Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảolãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng k
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CHẤT LƯỢNG 4
HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH 4
1.1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 4
1.1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò của Công ty chứng khoán 4
1.1.2 Nghiệp vụ Công ty chứng khoán 11
1.2 HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH VÀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 19
1.2.1 Hoạt động tự doanh 19
1.2.2 Chất lượng hoạt động tự doanh 22
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH 32
1.3.1 Nhân tố khách quan 32
1.3.2 Nhân tố chủ quan 37
CHƯƠNG 2 42
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG 42
TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 42
CHỨNG KHOÁN SME 42
2.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SME 42
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty 42
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý công ty 44
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Chứng khoán SME 46
Trang 22.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN CHỨNG KHOÁN SME 48
2.2.1 Mô hình tổ chức bộ phận tự doanh 48
2.2.2 Nghiệp vụ tự doanh 50
2.3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SME 52
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TỰ DOANH 65
2.4.1 Thành tựu đạt được 65
2.4.2 Hạn chế 66
CHƯƠNG 3 70
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO 70
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SME 70
3.1 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SME 70
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SME TRONG THỜI GIAN TỚI 71
3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SME 73
3.3.1 Hoàn thiện quy chế tự doanh của công ty 73
3.3.2 Tăng nguồn vốn hoạt động tự doanh 74
3.3.3 Thu hút nhân sự có trình độ, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp 74
3.3.4 Đa dạng hoá danh mục đầu tư trong hoạt động tự doanh 74
3.3.5 Tăng khả năng giám sát của bộ phận kiểm soát rủi ro 75
3.3.6 Chú trọng tách bạch quản lý và vai trò bình ổn thị trường 76
Trang 33.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
76
3.4.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ quan giám sát về chứng khoán và thị trường chứng khoán 76
3.4.2 Ngân hàng nhà nước nên cho phép triển khai cho vay chứng khoán với tỷ lệ hợp lý đối với ngân hàng thương mại 77
3.4.3 Chính phủ, bộ tài chính nên có cơ quan tạo lập và ổn định thị trường phía sau UBCKNN 77
3.4.4 Phát triển công cụ phái sinh 78
3.4.5 Giảm thời hạn thanh toán giao dịch mua bán chứng khoán 78
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
3 Bảng 2.3 Tỷ suất lợi nhuậnHĐTD trên nguồn vốn HĐTD 48
4 Bảng 2.4 Tỷ suất lợi nhuận HĐTD trên nguồn vốn CSH 51
5 Bảng 2.5 Tỷ suất lợi nhuận HĐTD trên tổng lợi nhuận 51
6 Bảng 2.6 Tỷ suất DMKTH trên nguồn vốn HĐTD 53
7 Bảng 2.7 Tỷ lệ đầu tư của công ty trong năm 2011 56
10 Biểu đồ 2.2 Nguốn vốn hoạt động tự doanh 47
11 Biểu đồ 2.3 Lợi nhuận hoạt động tự doanh 48
12 Biểu đồ 2.4 Lợi nhuận hoạt động tự doanh và tổng lợi nhuận 52
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) vào ngày 11/01/2007, lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán pháttriển rất mạnh mẽ Tính đến thời điểm này Việt Nam có hai Sở Giao dịchChứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giaodịch Chứng khoán Hà Nội (HNX)
Theo số liệu của UBCK NN, tính đến đầu tháng 6/2011, tổng giá trịvốn hóa trên cả 2 sàn HOSE và HNX là 643.395 tỷ đồng, giảm 6,39% so với
3 tháng trước đó So với GDP năm 2010 tính theo giá thực tế được Tổng cụcthống kê vừa công bố là 1,98 triệu tỷ đồng thì tổng giá trị vốn hóa thị trườngchỉ chiếm 32,49% Cùng với thời điểm này năm 2010, tổng giá trị vốn hóacủa TTCK Việt Nam đạt 740.433 tỷ đồng (bằng 45% GDP năm 2009 là1,645 triệu tỷ đồng) Tính đến ngày 07/06/2011, số lượng mã chứng khoánniêm yết trên HOSE là 284 cổ phiếu và 5 chứng chỉ quỹ đầu tư, trên HNX là
384 cổ phiếu Số lượng tài khoản nhà đầu tư tính đền thời điềm 30/04/2011
là 1.103.184 tài khoản, tăng 25,4% so với con số 879.730 tài khoản cách đómột năm
Bên cạnh đó, các Tổng công ty nhà nước vẫn trong quá trình cổ phầnhóa theo lộ trình của chính phủ
Ảnh hưởng của đợt suy giảm của thị trường chứng khoán thời gian qua,giá cổ phiếu trên thị trường chính thức và OTC giảm mạnh, chỉ số VN Index
từ 633 điểm tại thời điểm ngày 23/10/2009, thời điểm 30/06/2011 còn 432điểm, tương ứng giảm 201 điểm ( - 32 %)
Trang 7Công ty Cổ Phần Chứng khoán SME được thành lập tháng 12 năm
2006, là một trong những công ty được thành lập khi thị trường chứng khoánViệt Nam đang trong giai đoạn bùng nổ mạnh mẽ Sau hơn 4 năm thành lập,công ty đã có những bước phát triển như đổi mới công nghệ, thu hút kháchhàng trong hoạt động môi giới chứng khoán Nhưng hoạt động tự doanh củacông ty còn có nhiều vấn đề bất cập như quy trình tự doanh, nhân sự, xâydựng chiến lược đầu tư chưa đáp ứng được diễn biến nhanh của thị trường.Việc nghiên cứu tìm kiếm giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động tựdoanh chứng khoán là nhu cầu thực tiễn của công ty
Xuất phát từ lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty Cổ phần chứng khoán SME” cho luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn đề xuất
một số giải pháp thích hợp để tháo gỡ những vướng mắc của thực tiễn gópphần nâng cao chất lượng kinh doanh chứng khoán tại Công ty Cổ phầnChứng khoán SME
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động tự doanh chứngkhoán tại Công ty Cổ phần Chứng khoán SME để thấy rõ những thành quả đãđạt được, những tồn tại trong thực hiện
- Từ thực trạng, trên cơ sở đề xuất một số định hướng và giải phápnhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty Cổphần Chứng khoán SME
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn này: Công ty chứng khoán và chất
lượng hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn : Luận văn tập trung xem xét,nghiên cứu chất lượng hoạt động tự doanh trong kinh doanh chứng khoán
Trang 8+ Phạm vi thời gian: Tiến hành nghiên cứu, thu thập phân tích số liệu từnăm 2009 tới 6 tháng đầu năm 2011.
+ Phạm vi không gian: Vì những điều kiện chủ quan và khách quan màtôi chỉ chỉ thực hiện tại Công ty Cổ phần Chứng khoán SME
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp luận duy vật biệnchứng mác-xít
Trong quá trình triển khai nghiên cứu thực tế, đề tài đã sử dụng cácphương pháp phân tích, tổng hợp, chi tiết, điều tra,thống kế kinh tế, hệ thốnghóa, khái quát hóa để tìm hiểu các vấn đề nghiên cứu đặt ra
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và phụ lục thì nội dung kết cấu được chiathành 3 chương
Chương 1: Công ty chứng khoán và chất lượng hoạt động tự doanh Chương 2: Thực trạng chất lượng hoạt động tự doanh chứng khoán tại
Công ty Cổ phần Chứng khoán SME
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự
doanh chứng khoán tại Công ty Cổ phần Chứng khoán SME
Trang 9CHƯƠNG 1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH
1.1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò của Công ty chứng khoán
1.1.1.1 Khái niệm Công ty Chứng khoán
Một khái niệm về công ty chứng khoán phổ biến và được chấp nhậnrộng rãi là: “Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thựchiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán” (Theo Giáo trình Thị trườngchứng khoán, xuất bản năm 2005 của Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội)
Công ty chứng khoán đóng vai trò là tổ chức trung gian trong các giaodịch trên thị trường chứng khoán, là nơi kết nối và thực hiện giao dịch giữangười mua và người bán Bên cạnh đó, công ty chứng khoán còn là trung gian
về thông tin, chuyên cung cấp các thông tin tư vấn, các sản phẩm nghiên cứunhằm hỗ trợ nhà đầu tư chọn lựa được các chứng khoán cho danh mục đầu tưcủa mình
Dưới góc độ pháp lý, công ty chứng khoán là một doanh nghiệp đượcthành lập và hoạt động theo pháp luật của từng nước để thực hiện các hoạtđộng kinh doanh chứng khoán
Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp
vụ kinh doanh sau đây: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảolãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán.Ngoài những nghiệp vụ trên, công ty chứng khoán được cung cấp dịch vụ tưvấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác
Trang 10Hoạt động của các công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, kháchẳn với các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môitrường hoạt động của chúng chính là TTCK – thị trường tài chính bậc cao củanền kinh tế thị trường Chính hoạt động đa dạng và phức tạp như vậy nên vấn
đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của công ty chứng khoán ở mỗi quốcgia lại có những điểm khác biệt nhất định Nhìn chung, hai mô hình được ápdụng phổ biến hiện nay là mô hình công ty đa năng và mô hình công tychuyên doanh chứng khoán
Mô hình công ty đa năng được chia làm hai dạng: đa năng một phần(các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty conđộc lập, hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ) và đa năng hoàntoàn (các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh tổng hợp, bao gồm cảtiền tệ, chứng khoán và bảo hiểm) Mô hình đa năng hoàn toàn có ưu điểm là
sự kết hợp đa năng rất cao, do đó giảm bớt được rủi ro cho hoạt động kinhdoanh chung bằng việc đa dạng hóa đầu tư Ngoài ra, mô hình này còn có ưuđiểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trênthị trường tài chính Tuy nhiên ở mô hình này tính chuyên môn hóa khôngcao, và nếu môi trường luật pháp không chặt chẽ sẽ dễ dẫn tới tình trạng lũngđoạn thị trường, dễ dẫn đến khủng hoảng tài chính Do những hạn chế nhưvậy, nhiều nước đã chuyển sang áp dụng mô hình công ty chứng khoánchuyên doanh, mô hình đa năng hoàn toàn chỉ còn tồn tại ở một số ít quốc gia
Trang 11Ngược lại, theo mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt độngkinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa tronglĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được trực tiếp thamgia vào kinh doanh chứng khoán Mô hình này có ưu điểm là hạn chế được rủi
ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vàochuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường pháttriển, tuy nhiên khả năng phân tán rủi ro trong kinh doanh bị hạn chế Môhình này được áp dụng phổ biến ở các nước Mỹ, Nhật và các thị trường mớinổi như Hàn Quốc, Thái Lan…
1.1.1.2 Chức năng của Công ty Chứng khoán
Hoạt động của TTCK muốn hiệu quả cần đến những trung gian, đó làcác công ty chứng khoán, có nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghềnghiệp và bộ máy tổ chức phù hợp, thực hiện vai trò trung gian môi giới mua-bán chứng khoán, tư vấn đầu tư và một số các dịch vụ khác cho cả các tổ chứcphát hành và các nhà đầu tư
Các CTCK là các tác nhân thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nóichung và TTCK nói riêng Nhờ các CTCK mà các cổ phiếu và trái phiếu lưuthông dễ dàng, tạo ra tính thanh khoản cao, qua đó huy động được một lượngvốn khổng lồ nhàn rỗi trong dân chúng để đưa vào những nơi sử dụng hiệuquả hơn
Công ty chứng khoán có các chức năng chủ yếu trên thị trường tàichính: Tạo cơ chế huy động vốn bằng cách nối những người có vốn (nhà đầutư) đến những người có nhu cầu sử dụng vốn, muốn huy động vốn (nhữngngười phát hành chứng khoán) thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Cung cấp một cơ chế giá cả cho giá trị của các khoản đầu tư
Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho các nhà đầu tư
Trang 12Khi thực hiện các chức năng của mình, các công ty chứng khoán cũngtạo ra sản phẩm, vì các công ty này hoạt động với tư cách đại lý hay công ty
ủy thác trong quá trình mua bán các chứng khoán được niêm yết và khôngniêm yết, đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cho các cá nhân đầu tư,các công ty cổ phần và cả chính phủ nữa
1.1.1.3 Vai trò của Công ty Chứng khoán
a Đối với các tổ chức phát hành
Tạo cơ chế huy động vốn: Mục tiêu chính tham gia TTCK của các tổchức phát hành chính là huy động vốn thông qua việc phát hành các loạichứng khoán Một trong nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trunggian, nguyên tắc này yêu cầu các tổ chức phát hành và các nhà đầu tư khôngđược mua bán chứng khoán trực tiếp với nhau mà phải thông qua trung gianmua bán CTCK có vai trò làm chiếc cầu nối và đồng thời là các kênh dẫn chovốn chảy từ một hay một số bộ phận nào có của nền kinh tế có dư thừa vốn( vốn nhàn rỗi ) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn ( cầnhuy động vốn ) CTCK với tư cách là một định chế tài chính trung gian, hỗ trợviệc huy động vốn của các tổ chức phát hành thông qua hoạt động bảo lãnhphát hành
Hỗ trợ chuyên môn thông qua tư vấn: Ngoài ra, CTCK còn cung cấpcho doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp về tài chính công ty, cơ cấu lại, lập
và đánh giá dự án, quản lý tài sản và định hướng đầu tư
b Đối với các nhà đầu tư
Trang 13Tăng hiệu quả đầu tư: Để tham gia đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tưphải trải qua một quá trình dài, từ tìm hiểu thông tin thị trường, thông tin vềchứng khoán muốn đầu tư, đưa ra quyết định đầu tư (thời điểm đầu tư, số vốnđầu tư, cơ cấu danh mục đầu tư…), tiến hành đầu tư (đặt lệnh đối với chứngkhoán niêm yết hay đi tìm người muốn bán/mua đối với chứng khoán chưaniêm yết), thực hiện các thủ tục cần thiết như thanh toán, lưu ký….Tóm lại,
để đầu tư được nhà đầu tư phải bỏ ra không ít thời gian và chi phí, hơn thếnữa cũng không đảm bảo được độ chính xác của thông tin mình tiếp cận được,hay thời gian bỏ ra để tìm hiểu và quyết định quá dài làm lỡ mất cơ hội đầu
tư CTCK cung cấp dịch vụ môi giới và tư vấn đầu tư, góp phần làm giảm chiphí, thời gian giao dịch cho các nhà đầu tư Trên TTCK, các hàng hóa đượcmua bán, trao đổi là những hàng hóa khó xác định giá trị, giá cả lại thườngxuyên biến động, rủi ro trong đầu tư thường cao CTCK với hoạt động chuyênnghiệp của mình, có khả năng thu thập và xử lý thông tin, rút ngắn thời giantìm hiểu thông tin ra quyết định, đồng thời các nhân viên tư vấn đưa ra cáckhuyến nghị, các ý kiến chuyên môn, là cơ sở để các nhà đầu tư thực hiện cácquyết định của mình, tăng hiệu quả và giảm rủi ro trong đầu tư Ngoài ra,thông qua việc lưu ký chứng khoán, CTCK giúp khách hàng bảo quản cácchứng khoán
c Đối với thị trường chứng khoán
Đối với TTCK, CTCK có hai vai trò cơ bản sau:
Trang 14Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán là dothị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua vàngười bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vàoquá trình mua bán Các CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họcũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơcấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vìvậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giácủa các CTCK
Các CTCK còn có vai trò tham gia điều tiết thị trường Để bảo vệ lợiích của khách hàng và của chính mình, nhiều công ty dành một tỷ lệ nhất địnhgiao dịch của mình để thực hiện vai trò bình ổn thị trường Theo quy định củanhiều nước, CTCK cũng bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịchcủa mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán giảm và bán ra khigiá chứng khoán cao
Trang 15Góp phần tạo hàng hóa cho thị trường và tăng tính thanh khoản của cácchứng khoán Trên thị trường sơ cấp, bằng hoạt động bảo lãnh phát hành,công ty chứng khoán tham gia vào quá trình tạo hàng hoá cho thị trường Vớichuyên môn và uy tín của mình, cổ phiếu và trái phiếu khi được công tychứng khoán bảo lãnh phát hành sẽ rút ngắn thời gian phát hành và nhanhchóng được giao dịch Trong quá trình bảo lãnh, CTCK định giá chứng khoáncho đợt phát hành phù hợp với thực trạng của tổ chức phát hành và tình hìnhthị trường, đồng thời bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu Điều nàykhiến chứng khoán được nhà đầu tư tín nhiệm hơn Bên cạnh đó, hoạt độngmôi giới và tư vấn của CTCK trên thị trường thứ cấp tạo nên tính thanh khoảncho chứng khoán, làm cho chúng hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư Cũngtrên thị trường này, do thực hiện các giao dịch mua và bán các CTCK giúpngười đầu tư chứng khoán chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngượclại, làm tăng tính thanh khoản của chứng khoán
d Đối với các cơ quan quản lý
Trang 16Cung cấp thông tin: CTCK là một chủ thể trên thị trường và tham gia vào hầuhết các hoạt động trên TTCK, từ bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mớicho đến môi giới và trực tiếp mua, bán chứng khoán trên thị trường Có thểnói các CTCK là một trong những chủ thể am hiểu thị trường chứng khoánnhất, nắm được nhiều thông tin nhất Các thông tin do CTCK cung cấp có ýnghĩ lớn đối với các cơ quan quản lý Thứ nhất, đối với các cơ quan hoạchđịnh chính sách TTCK giống như phong vũ biểu của nền kinh tế, mọi biếnđộng của nền kinh tế ít nhiều được phản ánh qua hoạt động của TTCK, nhờnhững thông tin do CTCK cung cấp, các cơ quan hoạch định chính sách cóđược những thông tin cần thiết về thị trường, làm cơ sở để đưa ra những chiếnlược chính sách đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế Thứ hai, đối với các
cơ quan quản lý thị trường CTCK có thể cung cấp các thông tin về các giaodịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chứcphát hành, thông tin về các nhà đầu tư v.v…Nhờ các thông tin này, các cơquan quản lý thị trường có thể nắm được các diễn biến của thị trường, các bất
ổn xảy ra, nhờ thế kiểm soát hoạt động của TTCK và chống các hiện tượngtiêu cực như: thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường
1.1.2 Nghiệp vụ Công ty chứng khoán
1.1.2.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đóCTCK đại diện cho khách hàng giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sởgiao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịutrách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch ấy
Nghiệp vụ môi giới có 2 nhiệm vụ chính là:
- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư, cung cấp chokhách hàng các báo cáo nghiên cứu và các kiến nghị đầu tư
Trang 17- Nối liền những người bán và những người mua: Đem đến cho kháchhàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, nghề môi giới chứng khoán đòi hỏiphải có những phẩm chất đạo đức, kỹ năng mẫn cán trong công việc và vớithái độ công tâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất Nhàmôi giới không được xúi giục khách hàng mua bán chứng khoán để kiếmhoa hồng
1.1.2.2 Nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là côngviệc CTCK thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tíchcác tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quantới phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng Đặc biệt, hiện naytrong chủ trương quản lý và phát triển đối với các doanh nghiệp nhà nước thìdịch vụ tư vấn cổ phần hóa được triển khai nhiều nhất
Theo đối tượng của hoạt động tư vấn thì có thể phân chia hoạt động tư vấnthành tư vấn cho người phát hành và tư vấn đầu tư
Tư vấn cho tổ chức phát hành: Là hoạt động mà các CTCK sử dụng
các kiến thức đặc thù của mình nhằm giúp cho khách hàng trong việc xác địnhgiá trị doanh nghiệp, phát hành và niêm yết chứng khoán Đây là một mảnghoạt động quan trọng vì nếu như hoạt động này được thực hiện một cách tốtđẹp thì sẽ hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp và tạo ra những loại hàng hóa cóchất lượng cao trên thị trường Trong đó:
- Xác định giá trị doanh nghiệp: Là việc CTCK định giá doanh nghiệp
trước khi chào bán chứng khoán ra công chúng hoặc là cơ sở để đánh giátrong việc mua bán và sát nhập công ty
Trang 18- Tư vấn tái cơ cấu nguồn vốn: Khi một doanh nghiệp nhận thấy cơ cấu
vốn của mình không phù hợp với điều kiện kinh doanh hiện tại, và không phùhợp với nghành nghề của mình thì họ sẽ tìm cách tái cơ cấu nguồn để nângcao hiệu quả và đảm bảo kinh doanh an toàn Khi đó, CTCK là một nhà đốitác thích hợp vì nó có chuyên môn trong lĩnh vực tài chính
- Tư vấn quản trị công ty: CTCK tư vấn cho khách hàng của mình trong
việc xây dựng điều lệ, cơ cấu tổ chức, hoạt động nhằm giúp các công ty cổphần hoạt động hiệu quả hơn trong giai đoạn đầu thành lập
- Tư vấn phát hành: CTCK tư vấn cho tổ chức phát hành về cách thức
và hình thức phát hành, xây dựng hồ sơ, bản cáo bạch…, và giúp tổ chức pháthành trong việc lựa chọn tổ chức bảo lãnh và phân phối chứng khoán
- Tư vấn niêm yết: Là việc CTCK giúp các doanh nghiệp thực hiện các
thủ tục theo quy định của pháp luật để đưa doanh nghiệp lên niêm yết tạiSGDCK hay TTGDCK
Tư vấn đầu tư chứng khoán: Là việc đội ngũ tư vấn CTCK sử dụng
các công cụ phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và thu thập các thông tin đểđưa ra các lời khuyên cho khách hàng về thời điểm mua/ bán, thời gian nắmgiữ, xu hướng và biến động của thị trường Hoạt động tư vấn đầu tư chứngkhoán được phân loại theo các tiêu chỉ sau:
a Theo hình thức của hoạt động tư vấn
- Tư vấn trực tiếp: Tức là khách hàng có thể gặp gỡ trực tiếp với cácnhà tư vấn hoặc sử dụng các phương tiện truyền thông như điện thoại,internet,fax… để hỏi ý kiến
- Tư vấn gián tiếp: Là cách người tư vấn xuất bản các ấn phẩm hay đưathông tin lên những phương tiện truyền thông như internet để bất kỳ kháchhàng nào cũng có thể tiếp cận nếu muốn
b Theo mức độ ủy quyền của hoạt động tư vấn
Trang 19- Tư vấn gợi ý: Ở mức độ này, người tư vấn chỉ có quyền nêu ý kiếncủa mình về những phương pháp, cách thức xử lý nhưng quyền quyết định làcủa khách hàng.
- Tư vấn ủy quyền: Với nghiệp vụ này, nhà tư vấn sẽ tư vấn và quyếtđịnh hộ khách hàng tùy theo mức độ ủy quyền
Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn:
- Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán: Giá trị chứngkhoán không phải là một số cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế
- Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua bán một loại chứngkhoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ cơ sở khách quan làquá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn đề nghiên cứu
1.1.2.3 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứngkhoán cho chính mình Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thôngqua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC Tại một số thị trườngvận hành theo cơ chế khớp giá hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiệnthông qua hoạt động tạo lập thị trường Lúc này, CTCK đóng vai trò nhà tạolập thị trường nắm giữ một số chứng khoán nhất định của một số loại chứngkhoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênhlệch giá
Trang 20Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chínhCông ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng Nghiệp vụnày hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịchcho khách hàng đồng thời cũng phục cho chính mình Vì vậy trong quá trìnhhoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho kháchhàng và cho bản thân Công ty Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầutách biệt rõ ràng giữa nghiệp vụ môi giới và nghiệp vụ tự doanh, CTCK phải
ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện của mình Thậm chíluật pháp ở một số nước còn quy định hai loại hình CTCK là Công ty môi giớichứng khoán chỉ làm chức năng môi giới chứng khoán và CTCK có chứcnăng tự doanh
Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnhcho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh bằng chínhnguồn vốn của Công ty Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn vàđội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích và đưa ra cácquyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò các nhà tạolập thị trường
Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh
- Giao dịch gián tiếp: Tức là CTCK đặt các lệnh mua và bán của mình
trên sở giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với khách hàng nào không xácđịnh trước
- Giao dịch trực tiếp: Tức là giao dịch giữa hai CTCK hay giữa CTCK
với một khách hàng thông qua thương lượng Đối tượng giao dịch loại nàythường là các loại trái phiếu, các cổ phiếu đăng ký giao dịch trên thị trườngchứng khoán phi tập trung
1.1.2.4 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Trang 21Để thực hiện các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng đòi hỏi tổchức phát hành phải cần đến các CTCK tư vấn cho đợt phát hành và thực hiệnbảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng và giúp bình ổn giá trong giaiđoạn đầu sau khi phát hành Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành củacác CTCK và là nghiệp vụ chiếm doanh thu khá cao trong tổng doanh thu củacông ty chứng khoán.
Như vậy, hoạt động bảo lãnh phát hành là việc CTCK tiến hành thựchiện các hoạt động hướng dẫn cho tổ chức phát hành trong việc phát hành mộtloại chứng khoán ra thị trường như: tư vấn loại chứng khoán phát hành, tiếnhành thực hiện các hoạt động liên quan như thủ tục xin phép phát hành, công
bố và niêm yết thông tin ra bên ngoài, tìm kiếm và chào bán cho các kháchhàng lớn… để công việc phát hành được triển khai đúng trình tự và quy địnhcủa pháp luật
Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có công ty chứngkhoán mà còn bao gồm các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư,nhưng thông thường việc CTCK nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luônviệc phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhậnbảo lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyểnphân phối chứng khoán cho các công ty chứng khoán tự doanh hoặc các thànhviên khác
Các hình thức bảo lãnh phát hành
- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo
lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán của tổ chức phát hành cho dùcác nhà đầu tư có đăng ký mua hết hay không
Trang 22- Bảo lãnh với cam kết tối đa: đây là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo
lãnh không cam kết mua toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành Tổ chứcbảo lãnh sẽ làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành và hưởng hoa hồngtrên số chứng khoán phát hành được Tổ chức bảo lãnh chỉ cam kết cố gắng
để bán nhiều chứng khoán nhất có thể, phần không bán được sẽ trả lại tổ chứcphát hành Vì vậy, với hình thức này việc lựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành
là việc hết sức quan trọng đối với tổ chức phát hành Uy tín năng lực của tổchức bảo lãnh phát hành sẽ thể hiện qua số chứng khoán phát hành được
- Bảo lãnh tất cả hoặc không: Đây là hình thức phát hành mà tổ chức
bảo lãnh phát hành được dành quyền để hủy bỏ đợt phát hành nếu toàn bộchứng khoán không được bán hết Hình thức này đòi hỏi các tổ chức bảo lãnhphát hành phải cố gắng tối đa để chào bán chứng khoán nhằm đảm bảo chođợt phát hành thành công
Đối với những đợt phát hành quan trọng của các tổ chức phát hành mà
số lượng chứng khoán cần bảo lãnh quá lớn so với khả năng của CTCK thìnhững công ty này sẽ liên kết với các CTCK khác để có thể thực hiện đượcnghiệp vụ bảo lãnh phát hành cho tổ chức phát hành đó Việc liên kết nhiềucông ty chứng khoán trong việc cùng thực hiện bảo lãnh cho các tổ chức pháthành được gọi là tổ hợp bảo lãnh hoặc đồng bảo lãnh Ngày nay đa số cáccông ty chứng khoán đều thực hiện theo xu hướng này vì như vậy ngoài sựđảm bảo tối ưu trong việc thực hiện đợt phát hành, nó còn chia sẻ làm giảmmức độ rủi ro đối với từng đơn vị kinh doanh chứng khoán
1.1.2.5 Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán
Trang 23Lưu ký chứng khoán là việc nhận chứng khoán do khách hàng gửi, bảoquản chứng khoán cho khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyềncủa mình đối với chứng khoán (quyền bỏ phiếu, quyền nhận lãi, vốn gốc tráiphiếu và cổ tức cổ phiếu bằng tiền, quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu, cổ phiếuthưởng, quyền mua cổ phiếu phát hành thêm, quyền chuyển đổi trái phiếuchuyển đổi, quyền thay đổi tên, tách, gộp cổ phiếu, các quyền khác theo quyđịnh của pháp luật).
Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu kýchứng khoán đứng tên nhà đầu tư Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoảnđầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉchứng khoán
Hệ thống lưu ký chứng khoán bao gồm Trung tâm Lưu ký chứng khoán(TTLK) và các thành viên lưu ký Thành viên lưu ký là các công ty chứngkhoán, ngân hàng thương mại hoạt động được UBCK cấp giấy chứng nhậnđăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán và được TTLK chấp thuận trở thànhthành viên lưu ký
Nguyên tắc lưu ký chứng khoán
- Việc lưu ký chứng khoán của khách hàng được quản lý theo hai cấp:Khách hàng lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký và thành viên lưu ký táilưu ký chứng khoán của khách hàng tại TTLK
- Thành viên lưu ký nhận lưu ký các chứng khoán của khách hàng với tưcách là người được khách hàng ủy quyền thực hiện các nghiệp vụ đăng ký, lưu
ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Để lưu ký chứng khoán, khách hàng phải
ký hợp đồng mở tài khoản lưu lý chứng khoán với thành viên lưu ký
- TTLK nhận tái lưu ký chứng khoán từ các thành viên lưu ký với tưcách là người được thành viên ủy quyền thực hiện các nghiệp vụ liên quan tớicác hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Để tái lưu
Trang 24ký chứng khoán, thành viên phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên thành viên lưu ký tại TTLK.
1.2 HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH VÀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Hoạt động tự doanh
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động tự doanh
Hoạt động tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giaodịch mua bán các chứng khoán cho chính mình
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiệntrên các thị trường giao dịch tập trung ( trung tâm giao dịch chứng khoán, sởgiao dịch chứng khoán), hoặc trên thị trường OTC,.v.v Trên thị trường giaodịch tập trung, lệnh giao dịch của các công ty chứng khoán được đưa vào hệthống và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch của các khách hàng Trên thịtrường OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện trực tiếp giữa công tyvới các đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng thông tin Tại một số nướchoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán còn được thực hiện thôngqua hoạt động tạo lập thị trường ( ví dụ như ở Mỹ) Trong hoạt động này,công ty chứng khoán đóng vai nhà tạo lập thị trường nẵm giữ một số lượngnhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán với các kháchhàng nhằm hưởng phí giao dịch và chênh lệch giá
1.2.1.2 Đặc điểm hoạt động tự doanh
Hoạt động tự doanh chứng khoán của CTCK có tính độc lập tươngđối về mô hình tổ chức
Hoạt động tự doanh của CTCK có quy mô lớn, mức độ tập trung hóa,
đa dạng hóa cao
Trang 25Hoạt động tự doanh chứng khoán có tính chuyên nghiệp, chuyên mônhóa cao.
1.2.1.3 Vai trò của hoạt động tự doanh
a Đối với Công ty Chứng khoán
Hoạt động tự doanh mang lại lợi nhuận cho CTCK Đây là vai trò quantrọng của hoạt động tự doanh đối với công ty, lợi nhuận từ hoạt động tự doanhchiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng lợi nhuận của một CTCK CácCTCK sẵn có khả năng chuyên môn, thông tin và đặc biệt là nguồn vốn lớn,nên hầu hết đều triển khai hoạt động tự doanh Tuy không được ổn định nhưnghiệp vụ môi giới chứng khoán và là hoạt động tiêu tốn nhiều nhân lực cũngnhư nguồn tài chính, đồng thời cũng chứa rất nhiều rủi ro nhưng hoạt động tựdoanh nhiều khi mang lại cho CTCK những khoản lợi nhuận đột biến
Hoạt động tự doanh hỗ trợ các nghiệp vụ khác phát triển.Tự doanh làhoạt động hỗ trợ trực tiếp cho nghiệp vụ bảo lãnh phát hành Giữa hai nghiệp
vụ này có mối quan hệ rất chặt chẽ Ngoài ra với các nghiệp vụ khác như tưvấn, môi giới…, hoạt động tự doanh cũng có những hỗ trợ đáng kể về thôngtin, nhận định hay quan hệ khách hàng Triển khai hoạt động tự doanh cũnggóp phần đa dạng hóa hoạt động, giảm thiểu rủi ro tổng thể cho các CTCK
Hoạt động tự doanh góp phần phát triển khách hàng Trong quá trìnhhoạt động tự doanh, mối quan hệ giữa công ty và các khách hàng được củng
cố, từ đó nảy sinh nhiều mối quan hệ tốt đẹp khác, tạo điều kiện phát triển cơ
sở khách hàng chung của cả CTCK
Hoạt động tự doanh giúp các CTCK nắm bắt sát sao tình hình thịtrường Để thực hiện hoạt động tự doanh, các công ty phải theo sát sự biếnđộng của thị trường Cũng chính từ các thông tin này cộng với sự nhìn nhận,đánh giá chủ quan mà các CTCK đưa ra được chiến lược kinh doanh phù hợpcho từng giai đoạn hoạt động
Trang 26b Đối với Thị trường Chứng khoán
Hoạt động tự doanh góp phần tăng quy mô đầu tư trên thị trường Tuỳthuộc vào quy mô và chiến lược đầu tư, mỗi CTCK có một hạn mức giao dịch
cổ phiếu, trái phiếu nhất định trên thị trường Tuy nhiên, dù ít hay nhiều thìlượng vốn mà các CTCK đổ vào thị trường cũng là những con số không nhỏ
so với các nhà đầu tư cá nhân riêng lẻ Điều đó sẽ giúp tăng quy mô giao dịchtrên thị trường
Hoạt động tự doanh góp phần nâng cao chất lượng đầu tư trên thịtrường CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, đầu
tư theo quy trình và phân tích bài bản Do đó, càng nhiều CTCK thực hiệnhoạt động tự doanh cổ phiếu thì phong cách đầu tư theo số đông trên thịtrường sẽ dần bị thay thế bởi một cách thức đầu tư có suy tính và phân tích
Có như vậy, thị trường mới phát triển ổn định và bền vững
Hoạt động tự doanh góp phần bình ổn giá cả thị trường Các CTCKhoạt động nhằm góp phần bình ổn giá cả thị trường Trong trường hợp này,hoạt động tự doanh được tiến hành bắt buộc theo luật định Luật các nước đềuquy định các CTCK phải dành một tỷ lệ % nhất định các giao dịch của mình(ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn thị trường Theo đó, các CTCK cónghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán bị giảm và bán ra khi giá chứng khoánlên nhằm giữ giá chứng khoán ổn định
1.2.1.4 Quy trình nghiệp vụ trong hoạt động tự doanh
Cũng như các hoạt động nghiệp vụ khác, hoạt động tự doanh không cómột quy trình chuẩn hay bắt buộc nào Các công ty chứng khoán, tùy vào cơcấu tổ chức của mình sẽ có các quy trình nghiệp vụ riêng, phù hợp Tuy nhiên,trên giác độ chung nhất, quy trình hoạt động tự doanh có thể được chia thànhmột số giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Xây dựng chiến lược đầu tư.
Trang 27Trong giai đoạn này, công ty chứng khoán phải xác định được chiếnlược trong hoạt động tự doanh của mình Đó có thể là chiến lược đầu tư chủđộng, thụ động hoặc đầu tư vào một số ngành nghề, lĩnh vực cụ thể nào đó.
Giai đoạn 2: Khai thác, tìm kiếm các cơ hội đầu tư.
Sau khi xây dựng được chiến lược đầu tư của công ty, bộ phận tự doanh
sẽ triển khai tìm kiếm các nguồn hàng hóa, cơ hội đầu tư trên thị trường theomục tiêu đã định
Giai đoạn 3: Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư.
Trong giai đoạn này bộ phận tự doanh có thể kết hợp với bộ phận phântích trong công ty tiến hành thẩm định, đánh giá chất lượng của các khoản đầu
tư Kết quả của giai đoạn này sẽ là những kết luận cụ thể về việc công ty cónên đầu tư hay không và đầu tư với số lượng, giá cả bao nhiêu là hợp lý
Giai đoạn 4: Thực hiện đầu tư.
Sau khi đã đánh giá, phân tích các cơ hội đầu tư, bộ phận tự doanh sẽkiển khai thực hiện các hoạt động giao dịch mua, bán chứng khoán Cơ chếgiao dịch sẽ tuân theo các quy định của pháp luật và các chuẩn mực chungtrong ngành
Giai đoạn 5: Quản lý đầu tư và thu hồi vốn
Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có trách nhiệm theo dõi cáckhoản đầu tư, đánh giá tình hình và thực hiện những hoán đổi cần thiết, hợp
lý Sau khi thu hồi vốn, bộ phận tự doanh sẽ tổng kết đánh giá lại tình hìnhthực hiện và lại tiếp tục chu kỳ mới
1.2.2 Chất lượng hoạt động tự doanh
1.2.2.1 Quan niệm chất lượng hoạt động tự doanh chứng khoán
Trang 28Chất lượng của hoạt động tự doanh chứng khoán là không những đemlại hiệu quả kinh tế cho công ty trên nguyên tắc là phải vừa đảm bảo sự táchbạch quản lý và ưu tiên cho khách khàng mà còn phải góp phần bình ổn thịtrường và tạo lập thị trường chứng khoán.
Đảm bảo tách bạch quản lý bao gồm cả hai yếu tố con người và quytrình nghiệp vụ Công ty chứng khoán phải có đội ngũ riêng biệt để thực hiệnnghiệp vụ tự doanh Các nhân viên này phải hoàn toàn tách biệt với bộ phậnmôi giới Bộ phận môi giới là nơi tiếp nhận thông tin giao dịch của kháchhàng Nếu bộ phận này trao đổi làm tiết lộ thông tin giao dịch của khách hàngcho bộ phận tự doanh, nhất là khách hàng cá nhân, tổ chức giao dịch lớn thì
dễ xảy ra xung đột lợi ích hai bên giữa Công ty chứng khoán và khách hàng,gây bất lợi cho khách hàng Bên cạnh đó các công ty chứng khoán còn phảiđảm bảo sự tách bạch về tài sản của khách hàng với các tài sản của chínhcông ty
Như vậy, ngân hàng quản lý tiền của nhà đầu tư tránh rủi ro cho nhà đầu tưkhi hoạt động của công ty chứng khoán có vấn đề
Ưu tiên khách hàng là lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lýtrước lệnh của công ty Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho các kháchhàng trong quá trình giao dịch chứng khoán
Công ty chứng khoán với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn củamình có thể thông qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điềutiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường Trên thịtrường, thị giá chứng khoán nhiều khi giảm giá quá nhanh, nhà đầu tư bán ra
ồ ạt, công ty chứng khoán với tiềm lực về vốn và danh mục chứng khoán lớncủa mình có thể hạn chế bán tháo và mua thêm vào nhằm mục đích bình ổnthị trường Bởi lẽ, hành động của các nhà đầu tư khi đó mang tính chất cảm
Trang 29tính và có phần sợ hãi thái quá Thị trường rất dễ mất thanh khoản vì không cónhà đầu tư nào dám mua vào thời điểm đó Ngược lại ở trường hợp thị giáchứng khoán tăng nóng liên tục trong nhiều phiên giao dịch Thì công tychứng khoán trong trường hợp này cũng phải thể hiện vai trò tương tự.
Tạo lập thị trường chứng khoán là các trung gian tài chính ( thường làcác công ty chứng khoán) yết giá mua, giá bán và số lượng chứng khoán trênthị trường Họ sẵn sàng thực hiện giao dịch mua và bán chứng khoán với cácmức giá và số lượng đã yết Các trung gian tài chính thực hiện công việc tạolập thị trường với hai mục tiêu chủ yếu: đảm bảo tính thanh khoản của thịtrường và tìm kiếm lợi nhuận
Tóm lại, chất lượng hoạt động tự doanh không những chỉ được thể hiệnqua hiệu quả kinh tế cho công ty mà còn phải đảm bảo tự tách bạch quản lý,
ưu tiên khách hàng, bình ổn thị trường và tạo lập thị trường chứng khoán
1.2.2.2 Chỉ tiêu đo lường chất lượng hoạt động tự doanh
a Các chỉ tiêu định lượng
- Hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động tự doanh
* Nguồn vốn hoạt động tự doanh
Nguồn vốn hoạt đông tự doanh thể hiện quy mô về hoạt động tự doanhcủa CTCK đó Quy mô hoạt động tự doanh càng lớn thì cơ hội tham gia bình
ổn thị trường cao hơn Khả năng tạo lập thị trường của những chứng khoánmới phát hành, niêm yết cũng được thực hiện trong tầm kiểm soát Nguồn vốn
tự doanh chứng khoán càng lớn chứng tỏ CTCK đầu tư cho hoạt động tựdoanh nhiều Tuy cơ hội thu lợi nhuận từ việc mua, bán chứng cho chính công
ty ở mức rất cao nhưng song hành với nó là khả năng thua lỗ vẫn luôn hiệnhữu TTCK là thị trường có tính chất thanh khoản cao và nhạy cảm với các
Trang 30thông tin
Giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán tập trung ngày càng giatăng Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán không thể bình ổn thịtrường khi số vốn dành cho hoạt động tự doanh chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ
Nguồn vốn dành cho hoạt động tự doanh cũng thể hiện sức mạnh tàichính của các CTCK
* Tỷ suất giữa lợi nhuận hoạt động tự doanh trên nguồn vốn hoạt động tự doanh
Tỷ suất giữa lợi nhuận HĐTD/Nguồn vốn HĐTD = Lợi nhuận HĐTD x 100%
Nguồn vốn HĐTD
Trong đó: HĐTD: Hoạt động tự doanh
Tỷ suất này phản ánh một đồng vốn hoạt động tự doanh bỏ ra thu đượcbao nhiều đồng lợi nhuận từ hoạt động tự doanh Trong hoạt động đầu tư, kinhdoanh chất lượng luôn được phản ánh qua thước đo về hiệu quả kinh tế Khảnăng sinh lời trên đồng vốn bỏ ra thể hiện được về chất của quá trình đầu tư.CTCK không thể chỉ hoạt động bình ổn thị trường và tạo lập thị trường mà lạikhông để ý tới hiệu quả kinh tế
Khả năng bảo toàn và sinh lời nguồn vốn của hoạt động tự doanh cũnggiúp nguồn lực tự doanh được bảo toàn và nâng lên, khi đó hoạt động bình ổn
và tạo lập thị trường chứng khoán mới được song hành
* Tỷ suất giữa lợi nhuận hoạt động tự doanh trên vốn cổ phần chủ
sở hữu
Tỷ suất giữa lợi nhuận HĐTD/Vốn CP CSH = Lợi nhuận HĐTD x 100%
Vốn CP CSH
Trang 31Trong đó: Vốn CP CSH: Vốn cổ phần chủ sở hữu
Lợi nhuận hoạt động tự doanh trên vốn cổ phần chủ sở hữu là loại hệ sốđược sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả của hoạt động tự doanh củaCTCK Nghĩa là một đồng vốn cổ phần của chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồngthu nhập tự doanh
Lợi nhuận từ hoạt động tự doanh phải được xem xét trên góc độ vốn cổphần của chủ sở hữu Hoạt động tự doanh đem lại tỷ suất sinh lợi bao nhiêuđối với vốn chủ sở hữu Vốn cổ phần của chủ sở hữu được sử dụng trong cáchoạt động của công ty chứng khoán như cung cấp dịch vụ môi giới, dịch vụ tưvấn và đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo lãnh phát hành Nhà quản lý sẽ sosánh giữa các bộ phận với nhau dựa vào chỉ tiêu này
Công ty chứng khoán luôn mong muốn tỷ suất này cao Tỷ suất nàycàng cao khả năng sinh lời của hoạt động doanh trên vốn chủ sở hữu càng lớn
* Tỷ suất giữa lợi nhuận hoạt động tự doanh trên tổng lợi nhuận
Tỷ suất giữa lợi nhuận HĐTD/Tổng lợi nhuận = Lợi nhuận HĐTD x 100%
Tổng lợi nhuận
Trang 32Lợi nhuận từ hoạt động tự doanh trên tổng lợi nhuận phản ánh trongmột đồng lợi nhuận của công ty có bao nhiêu đồng lợi nhuận của hoạt động tựdoanh
Chất lượng hoạt động tự doanh có ý nghĩa tích cực khi lợi nhuận từhoạt động tự doanh mang lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của công
ty chứng khoán
Đầu tư vào hoạt động tự doanh với lượng vốn lớn nhưng lợi nhuận từhoạt động tự doanh thấp thì cũng cần xem lại chất lượng hoạt động của bộphận này
* Tỷ suất danh mục khó thu hồi trên nguồn vốn
hoạt động tự doanh
Tỷ suất danh mục khó thu hồi/Nguồn vốn HĐTD = Giá vốn DMKTH x 100%
Nguồn vốn HĐTD
Trang 33Trong đó: DMKTH: Danh mục khó thu hồi.
Tỷ suất này phản ánh rõ nét về chất lượng hoạt động tự doanh của công
ty chứng khoán Tỷ suất này càng cao thì chứng tỏ chất lượng hoạt động tựdoanh của CTCK đó kém hiệu quả Rõ ràng các CTCK đều mong muốn hạthấp tỷ lệ này xuống càng thấp càng tốt, bởi lẽ tỷ lệ này cao chứng tỏ hoạtđộng tự doanh của CTCK càng gặp rủi ro Hoạt động tự doanh có khi sở hữudanh mục chứng khoán sau một thời gian rất khó thu hồi lại vốn đầu tư bởi cókhi doanh nghiệp tuyên bố phá sản hoặc chứng khoán thanh khoản yếu, thị giáchứng khoán xuống mức rất thấp
Công ty chứng khoán thường có danh mục cổ phiếu với danh mục rấtlớn Thị trường chứng khoán tính ổn định thấp sẽ có lúc thanh khoản thịtrường ở mức rất thấp, làm cho công ty chứng khoán không thể thu hồi vốnkhi phải bán một lượng cổ phiếu lớn của mình
Chỉ tiêu này tuy khái quát được tình hình nguồn vốn tự doanh chứngkhoán khó thu hồi nhưng cần phải kết hợp với các chỉ tiêu khác thì mới đánhgiá được đúng về chất lượng hoạt động tự doanh của CTCK
đó thì phương hướng hoạt động tự doanh phải được quy định về điều này.Lãnh đạo công ty phải xác định bình ổn thị trường là nhiệm vụ hoạt động tựdoanh phải tham gia, như vậy TTCK mới phát triển bền vững
Trang 34Thị trường chứng khoán là thị trường của niềm tin, nếu thị trường pháttriển thiếu ổn định, luôn bị thao túng giá nhằm trục lợi, hầu hết nhà đầu tưthua lỗ nặng khi mất niềm tin các nhà đầu tư sẽ rời bỏ thị trường.
Do tính đặc thù của thị trường chứng khoán, đặc biệt là các thị trườngchứng khoán mới nổi, bao gồm chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ thìtính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư không cao Điều này rất dễ dẫnđến những biến động bất thường trên thị trường Vì vậy, nhà đầu tư lớn,chuyên nghiệp rất cần thiết để làm tín hiệu hướng dẫn cho toàn bộ thịtrường Bên cạnh hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, công ty chứngkhoán có khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông quahoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong điều tiết cung cầu, bình ổn giá cảcủa các loại chứng khoán trên thị trường Thông thường chức năng bình ổngiá cả không phải là một quy định bắt buộc trong hệ thống pháp luật của cácnước, tuy nhiên đây thường là nguyên tắc nghề nghiệp do các hiệp hội chứngkhoán đặt ra trên thị trường và công ty chứng khoán phải tuân thủ theo quátrình hoạt động
Bên cạnh đó, công ty chứng khoán còn phải tuân thủ một số quy địnhkhác như các giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư Mục đích của các quyđịnh này là nhằm đảm bảo một độ an toàn nhất định cho các công ty chứngkhoán trong quá trình hoạt động, tránh những sự đổ vỡ gây thiệt hại cho cảthị trường
Hoạt động hàng ngày trên thị trường chứng khoán có những thời điểmthị trường suy giảm quá mức do tâm lý nhà đầu tư, những lúc đó tự doanh củacông ty chứng khoán không thể tiếp tục bán chứng khoán mà ngược lại tựdoanh chứng khoán phải mua lại, nhằm chặn đứng đợt suy thoái quá mức.Nguồn vốn tự doanh của công ty chứng khoán thường rất lớn, vì vậy tầm ảnhhưởng chi phối lên thị trường rất rõ ràng
Trang 35* Hoạt động tạo lập thị trường
Tự doanh chứng khoán thường mua chứng khoán của chính công ty mà
bộ phận tư vấn đang thực hiện hợp đồng Tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết,
tư vấn tăng vốn Đây là nguồn chứng khoán mà công ty chứng khoán có điềukiện để mua vào với số lượng lớn, thường mua bằng mệnh giá
Chất lượng hoạt động tự doanh còn được thể hiện qua hoạt động tạo lậpthị trường, sẵn sàng mua vào, bán ra ở giá hợp lý Nếu làm tốt điều này uy tíncủa công ty sẽ được tăng lên Khi đó bộ phận tự doanh của công ty đã tạo uytín cho bộ phận tư vấn đầu tư Khách hàng là các tổ chức có nhu cầu pháthành chứng khoán, niêm yết chứng khoán sẽ lựa chọn công ty chứng khoán
Sự đóng góp của hoạt động tự doanh chứng khoán ở trường hợp này là rất lớn
Khi được phát hành, chứng khoán mới chưa giao dịch ở mức rất thấp
Để tạo thị trường và giao dịch sôi động cho chứng khoán mới này các CTCKthực hiện việc tự doanh thông qua việc mua bán chứng khoán, tạo tính thanhkhoản trên thị trường OTC, thị trường thứ cấp Trên những TTCK phát triển,nhà tạo lập thị trường sử dụng nghiệp vụ mua và bán chứng khoán trên thịtrường OTC để tạo thị trường Theo đó, họ liên tục để mua hoặc bán chứngkhoán đối với nhà kinh doanh chứng khoán khác Như vậy họ sẽ duy trì mộtthị trường liên tục với chứng khoán mà họ kinh doanh
- Hệ thống chỉ tiêu liên quan đến lợi ích của khách hàng - nhà đầu tư
* Tách biệt quản lý
Chất lượng hoạt động tự doanh không chỉ thể hiện ở số liệu tính toán vềhiệu quả kinh tế mà còn thể hiện ở nhiều vấn đề khác nhau Chất lượng hoạtđộng tự doanh chứng khoán còn được thể hiện qua sự tách biệt giữa hoạt động
tự doanh và hoạt động môi giới, tách biệt giữa tài sản của khách hàng và tàisản của công ty
Trang 36Công ty chứng khoán phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh vànghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động Sựtách bạch bao gồm cả yếu tố con người và các quy trình nghiệp vụ.
Công ty chứng khoán phải có đội ngũ nhân viên riêng biệt để thực hiệnnghiệp vụ tự doanh Các nhân viên này phải hoàn toàn tách biệt với bộ phậnmôi giới Tại một số nước như Thái lan, công ty chứng khoán thực hiện hoạtđộng tự doanh còn phải tuân thủ nguyên tắc phân chia ranh giới một cách rõràng Nhân viên của bộ phận này không được phép trao đổi hay sang khu vựccủa bộ phận khác
Bên cạnh đó, công ty chứng khoán còn phải đảm bảo sự tách bạch về tài sản của khách hàng với các tài sản của chính công ty Sự tách bạch tài sảnkhách hàng và tài sản của công ty sẽ hạn chế được rủi ro trong kinh doanh.Nếu không có sự tách bạch thì nguồn tiền tự doanh của công ty chứng khoánrất có thể chính là tiền của các khách hàng đang gửi tại công ty Trường hợpxuất hiện rủi ro xấu, nguồn vốn hoạt động tự doanh khó thu hồi hoặc mất vốndẫn tới công ty không thể bù đắp lại khoản thâm hụt của khách hàng Nhưvậy, tài sản của công ty cần được quản lý riêng trên tài khoản, các nhà đầu tưcần được quản lý tài khoản riêng trên tài khoản nhà đầu tư mở tại ngân hàng
* Ưu tiên khách hàng
Trang 37Chất lượng của hoạt động tự doanh không chỉ được thể hiện đem lạihiệu quả kinh tế mà còn ưu tiên khách hàng Pháp luật của hầu hết các nướcđều yêu cầu công ty chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên cho kháchhàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch củakhách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty Nguyên tắc nàyđảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán.
Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trườngnên công ty chứng khoán có thể sẽ dự đoán trước được diễn biến của thịtrường và sẽ mua hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắctrên
Chất lượng hoạt động tự doanh chứng khoán phải gắn liền với chấtlượng hoạt động của môi giới chứng khoán Nếu tự doanh chứng khoán không
ưu tiên khách hàng, lệnh của khách hàng xử lý chậm ở nhiều trường hợp vàkéo dài thì khả năng khách hàng chuyển đi sang công ty chứng khoán khác làrất cao
Khi thị trường chứng khoán suy giảm, thu nhập từ hoạt động môi giớivẫn đem lại lợi nhuận thường xuyên trong khi đó rất khó để thu lợi nhuận từhoạt động tự doanh Vì vậy, không thể xem nhẹ sự đóng góp của khách hànggiao dịch tại công ty chứng khoán
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH
1.3.1 Nhân tố khách quan
1.3.1.1 Mức độ rủi ro
Trang 38Chất lượng hoạt động tự doanh chứng khoán bị ảnh hưởng từ nhân tốrủi ro Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được định nghĩa là khả năng xảy ranhiều kết quả ngoài dự kiến, hay nói cách khác, mức sinh lời thực tế nhậnđược trong tương lai có thể khác với dự tính ban đầu Độ chắc chắn ( hay độdao động ) của lợi suất đầu tư càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại Theocác lý thuyết trước đây người ta chỉ quan niệm rủi ro là những yếu tố làm chomức sinh lời giảm đi nhưng hiện nay, quan niệm đã thay đổi Người ta chorằng tất cả các yếu tố làm cho mức sinh lời thay đổi so với dự tính, dù làmtăng hay giảm, đều được gọi là rủi ro.
Các loại rủi ro
Chúng ta biết rằng sự dao động của thu nhập, dao động của giá chứngkhoán hay cổ tức là những yếu tố cấu thành rủi ro Một số rủi ro nằm ngoài sựkiểm soát của công ty phát hành ảnh hưởng đến nhiều công ty cùng một lúc.Một số rủi ro phát sinh từ nội tại của công ty và công ty có thể kiểm soát ởmức tương đối
Trong hoạt động tự doanh chứng khoán, những rủi ro do các yếu tố nằmngoài công ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thịtrường và tất cả mọi loại chứng khoán được gọi là rủi ro hệ thống Ngược lại,những rủi ro do các yếu tố nội tại gây ra, nó có thể kiểm soát được và chỉ tácđộng đến một ngành hay tới một công ty, một hoặc một số chứng khoán, gọi
là rủi ro không hệ thống
a Rủi ro thị trường
Trang 39Giá cả cổ phiếu có thể giao động mạnh trong một khoảng thời gianngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi Nguyên nhân của nó
có thể rất khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào các nhìn nhận của các nhàđầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm cổ phiếu nói riêng.Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu thườngchủ yếu là do sự đánh giá của các nhà đầu tư về chúng thay đổi về chúng gọi
là rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường xuất hiện do những phản ứng của các nhà đầu tư đốivới những sự kiện hữu hình hay vô hình Sự đánh giá rằng lợi nhuận của cáccông ty nói chung có xu huống sụt giảm có thể là nguyên nhân làm cho phầnlớn các loại cổ phiếu thường bị giảm giá Các nhà đầu tư thường phản ứngdựa trên cơ sở các sự kiện thực tế xảy ra, hữu hình như các sự kiện kinh tế,chính trị, xã hội
Các sự kiện vô hình là các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý của thịtrường Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu hình, nhưng
do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay phản ứng vượt quá
sự kiện đó Những sụt giảm đầu tiên của giá chứng khoán trên thị trường lànguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ rút vốn bằng cách bánchứng khoán Những phản ứng dây chuyền làm tăng vượt số lượng bán, giá cảchứng khoán sẽ rơi xuống thấp so với giá trị nội tại của chứng khoán
Rủi ro danh mục cổ phiếu được cấu thành từ rủi ro của từng cổ phiếutrong danh mục.Vì vậy, rủi ro thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới rủi ro củadanh mục hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán và ảnh hưởng tới chấtlượng hoạt động tự doanh chứng khoán
Chúng ta đã nói nhiều về tác động tiêu cực, tuy nhiên vẫn có thể cóhiện tượng mua vào rất nhiều khi có những sự kiện bất thường xảy ra, lúc đógiá cả chứng khoán sẽ tăng lên
Trang 40b Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và
số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãisuất chung
Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suấtchuẩn (có thể là lãi suất trái phiếu chính phủ), khi đó sẽ có sự thay đổi trongmức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán khác, đó là các loại cổ phiếu
và trái phiếu công ty Nói cách khác sự thay đổi về chi phí vay vốn đối với cácloại chứng khoán chính phủ sẽ dẫn tới sự thay đổi về chi phí vay vốn của cácloại chứng khoán công ty
Các nhà đầu tư thường coi tín phiếu kho bạc là không rủi ro Các loạitrái phiếu Chính phủ kỳ hạn dài thì không có rủi ro thanh toán ( nhưng vẫn córủi ro về giá cả) Các mức lãi suất trái phiếu chính phủ các kỳ hạn khác nhauđược dùng làm chuẩn để xác định lãi suất trái phiếu công ty có thời gian đáohạn tương tự Do vậy, những thay đổi trong lãi suất trái phiếu chính phủ sẽlàm ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến cácloại cổ phiếu rủi ro nhất
Như vậy, ta thấy có sự ảnh hưởng của việc thay đổi lãi suất do các loạicông cụ có liên hệ với nhau Sự tăng lên của lãi suất chuẩn sẽ làm ảnh hưởngtới toàn bộ hệ thống Hệ quả trực tiếp của việc tăng lãi suất chuẩn là giá cácloại chứng khoán khác giảm xuống Tương tự, lãi suất chuẩn giảm lại làm chogiá các loại chứng khoán khác tăng lên ảnh hưởng tới chất lượng của hoạtđộng tự doanh chứng khoán
c Rủi ro không hệ thống