1.1 Khái niệm thu nhập, phân loại thu nhập.

1.1.1.1 Khái niệm thu nhập.

Khái niệm về thu nhập được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2008 của Trung tâm từ điển học

VIETLEX, NXB Đà Nẵng “thu nhập là tổng thể nói chung các khoản thu được trong một khoảng thời gian nhất định, thường tính theo tháng, năm”

Trong cuốn Kinh tế học II của PAUL A SAMUELSON và WILLIAM

D NORDHAUS, các nhà kinh tế học định nghĩa “thu nhập là phần thu được

của một cá nhân hay một nước về tiền lương, tiền lăi cho vay, tiền lăi cổ phần

và những khoản thu nhập khác”

Quan điểm của một số nhà nghiên cứu Việt Nam “thu nhập là tổng giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà chủ thể nào đó trong nền kinh tế tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu

tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xă hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định”.

Từ các khái niệm trên cho thấy đặc điểm của thu nhập

- Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế, xã hộithể hiện tính sở hữu của thu nhập

- Việc xác định thu nhập của các chủ thể khác nhau trong một thời giannhất định được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ – là hình thức thông qua đóbiết được tổng thu nhập các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một phápnhân

- Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối và phânphối lại thu nhập quốc dân, do thị trường và Nhà nước thực hiện

Trang 10

Khái niệm về thu nhập được tổng hợp như sau:

Thu nhập là các khoản thu dưới dạng tiền tệ, hiện vật hoặc dưới các hình thức lợi ích mang tính chất kinh tế khác nhau mà cá nhân nhận được hoặc tạo ra thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, từ lao động, từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, từ quà biếu…hoặc từ các khoản thu nhập hợp pháp khác.

1.1.1.2 Phân loại thu nhập.

+ Phân loại theo nguồn phát sinh thu nhập.

Thu nhập từ kinh doanh là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất, kinh

doanh trong các lĩnh vực

Thu nhập từ tiền lương, tiền công là các khoản thu nhập người lao động

nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặckhông bằng tiền

Thu nhập từ đầu tư vốn là khoản thu nhập nhận được từ hoạt động cho

cơ sở sản xuất, kinh doanh vay, mua cổ phần hoặc góp vốn sản xuất, kinhdoanh dưới các hình thức

Thu nhập từ chuyển nhượng vốn là khoản tiền lãi nhận được từ việc

chuyển nhượng vốn của cá nhân

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là khoản thu nhập nhận được

từ việc chuyển nhượng bất động sản

Thu nhập từ trúng thưởng là các khoản tiền hoặc hiện vật mà cá nhân

nhận được dưới các hình thức trúng thưởng

Thu nhập từ bản quyền là thu nhập nhận được khi chuyển nhượng,

chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ theo quyđịnh của Luật Sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyển giao công nghệ theo quyđịnh của Luật Chuyển giao công nghệ

Thu nhập từ nhượng quyền thương mại là các khoản thu nhập mà cá

nhân nhận được từ các hợp đồng nhượng quyền thương mại (nhượng quyềnthương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và

Trang 11

yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ theo các điều kiện của bên nhượng quyền), bao gồm cả việc nhượnglại quyền thương mại theo quy định của pháp luật về nhượng quyền thươngmại.

Thu nhập từ nhận thừa kế là khoản thu nhập mà cá nhân nhận được

theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật về tài sản thừa kế đối với cácloại tài sản được thừa kế

Thu nhập từ nhận quà tặng là khoản thu nhập của cá nhân nhận được từ

các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đối với các tài sản nhận được

+ Phân loại theo tần suất phát sinh thu nhập:

Thu nhập thường xuyên: là các khoản thu nhập phát sinh thường xuyên,

có tính chất đều đặn và ổn định trong năm và có thể dự tính được, bao gồm:

Các khoản thu nhập dưới các hình thức: tiền lương, tiền công, tiền thù lao.Các khoản thu nhập của các cá nhân do tham gia hoạt động sản xuất kinhdoanh

Thu nhập không thường xuyên: là các khoản thu nhập phát sinh theo

từng lần, từng đợt riêng lẻ, không có tính chất đều đặn, bao gồm: Thu nhập từđầu tư vốn; thu nhập từ bản quyền bao gồm: thu nhập nhập từ chuyển giaocông nghệ và chuyển quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyển nhượng vốn,chứng khoán, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập về nhận thừa kế, quàbiếu, quà tặng bằng tiền hoặc hiện vật, trúng thưởng…

+ Phân loại theo phạm vi lãnh thổ phát sinh.

Thu nhập phát sinh trong nước: là toàn bộ thu nhập nhận được bằng

tiền hay hiện vật phát sinh tại nước sở tại

Thu nhập phát sinh ở nước ngoài:là toàn bộ thu nhập nhận được ở

ngoài phạm vi lãnh thổ mà cá nhân hiện đang cư trú

Trang 12

1.1.2 Khái niệm và các yếu tố cơ bản của thuế TNCN

1.1.2.1 Khái niệm về thuế TNCN.

Thuế TNCN là một trong các sắc thuế xuất hiện khá sớm trong lịch sửphát triển thuế khoá của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là nhữngnước có nền kinh tế thị trường phát triển Lần đầu tiên xuất hiện ở Anh vàonăm 1799 thuế TNCN đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằmmục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức banhành vào năm 1842 Sau đó thuế thu nhập cá nhân đã nhanh chóng đượcnghiên cứu, ban hành và áp dụng ở các nước khác như: Nhật (1887), Mỹ(1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922), Trung Quốc được soạn thảo từ năm

1914 nhưng đến năm 1936 mới được thi hành và tới năm 1955 mới trở thànhmột đạo luật thuế độc lập

Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận đượcthu nhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồnnào (do lao động, hay đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó đểnộp cho Nhà nước dưới dạng thuế thu nhập

Thuế TNCN là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế có được của cá nhân trong kỳ tính thuế (thường là một năm).

1.1.2.2 Các yếu tố cơ bản của thuế TNCN.

Đối tượng nộp thuế

Thuế thu nhập cá nhân không chỉ điều chỉnh đối với cá nhân là côngdân của nước đó mà còn điều chỉnh đối với cả những cá nhân nước ngoài sinhsống và làm việc trên lãnh thổ của quốc gia đó dựa trên sự phân biệt cá nhân

cư trú và cá nhân không cư trú

Thông thường, pháp luật các nước xác định cá nhân cư trú là nhữngngười cư trú ở nước đó trong một khoảng thời hạn nhất định (thường là 183ngày) Nhìn chung, pháp luật các nước quy định cá nhân cư trú phải chịu thuếtrên toàn bộ thu nhập toàn cầu của mình bất kể thu nhập đó kiếm được ở đâu.Ngược lại, cá nhân không cư trú thường được quy định là những người cư trú

Trang 13

tại nước sở tại dưới 183 ngày Các cá nhân này thường chỉ phải nộp thuế đốivới những thu nhập có nguồn gốc ở nước sở tại.

Thu nhập chịu thuế.

Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là toàn bộ thunhập cá nhân nhận được sau khi miễn trừ một số khoản chi phí Do đó, tổngthu nhập của một đối tượng sẽ không bao gồm những khoản miễn thuế Đểxác định tổng thu nhập cần phải xác định từng khoản cấu thành tổng thu nhậptheo từng loại thu nhập cụ thể, tức là xem xét tổng thu nhập được hình thành

từ những nguồn nào

Tuy nhiên, không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều đưavào thu nhập chịu thuế Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhậpkhông thuộc diện chịu thuế Việc xác định những khoản thu nhập nào nằmtrong tổng thu nhập chịu thuế tuỳ vào mục đích đánh thuế của mỗi quốc gia.Khi xây dựng thu nhập chịu thuế cần phải xem xét các yếu tố sau:

+ Nguồn gốc của thu nhập: thu nhập của mỗi cá nhân có được từ nhiềunguồn khác nhau, các nguồn thu nhập cơ bản như: từ hoạt động sản xuất kinhdoanh, từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, từ lao động, từthừa kế, quà tặng… Luật thuế phải xác định thu nhập nào nằm trong tổng thunhập chịu thuế để đảm bảo công bằng, vừa thúc đẩy cá nhân làm giàu chínhđáng

+ Đánh thuế trên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập: Tuỳ theoluật thuế thu nhập cá nhân của mỗi quốc gia, thu nhập chịu thuế được tính dựatrên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập

Theo cách đánh thuế dựa trên cơ sở cư trú, cá nhân cư trú phải nộp thuếđối với mọi khoản thu nhập phát sinh tại nước đó và mọi khoản thu nhập từkhắp nơi trên thế giới, còn cá nhân không cư trú chỉ bị đánh thuế trên phần thunhập phát sinh tại nước sở tại Phương pháp này được hầu hết các quốc giatrên thế giới áp dụng, tuy nhiên chưa có sự thống nhất giữa các quốc gia vềtiêu chí xác định cư trú và không cư trú

Trang 14

Đánh thuế dựa trên nguồn phát sinh thu nhập, theo cách đánh thuế nàyđối tượng nộp thuế chỉ nộp thuế đối với khoản thu nhập phát sinh ở nước sởtại mà không phải nộp thuế đối với những khoản thu nhập phát sinh ở nướcngoài Khi kinh tế thế giới phát triển với hệ thống công nghệ thông tin hiệnđại, việc xác định nguồn thu nhập phát sinh ở đâu đối với hoạt động đầu tư,kinh doanh trở nên phức tạp do có các hoạt động mua bán, cung cấp dịch vụtrên mạng.

Vậy vấn đề đặt ra là việc lựa chọn phương pháp đánh thuế trên cơ sở cưtrú hay nguồn phát sinh thu nhập là điều quan trọng mà các quốc gia cần phảixem xét vì không những ảnh hưởng đến hệ thống thuế của quốc gia đó mà còn

là yếu tố quan trọng trong tiến trình đàm phán gia nhập kinh tế thế giới, ký kếtcác hiệp định tránh đánh thuế trùng lặp giữa các quốc gia

Thu nhập miễn thuế.

Thu nhập miễn thuế là khoản thu nhập không phải tính và nộp thuếTNCN nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, điều tiết công bằng, hợp lý vàkhuyến khích cho đầu tư phát triển

Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của từng quốc gia mà mỗi quốc gia quy địnhkhác nhau, hoặc ngay trong một quốc gia nhưng trong từng giai đoạn khácnhau có thế có các chính sách thu thuế khác nhau để thực hiện những chínhsách kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn Tuy nhiên các khoản thu nhập miễnthuế thường là các khoản phụ cấp, trợ cấp, các khoản nộp bảo hiểm bắt buộc,lãi suất từ trái phiếu chính phủ …, hay thu nhập được tạo ra nhằm mục đích

bù đắp khó khăn về đời sống, các khoản bồi thường…

Căn cứ tính thuế: Thu nhập tính thuế và thuế suất.

Thu nhập tính thuế:là phần thu nhập chịu thuế còn lại sau khi đã trừ đi

một số khoản giảm trừ để tạo ra thu nhập đó

Thuế suất: là mức thu tính trên một đối tượng tính thuế do Nhà nước

quy định Thuế suất được xây dựng phải phù hợp với khả năng chịu thuế của

Trang 15

các cá nhân, đem lại nguồn thu tối đa cho NSNN, đồng thời là động lực chonền kinh tế, khuyến khích các cá nhân nỗ lực làm việc tăng thu nhập.

Thuế suất gồm hai loại: thuế suất tỷ lệ nhất định và thuế suất tỷ lệ luỹtiến từng phần Thông thường, thuế suất tỷ lệ luỹ tiến từng phần được áp dụngđối với thu nhập thường xuyên như thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiềncông Thuế suất tỷ lệ nhất định áp dụng đối với thu nhập không thường xuyên

Biểu thuế suất luỹ tiến thường có nhiều bậc và tăng dần theo thu nhập,thu nhập càng cao thì thuế suất càng tăng, số tiền thuế đóng càng nhiều Điềunày là phù hợp vì ở mức thu nhập càng cao thì độ hữu dụng càng giảm nên sốthuế đóng góp nhiều hơn là hoàn toàn hợp lý, đem lại hiệu quả về mặt phânphối lại thu nhập và công bằng xã hội Biểu thuế suất có thể gồm nhiều bậchoặc ít bậc thuế suất tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi quốc gia Khi xâydựng biểu thuế cần xác định có bao nhiêu bậc thuế là phù hợp

Phương pháp tính thuế:

Về lý thuyết, tồn tại ba phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân:

+ Tính thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập

Tính thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập là phương pháp áp dụngmột thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh Tương ứng vớimỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từngloại thu nhập (nhiều trường hợp chi phí có thể được trừ hoặc không được trừ)

và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt Số thuế phảinộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từngnguồn

Các nhà kinh tế cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế hơn,

vì nó thu “theo sát từng nguồn thu nhập” Tuy nhiên, tính thuế theo từngnguồn hình thành thu nhập trên thực tế đã bộc lộ nhiều hạn chế:

Khi chia thu nhập cá nhân thành phần thu nhập để chịu các mức thuếsuất khác nhau không đơn thuần là một công việc phức tạp và khó khăn, màđiều quan trọng hơn là không áp dụng được triệt để các mức thuế suất luỹ tiến

Trang 16

và các suất miễn giảm thuế thu nhập cá nhân Nếu có áp dụng mức thuế suấtluỹ tiến thì cũng chỉ đúng cho một số loại thu nhập Điều đó lại gây bất bìnhđẳng giữa các đối tượng nộp thuế có các loại thu nhập khác nhau

Việc áp dụng thuế suất cho từng loại thu nhập đòi hỏi phải phân loại thunhập, trên thực tế công việc này lại tiềm ẩn nhiều khó khăn trong công tácquản lý Mặt khác, đó cũng là cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế Nếuranh giới giữa các loại thu nhập không chính xác thì sẽ mất ý nghĩa công bằngcủa thuế thu nhập cá nhân

+ Tính thuế trên tổng thu nhập

Phương pháp này tiến hành tính thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất

cả các khoản thu nhập nhận được không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập

và chi phí tạo ra thu nhập Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét trênmột tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chiphí Việc phân ra từng loại thu nhập không có ý nghĩa

Do có ưu điểm là đơn giản và có thể áp dụng được biểu thuế luỹ tiếnkhi tính thuế nên phương pháp này đang được áp dụng rất rộng rãi ở các nướcphát triển

+ Tính thuế hỗn hợp

Thuế thu nhập cá nhân có thể được tính theo cách kết hợp cả haiphương pháp kể trên Ban đầu tính thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập,sau đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và tính trùm lên tổng thu nhập một mứcthuế nữa Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất luỹ tiến ngoài thuếsuất thông thường tính trên từng loại thu nhập Cách tính thuế này đảm bảo sựchính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán

Như vậy, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng Việc

áp dụng một phương pháp thích hợp tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hộitừng nước, trình độ quản lý và yếu tố tâm lý, tập quán từng dân tộc

Quy định nộp thuế.

Trang 17

Tùy theo trình độ quản lý của hệ thống thuế của từng quốc gia, hiện naytrên thế giới tồn tại hai quy định nộp thuế TNCN.

+ Nộp thuế ngay từ đồng thu nhập đầu tiên

Dạng này được các quốc gia phát triển (OECD) áp dụng: thuế thu nhập

cá nhân được tính trên đồng thu nhập đầu tiên nhưng lại đưa ra những quyđịnh về các suất miễn thu (personal relief); nghĩa là cho trừ ra khỏi thu nhậpchịu thuế các khoản thu nhập được Luật thuế TNCN cho phép như giảm trừgia cảnh như nuôi cha mẹ già, nuôi con cái, người tàn tật; tiền lương đónggóp vào quỹ an sinh xã hội, tiền nộp cho quỹ hưu trí; chi phí khám chữa bệnh;lãi tiền tiết kiệm ở số ngân hàng do Chính phủ chỉ định

Nguyên tắc hành thu: khấu trừ tại nguồn, sau đó cuối năm người chịuthuế sẽ tổng hợp thu nhập để quyết toán thuế

Áp dụng thuế suất quy định từ đồng thu nhập đầu tiên tuy khá phức tạptrong việc theo dõi và quản lý nhưng chính việc quy định các suất miễn thu lại

có ý nghĩa lớn trong bảo đảm an sinh xã hội cho người thọ thuế, việc gópphần giải quyết chính sách xã hội, đảm bảo công bằng và bình đẳng giữa cácthành viên trong xã hội

Hiện nay, trên thế giới có khá nhiều nước áp dụng căn cứ tính thuế này.tuy nhiên, việc áp dụng thuế suất biên tế ở các nước là không giống nhau

+ Quy định thu theo mức khởi điểm (ngưỡng chịu thuế)

Cách này được các quốc gia đang phát triển ưa chuộng hơn và do vậyđược áp dụng rộng rãi hơn trong khối này Khi thu theo ngưỡng chịu thuế,người nộp thuế được cho phép khấu trừ khống một khoản thu nhập, phần thunhập còn lại chịu thuế suất luỹ tiến từng phần

Cách làm này có ưu điểm là dễ quản lý nhưng lại không đáp ứng đượcyêu cầu về tính công bằng của thuế TNCN: không công bằng do không xétđến gia cảnh của người chịu thuế Nếu thuế suất được quy định thu theo mứcthu nhập khởi điểm thì những người có gia cảnh khác nhau nhưng cùng mộtmức thu nhập lại phải đóng thuế TNCN như nhau

Trang 18

1.1.3 Đặc điểm của thuế TNCN.

+ Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập củamỗi cá nhân Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượngnộp thuế và đối tượng chịu thuế Người chịu thuế thu nhập cá nhân không cókhả năng chuyển giao gánh nặng của thuế sang cho các đối tượng khác tại thờiđiểm đánh thuế, đồng thời tạo ra áp lực chịu thuế dẫn đến hiện tượng trốnthuế

+ Thuế TNCN có diện đánh thuế rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một

là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhânthuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinhtrong nước hay ở nước ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN làtoàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại vànhững người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng

có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luậtthuế TNCN

+ Thuế TNCN có góc độ kỹ thuật tính thuế khá phức tạp bởi diện đánhthuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể,

có áp dụng phương pháp luỹ tiến Có như vậy mới đảm bảo công bằng xã hội,người có thu nhập cao nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp

+ Chi phí hành thu của thuế TNCN thường rất cao, điều này làm cơ sở

để áp dụng biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn (Witholding at source), đây làmột biện pháp để giảm chi phí hành thu

1.1.4 Vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế.

+ Là nguồn thu quan trọng, góp phần ổn định ngân sách quốc gia.

Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chínhsách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là việc tạo lập vàphát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước Cùng với xu hướng

Trang 19

tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dânđầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho NSNN thôngqua thuế TNCN sẽ ngày càng tăng và sẽ ngày một dồi dào.

Thực tế tỷ trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của nhiềuquốc gia đã phản ánh tiến trình đó, tại các nước khối ASEAN: 5-10%, cácnước phát triển có tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như Anh,

Mỹ Tại Việt Nam, mới tiếp cận chính sách thu và còn phân tán ở nhiều sắcthuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu khá lớn trong những năm gầnđây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao là 62 tỷ đồng, đến năm 2000 thu được 1.831 tỷ đồng, năm 2005 số thu đãđạt 4.400 tỷ đồng và tính đến năm 2011 con số này đạt 36.940 tỷ đồng Tuyvậy tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách

+ Là công cụ cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của các tầng lớp dân cư

Để kiểm soát thu nhập dân cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai

cơ chế quản lý quỹ tiền lương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinhdoanh…và cơ chế kê khai nộp thuế TNCN, tuy ban đầu có thể chưa chínhxác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập dân cư phục vụ chương trìnhmục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát triển phù hợp khitính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng lên

+ Góp phần thu hẹp chênh lệch giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội.

Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơnmức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thunhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết Thêm vào đó khithu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm.Ở nước ta hiệnnay, thu nhập của các tầng lớp dân cư có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư

có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân được tuyển dụng trongmôi trường hấp dẫn, có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc

Trang 20

trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc cómột số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Bên cạnh đó, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu

tố như khả năng, trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của

cá nhân đó Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường khônggiống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người Chính sựkhác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân hoá giàu nghèo, là sự bất bình đẳngtrong xã hội Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức vàbiện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữuhiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, góp phần thuhẹp chênh lệch giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội

+ Góp phần quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý Nhà nước sẽ có giải pháptăng cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làm chotổng cầu xã hội giảm hoặc tăng, từ đó có tác dụng co hẹp hay kích thích kinh

tế phát triển Đó chính là vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chínhsách thuế TNCN góp phần tác dụng đáng kể

1.1.5 Mối quan hệ giữa thuế TNCN và thuế TNDN.

Thuế TNCN và thuế TNDN cùng là thuế trực thu đánh vào thu nhập.Tuy đánh trên các căn cứ tính thuế khác nhau nhưng hai loại thuế này có mốiquan hệ mật thiết với nhau, về cơ bản thu nhập làm căn cứ tính thuế của hailoại thuế này đều do sức lao động, tiền vốn của từng cá nhân tạo ra và có mốiquan hệ về lợi ích của từng người

Trước đây hộ kinh doanh phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp vớimức thuế suất là 28% Khi thuế thu nhập cá nhân ra đời đã chuyển nhóm đốitượng này sang đóng thuế thu nhập cá nhân với mức thuế phải đóng tính trênbiểu thuế luỹ tiến từng phần, điều này là hoàn toàn phù hợp bởi vì: trên thực tế

hộ kinh doanh chỉ là cá nhân hoặc nhóm cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, vì vậyviệc đưa đối tượng này vào diện điều chỉnh tại Luật thuế TNCN nhằm đảm

Trang 21

bảo sự bình đẳng về chính sách thuế đối với thu nhập cá nhân và cũng phùhợp với quy định của pháp luật thương mại về đăng ký kinh doanh Mặt khác,nếu tiếp tục thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đối tượng này sẽ khôngphù hợp vì hộ kinh không phải là một loại hình doanh nghiệp.

1.2 Sự cần thiết ban hành, sửa đổi chính sách thuế TNCN tại Việt Nam.

+ Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là cần thiết để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà Nước.

Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra:

“Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượngchịu thuế, đảm bảo công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” Nghị QuyếtĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoànthiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất vàđồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất,

mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập” Thực hiện các Nghị quyếtcủa Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua chiến lược cải cách hệ thống thuế giaiđoạn 2011 - 2020, trong đó đặt ra yêu cầu: “Xây dựng hệ thống chính sáchthuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, mức động viên hợp lý nhằm tạo điềukiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh

tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước”

+ Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm thực hiện công bằng

xã hội, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thu nhập và điều tiết, phân phối lại thu nhập, thu hẹp hợp lý sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân

cư, đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

Khác với thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…)động viên thu nhập xã hội thông qua tiêu dùng của các tổ chức và cá nhân,khác với thuế thu nhập doanh nghiệp, điều tiết vào thu nhập của doanhnghiệp, thuế thu nhập cá nhân động viên một phần thu nhập của cá nhân, thểhiện nghĩa vụ cụ thể của công dân đối với đất nước Công dân được hưởng

Trang 22

những thành quả của đất nước: cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự,

… thì đồng thời có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hộithông qua việc nộp thuế Thuế thu nhập cá nhân được xây dựng trên nguyêntắc “công bằng” và “khả năng nộp thuế”, được thể hiện: người có thu nhậpthấp thì chưa nộp thuế, người có thu nhập cao thì nộp thuế nhiều hơn, người

có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuế cũngkhác nhau Thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân góp phần làm giảm hợp lýkhoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư

Chính vì vậy mà thuế thu nhập cá nhân đã được nhiều nước áp dụng từrất sớm, ngay từ khi nền kinh tế chưa phát triển, thu nhập của dân cư cũngchưa cao, điều kiện kiểm soát thu nhập còn hạn chế Đến nay, đã có trên 180nước trên thế giới áp dụng loại thuế này

+ Sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.

Hiện nay, Luật thuế TNCN của chúng ta vẫn còn bộc lộ nhiều khuyếtđiểm, hạn chế chưa phù hợp với thực tế cuộc sống Vì thế chúng ta cần hoànthiện hơn về chính sách thuế TNCN để chính sách thuế đi vào thực tế đờisống giúp cải thiện đời sống cuả người lao động cũng như đảm bảo đượcnguồn thu của NSNN

Do vậy, việc sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân là để hoàn thiện mộtbước hệ thống chính sách thuế của nước ta, góp phần khuyến khích cá nhântích cực lao động, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng

và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững tiến đến hội nhậpkinh tế quốc tế

1.3 Bài học về xây dựng, thực hiện chính sách thuế TNCN của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng ở Việt Nam.

Thuế thu nhập cá nhân đã có lịch sử hàng trăm năm và hiện nay đã trởthành loại thuế phổ biến trên thế giới Có thể nói đối với hầu hết các quốc gia

Trang 23

thuế thu nhập cá nhân được xem như là “vua” của các loại thuế Không chỉbởi nguồn thu khổng lồ của nó trong tổng ngân sách để phục vụ cho việc vậnhành bộ máy hành chính Nhà nước, đảm bảo an ninh quốc gia, chính sách xã

mà sự ra đời của sắc thuế TNCN còn góp phần quan trọng trong việc điều tiếtphân phối lại thu nhập trong xã hội trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thểcủa người nộp thuế

Cho đến nay trên khắp Thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng thuếthu nhập cá nhân Trong đó, quốc gia đầu tiên áp dụng thuế thu nhập cá nhân

là Hà Lan năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808 Mỹ bắtđầu áp dụng thuế TNCN vào năm 1864 Các nước Châu Âu như Úc, NiuDilân, và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuốiThế kỷ 19 Tại các nước Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939,Philippin năm 1945, Hàn quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung quốcnăm 1984; Các nước Đông Âu mới áp dụng như Rumani năm 1990, Nga năm

1991, Ba lan năm 1992 Ở Việt Nam thuế TNCN chính thức có hiệu lực thihành từ ngày 01/01/2009

Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, các Chính phủ ở một

số nước áp dụng luật thuế TNCN thường chọn đánh thuế vào những đối tượng

dễ đo lường được như đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình… Tuy nhiên chođến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọngtrong Luật thuế TNCN đã có nhiều biến đổi Có thể nói khác với các loại thuếkhác, thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng với tất cả các cá nhân có thu nhập

từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua,bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu… Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhântrong nước mà cả cá nhân nước ngoài nếu làm việc có thu nhập tại nước sởtại Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoảnthu nhập của cá nhân Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêucông bằng của thuế TNCN, luật thuế cũng qui định cụ thể một số khoản thunhập không chịu thuế, miễn thuế

Trang 24

1.3.1 Luật thuế TNCN tại Trung Quốc.

Luật thuế TNCN ở Trung Quốc có quy định các đối tượng nộp thuế thunhập cá nhân là các cá nhân có chỗ ở hoặc không có chỗ ở trong nước TrungQuốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ 1 năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộthu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cánhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới 1 năm, thì phải nộp thuếđối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc

Theo Luật thuế TNCN Trung Quốc, thu nhập chịu thuế thu nhập cánhân bao gồm các khoản: Thu nhập từ tiền công, tiền lương; Thu nhập từ sảnxuất kinh doanh; Thu nhập về cho thuê tài sản; Thu nhập về chuyển nhượngtài sản; Thu nhập từ kinh doanh chứng khoán; Thù lao dịch vụ; Thu nhập từnhuận bút; Thu nhập về chi phí sử dụng quyền đặc biệt; Thu nhập về lãi chovay, cổ tức, hoa hồng; Thu nhập ngẫu nhiên; Thu nhập khác

Ngoài ra ở Trung Quốc cũng quy định rất rõ các khoản thu nhập khôngphải chịu thuế thu nhập cá nhân đó là: Tiền thưởng, lợi tức tiền gửi tiết kiệm,lợi tức trái phiếu do Bộ Tài chính cho phép phát hành và trái phiếu tín dụng

do Quốc vụ viện cho phép phát hành Tiền phụ cấp, trợ cấp được chính quyềnphát cho theo quy định của Quốc vụ viện và tiền phụ cấp, trợ cấp được Quốc

vụ viện quy định miễn thuế Tiền phúc lợi, tiền dưỡng lão, tiền cứu tế Tiềnbồi thường bảo hiểm Tiền chuyển ngành, tiền phục viên của quân nhân Tiềnđược Nhà nước quy định thống nhất phát cho cán bộ viên chức về ổn định chỗ

ở, thôi việc, lương hưu Thu nhập của các đại diện ngoại giao, nhân viên lãnh

sự và các nhân viên khác thuộc các đại sứ quán, lãnh sự quán tại Trung Quốc,được miễn thuế theo Luật pháp hữu quan quy định Thu nhập được quy địnhmiễn thuế trong các công ước quốc tế, các hiệp định ký kết mà Chính phủTrung Quốc tham gia Thu nhập được ngành tài chính cho phép miễn thuế

Hiện ở Trung Quốc biểu thuế luỹ tiến từng phần (biểu tháng) chia làm 9bậc với mức thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 45% Nếu tính ra thì thu

Trang 25

nhập chịu thuế ở Trung Quốc rơi vào khoảng 500 đến 100.000 NDT (tứckhoảng 60 đến 12.000 USD)

1.3.2 Luật thuế TNCN tại Nhật Bản.

Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là: những cá nhân cư trú và không

cư trú tại Nhật Bản: Cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những người đã sống từlâu hay đã và đang định cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ mộtnăm trở lên Cá nhân không cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú tạiNhật dưới một năm

Các khoản thu nhập nằm trong diện nộp thuế của Nhật Bản gồm 10khoản chính: Thu nhập từ công việc lao động; Thu nhập từ hoạt động kinhdoanh; Thu nhập do buôn bán bất động sản; Thu nhập từ tiền lãi cổ phần; Thunhập từ lợi tức; Thu nhập từ các khoản hưu trí; Thu nhập từ buôn bán gỗ; Thunhập từ các khoản vốn; Thu nhập bất thường; Thu nhập khác

Thuế thu nhập cá nhân của Nhật bản kê khai nộp theo hai phương pháp:phương pháp khấu trừ tại nơi trả thu nhập và thuế thu nhập cá nhân kê khai.Các khoản thu nhập áp dụng thuế khấu trừ tại nơi trả thu nhập là: Tiền lương;Trợ cấp thôi việc; Tiền lương hưu; Lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay; Lợi tức cổphần; Tiền thù lao; Các khoản khác

Trong luật thuế TNCN của Nhật Bản biểu thuế luỹ tiến từng phần chỉquy định chia làm 3 mức Với thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 37%.Như vậy thu nhập chịu thuế sẽ rơi vào khoảng 3.300.000JPY đến mức caonhất là trên18.000.000JPY

1.3.3 Luật thuế TNCN tại Thái Lan

Đối tượng nộp thuế Luật quy định mọi cá nhân là đối tượng

cư trú và không cư trú nếu có thu nhập chịu thuế phát sinh tại Thái Lan đều

là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân tại Thái Lan Các đối tượng cư trú làngười Thái Lan có thu nhập từ lao động, từ kinh doanh có nguồn gốc nướcngoài cũng là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân, dù các khoản thu nhậpnày không chịu thuế tại Thái Lan

Trang 26

Thu nhập chịu thuế là thu nhập ròng chịu thuế tổng hợp từ các nguồncủa cá nhân Thu nhập chịu thuế được xác định bằng cách lấy toàn bộ cáckhoản thu nhập (thu nhập gộp) mà cá nhân nhận được trong năm tính thuế,không kể các thu nhập được miễn thuế, trừ đi các khoản khấu trừ cơ bản vàsuất miễn thu theo quy định cho từng loại thu nhập Thu nhập chịu thuế baogồm các loại chủ yếu sau: Thu nhập từ lao động, thu nhập từ kinh doanh

và từ hành nghề độc lập (tự do), thu nhập từ đầu tư, thu nhập từ chuyểnnhượng tài sản, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và thu nhập khác

Để xác định thu nhập ròng, Luật cho phép các đối tượng nộp thuế, dù

là đối tượng cư trú hay không cư trú, được trừ vào tổng thu nhập (thu nhậpgộp) các khoản khấu trừ cơ bản tính theo tỷ lệ nhất định trên thu nhập gộpnhận được tối đa là 40% trên tổng thu nhập gộp, nhưng không quá 60.000baht/năm

Sau khi áp dụng mức khấu trừ cơ bản cho từng loại thu nhập để xácđịnh mức thu nhập ròng, mỗi đối tượng nộp thuế sẽ được tiếp tục trừ khỏi thunhập ròng các suất miễn thu cá nhân tuỳ theo tình trạng hôn nhân, tính chấtđối tượng nộp thuế hay căn cứ vào các khoản đóng góp xã hội của từng cánhân Kết quả tính được sẽ là thu nhập ròng chịu thuế tương ứng của loại thunhập đó

Hiện nay Thái Lan có 6 bậc thuế thấp nhất là 0%, cao nhất là 37%đánh vào khoản thu nhập ròng chịu thuế theo đó khoản thu nhập từ 4.000.000baht trở lên nộp theo mức thuế suất 37%

1.3.4 Luật thuế TNCN tại Pháp.

Các thể nhân là đối tượng cư trú thuế tại Pháp hoặc không là đối tượng

cư trú thuế tại Pháp nhưng có nhận được thu nhập tại Pháp đều là đối tượngphải nộp thuế thu nhập cá nhân Cá nhân là đối tượng cư trú phải nộp thuế thunhập cá nhân trên toàn bộ thu nhập, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập

ở trong nước hay ở nước ngoài Cá nhân là đối tượng cư trú tại Pháp chỉ phảinộp thuế cho phần thu nhập có được tại Pháp hoặc trên thu nhập khoán bằng 3

Trang 27

lần giá trị cho thuê tài sản thuộc sở hữu của cá nhân đó nếu thu nhập phát sinhtại Pháp nhỏ hơn mức khoản trên.

Thu nhập chịu thuế có 8 loại Thu nhập ròng làm căn cứ tính thuế là

tổng hợp thu nhập ròng của từng loại thu nhập mà mỗi đối tượng nộp thuế cóđược trong năm bao gồm: thu nhập từ tiền lương, thu nhập từ kinh doanh, thunhập từ nông nghiệp, thu nhập từ hành nghề độc lập và từ các dịch vụ tư vấnnghề nghiệp, thu nhập từ đầu tư chứng khoán, thu nhập từ cho thuê bất độngsản (nhà, đất), thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thù lao của nhữngngười điều hành công ty

Tổng thu nhập chịu thuế của hộ nộp thuế bằng tổng các khoản thu nhậpròng từ mọi nguồn thu nhập của đối tượng nộp thuế cộng với tổng thu nhậpcủa vợ (hoặc chồng) và của các con sáp nhập vào hộ (nếu có) sau khi trừ cáckhoản lỗ của từng loại thu nhập Ngoài ra, hộ nộp thuế còn được trừ khỏi tổngthu nhập chịu thuế một khoản chi phí (nếu thỏa mãn các điều kiện quy định)như: trợ cấp đời sống bắt buộc theo phán quyết của tòa đối với vợ (chồng)

đã ly thân hay ly dị cho mỗi người con tối đa là 30.330 FR, chi nuôi dưỡngngười già trên 75 tuổi tối đa 17.680 FR… và khoản lỗ chưa trừ hết trong 5năm trước

Thuế thu nhập cá nhân áp dụng biểu luỹ tiến từng phần gồm 7 bậc (0%,8,25%, 21,75%, 31,75%, 41,25% và 53,25%) trong đó, thuế suất thấp nhất 0%cho mức thu nhập 26.600 FR, cao nhất 53,25% cho mức thu nhập vượt trên299.200 FR

Tóm lại:

Chính sách thuế TNCN của các nước có những điểm như sau:

- Đa số các nước đánh thuế theo nguyên tắc “cư trú” đối với đối tượng

cư trú tại nước mình và phải chịu thuế TNCN trên thu nhập toàn cầu, khôngphân biệt nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ở nước ngoài, đánh thuếtheo nguyên tắc “nguồn phát sinh thu nhập” đối với đối tượng không cư trú,đối tượng này chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập có được phát sinh trong

Trang 28

nước Tuy nhiên mỗi nước qui định đối tượng cư trú và không cư trú là khônggiống nhau.

- Đơn vị tính thuế được đa số các nước áp dụng là cá nhân như ở Nhật,Thái Lan, Trung Quốc…, Pháp xác định đơn vị tính thuế là hộ gia đình, đâyđược xem là cách thu thuế hợp lý nhất và công bằng nhất, vì có xét đến điềukiện hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình

- Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế là thu nhập ròng (thu nhậpsau khi trừ các khoản chiết trừ gia cảnh hoặc chi phí hợp lý tạo ra thu nhập).Tuy nhiên mỗi nước xác định thu nhập chịu thuế có những điểm khác nhaunhư:

+ Trung Quốc xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn hình thành

thu nhập, tùy từng loại thu nhập mà xác định thu nhập chịu thuế khácnhau như: đối với thu nhập từ lao động, thu nhập chịu thuế được xác địnhbằng tổng thu nhập trừ đi các khoản được khấu trừ, sau đó tính thuế theobiểu thuế lũy tiến từng phần; đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản,thu nhập chịu thuế là phần thu nhập còn lại sau khi trừ các chi phí liênquan và chịu thuế suất 20%…

+ Nhật Bản xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn hình thành

thu nhập, mỗi loại thu nhập chịu thuế được xác định bằng tổng thu nhậptrừ đi các khoản khấu trừ hoặc các khoản chi phí hợp lý tùy thuộc vàonguồn hình thành thu nhập

+ Đối với Thái Lan thu nhập chịu thuế được xác định tương tư như ở

Pháp là tổng thu nhập ròng chịu thuế tổng hợp từ các nguồn của cá nhân,nhưng khác so với Pháp là Thái Lan có đơn ví tính thuế là cá nhân nên thunhập ròng chịu thuế được tính cho cá nhân chứ không cộng vào thu nhậpcủa cả hộ như ở Pháp

+ Đối với Pháp xác định 8 loại thu nhập chịu thuế Thu nhập ròng làm

căn cứ tính thuế là tổng hợp thu nhập ròng của từng loại thu nhập mà mỗiđối tượng nộp thuế có được trong năm Tổng thu nhập chịu thuế của hộ

Trang 29

nộp thuế bằng tổng các khoản thu nhập ròng từ mọi nguồn thu nhập củađối tượng nộp thuế cộng với tổng thu nhập của vợ (hoặc chồng) và củacác con sáp nhập vào hộ (nếu có) sau khi trừ các khoản lỗ của từng loạithu nhập Ngoài ra, hộ nộp thuế còn được trừ khỏi tổng thu nhập chịu thuếmột khoản chi phí như: trợ cấp đời sống bắt buộc theo phán quyết của tòađối với vợ (chồng) đã ly thân hay ly hôn, chi nuôi dưỡng người già trên 75tuổi… và khoản lỗ chưa trừ hết trong 5 năm trước

- Về thuế suất: Thuế suất cao nhất trong biểu thuế có sự khác nhau,chẳng hạn như ở Pháp 53,25%; Thái Lan 37%; Trung Quốc 45%; Nhật Bản37% …

1.3.5 Bài học kinh nghiệm để hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam.

Qua chính sách thuế TNCN của một số nước trên thế giới, chúng ta cóthể rút ra những kinh nghiệm cơ bản để hoàn thiện chính sách thuế TNCN ởnước ta

Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đánh thuế TNCN dựa trên hainguyên tắc là “cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập” Đánh thuế TNCN dựatheo nguyên tắc “cư trú” được hầu hết các nước áp dụng đối với các đối tượngđược coi là cư trú tại nước đó, tuy nhiên khái niệm về đối tượng cư trú trongluật thuế TNCN của các nước là không giống nhau Nguyên tắc “nguồn phátsinh thu nhập” được các nước áp dụng để đánh thuế đối với khoản thu nhậpphát sinh tại nước đó của các đối tượng không cư trú Nước ta có thể đánhthuế theo tiêu thức “cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập” để xác định đúngđắn đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế

Đơn vị tính thuế của các nước được xác định là cá nhân hay hộ giađình Tại Pháp, đối tượng cư trú được kê khai nộp thuế theo hộ gia đình, baogồm người nộp thuế và người nuôi dưỡng Người nộp thuế là các cá nhân độcthân hoặc hộ gia đình chưa có con nhưng có thu nhập, người nuôi dưỡng làcác con chưa đến tuổi thành niên, người tàn tật, … Khi tính thuế theo hộ gia

Trang 30

đình có thể quy đổi từng thành viên trong hộ gia đình thành các suất thuế theoquy định Như vậy, thu thuế theo hộ gia đình là hợp lý và công bằng hơn Tuynhiên, muốn thực hiện được chế độ đó phải có điều kiện là gia đình ổn định vàphải đưa ra được định nghĩa cụ thể về gia đình, các qui định về người phụthuộc, nuôi dưỡng…Mặc dù đơn vị tính thuế là cá nhân không đạt được sựcông bằng so với đơn vị tính thuế là gia đình, song nó lại đơn giản và dễ thựcthi, ít tốn kém chi phí hành thu Ở nước ta hiện nay nên áp dụng đơn vị thuế là

cá nhân là phù hợp nhất, vì nếu áp dụng đơn vị thuế là gia đình thì chúng tachưa có đầy đủ cơ sở và chi phí hành thu sẽ rất cao

Khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN, các nước đều quan tâm đến cáckhoản giảm trừ gia cảnh để đảm bảo công bằng cho mọi người dân Có nướcquy định các chế độ miễn trừ cho bản thân người nộp thuế (vợ hoặc chồng, bố

mẹ, con cái phải nuôi dưỡng), có nước áp dụng biểu tính thuế từ đồng thunhập đầu tiên để người nộp thuế thấy rõ nghĩa vụ và trách nhiệm công dân cuảmình, bên cạnh đó nhiều nước lại quy định miễn trừ cho một mức thu nhậpnhất định coi như mức khởi điểm tính thuế Những cách này được áp dụng tùythuộc vào điều kiện và trình độ quản lý của từng nước Để đảm bảo công bằngtrong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, chúng ta quy định biểu thuếsuất với mức khởi điểm chịu thuế (đây là khoản giảm trừ của cá nhân củangười nộp thuế) và khoản giảm trừ gia cảnh hợp lý Tuy áp dụng “mức khởiđiểm chịu thuế” là không công bằng như trường hợp khấu trừ theo chi phíthực tế, nhưng để khấu trừ các chi phí thực tế này thì phải có chứng từ hợp lệ,chứng minh được và các giao dịch phải được thực hiện qua ngân hàng Đốivới điều kiện nước ta hiện nay và trong những năm sắp tới thì không thể thựchiện phương pháp này

Hiện nay biểu thuế luỹ tiến từng phần của các nước thường được xâydựng ở mức 4 – 8 bậc Điều này cũng hoàn toàn phù hợp khi vận dụng vàoViệt Nam sao cho biểu thuế vừa đơn giản để phù hợp trình độ người dân,đồng thời vừa đảm bảo sự phân phối tương đối công bằng

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM

2.1 Chính sách thuế Thu nhập cá nhân tại Việt Nam giai đoạn trước năm 1990

2.1.1 Thời kỳ phong kiến, thực dân trước Cách mạng Tháng 8

Trong thời kỳ thực dân, phong kiến, Nhà nước phong kiến có thu thuếthu nhập cá nhân nhưng với tên gọi là thuế thân

Thuế thân, còn gọi là thuế đinh, thuế đầu người là một thứ thuế của

chế độ phong kiến Đây là sắc thuế tiêu biểu trong các sắc thuế khoán

Thời kỳ Nhà Lý có lệ mỗi năm khai số hộ (gọi là đơn số), đàn ông 18

tuổi gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại nam Thuế đinh được

"bổ" theo đinh bộ hay hộ tịch của mỗi làng Thuế thân thời này được tínhcăn cứ theo số ruộng của mỗi người, ai không có ruộng thì không phải nộp

Thời kỳ Nhà Trần: Theo quyển III Đại Việt sử ký toàn thư thì, các

trấn hễ có việc binh thì lệnh cho mỗi huyện có bao nhiêu ruộng thì phải nộp bao nhiêu vàng, bạc, tiền, lụa, không tính thêm theo số nhân đinh sinh

ra, cũng không trừ bớt theo số người đã chết Nếu phục dịch việc binh, thì đều thu bổ theo số ruộng cả Các lộ có đơn binh, là phải phục dịch việc binh, những người này đời đời làm lính, không được ra làm quan Người nào có ruộng, bãi dâu, đầm cá thì phải đóng thuế, không có thì thôi Tháng

7 năm Mậu Ngọ (năm 1378) đời vua Phế Đế nhà Trần, Hành khiển Đỗ TửBình bắt chước phép đánh "thuế dung" của nhà Đường tâu Vua thu mỗi hộđinh nam 3 quan tiền một năm

Thời kỳ Nhà Hồ: Tương tự như nhà Lý - Trần, lấy ruộng làm căn cứ đểthu thuế

Trang 32

Thời kỳ Bắc thuộc nhà Minh thì hộ chế cũng như điền chế tính theokiểu của Trung Quốc Mỗi người dân đều có một cái thẻ biên tên tuổi,hương quán để phục vụ cho việc thu thuế.

Thời kỳ Nhà Lê: năm Hồng Đức thứ nhất (1470) định cứ 3 năm sửa hộtịch một lần (tiểu điền), sáu năm sửa lại một lần (đại điền) Mỗi làng phảikhai số chính hộ và khách hộ Ai biết chữ thì cho vào hạng học nhiều; thứđến xét hạng chức sắc; sau cùng xét hạng dân đinh và chia làm: tráng hạng(hay lính hạng), quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng Thuếđinh không tính theo số ruộng mà định nhất luật mỗi người đồng niên phảiđóng 8 tiền Đến đời Huyền Tôn (1664) thì bỏ cách tính này mà dùng lệkhai ở xứ Nghệ An và Thanh Hoá, và lệ bình ở các trấn Theo cách này,nhà nước không cần theo định kỳ duyệt lại hộ tịch như trước mà chỉ làmmột lần nhất định (hoặc bằng lời khai của xã trưởng mà thôi), thuế đinhmỗi suất là 1 quan 8 tiền Năm Bảo Thái thứ tư, chúa Trịnh Cương sửa lại

ngạch thuế đinh gọi là "dung", định rằng: "con trai từ 17-19 tuổi là hoàng đinh, từ 20-48 là chính đinh, từ 50-59 là lão hạng, từ 60 tuổi trở lên là lão nhiêu" Hạng chính đinh phải nộp mỗi người 1 quan 2 tiền và 4 bát gạo,

hạng sinh đồ cùng hoàng đinh và lão hạng được miễn thuế Ngạch thuếđiệu (là các thứ thuế phụ đời trước để bổ sung vào các việc tế tự và côngtác của nhà nước) nay dồn lại thành một, mỗi suất đinh phải nộp 6 quantiền

Thời kỳ Nhà Nguyễn: sau khi lên ngôi, vua Gia Long định lại việc thuthuế:

o Thuế suất: Thuế đinh thì lệ định theo vùng: từ Nghệ An ra đến nội ngoại Thanh Hóa, mỗi suất đồng niên phải chịu: Thuế thân 1 quan 2 tiền Mân tiền 1 tiền Cước mễ 2 bát Ở 5 nội trấn Bắc Thành và phủ Phụng Thiên, mỗi suất đinh đồng niên phải chịu: Thuế thân 1 quan 2 tiền Mân tiền 1 tiền Điệu tiền (tạp dịch) 6 tiền Cước mễ 2 bát Ở 6 ngoại trấn

Trang 33

Bắc Thành, mỗi suất đinh đồng niên phải chịu: Thuế thân 6 tiền Mân tiền

1 tiền Điệu tiền 3 tiền Cước mễ 1 bát

o Giảm thuế khi có thiên tai: Năm nào ở đâu mất mùa, như là bị hoàng trùng, đại hạn hay là nước lụt, v.v thì nhà nước chiếu theo sự thiệt hại nhiều, ít mà giảm thuế cho dân Lúa 10 phần thiệt hại tới 4 phần thì giảm cho hai phần thiệt; thiệt hại 5 phần thì giảm cho 3; thiệt hại 6 phần thì giảm cho 4; thiệt hại 7 phần thì giảm cho 5; thiệt hại 8 phần thì giảm cho 6; thiệt hại 9 phần thì giảm cho 7; thiệt hại hết cả thì giảm cả Hoặc nhà nước có lấy dân đinh đi làm đường, đào sông, xây thành v.v thì cũng được giảm thuế.

o Thu thuế: Nhà vua lại tùy từng địa phương mà định vụ thuế Từ Quảng Bình đến Bình Thuận cứ mỗi năm một vụ thu thuế, khởi đầu từ tháng 4 đến tháng 7 thì hết Từ Nghệ An ra đến Thanh Hóa ngoại, cùng các trấn ở Bắc thành mỗi năm thu thuế 2 vụ: mùa hạ thì khởi tự tháng 4 đến tháng 6 thì hết; mùa đông thì khởi sự tự tháng 10 đến tháng 11 thì hết.

o Kê khai: Lệ định 5 năm một lần làm sổ đinh, trong làng từ chức sắc cho đến quân dân, đều phải vào sổ Kể từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống, đều phải khai vào sổ (Đinh bạ).

Thời Pháp thuộc : Thuế thân đánh vào các "suất đinh", là đàn ông từ

13 đến 53 tuổi, trừ những người làm trong bộ máy chính quyền và một sốtrường hợp được miễn khác Theo thống kê vào những năm 1890, thuếthân trung bình khoảng 5 đồng bạc Đông Dương/đinh, trong khi thu nhậpbình quân trên đầu người chỉ khoảng 2 đồng

Ngày 2 tháng 6 năm 1897 Toàn quyền Đông Dương là Paul Dumer đã ranghị định về chính sách thuế thân đối với người dân ở Bắc Kỳ Nội dung

như sau: "thuế thân đánh vào người từ 18 tuổi đến 60 tuổi Tất cả những ai trong diện đóng thuế thân đều phải có thẻ thuế thân Trên thẻ có chữ ký hoặc điểm chỉ, có dấu triện của Lý trưởng Mỗi nǎm thay thẻ một lần, màu sắc thẻ cũng phải thay đổi hàng nǎm Đi đâu cũng phải mang thẻ Trường

Trang 34

hợp không mang thẻ mà bị cảnh sát bắt giữ thì phải nộp tiền để lấy thẻ mới Nếu dùng thẻ của người khác phải nộp phạt Người cho mượn thẻ cũng bị phạt."

2.1.2 Thời kỳ trước 30/4/1975 ở miền Nam Việt Nam

Ngày 4/10/1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộnghoà ra sắc lệnh về tất cả các thứ thuế: lợi tức toàn thuế, lương bổng, lãi thươngmại và kỹ nghệ, người chịu thứ nào cũng được trừ và chỉ được trừ:

- Mỗi người ……… 3.600đ

- Nếu có vợ (không buôn bán) được trừ thêm 1.000đ

- Nếu có con phải nuôi, hoặc bố mẹ phải cấp dưỡng, một năm được trừthêm về mỗi người ……… 500đ

2.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2008-Pháp lệnh thuế TNĐVNCTNC 2.2.1 Nội dung cơ bản của Pháp lệnh thuế TNĐVNCTNC.

UBTVQH nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành Pháplệnh thuế TNĐVNCTNC vào ngày 27/12/1990, và có hiệu lực thi hành từ01/04/1991 Qua hơn 15 năm thực thi, Pháp lệnh thuế TNĐVNCTNC đã 5 lầnsửa đổi cho phù hợp hơn với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế xã hội

- Pháp lệnh về sửa đổi Thuế thu nhập đối với người có thu nhập caongày 19/05/1994, có hiệu lực từ ngày 01/06/1994

- Pháp lệnh số 01/1997/PL- UBTVQH9 ngày 06/02/1997, có hiệu lực

từ ngày 06/02/1997 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao năm 1994

- Pháp lệnh số 14/1999/PL- UBTVQH10 ngày 30/06/1999, sửa đổi một

số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, có hiệulực từ ngày 01/07/1999

- Pháp lệnh số 35/2001/PL- UBTVQH10 ngày 19/05/2001, thay thếPháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 19/05/1994, đãđược sửa đổi theo Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhậpđối với người có thu nhập cao ngày 06/02/1997 và Pháp lệnh sửa đổi một số

Trang 35

điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày30/06/1999, có hiệu lực ngày 01/07/2001.

- Pháp lệnh số 14/2004/PL- UBTVQH11 ngày 24/03/2004 sửa đổi, bổsung một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập caothông qua ngày 19/05/2001, có hiệu lực ngày 01/07/2004

Nội dung cơ bản của thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao (TNĐVNCTNC) ở Việt Nam.

2.2.1.1 Giai đoạn năm 1990 – trước năm 1994.

Nội dụng cơ bản của pháp lệnh ban hành lần đầu trong giai đoạn này:

- Đối tượng nộp thuế: Công dân Việt Nam và người nước ngoài có thunhập tại Việt Nam không phân biệt nghề nghiệp, địa vị xã hội nếu có thu nhậplớn hơn mức khởi điểm chịu thuế phải nộp thuế thu nhập

- Thu nhập chịu thuế:

Thu nhập thường xuyên dưới hình thức: tiền lương, tiền công, cáckhoản phụ cấp và tiền thưởng có tính chất tiền lương, tiền công

Thu nhập không thường xuyên dưới hình thức: tiền hoặc hiện vật củangười định cư ở nước ngoài gửi về, thu nhập về chuyển giao công nghệ, thunhập không thường xuyên khác về thiết kế kỹ thuật xây dựng, về thiết kế côngnghiệp và dịch vụ khác

- Biểu thuế

Thu nhập thường xuyên:

Bảng 2.1: BTLTTP đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác

định cư tại Việt Nam.

Bậc Thu nhập bình quân tháng/người Thuế suất(%)

Trang 36

Đối với cá nhân có thu nhập bình quân trên 5.000.000 đ/tháng, thì ngoàiviệc chịu thuế suất tối đa ghi trong biểu thuế này, còn phải chịu thuế suất bổsung 30% cho phần thu nhập trên 5.000.000 đ.

Bảng 2.2: BTLTTP đối với người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam.

Bậc Thu nhập bình quân tháng/người Thuế suất (%)

Bảng 2.3: BTLTTP đối với thu nhập không thường xuyên.

Bậc Thu nhập mỗi lần phát sinh Thuế suất (%)

Nền kinh tế ngày càng phát triển, có nhiều nguồn thu nhập phát sinh,đởi sống của người dân được nâng cao Pháp lệnh bộc lộ những hạn chế như:chưa bao quát được hết các đối tượng nộp thuế và các nguồn thu phát sinhtrong thực tế, mức khởi điểm chịu thuế không còn hợp lý cần được sửa đổi, bổsung

Trang 37

2.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1994 – trước năm 2004.

So với pháp lệnh ban hành lần đầu, những nội dung cơ bản thay đổitrong giai đoạn này:

- Đối tượng nộp thuế:

Bổ sung trường hợp công dân Việt Nam lao động, công tác ở nướcngoài có thu nhập cao vào đối tượng nộp thuế và xác định rõ người nướcngoài không định cư, không làm việc tại Việt Nam thì không đóng thuế theopháp lệnh này mặc dù có thu nhập tại Việt Nam: “Công dân Việt Nam ở trongnước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài và cá nhân khác định cư tại ViệtNam có thu nhập, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập, đềuphải nộp thuế thu nhập theo quy định tại pháp lệnh này”

- Thu nhập chịu thuế:

Sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng các khoản chịu thuế, thu đủ, thuđúng Pháp lệnh sửa đổi năm 1994 bổ sung thêm vào thu nhập không thườngxuyên chịu thuế các khoản thu nhập về tiền bản quyền sáng chế, nhãn hiệu…

- Kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế:

Thuế thu nhập đối với thu nhập thường xuyên được tính bình quântháng trong năm, kê khai và nộp hàng tháng, quyết toán cuối năm hoặc kếtthúc hợp đồng

Thuế thu nhập đối với thu nhập không thường xuyên nộp thuế theo từnglần phát sinh thu nhập

Các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ tiền thuếthu nhập để nộp thuế trước khi chi trả thu nhập

Trang 38

2.2.1.3 Giai đoạn từ năm 2004 – năm 2008.

Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2004 có những điểm mới thể hiện bướccải cách quan trọng như: giãn khoảng cách thu nhập chịu thuế, bổ sung trườnghợp ca sĩ, nghệ sĩ xiếc, múa, cầu thủ bóng đã, vận động viên chuyên nghiệpđược trừ 25% thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế, bỏ thuế thu nhập bổsung 30%

Nội dung cơ bản của Pháp lện thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2004

- Đối tượng nộp thuế:

Công dân Việt Namở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nướcngoài có thu nhập, cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưngđịnh cư không thời hạn ở Việt Nam có thu nhập, người nước ngoài làm việctại Việt Nam trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội,các văn phòng đại diện, các chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam; các

cá nhân hành nghề độc lập tại Việt Nam

- Thu nhập chịu thuế:

+ Thu nhập thường xuyên chịu thuế

Các khoản thu nhập dưới các hình thức tiền lương, tiền công…

Tiền thưởng tháng, quý, năm, thưởng đột xuất …

Thu nhập do tham gia dự án, hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị,hội đồng quản lý, hội đồng doanh nghiệp;

Tiền bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, tác phẩm…

Các khoản thu nhập của các cá nhân không thuộc đối tượng nộp thuếthu nhập doanh nghiệp như: thu nhập từ dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụtin học, dịch vụ tư vấn…

Các khoản thu nhập khác mà cá nhân được hưởng từ cơ quan chi trả thunhập

Trang 39

Đối với người nước ngoài được coi là không cư trú tại Việt Nam, thunhập chịu thuế là tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơinhận thu nhập ở Việt Nam hay ở nước ngoài.

Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam

từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam; đượccoi là không cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam dưới 183 ngày

+ Thu nhập không thường xuyên chịu thuế: chuyển giao các đối tượng

sở hữu công nghiệp, chuyển giao các bí quyết về công nghệ, kiến thức dướidạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, chuyển giao các giải pháphợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ, trúng thưởng xổ số…

Tạm thời chưa thu thuế thu nhập đối với cá nhân các khoản thu nhập

về lãi tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi tiền cho vay vốn, lãi mua tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán, chênh lệch mua bán chứng khoán

- Thuế suất

Thu nhập thường xuyên

Bảng 2.4: BTLTTP đối với người có thu nhập cao là công dân Việt Nam

và cá nhân khác định cư tại Việt Nam.

Trang 40

Bảng 2.5: Biểu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động,

công tác ở nước ngoài.

Đối với người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam: áp dụng thuế

suất 25% tính trên tổng thu nhập chịu thuế

T

hu nhập không thường xuyên

Thuế suất đối với thu nhập không thường xuyên được áp dụng đối vớitổng thu nhập chịu thuế

- Đối với thu nhập chịu thuế về chuyển giao công nghệ: Thuế suất 5%

- Đối với thu nhập chịu thuế về trúng thưởng xổ số, trúng thưởngkhuyến mại: Thuế suất 10%

2.2.2 Đánh giá thực trạng áp dụng thuế TNĐVNCTNC.

2.2.2.1 Kết quả đạt được:

Qua 18 năm áp dụng chính sách thuế Thu nhập đối với người có thu nhậpcao ở nước ta đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho ngânsách, kiểm soát thu nhập của cá nhân, phân phối lại thu nhập, thực hiện côngbằng xã hội cũng như bước đầu tạo thói quen và góp phần nâng cao nhận thứccủa các đối tượng nộp thuế về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế choNSNN

-Thứ nhất: Số thuế thu được ngày càng tăng trong tổng thu của ngân sách.

Thuế TNĐVNCTNC đã đóng góp nguồn thu vào NSNN ngày càng tăng.Tuy thu nhập chịu thuế chưa mở rộng đến mọi loại thu nhập, mức khởi điểmđược điều chỉnh tăng đối với người Việt Nam từ 0,5 triệu đồng lên đến 5 triệu

Ngày đăng: 14/08/2020, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Quốc Huy (2006), Luận văn Thạc sỹ “Chính sách thuế TNCN ở Việt Nam trong bối cánh hội nhập kinh tế quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quốc Huy (2006), Luận văn Thạc sỹ “Chính sách thuế TNCN ởViệt Nam trong bối cánh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Quốc Huy
Năm: 2006
14. Bộ Tài chính (2008), “Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2008), "“Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướngdẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủquy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
17. Nguyễn Thị Liên (2010), Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập trong thời kỳ hội nhập WTO” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Liên (2010), Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện chính sách thuếthu nhập trong thời kỳ hội nhập WTO
Tác giả: Nguyễn Thị Liên
Năm: 2010
19. Bộ Tài chính (2011), “Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày 04/08/2011 súa đổi, bổ sung thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009, thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 26/01/2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2011), “Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày 04/08/2011súa đổi, bổ sung thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009, thông tư số02/2010/TT-BTC ngày 26/01/2011
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
21. Tổng cục thống kê (2011), “Niên giám thống kê 2011” Nhà xuất bản Thống kê. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục thống kê (2011), "“Niên giám thống kê 2011”
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bảnThống kê. Hà Nội
Năm: 2011
22. Bộ Tài chính (2012), “Dự thảo Luật thuế Thu nhập cá nhân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2012), "“Dự thảo Luật thuế Thu nhập cá nhân
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
23. TS. Đỗ Thị Thìn (2012)– Tham gia ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập cá nhân Khác
24. Luật gia Vũ Xuân Tiến (2012) – Một số ý kiến góp ý vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điểu của Luật thuế TNCN Khác
25. ThS.Trần Minh Đức (2012) - Bảo đảm công bằng trong thuế thu nhập cá nhân. Tạp chí nghiên cứu kinh tế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w