Yêu cầu cải cách đặt ra đối với ngành Thuế xuất phát từ hiệuquả của công tác quản lý thuế nói riêng, hiệu quả của công tác quản lý hànhchính nhà nước nói chung và nằm trong Chương trình
Trang 1MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI CÁCH QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước để thực hiện các chứcnăng kinh tế - xã hội Thông qua hoạt động quản lý của cơ quan chức năng(Cơ quan Thuế), công cụ này sẽ có những tác động điều chỉnh nhất định trêncác mặt của nền kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳcủa Nhà nước Các tác động điều chỉnh trên của thuế đối với nền kinh tế quốcdân có đem lại hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào hệ thống thuế Nhànước ban hành có phù hợp và có được áp dụng bằng các phương pháp thíchứng với từng đối tượng, từng giai đoạn cụ thể hay không Từ đó, thấy đượctầm quan trọng của công tác quản lý thuế tại cơ quan quản lý hành chính nhànước trong lĩnh vực thuế (Cơ quan Thuế)
Ở nước ta, từ khi hệ thống thu thuế Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chínhđược thành lập (ngày 7-8-1990), hệ thống tổ chức quản lý thu thuế được tổchức thành một hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương, chịu tráchnhiệm quản lý thống nhất trong cả nước công tác thu thuế và thu khác Quagần 15 năm thực hiện, hoạt động của hệ thống này đã góp phần quan trọngvào việc hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách hàng năm, thuế đã phát huy đượcvai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo môi trường bình đẳng, thúc đẩy pháttriển sản xuất kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh giữa tất cả các thành phầnkinh tế
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế cũng như yêu cầuhội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống thuế nói chung, công tác quản lý thuế nói
Trang 2riêng còn bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi phải được cải cách để phù hợp vớitình hình mới Yêu cầu cải cách đặt ra đối với ngành Thuế xuất phát từ hiệuquả của công tác quản lý thuế nói riêng, hiệu quả của công tác quản lý hànhchính nhà nước nói chung và nằm trong Chương trình tổng thể cải cách hànhchính nhà nước 2001-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 17-9-2001.
Nhiệm vụ cải cách đã được cụ thể hóa thành chiến lược cải cách hệthống thuế Việt Nam đến năm 2010, đây là một chiến lược có sự nhất trí caotrong toàn ngành và đã được Bộ Chính trị phê duyệt với mục tiêu bao trùm làđảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước; góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội; xây dựng hệ thốngchính sách thuế đồng bộ, hợp lý, phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế, đồng thời hiệnđại hóa quản lý thuế cả về cơ chế quản lý, công nghệ quản lý, bộ máy và conngười quản lý
Từ những nhiệm vụ và tình hình thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu đề
tài "Một số giải pháp cải cách quản lý thuế ở Việt Nam" là yêu cầu cấp thiết
cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài này là làm rõ những vấn đề chung về quản
lý thuế, cả về lý luận cũng như thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay,kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm cải cách quản lý thuế của một số nướctrên thế giới Từ đó đề xuất một số giải pháp thực hiện cải cách quản lý thuếphù hợp với điều kiện của Việt Nam và phù hợp với định hướng cải cáchtrong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước 2001-2010
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 3Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết vàthực tiễn của công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong mối liên hệ với địnhhướng cải cách của ngành Thuế nói riêng cũng như chủ trương cải cách hànhchính của Nhà nước nói chung từ nay đến năm 2010.
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở vận dụng các kiến thức trong lĩnh vực thuế, các quy địnhhiện hành của Nhà nước, nội dung quản lý thuế ở Việt Nam đã được làm rõnét cả về lý luận và thực tiễn triển khai Kết quả là đề tài cung cấp nhữngnhận thức tương đối cơ bản và đầy đủ về công tác quản lý thuế ở Việt Nam vàmột số giải pháp trọng điểm để đến năm 2010, ngành Thuế Việt Nam có thểđạt được mục tiêu đã đề ra trong Chương trình cải cách hệ thống thuế đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201/2004/QĐ-TTG ngày 6-12-2004
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản lý thuế và cải cách quản lýthuế ở một số nước trên thế giới
Chương 2: Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp cải cách quản lý thuế ở Việt Nam
Trang 4Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ CẢI CÁCH QUẢN LÝ THUẾ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ
1.1.1 Quản lý hành chính nhà nước
Quản lý và vai trò của quản lý
Bất kỳ một hoạt động nào cũng bao hàm trong đó hai yếu tố cơ bản: đó
là bản thân hoạt động và yếu tố quản lý do con người đảm nhận Hoạt động tựbản thân nó không có ý nghĩa mà cần có sự nhận thức và vận dụng sáng tạocủa con người Nói cách khác, hoạt động bản thân nó không phản ánh điều gì
mà chỉ có thông qua công tác quản lý của con người, nó mới bộc lộ hết ưuđiểm, nhược điểm Trong bản thân hoạt động tồn tại những mâu thuẫn nhấtđịnh mang tính tự thân và đòi hỏi được giải quyết thông qua hoạt động quảnlý
Như vậy, thông qua quản lý, các hoạt động trong xã hội được "vậnđộng", được điều chỉnh và hoàn thiện, phát huy vai trò trong thực tiễn đờisống Đây là tác động vô cùng quan trọng của quản lý tới sự phát triển của xãhội
Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh trong đời sống kinh tế
xã hội để đạt được mục tiêu tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lýđịnh trước Một hoạt động quản lý bao giờ cũng bao gồm 3 yếu tố cơ bản:
- Chủ thể quản lý là con người hoặc tổ chức tác động lên đối tượngquản lý bằng những công cụ với những phương pháp thích hợp theo nhữngnguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý là đối tượng tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủthể quản lý
Trang 5- Khách thể quản lý chịu sự tác động của chủ thể quản lý, có thể là conngười hoặc các quá trình xã hội.
Như vậy có thể hiểu quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổchức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điềuchỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định
và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định
Xã hội càng phát triển, với nhiều công nghệ mới ra đời, các hoạt độngcàng đa dạng và phong phú thì nội dung của quản lý mở rộng hơn và yêu cầuđối với quản lý phức tạp hơn Tuy nhiên, trong bất kỳ điều kiện xã hội nàocũng cần xem xét quản lý trong mối quan hệ tác động với 05 nhóm yếu tố sau:yếu tố con người, yếu tố tổ chức, yếu tố chính trị, yếu tố quyền lực và yếu tốthông tin
Quản lý hành chính nhà nước
Khái niệm
Trong xã hội, do sự tồn tại của nhiều tổ chức và nhiều thành phần kinh
tế, tùy theo từng chủ thể kinh tế mà quản lý được hiểu và vận dụng khác nhau
Hiểu theo nghĩa rộng, quản lý hành chính là hoạt động quản lý, điềuhành công việc của mọi tổ chức nhà nước cũng như của doanh nghiệp, các tổchức chính trị, xã hội theo chức năng và điều lệ của tổ chức
Trong quản lý nhà nước, quản lý hành chính nhà nước được hiểu là mộtdạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhànước để tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động củacon người Như vậy, có thể hiểu quản lý hành chính nhà nước là hoạt độnghành chính của các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước để quản lý, điều hànhcác lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật pháp
Chủ thể củ quản lý hành chính nhà nước gồm có: Chính phủ và cơ quanchính quyền địa phương các cấp (không bao gồm các tổ chức thuộc Nhà nước
Trang 6nhưng không nằm trong cơ cấu quyền lực như các doanh nghiệp và các đơn vị
sự nghiệp), các cơ quan quyền lực nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, tư phápkhông thuộc hệ thống quản lý hành chính nhưng trong cơ chế vận hành củamình cũng có công tác hành chính
Công tác quản lý hành chính nhà nước được thực hiện phải dựa trên cơ
sở các văn bản pháp quy đã được ban hành Thông qua quản lý hành chínhnhà nước, các văn bản pháp quy này được vận dụng vào thực tiễn đời sống xãhội bằng việc tổ chức, điều hành, kiểm tra, đánh giá của các chủ thể quản lý
Ở nước ta, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyềnhành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằngquyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạtđộng của con người do các cơ quan trong hệ thống chính phủ từ trung ươngđến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nướcnhằm duy trì và phát triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự tư pháp củacon người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Cách hiểu như trên về quản lý hành chính nhà nước bao hàm 3 nộidung sau:
- Quản lý hành chính nhà nước, bản thân nó không phải là quyền lựcchính trị mà là sự vận dụng quyền lực chính trị để thực thi quyền hành pháp.Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất thực hiện quyền hành pháp cao nhấtđối với toàn dân và toàn xã hội Chính phủ thực hiện chức năng của mìnhthông qua hệ thống thể chế hành chính của nền hành chính nhà nước và đượccoi là cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước
- Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tổ chức và có điềuchỉnh
Tổ chức được coi là chức năng quan trọng nhất của quản lý hành chínhnhà nước Đó là việc thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người,
Trang 7giữa các tập thể để thực hiện quản lý hành chính nhà nước trong một quá trình
xã hội Như vậy, để quản lý thì trước tiên phải thực hiện tổ chức, coi tổ chứcnhư một sự sắp xếp định hướng ban đầu, không có tổ chức thì không thể quản
+ Ra quyết định quản lý phải dựa trên cơ sở luật pháp
+ Nghiêm túc thực hiện các quy trình và thủ tục
+ Đánh giá đúng thực chất của hành vi để ra quyết định đúng đắn.+ Thực hiện đầy đủ và nghiêm minh nguyên tắc pháp chế trong quản
lý, chống phong cách qua loa, nể nang, tùy tiện trong quản lý
+ Kết hợp pháp lý và đạo lý trong quản lý
Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là một dạng quản lý xã hội nói chungnhưng nó là dạng quản lý xã hội đặc biệt những đặc điểm "đặc biệt" của quản
lý hành chính nhà nước cho phép phân biệt dạng quản lý này với các dạngquản lý xã hội khác Quản lý hành chính nhà nước có các đặc điểm cơ bảnsau:
Trang 8- Quản lý hành chính nhà nước có tính quyền lực đặc biệt, thể hiệnmệnh lệnh đơn phương của chủ thể quản lý và tính chấp hành vô điều kiệncủa khách thể quản lý hành chính nhà nước.
- Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có mục tiêu chiến lược, cóchương trình và kế hoạch để thực hiện mục tiêu
- Quản lý hành chính nhà nước có tính chủ động, sáng tạo, linh hoạttrong việc điều hành, phối hợp để huy động mọi lực lượng phát huy hết sứcmạnh để thực hiện luật pháp, chính sách và mệnh lệnh của cấp trên trongkhuôn khổ phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền và đúng nguyên tắc tậptrung dân chủ
- Quản lý hành chính nhà nước có tính liên tục và tương đối ổn định
- Quản lý hành chính nhà nước có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệpcao Quản lý hành chính nhà nước được coi là một nghề tổng hợp, phức tạp vàsáng tạo nhất trong các nghề
Quản lý hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa là một dạng quản lý đặcbiệt hơn cả vì ngoài các đặc điểm chung của quản lý hành chính nhà nước nóichung còn mang những đặc điểm riêng như sau:
- Quản lý hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa không có sự tách biệttuyệt đối về mặt xã hội giữa người quản lý và người bị quản lý
- Quản lý hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa không vụ lợi Ở đây,Quản lý hành chính nhà nước không có mục đích tự thân mà tồn tại vì xã hội,phục vụ lợi ích công cộng và lợi ích nhân dân
- Quản lý hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa mang tính nhân đạo.Những đặc điểm riêng có của Quản lý hành chính nhà nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa xuất phát từ bản chất của Nhà nước dân chủ xã hội chủnghĩa: Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả các hoạt động của nền hànhchính nhà nước đều có mục tiêu phục vụ con người, tôn trọng quyền và lợi ích
Trang 9hợp pháp của công dân, coi đó là xuất phát điểm của hệ thống luật, thể chế,quy tắc và thủ tục hành chính.
Phạm vi của quản lý hành chính nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước được thể hiện trong thực tiễn đời sống xãhội là các mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động cụ thể của từng cơ quanhành chính nhà nước Tất cả các cơ quan hành chính ở trung ương và địaphương đều có mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền; có cơcấu tổ chức và đội ngũ công chức tương ứng để thực hiện chức năng hànhpháp trong hành động về các lĩnh vực và các mặt sau:
- Quản lý hành chính nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao,
- Quản lý hành chính nhà nước về tổ chức bộ máy hành chính
Quy trình của quản lý hành chính nhà nước
Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của từng nội dung quản lý hành chínhnhà nước nêu trên, một quy trình hoạt động của quản lý hành chính nhà nước
đã được xây dựng và là yêu cầu bắt buộc tuân thủ đối với các cơ quan hànhchính, các viên chức lãnh đạo và công chức ở các ngành, các cấp Quy trìnhđược cụ thể gồm 7 bước sau:
- Quy hoạch, kế hoạch
Chính phủ, các Bộ ngành, các chính quyền địa phương phải xây dựng
và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, địa phương dựa
Trang 10trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế, xã hội được hoạch định trong đườnglối của Đảng và được Quốc hội thông qua.
- Ra sức quyết định hành chính và tổ chức thực hiện quyết định
Để ra quyết định hành chính và tổ chức thực hiện quyết định một cáchhiệu quả cần tiến hành tập hợp đầy đủ thông tin, xử lý thông tin để đề ra cácphương án khác nhau, trên cơ sở thẩm định các phương án để lựa chọnphương án có hiệu quả nhất, từ đó ban hành quyết định hành chính
- Phối hợp
Xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp hiệu quả "Phối hợp" được hiểu
là tạo đồng bộ hoạt động theo cấp và phân hệ trong hệ thống hành chính Việcphối hợp được thực hiện giữa các cơ quan hành chính với các tổ chức xã hội,
tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp để thực hiện các quyết định quản lý
- Sử dụng nguồn tài lực
Có 3 nội dung cần thực hiện để sử dụng nguồn tài lực trong quá trìnhquản lý hành chính nhà nước Đó là: xây dựng ngân sách, chú trọng khai thácnguồn thu nhất là thuế; sử dụng hiệu quả ngân sách đúng chế độ, đúng chủtrương ngân sách; quản lý chặt chẽ tài sản công bao gồm cơ sở vật chất,phương tiện làm việc
Trang 11- Giám sát, kiểm tra, báo cáo, tổng kết, đánh giá
Sau khi có quyết định phải tổ chức triển khai kịp thời Tạo lập một hệthống giám sát, kiểm tra thực sự có hiệu quả, thường xuyên để có biện phápđiều chỉnh kịp thời Bên cạnh đó, việc báo cáo - tổng kết - đánh giá giúp cán
bộ lãnh đạo rút kinh nghiệm qua thực tiễn quản lý để có giải pháp nâng caochất lượng công tác trong thời gian tới
1.1.2 Quản lý thuế
Thuế và hệ thống thuế
Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thuế
Thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồntại và phát triển của bộ máy nhà nước Nhà nước ra đời và để duy trì sự tồn tạicủa mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộphận của cải trong xã hội để chi phí cho bộ máy hành chính nhà nước Việchuy động này chỉ có thể được thực hiện bằng cách bắt buộc sự đóng góp củacác cá nhân trong xã hội Đó là lý do làm xuất hiện phạm trù thuế Từ khi rađời, thuế được nhìn nhận dưới rất nhiều quan điểm khác nhau
Khái quát toàn bộ các trường phái lý thuyết thuế khác nhau có thể thấythuế có những đặc trưng chung chủ yếu sau:
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ phátsinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội
- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cáchkhách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt
- Theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước đượcpháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định
Với những nét chung nêu trên có thể nhận thức một cách toàn diện vềthuế như sau: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể
Trang 12nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quyđịnh, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Thuế có những đặc điểm riêng có giúp phân biệt thuế với các hình thứcđộng viên khác của Nhà nước
- Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự.
Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E.Stiglit cho rằng: "Thuế khác với đa
số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: trong khi tất cảcác khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc" Đây chính làđặc điểm để phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác củaNSNN Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền
tệ được hình thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt Việcphân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là phương thức phânphối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập củangười nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm một sự cấpphát hoặc quyền lợi trực tiếp nào cho người nộp thuế
Tính bắt buộc của thuế được bắt nguồn từ những lý do sau:
Trong xã hội, Nhà nước là chủ thể chủ yếu sản xuất và cung cấp hànghóa công cộng để phục vụ nhu cầu của các thành viên trong xã hội Bởi nhữnghàng hóa công cộng có tính chất đặc biệt: nó không thể phân bổ theo khẩuphần và những người thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo khẩu phần.Mặt khác, hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh và không thể đemtrao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắp các chi phí Việc sử dụng các hànghóa công cộng cũng có tính chất đặc biệt, không xác định được ai sử dụngnhiều, ai sử dụng ít và không ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hànghóa đó, nghĩa là đã xuất hiện những "người ăn không" Chính vì thế, không có
cá nhân - tổ chức nào muốn sản xuất và cung cấp loại hàng hóa này Nhà nước
Trang 13phải đứng ra đảm nhiệm theo đúng chức năng của nó Để thực hiện chức năngnày, Nhà nước phải đặt ra sự đóng góp mang tính bắt buộc - thuế - để buộc
"người ăn không" phải chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vựccông
Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụthể nào của người nộp thuế nên không thể sử dụng phương pháp tự nguyệntrong việc chuyển giao Như vậy, để đảm bảo nhu cầu chỉ tiêu công cộng, Nhànước phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhậpphải chuyển giao một phần thu nhập vào ngân sách nhà nước
Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự Hànhđộng đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểuhiện phạm pháp Hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ củangười công dân với Nhà nước
- Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Các thể nhân và pháp nhân thực hiện chuyển giao một phần thu nhậpvào NSNN suy cho cùng sẽ nhận được các dịch vụ công cộng của Nhà nước.Tuy nhiên, người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cungcấp hàng hóa dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình thì mới thực hiện việcchuyển giao thu nhập cho Nhà nước Và mức độ thụ hưởng các dịch vụ vàhàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp cho người nộp thuế không hoàntoàn dựa trên mức thuế mà các đối tượng này chuyển giao cho Nhà nước.Mức độ này phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội cũng như nhu cầu tài chính chung của Nhà nước
- Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập được quy định trước bằng pháp luật.
Trang 14Để huy động nguồn tài chính thông qua thuế Nhà nước phải sử dụngquyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng luật pháp Đặc điểmnày thể hiện tính pháp lý cao của thuế Trong quá trình xây dựng hệ thống vănbản pháp luật điều chỉnh hoạt động này Nhà nước không được tùy tiện màphải dựa trên những cơ sở khoa học nhất định.
- Thuế là một hình thức phân phối lại, chứa đựng yếu tố kinh tế - xã hội.
Việc đánh thuế của Chính phủ không thể thoát ly khỏi yếu tố kinh tế, xãhội bởi vì nguồn từ thuế chính là kết quả của quá trình hoạt động kinh tế.Không có hoạt động kinh tế hoặc hoạt động kinh tế kém hiệu quả không thểtạo ra nguồn thu của thuế Ngược lại, việc đánh thuế của Chính phủ tất yếu sẽảnh hưởng đến quá trình kinh tế, xã hội thông qua việc sử dụng nguồn lực tàichính này để sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng, để duy trì vàthúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồntại và phát triển của bộ máy nhà nước Thuế được coi là một công cụ hữu íchcủa Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế bởi nó có hai chức năng cơbản sau: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và chức năngđiều tiết
- Thứ nhất, chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước
Xét về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chứcnăng đầu tiên phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế Trong quá trình tồn tại
và phát triển của mình, chức năng của Nhà nước được mở rộng và phát triển,nhu cầu chi tiêu tài chính ngày càng tăng Huy động nguồn lực tài chính từthuế trở thành cấp thiết và thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất trongNSNN
- Thứ hai, chức năng điều tiết kinh tế
Trang 15Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được nhận thức và sử dụng phổbiến từ những năm đầu của thế kỷ XX Việc tăng cường vai trò kinh tế xã hộicủa Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên đòihỏi Nhà nước phải mở rộng quỹ tài chính nhà nước để đáp ứng nhu cầu này.Thuế với chức năng là kênh huy động nguồn lực chủ yếu của NSNN đã tạotiền đề khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế hay nói cáchkhác, quá trình thực hiện tập trung nguồn lực thông qua thuế đã làm xuất hiệnchức năng điều tiết kinh tế của thuế.
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế thể hiện thông qua việc quy địnhcác hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế vàđối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đếnkhả năng của người nộp thuế Thông qua việc đưa các quy định về thuế vàothực tế đời sống, Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạochung và phù hợp với lợi ích của xã hội Trong nền kinh tế thị trường, vai tròkích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao, chức năng điềutiết kinh tế của thuế được Nhà nước phát huy để tác động đến lợi ích kinh tếcủa các chủ thể kinh tế vì lợi ích của xã hội
Hai chức năng cơ bản của thuế có mối quan hệ biện chứng Biểu hiện:chức năng huy động nguồn lực tài chính xuất hiện cùng với sự ra đời của thuế
và được coi là chức năng cơ sở quy định sự tác động và sự phát triển của chứcnăng điều tiết Việc vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế làm chochức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng thuế với hai chức năng cơ bản này,cần nhận thức: một mặt, sự tăng cường chức năng huy động tập trung làm chothu nhập của Nhà nước tăng lên từ đó mở rộng khả năng thực hiện cácchương trình kinh tế xã hội của Nhà nước Mặt khác, việc tăng cường chứcnăng huy động một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả của
Trang 16nó là làm giảm động lực kinh tế cũng có nghĩa là làm giảm hiệu quả của chứcnăng điều tiết kinh tế Từ đó, Nhà nước cần phân tích đúng đắn tính hai mặtcủa sự tác động từ thuế trong quá trình hoạch định chính sách thuế ở mỗi giaiđoạn phát triển kinh tế khác nhau để hai chức năng cơ bản của thuế bổ trợ hữuích cho nhau nhằm đạt mục tiêu chung của Nhà nước trong quản lý kinh tế xãhội.
Hệ thống thuế
Một hệ thống thuế bao gồm các bộ phận chính sau: hệ thống chính sáchthuế và hệ thống các định chế về thuế
- Hệ thống chính sách thuế Đó là tổng hợp các hình thức thuế khácnhau với cơ chế hoạt động, đối tượng điều chỉnh, phương pháp đánh thuế,mức độ điều tiết và phương pháp thu nộp khác nhau, phản ánh mục tiêu điềuchỉnh kinh tế vĩ mô của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn phát triểnkinh tế của đất nước Các hình thức thuế có mối quan hệ mật thiết, tác độnglẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước
Hệ thống chính sách thuế gồm có: các chính sách thuế trong phạm vi nội luật
và các thỏa thuận, cam kết quốc tế về thuế được ban hành dưới dạng các vănbản quy phạm pháp luật về thuế (Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Hiệpđịnh về thuế )
Các hình thức thuế nằm trong hệ thống thuế có thể được phân loại dựatrên nhiều tiêu thức khác nhau Trên thực tế thường sử dụng hai tiêu thức cơbản là phương thức đánh thuế và cơ sở đánh thuế để phân loại thuế
* Phân loại theo phương thức đánh thuế: bao gồm thuế trực thu và thuếgián thu
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản củangười nộp thuế Đối tượng nộp thuế đồng nhất với đối tượng chịu thuế Đây làloại thuế mang tính lũy tiến vì có tính đến khả năng của người nộp thuế,
Trang 17người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp.Thuế trực thu thường bao gồm sắc thuế đánh trên thu nhập của tổ chức và cánhân Các sắc thuế trực thu ở nước ta bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp,thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế sử dụng đất nông nghiệp,thuế nhà - đất
Thuế gián thu là loại thuế đánh gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa,dịch vụ Người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu loại thuế này Đốitượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế không đồng nhất Nó ảnh hưởng đếnhoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả thị trường Đây là loạithuế mang tính lũy thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của ngườinộp thuế
* Phân loại thuế theo cơ sở đánh thuế: bao gồm thuế thu nhập, thuế tiêudùng, thuế tài sản
Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhậpkiệm được Khoản thu nhập này có thể có từ nhiều nguồn: từ lao động dướidạng tiền lương - tiền công, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dướidạng lợi nhuận - lợi tức cổ phần Từ đó quy định các loại thuế tương ứng:thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế tiêu dùng là loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổchức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại Các loại thuế trongnhóm này gồm có: thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị giatăng
Thuế tài sản là loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản, bao gồmthuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp
Việc phân loại thuế theo các tiêu thức khác nhau như trên giúp xâydựng một hệ thống chính sách thuế hiệu quả, phù hợp với năng lực quản lý
Trang 18của ngành, tâm lý chung của xã hội và mục tiêu điều tiết thu nhập của Nhànước.
Tùy thuộc vào khả năng và ý đồ của Chính phủ trong việc điều chỉnh
sự vận động của các dòng thu nhập ở những giai đoạn phát triển kinh tế khácnhau và mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ màChính phủ quy định số lượng hình thức thuế trong hệ thống chính sách thuếnhiều hay ít Nhìn chung, trong hệ thống thuế thường bao gồm các hình thứcthuế cơ bản sau: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thunhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế trước bạ, thuếnhà đất,
- Hệ thống các định chế về thuế Đó là tổng hợp các quy định, các biệnpháp về nghiệp vụ, về tổ chức, về kinh tế và hành chính và cơ chế vận hànhchúng nhằm tổ chức có hiệu quả việc thi hành các luật thuế như: các biệnpháp nghiệp vụ, các thủ tục, quy trình quản lý và thu thuế; bộ máy, trường đàotạo, bồi dưỡng cán bộ thuế và hệ thống các tổ chức tư vấn, dịch vụ thuế
Hệ thống thuế có hai tính chất cơ bản:
- Thứ nhất, tính tương hỗ
Các bộ phận của hệ thống thuế luôn có quan hệ ảnh hưởng qua lại và
đó là mối quan hệ nhân quả Chính sách thuế hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việcthực thi các luật thuế Tuy nhiên, nếu hệ thống quản lý thuế không tốt thì dùchính sách thuế có được xây dựng hợp lý thì việc triển khai các luật thuế sẽkhông đem lại hiệu quả như mong muốn
- Thứ hai, tính không ổn định
Hệ thống thuế thay đổi để phù hợp với diễn biến kinh tế chính trị xã hộicủa một quốc gia Một phần tử của hệ thống thuế thay đổi đều làm nảy sinhnhững thay đổi của những bộ phận khác Hiệu quả của sự thay đổi phải đượctính trên hiệu quả của toàn hệ thống
Trang 19Để đánh giá hệ thống thuế của một quốc gia, chất lượng của hệ thốngthuế là yếu tố được đề cao hơn là số lượng các hình thức thuế trong hệ thống.Mỗi quốc gia tùy theo điều kiện lịch sử kinh tế, xã hội ở các giai đoạn khácnhau mà định hướng xây dựng hệ thống thuế riêng của mình Hệ thống thuế
đó phải phản ánh được những mục tiêu của Nhà nước đặt ra Vì vậy, việc tìm
ra những tiêu thức chung để đánh giá một hệ thống thuế có hiệu quả haykhông không phải đơn giản Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét các yêu cầu chungcủa sự phát triển nền kinh tế quốc dân cũng như đòi hỏi của một xã hội dânchủ trong việc xác lập một hệ thống thuế tích cực, phù hợp và hiệu quả, có thểthông qua một số tiêu thức để đánh giá
Trong tác phẩm "Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có củanhân loại" nhà kinh tế học Adam Smith đã vạch ra bốn nguyên tắc cơ bản xâydựng hệ thống thuế hợp lý, đó là: "thuế phải huy động phù hợp với khả năng
và sức lực của dân cư; mức thuế và thời hạn thanh toán phải được xác địnhchính xác; thời gian thu thuế cần được quy định thuận lợi đối với người nộpthuế; các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải rất thấp
Đây là những nguyên tắc nền tảng để các nhà kinh tế học hiện đại hoànchỉnh, bổ sung và khái quát thành những tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá một hệthống thuế hiệu quả và là kim chỉ nam để xây dựng hệ thống chính sách thuế
ở các nước có nền kinh tế thị trường Hệ thống tiêu chuẩn của một hệ thốngthuế hiện đại là: tính công bằng, tính hiệu quả, tính linh hoạt, tính thông lệ vàcạnh tranh quốc tế Các tiêu chuẩn này là thống nhất và hỗ trợ cho nhau cùngphát triển Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng hệ thống thuế cónhững mâu thuẫn phát sinh đòi hỏi Nhà nước phải cân nhắc và xử lý hài hòa
để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế đất nước và đặt trong các mối quan hệ kinh
tế khu vực và quốc tế có liên quan
Trang 20Vận dụng vào tình hình thực tiễn nước ta hiện nay thì hệ thống thuế cầnđảm bảo các tiêu thức cụ thể sau:
- Thuế phải bao quát hết nguồn thu để quản lý và thu cho NSNN
- Thuế phải là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế có hiệu quả góp phầnkhuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư và khuyếnkhích tối đa cho xuất khẩu nhằm thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
- Thuế phải góp phần động viên công bằng, hợp lý thu nhập xã hội
- Chính sách thuế khoa học, đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, dễ làm, phù hợpvới thông lệ quốc tế, tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với thếgiới, phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước trong từng thời kỳ cũng nhưtruyền thống, phong tục tập quán của dân tộc
Trong quá trình đưa hệ thống thuế vào thực tiễn sẽ có những tác độngnhất định đến đời sống kinh tế xã hội đất nước, đó chính là vai trò của thuế
Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của thuế là biểu hiện cụ thể chức năng của thuế trong nhữngđiều kiện kinh tế xã hội nhất định Trong nền kinh tế thị trường, vai trò củathuế được thể hiện trên những mặt sau:
- Thuế là công cụ chủ yếu tập trung nguồn thu cho NSNN
Có nhiều hình thức huy động nguồn lực tài chính mà Nhà nước có thể
sử dụng trong quá trình hoạt động, đó là: phát hành thêm tiền; phát hành tráiphiếu để vay trong nước và ngoài nước; bán một phần tài sản quốc gia; thuthuế Trong đó, thuế là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất Bởi công cụ thuế
có ưu điểm hơn so với các công cụ khác:
Thứ nhất, thuế là công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn.Đối tượng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân và phát sinhnguồn thu nhập nộp thuế
Trang 21Thứ hai, phương thức huy động của thuế là sử dụng phương phápchuyển giao thu nhập bắt buộc Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế được đảm bảotập trung một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định.
Thứ ba, thông qua thu thuế một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội vàthu nhập quốc dân trong nước tạo ra đã tập trung vào NSNN để đảm bảo nhucầu chi tiêu công cộng và thực hiện các biện pháp kinh tế xã hội
Ty thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước để huy động nguồn lực tàichính cho NSNN nhưng trong quá trình sử dụng công cụ này cũng cần nhậnthấy rằng mức độ động viên từ thuế chỉ có một giới hạn nhất định Nếu Nhànước dùng quyền lực tập trung quá mức phần thu nhập từ tổng sản phẩm quốcnội vào cho NSNN thì phần thu nhập từ tổng sản phẩm quốc nội còn lại dànhcho doanh nghiệp và cá nhân sẽ giảm xuống Đến một lúc nào đó, nếu họnhận thấy công tác họ bỏ vào kinh doanh, làm việc không được bù đắp mộtcách thỏa đáng thì họ sẽ nghỉ không kinh doanh hoặc chuyển sang kinh doanhngầm, tìm mọi cách trốn thuế Từ đó cho thấy, khả năng thu thuế tối đa choNSNN là khoản thu nhập các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng dành ra đểtrả thuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có của họ Đứng trên giác
độ nền kinh tế quốc dân khả năng thu thuế của một quốc gia được phản ánhthông qua tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhập quốc nội được động viên vàoNSNN
- Thuế là công cụ của Nhà nước để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện điều tiết kinh tế ở tầm
vĩ mô bằng cách đưa ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diệnrộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế xã hội theocác mục tiêu Nhà nước đã định và tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt độngkinh tế xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp
Trang 22Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng các biện pháp nhưgiáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biệnpháp kinh tế là gốc Trong các biện pháp kinh tế, thuế là công cụ quan trọng
và sắc bén nhất
Nội dung điều chỉnh của thuế đối với nền kinh tế quốc dân rất rộng, baohàm hầu hết các quá trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế Dưới đây là một số nộidung điều tiết cơ bản của thuế đối với nền kinh tế quốc dân:
Thứ nhất, thuế góp phần điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế
Thuế được Nhà nước sử dụng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn địnhcủa nền kinh tế: trong thời kỳ khủng hoảng và suy thoái kinh tế, Nhà nước cóthể hạ thấp mức thuế, tạo điều kiện ưu đãi về thuế nhằm kích thích tiêu dùng,tăng đầu tư và mở rộng sức sản xuất Ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế pháttriển quá mức có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, Nhà nước có thể giữ nhịp độtăng trưởng theo mục tiêu đặt ra bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư
Thứ hai, thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầucủa từng giai đoạn phát triển
Hệ thống thuế được Nhà nước ban hành thể hiện ý chí của Nhà nướctrong việc điều chỉnh cơ cấu ngành trong nền kinh tế vì qua đó, Nhà nước quyđịnh đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với mức thuế suất cao hoặcthấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể Mục tiêu nhằm thúc đẩy sựphát triển của những ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ tăngtrưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành nghề trong nền kinhtế
Thứ ba, thuế góp phần điều tiết việc làm và thất nghiệp
Trong thời kỳ nền kinh tế có mức thất nghiệp cao thì cùng với việc mởrộng các khoản chi tiêu của Chính phủ, thuế được cắt giảm để tăng tổng cầu
và việc làm Ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế lạm phát, cùng với việc cắt
Trang 23giảm các khoản chi tiêu của Chính phủ, thuế được gia tăng làm giảm tổng cầu
và hạn chế sự gia tăng của nền kinh tế
Thứ tư, thuế góp phần thực hiện chính sách đối ngoại, bảo hộ nền sảnxuất trong nước và thúc đẩy sự hòa nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Việc quy định đối tượng nộp thuế, điều chỉnh mức thuế suất của một sốloại thuế (chủ yếu là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) sẽ góp phần điều chỉnhkhối lượng hàng hóa đưa ra và đưa vào thị trường để thực hiện bảo hộ nền sảnxuất trong nước và bảo vệ lợi ích của thị trường nội địa
- Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối
Sự chênh lệch về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong
xã hội là một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường Kinh tếcàng phát triển thì sự chênh lệch này càng lớn và có xu hướng gia tăng nếukhông có sự điều chỉnh của Nhà nước Việc điều hòa thu nhập giữa các tầnglớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt làhình thức thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này có đối tượng chịu thuế hầu hết
là các loại hàng hóa cao cấp, đắt tiền mà thông thường chỉ có những người cóthu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng hoặc sử dụng nhiều, qua đó điềutiết bớt một phần thu nhập của họ Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thunhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất lũy tiến là sắc thuế có tác dụng rấtlớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội
Các tác động điều chỉnh trên của thuế đối với nền kinh tế quốc dân cóđem lại hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào hệ thống thuế Nhà nước banhành có phù hợp và có được áp dụng bằng các phương pháp thích ứng vớitừng đối tượng, từng giai đoạn cụ thể hay không Từ đó, thấy được tầm quantrọng của công tác quản lý thuế tại cơ quan quản lý hành chính nhà nướctrong lĩnh vực thuế (Cơ quan Thuế)
Trang 24Quản lý thuế
Khái niệm
Với vai trò quan trọng của thuế trong nền kinh tế quốc dân, công tácquản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế đặt ra cho các cơ quan hànhchính trong lĩnh vực thuế những yêu cầu nhất định trong quá trình triển khaithực hiện
Quản lý thuế là một bộ phận của quản lý hành chính nhà nước Nói đếnquản lý thuế là nói đến các vấn đề chủ yếu sau:
Một là, xác lập chính sách thuế, xây dựng pháp luật, chế độ trong lĩnhvực thuế
Hai là, xây dựng và thực hiện quy trình, thủ tục quản lý và hành thu cụthể
Ba là, tổ chức bộ máy ngành Thuế, cùng với việc quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và những vấn đề nhân sự trong nội bộ ngành Thuế đồngthời xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý cũng như mối quan hệ giữacác bộ phận trong các cơ quan quản lý thuế với nhau và mối quan hệ giữa các
cơ quan nhà nước với công dân
Bốn là, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ phục vụ cho côngtác quản lý thuế
Như vậy, có thể hiểu quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế
là sự điều hành, tổ chức thực hiện và giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của
cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế (Cơ quan Thuế) đối với cácchủ thể thực hiện pháp luật thuế (còn gọi là đối tượng nộp thuế) nhằm hướngtới các mục tiêu cơ bản là: Huy động và tập trung đầy đủ, kịp thời số thu choNSNN, phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế và nâng cao ý thứctuân thủ pháp luật cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội
Trang 25Các yếu tố nền tảng có tính quyết định đến năng lực quản lý hành chínhnhà nước trong lĩnh vực thuế bao gồm:
- Thể chế về thuế
- Bộ máy tổ chức ngành Thuế
- Cán bộ ngành Thuế
- Công nghệ thông tin và cơ sở vật chất ngành Thuế
Thể chế về thuế bao gồm các quy định về chính sách thuế và quy trình,
thủ tục hành chính thuế tại các văn bản pháp luật về thuế như Luật thuế, Pháplệnh thuế và các văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Luật thuế, Pháp lệnhthuế
Chính sách thuế có chức năng huy động nguồn lực tài chính từ nhândân vào NSNN, đòn bẩy khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, xuấtkhẩu và điều tiết thu nhập, hướng tới công bằng xã hội Chủ thể thực hiệnpháp luật thuế là đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế và các tổ chức, cá nhân cóliên quan Các thủ tục thuế được quy định nhằm đảm bảo cho đối tượng nộpthuế chấp hành chính sách thuế với trình tự không gian và thời gian theo đúngtrình tự quy định, đồng thời tạo công cụ cho cơ quan thuế làm nhiệm vụ tổchức thực hiện chính sách thuế và giám sát, cưỡng chế đối tượng nộp thuếthực hiện chính sách thuế Bên cạnh các thủ tục thuế là các quy trình quản lýthuế: quy trình đăng ký đối tượng nộp thuế; tiếp nhận xử lý tờ khai, công văn;tính thuế và thông báo thuế; quản lý, hướng dẫn, đôn đốc thu, nộp thuế; thanhtra, kiểm tra thuế
Bộ máy tổ chức ngành Thuế: Tổ chức bộ máy ngành là việc sắp xếp
nhân sự vào các bộ phận thích hợp để triển khai nhiệm vụ của ngành Bộ máyngành Thuế bao giờ cũng phải xây dựng dựa trên cơ sở là hệ thống chính sáchthuế và quy trình nghiệp vụ quản lý thu thuế nhằm thực hiện tốt nhất hệ thốngchính sách và đáp ứng yêu cầu của quy trình quản lý
Trang 26Trên thế giới có ba mô hình tổ chức bộ máy đang được áp dụng phổbiến Đó là:
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý theo sắc thuế: là việc tổ chức bộ máyquản lý thuế thành từng phòng, ban riêng biệt để quản lý một hoặc một số loạithuế cụ thể Đặc điểm của mô hình này là mỗi phòng, ban thực hiện tất cả cácchức năng để quản lý các loại thuế mà phòng, ban đó chịu trách nhiệm
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý theo chức năng: Cơ quan Thuế tổchức bộ máy thành các bộ phận riêng để thực hiện từng chức năng quản lýchính đối với tất cả các loại thuế Hầu hết các cơ quan thuế khi chuyển đổisang mô hình này đều chịu áp lực mạnh bởi đối tượng nộp thuế phải quản lýtăng lên quá nhanh với số lượng lớn Do đó cơ quan thuế phải gộp các chứcnăng tương tự nhau trong các phòng, ban quản lý theo sắc thuế thành mộtphòng, ban quản lý chung cho tất cả các sắc thuế
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý theo nhóm đối tượng nộp thuế: tổchức bộ máy quản lý thuế theo từng phòng, ban chịu trách nhiệm cung cấpđầy đủ các dịch vụ và quản lý một nhóm đối tượng nộp thuế xác định Việcphân nhóm đối tượng nộp thuế dựa trên quy mô hoạt động của đối tượng nộpthuế: lớn, vừa và nhỏ
Mỗi mô hình tổ chức bộ máy đều có ưu điểm và nhược điểm Vì vậy,khi xây dựng tổ chức bộ máy phải nghiên cứu kỹ từng mô hình và đặt nó vàođiều kiện kinh tế xã hội của từng quốc gia cũng như mục tiêu phát triển củaNhà nước để lựa chọn, xây dựng và áp dụng mô hình hiệu quả nhất
Cán bộ ngành Thuế: Đội ngũ này là những người làm nhiệm vụ công
trong bộ máy tổ chức ngành Thuế như giải quyết các thủ tục hành chính vềthuế, hỗ trợ đối tượng nộp thuế, kiểm soát và cưỡng chế việc chấp hành phápluật về thuế Để hoàn thành các nhiệm vụ trên, đội ngũ cán bộ thuế phải cóđược các phẩm chất: có trình độ chuyên môn nghiệp vụ quản lý thuế, có kiến
Trang 27thức quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường, kiến thức quản lý hành chínhnhà nước, trình độ tin học để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong quản lýthuế, có phẩm chất đạo đức tốt, có phương pháp giao tiếp ứng xử lịch sự vớiđối tượng nộp thuế.
Công nghệ thông tin và cơ sở vật chất ngành Thuế: Để vận hành bộ
máy hành thu thuế, cơ sở vật chất và kỹ thuật, công nghệ của ngành là mộtyếu tố không kém phần quan trọng Ở đây muốn đề cập đến hệ thống trangthiết bị công sở và hệ thống kỹ thuật công nghệ tiên tiến để giúp các cán bộthuế triển khai công tác nghiệp vụ quản lý và hành thu một cách nhanh nhất,hiệu quả nhất (hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội) Trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, với số lượng đối tượng nộp thuế tăng lên nhanhchóng, khối lượng công việc cũng gia tăng và tính chất ngày càng phức tạp,
để đảm bảo công tác thu thuế hiệu quả cần thiết phải có sự trợ giúp của cơ sởvật chất, kỹ thuật và công nghệ hiện đại - nhất là cần thiết phải thực hiện tinhọc hóa ngành Thuế
Đặc điểm quản lý thuế
Khối lượng công việc của quản lý thuế là rất lớn đòi hỏi tập trungnguồn lực để thực hiện Trong quá trình triển khai, cần nhận thức: quản lýthuế là một bộ phận của quản lý hành chính nhà nước nên nó mang đầy đủ cácđặc điểm của quản lý hành chính nhà nước Ngoài ra, quản lý thuế có nhữngđặc điểm riêng có bị chi phối bởi đặc điểm của quan hệ phát sinh trong quátrình quản lý thu và nộp thuế của Nhà nước Đó là:
Quản lý thuế là một công tác tổng hợp chứa đựng nhiều yếu tố khácnhau như yếu tố pháp luật, yếu tố tổ chức và cả yếu tố tuyên truyền vận động.Trong quản lý thuế, chủ thể quản lý sử dụng tổng hợp nhiều phương phápkhác nhau như phương pháp kinh tế, hành chính, giáo dục, tuyên truyền.Trong đó phương pháp hành chính được coi là phương pháp chủ yếu
Trang 28Nếu xét ở tầm vĩ mô, quản lý thuế là công tác mang tính kỹ thuậtnghiệp vụ chặt chẽ.
Những đặc điểm này thể hiện đặc trưng riêng của quản lý thuế trong hệthống quản lý hành chính nhà nước và cũng mang ý nghĩa quyết định đến hiệuquả công tác quản lý thuế nếu trong quá trình hoạt động của cơ quan thuếnhững đặc điểm này được cân nhắc và vận dụng thích hợp
Nguyên tắc quản lý thuế
Quản lý thuế là một hoạt động quản lý nên cần thiết phải quán triệt cácnguyên tắc chung của quản lý Bên cạnh đó, các nội dung của quản lý thuếcòn được triển khai theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
+ Thống nhất trong cách tổ chức bộ máy thu thuế
+ Thống nhất trong việc vận dụng các văn bản pháp quy về thuế đối vớiquá trình tổ chức thu thuế
- Nguyên tắc công khai dân chủ
Trang 29+ Tiết kiệm để đảm bảo chi phí, công sức và thời gian mà cơ quan thuếđầu tư để thực hiện nhiệm vụ là thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo lợi ích cao nhấtcho cơ quan thuế, cho Nhà nước và cho đối tượng nộp thuế.
Đây là các nguyên tắc căn bản gắn kết các nội dung của quản lý thuế.Việc tuân thủ các nguyên tắc này và phối hợp các nguyên tắc này một cáchhài hòa trong thực tiễn không ngoài mục đích thực hiện thành công mục tiêucủa công tác quản lý thuế trên quan điểm cụ thể được xác lập cho từng thờikỳ
1.1.3 Cải cách quản lý thuế
Cải cách hành chính
Cải cách hành chính là vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quantâm vì nó sẽ tạo ra bước chuyển mình đáng kể cho nền kinh tế xã hội của mỗiquốc gia nếu được nhận thức và có bước đi thích hợp Do chế độ chính trịkhác nhau, do trình độ và giai đoạn phát triển khác nhau và quan điểm khácnhau trong quản lý kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nên cải cách hành chínhđược hiểu theo các cách khác nhau Nhưng nhìn chung, cải cách hành chínhđược nhìn nhận như sau:
Theo nghĩa rộng, cải cách hành chính là quá trình thay đổi cơ bản, lâu
dài, liên tục cơ cấu quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt động có ý thức của
bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận, các cá nhân vìmục đích chung của cộng đồng Đó chính là việc phân công quyền lực giữatrung ương với địa phương, giữa các cơ quan với nhau một cách hợp lý, baogồm: cải cách bộ máy, thể chế hành chính, phương thức quản lý, chức nănghành chính, chế độ công vụ và công chức, chức năng quản lý hành chính giữaNhà nước và địa phương
Theo nghĩa hẹp, cải cách hành chính là một quá trình thay đổi nhằm
nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương
Trang 30pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới tronglĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước.
Cải cách hành chính là một quá trình lâu dài, nhiều khâu và nhiều giaiđoạn khác nhau, đòi hỏi đội ngũ những người triển khai thực hiện nhữngquyết định cải cách hành chính nhà nước phải vận dụng linh hoạt, sáng tạocác hình thức triển khai thực hiện
Cải cách hành chính thuế là một bộ phận của cải cách hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế
Cải cách hành chính thuế là phù hợp với quy luật của sự vận động và phát triển.
Sự vận động, phát triển và đổi mới là hiện tượng diễn ra không ngừngtrong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy mà nguồn gốc của nó là sự đấu tranhgiữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật và hiện tượng Bất cứ một hoạtđộng nào trong xã hội cũng không nằm ngoài quy luật này
Quy luật về sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng đã cho thấycải cách hành chính nói chung và cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế nóiriêng là tất yếu khách quan Cần thiết phải cải cách công tác quản lý thuế vìhoạt động quản lý trong thực tế triển khai đã bộc lộ những ưu điểm, nhượcđiểm, những mâu thuẫn tất yếu đòi hỏi phải có sự điều chỉnh, sửa đổi cho phùhợp và đảm bảo có hiệu quả Nói cách khác, cải cách quản lý thuế là cả mộtquá trình bao hàm trong đó nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi để hình thànhmột mô hình quản lý mới đáp ứng yêu cầu của Nhà nước trong từng thời kỳ
Cải cách hành chính thuế là tất yếu theo yêu cầu đổi mới của nền kinh
tế xã hội.
Hoạt động quản lý nói chung là sự tác động của các chủ thể quản lý đếnhành vi các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã xác định của tổ
Trang 31chức trong những điều kiện cụ thể thông qua các quyết định quản lý hànhchính nhà nước.
Các quyết định quản lý cũng như các phương thức quản lý trực tiếp củachủ thể đến khách thể chịu sự tác động của các yếu tố môi trường Trong điềukiện ngày nay, khi các thay đổi diễn ra nhanh, mạnh thì hoạt động quản lýphải đổi mới cách thức, phương thức quản lý để đạt được hiệu quả Xu hướngchung là phải thu hẹp phạm vi hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhànước Tính quốc tế hóa, khu vực hóa của các hoạt động kinh tế đòi hỏi hoạtđộng quản lý hành chính nhà nước phải thay đổi, áp dụng nhiều thông lệ quốc
tế chung trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Khu vực kinh tế tưnhân ngày càng phát triển, tạo cơ hội để họ tham gia nhiều hơn trong hoạtđộng kinh tế vốn do Nhà nước độc quyền Ngoài ra, do yếu tố nhận thức yếukém, hạn chế, không phù hợp từ bên trong bộ máy hành chính nhà nước (vềthể chế, tổ chức bộ máy, cán bộ công chức, cơ sở vật chất) đòi hỏi phải có sựđổi mới, cải cách
Trong những biến động chung, có những biến động mang tính đặc thùảnh hưởng đến công tác quản lý thuế và đặt ra yêu cầu cải cách Đó là: Xuhướng hình thành nền kinh tế tri thức ngày càng bộc lộ rõ nét, làm thay đổi cơbản về phương thức làm việc và quản lý truyền thống Hội nhập quốc tế sẽdiễn ra mạnh mẽ, cuộc cạnh tranh trên thị trường nội địa trở nên gay gắt Mộtmặt, cơ cấu nguồn thu và số thu về thuế sẽ bị ảnh hưởng, mặt khác, môitrường quản lý thuế và tình hình chấp hành các luật thuế cũng sẽ thay đổimạnh mẽ Công nghệ thông tin được sử dụng rộng rãi và phát triển mạnh mẽmột mặt đòi hỏi hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lýthuế nói riêng, mặt khác làm cho công tác quản lý thu thuế phức tạp hơn khiđối tượng nộp thuế vận dụng các tiến bộ công nghệ thông tin vào trong quản
lý và kinh doanh
Trang 32Cải cách quản lý thuế là nội dung quan trọng của cải cách hành chính thuế
Cải cách hành chính thuế là một quá trình triển khai đồng bộ và thốngnhất đối với toàn bộ hệ thống thuế trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tương thíchgiữa chính sách thuế và quản lý thuế vì một hệ thống chính sách dù có tiêntiến đến đâu cũng không phát huy được tác dụng nếu không phù hợp với trình
độ quản lý và ngược lại Vì vậy, trong nội dung cải cách quản lý thuế phải xácđịnh bốn nội dung quan trọng là:
- Cải cách thể chế về thuế
- Kiện toàn bộ máy tổ chức ngành Thuế
- Nâng cao chất lượng cán bộ ngành Thuế
- Hiện đại hóa công nghệ thông tin và cơ sở vật chất ngành Thuế
1.2 CÁCH QUẢN LÝ THUẾ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Nhận xét chung về tình hình cải cách quản lý thuế trên thế giới
Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là có kết cấu nhiều thành phầnkinh tế song song tồn tại với số lượng đối tượng nộp thuế nhiều và ngày cànggia tăng Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong đó có cơ quan thuế làphải đảm bảo một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế thông qua công cụ pháp luật Pháp luật thuế và hệ thống định chế, quytrình, bộ máy, con người, kỹ thuật để thực thi pháp luật thuế đều đòi hỏi phảiđược biến đổi theo hướng tiên tiến, hiện đại hóa Nó đặt ra cho ngành Thuếyêu cầu phải cải cách Mục tiêu cơ bản của cải cách cũng là mục tiêu cơ bảncủa hệ thống thuế trong bất kỳ giai đoạn nào là huy động nguồn lực tài chínhđáp ứng nhu cầu chi tiêu công cộng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế một cáchhiệu quả, nói cách khác thực hiện cải cách theo hướng hoàn thiện hệ thốngthuế
Trang 33Kinh nghiệm cải cách của các nước trên thế giới cho thấy những nộidung chính của cải cách chính sách đều xoay quay chủ đề tăng số thu (hạn chếthâm hụt NSNN), khuyến khích đầu tư và lao động để qua đó kích thích tiêudùng Định hướng chung này được các quốc gia vận dụng để xây dựng hệthống chính sách thuế nhà nước phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế riêng.
Các nước phát triển thường chú trọng vào việc hoàn thiện các chi tiết
trong Luật Thuế sẵn có như: xóa bỏ cạnh tranh bất lợi về thuế (xóa bỏ ưu đãithuế), giảm bớt gánh nặng thuế thu nhập, tăng thuế tiêu dùng đối với việc sửdụng tài nguyên thiên nhiên, các hoạt động gây ô nhiễm môi trường
Các nước đang phát triển cải cách dựa trên nguyên tắc thích ứng với
các yêu cầu mới của nền kinh tế như: thu hút đầu tư, hội nhập kinh tế khu vựchoặc thế giới Hệ thống chính sách thuế được xây dựng từng bước theo cácchuẩn mực và thông lệ quốc tế dựa trên kinh nghiệm của các nước đi trước.Hướng cải cách chính sách thuế cụ thể là:
- Ban hành mới các luật hoặc chính sách thuế
- Luôn duy trì ưu đãi thuế như một công cụ để khuyến khích đầu tư
Sự khác biệt giữa hướng cải cách của hai nhóm nước (nhóm các nướcphát triển và nhóm các nước đang phát triển) xuất phát từ một số lý do chínhsau:
- Cơ cấu kinh tế của nhiều nước đang phát triển chưa ổn định, chủ yếu
là nông nghiệp và các hoạt động kinh doanh từ các nhóm phi kết cấu chiếm tỷtrọng lớn
- Cơ sở dữ liệu thông tin còn hạn chế làm cho công tác quản lý gặpnhiều khó khăn, các luật thuế chỉ mới đề cập đến các nguyên tắc và phạm vi
áp dụng cơ bản mà chưa quy định chi tiết để bao quát được toàn bộ các hoạtđộng kinh doanh và các hình thức đầu tư đa dạng thông qua các quỹ đầu tư vàcác công cụ tài chính
Trang 34- Hầu hết các nước đang phát triển đều đang trong tình trạng cơ chếquản lý kinh tế nói chung cũng như quản lý thuế nói riêng còn lạc hậu, mớibắt đầu bước vào cải cách hành chính à phải dựa nhiều vào sự trợ giúp củacác nước phát triển Cải cách quản lý thuế ở các nước đang phát triển thể hiện
rõ nét sự thích ứng với thông lệ quốc tế và vai trò hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chứcQuỹ Tiền tệ thế giới (IMF) hoặc Ngân hàng Thế giới (WB)
Sau đây là nội dung chính của cải cách quản lý thuế tại một số nướctrên thế giới trong thập kỷ vừa qua:
1.2.2 Cải cách quản lý thuế ở các nước phát triển
Các nước phát triển thực hiện cải cách quản lý thuế trên cơ sở một hệthống thuế tương đối ổn định và đã bao quát toàn bộ khả năng đóng góp củangười dân, vì vậy nên không có những bước thay đổi lớn mà chủ yếu tậptrung vào những vấn đề mới phát sinh mang tính toàn cầu như: vấn đề giảmkhí thải, chống tham nhũng, thuế đối với thương mại điện tử, chống tránh thuếđối với hoạt động đầu tư đa quốc gia Hệ thống thuế được thay đổi chủ yếunhư sau:
Thuế thu nhập: ở Úc, Phần Lan, Niudilân, Anh thuế thu nhập đượccải cách giảm thuế suất, mở rộng diện chịu thuế, đưa những thu nhập gián tiếpnhư phúc lợi vào diện chịu thuế, mở rộng các quy định về chống tránh thuế(như tăng yêu cầu về cung cấp thông tin đối với hoạt động đầu tư ra nướcngoài, kiểm soát chặt các giao dịch quốc tế, ban hành các chế độ quản lý thuếđặc biệt đối với các quỹ đầu tư, quỹ lương hưu )
Thuế giá trị gia tăng: tăng thuế suất nhằm bù đắp phần giảm thu từ thuếthu nhập và thu hẹp diện thuế suất giảm Nhật Bản tăng từ 3% lên 5%, Anhtăng từ 10% lên 17,5%, Italia tăng từ 12% lên 19%, Thụy Điển tăng từ 11,1%lên 25%
Trang 35Thuế môi trường: đánh thuế vào những hoạt động có hại cho môitrường như hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, khí thải từ hoạt độngsản xuất và từ ô tô, tiêu dùng sản phẩm plastic, rác thải, xăng dầu
Thuế đối với thương mại điện tử: nguyên tắc không phân biệt đối xửgiữa thương mại truyền thống và thương mại điện tử, đảm bảo chỉ đánh thuếtiêu dùng theo nguyên tắc nơi tiêu thụ
1.2.3 Cải cách quản lý thuế ở các nước ASEAN
Mô hình cải cách quản lý thuế ở các nước ASEAN tương đối giốngnhau vì đều tập trung vào việc ban hành thuế giá trị gia tăng thay cho thuếdoanh thu; đối xử công bằng giữa các hình thức đầu tư, thu hẹp diện ưu đãimiễn giảm thuế và kiện toàn cơ chế quản lý thuế theo hướng áp dụng côngnghệ thông tin vào công tác quản lý và thu thuế
Thuế tiêu dùng: áp dụng song song thuế giá trị gia tăng với thuế suấtkhông quá 10% và thuế doanh thu áp dụng đối với một số hoạt động kinhdoanh hàng hóa, cung cấp dịch vụ đặc biệt
Thuế thu nhập: giảm thuế suất đối với thu nhập công ty; áp dụng thuếsuất cao nhất đối với thu nhập cá nhân không quá 40%; áp dụng phương phápkhấu trừ tại nguồn đối với thuế thu nhập; ban hành các quy định về kiểm soátchuyển giá và kiểm soát lợi nhuận đầu tư ra nước ngoài
Chính sách ưu đãi đầu tư: với mục đích khuyến khích xuất khẩu, ápdụng công nghệ cao và phát triển vùng sâu vùng xa trên cơ sở không phânbiệt ưu đãi giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; sử dụng biện pháp
ưu đãi là: hạn chế sử dụng miễn giảm thuế theo thời gian mà thay vào đó là sửdụng khấu hao nhanh và khoán trừ thuế hoặc khoán trừ khấu hao đối với một
số loại tài sản đầu tư
Đối với đặc điểm và tình hình của các nước đang phát triển, cải cáchquản lý thuế được áp dụng theo lộ trình, dần dần, từng bước, áp dụng kinh
Trang 36nghiệm của các nước tiên tiến, các nước cùng khu vực nhưng không tách rờihoàn cảnh kinh tế chính trị xã hội của đất nước mình.
Nguyên tắc hoàn thiện hệ thống trong thời gian tới:
- Mục tiêu số thu là mục tiêu quan trọng nhất và cấp thiết do nhu cầuchi tiêu của Chính phủ và gánh nặng phúc lợi xã hội Cải cách quản lý thuếnhưng không làm giảm số thu, cơ cấu thu đảm bảo cân bằng giữa thuế trựcthu và thuế gián thu
- Chuyển mục tiêu thuế là công cụ phân phối lại thu nhập thành mụctiêu hiệu quả kinh tế
- Thay vai trò khuyến khích đầu tư bằng các biện pháp ưu đãi thuế bằngcác biện pháp kinh tế - chính trị - xã hội và cơ chế điều tiết của thị trường
- Tăng cường hợp tác về thuế giữa các nước bằng trao đổi thông tin vàtrợ giúp nghiệp vụ quản lý hành thu
Định hướng hoàn thiện hệ thống thuế:
Trên cơ sở các nguyên tắc này, định hướng hoàn thiện hệ thống thuếcủa các nước đang phát triển trong vòng 10 năm tới là:
Đối với hệ thống chính sách thuế
- Thích ứng với những cam kết ràng buộc quốc tế
- Nhanh chóng bắt kịp với tốc độ và sự đa dạng hóa thương mại và đầutư
- Áp dụng hệ thống thuế thống nhất, xóa dần sự phân biệt đối xử giữađầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
- Chính sách thuế khuyến khích đầu tư, tăng cường kiểm soát thuế đốivới hoạt động đầu tư ra nước ngoài
- Thuế gián thu: đề cao vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị giatăng; có xu hướng tăng thuế suất chuẩn và thu hẹp diện miễn giảm; áp dụng
Trang 37rộng rãi thuế môi trường nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và chống ônhiễm môi trường.
- Áp dụng một số loại thuế khác phù hợp với phát triển kinh tế, mứctăng thu nhập và sự khác biệt về độ tuổi của các tầng lớp dân cư như thuế tàisản, thuế thừa kế, thuế an sinh xã hội
Đối với hệ thống quản lý thuế
Cải cách trong lĩnh vực quản lý chủ yếu dựa trên sự trợ giúp của côngnghệ thông tin, đảm bảo công tác quản lý thu thuế trong hoàn cảnh đối tượngnộp thuế tăng nhanh về số lượng và phức tạp về hoạt động; tạo sự thuận lợi vàxây dựng mối quan hệ thân thiện giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế.Công nghệ quản lý thu nộp thuế cho phép xây dựng môi trường làm việc phigiấy tờ và hạn chế tiếp xúc trực tiếp giữa cơ quan thuế (cán bộ thuế) và cácđối tượng nộp thuế Xu hướng cải cách chung là tăng cường tổ chức quản lýtheo chức năng và từng bước đưa ứng dụng công nghệ vào quản lý thuế đểhạn chế sự can thiệp chủ quan của cơ quan thuế đến việc thực hiện nghĩa vụthuế của người nộp thuế
Tập trung vào ba nhiệm vụ chính:
- Tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế tuân thủ tốt pháp luật thuế, thựchiện tốt nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước
- Giám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế
và cơ quan thuế
- Ngăn chặn việc không tuân thủ bằng việc xây dựng hệ thống thanh tra
có hiệu quả và hệ thống xử phạt công bằng, nghiêm minh
Tình hình cải cách quản lý thuế ở các nước trên thế giới cho thấy cảicách là một tất yếu đối với ngành Thuế ở bất kỳ quốc gia nào Bởi hoạt độngkinh tế - chính trị - xã hội luôn luôn chuyển động tạo ra những thách thức vàđòi hỏi mới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó có lĩnh vực thuế
Trang 38Chỉ có điều phương hướng, nguyên tắc, nội dung và lộ trình cải cách là linhhoạt đối với từng quốc gia trên cơ sở quán triệt nguyên tắc: cải cách quản lýthuế phải được kết hợp chặt chẽ và tương thích với nội dung của hệ thốngchính sách thuế.
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM
Từ khi hệ thống thu thuế Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính được thànhlập (ngày 7-8-1990), ngành Thuế đã có những giai đoạn phát triển được đánhdấu bằng những sự kiện quan trọng Có thể phân giai đoạn theo các mốc thờigian và sự kiện như sau:
Giai đoạn 1990-1998: Hệ thống thuế Nhà nước được hình thành theoNghị định số 281/HĐBT ngày 7-8-1990 của Chính phủ Cùng với sự kiện này
là việc ngành Thuế triển khai thực hiện 3 luật thuế mới là Luật thuế Doanhthu, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế Lợi tức Cơ quan Thuế quản lýthuế theo cơ chế Cơ quan Thuế kiểm tra, tính và ban hành thông báo thuế.Theo đó, quá trình quản lý thuế đã được thực hiện bởi 3 bộ phận là bộ phậnquản lý đối tượng nộp thuế, bộ phận tính và phát hành thông báo thuế, bộphận thanh tra thuế
Giai đoạn 1999-2000: Ngành Thuế triển khai thực hiện 3 luật thuế mới
là Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế Thunhập doanh nghiệp Đã kiện toàn lại bộ máy ngành theo hướng bổ sung một
số bộ phận với chức năng mới và giải thể những bộ phận không cần thiếttrong bộ máy của Cơ quan Thuế Các thủ tục, quy trình quản lý thuế cũng dầnđược đổi mới mà quan trọng là việc triển khai thành công ứng dụng tin họcvào các công tác thuế như đăng ký cấp mã số thuế, theo dõi và quản lý thuếgiá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp ở các khâu khấu trừ, hoànthuế
Giai đoạn 2001-2004: Đây là giai đoạn đầu ngành Thuế có những bướcchuyển biến về quản lý theo chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2001-2010 theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-
Trang 402001 của Thủ tướng Chính phủ Đánh dấu giai đoạn này là việc kiện toàn tổchức bộ máy ngành Thuế theo Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ Giai đoạn này được xác định là quan trọng bởi nó là giaiđoạn chuyển giao giữa cơ chế quản lý thuế truyền thống sang cơ chế quản lýthuế hiện đại Theo đó việc tính toán, xác định và thực hiện nghĩa vụ thuếđược trao cho đối tượng nộp thuế nhằm nâng cao tính tự giác và tuân thủ tựnguyện của đối tượng nộp thuế, Cơ quan Thuế tập trung nguồn lực để thựchiện các nhiệm vụ quản lý thuế theo chức năng theo yêu cầu mới Trong giaiđoạn chuyển giao này, ngành Thuế phải thực hiện song song cả hai cơ chếquản lý: cơ chế quản lý thực hiện chung cho toàn ngành và cơ chế quản lýmới được thực hiện thí điểm tại 02 Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh và Cụcthuế Quảng Ninh để đánh giá, tiếp tục hoàn thiện và mở rộng diện thực hiện,tiến tới triển khai trên toàn quốc Trong giai đoạn này, công tác quản lý thuếcũng có những nét mới với trọng tâm là tạo môi trường thông thoáng, bìnhđẳng, thuận lợi, giảm tỷ lệ động viên để khuyến khích đầu tư, khuyến khíchxuất khẩu, bảo hộ có chọn lọc, có mức độ để thúc đẩy sản xuất trong nước,thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nguồn thu cho NSNN Nhằmmục tiêu này, công tác quản lý thuế phải được thực hiện đồng bộ và sâu rộng
cả về thể chế, bộ máy tổ chức, cán bộ, công nghệ thông tin và cơ sở vật chất
Trong phạm vi của đề tài, học viên xin được trình bày thực trạng, kếtquả và tồn tại của công tác quản lý thuế ở nước ta giai đoạn 2001-2004
2.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM
Thực trạng công tác quản lý thuế được xem xét trên các nội dung nềntảng có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của công tác, cụ thể là:
2.1.1 Thể chế về thuế
Hệ thống chính sách thuế