Các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của đề tài bao gồm: - Tổng kết, phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống thuế ở Việt Nam; - Đánh giá vai trò của hệ thống thuế đối với việc thực h
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH Viện Khoa học tài chính
-ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
“CẢI CÁCH HỆ THỐNG THUẾ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2020”
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS
Tổ chức chủ trì đề tài:
Hà Nội, tháng 12 năm 2009
Trang 2Chương 4: Mục tiêu, yêu cầu, nguyên tắc, định hướng và giải
pháp cải cách hệ thống thuế đến năm 2020
Chương 5: Lộ trình và chuẩn bị điều kiện triển khai thực hiện
cải cách thuế đến năm 2020
Trang 31 Sự cần thiết và tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu
Cải cách hệ thống thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp báchcủa hệ thống tài chính cũng như toàn bộ nền kinh tế ở nước ta hiện nay Cùng vớiquá trình phát triển của nền sản xuất xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thốngchính sách thuế sẽ trở thành một trong những công cụ kinh tế vĩ mô quan trọngnhất của Chính phủ để quản lý và định hướng phát triển kinh tế xã hội trong nềnkinh tế thị trường Bên cạnh việc tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước,
hệ thống thuế còn góp phần quan trọng trong việc điều tiết sản xuất, tiêu dùng,ảnh hưởng lớn đến các quan hệ tiết kiệm - đầu tư cũng như chuyển dịch cơ cấukinh tế thông qua tác động trực tiếp và gián tiếp đến các hành vi của các chủ thểtrong xã hội, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình
Trong bối cảnh nước ta từ nay đến năm 2020, việc nghiên cứu một cáchtổng thể, có hệ thống và mang tính chuyên môn cao đối với cải cách hệ thốngthuế có ý nghĩa hết sức quan trọng, mang tính quyết định đối với việc đảm bảonguồn thu ngân sách cho các nhu cầu ngày càng tăng của chi ngân sách cũng như
sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế nói chung Về mục tiêu thungân sách, yêu cầu cải cách hệ thống thuế xuất phát từ tính bất ổn định của quy
mô và cơ cấu nguồn thu do sự phụ thuộc khá lớn vào các nguồn thu từ tài sảnkhông có khả năng tái tạo được là dầu thô và cấp quyền sử dụng đất Các loạithuế quan trọng như thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sản chưa phát huy được vaitrò vốn có của nó trong việc đảm bảo nguồn thu ngân sách cũng như công bằng
xã hội Về mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, Việt Nam cần phải cải cách hệ thốngthuế theo hướng đảm bảo sự ổn định tương đối về cơ cấu, từng bước loại bỏnhững yếu tố làm giảm tính công bằng, hiệu quả và công khai, minh bạch của hệthống thuế cũng như hướng đến việc đảm bảo yêu cầu quốc tế hoá của hệ thốngthuế và cạnh tranh thuế quốc tế; thông qua đó, góp phần tạo môi trường sản xuấtkinh doanh thuận lợi, công bằng, công khai, minh bạch để thu hút vốn đầu tư vàkhuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như góp phần đảm bảocông bằng xã hội
Do đó, việc nghiên cứu đề tài cải cách hệ thống thuế phục vụ phát triểnkinh tế xã hội đến năm 2020 có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển
Trang 4ổn định và bền vững của hệ thống tài chính nói riêng và của toàn bộ nền kinh tếnói chung Các câu hỏi về quy mô và cơ cấu thu ngân sách, cơ cấu hệ thống thuếhợp lý sẽ được nghiên cứu, giải quyết một cách khoa học, phù hợp với thực tế cả
về định tính và định lượng Bên cạnh ý nghĩa thực tiễn quan trọng đó, thông quaviệc nghiên cứu, phân tích, đánh giá bằng việc sử dụng các mô hình kinh tế học
lý thuyết và thực nghiệm, việc nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa quan trọng
về mặt lý luận khoa học kinh tế, góp phần bổ sung vào kho tàng lý luận khoa học
về hệ thống thuế ở nước ta và trên thế giới
Các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của đề tài bao gồm:
- Tổng kết, phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống thuế ở Việt Nam;
- Đánh giá vai trò của hệ thống thuế đối với việc thực hiện các mục tiêuphát triển kinh tế xã hội;
- Phân tích, đánh giá những cơ hội, khó khăn, thách thức đối với cải cách
2020 trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 53 Tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực thuộc đề tài nghiên cứu
Hiện nay có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thực hiệnviệc phân tích, đánh giá hệ thống thuế tại Việt Nam Nghiên cứu về thuế là mộttrong những vấn đề quan trọng nhất trong cải cách chính sách kinh tế vĩ mô ở cácnước trên thế giới và luôn thu hút được mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoahọc, các tổ chức nghiên cứu và các cơ quan chính phủ Trong đó có thể kể đếnmột số công trình nghiên cứu quan trọng, hữu ích như công trình nghiên cứu củaTanzi và Zee (2001) về cơ cấu hệ thống thuế đối với các nước đang phát triển;trong đó chú trọng đến cơ cấu và mối quan hệ giữa các loại thuế trực thu - thuếgián thu và thuế tài sản Nghiên cứu của Gordon và Li (2005) đề cập đến việc sosánh cơ cấu thuế giữa các khối nước theo GDP bình quân đầu người và chỉ ra tầmquan trọng của thuế gián thu đối với các nước đang phát triển
Bên cạnh đó, về mặt kỹ thuật xây dựng các chính sách thuế, nghiên cứucủa Bird và Zolt (2003) cũng đã chỉ rõ những yếu tố căn bản cần chú trọng trongviệc xây dựng và phát triển các chính sách thuế ở các nước; đặc biệt là việc phântích chuyên sâu các vấn đề liên quan đến đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế,
cơ sở tính thuế, thuế suất, quy trình nộp thuế, quản lý thuế và xử lý vi phạm ,
"Introduction to Tax Policy Design and Development" Về mối quan hệ giữa hệthống thuế trong nước và quốc tế, Edwards và Veronique (2002) đã nghiên cứucạnh tranh thuế quốc tế trong bối cảnh các quốc gia dùng ưu đãi thuế như mộtcông cụ hữu hiệu để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nghiên cứu này cũng chỉ rõnhững điểm lợi thế và những bất lợi, hạn chế khi dùng ưu đãi thuế, đặc biệt làtrên khía cạnh thực tế triển khai nhiều khi khác với những mục tiêu đã đề ra, đểtrên cơ sở đó có những khuyến cáo phù hợp đối với các chính phủ khi sử dụngcông cụ này
Ở nước ta, trong thời gian gần đây đã có một số nghiên cứu về phân tích,đánh giá tác động của thuế đối với nền kinh tế, xã hội, góp phần quan trọng vàoquá trình nghiên cứu, xây dựng các đề án cải cách thuế phục vụ cho các mục tiêuphát triển kinh tế xã hội Năm 2004, Phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật của IMF doHowell Zee dẫn đầu đã làm việc với Bộ Tài chính Việt Nam và đưa ra một báocáo đánh giá quan trọng “Đánh giá về các sắc thuế chính của Việt Nam”; trong đó
Trang 6có nêu rõ thực trạng, phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các loại thuế chính, baogồm thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập
cá nhân và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Đồng thời, Viện nghiên cứu chínhsách của Bộ Tài chính Nhật Bản cũng đã phối với với Vụ Chính sách thuế, BộTài chính Việt Nam, cùng nghiên cứu và xuất bản báo cáo nghiên cứu chung về
hệ thống thuế Việt Nam; trong đó tập trung vào việc đánh giá thực trạng và đề racác giải pháp cải cách tổng thể hệ thống thuế, bao gồm các loại thuế gián thu,thuế trực thu và thuế tài sản Bên cạnh đó, còn có nhiều nghiên cứu của các nhàkhoa học, viện nghiên cứu và trường đại học về phân tích, đánh giá hệ thống thuếcũng như từng loại thuế ở nước ta và đề ra những giải pháp cải cách thuế tronggiai đoạn mới Các nghiên cứu này đã có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ranhững luận điểm khoa học về lý luận và thực tiễn phục vụ công cuộc cải cáchthuế bước 3 ở nước ta
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới tập trung vào một số loạithuế hoặc một số khía cạnh nhất định trong hệ thống thuế, chủ yếu là các nộidung liên quan đến cơ chế, chính sách về phạm vi, đối tượng áp dụng và thựctrạng thực hiện các cơ chế chính sách Các kết quả nghiên cứu chủ yếu mới chỉtập trung vào phân tích, đánh giá tình hình và đưa ra những nhận định về mặtđịnh tính Mặt khác, các nghiên cứu này cũng chưa thể hiện được tính bao quát,
hệ thống đối với các khía cạnh của hệ thống thuế, đặc biệt là về quy mô và cơ cấungân sách hợp lý, các ảnh hưởng kinh tế - xã hội của hệ thống thuế cả về địnhtính và định lượng Đặc biệt, các nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề cải cách cơcấu hệ thống thuế, ảnh hưởng kinh tế xã hội của hệ thống thuế và mối quan hệgiữa cải cách thuế và trình độ phát triển của nền kinh tế còn hạn chế cả về sốlượng và chất lượng
4 Về phương pháp tiếp cận và nghiên cứu
Đề tài áp dụng phương pháp tiếp cận một cách tổng thể, bao quát và có hệthống trên cơ sở phân tích chuyên sâu và có trọng tâm, trọng điểm Trong đó chútrọng phân tích, đánh giá sâu sắc về thực trạng hệ thống, tìm ra những vấn đềchính sách lớn đã, đang và sẽ phát sinh, nghiên cứu, đánh giá cụ thể nguyên nhân,thực trạng và triển vọng; sử dụng các phương pháp phân tích, đánh giá về định
Trang 7lượng kết hợp với xem xét kinh nghiệm quốc tế (cả thành công và thất bại) đểđưa ra định hướng và hệ thống các giải pháp cải cách hệ thống thuế.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, sosánh, điều tra điển hình, xây dựng các mô hình, phương pháp phù hợp để mô tả
số liệu, tình hình, xây dựng mô hình cân bằng tổng thể và các mô hình kinh tếlượng và các cơ sở dữ liệu cần thiết để phân tích đánh giá, dự báo về các chỉ tiêuđịnh lượng về cải cách thuế cả trước mắt và trong tương lai trung và dài hạn
Các tác giả thông qua Viện khoa học tài chính và Nhóm tư vấn chính sách
sẽ sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan trong Bộ (Tổng cục thuế, Vụ chính sáchthuế, Vụ ngân sách nhà nước) và các cơ quan ngoài Bộ (Tổng cục thống kê, BộLĐTBXH, Bộ Kế hoạch và đầu tư ) trong các công việc thu thập, phân tích,đánh giá số liệu, tình hình và cả quá trình triển khai nghiên cứu và ứng dụng đềtài
5 Kết cấu nội dung
Để đáp ứng mục đích nghiên cứu, đề tài đượckết cấu bao gồm các nội dungchủ yếu sau:
- Chương 1: Tổng kết, phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống thuế ở Việt
Nam, nêu rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, nguyên nhân và sự cần thiếtphải cải cách; trong đó tập trung vào các nội dung tổng kết, đánh giá quá trình cảicách thuế ở Việt Nam; Phân tích, đánh giá vai trò của cải cách thuế đối với việcđảm bảo nguồn thu ngân sách và tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia; Phântích, đánh giá các ảnh hưởng kinh tế xã hội của cải cách hệ thống thuế ở ViệtNam và Phân tích, đánh giá quá trình cải cách quản lý thuế ở Việt Nam
- Chương 2: Phân tích, đánh giá những cơ hội, khó khăn, thách thức về cải
cách hệ thống thuế, đặc biệt là về tính ổn định và bền vững của cơ cấu và quy mônguồn thu, tính công bằng, hiệu quả và khả thi của hệ thống thuế
- Chương 3: Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về cải cách hệ thống thuế, đặc
biệt là các nước đang phát triển có điều kiện tương tự Việt Nam; trong đó tập
Trang 8sánh hệ thống thuế của Việt Nam với một số nước trên thế giới và tổng kết, đánhgiá để rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
- Chương 4: Xây dựng mục tiêu, nguyên tắc, định hướng và giải pháp cải
cách hệ thống thuế ở nước ta đến năm 2020 Chương này tập trung vào việc tổngkết quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách hệ thốngthuế ở Việt Nam; nghiên cứu định hướng và giải pháp cải cách hệ thống thuế ởViệt Nam đến năm 2020; phân tích, dự báo quy mô và cơ cấu thu ngân sách sửdụng mô hình cân bằng tổng thể và các mô hình kinh tế khác trên cơ sở cácphương án cải cách hệ thống thuế và tác động kinh tế - xã hội của cải cách thuế
Chương 1 TỔNG KẾT, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ
Trang 9Trong lịch sử kinh tế học, thuế được hiểu trên nhiều giác độ khác nhau và
do đó khái niệm về thuế thường có những điểm khác biệt Tuy nhiên, khái niệmđược chấp nhận rộng rãi mang cả ý nghĩa về kinh tế và luật pháp, xã hội Đó là:Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ cho ngân sách nhà nước theo quy định củapháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Trên cơ sở khái niệm trên đây, thuế có các đặc điểm cơ bản sau:
- Tính nghĩa vụ bắt buộc: mọi đối tượng/chủ thể tham gia các hoạt độngkinh tế trong xã hội đều phải có nghĩa vụ bắt buộc đóng góp thuế cho ngân sáchnhà nước Các khoản đóng góp tự nguyện, không có tính chất nghĩa vụ bắt buộcnhư đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tiền học phí, viện phí… khôngđược coi là thuế
- Tính luật định: thuế được quy định bởi pháp luật và được áp dụng chungđối với toàn bộ các đối tượng trong phạm vi quy định của pháp luật Do có tínhluật định nên thuế được xã hội thừa nhận và được cưỡng chế bởi hệ thống luậtpháp
Trang 10- Tính hoàn trả gián tiếp: các đối tượng nộp thuế thường không nhận đượchoàn trả trực tiếp sau khi đã nộp thuế cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, họđược hoàn trả gián tiếp thông qua các hàng hoá, dịch vụ công do Chính phủ cungcấp như hệ thống luật pháp, duy trì an ninh, trật tự xã hội, cơ sở hạ tầng, giáodục, y tế, văn hoá.
Các đối tượng nộp thuế cần được hưởng lợi từ các khoản đóng góp thôngqua các hàng hoá, dịch vụ công một cách tương xứng Trường hợp phải nộp thuếnhiều nhưng số lượng hoặc chất lượng hàng hoá, dịch vụ công không đảm bảo sẽ
vi phạm nguyên lý lợi ích của thuế và sẽ gây ra những bất ổn định về kinh tế,chính trị, xã hội cả trước mắt và lâu dài cho nền kinh tế
Nguyên lý lợi ích là cơ sở lý luận cho sự tồn tại và phát triển bền vững củaChính phủ cũng như của Nhà nước trong mối quan hệ cân bằng với các chủ thểkinh tế khác trong xã hội Nhà nước và Chính phủ chỉ có thể tồn tại, phát triển và
có nguồn thu thuế từ các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp trên cơ sở cung cấpnhững hàng hoá, dịch vụ công tương ứng để tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tếnày phát triển sản xuất kinh doanh và qua đó đảm bảo sự phát triển bền vững củanền kinh tế
Trang 11b) Nguyên lý công bằng:
Nguyên lý công bằng của thuế yêu cầu đảm bảo sự công bằng về mức thuếphải nộp giữa các đối tượng Thông thường, công bằng của thuế được hiểu theohai khía cạnh là công bằng chiều ngang và công bằng chiều dọc Công bằng chiềungang có nghĩa là các đối tượng nộp thuế có thu nhập như nhau thì chịu mức thuếbằng nhau Chẳng hạn, hai doanh nghiệp hoặc cá nhân hoạt động trong hai lĩnhvực khác nhau nhưng nếu có cùng mức thu nhập thì đều phải chịu mức thuế nhưnhau
Công bằng chiều dọc có nghĩa là đối tượng nộp thuế có thu nhập lớn hơnthì chịu mức thuế lớn hơn Chẳng hạn, theo quy định của thuế thu nhập cá nhân,người có thu nhập nhiều thì phải nộp mức thuế lớn hơn người có thu nhập thấphơn Sở dĩ có nguyên lý công bằng theo chiều dọc vì đối tượng có thu nhập caohơn thường đánh giá lợi ích nhận được từ hàng hoá, dịch vụ công cao hơn so vớiđối tượng có thu nhập thấp hoặc thực tế họ có điều kiện nhận được lợi ích nhiềuhơn từ các hàng hoá, dịch vụ này
Nguyên lý công bằng là nền tảng của định hướng thiết kế hệ thống thuếcông bằng nhằm đảm bảo công bằng xã hội cũng như sự ổn định tương đối trongcấu trúc kinh tế - chính trị - xã hội, cân bằng lợi ích kinh tế giữa các đối tượng,giai cấp trong xã hội; trong đó, các đối tượng giàu thường phải chịu mức thuế caohơn so với các đối tượng còn lại trong xã hội
c) Nguyên lý khả năng nộp thuế:
Nguyên lý khả năng nộp thuế yêu cầu mức thuế phải nộp cần được xácđịnh trên cơ sở khả năng nộp thuế của đối tượng nộp Trong đó, khả năng nộpthuế đối với cá nhân được xác định dựa trên cơ sở mức thu nhập cá nhân vượtquá yêu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ tối thiểu để duy trì cuộc sống Khả năngnộp thuế đối với doanh nghiệp là khoảng cách giữa doanh thu và chi phí cần thiết
để duy trì và phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy, nguyên lý khảnăng nộp thuế, về mặt bản chất, yêu cầu xác định mức thuế phải nộp hợp lý đểđảm bảo duy trì hoạt động bình thường, tức khả năng tái sản xuất giản đơn của
Trang 12Nguyên lý khả năng nộp thuế cũng là một trong những cơ sở lý luận quantrọng của quan điểm nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu thuế trong thực tiễn hệthống chính sách thuế ở các nước trên thế giới cũng như Việt Nam Bên cạnh đảmbảo lợi ích của các đối tượng nộp, quan điểm này còn phục vụ cho bản thânChính phủ trong việc đảm bảo mối quan hệ cân đối giữa nguồn thu thuế trướcmắt và lâu dài trên cơ sở duy trì và phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các chủ thể còn lại trong nền kinh tế.
1.3 Phân loại hệ thống thuế
Hệ thống thuế thông thường được phân loại theo các tiêu thức như sau:
a) Phân loại theo đối tượng đánh thuế:
Phân loại theo đối tượng đánh thuế là các phân loại phổ biến nhất; trong đó
hệ thống thuế được chia thành các loại thuế như sau:
- Thuế thu nhập: là loại thuế đánh vào thu nhập của đối tượng nộp thuế.Thông thường, thuế thu nhập bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thunhập cá nhân Do thu trực tiếp trên thu nhập của đối tượng nộp thuế nên các loạithuế này còn gọi là thuế trực thu
- Thuế hàng hoá - dịch vụ: là loại thuế đánh vào hàng hoá - dịch vụ Thôngthường, thuế hàng hoá - dịch vụ bao gồm thuế giá trị gia tăng (hoặc thuế doanhthu); thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Do các loại thuế này
do người sử dụng hàng hoá, dịch vụ nộp nên còn gọi là thuế gián thu hoặc thuếtiêu dùng
- Thuế tài sản: là loại thuế đánh vào các tài sản Thông thường, thuế tài sảnbao gồm thuế nhà đất, thuế thừa kế, và các loại thuế tài sản khác Các loại thuế tàisản thường đánh vào quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc khi chuyển nhượng tàisản
b) Phân loại theo đơn vị thuế suất
Trang 13Phân loại theo đơn vị thuế suất, hệ thống thuế có thể phân chia thành cácloại thuế như sau:
- Thuế phần trăm (ad valorem tax): là loại thuế mà thuế suất được quy địnhtheo tỷ lệ phần trăm (%) trên giá trị của đối tượng đánh thuế Chẳng hạn, thuế thunhập doanh nghiệp quy định mức thuế suất 25% trên thu nhập chịu thuế củadoanh nghiệp
- Thuế tuyệt đối (unit tax): là loại thuế mà thuế suất được quy định theomức cố định đối với đơn vị đo lường định lượng của đối tượng đánh thuế Chẳnghạn, thu thuế nhập khẩu 3000 USD/xe đối với nhập khẩu một số loại xe hơi đãqua sử dụng Trong trường hợp này, mức thu 3000USD/xe không phụ thuộc vàogiá trị thực tế của xe
Thuế phần trăm là loại thuế được áp dụng phổ biến hiện này vì có ưu điểm
dễ thực hiện, mức thu biến động tuỳ theo giá trị hàng hoá nên đảm bảo tính côngbằng về mức thu thuế Tuy nhiên, trong một số trường hợp thuế tuyệt đối lại pháthuy tính ưu việt của nó Chẳng hạn, đối với những loại hàng hoá khó xác định giátrị hoặc cần chi phí lớn để xác định giá trị thì việc áp dụng thuế tuyệt đối sẽ đảmbảo tránh trường hợp khai thấp giá trị tính thuế để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp
c) Phân loại theo phân cấp đánh thuế
Phân loại theo phân cấp đánh thuế, hệ thống thuế được chia thành 2 loạichính:
- Thuế quốc gia (thuế trung ương): là loại thuế do Chính phủ trung ươngquy định và thu để phục vụ cho các mục tiêu chi của ngân sách trung ương
- Thuế địa phương: là loại thuế do chính quyền địa phương quy định và thu
để phục vụ cho các mục tiêu chi của ngân sách địa phương
Việc phân loại theo thuế quốc gia hoặc thuế địa phương phụ thuộc rất lớnvào phân cấp chính quyền và phân cấp tài khoá Ở các nước kinh tế phát triển(OECD) thông thường hệ thống thuế được phân chia thành thuế quốc gia và thuếđịa phương rõ rệt Tuy nhiên ở các nước đang phát triển, sự phân chia này chưa
Trang 14thực sự rõ ràng, tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của từng nước Việt Nam hiệnnay chưa có thuế địa phương, mặc dù một số loại thuế đã được phân chia nguồnthu 100% cho ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.
1.4 Các tiêu thức đánh giá hệ thống thuế
Để đánh giá hệ thống thuế, thông thường có thể sử dụng hệ thống các tiêuthức cơ bản sau đây:
a) Tính công bằng:
Thuế cần đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế giữa các đốitượng Trên cơ sở nguyên lý công bằng, công bằng của thuế (equity) không cónghĩa là cào bằng bình quân (equality) mà được hiểu là công bằng theo chiềungang và công bằng theo chiều dọc Tính công bằng là cần thiết để đảm bảo sự
ổn định kinh tế, chính trị, xã hội và động lực phát triển của nền kinh tế
Tính công bằng của thuế được thể hiện chủ yếu qua tính chất luỹ tiến,ngang bằng, hay luỹ thoái của thuế suất Chẳng hạn, so với thu nhập của các đốitượng nộp thuế, thuế thu nhập cá nhân với biểu thuế suất luỹ tiến từ 5-35% tuỳtheo mức thu nhập chịu thuế từ thấp đến cao là tương đối công bằng Thuế thunhập doanh nghiệp là ngang bằng vì đánh cùng một mức thuế suất 25% đối vớimọi loại hình doanh nghiệp Trong khi đó, thuế VAT thu 10% trên giá hàng hoá,dịch vụ đối với mọi đối tượng, kể cả người giàu và người nghèo Khi đó, thuế thểhiện tính luỹ thoái vì tỷ lệ số thuế phải nộp trên thu nhập của người giàu sẽ thấphơn người nghèo Do đó, tính công bằng của loại thuế này là tương đối hạn chế
b) Tính hiệu quả:
Thuế cần đảm bảo tính hiệu quả trong phân bổ nguồn lực cho các hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Đảm bảo phân bổnguồn lực tối ưu, tránh những ảnh hưởng bóp méo đến phân bổ nguồn lực là mộttrong những tiêu thức quan trọng để đánh giá hệ thống thuế Tiêu thức này còngọi là tính trung lập của thuế vì phản ánh việc áp dụng thuế có ảnh hưởng đến cáchoạt đông kinh tế xã hội đến mức độ nào Ảnh hưởng bóp méo càng thấp thì thuếcàng trung lập và hiệu quả càng cao
Trang 15Bên cạnh đó, tính hiệu quả còn có thể được hiểu là tiết kiệm chi phí thựchiện pháp luật thuế đối với cả đối tượng nộp và cơ quan quản lý thuế Trong một
số trường hợp, số thu thuế được thấp trong khi chi phí quản lý thuế lớn sẽ khôngđảm bảo hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế Chẳng hạn, việc áp dụng thuếthừa kế cần chuẩn bị các điều kiện quản lý thu thuế hết sức phức tạp, đặc biệt là
hệ thống định giá tài sản thừa kế Trong bối cảnh các nước đang phát triển ở trình
độ thấp, việc thu thuế thừa kế có thể sẽ kém hiệu quả nếu xét trên phương diện sốthuế thu được và chi phí bỏ ra cả đối với cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế
c) Tính khả thi:
Thuế cần đảm bảo tính khả thi đến có thể được áp dụng và phát huy hiệuquả trên thực tiễn Một chính sách thuế dù được thiết kế đảm bảo mục tiêu chínhsách tốt đến đâu cũng không thể phát huy tác dụng thực tế nếu không đảm bảokhả năng thực thi cả đối tượng nộp và cơ quan quản lý thuế Chẳng hạn, thuế giátrị gia tăng có đặc điểm ưu việt hơn thuế doanh thu vì tránh đánh thuế trùng; tuynhiên, quy trình quản lý thuế giá trị gia tăng, đặc biệt là quản lý hệ thống hoáđơn, chứng từ, phương pháp tính thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế, rất phức tạpnên khó áp dụng hoặc tính khả thi không cao khi áp dụng ở quốc gia đang tronggiai đoạn đầu của quá trình phát triển, thiếu các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết,đặc biệt là năng lực của cơ quan thuế và trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luậtcủa người nộp thuế
Thông thường, thực tiễn triển khai chính sách thuế phát sinh rất nhiều vấn
đề thực tế liên quan đến cả quy trình quản lý thuế, trình độ và năng lực của cácđối tượng quản lý và cơ quan quản lý làm cho chính sách không đạt được nhữngmục đích đề ra Do vậy, cần xem xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội để thiết
kế chính sách thuế phù hợp Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối vớinhững nước kinh tế chuyển đổi trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển nhưViệt Nam
1.5 Các nội dung, yếu tố cấu thành chủ yếu của thuế
Trang 16a) Đối tượng đánh thuế (taxable objectives):
Đối tượng đánh thuế là thu nhập, hàng hoá, dịch vụ hoặc tài sản trực tiếpchịu tác động của thuế Chẳng hạn, các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công làđối tượng chịu thuế của thuế thu nhập cá nhân
b) Đối tượng nộp thuế (taxpayers):
Đối tượng nộp thuế là chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách chínhphủ theo quy định của pháp luật Ví dụ, cá nhân có thu nhập chịu thuế là đốitượng nộp thuế thu nhập cá nhân
c) Đơn vị tính thuế (tax unit):
Đơn vị tính thuế là quy ước đơn vị cơ sở để xác định nghĩa vụ nộp thuế củađối tượng nộp thuế Chẳng hạn, thế thu nhập cá nhân quy định đánh thuế đối vớithu nhập của riêng vợ, chồng hay gộp của cả hộ gia đình
d) Cơ sở tính thuế (tax base):
Cơ sở tính thuế là tổng mức giá trị chịu thuế của đối tượng nộp thuế để xácđịnh nghĩa vụ nộp thuế Cơ sở tính thuế thông thường được xác định theo nguyêntắc lấy tổng doanh thu hoặc thu nhập trừ đi các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ theoquy định Chẳng hạn, thu nhập ròng của doanh nghiệp (còn gọi là thu nhập chịuthuế) sau khi lấy tổng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ theo quyđịnh
đ) Thuế suất (tax rate):
Thuế suất là mức thu trên một đơn vị cơ sở tính thuế Ví dụ: thuế thu nhậpdoanh nghiệp được quy định 25% có nghĩa là cứ 100 đồng thu nhập chịu thuế thì
sẽ phải nộp 25 đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách nhà nước.Thuế suất được coi là linh hồn của một sắc thuế vì nó thể hiện rõ gánh nặng thuế
mà đối tượng nộp thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước
e) Xác định số thuế phải nộp (payable tax amount):
Trang 17Số thuế phải nộp bằng cơ sở tính thuế nhân với thuế suất Chẳng hạn, nếuthu nhập chịu thuế là 100 triệu, thuế suất là 25% thì số thuế phải nộp sẽ là 100triêu * 25% = 25 triệu đồng.
g) Ưu đãi thuế (tax incentives/preferential treatments):
Ưu đãi thuế là các điều khoản đặc biệt cho phép giảm hoặc miễn nghĩa vụthuế đối với một số đối tượng và trường hợp cụ thể Thông thường các quốc giaquy định một số điều khoản ưu đãi, miễn giảm thuế cho một số đối tượng có hoàncảnh khó khăn hoặc đặc biệt so với phần đông các đối tượng nộp thuế còn lại đểtạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng này tham gia các hoạt động kinh tếtrong phạm vi toàn xã hội
Ưu đãi thuế thường có hai mặt, bên cạnh những tác dụng tích cực, ưu đãithuế có thể làm bóp méo quá trình phân bổ nguồn lực và môi trường kinh doanh,đặc biệt trong bối cảnh trình độ quản lý thuế còn hạn chế hoặc môi trường thôngtin kém công khai, minh bạch
h) Quản lý thu thuế (tax administration):
Quản lý thuế là quá trình tổ chức thực hiện pháp luật thuế, bao gồm cả mốiquan hệ, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý thu thuế và đối tượng nộpthuế và các tổ chức, cá nhân liên quan
i) Xử lý vi phạm (violation of tax laws and regulations):
Xử lý vi phạm là việc vận dụng các điều khoản quy định các trường hợp vàhình thức xử lý vi phạm các quy định của pháp luật về thuế
k) Hiệu lực thi hành (effectiveness):
Hiệu lực thi hành là các nội dung, điều khoản quy định về việc phạm vi,hiệu lực và thời gian thi hành trong quy định pháp luật về thuế
1.6- Tác động, ảnh hưởng kinh tế xã hội của thuế:
Trang 18Thuế có tác động, ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của nền sản xuất xãhội, cụ thể như sau:
- Thuế tác động đến toàn bộ hành vi kinh tế của các chủ thể trong nền kinh
tế và quá trình sản xuất – phân phối – tiêu dùng qua việc ảnh hưởng trực tiếp đếngiá đầu vào - đầu ra, giá tiêu dùng hàng hoá - dịch vụ và tỷ suất thu hồi vốn đầu
tư cả ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn (xem phụ lục số 1 đính kèm).
- Thuế tác động đến phân phối thu nhập và ảnh hưởng đến công bằng xãhội; thông thường, thuế sẽ góp phần làm giảm bất công bằng xã hội do thu thuếchủ yếu từ một bộ phận dân số có thu nhập cap để cung cấp hàng hoá - dịch vụcông cộng cho đại bộ phận dân số, bao gồm cả những người có thu nhập thấp
- Thuế ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ chính trị xã hội trong nền kinh
tế thị trường, đặc biệt trong bối cảnh thuế thường là bộ phận quan trọng cấu thànhcủa chính sách kinh tế vĩ mô của các chính phủ và các cấp chính quyền
2 Tổng kết, đánh giá quá trình cải cách thuế ở Việt Nam
2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội của cải cách thuế
Từ giữa những năm 1980, Việt Nam đã triển khai thực hiện chương trìnhcải cách kinh tế tổng thể (còn gọi là chương trình đổi mới) với mục tiêu chuyểnnền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế theo định hướng thị trường;trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khuyến khích phát triểnkhu vực kinh tế tư nhân, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài;
- Mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại, hạn chế vàtừng bước xoá bỏ các rào cản để thúc đẩy tự do hoá đầu tư và thương mại;
- Cải cách cơ chế và tăng cường phân cấp quản lý kinh tế, tách quản lý nhànước ra khỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
- Cải cách chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng, thúc đẩy sự phát triểncủa thị trường vốn, thị trường chứng khoán;
Trang 19- Cải cách tài chính công, xây dựng các cơ chế, chính sách mới về thu, chingân sách, quản lý nợ nước ngoài và cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước.
Trải qua 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạtđược những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, cụ thể như sau:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định Tổng sản phẩm
trong nước (GDP) tăng 4,4% giai đoạn 1986-1990, 8,2% giai đoạn 1991-1995,7% giai đoạn 1996-2000 và khoảng 7-7.5% giai đoạn 2001-2010 Việt Nam trởthành một những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất và ổn định nhấttrong khu vực và trên thế giới Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân trên 8%trong giai doạn 2006-2008 Mặc dù nền kinh tế toàn cầu chịu ảnh hưởng nặngcủa khủng hoảng tài chính nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăngtrưởng khoảng 5-6% trong giai đoạn 2009-2010 nhờ có nỗ lực cải cách củaChính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư.1
- Nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá Tốc độ tăng trưởng
của khu vực công nghiệp, xây dựng cao hơn nhiều so với các khu vực nông nghiệp
và dịch vụ (10,2% so với 3,8% và 7% tính bình quân giai đoạn 2001-2005) Do đó,
cơ cấu kinh tế đã biến đổi nhanh theo hướng chuyển từ khu vực nông nghiệp sangkhu vực công nghiệp với tỷ trọng GDP của khu vực công nghiệp và xây dựng đãtăng từ khoảng 22,7% năm 1990 lên 40-41%; trong khi đó tỷ trọng GDP của khuvực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm từ 38,7% năm 1990 xuống còn khoảng20-21% và tỷ trọng của khu vực dịch vụ chiếm khoảng 38-40% trong những nămgần đây
- Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển tăng nhanh tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế Tổng số vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2001-2005 gấp trên 2 lần tổng
số vốn đầu tư phát triển huy động được trong giai đoạn 1996-2000 Kể từ khinền kinh tế hồi phục sau khủng hoảng tài chính châu Á, tỷ lệ vốn đầu tư so vớiGDP đã tăng nhanh và đạt mức kỷ lục 41% GDP năm 2006 Trong những nămgần đây, tỷ lệ đầu tư của Việt Nam đạt bình quân khoảng 42%GDP đã đưa Việt
1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2000-2004 của Trung Quốc là 8,5%; Hàn Quốc 5,5%; Thái Lan 5%; Ma-lai-xi-a 5,0%; In-đô-nê-xi-a 4,6%;
Trang 20Nam trở thành quốc gia có tỷ lệ đầu tư hiện nay cao hơn nhiều nước trong khuvực Trong đó, nguồn vốn ngoài quốc doanh đã chiếm gần một phần ba tổng sốvốn đầu tư toàn xã hội Nguồn vốn đầu tư nước ngoài theo số đăng ký mới và bổsung giai đoạn 1988-2006 đạt trên 78 tỷ USD, vốn đã thực hiện đạt trên 37 tỷUSD Nguồn vốn ODA đạt trên 30 tỉ USD, giải ngân đạt khoảng 16 tỉ USD.2
- Lạm phát được kiềm chế và từng bước kiểm soát Từ giữa những năm
1990, với việc thực thi chính sách tài chính và chính sách tiền tệ chặt chẽ, lạmphát phi mã từ những năm 1980 được đẩy lùi và kiểm soát với mức tăng chỉ sốgiá tiêu dùng bình quân hàng năm dưới 1 con số từ giữa những năm 1990; đặcbiệt, trong thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ởmức rất thấp (-0,6% năm 2000) Trong thời gian gần đây, do thực hiện chính sáchtài chính - tiền tệ mở rộng trong một thời gian khá dài và tình hình giá cả trên thịtrường thế giới biến động lớn, đặc biệt là giá dầu thô, nguyên liệu thô và lươngthực, thực phẩm, nên chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trên 10% Mức tăng CPI năm
2008 đã tăng lên khoảng 27% năm 2008 Tuy nhiên, với quyết tâm của Chính phủ
và nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, tình trạng lạm phátcao sẽ từng bước được kiềm chế trong thời gian 1-2 năm Dự kiến năm 2009 tỷ lệlạm phát sẽ vào khoảng 6.88% và dưới 10% trong năm 2010 Triển vọng kinh tế
vĩ mô của Việt Nam vẫn đảm bảo ổn định và bền vững trong tương lai trung vàdài hạn
- Thu ngân sách nhà nước tăng nhanh và ổn định, đạt mức bình quân
22%GDP giai đoạn 1991-2005 (ước khoảng 24% giai đoạn 2001-2005), đảm bảo
bù đắp chi tiêu dùng thường xuyên và dành một phần đáng kể cho đầu tư pháttriển Bội chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ ở mức dưới 5%GDP Nợ nướcngoài đã được xử lý thành công; tỷ lệ tổng số dư nợ so với GDP đảm bảo ở mức
an toàn với mức rất thấp dưới 40% kể từ cuối những năm 1990 và đầu những
2 Trong năm 2007, tổng số vốn đăng ký tăng lên mức 21,3 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện khoảng 8 tỷ USD; trong năm 2008 tổng số vốn đăng ký đạt trên 64 tỷ USD với số vốn thực hiện đạt khoảng gần 12 tỷ USD Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, năm 2009 dự kiến tổng vốn đăng ký đạt trên 20 tỷ USD với số vốn thực hiện đạt khoảng 10 tỷ USD Cam kết ODA cho Việt Nam năm 2006 đạt 3,75 tỉ USD, năm 2007 là 4,45 tỉ USD, năm
2008 dự kiến trên 5 tỷ USD; giải ngân năm 2006 đạt 1,8 tỉ USD, năm 2007 đạt 2,0 tỉ USD và
dự kiến năm 2008 sẽ đạt 2,2 tỉ USD (Nguồn: www.gso.gov.vn và www.vneconomy.com.vn)
Trang 21năm 2000 Trong thời gian gần đây, do thực hiện chính sách kích cầu của Chínhphủ, tỷ lệ bội chi ngân sách tăng lên đến mức khoảng gần 7% năm 2009 nhưng
dụ kiến sẽ giảm dần trong các nănm tiếp theo Tổng nợ công tăng nhưng vẫn ởtrong phạm vi cho phép và chưa có ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế vĩ mô, cảtruớc mắt và trong tương lai trung và dài hạn
- Đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện: thu nhập bình quân
đầu người hàng tháng tăng từ 295 nghìn đồng năm 1999 lên 356,1 nghìn đồng năm2001-2002 và 484,4 nghìn đồng năm 2003-2004 Tỷ lệ hộ nghèo lương thực, thựcphẩm giảm từ 13,3% năm 1999 xuống còn 9,9% năm 2001-2002 và 6,9% năm2003-2004 Tỷ lệ nghèo chung giảm từ 37,4% năm 1997-1998 xuống còn 28,9%năm 2001-2002, 22% năm 2005 và 18% năm 2006.3 Cơ quan phát triển Liên hợpquốc (UNDP) đã xếp Việt Nam vào danh sách những quốc gia dẫn đầu các nướcđang phát triển về thành tích giảm nghèo và tiêu biểu cho nhóm các nước đangphát triển đã đạt được sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển các chínhsách xã hội vì con người Báo cáo Phát triển Con người năm 2006 của tổ chức này
đã xếp Việt Nam ở vị trí 109/177 nước được xếp hạng (xem UNDP (2006)
2.2 Quá trình cải cách hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam
Cùng với việc thực hiện chương trình đổi mới chuyển nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, hệ thống thuế đã trải qua hai giai đoạncải cách lớn nhằm thiết lập một hệ thống chính sách thuế đồng bộ và phù hợp vớinền kinh tế thị trường vào giai đoạn 1 trong đầu những năm 1990 và đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế vào giai đoạn 2 trong cuối nhữngnăm 1990, đầu những năm 2000 Hiện nay, Việt Nam đang chuyển sang giai đoạncải cách thuế bước 3 với mục tiêu hiện đại hoá, nâng cao tính công bằng và hiệuquả của hệ thống chính sách thuế (quá trình cải cách hệ thống chính sách thuếđược thể hiện cụ thể qua Bảng 1 dưới đây)
Trang 22
Bảng 1: Quá trình cải cách thuế ở Việt Nam
Chỉ tiêu Hệ thống thuế ngân sách
trước khi đổi mới
Cải cách thuế bước 1 Cải cách thuế bước 2 Cải cách thuế bước 3
Thời kỳ Đến cuối những năm 1980 Từ cuối những năm 1980 đến
đầu những năm 1990
Từ cuối những năm 1990 đến đầu những năm 2000
Mở rộng hội nhập kinh
tế quốc tế; Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á.
Hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế và khu vực; nền kinh tế bước đầu chuyển sang bước phát triển cao hơn.
Đặc điểm nổi bật
trong cải cách
thuế
- Phân biệt giữa khu vực kinh
tế quốc doanh và ngoài quốc doanh;
- Chính sách thu đối với khu vực kinh tế quốc doanh bao gồm các chế độ thu quốc doanh, trích nộp lợi nhuận, thu chênh lệch ngoại thương;
- Chính sách thu đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm thuế công thương nghiệp, thuế buôn chuyến, thuế nông nghiệp
- Thống nhất áp dụng hệ thống chính sách thuế đối với khu vực nhà nước và phi nhà nước trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế;
- Các chính sách thuế chủ yếu:
thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế lợi tức, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tài nguyên, thuế nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế môn bài, lệ phí trước
bạ và các loại phí, lệ phí khác.
- Thay thế thuế doanh thu và thuế lợi tức bằng thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Sửa đổi, bổ sung các loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và một số loại thuế khác;
- Bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thuế sát sinh.
- Hướng đến xây dựng hệ thống thuế hiện đại, công bằng và hiệu quả, bao gồm:
+ Thuế gián thu đánh trên hàng hoá, dịch vụ: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
+ Thuế trực thu đánh trên thu nhập: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân;
+ Thuế tài sản: thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, thuế tài sản; + Các loại thuế khác khác, các loại phí và lệ phí.
Trang 23a) Cải cách thuế bước 1
Trước năm 1990, Việt Nam không áp dụng hệ thống thuế thống nhấtcho mọi thành phần kinh tế mà quy định các cơ chế, chính sách thu cóphân biệt giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh, bao gồm: chế độthu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận đối với khu vực kinh tế nhà nước vàcác loại thuế đối với khu vực kinh tế tư nhân như thuế doanh nghiệp, thuếbuôn chuyến, thuế môn bài, thuế nông nghiệp…
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước trong việcchuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế thị trường, một
hệ thống các giải pháp đổi mới đồng bộ về cơ chế chính sách, trong đó cóchính sách thu ngân sách, đã được từng bước triển khai thực hiện từ cuốinhững năm 1980, đầu những năm 1990 trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế
Trong đó, để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế vàtạo môi trường pháp lý về thuế một cách công bằng, bình đẳng giữa cáckhu vực và thành phần kinh tế, tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhànước, một hệ thống chính sách thuế thống nhất đã được ban hành và đưavào áp dụng đối với mọi thành phần kinh tế từ đầu những năm 1990, baogồm các loại thuế chủ yếu: thuế doanh thu; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu; thuế lợi tức; thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài;thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế tài nguyên; thuế sử dụngđất nông nghiệp; thuế nhà đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế sátsinh; thuế môn bài; và các loại phí, lệ phí
Chương trình cải cách thuế bước 1 với đặc điểm nổi bật là việc banhành và áp dụng hệ thống chính sách thuế thống nhất thay thế các cơ chế,chính sách thu phân biệt giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanhtrước đó đã góp phần quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sáchnhà nước, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thúc đẩy sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cùng với quá trình cải cách hệ thống chính sách thuế, cơ quan quản
lý thuế thống nhất là Tổng cục thuế thuộc Bộ Tài chính đã được thành lậptheo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương để thay thế cho các cơquan quản lý các nguồn thu khác nhau trước đây (Xem hộp 1 dưới đây)
Trang 24b) Cải cách thuế bước 2
Từ giữa những năm 1990, các chính sách cải cách kinh tế đã thực sựphát huy hiệu quả với những thành tựu quan trọng như đạt được tốc độtăng trưởng kinh tế cao, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, quan hệ kinh tếđối ngoại mở rộng và mức sống dân cư được không ngừng cải thiện Tuynhiên, đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong nước và mở rộngquan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là ảnh hưởng của khủng hoảng tài chínhchâu Á, hệ thống chính sách thuế cần tiếp tục sửa đổi theo hướng đảm bảomôi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi và phù hợp với yêu cầu mở cửanền kinh tế
Trong bối cảnh đó, chương trình cải cách thuế bước 2 đã được triểnkhai với việc ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật thuế giátrị gia tăng thay thể Luật thuế lợi tức và Luật thuế doanh thu, sửa đổi, bổsung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vàcác chính sách thuế khác nhằm đảm bảo phù hợp với yêu cầu mở cửa nền
Hộp 1: Sự thành lập hệ thống cơ quan quản lý thuế
Trước khi tiến hành cải cách thuế bước 1, công tác quản lý thu ngân sách do các
bộ phận quản lý chuyên ngành thuộc Bộ Tài chính và các sở tài chính thực hiện riêng theo từng khu vực kinh tế, bao gồm:
Cục Thu quốc doanh cùng với các vụ tài vụ chuyên ngành thuộc Bộ Tài chính, Chi cục thu quốc doanh trung ương và Phòng tài vụ chuyên ngành thuộc Sở Tài chính chịu trách nhiệm quản lý thu ngân sách từ xí nghiệp quốc doanh;
Cục thuế công thương nghiệp thuộc Bộ Tài chính và các Chi cục thuế công thương nghiệp các tỉnh, thành phố thuộc Sở Tài chính chịu trách nhiệm quản lý thu thuế công thương nghiệp;
Vụ thuế nông nghiệp thuộc Bộ Tài chính và các phòng thuế nông nghiệp thuộc Sở Tài chính chịu trách nhiệm thu thuế nông nghiệp.
Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan (cơ quan hải quan tại các cửa khẩu) được giao nhiệm vụ quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Cùng với quá trình cải cách thuế bước 1, Tổng Cục thuế thuộc Bộ Tài chính được thành lập theo ngành dọc thực hiện chức năng quản lý thu thuế thống nhất từ trung ương đến địa phương (riêng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vẫn do Tổng cục Hải quan quản lý thu).
Trang 25kinh tế, tính linh hoạt và khả năng cạnh tranh, góp phần thúc đẩy quá trìnhhội nhập, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền sản xuất xã hội (xem hộp 2dưới đây về hệ thống chính sách thuế hiện hành của Việt Nam).
Do dó, có thể khẳng định đây là giai đoạn củng cố và hoàn thiện hệthống chính sách thuế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội vàhội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh khủng hoảng tài chính châu Á
c) Cải cách thuế bước 3
Sau hai thập kỷ thực hiện chính sách đổi mới, cấu trúc nền kinh tế
và điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến đáng kể,chuẩn bị bước vào một giai đoạn mới của quá trình phát triển Hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam cũng chuyển sang giai đoạn mới với mức độhội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực Đứng trướcyêu cầu phát triển của nền sản xuất xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, đặcbiệt là yêu cầu đàm phán gia nhập và thời kỳ sau khi gia nhập WTO, hệthống thuế Việt Nam cần tiếp tục cải cách theo hướng hiện đại, tăng cườngtính công bằng, hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế trong điều kiệnmới
Hộp 2: Hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam
Hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam có các loại thuế sau:
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế lợi tức trước năm 1999)
Thuế thu nhập cá nhân
Thuế giá trị gia tăng (thuế doanh thu trước năm 1999)
Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế tài nguyên
Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Trang 26Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số201/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/2004 phê duyệt chương trình cải cách hệ
thống thuế đến năm 2010 (xem phụ lục 2 đính kèm) Đây có thể coi là
chương trình cải cách tổng thể bước 3 đối với hệ thống thuế Việt Nam Cácnội dung cải cách chủ yếu bao gồm:
- Ban hành các chính sách thuế mới: Thuế thu nhập cá nhân (ápdụng thống nhất đối với các loại thu nhập của cá nhân, thay cho thuế thunhập đối với người có thu nhập cao); thuế sử dụng đất (thay cho thuế nôngnghiệp, thuế nhà đất), thuế tài sản, thuế môi trường;
- Sửa đổi các chính sách thuế hiện hành: thuế giá trị gia tăng, thuếtiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanhnghiệp, các loại thuế, phí, lệ phí khác;
- Cải cách công tác quản lý thuế: ban hành Luật quản lý thuế, cảicách và hiện đại hoá công tác tuyên truyền, hỗ trợ, thanh tra thuế, thông tin
dữ liệu, tin học, tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thuế
Như vậy, cải cách thuế bước 3 sẽ là một trong những chương trìnhcải cách chính sách kinh tế quan trọng nhất của Chính phủ Việt Nam hiệnnay và trong thời gian tới Cải cách thuế sẽ gắn liền với các mục tiêu pháttriển kinh tế, xã hội và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thựchiện các chính sách kích thích phục hồi kinh tế hiện nay Về dài hạn, vớimục tiêu nhằm xây dựng một hệ thống thuế hiện đại, công bằng và hiệuquả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc
tế, cải cách thuế bước 3 sẽ là một trong những nhân tố đóng vai trò quyếtđịnh trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thếgiới và khu vực, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để tăng cường thuhút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy phát triển sản xuất kinhdoanh, tích luỹ và tiêu dùng để tạo đà cho sự phát triển nhanh và bền vữngcủa nền kinh tế trong giai đoạn mới
2.3 Tổng kết, đánh giá quá trình cải cách thuế
Quá trình cải cách thuế có thể được tổng kết, đánh giá như sau:
-Thứ nhất, quá trình cải cách thuế ở Việt Nam được diễn ra một cách
đồng bộ, hiệu quả, có hệ thống, mang tính tổng thể đối với tất cả các
Trang 27ngành, lĩnh vực và chủ thể trong nền kinh tế Chỉ trong một thời gian ngắn,
hệ thống thuế, phí và lệ phí được thiết lập và áp dụng thống nhất cho mọichủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế Một số loại thuế hiện đại như thuếgiá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đã đuợc áp dụng một cách hiệu quả
và rộng rãi trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế
- Thứ hai, quá trình cải cách thuế mang tính kế thừa, đảm bảo không
gây biến động lớn đối với các hoạt động sản xuất xã hội Có thể nói, cảicách nhưng vẫn đảm bảo kế thừa là một đặc điểm quan trọng của hệ thốngthuế Việt Nam nói riêng và hệ thống chính sách kinh tế của Việt Nam nóichung Điều này góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định mộtcách tương đối môi trường kinh doanh, thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển.Một trong những yếu tố cơ bản để có thể thực hiện kế thừa trong cải cáchchính sách thuế là Việt Nam có hệ thống chính trị - xã hội ổn định và vữngmạnh Đây cũng là một điểm mạnh của nền kinh tế Việt Nam khi so sánhmột cách tương đối với các nền kinh tế đang phát triển khác trên thế giới
- Thứ ba, quá trình cải cách thuế đã gắn liền với quá trình chuyển
đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bao cấp sang cơ chế thịtrường, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần và hội nhập kinh tế quốc tế Có thể nói, cải cách thuế ở ViệtNam thường đi trước một bước và mở đường cho nền kinh tế phát triển,đặc biệt là đối với hệ thống thuế quan
- Thứ tư, quá trình cải cách chính sách thuế được thực hiện sâu rộng
trên phạm vi cả nước trên cơ sở xem xét tình hình kinh tế xã hội cụ thể củađất nước qua từng thời kỳ, gắn chặt với quá trình cải cách quản lý thuế Do
đó, cải cách thuế đã phát huy vai trò quan trọng của mình đối với việc tăngcường vai trò và hiệu lực quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước.Với vai trò tạo nguồn lực tài chính cho ngân sách và là công cụ quản lý cáchoạt động sản xuất kinh doanh ở tầm vi mô, cải cách hệ thống thuế và côngtác quản lý thuế đóng vai trò là yếu tố trọng tâm trong cải cách quản lýhành chính nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua, hiện nay cũng nhưtrong thời gian tới
- Thứ năm, cải cách thuế được toàn bộ hệ thống chính trị và mọi chủ
thể trong nền kinh tế đồng tình ủng hộ, tạo sự đồng thuận trong hoạch định
Trang 28tế Việt Nam và cần tiếp tục phát huy triệt để trong thời gian tới Tuy nhiên,trong thời gian tới cần phải phát triển hệ thống phản biện chính sách đểđảm bảo tránh nguy cơ thiết kế chính sách thuế thiếu tính khả thi, mâuthuẫn với các mục tiêu chính sách khác, hoặc kém hiệu quả kinh tế haykhông đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội.
- Thứ sáu, cải cách thuế được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu, tiếp
thu kinh nghiệm của các nước với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc
tế Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đã triển khai nhiều đề án nghiêncứu kinh nghiệm quốc tế về cải cách thuế với sự hỗ trợ của Chính phủ cácnước như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Anh, Pháp và các tổ chức tàichính, tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB Qua đó, những bài học kinhnghiệm, kể cả thành công và thất bại, đã được xem xét và tính toán kỹ khithiết kế hệ thống thuế ở Việt Nam; qua đó góp phần giảm thiểu rủi ro trongquá trình thiết kế và thực thi chính sách thuế trong thời gian qua
Như vậy, cải cách thuế ở nước ta trong thời gian qua có thể nói làtương đối nhanh, hiệu quả và thành công so với mục tiêu đề ra cũng nhưquá trình cải cách thuế ở các nước đang phát triển Với những thành tựuquan trọng đã đạt được, có thể nói đến nay về cơ bản một hệ thống thuếđồng bộ, tương đối công bằng và hiệu quả đã được xây dựng và triển khaithực hiện có hiệu quả ở Việt Nam Hiện nay, khủng hoảng tài chính toàncầu đã làm chậm quá trình cải cách thuế bước 3, tuy nhiên cũng tạo cơ hội
để Việt Nam có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình cảicách, cả trên phương diện chính sách và quản lý thuế Trong thời gian tới,phát huy những kết quả đã đạt đuợc, Chính phủ tiếp tục triển khai thựchiện cải cách thuế bước 3 với mục tiêu xây dựng hệ thống thuế công bằng,hiệu quả và hiện đại, hướng đến chuẩn mực quốc tế nhằm thúc đẩy sự pháttriển kinh tế xã hội nhanh và bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá Cảicách thuế bước 3 sẽ là giai đoạn cải cách khó khăn, phức tạp, mất nhiềuthời gian, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế trong nuớc và thế giới biếnđổi mạnh mẽ dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay
2 Phân tích, đánh giá vai trò, tác động và ảnh hưởng của cải cách thuế
Trang 292.1 Vai trò, tác động, ảnh hưởng của cải cách thuế đến nền tài chính quốc gia
2.1.1 Cải cách thuế tạo đột phát trong tăng thu ngân sách, góp phần tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia
Trải qua các giai đoạn cải cách thuế, thu ngân sách ngày càng tăng
và đóng vai trò quan trọng đảm bảo nguồn để tăng chi ngân sách phục vụcác kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Trong giaiđoạn 1996-2000, tổng số thu ngân sách bình quân hàng năm đạt gần 74ngàn tỷ đồng; tăng hơn 2,3 lần so với tổng số thu ngân sách bình quânhàng năm giai đoạn 1991-1995 Trong giai đoạn 2001-2005, số thu ngânsách bình quân hàng năm tăng lên trên 150 ngàn tỷ đồng, tăng gấp hơn 2lần so với số thu ngân sách bình quân năm giai đoạn 1996-2000
So với GDP, tổng số thu ngân sách giai đoạn 1986-1990 đạt 18%;giai đoạn 1991-1995 đạt 21,8%; giai đoạn 1996-2000 giảm còn 20,5% doảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á cuối những năm 1990.Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, cùng với sự phục hồi của nềnkinh tế, thu ngân sách nhà nước tăng mạnh, đạt mức trên 25% từ năm 2003(năm 2006 ước đạt 27%) (xem Biểu 01) Như vậy, cùng với sự phát triểnnhanh chóng của nền sản xuất xã hội và cải cách hệ thống thuế, quy môthu ngân sách ngày càng tăng
Thu ngân sách góp ngày càng tăng, tạo nguồn để tăng chi ngân sách
và góp phần giảm bội chi ngân sách Về quy mô chi ngân sách, dưới sức épcủa tăng trưởng kinh tế và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, quy mô chingân sách trong thời gian qua tăng đáng kể Tổng số chi ngân sách bìnhquân hàng năm (kể cả chi trả nợ gốc) tăng từ 38 ngàn tỷ đồng giai đoạn1991-1995 lên 87 ngàn tỷ đồng giai đoạn 1996-2000 và khoảng 180 ngàn
tỷ đồng giai đoạn 2001-2005
So với GDP, tổng số chi ngân sách tăng từ 25,7% giai đoạn
1986-1990 lên 26,1% giai đoạn 1991-1995, giảm còn 24,4% giai đoạn
1996-2000 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, và tiếp tụctăng mạnh, đạt mức trên 30% từ năm 2003 nhờ có sự phục hồi của nềnkinh tế và tăng thu ngân sách (năm 2006 ước đạt 32%) Trong đó, chi trả
nợ gốc chiếm khoảng 2,5-3%GDP Do vậy, nếu không kể chi trả nợ gốc
Trang 30theo thông lệ quốc tế, tổng số chi ngân sách sẽ ở mức khoảng 28%GDPtrong những năm gần đây
Biểu 01: Quy mô ngân sách giai đoạn 1986-2006
Nguồn: Quyết toán ngân sách nhà nước các năm và ước tính của tác giả
Trong khi đó, chi ngân sách được kiểm soát khá chặt chẽ, đảm bảophù hợp với khả năng tăng thu Điều này được thể hiện qua việc bội chingân sách luôn được kiểm soát và duy trì ở mức thấp cho đến đầu nhữngnăm 2000 Tỷ lệ bội chi ngân sách giảm từ 7,7% giai đoạn 1986-1990xuống còn 4,3% giai đoạn 1991-1995 và 3,8% giai đoạn 1996-2000 Nếutính theo thông lệ quốc tế, bội chi ngân sách được xác định là số chênhlệch giữa tổng số thu và tổng số chi ngân sách không kể chi trả nợ gốc thì
tỷ lệ bội chi ngân sách ở nước ta còn ở mức thấp hơn, luôn dưới 2%GDP
kể từ những năm 1990
Từ đầu những năm 2000, mức bội chi ngân sách luôn ở mức cao,gần bằng mức Quốc hội cho phép là 5%GDP do việc thực hiện chính sáchtài chính mở rộng để khuyến khích tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảngchâu Á.4
4 Chính sách tài chính mở rộng cũng có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát tăng cao trong thời gian gần đây.
Trang 31Đánh giá chung cả giai đoạn cải caác thuế từ đầu những năm 1990
đến nay có thể kết luận: Chính phủ thành công trong việc cải cách hệ
thống thuế với kết quả là quy mô thu ngân sách tăng mạnh đã tạo điều kiện cho tăng chi ngân sách để phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và tỷ lệ bội chi ngân sách được duy trì ở mức độ có thể kiểm soát được.
2.1.2 Phân tích, đánh giá tác động của cải cách thuế đến cơ cấu thu ngân sách
a) Tác động, ảnh hưởng đến cơ cấu thu ngân sách theo tính chất khoản thu
Trong giai đoạn từ đầu những năm 1990 đến nay, tỷ trọng số thungân sách từ dầu thô so với GDP tăng từ 2-3% giai đoạn 1991-1999 lên5,3% năm 2000 và 7,3% năm 2005 (ước đạt khoảng 8.2% năm 2006, xemBiểu 02 dưới đây) Tiền thu từ cấp quyền sử dụng đất đã tăng đột biến saukhi thực hiện Luật đất đai năm 2003 với số thu đạt trên 1,5% GDP tronggiai đoạn từ năm 2003 đến nay
Biểu 02: Tỷ trọng thu ngân sách/GDP theo tính chất khoản thu
Nguồn: Quyết toán ngân sách nhà nước các năm và ước tính của tác giả
Trong khi đó, tỷ trọng số thu ngân sách từ thuế, phí không kể dầuthô so với GDP không biến động lớn trong cả giai đoạn, đạt khoảng 18-19% giai đoạn 1993-1996, giảm còn khoảng 15% giai đoạn cuối những
Trang 32năm 1990 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, và sau
đó tăng lên mức khoảng 17% giai đoạn từ năm 2003 đến nay cùng với sựhồi phục và phát triển kinh tế sau khủng hoảng Tỷ trọng số thu ngân sách
từ viện trợ trong cả giai đoạn giảm dần, từ khoảng 0,7%GDP trong đầunhững năm 1990 xuống còn khoảng 0,4%GDP trong những năm gần đây
Từ đó có thể đi đến kết luận: tỷ trọng thu ngân sách so với GDP
tăng chủ yếu nhờ nguồn thu từ dầu thô và cấp quyền sử dụng đất; tỷ trọng
số thu ngân sách từ thuế, phí từ nội tại nền kinh tế (không kể dầu thô) biến động không lớn
Vì số thu từ dầu thô và cấp quyền sử dụng đất tăng mạnh trong khi
số thu từ thuế, phí khác không tăng, cơ cấu thu ngân sách theo tính chất
khoản thu biến đổi rõ nét với tỷ trọng số thu từ dầu thô và cấp quyền sử dụng đất tăng trong khi số thu từ thuế, phí không kể dầu thô giảm Tỷ
trọng số thu từ dầu thô tăng từ khoảng 15% lên gần 30% tổng số thu ngânsách trong những năm gần đây Tỷ trọng số thu ngân sách từ cấp quyền sửdụng đất tăng mạnh, chiếm khoảng 7-8% tổng số thu ngân sách từ năm
2003
Đồng thời, số thu ngân sách từ thuế, phí không kể dầu thô đã giảmtương ứng từ trên 80% trong giai đoạn giữa những năm 1990 còn dưới70% tổng số thu ngân sách từ những năm 2003 trở lại đây (ước khoảng63% năm 2006) Tỷ trọng số thu ngân sách từ viện trợ cũng giảm dần từkhoảng trên 3% xuống còn khoảng 1,5% tổng số thu ngân sách trong thờigian gần đây (Xem Biểu 03 dưới đây)
Trong tổng số thu thuế, phí (không kể thu từ dầu thô), số thu bốn
loại thuế chính, bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu và thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng
tăng Tỷ trọng tổng số thu bốn loại thuế chính tăng từ 66% giai đoạn
1991-1995 lên 72% giai đoạn 1996-2000 và khoảng 80% trong những năm gầnđây Trong đó, tỷ trọng số thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giảm mạnh
từ 26,6% giai đoạn 1991-1995 xuống còn 23,5% giai đoạn 1996-2000 vàchỉ còn khoảng 13,4% năm 2006 (xem Biểu 04 dưới đây)
Tỷ trọng số thu thuế giá trị gia tăng (thuế doanh thu trước năm1999) tăng mạnh từ 19,1% lên 24,1% và 34,5% tương ứng trong cùng thời
kỳ Tỷ trọng số thu thuế tiêu thụ đặc biệt cũng tăng lên từ khoảng 8% thời
Trang 33kỳ 1991- 1995 đến khoảng 10% từ năm 2004 đến nay Tỷ trọng thuế thunhập doanh nghiệp tăng từ 12,7% lên khoảng 22% trong thời gian gần đây.
Biểu 03: Cơ cấu thu ngân sách theo tính chất khoản thu
Nguồn: Quyết toán ngân sách nhà nước các năm và ước tính của tác giả
Biểu 04: Cơ cấu thu ngân sách không kể dầu thô theo loại thuế
Nguồn: Quyết toán ngân sách nhà nước các năm và ước tính của tác giả
Trang 34Như vậy, thuế gián thu vẫn là loại thuế chủ đạo trong hệ thống thuếViệt Nam, chiếm đến hơn 60% tổng số thu thuế Trong khi đó, tỷ trọng cácloại thuế khác như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế tàinguyên, lệ phí trước bạ và các loại phí, lệ phí khác lại giảm đáng kể Đốivới thuế thu nhập cá nhân, mặc dù tỷ trọng ngày càng tăng những cũng chỉchiếm khoảng 3% tổng số thu ngân sách từ thuế, phí không kể từ dầu thôtrong những năm gần đây.
b) Tác động, ảnh hưởng đến cơ cấu thu ngân sách theo thành phần kinh tế
Tỷ trọng số thu ngân sách từ khu vực doanh nghiệp nhà nước so vớitổng số thu ngân sách nhà nước giảm từ trên 30% vào đầu những năm
1990 còn dưới 20% từ năm 2003 (xem Biểu 05 dưới đây)
Biểu 05: Cơ cấu thu ngân sách theo thành phần kinh tế
Nguồn: Quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm và ước tính của tác giả
Trong khi đó, tỷ trọng số thu ngân sách từ khu vực đầu tư nướcngoài tăng mạnh, từ khoảng 16% tổng số thu ngân sách vào giữa nhữngnăm 1990 lên đến khoảng trên 40% từ năm 2005; trong đó chủ yếu lànguồn thu từ các doanh nghiệp dầu khí Tỷ trọng số thu từ các doanhnghiệp đầu tư nước ngoài không kể dầu khí tăng dần và chiếm khoảng trên9% tổng số thu ngân sách từ năm 2005 Tỷ trọng số thu ngân sách từ khuvực ngoài quốc doanh so với tổng số thu ngân sách nhà nước đạt khoảng
Trang 3510% trong giai đoạn giữa những năm 1990, giảm còn khoảng 6-7% vàocuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 và tăng lên khoảng 8,5% từnăm 2005 Tỷ trọng các khoản thu khác không phân loại được giảm từkhoảng 45% tổng số thu ngân sách trong những năm 1990 xuống cònkhoảng trên 30% trong những năm gần đây
Như vậy có thể nhận thấy cơ cấu thu ngân sách theo thành phần
kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể với tỷ trọng số thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm dần, tỷ trọng số thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng dần, đặc biệt là thu từ dầu thô; trong khi đó tỷ trọng số thu từ khu vực ngoài quốc doanh không có biến động đáng kể
c) Tác động, ảnh hưởng đến cơ cấu thu ngân sách theo cấp ngân sách
Trong tổng số thu ngân sách nhà nước, tỷ trọng số thu ngân sáchtrung ương chiếm khoảng 67% vào đầu những năm 1990, tăng lên khoảng75% vào đầu những năm 2000 và giảm còn khoảng 67% vào năm 2004 dothực hiện Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 (xem Biểu 06 dưới đây)
Biểu 06: Cơ cấu thu ngân sách theo phân cấp ngân sách
Nguồn: Quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm và ước tính của tác giả
Mặc dù Luật ngân sách đã tăng cường phân cấp cho ngân sách địaphương nhưng số thu ngân sách trung ương hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớntrong tổng số thu ngân sách do số thu ngân sách từ dầu thô được phân bổ100% cho ngân sách trung ương; số thu từ thuế đối với hàng hoá nhậpkhẩu, thu nhập doanh nghiệp, viên trợ cũng được phân bổ hầu hết cho ngân
Trang 36sách trung ương Do đó có thể nhận định tình hình chung là mặc dù có xu
hướng giảm trong thời gian gần đây nhưng số thu ngân sách trung ương chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu ngân sách nhà nước.
d) Tác động, ảnh hưởng đến cơ cấu ngân sách địa phương
Xem xét quy mô và cơ cấu ngân sách địa phương cho thấy có sự
khác biệt lớn trong tiềm lực nguồn thu và cơ cấu thu ngân sách giữa các
vùng và địa phương Tiềm lực nguồn thu ngân sách giảm dần từ các thành
phố lớn, các tỉnh công nghiệp phát triển đến các tỉnh đồng bằng và miềnnúi Đến nay mới chỉ có một số ít tỉnh – thành phố có khả năng tự cân đốithu – chi, các tỉnh còn lại đều phải nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương,
kể cả sau khi đã sử dụng tỷ lệ điều tiết 100% cho ngân sách địa phương đốivới các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địaphương
Trong cơ cấu thu ngân sách địa phương có sự khác biệt lớn giữa cácthành phố lớn, các tỉnh công nghiệp phát triển với các tỉnh còn lại, đặc biệt
là các tỉnh miền núi; đồng thời cũng có sự khác biệt lớn trong phân cấpngân sách trong nội bộ ngân sách địa phương (xem Bảng 02 dưới đây)
Một đặc điểm quan trọng cần nhận biết là ngân sách cấp cơ sở
-ngân sách xã, phường - mặc dù được ưu tiên tăng cường điều tiết nguồn thu trên địa bàn, đặc biệt là các khoản thu từ đất đai, tài sản, nhưng hiện đang phụ thuộc rất lớn vào nguồn thu trợ cấp từ ngân sách cấp trên 5 Đối
với ngân sách cấp tỉnh, tỷ trọng nguồn bổ sung từ ngân sách cấp tăng từkhoảng 23% đối với các tỉnh, thành phố lớn đến khoảng 68% đối với cáctỉnh miền núi; tỷ trọng nguồn thu từ thuế, phí giảm tương ứng từ khoảng60% xuống còn khoảng 23%
Đối với ngân sách cấp huyện, tỷ trọng nguồn bổ sung từ ngân sáchcấp tăng từ khoảng 55% đối với huyện thuộc các tỉnh, thành phố lớn đếnkhoảng gần 70% đối với huyện thuộc các tỉnh miền núi; tuy nhiên, tỷ trọngnguồn thu từ thuế, phí tương ứng không khác nhau nhiều, khoảng 25-30%
5 Có thể tham khảo thêm kết quả điều tra điển hình về tình hình các khoản đóng góp và dịch vụ công ở cấp xã - phường do Nhóm tư vấn chính sách và Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp thực hiện trong năm
2007 (tài liệu hội thảo tháng 12/2007).
Trang 37Bảng 02: Cơ cấu thu ngân sách địa phương và vùng lãnh thổ (%)
Tỉnh đồng bằng - ven biển
Tỉnh cửa khẩu
Tỉnh miền núi
Ghi chú: (1) Số liệu gốc từ báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước tỉnh năm 2003-2004
(2) Các số liệu trên được tính theo phương pháp bình quân trong từng nhóm tỉnh – thành phố:
- Nhóm tỉnh - TP lớn gồm: Hà Nội, Hải phòng, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh;
- Nhóm tỉnh công nghiệp phát triển gồm: Vĩnh Phúc, Hải Dương, Khánh Hoà, Đồng Nai, Bình Dương;
- Nhóm tỉnh đồng bằng, ven biển gồm: Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Huế, Phú Yên, Bình Định, Bình Thuận, An Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng;
- Nhóm các tỉnh cửa khẩu gồm: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Tây Ninh;
- Nhóm các tỉnh miền núi gồm: Tuyên Quang, Hà Giang, Hoà Bình, Sơn La,
Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đắc Lắc, Kon Tum, Lâm Đồng, Bình Phước.
Đối với ngân sách cấp xã, tỷ trọng nguồn bổ sung từ ngân sách cấptăng từ khoảng 46% đối với xã thuộc các tỉnh, thành phố lớn đến khoảng66% đối với xã thuộc các tỉnh miền núi; tỷ trọng nguồn thu từ thuế, phí
Trang 38tăng tương ứng từ 15% lên khoảng 23% (tỷ trọng số thu từ thuế, phí đốivới các xã thuộc các tỉnh đồng bằng – ven biển đạt khoảng 31%).
2.2 Cải cách thuế tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế
Nhờ có việc ban hành và áp dụng một hệ thống chính sách thuếthống nhất đối với mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước, tạo sânchơi bình đẳng khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển Cụ thể nhưsau:
- Chương trình cải cách thuế bước 1 với đặc điểm nổi bật là việc banhành và áp dụng hệ thống chính sách thuế thống nhất thay thế các cơ chế,chính sách thu phân biệt giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanhtrước đó đã góp phần quan trọng trong việc tạo môi trường đầu tư thuậnlợi, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Cải cách thuế bước 2 là giai đoạn củng cố và hoàn thiện hệ thốngchính sách thuế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hộinhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh khủng hoảng tài chính châu Á Trong
đó việc ban hành các loại thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp thaythế cho thuế doanh thu và thuế lợi tức đã góp phần tạo điều kiện thuận lợicho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh trong bối cảnh hộinhập
- Cải cách thuế bước 3 sẽ hướng đến xây dựng một hệ thống thuếhiện đại, công bằng và hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xãhội và hội nhập kinh tế quốc tế, là một trong những nhân tố đóng vai tròquyết định trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tếthế giới và khu vực, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để tăng cườngthu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy phát triển sản xuất kinhdoanh, tích luỹ và tiêu dùng để tạo đà cho sự phát triển nhanh và bền vữngcủa nền kinh tế trong giai đoạn mới
Như vậy, có thể nói trong thời gian qua cải cách thuế đã được triểnkhai thực hiện một cách kịp thời, đáp ứng yêu cầu tạo môi trường kinh
Trang 39doanh công bằng, bình đẳng cho các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các mụctiêu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
2.3 Cải cách thuế đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và là bộ phận cấu thành quan trọng của cải cách chính sách kinh tế vĩ mô
Có thể nói cải cách thuế là một trong những chương trình cải cáchchính sách trọng tâm và tiên phong của Chính phủ nhằm đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế
- Để chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chếthị trường, cải cách thuế bước 1 vào đầu những năm 1990 đã áp dụng hệthống chính sách thuế thống nhất thay thế các cơ chế, chính sách thu phânbiệt giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh Điều này đã tạo cơ sởkinh tế và pháp lý vững chắc cho nền kinh tế thị trường trong giai đoạn đầucủa quá trình phát triển
- Trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và khủng hoảngtài chính châu Á vào cuối những năm 1990, cải cách thuế bước 2 đã đảmbảo củng cố và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế nhằm đáp ứng yêu cầuhội nhập và phát triển kinh tế xã hội qua việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo
lộ trình hội nhập, việc ban hành các loại thuế giá trị gia tăng, thu nhậpdoanh nghiệp thay thế cho thuế doanh thu và thuế lợi tức để nhằm tránhđánh thuế trùng, tạo công bằng, bình đẳng trong nghĩa vụ thuế, góp phầnthúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và hội nhập
- Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn hộinhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, cải cách thuế bước 3 hướng đếnxây dựng một hệ thống thuế hiện đại, công bằng và hiệu quả sẽ góp phầntích cực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế
Trải qua hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhànước, cải cách chính sách thu ngân sách luôn được coi là một bộ phận cấuthành quan trọng trong quá trình cải cách hệ thống chính sách kinh tế vĩ
mô ở Việt Nam Cải cách thuế trong thời gian qua đã thể hiện tính tiênphong đi đầu trong quá trình cải cách và tạo điều kiện tiền đề cần thiết thúcđẩy toàn bộ quá trình cải cách và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam; qua
Trang 40đó tác động ảnh hưởng trở lại đối với hệ thống thuế, góp phần tạo cơ sởvững chắc cho việc cải cách cơ cấu thu ngân sách.
3 So sánh quy mô và cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam với các nước
Về chính sách thuế, trải qua hai thập kỷ cải cách thuế vừa qua, hệthống chính sách thuế của Việt Nam đã từng bước tiệm cận đến một hệthống thuế hiện đại theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Tuy nhiên, do bối cảnh kinh tế xã hội có nhiều điểm khác biệt nênthực tế triển khai thực hiện và kết quả triển khai có sự khác nhau giữa ViệtNam và các nước So sánh quy mô và cơ cấu thu ngân sách của Việt Namvới các nước có thể rút ra một điểm khác biệt chính sau đây:
Thứ nhất, quy mô thu ngân sách của Việt Nam lớn hơn so với quy
mô ngân sách của các nước có cùng mức độ phát triển Tỷ trọng tổng số
thu ngân sách kể cả dầu thô của Việt Nam năm 2005 là 25,2% GDP, lớnhơn nhiều so với tỷ trọng thu ngân sách của các nước đang phát triển tương
tự như Việt Nam (16,7%GDP) Nếu không kể số thu từ dầu thô thì tỷ trọng
số thu ngân sách chỉ đạt mức 18,4%GDP (xem Bảng 02 dưới đây) Tuynhiên, trong trường hợp đó thì quy mô ngân sách của Việt Nam vẫn lớnhơn quy mô thu ngân sách của các nước có cùng mức độ phát triển, mặc dùmức chênh lệch không lớn
So với các nước trong khu vực châu Á có thể thấy quy mô thu ngânsách theo tỷ lệ %GDP của Việt Nam lớn hơn hầu hết các nước khác Theo
số liệu của ADB (2007), tỷ trọng thu ngân sách so với GDP của Việt Namnăm 2006 là 26,8%; trong khi đó tỷ lệ này chỉ là 18,5% ở Trung quốc,17,6% ở Thái lan, 16,2% ở Philipnes, 21,6% ở Malaysia, 19,1% ởIndonesia, 15,6% ở Đài Loan, 24,7% ở Hàn Quốc và 22,8% ở Singapore(xem bảng 3 dưới đây)
Thứ hai, cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam còn nhiều điểm chưa tương đồng với cơ cấu thu ngân sách của các nước có cùng mức độ phát triển Trong cơ cấu số thu ngân sách từ thuế, phí không kể dầu thô của Việt
Nam, tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm khoảng 18,7%; tỷ trọngthuế thu nhập đối với người có thu nhập cao chiếm 2,67%; tỷ trọng thuếgiá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế hàng hoá, dịch vụ) chiếm