1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LV Thạc sỹ_một số biện pháp đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện luật quản lý thuế ở việt nam

99 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 524,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính, ''Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN

THỰC HIỆN LUẬT QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS

Trang 2

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 3

Lời cam đoan

mới quản lý thuế

17

1.2.1 ảnh hưởng của việc đổi mới cơ chế quản lý thuế đến hoạt động

thanh tra, kiểm tra thuế

25

1.3.3 Khả năng vận dụng vào hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam 29 Chương 2: THựC TRạNG CÔNG TáC THANH TRA, KIểM TRA ĐTNT ở VIệT NAM HIệN NAY

Trang 4

2.2 2 Tổ chức hệ thống và nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra, kiểm

tra người nộp thuế

54

2.2.3 Những kết quả đạt được và một số hạn chế 65 Chương 3: MộT Số BIệN PHáP ĐổI MớI CÔNG TáC THANH TRA, KIểM TRA THUế TRONG ĐIềU KIệN THựC HIệN LUậT QUảN Lý THUế

68

3.1 Cải cách và hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt

Nam đến năm 2010 và những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện công tác thanh tra thuế.

68

3.1.1 Cải cách và hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế đến

năm 2010

68

3.1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới công tác thanh tra,

kiểm tra thuế

72

3.2 Một số giải pháp nhằm đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế

trong điều kiện thực hiện Luật Quản lý thuế

Trang 5

ĐTNT Đối tượng nộp thuế

Trang 6

Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang

2.1 Mô hình tổ chức hệ thống thanh tra thuế 32 2.2 Quy trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp 42

Trang 7

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

2.2 Kết quả thanh tra, kiểm tra ĐTNT 2002-2006 39 2.3 Kết quả thanh tra, kiểm tra NNT năm 2007 59

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quản lý nhà nước về thuế nhằm đảm bảo cho Nhà nước có một nguồn thu

ổn định, đáp ứng được vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và lành mạnh, thúc đẩy cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Để công tác quản lý thuế thực sự có hiệu quả thì hoạt động thanh tra, kiểm tra phải luôn được tăng cường Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không những giúp cho hoạt động quản lý thuế đạt được các mục tiêu đã

đề ra mà còn giúp Nhà nước phát hiện những hạn chế của chính sách, điều chỉnh kịp thời chính sách, chế độ về thuế, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của cộng đồng và góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng trốn thuế, chống thất thu thuế.

Trong giai đoạn tới, do nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thực hiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển nên

số lượng các tổ chức, cá nhân kinh doanh ngày càng tăng, việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý ngày càng phổ biến đồng thời yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng, đòi hỏi hoạt động quản lý thuế nói chung và hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế nói riêng phải tương thích với trình

độ phát triển của nền kinh tế, phù hợp với các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế

Có hiệu lực từ ngày 1-7-2007, Luật Quản lý thuế được coi như một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý thu nộp ngân sách khi nó điều chỉnh thống nhất về mặt thủ tục đối với toàn bộ các loại thuế từ thuế nội địa đến thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước Các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng và minh bạch giúp thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của người nộp thuế Cơ quan thuế chuyển sang thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, giám sát quyết toán thu nộp thuế vào NSNN Như vậy có thể thấy hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được xác định là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong công tác quản lý thuế, đảm bảo thực hiện thành công cơ chế quản lý mới và nâng cao hiệu

Trang 9

quả quản lý thuế Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện Luật Quản lý thuế

ở Việt Nam” có ý nghĩa thiết thực, mang tính thời sự cấp bách cả về mặt lý luận

và thực tiễn Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế bao gồm nhiều lĩnh vực như: Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế; Thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế; Thanh tra, kiểm tra giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo v.v Trong phạm vi đề tài này, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu nội dung thanh tra, kiểm tra người nộp thuế.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích: Hệ thống hoá và làm rõ hoạt động kiểm tra, thanh tra NNT trong điều kiện thực hiện Luật Quản lý thuế Trên

cơ sở đó đề xuất những định hướng và giải pháp đề hoàn thiện hoạt động kiểm tra, thanh tra NNT phù hợp với thực tiễn quản lý thuế của Việt Nam.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của việc tổ chức, thực hiện hoạt động kiểm tra, thanh tra NNT trong điều kiện thực hiện Luật Quản lý thuế đặt trong tổng thể vấn đề cải cách hành chính và hiện đại hoá ngành thuế ở Việt Nam đến năm 2012.

4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về hoạt động thanh tra, kiểm tra NNT.

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra NNT ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra NNT

ở Việt Nam.

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế

Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số biện pháp đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện Luật Quản lý thuế.

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ

1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 1.1.1 Khái niệm, mục đích, nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế

1.1.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế

Theo từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là

"xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [tr 523] Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam biên soạn, kiểm tra là

"xem xét thực chất, thực tế" [tr 973] Theo từ điển Luật học, kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét " [tr.265]

Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính, ''Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá''

Theo giáo sư Michel Bouvier, tác giả cuốn “Nhập môn về Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế”, kiểm tra thuế là ''hoạt động nhằm xem xét tính trung

thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai'' [15, tr.153]

Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức

và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế).

Về khái niệm thanh tra, theo từ điển tiếng Việt: "thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp" [tr.882], thanh tra

là ''loại hình đặc biệt của kiểm tra'' [47, tr.19]

Theo Luật Thanh tra 2004 thì Thanh tra là " việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật,

nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý"

Trang 11

Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính thì thanh tra thuế

là ''hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật'' [tr.437]

Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, phòng ngừa

và xử lý các vi phạm pháp luật thuế.

Giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế tồn tại một mối quan hệ sau:

Thanh tra thuế cũng là một hoạt động của kiểm tra thuế nên thanh tra thuế

và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau:

- Thanh tra, kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý thuế Đều có cùng một mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lí những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lí thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân

- Chủ thể kiểm tra thuế, thanh tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế.

- Đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và các đơn vị trong nội bộ ngành thuế.

- Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế

- Về phương pháp, thanh tra, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng một các chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lí vi phạm.

- Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lí thuế

Tuy nhiên, giữa thanh tra và kiểm tra cũng có sự khác nhau nhất định:

- Thứ nhất, chủ thể của thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng thanh tra thuế nhưng chủ thể kiểm tra thuế có thể không đồng nhất hoặc đồng nhất với đối

Trang 12

tượng kiểm tra, chẳng hạn tự kiểm tra nội bộ thì chủ thể và đối tượng kiểm tra đồng nhất.

- Thứ hai, tính chất của thanh tra thuế là một hoạt động dựa vào quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước có thể chỉ là hoạt động quản lý đơn thuần

- Thứ ba, nội dung hoạt động thanh tra thuế thường là kiểm tra ở giai đoạn sau, khi các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh Nội dung thanh tra thuế thường là những vấn đề phức tạp, bản chất vấn đề thường được che giấu có chủ ý nên khó nhận biết Nội dung kiểm tra thuế thường là những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết Tất nhiên, nội dung kiểm tra bao gồm cả những nội dung cụ thể của kiểm ra trước, kiểm tra trong và kiểm tra sau khi các hoạt động kinh tế phát sinh.

- Thứ tư, do mức độ nghiêm trọng của sự việc cần thanh tra, nên thời gian

để tiến hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn một cuộc kiểm tra thuế

Từ những phân tích trên, có thể rút ra các nhận xét sau:

Mặc dù có những điểm khác nhau nhưng thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế Việc phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn

có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành để tránh sự chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho các tổ chức cá nhân là đối tượng thanh tra và kiểm tra.

Nguyên tắc hoạt động, việc phân loại, phương pháp và các tiêu chí đánh

giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra ĐTNT cũng tương tự như các nguyên

tắc hoạt động, việc phân loại, phương pháp và các tiêu chí đánh giá hiệu quả

công tác thanh tra, kiểm tra thuế nói chung Cụ thể:

1.1.1.2 Nguyên tắc hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế.

- Phải tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật

Không được làm trái các quy định của pháp luật là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế

Nguyên tắc này đòi hỏi các đơn vị, cá nhân tham gia quá trình thanh tra, kiểm tra thuế chỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật cho phép và phải

Trang 13

thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà pháp luật quy định Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý.

Thực hiện nguyên tắc này, chủ thể thanh tra (cơ quan, đoàn thanh tra và các thành viên) khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề thanh tra, kiểm tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị của mình Đối tượng thanh tra, kiểm tra phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể thanh tra, kiểm tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu và giải trình số liệu khi được yêu cầu.

- Bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời

Tính chính xác đòi hỏi chủ thể thanh tra, kiểm tra phải nhận thức đúng vấn

đề, nội dung kiểm tra, thanh tra; xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận thanh tra, kiểm tra chính xác Tính chính xác bảo đảm cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao Muốn đảm bảo tính chính xác, không chỉ đòi hỏi quan điểm đúng đắn mà còn cần phải có kiến thức, năng lực mới có thể đem lại kết quả chính xác

Tính khách quan yêu cầu chủ thể thanh tra, kiểm tra phải phản ánh đúng

sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiện tượng Tính khách quan và tính chính xác có mối quan hệ tác động qua lại Tính khách quan tạo tiền đề cho việc kết luận chính xác và kết luận thanh tra, kiểm tra có tính chính xác mới thể hiện được tính khách quan của hoạt động thanh tra, kiểm tra

Tính trung thực đòi hỏi chủ thể thanh tra, kiểm tra phải tuân thủ các quy

tắc về đạo dức nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiên lệch, bóp méo sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế

Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể thanh tra, kiểm tra phải thông báo

đầy đủ, công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định thanh tra, kiểm tra đến kết luận thanh tra, kiểm tra để các tổ chức, cá nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện Việc công khai hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính khách quan của hoạt động thanh tra, kiểm tra, hạn chế những tiêu cực phát sinh

Trang 14

trong quá trình thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tuỳ tính chất của cuộc thanh tra, kiểm tra cụ thể, cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp

để đảm bảo hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra.

Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho đối tượng kiểm tra, thanh tra được trình

bày ý kiến, quan điểm về những nội dung thanh tra, kiểm tra cũng như về hoạt động của đoàn thanh tra, kiểm tra cụ thể, tránh tình trạng áp đặt của chủ thể thanh tra, kiểm tra.

Tính kịp thời: Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nhằm phục vụ các mục

tiêu quản lý thuế trong những thời điểm nhất định Vì vậy, thanh tra, kiểm tra kịp thời ngoài việc giúp cho đối tượng kịp thời nhận rõ sai phạm, để sửa chữa, khắc phục ngay, tránh vi phạm kéo dài còn giúp cơ quan thuế chấn chỉnh và sửa đổi

cơ chế, chính sách thuế phù hợp thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý thuế Mặt khác tính kịp thời còn đảm bảo cuộc thanh tra, kiểm tra có biên bản, kết luận đúng thời hạn luật định, tránh tình trạng dây dưa, kéo dài thời gian công bố kết luận thanh tra, kiểm tra.

- Không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra, kiểm tra.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế là "vấn đề hết sức nhạy cảm" và trong những năm gần đây, vấn đề quyền và những bảo đảm thực hiện quyền của ĐTNT được ''đặc biệt quan tâm'' [15, tr.151] Việc cơ quan chức năng tổ chức tiến hành kiểm tra, thanh tra tại cơ sở kinh doanh là cần thiết nhưng ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng bị thanh tra, kiểm tra Tình trạng kéo dài, dây dưa, không công bố kết luận thanh tra, kiểm tra có lúc, có nơi vẫn còn tồn tại Mặt khác, do việc phân cấp quản lý còn chồng chéo nên một đối tượng có thể được nhiều ngành quản lý và do đó sẽ có thể phát sinh nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra đối tượng cùng thời điểm hoặc trong một thời gian ngắn

Nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc kiểm tra, thanh tra chồng chéo của các cơ quan quản lý, đảm bảo quyền hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra, kiểm tra, đảm bảo về cùng một nội dung, trong một năm đối tượng chỉ bị thanh tra, kiểm tra một lần Cùng với việc thực hiện tốt nguyên tắc kịp thời trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của đối tượng thanh tra, kiểm tra

Trang 15

1.1.1.3 Nội dung thanh tra, kiểm tra ĐTNT

Nội dung kiểm tra, thanh tra ĐTNT tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng ký thuế

- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ.

- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế

1.1.1.4 Phân loại kiểm tra, thanh tra thuế

- Theo tính kế hoạch

Nếu xét theo tính kế hoạch, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế có hai hình thức là thanh tra, kiểm tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra, kiểm tra đột xuất.

+ Thanh tra, kiểm tra theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, cơ quan thuế xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra và trình cấp cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã được phê duyệt.

+ Thanh tra, kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.

- Theo nội dung và phạm vi thanh tra, kiểm tra.

Theo tiêu thức này, thanh tra, kiểm tra thuế được chia thành hai loại là thanh tra, kiểm tra toàn diện và thanh tra, kiểm tra bộ phận.

+ Thanh tra, kiểm tra toàn diện: Với hình thức này, cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, kiểm tra toàn bộ công tác quản lý thu của một cơ quan thuế hoặc toàn bộ quá trình kê khai, nộp thuế với tất cả các sắc thuế của một đối tượng nộp thuế

+ Thanh tra, kiểm tra bộ phận: Hình thức này thường đựoc áp dụng khi thanh tra, kiểm tra một hoặc một vài sắc thuế; một hoặc một số kỳ tính thuế hoặc một vài quy trình quản lý thuế

- Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra

+ Thanh tra, kiểm tra tại cơ quan thuế (tại bàn).

+ Thanh tra, kiểm tra tại cơ sở của đối tượng thanh tra, kiểm tra.

1.1.1.5 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế

Trang 16

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế Nội dung của phương pháp này là thực hiện việc so sánh, đối chiếu nội dung cần thanh tra, kiểm tra với các nguồn thông tin khác nhau để đánh giá, xem xét nôi dung cần thanh tra, kiểm tra.

- Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết

Đây là phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu kế toán Theo phương pháp này, trước hết kiểm tra số liệu tổng hợp sau mới kiểm tra số liệu chi tiết Việc kiểm tra tổng hợp nhằm rút ra những nhận xét tổng quát để từ đó định hướng những nội dung cần đi sâu kiểm tra (kiểm tra chi tiết).

- Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc:

Có ba phương pháp kiểm tra chứng từ gốc:

+ Kiểm tra theo trình tự thời gian là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc

đã được sắp xếp theo trình tự thời gian phát sinh Phương pháp này mất nhiều thời gian và hiệu quả thấp nên ít được sử dụng.

+ Kiểm tra theo loại nghiệp vụ là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã được phân loại, sắp xếp theo một nghiệp vụ nhất định, như chứng từ thu, chi tiền mặt, xuất, nhập kho Phương pháp này được áp dụng khi cần rút ra kết luận đầy

đủ về một loại nghiệp vụ theo yêu cầu của nội dung kiểm tra, thanh tra Phương pháp này tiết kiệm thời gian và cho hiệu quả cao.

+ Kiểm tra điển hình là việc kiểm tra ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ để rút ra kết luận chung Phương pháp này tiết kiệm nhièu thời gian nhưng độ tin cậy của kết luận không cao.

- Các phương pháp kiểm tra bổ trợ

+ Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này được sử dụng khi cần thu thập thông tin từ những người có quan hệ trực tiếp, gián tiếp đến nội dung kiểm tra, thanh tra

+ Ngoài ra còn một số phương pháp khác như: Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần, phương pháp quan sát

1.1.1.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được xem xét, đánh giá đơn thuần ở khía cạnh vật chất (hiệu quả kinh tế) mà còn được xem xét, đánh

Trang 17

giá dưới giác độ hiệu quả xã hội – chính trị Vì vậy, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế được chia 2 nhóm là:

- Các tiêu chí định lượng:

Các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực tế của nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra đã được tiến hành Đó là kết quả cụ thể của việc thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của các nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra Các tiêu chí này thường gồm:

+ Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra về từng chỉ tiêu định lượng của

kế hoạch: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số đối tượng thanh tra, kiểm tra so với kế hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số thời gian thanh tra, kiểm tra so với kế hoạch năm; Tỷ

lệ hoàn thành kế hoạch về số vụ việc khiếu tố giải quyết được so với kế hoạch năm; Tỷ lệ thanh tra, kiểm tra hàng năm so với tổng số đối tượng thanh tra, kiểm tra

+ Tình hình vi phạm pháp thuế đã phát hiện qua thanh tra, kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/tổng số đối tượng thanh tra, kiểm tra; Tổng số tiền thuế truy thu qua thanh tra, kiểm tra; Số tiền thuế truy thu bình quân/đối tượng thanh tra, kiểm tra

+ Chi phí vật chất và thời gian cho thanh tra, kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Thời gian bình quân 1 cuộc thanh tra, kiểm tra; Số đối tượng được thanh tra, kiểm tra bình quân/thanh tra viên hàng năm; Chi phí bằng tiền trực tiếp cho thanh tra, kiểm tra;….

+ Hiệu quả trực tiếp của thanh tra, kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Chi phí thanh tra, kiểm tra so với số thuế truy thu được

đã nộp NSNN; Tỷ lệ giữ nguyên; sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định truy thu thuế theo biên bản thanh tra, kiểm tra thuế khi giải quyết khiếu nại của đối tượng thanh tra, kiểm tra; Tỷ lệ các trường hợp đối tượng thanh tra, kiểm tra chấp nhận hoàn toàn kết luận thanh tra, kiểm tra ; Tỷ lệ số thuế truy thu được nộp vào NSNN/tổng số thuế truy thu……

Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên song thực

tế đa số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của công tác thanh tra, kiểm tra Bên cạnh việc tính toán chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá

Trang 18

chính xác hơn tính hiệu quả, cần phải so sánh với những năm cũ để đánh giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ của từng khâu công tác.

- Các tiêu chí định tính:

Các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của công tác thanh tra, kiểm tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những hiệu quả có tính xã hội, chính trị như:

+ Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật thuế Tiêu chí này có thể đo lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng thanh tra, kiểm tra qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được thanh tra, kiểm tra (mức độ tái phạm).

+ Tác dụng trong việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế; tạo sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thu thuế và xử phạt hành chính thuế (chia theo hình thức xử phạt).

+ Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan quản lý thuế và tạo lòng tin của nhân dân vào hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế.

Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật trong thanh tra, kiểm tra; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chia theo hình thức); những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện

và xử lý…

Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra được đánh giá theo

kỳ (quý, năm) và được chia theo sắc thuế; theo hình thức thanh tra; theo loại đối tượng nộp thuế và từng nội dung thanh tra, kiểm tra tương ứng.

1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế

1.1.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí

Điều kiện kinh tế xã hội là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý thuế nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay thì hệ thống luật pháp sẽ dần được hoàn thiện, cơ sở trang thiết bị vật chất kỹ thuật ngày càng được hiện đại hoá và số lượng người nộp thuế không ngừng tăng lên nhanh chóng Tất cả những biến đổi trên đều tác động lớn tới hiệu quả công

Trang 19

tác thanh tra, kiểm tra thuế Việc có được một hệ thống pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đi vào khuôn khổ, đồng thời nó cũng giúp cho người nộp thuế hiểu và nghiêm túc thực hiện theo quy định của pháp luật Thêm vào đó, việc được đầu tư trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại như: máy móc, thiết bị, hệ thống ứng dụng tin học hiện đại tích hợp đầy đủ các thông tin về từng người nộp thuế nói riêng và các thông tin ngành nói chung cũng hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế được tiến hành thuận lợi, có tính chính xác và hiệu quả cao hơn Số lượng người nộp thuế ngày càng tăng sẽ là một thách thức không nhỏ đến công tác thanh tra, kiểm tra Bởi cùng với sự gia tăng về số lượng sẽ là sự đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp và các hình thức kinh doanh, kèm theo đó là sự phức tạp, tinh vi hơn về thủ đoạn trốn, tránh, gian lận thuế của người nộp thuế Nếu không chuẩn bị cho mình một hành trang đầy đủ (pháp lý, nhân lực, vật lực ), cơ quan quản lý thuế, nhất là bộ phận thanh tra, kiểm tra sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các vụ gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu cho NSNN.

Trình độ dân trí càng cao, sự hiểu biết về pháp luật thuế cũng như ý thức

tự tuân thủ của người nộp thuế ngày càng được cải thiện, bởi họ hiểu rõ quyền, lợi ích và trách nhiệm của mình khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này ảnh hưởng lớn tới hiệu quả các cuộc thanh tra, kiểm tra thuế Ngược lại, cũng vì sự hiểu biết về pháp luật thuế mà khả năng, thủ đoạn trốn, tránh thuế của người nộp thuế ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây khó khăn cho cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế trong việc phát hiện ra các gian lận, giảm hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế.

1.1.2.2 Mô hình quản lý thuế

Thuế là một phạm trù kinh tế khách quan đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, thuế xuất hiện, tồn tại cùng với sự hình thành và tồn tại của Nhà nước, với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ Thuế luôn gắn chặt với sự phát triển của nhà nước, sự thay đổi hình thái tổ chức nhà nước luôn kéo theo sự cải biến của hệ thống thuế Để có thể huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu từ thuế vào ngân sách đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu cần thiết, Nhà nước phải tổ chức việc quản lý thuế.

Trang 20

Quản lý thuế là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện, thông qua việc tổ chức, điều hành bộ máy ngành thuế, thực hiện hệ thống chính sách pháp luật thuế và hệ thống các qui trình quản lý thu để động viên một phần thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ và

từ việc lưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN nhằm trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Quản lý thuế được thực hiện theo những mô hình quản lý nhất định Lịch

sử quản lý thuế cho thấy có 3 mô hình quản lý thuế cơ bản: mô hình quản lý theo sắc thuế, mô hình quản lý thu theo chức năng và mô hình quản lý thu theo ĐTNT Mỗi mô hình có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế.

- Mô hình quản lý theo sắc thuế

Đây là mô hình được "tổ chức sớm nhất" [37, tr 20] trong hoạt động quản

lý thuế, được các ngành thuế áp dụng dựa trên nguyên tắc “sắc thuế” Theo mô hình này, cơ quan thuế được tổ chức thành các bộ phận (phòng, ban) riêng biệt để chuyên trách quản lý một số sắc thuế cụ thể Mỗi phòng, ban thực hiện tất cả các chức năng, các nghiệp vụ để quản lý thu đối với một hoặc một vài sắc thuế Mô hình quản lý theo sắc thuế áp dụng có hiệu quả ở cơ quan thuế Trung ương do nhiệm vụ của cơ quan này là nghiên cứu, ban hành chính sách chế độ thu Mô hình này thích hợp đối với những nước sử dụng các vấn đề nghiệp vụ cụ thể và quy trình quản lý khác nhau đối với mỗi sắc thuế

Mô hình này phát huy hiệu quả cao nhất trong trường hợp thanh tra một sắc thuế của một đối tượng nộp thuế bởi tính chuyên môn hoá theo sắc thuế cao Tuy nhiên, trong trường hợp thanh tra một đối tượng nộp thuế nộp nhiều sắc thuế khác nhau lại xảy ra hiện tượng chồng chéo về chức năng thanh tra giữa các phòng ban.

ở bất kỳ phòng, ban nào cũng có các bộ phận nghiệp vụ thực hiện các công việc như nhau, dẫn đến biên chế quản lý lớn, làm cho chi phí quản lý thu tăng lên, chi phí tuân thủ cao Trong khi đó rủi ro thất thu thuế vẫn cao do các chức năng, nghiệp vụ quản lý thuế được khép kín, độc lập trong một phòng, ban riêng biệt Giữa các phòng, ban trong cơ quan thuế không có sự liên kết nào nên hiện tượng thông đồng để trốn thuế giữa ĐTNT và cán bộ thanh tra thuế khó phát hiện nếu các thủ tục kiểm tra nội bộ thiếu chặt chẽ và việc kiểm tra không được tổ chức

Trang 21

thường xuyên Đồng thời, trình độ chuyên môn của cán bộ thanh tra thuế không được toàn diện do kỹ năng của họ là một sắc thuế Do vậy, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế không cao.

- Mô hình quản lý thu theo chức năng

Theo mô hình này, bộ máy quản lý thuế được tổ chức theo các nhóm chức năng, mỗi bộ phận thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất

cả các sắc thuế như: Đăng ký thuế, Xử lý tờ khai thuế và Kế toán thuế, Thanh tra thuế, Thu nợ ) Quản lý thuế theo mô hình này cho phép cơ quan thuế chuẩn hóa mạnh hơn về quy trình thủ tục làm việc đối với các loại thuế, đơn giản hóa hệ thống tin học và giao tiếp với đối tượng nộp thuế, đồng thời nâng cao hiệu quả chung của ngành

Mô hình này thích ứng với mọi sự thay đổi về ĐTNT và tạo ra sự kiểm tra chéo giữa các cán bộ thuế ở các bộ phận khác nhau, hạn chế tiêu cực nên giảm nguy cơ gian lận thuế, thất thu thuế bởi bất kỳ sự thông đồng nào giữa ĐTNT và cán bộ thuế Đồng thời khắc phục được sự trùng lắp về chức năng thanh tra giữa các phòng ban theo mô hình quản lý thu theo sắc thuế và góp phần nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thanh tra thuế Tuy nhiên, do thông tin về ĐTNT bị phân tán nên khi cần thông tin đầy đủ về ĐTNT để tiến hành thanh tra, kiểm tra phải mất nhiều thời gian để tổng hợp thông tin từ các phòng, ban chức năng khác nhau làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thanh tra, kiểm tra.

- Mô hình quản lý thu theo ĐTNT

Đây là mô hình đang được áp dụng tại một số nước phát triển Theo mô hình này, ĐTNT được phân loại để quản lý theo nhóm trên cơ sở đặc điểm và mức độ tuân thủ pháp luật thuế của ĐTNT Do đặc điểm và mức độ tuân thủ pháp luật thuế của mỗi nhóm ĐTNT là khác nhau nên mỗi nhóm cũng có những rủi ro khác nhau về số thu Để quản lý hiệu quả những rủi ro này, cơ quan thuế cần phải phát triển và thực hiện các chiến lược sao cho phù hợp với đặc tính và

sự tuân thủ của từng nhóm đối tượng nộp thuế Do đó, mỗi phòng, ban trong cơ quan thuế sẽ chịu trách nhiệm quản lý một hoặc vài nhóm đối tượng cụ thể Các nhóm ĐTNT được phân chia dựa trên cơ sở qui mô hoạt động, hình thức sở hữu, ngành kinh tế Ví dụ: Nhóm doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhóm

Trang 22

người làm công ăn lương…

Áp dụng mô hình này, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra mỗi nhóm ĐTNT khá cao Do có sự chuyên môn hoá theo đối tượng, kết hợp với chuyên môn hoá theo sắc thuế nên thông tin về ĐTNT được tập trung khá đầy đủ tại các phòng, ban tương ứng và trình độ, năng lực của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế tương đối phù hợp với yêu cầu quản lý Tuy nhiên, do mỗi ĐTNT chịu sự quản

lý của một phòng, ban cụ thể nên vẫn có khả năng xảy ra tiêu cực trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế Đồng thời, mô hình này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán

bộ thanh tra, kiểm tra có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao vì họ phải tiếp xúc

và xử lý các vấn đề liên quan đến tất cả các sắc thuế của ĐTNT

Trên cơ sở các mô hình quản lý thuế cơ bản này, mỗi quốc gia sẽ lựa chọn

mô hình quản lý thuế phù hợp theo đặc điểm chính trị - kinh tế - xã hội và trình

độ quản lý của mình, có thể là một trong số các mô hình cơ bản hoặc mô hình quản lý thuế kết hợp 2 hoặc cả 3 mô hình cơ bản trên

1.1.2.3 Cơ chế quản lý thuế

Để tiến hành công tác thu nộp thuế, người ta thường chọn một trong hai cơ chế: Cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế và cơ sở sản xuất, kinh doanh tự khai tự nộp thuế.

- Cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế

Đây là cơ chế quản lý thuế theo đó định kỳ theo thời gian, căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các quy định của pháp luật thuế, các ĐTNT phải kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra và tính thuế, sau đó thông báo số thuế phải nộp cho ĐTNT ĐTNT

có trách nhiệm nộp đầy đủ tiền thuế theo thông báo vào Kho bạc nhà nước trong thời gian quy định Cơ quan thuế kiểm tra, đối chiếu số thuế mà đối tượng đã nộp vào ngân sách với thông báo Cơ chế này đảm bảo việc tính toán chính xác

số thuế phải nộp vào NSNN của các ĐTNT Tuy nhiên, cơ chế quản lý này có một số nhược điểm ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra sau:

- Hiệu quả quản lý của cơ quan thuế thấp do phải làm thay các công việc cho ĐTNT, không đủ điều kiện tập trung thời gian và công sức cho công việc thanh tra, kiểm tra thuế

- Dễ xảy ra các hiện tượng tiêu cực giữa cán bộ thanh tra thuế và ĐTNT, làm

Trang 23

thất thu NSNN.

- Trách nhiệm pháp lý của ĐTNT đối với tính chính xác của việc tính toán

số thuế phải nộp không cao do số thuế họ phải nộp được xác định theo thông báo của cơ quan thuế ĐTNT có thể tính toán số thuế phải nộp một cách qua loa, đại khái, nếu cơ quan thuế kiểm tra, tính toán không kỹ thì có thể dẫn dến xác định sai số thuế phải nộp, làm thất thu ngân sách mà các ĐTNT không hề có lỗi

Nhìn chung, cơ chế này mang tính áp đặt, không nâng cao được tính tự giác, trách nhiệm công dân của ĐTNT Do vậy, công tác thanh tra, kiểm qua thuế gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả thu được không cao.

Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, hiện nay các quốc gia trên thế giới đang chuyển sang thực hiện cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế.

- Cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế

Đây là cơ chế quản lý thuế, theo đó ĐTNT căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào các quy định của pháp luật

về thuế tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp, chủ động nộp thuế cho nhà nước theo đúng thời hạn qui định của pháp luật Cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai nộp thuế của các ĐTNT trừ khi phát hiện các sai sót, vi phạm hoặc các dấu hiệu không chấp hành luật thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để ĐTNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của ĐTNT và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi trốn thuế của ĐTNT

Trong cơ chế TKTN thuế, ĐTNT phải hiểu biết đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ của mình để có thể tự tính toán được nghĩa vụ thuế ĐTNT tự kê khai,

tự tính số thuế phải nộp và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế mà không cần sự xác nhận trực tiếp của cơ quan thuế Trên cơ sở số thuế đã kê khai, cơ sở kinh doanh chủ động nộp tiền thuế vào NSNN Đồng thời, ĐTNT được áp dụng các thủ tục

kê khai, nộp thuế đơn giản, thuận lợi và được hướng dẫn, được cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chất lượng cao nhằm tạo thuận lợi cho họ tự giác tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế theo qui định

Thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, bộ máy quản

Trang 24

lý thuế ở cơ quan thuế được tổ chức tập trung theo các chức năng, bao gồm các chức năng chính: Tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT; Xử lý tờ khai và kế toán thuế; Thu nợ - cưỡng chế thuế và Kiểm tra, thanh tra thuế Trong đó, chức năng thanh tra, kiểm tra thuế là chức năng trọng tâm của cơ quan thuế trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế Cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở thu thập đủ các thông tin cần thiết về ĐTNT (từ tờ khai, báo cáo tài chính và các thông tin từ các nguồn khác) để phân tích, đánh giá xác định theo các tiêu chí đánh giá rủi ro để lựa chọn ĐTNT cần kiểm tra, thanh tra và nội dung, hình thức kiểm tra, thanh tra phù hợp Các thông tin về ĐTNT được thanh tra, kiểm tra được cập nhật ngay khi có biến động trên cơ sở dữ liệu chung do Tổng cục Thuế quản lý và được chia sẻ, khai thác trên phạm vi cả nước

Chỉ khi ĐTNT nhận thức rằng cơ quan thuế đang thực hiện các chương trình thanh tra thuế hiệu quả và nếu gian lận về thuế, họ sẽ bị cơ quan thuế phát hiện và bị xử phạt nghiêm khắc, ĐTNT mới tự giác thực hiện đúng nghĩa vụ thuế Trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, công tác thanh tra không phải để nhằm tăng số thu thuế, mà mục tiêu chính là nhằm ngăn ngừa, phòng chống ĐTNT vi phạm pháp luật thuế

Với những nội dung trên, có thể thấy rằng phương thức quản lý thuế mới

có tính khách quan hơn và khắc phục được những hạn chế của cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế và tác động tích cực đến hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế

1.2 HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN ĐỔI MỚI QUẢN LÝ THUẾ

1.2.1 Ảnh hưởng của việc đổi mới cơ chế quản lý thuế đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế.

Khi thực hiện đổi mới quản lý thuế, công tác quản lý thuế sẽ có bước chuyển đổi cơ bản Cơ quan thuế không còn can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế của ĐTNT trừ khi phát hiện các sai sót, vi phạm hoặc các dấu hiệu không chấp hành luật thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để ĐTNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của ĐTNT và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi trốn thuế của ĐTNT

Trang 25

Việc thực hiện đổi mới quản lý thuế đòi hỏi ĐTNT phải có mức độ tuân thủ nghĩa vụ thuế rất cao Để nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của ĐTNT, ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT, cơ quan thuế phải đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên với một nguồn lực hạn chế, cơ quan thuế không thể thực hiện thanh tra, kiểm tra tất cả ĐTNT Do vậy, cơ quan thuế phải xây dựng một

cơ chế thanh tra, kiểm tra để phân bổ hiệu quả nguồn lực nhằm giám sát tốt nhất hoạt động của ĐTNT, kịp thời phát hiện và xử lý ĐTNT vi phạm pháp luật về thuế vừa nâng cao trách nhiệm, tính chủ động của ĐTNT trong việc thực hiện pháp luật thuế và giảm phiền hà, tôn trọng, khuyến khích các ĐTNT tuân thủ nghiêm túc pháp luật thuế Để đáp ứng yêu cầu này, cơ quan thuế đã thực hiện chính sách thanh tra, kiểm tra dựa trên phương pháp quản lý rủi ro tuân thủ Theo đó, cơ quan thuế, trên cơ sở thu nhập đầy đủ thông tin về ĐTNT, tiến hành phân tích, đánh giá và phân loại ĐTNT theo mức độ rủi ro vi phạm về thuế để lựa chọn đối tượng cần thanh tra, kiểm tra theo nguyên tắc:

- Tăng cường, tập trung thanh tra, kiểm tra thường xuyên đối với ĐTNT

có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng pháp luật thuế; Thanh tra, kiểm tra bộ phận hoặc hướng dẫn, nhắc nhở đối với các ĐTNT vi phạm không nghiêm trọng; Hạn chế tối đa thanh tra, kiểm tra đối với ĐTNT chưa phát hiện có vi phạm pháp luật thuế

- Tăng cường thực hiện hình thức kiểm tra tại cơ quan thuế (kiểm tra tại bàn), hạn chế thanh tra, kiểm tra tại cơ sở ĐTNT.

- Hạn chế thanh tra, kiểm tra toàn diện, tập trung thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề và nội dung vi phạm (thanh tra, kiểm tra chuyên sâu theo nhóm ngành, nghề, theo lĩnh vực và theo sắc thuế).

Từ cách tiếp cận về sử dụng hiệu quả nguồn lực và phân loại đối tượng thanh tra, kiểm tra theo mức độ tuân thủ, chính sách thanh tra này không những phù hợp với nội dung thanh tra, kiểm tra ĐTNT mà được áp dụng rộng rãi đối với các nội dung thanh tra, kiểm tra khác

1.2.2 Đặc điểm của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện đổi mới

quản lý thuế

Trang 26

1.2.2.1 Thanh tra, kiểm tra thuế được tiến hành trên cơ sở áp dụng phương pháp quản lý rủi ro tuân thủ

Rủi ro được hiểu là sự kết hợp khả năng xảy ra của một sự kiện và hệ quả

của nó Nhìn chung rủi ro có thể xảy ra trong mọi lĩnh vực Rủi ro có tính hai mặt: Mặt phải (cơ hội có lợi) và mặt trái (sự đe doạ thành công) Trong các lĩnh vực đặt ra mức độ an toàn thì nhìn chung hệ quả do rủi ro tạo ra chỉ có tính bất lợi, vì vậy quản lý rủi ro trong lĩnh vực này thường tập trung vào việc phòng chống và giảm nhẹ tác hại mà rủi ro có thể gây ra

Rủi ro về thuế là những tổn thất có thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động

không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi trường, hoàn cảnh cụ thể Rủi ro về thuế có ở tất cả các hoạt động từ xây dựng chính sách, pháp luật thuế, quản lý của cơ quan thuế đến việc chấp hành nghĩa vụ thuế của ĐTNT.

Quản lý rủi ro là một quá trình sử dụng các biện pháp để phân tích xác

định, đánh giá, xếp hạng và xử lý rủi ro nhằm phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm một cách hiệu quả nhất để đạt được những mục tiêu đề ra

Rủi ro tuân thủ được hiểu là khả năng sự kiện không tuân thủ những nghĩa

vụ nhất định xảy ra Trong lĩnh vực quản lý thuế, rủi ro tuân thủ (về thuế) được hiểu là khả năng đối tượng thanh tra, kiểm tra không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ về kê khai thuế, nộp thuế, sử dụng sổ sách, hoá đơn chứng từ hoặc không thực hiện đúng các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế

Để thực hiện quản lý theo rủi ro, đòi hỏi cơ quan thuế phải có đầy đủ cơ

sở dữ liệu thông tin về ĐTNT và đánh giá hành vi tuân thủ căn cứ vào lịch sử tuân thủ của ĐTNT, phân loại ĐTNT theo những nhóm khác nhau (tuỳ theo từng cơ quan thuế, có những bảng tiêu chí đánh giá mức độ tuân thủ khác nhau) Theo mô hình tuân thủ được hầu hết các nước sử dụng, các mức độ tuân thủ của ĐTNT như sau: tuân thủ tốt (phần lớn các ĐTNT), tuân thủ nhưng đôi khi vẫn vi phạm, không muốn tuân thủ và cố tình không tuân thủ (một số ít các ĐTNT) Cơ quan thuế có những biện pháp đối xử khác nhau đối với hành vi tuân thủ của từng nhóm, hoặc đặt ra những quy định về “lợi ích tuân thủ” cho ĐTNT

Kỹ thuật quản lý rủi ro tuân thủ được thực hiện qua các bước sau:

Bước 1: Phân tích xác định rủi ro

Trang 27

Phân tích xác định rủi ro là việc sử dụng các kỹ thuật phân tích để xác định, ước tính rủi ro thuế Kỹ thuật phân tích thường được sử dụng gồm: Phân tích, kiểm tra tính hợp lý; phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất.

Phân tích, kiểm tra tính hợp lý thường bao gồm những so sánh cơ bản như:

- So sánh giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán

- So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với các chỉ tiêu bình quân trong ngành

- Nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính.

Từ kết quả so sánh, những khác biệt lớn giữa số thực tế và số kế hoạch sẽ giúp thanh tra viên phát hiện những sai sót hoặc các biến động lớn trong hoạt động của đối tượng thanh tra, kiểm tra.

Phân tích xu hướng là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của các chỉ tiêu Phân tích xu hướng được sử dụng khi cần xem xét sự biến động của một chỉ tiêu nào đó giữa các kỳ báo cáo nhằm phát hiện những biến động bất thường

để tập trung kiểm tra, xem xét.

Phân tích tỷ suất là cách thức so sánh những chỉ tiêu với nhau để xác định mối quan hệ giữa chúng

Kỹ thuật phân tích tỷ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý của đối tượng đang được thanh tra, kiểm tra với các đối tượng khác có cùng tính chất, quy mô và khi xem xét, phân tích các tỷ suất thì cũng phải xem xét, phân tích xu hướng của các tỷ suất đó do đó khi phân tích rủi ro, các kỹ thuật phân tích này thường được kết hợp sử dụng nhằm đạt được thông tin có độ tin cậy cao

Bước 2: Đánh giá, phân loại rủi ro

Khi quá trình phân tích xác định rủi ro kết thúc, thực hiện so sánh, tổng hợp những khả năng xảy ra rủi ro đã được phát hiện để đánh giá, phân loại rủi ro Thông thường rủi ro thuế được chia theo ba mức là: Cao, trung bình và thấp theo các tiêu chí được định trước tuỳ thuộc tính chất, đặc điểm của đối tượng thanh tra và mục đích, yêu cầu quản lý thuế từng thời điểm.

Bước 3: Xử lý rủi ro

Trang 28

Các đối tượng có mức độ rủi ro cao và trung bình được phân tích sâu hơn trên cơ sở đối chiếu kết quả phân tích xác định rủi ro với cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế, các thông tin từ bên thứ ba, tài liệu do đối tượng thanh tra cung cấp để xác định chi tiết rủi ro thuế về mức độ, nội dung Thông thường, rủi ro thuế được xử lý bằng việc tiến hành thanh tra tại cơ sở

1.2.2.2 Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đòi hỏi phải có một hệ thống hỗ trợ kỹ thuật hiện đại

Để thực hiện phân tích rủi ro trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế, ngành thuế phải xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác và tập trung

về đối tượng thanh tra, kiểm tra Hệ thống cơ sở dữ liệu được xây dựng trên cơ

sở thông tin từ nội bộ ngành thuế và thông tin từ các ngành liên quan được kết nối tự động với cơ quan thuế và được chia sẻ trên phạm vi toàn quốc

Đồng thời, khi phân tích rủi ro thuế, cơ quan thuế phải xử lý một khối lượng công việc khổng lồ để tra cứu, kết xuất dữ liệu, tính toán các tỷ suất nên việc xử lý bằng phương pháp thủ công là bất khả thi Do đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra trong điều kiện đổi mới quản lý thuế đòi hỏi phải được hỗ trợ bởi các phần mềm ứng dụng tin học Các ứng dụng tin học hỗ trợ công tác thanh tra thường gồm 3 phần: ứng dụng chuyển đổi dữ liệu đầu vào để cơ quan thuế có thể

xử lý được dữ liệu thông tin từ các hệ cơ sở dữ liệu khác nhau mà không bị sai lệch; ứng dụng phân tích rủi ro và ứng dụng truy tìm, khôi phục chứng từ điện

Quy trình hoá hoạt động thanh tra, kiểm tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của cơ quan thuvế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra, đáp ứng những yêu cầu trong điều kiện thực hiện cơ chế TKTN nói riêng và thực hiện đổi mới quản lý thuế nói chung.

1.2.2.4 Lực lượng thanh tra viên ngày càng chuyên môn hoá.

Trang 29

Thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro đòi hỏi

cơ quan thuế phải tổ chức, sắp xếp và kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế Đồng thời hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện đổi mới quản lý thuế đòi hỏi thanh tra viên ngoài việc am hiểu sâu sắc chế độ kế toán, pháp luật thuế còn phải có các kỹ năng về tin học, kỹ năng sắp xếp, phân loại dữ liệu, phân tích, đánh giá rủi ro tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật kịp thời các tiêu chí lựa chọn đối tượng thanh tra Do đó, cơ quan thuế ngoài việc tăng cường lực lượng thanh tra viên còn phải có kế hoạch xây dựng các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để đápp ứng đòi hỏi của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện đổi mới quản lý thuế.

1.3 KINH NGHIỆM THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1 Kinh nghiệm hiện đại hoá công tác thanh tra thuế

Hiện nay, chúng ta đang chứng kiến quá trình toàn cầu hoá kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc Thúc đẩy quá trình đó chính là sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ Một trong những đặc trưng nổi bật là sự vượt trội của công nghệ thông tin; chính trào lưu "thông tin hoá" đã thúc đẩy sự phát triển một cách sâu rộng hơn và toàn diện hơn quá trình "toàn cầu hoá" Cùng với sự tiến bộ vượt bật của công nghệ thông tin thì công nghệ Internet ra đời và phát triển nhanh chóng, đã chuyển từ thế giới "một mạng, một dịch vụ" sang thế giới "một mạng, nhiều dịch vụ" và trở thành công cụ quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng quá trình "điện tử hoá" - từ thương mại điện tử, quản trị điện tử, thanh toán điện tử, đến Chính phủ điện tử trên toàn cầu

Điện tử hoá càng trở thành xu hướng chủ yếu trong phương thức kinh doanh quốc tế và thay đổi căn bản cấu trúc thương mại toàn cầu Các doanh nghiệp đã và đang nhanh chóng tái cấu trúc lại chính họ để chuyển từ phương thức kinh doanh truyền thống sang phương thức trao đổi cung ứng trên Internet - thương mại điện tử Các quốc gia đang tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng thông tin hoá, tri thức hoá và tham gia vào kết mạng toàn cầu, phổ cập Internet Đồng thời với việc xây dựng Chính phủ điện tử để theo kịp quá trình điện tử hoá về kinh tế và xã hội đang diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc trên toàn cầu Trong quá trình

Trang 30

xây dựng Chính phủ điện tử, các nước đặc biệt coi trọng việc điện tử hoá công tác quản lý thuế (còn gọi là hiện đại hoá công tác quản lý thuế)

Khảo sát kinh nghiệm từ các quốc gia cho thấy để đổi mới công tác quản

lý thuế cần phải đảm bảo đủ bốn thành phần chủ yếu: Chiến lược, Tổ chức nhân

sự, quy trình tác nghiệp và công nghệ Trong đó Chiến lược là yếu tố cơ bản của

quá trình hiện đại hoá; với mục tiêu, chương trình và kế hoạch thực hiện cụ thể,

rõ ràng và thống nhất gắn với từng nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận trong cơ

quan thuế Tổ chức nhân sự phải thay đổi phù hợp với mục tiêu mới; thay đổi

nhận thức mới, phong cách làm việc mới của cán bộ công chức, tập trung đào tạo

kỹ năng chuyên sâu, phương pháp nghiệp vụ mới cho tất cả cán bộ thuộc cơ

quan thuế Quy trình nghiệp vụ phải thay đổi theo hướng hiện đại, quản lý bằng

kỹ thuật rủi ro Công nghệ là trụ cột cơ bản của quá trình hiện đại hoá cơ quan

thuế; vấn đề thiết yếu là công nghệ phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, phù hợp với trình độ quản lý tổ chức của cơ quan thuế và trình độ kỹ năng của cán bộ thuế.

Trong quá trình tiến hành cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý thuế, các quốc gia đều đặt trọng tâm vào việc hiện đại hoá công tác thanh tra thuế với mục tiêu là hiện đại hoá dựa trên kỹ thuật phân tích quản lý các khả năng thất thu

về thuế (còn gọi là quản lý rủi ro) để đổi mới nội dung, phương pháp và tổ chức hoạt động thanh tra, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật ở mức độ cao, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra thuế

Nội dung hiện đại hoá công tác thanh tra thuế:

- Cùng với việc tin học hoá ngành thuế, hệ thống thanh tra thuế được trang

bị

đồng bộ hệ thống máy tính, khai thác mạng nội bộ, kết nối Internet, kết nối với

hệ thống mạng của các cơ quan chính phủ (liên quan đến thanh tra thuế).

- Xây dựng hệ thống tích hợp thông tin, dữ liệu từ doanh nghiệp (kê khai thuế, hoá đơn hàng hoá bán ra, báo cáo tài chính, báo cáo thu nhập) và thông tin bên ngoài (Ngân hàng và tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý vốn, cơ quan Hải quan, hiệp hội ngành nghề, cơ quan thống kê, cơ quan Cảnh sát ).

Trang 31

- Xây dựng hệ thống tiêu chí phục vụ kỹ thuật phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro Đồng thời xây dựng các mô hình đánh giá rủi ro theo loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh và sắc thuế.

- Đổi mới phương pháp, quy trình và chuẩn hoá nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra thuế.

- Ứng dụng phần mềm hỗ trợ nghiệp vụ thanh tra thuế qua các khâu thu thập dữ liệu, chuyển đổi dữ liệu, phân tích xác định rủi ro, đối chiếu kiểm tra trên máy tính, lựa chọn đối tượng thanh tra và thanh tra kiểm tra tại đơn vị.

- Bổ sung, sửa đổi hệ thống luật cho phù hợp với quá trình xây dựng Chính phủ điện tử nói chung và hiện đại hoá ngành thuế nói riêng như: ban hành Luật Quản lý thuế nhằm xác định rõ trách nhiệm cơ quan thuế, công chức thuế, chính quyền các cấp, các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân kinh doanh trong việc chấp hành Pháp luật thuế; xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử, về xác nhận chữ ký điện tử, bảo vệ bí mật; giao dịch hợp đồng trong môi trường thương mại điện tử phi biên giới; xây dựng, bổ sung và sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới thanh toán, giao dịch ngoại hối, chuyển tiền điện tử; quy định về kế toán điện tử, chứng từ thanh toán điện

tử, về doanh nghiệp cung cấp dữ liệu điện tử cho cơ quan thuế; về trao đổi thông tin dữ liệu giữa các cơ quan Chính phủ

- Đổi mới tổ chức và đào tạo cán bộ.

Các giai đoạn hiện đại hoá công tác thanh tra thuế

Các quốc gia trên thế giới mặc dù với trình độ và điều kiện phát triển khác nhau nhưng nhìn chung quá trình hiện đại hoá công tác thanh tra thuế được chia thành các giai đoạn chính như sau:

- Giai đoạn 1: Cơ quan thuế các nước tập trung chủ yếu vào việc làm quen

với mô hình thanh tra mới và bước đầu đi vào phân tích đánh giá rủi ro ở mức độ còn đơn giản như nhận diện doanh nghiệp về sự tuân thủ pháp luật thuế để đưa

ra các chức năng xử lý dữ liệu về thuế, thay thế việc xử lý thủ công bởi các ứng dụng trên máy tính Công tác thanh tra thuế được phân loại đánh giá theo mức độ tuân thủ pháp luật thuế để lập kế hoạch thanh tra và tổ chức thanh tra kiểm tra theo kế hoạch.

Trang 32

- Giai đoạn 2: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống

cơ sở dữ liệu đồng bộ Xây dựng phương pháp, quy trình nghiệp vụ thanh tra thuế dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro Xây dựng các phần mềm ứng dụng hỗ trợ cho kỹ thuật phân tích, đánh giá rủi ro Triển khai thí điểm kỹ thuật và mô hình thanh tra mới ở một số địa phương Thay đổi tổ chức bộ máy và đào tạo kỹ thuật chuyên sâu, phương pháp nghiệp vụ mới cho cán bộ thanh tra thuế Trình Nhà nước bổ sung sửa đổi các quy định của pháp luật phù hợp với quá trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế nói chung và công tác thanh tra thuế nói riêng.

- Giai đoạn 3: Hoàn thiện phương pháp, quy trình, kỹ thuật thanh tra.

Thiết kế các ứng dụng có tính tích hợp cao, khả năng trao đổi thông tin và xử lý

dữ liệu tập trung ở mức cao Triển khai diện rộng mô hình và kỹ thuật thanh tra mới trên toàn quốc Tiếp tục bổ sung sửa đổi hệ thống pháp luật đồng bộ, có những nước còn bổ sung chức năng điều tra cho thanh tra thuế.

- Giai đoạn 4: Hiện đại hoá ở mức rất cao.

Mặc dù quá trình hiện đại hoá công tác thanh tra thuế ở các nước có những bước đi khác nhau, nhưng nhìn chung đều phải trải qua các giai đoạn nêu trên Hiện nay một số nước đã hoàn thành giai đoạn 3 và đang đi vào giai đoạn hiện đại hoá ở mức cao như: Hồng Kông (Trung Quốc), Nhật Bản, Australia, Newzealand, Anh Các nước Đông Nam á và Châu á khác đều đã tiến hành hiện đại hoá công tác thanh tra thuế và đang ở giữa hoặc cuối giai đoạn 2 như: Hàn Quốc, Xingapo, Đài Loan (Trung Quốc), Philippin, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Trung Quốc

Nói chung Hiện đại hoá công tác thanh tra thuế là khuynh hướng phổ biến trên thế giới Bởi nó mang lại những lợi ích to lớn cho cả đối tượng nộp thuế - Giảm mạnh những chi phí tuân thủ pháp luật về thuế; cho cơ quan thuế - giảm chi phí hành chính, chi phí nguồn lực, tăng chất lượng, hiệu quả và hiệu lực công tác thanh tra thuế cho Nhà nước - đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng về thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao khả năng hội nhập kinh tế quốc tế và tăng thu cho NSNN.

1.3.2 Tổng hợp kinh nghiệm về một số nội dung trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế

1.3.2.1 Về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra thuế.

Trang 33

Hầu hết các nước đều có hệ thống thanh tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc gắn với mô hình tổ chức cơ quan thuế (Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh) Tại Mỹ và úc, chức năng thanh tra do các Ban nghiệp vụ (Mỹ) hoặc các Vụ, Cục (úc) thực hiện, không tổ chức bộ phận thanh tra riêng tại cấp trung ương

Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được phân cấp theo mô hình tổ chức, chủ yếu được thực hiện ở cấp trung gian (Cục thuế vùng, tỉnh) Tại các quốc gia

có tổ chức bộ phận thanh tra riêng cấp trung ương thì chủ yếu là thực hiện công tác chỉ đạo, hỗ trợ thanh tra.

Các nước có tổ chức Ban quản lý ĐTNT lớn đều thành lập riêng bộ phận thanh tra ĐTNT (nằm trong Ban quản lý ĐTNT lớn) như Australia, Pháp, Hà lan, New Zealand, Anh, Mỹ, Canada, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Singapore, Lào, Campuchia và Hàn quốc.

Hoạt động thanh tra ĐTNT được chuyên môn hoá cao Các phòng thanh tra tại cơ quan thuế được tổ chức với chức năng chuyên biệt, chỉ thực hiện một giai đoạn của hoạt động thanh tra như: Phòng thanh tra chịu trách nhiệm thu thập, xử lý, phân tích rủi ro, lập kế hoạch thanh tra; Phòng Thanh tra thực hiện thanh tra và xác định thuế Phòng thanh tra đặc biệt chịu trách nhiệm về phân tích ở những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm (Hàn Quốc, Anh)

Hầu hết cơ quan thuế các nước đều có thẩm quyền điều tra trốn thuế và bộ phận điều tra trốn thuế thường được tập trung tại cấp trung ương Riêng Nhật Bản cấp vùng cũng có thẩm quyền điều tra trốn thuế Mỹ là quốc gia có thẩm quyền điều tra rộng nhất: Ban điều tra của Mỹ là là lực lượng bán vũ trang, chịu trách nhiệm điều tra các vi phạm thuế mang tính hình sự, kể cả các tội phạm liên quan đến rửa tiền và buôn bán ma túy và có các Chi nhánh ở trong nước và nước ngoài.

Tỷ trọng viên chức làm công tác thanh tra lớn chiếm khoảng trên dưới 30% tổng số cán bộ (Nhật bản: 28%, Anh: 31%, Cục thuế Thượng Hải-Trung Quốc trên 30%).

1.3.2.2 Về chiến lược xử lý rủi ro

Trang 34

Các nước đều xây dựng chiến lược xử lý rủi ro theo hướng ưu tiên giải quyết trước các rủi ro ở mức cao (là những rủi ro không thể chấp nhận được) và giải quyết các rủi ro ở mức thấp tuỳ theo nguồn lực cho phép (ví dụ: có thể lựa chọn rủi ro ở mức thấp bằng phương pháp ngẫu nhiên để đánh giá khả năng kiểm soát hoặc "tích lũy" các rủi ro này để giải quyết trong tương lai) Phạm vi xem xét, phân tích khi nhận dạng rủi ro bao gồm cả những thông tin được thể hiện ở cấp "vĩ mô" như xu hướng phát triển kinh tế, đặc tính ngành nghề và các tác động của chính sách kinh tế, thương mại và đầu tư

1.3.2.3 Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm

Công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm được tập trung, thống nhất theo chỉ đạo cấp trung ương Hàng năm, cấp trung ương căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch thanh tra tập trung vào đối tượng, ngành, nghề nhất định, phê duyệt, điều chỉnh tỷ lệ đối tượng thanh tra giữa các ngành nghề Theo kinh nghiệm của cơ quan thuế Anh thông thường kế hoạch thanh tra thuế được xây dựng theo cơ cấu:

+ 40% do quan thuế trung ương xây dựng

+ 10% do lựa chọn ngẫu nhiên

+ 50% do Cục thuế và Chi cục Thuế xây dựng.

1.3.2.4 Về các hình thức thanh tra:

Thanh tra trên cơ sở xác định rủi ro

- Thanh tra tại bàn: Là hình thức thanh tra các rủi ro không nghiêm trọng

và có giá trị truy thu không trọng yếu (thường là có ngưỡng nhất định)

- Thanh tra tại cơ sở: Thường là các vụ việc có rủi ro nghiêm trọng,

không thuộc phạm vi thanh tra tại bàn.

Thanh tra ngẫu nhiên: Là loại hình thanh tra mang tính chất chọn lựa xác

suất nhằm kiểm tra, đánh giá tình hình chung về việc tuân thủ pháp luật Thanh tra ngẫu nhiên có thể được xác định theo chủ đề (ví dụ: thanh tra việc sử dụng hóa đơn GTGT và đối chiếu giữa doanh thu chịu thuế GTGT với doanh thu hoạt động kinh doanh kê khai trong thuế TNDN, thanh tra một số ngành, nghề nhất định) Thanh tra ngẫu nhiên có thể được thực hiện theo hình thức thanh tra tại bàn hoặc thanh tra tại cơ sở Các tiêu thức lựa chọn thanh tra ngẫu nhiên thường dựa vào nguyên tắc chọn mẫu trong toán thống kê.

Trang 35

1.3.2.5 Về kiểm soát chất lượng thanh tra

Các nước đều xây dựng hệ thống chuẩn mực thanh tra để kiểm soát chất

lượng thanh tra Hệ thống chuẩn mực từng nước có sự khác biệt nhất định nhưng đều bao gồm các nhóm chuẩn mực sau:

- Chuẩn mực 1: Kế hoạch thanh tra

- Chuẩn mực 2: Bằng chứng thanh tra và thu thập bằng chứng thanh tra.

- Chuẩn mực 3: Kết luận, kiến nghị thanh tra

- Chuẩn mực 4: Tài liệu làm việc và Báo cáo thanh tra.

Tuỳ theo quy mô và tính chất của từng vụ thanh tra, cơ quan thuế có thể thành lập các bộ phận riêng chịu trách nhiệm rà soát kết quả thanh tra theo các chuẩn mực trên trước khi ban hành quyết định cuối cùng hoặc có thể đưa vào quy trình thanh tra nội bộ Ví dụ, tại úc, Malaysia và Trung Quốc, các thanh tra cao cấp hoặc trưởng phòng thanh tra có trách nhiệm rà soát lại toàn bộ các kết quả thanh tra tại cơ sở có liên quan đến giao dịch quốc tế hoặc các vụ việc lớn trước khi gửi kết luận chính thức cho đối tượng nộp thuế

1.3.2.6 ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế

Nhóm các nước phát triển có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế cao và tại cấp trung ương thường thành lập bộ phận ''Thanh tra máy tính'' (thanh tra tin học, thanh tra thuế bằng máy tính) Thanh tra máy tính được thực hiện thông qua hệ thống ứng dụng tin học hỗ trợ công tác thanh tra và quyền truy cập, khai thác, sử dụng hệ thống dữ liệu của đối tượng nộp thuế để xác định số liệu thực về sổ sách kế toán và các giao dịch điện tử

Theo kinh nghiệm các nước (úc, New Zealand, Nhật bản, Hồng Kông, Trung quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan ) hiện tại

do tính hiệu quả, thanh tra máy tính chỉ nên áp dụng đối với các ĐTNT lớn, có hoạt động đa dạng, đa quốc gia.

1.3.2.7 Công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ thanh tra

Các nước đều có yêu cầu cao đối với việc tuyển chọn thanh tra viên Người được tuyển chọn thường phải được đào tạo qua Đại học Riêng Anh yêu cầu phải có 2 bằng Đại học ( 1 bằng Đại học kinh tế hoặc Đại học thuế và 1 bằng Đại học Luật)

Trang 36

Những tiêu chuẩn cơ bản thanh tra viên cần phải có gồm:

- Có kiến thức chuyên sâu về luật thuế;

- Có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước và quốc tế và mối liên kết giữa các yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mục đích thuế;

- Có kỹ năng thanh tra, phân tích kinh tế;

- Có tính nhạy bén, làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc;

- Có kiến thức thành thạo về sử dụng máy vi tính (bao gồm kiến thức cơ bản về hệ điều hành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng cơ sở và ứng dụng chuyên ngành sử dụng cho thanh tra)

- Có khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ.

Ngoài việc tuyển chọn thanh tra viên theo truyền thống từ khối các trường kinh tế, luật, hiện nay một số quốc gia (điển hình là Mỹ) còn tuyển dụng những người từ các chuyên ngành khác để hỗ trợ hoạt động thanh tra theo ngành, phân tích kinh tế ngành

Các nước đều chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng viên chức thuế Một số Tổng cục Thuế các nước có Trung tâm đào tạo riêng Nhiều trung tâm được đầu tư hiện đại xếp hạng quốc tế hoặc khu vực như Trung tâm đào của Nhật Bản, Malaysia, Pháp Thanh tra viên khi mới được tuyển dụng đều được

dự các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ và đào tạo cơ bản

Tại Anh, hàng năm đều mở các lớp đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho các ngạch thanh tra viên, thanh tra chính và thanh tra cao cấp Mỗi học viên vào học ở các ngạch trên đều phải đảm bảo những chỉ tiêu và tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước Khi học xong chương trình đều phải qua thi tuyển, nếu đạt thì mới được công nhận là ngạch thanh tra tương ứng với trình độ đã đào tạo.

1.3.1.8 Về thời gian thanh tra

Hầu hết các nước đều quy định thời gian thanh tra tương đối dài, từ một vài tháng đến một vài năm, tuỳ theo tính chất, quy mô cuộc thanh tra, điều tra thuế Thời gian thanh tra tại cơ sở kinh doanh là 02 tháng và có thể kéo dài 08 tháng nếu được Tổng cục trưởng cục thuế cho phép, thanh tra tại trụ sở cơ quan thuế thì thời gian là 01 tháng, có thể kéo dài 02 tháng (Indonesia); Thời gian thu thập tài liệu phân tích thông tin (thanh tra tại bàn) từ 30 ngày đến 45 ngày; Thời

Trang 37

gian thanh tra đối tượng nhỏ khoảng 6 tháng; đối tượng lớn là 1 năm và điều tra thuế là 2 năm (Anh)

1.3.3 Khả năng vận dụng vào hoạt động thanh tra, kiểm tra tại Việt Nam

Để áp dụng được các kinh nghiệm tiên tiến trên của thế giới vào hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế, ngoài việc hoàn thiện những điều kiện nội tại trong ngành thuế như: xây dựng được một hệ thống quản lý thuế tương đối hiệu quả, hiện đại trên tất cả các lĩnh vực quản lý thuế: các qui trình quản lý rõ ràng, đội ngũ nhân viên được đào tạo, hệ thống dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế phát triển, các chế tài thưởng phạt đầy đủ và được áp dụng có hệ thống, các hoạt động thanh tra được lập kế hoạch và đặt mục tiêu đúng đắn, áp dụng các kỹ thuật thanh tra tiên tiến, công nghệ thông tin hỗ trợ một cách hiệu quả, hoạt động của

hệ thống quản lý thuế và được hiện đại hoá không ngừng thì những điều kiện khách quan như trình độ dân trí, đặc biệt là ý thức tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế; tình hình kinh tế xã hội của đất nước cũng phải đạt đến một mức độ phát triển nhất định

Qua nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức hoạt động thanh tra thuế tại một số nước, những nội dung có thể vận dụng để từng bước hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra của Việt Nam trong thời gian tới là:

- Các tổ chức thanh tra ĐTNT mới cần được cơ cấu theo hướng chuyên môn sâu, hình thành các bộ phận nhỏ chịu trách nhiệm một hoặc một vài khâu trong quy trình thanh tra.

- Bổ sung chức năng điều tra tội phạm về thuế.

- Chuẩn hoá lực lượng thanh tra cả về số lượng và chất lượng Tuyển chọn

và bồi dưỡng thanh tra viên theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp.

- Xem xét, bổ sung các tiêu chí "vĩ mô" như xu hướng phát triển kinh tế, đặc tính ngành kinh tế khi phân tích, xác định rủi ro.

- Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ thanh tra.

- Vận dụng phương pháp chọn xác suất một tỷ lệ nhất định để thực hiện thanh tra ngẫu nhiên ĐTNT.

- Áp dụng các chuẩn mực thanh tra để nâng cao hiệu quả, hiệu lực thanh tra thuế.

Trang 38

- Quy định thời gian thanh tra dài hơn để đảm bảo thanh tra viên có đủ thời gian thu nhập, phân tích thông tin và kiểm định nội dung phân tích.

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA ĐTNT TRƯỚC KHI CÓ LUẬT QUẢN LÝ THUẾ

2.1.1 Tổ chức hệ thống và nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra, kiểm tra thuế

2.1.1.1 Tổ chức hệ thống thanh tra thuế

Trước 1/7/2007, hệ thống thanh tra thuế được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương trên cơ sở mô hình tổ chức bộ máy ngành thuế ngay từ khi thành lập hệ thống thuế Nhà nước theo Nghị định số 281 và Thông tư số 38 -TC/ TCCB ngày 25/8/1990 của Bộ Tài chính (Thông tư số 38)

Theo mô hình này, ở trung ương có Phòng Thanh tra và Xử lý tố tụng về thuế đặt tại Cơ quan Tổng cục Thuế (bao gồm cả bộ phận Thanh tra tại Đại diện Tổng cục Thuế tại TP Hồ Chí Minh), ở địa phương có Phòng Thanh tra và xử lý

tố tụng về thuế (Cục thuế) và tại Chi cục Thuế có Tổ Kiểm tra và xử lý tố tụng về thuế

Hệ thống thanh tra thuế là bộ máy giúp việc của Thủ trưởng cơ quan thuế các cấp, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan thuế cùng cấp và sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan thanh tra thuế cấp trên.

Từ 1/1/2004 đến 04/07/2007, thực hiện Quyết định số 218, Quyết định 188/2003/QĐ-BTC ngày 14/11/2003 của Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Ban và Văn phòng thuộc Tổng cục Thuế, Quyết định số 189/2003/QĐ-BTC ngày 14/11/2003 của Bộ Tài chính quy định nhiệm

vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Cục thuế trực thuộc Tổng cục Thuế và Quyết định số 1682 TCT/QĐ-TCCB ngày 14/11/2003 của Tổng cục Thuế quy định nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Chi cục Thuế trực thuộc Cục thuế, hệ thống thanh tra thuế cũng vẫn được tổ chức theo mô hình 3 cấp từ trung ương đến địa phương (xem sơ đồ 2.1)

Theo đó, mô hình này, xét về cơ cấu tổ chức, không có thay đổi gì lớn so với mô hình tổ chức bộ máy thanh tra thuế theo Nghị định số 281 và Thông tư số

Trang 40

38 Tuy nhiên, nhiệm vụ và chức năng của hệ thống thanh tra thuế đã có sự thay đổi lớn đáp ứng yêu cầu kiểm tra sau và quản lý theo rủi ro:

Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức hệ thống thanh tra thuế

Ban Thanh tra

Phòng Thanh tra Cục Thuế

Các phòng

chuyên môn,

nghiệp vụ

Các phòng thanh tra

Chi cục thuế

Tổ thanh tra

Tổ nghiệp vụ

Ngày đăng: 14/08/2020, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w