Trong đó, chính sách tỷ giá và chínhsách lãi suất được đặt lên trọng tâm hàng đầu không chỉ vì bởi mối quan hệkhăng khít giữa tỷ giá, lãi suất và lạm phát, mà còn do hai chính sách này đ
Trang 1Thứ nhất là do: Chính sách tài khoá không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của căn bệnh lạm phát ở nước ta Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính phủ đã có những kế hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước và liên tục bội chi ngân sách trong nhiều năm trên 5% GDP (năm 2007 bội chi khoảng trên 56.000 tỷ đồng) Đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều cần thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, gây lãng phí lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh tế nước Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội ở Việt Nam trong vài năm gần đây bình quân hàng năm trên 40% GDP và hệ số ICOR là 4,7 (có nghĩa là nước ta hiện cần 4,7 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng), hệ số này là rất cao so với các nước khác trong khu vực Tổng cầu tăng, nhưng tổng cung tăng hạn chế nên giá phải tăng 68 Thứ ba là do: Tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao, năm 2006 là 29.7%, năm
2007 tăng dư nợ cao nhất trong nhiều năm qua 43.7%, một số NHTM tăng trên 70% Các NHTM trong thời gian qua đã cung cấp được một lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
để phát triển sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế Điều đáng lưu ý là một trong những nguyên nhân dư nợ tín dụng tăng cao trong năm 2007 là do các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ lên nhanh tăng 56% (tăng 33.737 tỷ đồng), cuối năm 2006 tổng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là 60.419 tỷ đồng, cuối năm 2007 là 94.156 tỷ đồng, thành lập mới nhiều ngân hàng, làm tăng khả năng cho vay và áp lực trả lãi cổ đông, áp lực tăng giá cổ phiếu trên thị trường do năm 2006 giá cổ phiếu đã tăng chóng mặt Điều này đã khiến cho một lượng tiền khá lớn được đổ vào nền kinh tế khiến cho giá cả một số mặt hàng tăng lên 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 2NHNN : Ngân hàng Nhà nước
Trang 3Thứ nhất là do: Chính sách tài khoá không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của căn bệnh lạm phát ở nước ta Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính phủ đã có những kế hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước và liên tục bội chi ngân sách trong nhiều năm trên 5% GDP (năm 2007 bội chi khoảng trên 56.000 tỷ đồng) Đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều cần thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, gây lãng phí lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh tế nước Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội ở Việt Nam trong vài năm gần đây bình quân hàng năm trên 40% GDP và hệ số ICOR là 4,7 (có nghĩa là nước ta hiện cần 4,7 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng), hệ số này là rất cao so với các nước khác trong khu vực Tổng cầu tăng, nhưng tổng cung tăng hạn chế nên giá phải tăng 68 Thứ ba là do: Tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao, năm 2006 là 29.7%, năm
2007 tăng dư nợ cao nhất trong nhiều năm qua 43.7%, một số NHTM tăng trên 70% Các NHTM trong thời gian qua đã cung cấp được một lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
để phát triển sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế Điều đáng lưu ý là một trong những nguyên nhân dư nợ tín dụng tăng cao trong năm 2007 là do các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ lên nhanh tăng 56% (tăng 33.737 tỷ đồng), cuối năm 2006 tổng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là 60.419 tỷ đồng, cuối năm 2007 là 94.156 tỷ đồng, thành lập mới nhiều ngân hàng, làm tăng khả năng cho vay và áp lực trả lãi cổ đông, áp lực tăng giá cổ phiếu trên thị trường do năm 2006 giá cổ phiếu đã tăng chóng mặt Điều này đã khiến cho một lượng tiền khá lớn được đổ vào nền kinh tế khiến cho giá cả một số mặt hàng tăng lên 70 Thứ nhất là do: Chính sách tài khoá không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của căn bệnh lạm phát ở nước ta Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính phủ đã có những kế hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước và liên tục bội chi ngân sách trong nhiều năm trên 5% GDP (năm 2007 bội chi khoảng trên 56.000 tỷ đồng) Đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều cần thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, gây lãng phí lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh tế nước Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội ở Việt Nam trong vài năm gần đây bình quân hàng năm trên 40% GDP và hệ số ICOR là 4,7 (có nghĩa là nước ta hiện cần 4,7 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng), hệ số này là rất cao so với các nước khác trong khu vực Tổng cầu tăng, nhưng tổng cung tăng hạn chế nên giá phải tăng 68 Thứ ba là do: Tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao, năm 2006 là 29.7%, năm
2007 tăng dư nợ cao nhất trong nhiều năm qua 43.7%, một số NHTM tăng trên 70% Các NHTM trong thời gian qua đã cung cấp được một lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
để phát triển sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế Điều đáng lưu ý là một trong những nguyên nhân dư nợ tín dụng tăng cao trong năm 2007 là do các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ lên nhanh tăng 56% (tăng 33.737 tỷ đồng), cuối năm 2006 tổng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là 60.419 tỷ đồng, cuối năm 2007 là 94.156 tỷ đồng, thành lập mới nhiều ngân hàng, làm tăng khả năng cho vay và áp lực trả lãi cổ đông, áp lực tăng giá cổ phiếu trên thị trường do năm 2006 giá cổ phiếu đã tăng chóng mặt Điều này đã khiến cho một lượng tiền khá lớn được đổ vào nền kinh tế khiến cho giá cả một số mặt hàng tăng lên 70
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thếgiới (WTO) năm 2007, nền kinh tế Việt Nam nhìn chung đã được đón nhậnnhiều cơ hội thông qua việc mở rộng quan hệ thương mại với nhiều nước trênthế giới, nhưng cũng phải đối mặt với không ít thách thức và khó khăn Việc
mở cửa nền kinh tế làm cho những tác động của nền kinh tế thế giới đến kinh
tế nước ta là rất rõ ràng Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, khủng hoảnglương thực, khủng hoảng giá nguyên nhiên vật liệu đều ảnh hưởng xấu tới nềnkinh tế trong nước Điều mà ta thấy rõ nhất đó là mới chỉ trong hơn 4 năm gianhập WTO, mà nền kinh tế nước ta đã phải trải qua hai đợt lạm phát khá nặng
nề Trong đó được lạm phát thứ hai từ cuối năm 2010 đến nay vẫn tiếp tụcdiễn biến căng thẳng gây khó khăn tới mọi phương diện của nền kinh tế
Đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát lên hàng đầu, Ngân hàng nhà nước(NHNN) đã liên tục thắt chặt chính sách tiền tệ (CSTT) trong thời gian quanhằm kìm hãm sự gia tăng của lạm phát Trong đó, chính sách tỷ giá và chínhsách lãi suất được đặt lên trọng tâm hàng đầu không chỉ vì bởi mối quan hệkhăng khít giữa tỷ giá, lãi suất và lạm phát, mà còn do hai chính sách này đềutác động lên mọi mặt của nền kinh tế Việc giảm mạnh tỷ giá, tức tăng giáđồng nội tệ có thể có tác động tích cực tới lạm phát trong ngắn hạn nhưng lạilàm cho nhập siêu tăng nhanh, cũng như gây khó khăn cho các doanh nghiệpsản xuất trong nước do không cạnh tranh được về giá trên thị trường quốc tếlẫn nội địa Điều này dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, suy thoáinền kinh tế sản xuất trong nước gây áp lực lạm phát tới tương lai Lãi suấtcũng vậy, một mức lãi suất cao có thể kìm hãm lạm phát trong ngắn hạn, thếnhưng trong tương lai giá cả hàng hóa lại tăng lên do chi phí vốn vay đầu vàocủa các doanh nghiệp tăng lên lại gây áp lực lên lạm phát
Trang 5Mục đích cuối cùng của chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất đó là ổn địnhkinh tế vĩ mô, đưa lạm phát về mức vừa phải và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Do đó, việc điều hành hai chính sách này trong bối cảnh nền kinh tế bất ổn làhết sức khó khăn Không những vậy, tỷ giá và lãi suất trên thị trường còn chịutác động xấu từ lạm phát, đẩy chúng vào vòng luẩn quẩn gây ảnh hưởng xấutới nền kinh tế Mong muốn tìm ra giải pháp cho việc điều hành chính sách tỷgiá và chính sách lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát không chỉ trong ngắn hạn
mà còn có hiệu quả lâu dài đưa nền kinh tế nước ta tăng trưởng bền vững đó
là mục đích của em khi chọn đề tài: “Phối hợp chính sách tỷ giá và chính
sách lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát ”.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc điều hành chính sách tỷgiá và chính sách lãi suất để nâng cao hiệu quả của chúng đối với việc tácđộng lên thị trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất của Ngân hàng nhànước Việt Nam với mục tiêu kiềm chế lạm phát
- Phạm vi nghiên cứu: tình hình lạm phát và việc điều hành chính sách tỷgiá, chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2007 đếnnay
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài bao gồm:phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp thống kê chọn mẫu, phươngpháp so sánh tổng hợp kết hợp với các suy luận khoa học nhằm đóng gópnhững hiểu biết của mình cho việc hoàn thiện chính sách tỷ giá và chính sáchlãi suất ở nước ta
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được kết cấu gồm 3chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất
và sự phối hợp giữa chúng trong việc kiềm chế lạm phát
Chương 2: Những tác động của chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất
tới lạm phát ở Việt Nam từ năm 2007 đến nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất
đảm bảo kiểm soát lạm phát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ, CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ SỰ PHỐI HỢP GIỮA CHÚNG TRONG VIỆC
KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
1.1 Chính sách tỷ giá
1.1.1 Tỷ giá hối đoái
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại tỷ giá
a, Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm các quốc gia liên kết đều cónhững đồng tiền riêng của mình Mỹ có Đôla (USD), Nhật Bản có Yên(JPY), Việt Nam có tiền đồng (VND), Liên minh Châu Âu có đồng tiềnchung Euro (EUR),…Do những mối quan hệ kinh tế giữa các nước, cácnhóm nước với nhau mà trước hết là quan hệ mua bán trao đổi, đầu tư dẫnđến việc cần có sự trao đổi đồng tiền giữa các nước với nhau, đồng tiềnnước này đổi lấy đồng tiền nước kia, đó chính là thị trường ngoại hối
Thông thường tỷ giá hối đoái được hiểu là số lượng đơn vị nội tệ cầnthiết để mua một đơn vị ngoại tệ, tuy nhiên ở Mỹ và Anh lại sử dụng theocách ngược lại Để có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ về tỷ giá ta phải xemxét nó trên nhiều khía cạnh khác nhau
Xét trong phạm vi thị trường của một nước, các phương tiện thanh toánquốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia củamột nước theo một tỷ giá nhất định Do đó có thể hiểu tỷ giá là giá cả của mộtđơn vị tiền tệ một nước được biểu hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nướckhác hay là bằng số lượng ngoại tệ nhận được khi đổi một đơn vị nội tệ hoặcbằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ Các nước có giátrị đồng nội tệ thấp hơn giá trị ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai Chẳnghạn ở Việt Nam người ta thường nói đến số lượng đồng Việt Nam nhận đượckhi đổi một đồng USD, GBP hay một EUR Mặc dù trong thực tế người ta
Trang 8thường sử dụng theo cách thứ hai nhưng trong nghiên cứu lý thuyết vẫnthường định nghĩa tỷ giá theo cách thứ nhất.
Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác, đó là quan hệ sosánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau Một đồng tiền hay một lượngđồng tiền nào đó đổi được bao nhiêu đồng tiền khác được gọi là tỷ lệ giá cảtrao đổi giữa các đồng tiền với nhau hay gọi tắt là tỷ giá hối đoái hay ngắngọn là tỷ giá Như vậy, trên bình diện quốc tế, có thể hiểu một cách tổng quátthì tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so với nhau
Các khái niệm trên đều phản ánh một số khía cạnh khác nhau của tỷ giá
hối đoái, nhưng tổng quát chung có thể định nghĩa: “ Tỷ giá hối đoái là giá
cả của đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.”
Ví dụ: 1USD = 21.350VND, 1EUR = 1,4103USD, 1GBP =1,6022USD
b, Phân loại tỷ giá hối đoái
Có nhiều loại tỷ giá hối đoái khác nhau, tuy nhiên ta có thể phân chiatheo một số tiêu thức như sau:
•Căn cứ vào thời điểm thanh toán:
Thông thường ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của các hợp đồng
đã ký kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng ký kết cuốicùng trong ngày hôm đó, người ta gọi là tỷ giá đóng cửa Tỷ giá đóng cửađược coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động cửa tỷ giá trong ngày hôm
đó Hầu hết các nhà đầu tư cổ phiếu thường chỉ chú ý đến các mức cao nhất,thấp nhất và mức đóng cửa trong những ngày trước đó Tuy nhiên nhữngngười giao dịch hợp đồng tương lai, đặc biệt là những nhà đầu tư nội nhậthoặc đầu tư ngắn hạn lại sống bằng tỷ giá mở cửa Tỷ giá mở cửa là tỷ giá vàođầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của hợp đồng giao dịch đầutiên trong ngày
Trang 9Ngoài ra trong hoạt động kinh doanh ngoại hối người ta còn áp dụng tỷgiá giao nhận ngay và tỷ giá giao nhận có kỳ hạn Tỷ giá giao nhận ngay là tỷgiá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện trong ngàyhôm đó hoặc một vài ngày sau Loại tỷ giá này do các ngân hàng yết giá tạithời điểm giao dịch hoặc do 2 bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biên
độ do ngân hàng nhà nước quy định Việc thanh toán giữa các bên phải đượcthực hiện trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán Tỷgiá giao nhận có kỳ hạn là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ
sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng
•Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối
Tỷ giá hối đoái có thể được quy định bởi thị trường trong chế độ tỷ giáhối đoái thả nổi, và được gọi là tỷ giá thị trường Tỷ giá hối đoái cũng có thểđược quy định bởi các cơ quan hữu trách trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định
Ở nhiều nước, cả thị trường lẫn cơ quan hữu trách cùng tham gia quy định tỷgiá hối đoái Tỷ giá hối đoái khi đổi tại NHTM và quầy giao dịch ngoại hốiphục vụ khách hàng lẻ thường chênh lệch so với tỷ giá công bố có thể vì mộttrong hai lý do sau: thứ nhất là tỷ giá đã được tính gộp cả phí dịch vụ; thứ hai
là có hai tỷ giá đồng thời, một tỷ giá hối đoái chính thức (có thể do cơ quanhữu trách qui định, hoặc do cả thị trường lẫn cơ quan hữu trách quy đinh) vàmột tỷ giá không chính thức (còn gọi là tỷ giá hối đoái song song hay tỷ giáchợ đen) do thị trường quyết định
Ở Việt Nam, ngay cả tỷ giá hối đoái chính thức cũng có vài loại: tỷ giábình quân liên ngân hàng, tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá giao dịch củangân hàng thương mại, và tỷ giá hạch toán Tỷ giá mua vào và bán ra ngoại tệniêm yết tại một số ngân hàng để phục vụ khách đổi tiền là tỷ giá giao dịchcủa ngân hàng thương mại có tính thêm phí dịch vụ Còn tỷ giá đổi tiền tạicác cửa hàng kinh doanh vàng bạc ngoại tệ của tư nhân hay khi đổi tiền trongnhân dân chính là tỷ giá hối đoái song song
•Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá
Trang 10Căn cứ vào tiêu thức này tỷ giá được chia thành tỷ giá danh nghĩa và tỷgiá thực Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá không xét đến tương quan giá cảhoặc tỷ lệ lạm phát giữa hai quốc gia Trái lại, tỷ giá hối đoái thực tế là tỷ giá
có tính đến tương quan giá cả hoặc tỷ lệ lạm phát giữa hai quốc gia do đóphản ánh đúng sức mua và sức cạnh tranh của một quốc gia Một trong nhữngyếu tố quan trọng nhất của tỷ giá hối đoái thực là vị trí cạnh tranh quốc tế củamột nước Tỷ giá hối đoái thực biến động với sự mất giá đồng nội tệ phản ánhchi phí sản xuất hàng hóa nội địa của nước đó tăng lên Nếu chi phí sản xuấtcủa các quốc gia khác không thay đổi, nước đó sẽ mất lợi thế cạnh tranh quốc
tế
Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện như sau:
Tỷ giá hối đoái thực tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa *
= Tỷ giá hối đoái danh nghĩa *
•Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được chia thành 2 loại
- Tỷ giá điện hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có tráchnhiệm chuyển ngoại hối bằng điện (telegraphic transfer -T/T)
- Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có tráchnhiệm chuyển ngoại hối bằng thư (mail transfer M/T)
1.1.1.2 Tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế
Tỷ giá hối đoái giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tếmột quốc gia cũng như các mối quan hệ quốc tế thông qua việc phản ánhtương quan giá trị đồng tiền của các nước khác nhau Vì đồng tiền chi phốihầu hết các hoạt động kinh tế, nên giá cả của một đồng tiền sẽ tác động đến
Trang 11nhiều mặt khác nhau của đời sống kinh tế xã hội trên phạm vi rất rộng Nó cóthể làm tăng, giảm, mở rộng hay thu hẹp các hoạt động kinh tế đối ngoại màtrước hết là hoạt động xuất nhập hàng hóa dịch vụ Qua đó trực tiếp ảnhhưởng đến các hoạt động kinh tế nội địa như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tínhcân bằng của cán cân thanh toán quốc tế, chỉ số lạm phát, tình hình nợ củaquốc gia
a, Tác động của tỷ giá tới cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thốngghi chép lại giá trị các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cưtrú trong 1 thời kì nhất định, thường là một năm Cán cân thanh toán tổng thểbao gồm: cán cân vãng lai và cán cân vốn
Đối với cán cân vốn: Yếu tố tỷ giá hầu như không ảnh hưởng lên cán cânvốn, nghĩa là khi tỷ giá thay đổi thì cán cân vốn hầu như không thay đổi.Nhân tố chủ yếu tác động lên cán cân vốn là lãi suất Khi mức lãi suất nội tệthay đổi sẽ kích thích làm cho các luồng vốn chạy vào hay chạy ra khỏi quốcgia, làm cho cán cân vốn thay đổi
Còn đối với cán cân vãng lai thi tỷ giá tác động trực tiếp lên cán cânthương mại và cán cân dịch vụ Thông thường tỷ giá hối đoái tăng, có nghĩa là
số đơn vị tiền tệ trong nước đổi lấy một đơn vị ngoại tệ tăng, thì sẽ có lợi choxuất khẩu và hạn chế việc nhập khẩu Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm, tức
là đồng nội tệ lên giá so với đồng ngoại tệ, thì việc xuất khẩu sẽ gặp khó khăntrong khi các hàng hóa nhập khẩu có xu hướng tăng lên Điều này sẽ tác độngxấu tới cán cân thương mại và thông qua đó ảnh hưởng không tốt cho nềnkinh tế Do đó, chính phủ một vài nước đã sử dụng biện pháp phá giá tiền tệ
để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh một cách nhanh chóng và hiệu quảhơn so với cơ chế để nền kinh tế tự điều chỉnh theo hướng suy thoái (vì khảnăng cạnh tranh kém nên cầu xuất khẩu ròng giảm dẫn đến tổng cầu giảm) đikèm với mức lạm phát thấp kéo dài cho đến khi năng lực cạnh tranh tăng lên(do tiền lương, giá cả giảm xuống đến mức có khả năng cạnh tranh)
Trang 12Tuy nhiên việc phá giá tiền tệ này có thật sự tác động tốt tới cán cânvãng lai nói riêng cũng như kinh tế trong nước nói chung Chúng ta sẽ nghiêncứu vấn đề này theo phương pháp tiếp cận hệ số co giãn - Điều kiện Marshall– Lerner để phân tích.
Cán cân thương mại tính bằng nội tệ:
TB = P.Q X - E.P*.Q M
Trong đó:
P : giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng nội tệ
QX : khối lượng xuất khẩu
E : tỷ giá
P* : giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
QM : khối lượng nhập khẩu
-Gọi giá trị xuất khẩu: X = P.QX , giá trị nhập khẩu: M = P.QM
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng: nếu trạng thái ban đầu
CCTM cân bằng, khi phá giá nội tệ làm cho:
- Cải thiện CCTM: để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới
cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá cả của
xuất khẩu và độ co dãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1 (n x +n m )>1
Trang 13Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các
độ co dãn theo giá Nếu hàng xuất khẩu co dãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượngcầu về hàng hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽtăng Tương tự, nếu hàng nhập khẩu co dãn theo giá, thì chi cho nhập khẩuhàng hóa sẽ giảm Cả hai điều này đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán.Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hàng hóa thường không co dãn theogiá cả trong ngắn hạn, bởi vì thói quen tiêu dùng của người ta không thể thayđổi dễ dàng Do đó, điều kiện Marshall-Lerner không được đáp ứng, dẫn tớiviệc phá giá tiền tệ chỉ làm cho cán cân thanh toán trong ngắn hạn xấu đi.Trong dài hạn, khi người tiêu dùng đã điều chỉnh thói quen tiêu dùng củamình theo giá mới, cán cân thanh toán mới được cải thiện
- Thâm hụt CCTM khi : nx+nm<1
- CCTM không thay đổi khi : nx+nm=1
b, Tác động của tỷ giá tới lạm phát và mục tiêu ổn định giá cả
Một trong những mục đích quan trọng mà chính sách tiền tệ muốn đạt tới
là kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế Tỷ giá hối đoái là một phần trongchính sách tiền tệ mà NHTW muốn sử dụng để thực hiện điều này, do tỷ giá làthành tố dẫn xuất trong quá trình hình thành lạm phát tại một quốc gia
Với các yếu tố khác không đổi, khi tỷ giá tăng hay đồng nội tệ bị mất giá
so với ngoại tệ, sẽ tạo sức ép lên lạm phát Tỷ giá tăng làm cho giá hàng hóanhập khẩu tính bằng nội tệ tăng, bao gồm hàng hóa tiêu dùng cá nhân lẫnhàng hóa trung gian phục vụ cho sản xuất, và mặt bằng giá chung của nềnkinh tế tăng theo cuối cùng gây ra lạm phát Ngược lại, khi tỷ giá giảm, giáhàng hóa nhập khẩu giảm, góp phần làm cho mặt bằng giá trong nước giảmxuống, và giảm áp lực cho lạm phát Mối quan hệ này được thể hiện qua côngthức sau:
Trong đó: α – là tỷ trọng hàng hóa sản xuất trong nước
Trang 14(1- α ) – tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu.
P - mức giá cả hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ
P*- mức giá cả hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
E – tỷ giá (số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ)
P1 – mức giá cả hàng hóa chung của nền kinh tế
Giữ ổn định tỷ giá có thể giúp tăng cường lòng tin vào đồng nội tệ, buộcchính phủ phải kiểm soát thâm hụt ngân sách và tốc độ tăng trưởng tín dụng,thông qua đó tăng cường mức độ tin cậy vào chính sách của chính phủ, lạmphát cũng sẽ dần được giảm đi và ổn định
c, Tác động của tỷ giá tới tình hình nợ nước ngoài
Bất kỳ doanh nghiệp nào vay vốn bằng USD để nhập khẩu, hoặc để trả
nợ đều phải chịu 2 ảnh hưởng: Thứ nhất là lãi suất đang tăng, lãi suất USDđang lên rất cao, thứ hai là tỷ giá có thể gia tăng Áp lực tỷ giá tăng, đồngnghĩa với doanh nghiệp phải trả các chi phí nợ tăng lên do tiếp tục phải bỏtiền ra mua USD với giá cao Tỷ giá tăng, lãi suất cho vay cao, cộng thêm làgiá đầu vào cho sản xuất như điện, xăng, than… tăng sẽ làm cho chi phí đầuvào của doanh nghiệp rất lớn, điều này dẫn đến giá bán hàng hóa tăng, hànghóa sẽ khó bán, lợi nhuận giảm
Tỷ giá còn tác động tới việc vay nợ của Chính phủ Thiếu vốn thì phảivay, nhưng không phải ai cho vay với điều kiện nào cũng chấp nhận cả Phảithấy rằng, nếu tỷ giá hối đoái tăng, thì khoản trả nợ của Ngân sách Nhà nướccủa doanh nghiệp sẽ phải tăng, nhưng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ lại có lợi
Đó là một bài toán khó, phải tính xem lợi ích do xuất khẩu mang lại cho pháttriển kinh tế có bù lại được thiệt hại của số tiền Ngân sách Nhà nước và doanhnghiệp phải trả nợ cao hơn không?
Vì lẽ đó, chúng ta phải tỉnh táo đàm phán với các chủ nợ khi vay, khôngthể chấp nhận bất cứ điều kiện nào và không thể không nghĩ đến việc trả giá,đặc biệt phải chú trọng đến các vấn đề chính trị của các khoản vay Phải thấyđược rằng các chủ nợ cho vay là để lấy lãi chứ không phải làm việc nghĩa
Trang 15Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để giải quyết hài hoà giữa lợi ích của bên cho vay
và bên vay Việc quản lý nợ không chỉ quy định trách nhiệm mà còn phải luônchú ý tới hiệu quả sử dụng khoản vay Vì vậy quản lý đầu tư sử dụng cáckhoản vay cho các công trình, mục tiêu là một việc có tầm quan trọng đặcbiệt Các cơ quan tài chính và ngân hàng phải đặc biệt chú ý tới vấn đề này
1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái
Dưới con mắt các nhà kinh tế học, tỷ giá hối đoái luôn vận động theonhững biến động vĩ mô của nền kinh tế, nó cũng được xem xét và đánh giádựa trên hai nền tảng chính trong bất kì mối quan hệ kinh tế nào đó là cung vàcầu Sự thay đổi về cung, cầu ngoại tệ tác động lên tỷ giá làm cho tỷ giá thayđổi tương ứng, quá trình điều chỉnh tỷ giá luôn được dẫn dắt bởi các yếu tốtác động lên cung cầu ngoại tệ như lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán, tìnhtrạng nợ công hay sự ổn định chính trị lẫn môi trường kinh doanh
a, Lạm phát
Lạm phát được xem là sự biểu thị của mức tăng giá chung và lịch sử rađời lạm phát gắn liền với sự xuất hiện của kinh tế thị trường Lạm phátthường bị coi là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế, nếu lạm phát ở mức vừaphải tức chỉ số giá tiêu dùng CPI nằm trong khoảng 1,01-1,06 (lạm phátkhoảng từ 1% đến 6%) thì nền kinh tế được xem là vận động có hiệu quả.Lạm phát vừa phải và ổn định sẽ kích thích cầu đầu tư, tiêu dùng, nhờ đó thúcđẩy sản xuất, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, tỷ giá có xuhướng giảm giá nhẹ Trong trường hợp lạm phát cao hoặc siêu lạm phát, đồngtiền sẽ mất giá mạnh, một sự gia tăng lạm phát lớn hơn mức tăng tỷ giá có thể
sẽ dẫn đến một sự “phá giá”, bóp méo cơ chế truyền dẫn vốn có giữa lạm phát
và tỷ giá, sự vận động của lạm phát sẽ trở nên độc lập với tỷ giá hối đoái vàrất khó kiểm soát
Trên cơ sở lý thuyết, mối quan hệ giữa tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá hốiđoái thực tế có dạng:
e: tỷ giá danh nghĩa ε: tỷ giá thực
P * /P: tỷ số mức giá nước ngoài và trong nước
Trang 16
Phương trình tỷ giá hối đoái có thể viết thành:
Phần trăm thay đổi của P và P* tương ứng là tỷ lệ lạm phát trong vàngoài nước Trong trường hợp lạm phát xảy ra đồng thời ở cả hai nước, đồngtiền của một nước sẽ giảm giá nếu tỷ lệ lạm phát của nước này cao hơn so vớicác nước khác và tỷ lệ giảm giá tương đương với phần chênh lệch tỷ lệ lạmphát giữa hai nước
b, Lãi suất
Lãi suất được xem là công cụ của NHTW trong việc điều chỉnh tỷ giá,một sự gia tăng lãi suất nội tệ thường được sử dụng như một bảo bối kinhđiển để bảo vệ tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn Năm 1989, Chính phủ ViệtNam đã có những nhận thức cơ bản trong chính sách lãi suất, lần đầu tiên đãphân biệt được lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa (lãi suất thực tế = lãi suấtdanh nghĩa – tỷ lệ lạm phát), lãi suất tiền gửi nội tệ đã được nâng rất cao vàotháng 3 năm 1989 (12%/tháng) và đã thu hút được một lượng tiền mặt lớn vàongân hàng, sự sụt giá tiền đồng Việt Nam được chặn đứng cho đến tận đầunăm 1990. Còn đối với lãi suất ngoại tệ, một khi lãi suất ngắn hạn ở một nướccao hơn mức lãi suất quốc tế, vốn ngắn hạn sẽ chảy vào với mục đích thu lãidựa trên những khoản chênh lệch đó và kết quả là cung ngoại hối tăng lên,cầu ngoại hối giảm xuống kéo theo tỷ giá giảm
Mối quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất cũng đã được nhiều nhà kinh tế họcquan tâm Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào
có lãi suất thấp hơn thì nhất định sẽ bù kỳ hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối vớiđồng tiền của một quốc gia nọ có lãi suất cao hơn hay nói đơn giản hơn là sự
Trang 17cân bằng thị trường hối đoái đòi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, lợi tức của hailoại tiền gửi bất kỳ là tương đương nhau khi cùng quy về một đồng tiền Vàkhi tất cả các lãi suất dự kiến bằng nhau tức có sự xuất hiện ngang giá lãi suấtthì thị trường hối đoái sẽ cân bằng do không thể có dư cung hoặc dư cầu Tuynhiên lý thuyết ngang giá lãi suất này lại được xây dựng dựa trên nguyên tắc
cố định các nhân tố khác nên độ chính xác chỉ có tính tương đối, tỷ giá hốiđoái tương lai phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chứ không chỉ có riêng lãi suất,song xét cho cùng đây cũng là lý thuyết đầu tiên mô phỏng khái quát ảnh hưởngcủa lãi suất lên tỷ giá và cũng đã gặt hái được nhiều thành công nhất định
Mặt khác, bên cạnh việc nâng hoặc giảm lãi suất danh nghĩa, NHTW còn
có thể tác động vào lãi suất chiết khấu, điều chỉnh mức độ tăng giảm cungtiền, gián tiếp ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Cung tiền giảm đồng nghĩa với
tỷ giá hối đoái tăng, cung tiền tăng đi đôi với tỷ giá hối đoái giảm…
c, Cán cân thương mại
Sự di chuyển các luồng ngoại tệ ra, vào một đất nước thông qua quátrình xuất nhập khẩu này là nhân tố cơ bản và tiên quyết dẫn đến biến độngtăng giảm của tỷ giá hối đoái Nếu CCTM thâm hụt, đồng nghĩa với việc nhậpkhẩu nhiều hơn xuất khẩu, cung nội tệ để nhập hàng sẽ tăng lên vượt quá cầunội tệ, phá vỡ mức cân bằng ngắn hạn, nếu các biến số vĩ mô khác là khôngđổi, thì đồng nội tệ sẽ bị đặt trước sức ép giảm giá, ngược lại nếu xuất khẩunhiều hơn nhập khẩu tức cán cân thương mại thặng dư thì đồng nội tệ sẽ đứngtrước sức ép tăng giá, nếu trong cơ chế thả nổi tỷ giá, hiệu ứng này sẽ xảy ra,tức thì, đồng nội tệ tăng giá kéo theo nhập khẩu tăng…Chúng ta có thể kháiquát tác động của CCTM lên tỷ giá là như sau :
(Tỷ giá tăng)
Sức ép tăng tỷ giá nội tệ
Thặng dư cán cân thương mại
(+)
Thâm hụt cán cân thương mại (-)
Trang 18
(Tỷ giá giảm)
Hình 1.1 : Tác động của cán cân thương mại lên tỷ giá
Mối quan hệ giữa giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia cótác động trực tiếp đến tỷ giá hối đoái của quốc gia đó, các yếu tố tác động làmtăng xuất khẩu hay nhập khẩu đồng thời tác động lên tỷ giá hối đoái Nếu mộtnước có thặng dư thương mại, xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, cung ngoại tệlớn hơn cầu ngoại tệ, làm cho đồng nội tệ lên giá Khi thâm hụt thương mại sẽlàm cho đồng nội tệ giảm giá
Bên cạnh yếu tố kim ngạch xuất nhập khẩu, các yếu tố tác động lên cầuxuất nhập khẩu cũng được xem là gián tiếp gây ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
ví dụ như mức giá cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích người tiêu dùngtrong việc sử dụng hàng nội và hàng ngoại…Những năm 1970, nhu cầu nhậpkhẩu hàng hóa từ Nhật của những người dân Mỹ tăng mạnh, CCTM Nhật Bảnthặng dư, chính quyền Nhật Bản đã buộc phải tăng tỷ giá đồng Yên so với đô
la Mỹ lên 5% trong vòng 2 năm từ 1976 đến 1978 Từ đó có thể kết luậnnhững thay đổi về cầu xuất nhập khẩu nếu làm cho CCTM thặng dư thì nước
đó sẽ có điều kiện tăng dự trữ ngoại tệ đồng nội tệ cũng sẽ tăng giá
d, Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ tác động lên nền kinh tế thông qua lãi suất và cungcầu tiền tệ (cung cầu tiền ở đây được hiểu là lượng tiền trong nội bộ nền kinhtế) Các biện pháp thường xuyên được sử dụng đó là chính sách tiền tệ thắtchặt và chính sách tiền tệ lỏng
Xét trong phạm vi nội bộ quốc gia, chính sách tiền tệ chặt đó là việcChính phủ tiến hành tăng lãi suất, giảm cung tiền Với khái niệm cung tiền làtổng số tiền có khả năng thanh khoản thì một sự thay đổi trong cung tiền sẽdẫn đến sự thay đổi trong lãi suất, từ đó tác động đến mức giá đồng nội tệ
Sức ép giảm tỷ giá nội tệ
Trang 19(Hình 1) Chính phủ có thể tiến hành giảm cung tiền bằng cách phát hành tráiphiếu, giảm lượng tiền mặt lưu thông, đường cung tiền dịch sang trái (M đếnM*), nâng mức lãi suất lên mức i* Ở mức lãi suất cao hơn này đối với mộtnền kinh tế nhạy cảm với chi tiêu thì có thể làm tăng tỷ giá hối đoái đồng bản tệ
Hình 1.2: Sự vận động lãi suất trong tương quan với cung tiền
Đối với chính sách tiền tệ lỏng, hiệu ứng sẽ ngược lại, một sự tăng cungtiền sẽ làm lãi suất giảm xuống, khiến tỷ giá đồng bản tệ giảm trong ngắn hạn.Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, có thể nói chính sách tiền
tệ các quốc gia có đồng tiền mạnh, có tỷ trọng thương mại quốc tế lớn sẽ gâyảnh hưởng không nhỏ đến việc hoạch định chính sách tiền tệ quốc gia khác, từ
đó gián tiếp ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Giao lưu thương mại quốc tế càngđược mở rộng, vấn đề tỷ giá sẽ càng được quan tâm, việc hoạch định mộtchính sách tiền tệ sao cho tạo được một mức tỷ giá có lợi cho tổng thể nềnkinh tế do vậy phải được xây dựng dựa trên những biến động trong tiền tệcũng như quản lý tiền tệ của các quốc gia khác
1.1.2 Chính sách tỷ giá
1.1.2.1 Khái niệm chính sách tỷ giá
Ngày nay, chính sách tỷ giá là một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọngcủa mỗi quốc gia và là vũ khí lợi hại trong cuộc chiến tranh thương mại hếtsức khốc liệt trên thế giới Nhằm đạt được một số mục tiêu kinh tế, chính trị
M SS M*
MD i
i*
Lãi suất
Trang 20nào đó, NHTW các nước thường can thiệp vào thị trường hối đoái để làm dịchchuyển tỷ giá hối đoái đến mức phù hợp theo mục đích đề ra của họ
Mặc dù đều nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế đã đề ra, nhưng mụcđích can thiệp của NHTW không hoàn toàn giống nhau giữa các quốc gia Nóphụ thuộc vào tình hình thực tế và ý đồ chiến lược của mỗi nước trong mỗithời kỳ khác nhau
Việc thực hiện một chế độ tỷ giá linh hoạt vừa phải có sự kiểm soát vớimột mức tỷ giá gọi là tỷ giá chính thức được công bố bởi NHTW, cùng vớimột biên độ quy định cho các mức tỷ giá giao dịch trên thị trường so với tỷgiá chính thức đòi hỏi chính phủ nói chung và NHTW nói riêng cần phải có
sự can thiệp điều phối thị trường Việc điều phối tỷ giá của NHTW sẽ đượcthông qua chính sách tỷ giá đối với nền kinh tế
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được nhà nước điều chỉnh tỷ giá của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó.
1.1.2.2 Các công cụ của chính sách tỷ giá
a, Nghiệp vụ thị trường mở
Là biện pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá hối đoái NHTW hay các cơquan ngoại hối của Nhà nước dùng nghiệp vụ trực tiếp mua bán ngoại hối đểđiều chỉnh tỷ giá Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, NHTW bán ngoại hối ra để kéo
tỷ giá giảm xuống Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái của một ngoại tệ giảm,NHTW sẽ mua vào ngoại tệ đó để giảm bớt sự dư cung ngoại tệ trên thịtrường, góp phần đẩy tỷ giá tăng lên
Có hai dạng can thiệp của NHTW trên thị trường hối đoái:
- Can thiệp hữu hiệu: Là sự can thiệp của NHTW trên thị trường hốiđoái thông qua việc mua, bán ngoại tệ làm thay đổi cung tiền tệ
Trang 21- Can thiệp vô hiệu: Là sự can thiệp của NHTW trên thị trường hối đoái
mà không làm thay đổi cung tiền tệ Can thiệp vô hiệu được thực hiện bằngcách tiến hành đồng thời hai giao dịch: một giao dịch trên thị trường hối đoái
và một giao dịch trên thị trường trái phiếu kho bạc
Nhằm mục đích duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, các nghiệp vụ mua bánngoại tệ được thực hiện trên cơ sở cung cầu thị trường, diễn biến giá cả ngoại
tệ trên thị trường và ý đồ can thiệp mang tính chủ quan của Nhà nước Việccan thiệp này không có tính chất áp đặt một cách máy móc và vi phạm cácquy luật kinh tế của kinh tế thị trường, mà đây là hành động có cân nhắc, tínhtoán kỹ lưỡng những nhân tố của thực tại cũng như chiều hướng phát triểntrong tương lai của toàn bộ nền kinh tế Do vậy, việc lựa chọn các thời điểmcần mua, cần bán ngoại tệ trên thị trường với tỷ giá nào để đạt được mục tiêu
đề ra
b, Chính sách chiết khấu
Là chính sách của NHTW dùng cách thay đổi tỷ lệ chiết khấu để điềuchỉnh lãi suất trên thị trường tín dụng, do đó ảnh hưởng gián tiếp đến tỷ giáhối đoái trên thị trường Khi tỷ giá hối đoái lên cao đến mức nguy hiểm muốnlàm cho tỷ giá hạ xuống thì NHTW nâng cao tỷ lệ chiết khấu lên, do đó lãisuất thị trường cũng tăng lên, kết quả là vốn ngắn hạn trên thị trường thế giới
sẽ chạy vào nước mình để thu lãi cao Lượng vốn chạy vào sẽ góp phần làmdịu căng thẳng của cầu ngoại hối, do đó tỷ giá hối đoái có xu hướng hạ xuống.Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào,nhưng khi tình hình chính trị, kinh tế, tiền tệ trong nước đó không ổn định thìkhông nhất thiết thực hiện được, bởi vì đối với vốn nước ngoài, vấn đề lúc đólại đặt ra trước tiên là sự bảo đảm an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn
đề thu được lãi nhiều
Tuy nhiên không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu Nếutình hình các nước đều đại thể như nhau thì phương hướng đầu tư ngắn hạn
Trang 22vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao Do đó hiện nay chính sách chiếtkhấu vẫn có ý nghĩa của nó.
c, Phá giá tiền tệ
Trong những điều kiện của cuộc đấu tranh về kinh tế, chính trị của cácnước vì thị trường ngoài nước, cũng như trong những điều kiện mức độ lạmphát rất khác nhau ở các nước đã phát sinh vấn đề cần thiết phải xem xét lại tỷgiá tiền tệ của nước này hoặc nước khác
Trong tình trạng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng ngoại hối, khi màsức mua của tiền tệ giảm sút mạnh và không thể đại biểu cho sức mua danhnghĩa của nó, khi mà trong suốt thời gian dài tỷ giá hối đoái biến động mạnhthì vấn đề xác định lại tỷ giá hối đoái là điều không thể tránh khỏi Song “phảiphá giá tiền tệ lúc nào, mức độ ra sao” lại phụ thuộc vào mục đích kinh tế vàchính trị của từng quốc gia Ngày nay, phá giá tiền tệ đã trở thành một chínhsách kinh tế, tài chính của các chính phủ để tác động đến tỷ giá hối đoái vàcán cân thanh toán quốc tế
Phá giá tiền tệ có thể hiểu là sự đánh sụt sức mua của tiền nước mình sovới ngoại tệ hay nâng cao tỷ giá hối đoái của một đơn vị ngoại tệ
Tác dụng của phá giá tiền tệ đối với nước tiến hành phá giá có thể là:
- Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, hạn chế nhập khẩu hàng hoá, do đó
có tác dụng khôi phục lại sự cân bằng của cán cân Ngoại thương, nhờ vậy gópphần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
- Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bênngoài cũng như chuyển tiền ra ngoài nước, do đó làm tăng khả năng cungngoại hối, giảm nhu cầu ngoại hối, nhờ đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống
- Khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước ngoài.Như vậy quan hệ cung cầu ngoại hối bớt căng thẳng
Trang 23- Cướp không một phần giá trị thực tế của những ai nắm đồng tiền bị phágiá trong tay.
d, Nâng giá tiền tệ
Nâng giá tiền tệ là việc nâng giá chính thức đơn vị tiền tệ nước mình sovới ngoại tệ Tỷ giá của ngoại hối so với đồng tiền nâng giá bị sụt xuống, hay
là hạ thấp tỷ giá hối đoái xuống
Ảnh hưởng của nâng giá tiền tệ đối với ngoại thương của một nước hoàntoàn ngược lại với phá giá tiền tệ Nâng giá tiền tệ trong điều kiện hiện nay cóthể xảy ra dưới áp lực của nước khác - khi mà các nước này muốn tăng khảnăng cạnh tranh của hàng hoá nước mình vào các nước có cán cân thanh toán
và cán cân thương mại dư thừa
Ngoài ra, những nước có nền kinh tế phát triển quá “nóng” như NhậtBản chẳng hạn, muốn làm “lạnh” nền kinh tế để tránh khủng hoảng thì sẽdùng biện pháp nâng giá tiền tệ để giảm đầu tư vào trong nước, tăng xuấtkhẩu vốn và giảm xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài
Trong quá trình điều hành tỷ giá hối đoái, ngoài các hình thức can thiệptrên, NHTW còn sử dụng một số biện pháp hành chính như quản lý ngoại hối
để ổn định thị trường ngoại hối, góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của chínhsách tỷ giá
1.1.2.3 Các cơ chế điều hành tỷ giá trên thế giới
Kể từ sau sự chấm dứt của chế độ tỷ giá cố định Bretten Woods năm
1971, đa số các quốc gia trên thế giới đã thả nổi tỷ giá hối đoái của nướcmình Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái cố định vẫn tiếp tục tồn tại và được biến đổisang nhiều dạng trung gian khác nhau Dưới đây là bảng phân loại, thống kêcác cơ chế điều hành tỷ giá của NHTW các nước trên thế giới của IMF:
Trang 25Bảng 1.1: Các cơ chế tỷ giá theo sự phân loại của IMF
Cơ chế tỷ giá Đặc trưng
Số nước
1997 (thống kê)
Số nước
2008 (thống kê)
10 (5,32%)
Equador, El.Savaldor
13 (6,91%)
Hồng Kông, Brunei, Bulgaria
52 (28,73%)
68 (36,17%)
Nga, Quatar, Jordan, Việt Nam
4 Neo trong
biên độ
- Neo tỷ giá trung tâm với đồng tiền khác theo một tỷ lệ cố định, biên độ dao động lớn hơn +-1%
26 (14,36%)
3 (1,6%) Seria
5 Neo tỷ giá
có điều chỉnh
- Tỷ giá trung tâm được điều chỉnh thường xuyên với các bước nhỏ theo các chỉ số định lượng như lạm phát.
7 (3,87%)
8 (4,26%) Trung Quốc, Iraq
11 (6,08%)
2 (1,06%)
Costa Rica, Azerbaịan
7 Thả nổi có
quản lý
- Tỷ giá được xác định bởi thị trường, nghĩa là không có tỷ giá chính thức được công bố NHTW chủ động can thiệp để làm mềm sự biến động của tỷ giá Chính phủ có một mức tỷ giá mục tiêu ngầm đối với tỷ giá
23 (12,71%)
44 (23,4%)
Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan
8 Thả nổi
hoàn toàn
- Tỷ giá được xác định hoàn toàn bởi thị trường NHTW can thiệp ít và không có mức tỷ giá mục tiêu.
44 (24,31%)
40 (21,28%)
Anh, EU, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật,
Úc, New Zealand
Nguồn: IMF (2000) và IMF (2008)
Trang 26Mặc dù có sự đa dạng trong việc lựa chọn các chế độ tỷ giá giữa cácnước nhưng về cơ bản có hai xu hướng sau được hình thành khá rõ nét.
Xu hướng 1: Chuyển dịch mạnh từ chế độ hai hay nhiều tỷ giá sang chế
độ tỷ giá thống nhất Tính từ năm 1973, ngay sau sự sụp đổ của BrettenWoods, có khoảng trên 50% các quốc gia tồn tại tỷ giá song phương, tuynhiên con số này đến năm 2001 chỉ còn khoảng 7% Một nghiên cứu củaRogoff (2004) đã chỉ ra rằng nền kinh tế các nước có chế độ 2 tỷ giá thường
có mức độ tăng trưởng kém hơn và lạm phát cao hơn các nước có tỷ giá thốngnhất từ 2 – 3 lần
Xu hướng 2: Dịch chuyển về 2 thái cực chế độ tỷ giá Xu hướng lựa
chọn chế độ tỷ giá thứ hai trong hai thập kỷ gần đây là việc các quốc gia có
xu hướng dịch chuyển về hai cực chế độ tỷ giá: cố định và thả nổi Xu hướngnày củng cố giả thuyết không có chỗ đứng bền vững cho các chế độ tỷ giá
“đứng giữa” Tuy nhiên, mặc dù có sự dịch chuyển sang hai thái cực nhưng
xu hướng dịch về hướng cơ chế tỷ giá thả nổi tỏ ra mạnh hơn
1.2 Chính sách lãi suất
1.2.1 Khái niệm về lãi suất
Thông thường khi sử dụng các khoản tín dụng, người vay phải trả thêmmột phần giá trị ngoài giá trị vay ban đầu, phần giá trị tăng thêm đó là lợi tứctín dụng Như vậy, lợi tức tín dụng là số tiền mà người đi vay phải trả chongười cho vay trong một thời gian nhất định, nói cách khác, lợi tức tín dụng làgiá cả của quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sửdụng phải trả cho người sở hữu nó
Như vậy, lãi suất được hiểu một cách chung nhất là tỷ lệ phần trăm so sánh giữa số lợi tức thu được với số tiền bỏ ra cho vay trong một thời kỳ nhất định.
Tư duy kinh tế hiện đại có nhiều cách định nghĩa về lãi suất Đồng thờicũng có rất nhiều khái niệm được đưa ra để giải thích về vấn đề này Chẳnghạn như theo Samuelson thì : “Lãi suất là giá mà người đi vay phải trả cho
Trang 27người cho vay để được sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định,
nó chính là giá của việc mua bán quyền sử dụng tiền tệ trong một thời gianxác định.”
Còn theo Jonh Maney Keynes thì: Lãi suất là sự trả công cho số tiền vay,
nó là phần thưởng cho sở thích chi tiêu hay sở thích thanh khoản, lãi suất làhiện tượng tiền tệ phản ánh cung cầu về tiền Tiền đóng vai trò như một sựtích luỹ của cải nhưng chi phí cơ hội về việc giữ tiền của dưới dạng này là tỷsuất lợi tức có được bằng những tài sản tài chính khác
Dù có nhiều khái niệm về lãi suất nhưng nhìn chung các khái niệm đóvẫn giải thích cơ bản sự phát sinh ra lãi suất Đó là bởi lẽ đồng tiền ngày hômnay có giá trị nhận được vào ngày khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ.Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng vốn cho người khác nghĩa là anh ta
hy sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hy vọng sẽ có 1khoản tiền lớn hơn vào ngày hôm sau, hôm sau nữa Sẽ không có sự chuyểnnhượng vốn nếu không có phần lớn hơn đó hoặc là nó không đủ bù đắp chogiá trị thời gian của tiền tệ
Nhưng nhìn chung, điều không thể tránh là lãi suất luôn hàm chứa mộtmâu thuẫn: người đi vay muốn có lãi suất thấp nhất trong khi người cho vaymuốn lãi suất cao nhất Vì vậy, như mọi loại hàng hoá khác, lãi suất chủ yếuđược xác định bởi cung-cầu về vốn Tất nhiên không có sự bắt buộc nào đốivới người có số tiền dôi dư phải kiếm lãi trên số tiền dôi dư đó Nhưng khitiền tiết kiệm không được đầu tư sẽ không sinh lời vì nó sẽ không được ai sửdụng, và vì thế lãi suất còn được gọi là chi phí cơ hội của việc giữ tiền, haynói cách khác chi phí cơ hội của việc giữ tiền là khoản lợi tức mất đi khingười ta giữ tiền chứ không phải là các trái khoán
1.2.2 Phân loại lãi suất
Do lãi suất là hoạt động gắn liền với hoạt động tín dụng dẫn đến có rất nhiều cách phân loại lãi suất theo nhiều tiêu thức khác nhau
Trang 281.2.2.1 Căn cứ vào loại hình tín dụng
a, Lãi suất tín dụng thương mại
Là lãi suất áp dụng đối với các loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệpcấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu
là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền
Do loại tín dụng này được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hànghóa nên nó được tính như sau :
Lãi suất tín dụng thương mại=100%* [(giá cả hàng hoá bán chịu – giá cảhàng hoá bán trả tiền ngay)/ giá cả hàng hoá bán chịu]
b, Lãi suất tín dụng ngân hàng
Là lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng vàdoanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái cấpvốn của NHTW cho các ngân hàng và trong quan hệ giữa các ngân hàng vớinhau trên thị trường liên ngân hàng Việc phân biệt khái niệm lãi suất trongcác quan hệ này là cần thiết để hiểu rõ mối quan hệ giữa chúng
+ Lãi suất tiền gửi: Là lãi suất mà người vay (người huy động vốn) phải
trả cho người gửi tiền vào các ngân hàng, các TCTD vào các tài khoản tiếtkiệm, tài khoản vãng lai, Để đảm bảo trong nghiệp vụ nhận gửi và cho vayphù hợp với mục tiêu và yêu cầu của người gửi tiền và người vay tiền, lãi suấttiền gửi được chia thành nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn và quy
mô tiền gửi
Căn cứ vào thời hạn của khoản tiền gửi ta có:
- Lãi suất tiền gửi ngắn hạn (< 1 năm) là khoản tiền gửi tiết kiệm tạmthời của các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp, lãi suất thường khôngcao
- Lãi suất tiền gửi dài hạn (> 1 năm) lãi suất thường cao hơn lãi suất tiềngửi ngắn hạn do thời hạn càng dài thì chi phí cơ hội của khoản tiền gửi cànglớn và mức độ rủi ro cũng càng lớn
Căn cứ vào thời hạn của khoản tiền gửi:
Trang 29- Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn: là loại lãi suất dành cho loại tiền gửi màngười gửi có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào hoặc gửi tiền với mục đích thanhtoán.
- Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn: là loại lãi suất có kỳ hạn thanh toán lãi chokhoản tiền gửi vào ngân hàng, có 3 loại kỳ hạn là ngắn, trung và dài hạn
+ Lãi suất cho vay: Là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng
do việc sử dụng vốn vay của ngân hàng Nó được áp dụng để tính lãi tiền vay
mà khách hàng phải trả ngân hàng Về nguyên tắc, mức lãi suất tiền vay bìnhquân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi bình quân và có sự phân biệt giữa cáckhoản vay với thời hạn khác nhau cũng như mức rủi ro khác nhau
Lãi suất cho vay tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của các NHTM
và TCTD vì vậy phải vận dụng chính sách lãi suất cho vay một cách linh hoạt
để tạo được sự hài hoà về lợi ích giữa doanh nghiệp và khách hàng hoặc lànhằm đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội nào đó của Nhà nước Do đó lãisuất cho vay thường phải được phân loại theo đối tượng ngành nghề và vùngkinh tế
+ Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới
hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạnthanh toán của khách hàng Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy
tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng.Như vậy nếu xét trong quan hệ giữa ngân hàng với người vay chiết khấu, lãisuất chiết khấu được trả trước cho ngân hàng chứ không trả sau như lãi suấtthông thường
+ Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi NHTW tái cấp vốn dưới hình thức
chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanhtoán của các ngân hàng Nó cũng được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá củagiấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay
Trang 30Lãi suất tái chiết khấu do NHTW ấn định căn cứ vào mục tiêu, yêu cầucủa chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suấttrên thị trường liên ngân hàng
Vì hành vi tái chiết khấu cung ứng nguồn vốn cho các ngân hàng nênthông thường lãi suất tái chiết khấu thường nhỏ hơn lãi suất chiết khấu Tuynhiên trong trường hợp cần phải hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệthống ngân hàng, nhằm kiềm chế đẩy lùi lạm phát hoặc phạt các ngân hàngtrong trường hợp vi phạm các yêu cầu về thanh toán, NHTW có thể ấn địnhlãi suất tái chiết khấu bằng hoặc thậm chí cao hơn lãi suất chiết khấu của hệthống ngân hàng
+Lãi suất liên ngân hàng: là mức lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân
hàng, nơi các ngân hàng thực hiện việc vay và cho vay lẫn nhau, nó chỉ dẫn chính xác hơn về chi phí vốn vay của các ngân hàng và cung - cầu vốn trên thị trường Lãi suất liên ngân hàng thường được ấn định hàng ngày vào mỗi buổi sáng (còn gọi là lãi suất hàng ngày) Nó được hình thành bởi quan hệ cung - cầu tiền trung ương của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối bởi lãisuất tái cấp vốn của NHTW Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay NHTW của các tổ chức tín dụng Hiện nay, Việt Nam thường sử dụng một số lãi suất liên hàng sau khi ấn định lãi suất cho vay bằng ngoại tệ:
+ Lãi suất cho vay liên hàng: như LIBOR, PIBOR, ZIBOR, NIBOR,SIBOR
+ Lãi suất đi vay liên hàng: như LIBID, ZIBID, NIBID
Đây là lãi suất tại các thương trường tín dụng chủ yếu của thế giới nhưParis, Zurich, Newyork, Singapore
+ Lãi suất bình quân của LIBOR và LIBID là LIMEAN
+ Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để
ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình
Trang 31Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tuỳ từng nước, nó có thể doNHTW ấn định (Nhật: là mức lãi suất cho vay thấp nhất) hoặc có thể do bảnthân các ngân hàng tự xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể củangân hàng mình (Mỹ, Anh, Úc) và đó là mức lãi suất được áp dụng cho cáckhách hàng có mức rủi ro thấp nhất; hoặc căn cứ vào mức lãi suất cơ bản củamột số ngân hàng đứng đầu, của các ngân hàng khác cộng trừ biên độ daođộng theo một tỷ lệ % nhất định để hình thành lãi suất cơ bản của mình(Malaysia) Một số nước lại sử dụng lãi suất liên ngân hàng làm lãi suất cơbản (Singapore, Pháp) vì thực chất lãi suất cơ bản của các ngân hàng rất gầnvới mức lãi suất thị trường liên ngân hàng nếu không như vậy hoạt độngArbitrage về lãi suất sẽ diễn ra Mặc dù khác nhau, lãi suất cơ bản của hầu hếtcác nước đều hình thành trên cơ sở thị trường và đó là mức lãi suất tối thiểu
bù đắp được lãi suất cho vay và có được mức lợi nhuận bình quân cho phép.Khi áp dụng đối với các đối tượng có mức rủi ro khác nhau, mức lãi suất kinhdoanh sẽ khác nhau vì sự biến động của mức bù rủi ro
Ở Việt Nam, Luật ngân hàng nhà nước hiện nay quy định “ Lãi suất cơbản là lãi suất do NHTW công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn địnhlãi suất kinh doanh” (khoản 12 điều 19) Tuy vậy, vấn đề chọn lãi suất nàolàm lãi suất cơ bản hiện vẫn đang còn là vấn đề tranh luận
1.2.2.2 Căn cứ vào giá trị thực tiễn của lãi suất
+ Lãi suất danh nghĩa : là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ
vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ
lệ lạm phát Lãi suất danh nghĩa thường được thông báo chính thức trong cácquan hệ tín dụng
+ Lãi suất thực : là lãi suất điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi
về lạm phát, hay nói cách khác, là loại lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.Tuy nhiên, công thức tính lãi suất thực không chỉ đơn giản là lấy hiệucủa lãi suất danh nghĩa trừ cho tỷ lệ lạm phát Hiện nay về lý thuyết chúng ta
Trang 32đang tồn tại 2 quan điểm về mối liên hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danhnghĩa
•Quan điểm thứ nhất được mô tả qua công thức : r = i – Pe
Công thức này xác định lãi suất thực (r) chính là hiệu số giữa lãi suấtdanh nghĩa (i) và tỷ lệ lạm phát được dự đoán hình thành trong suốt độ dàicủa chứng khoán hoặc các công cụ tín dụng khác nhau (Pe) Ví dụ, nếu lãisuất của một trái phiếu kho bạc là 14%/năm, và tỷ lệ lạm phát dự đoán cả năm
là 7%, thì lãi suất thực của trái phiếu kho bạc được ghi nhận là 7%
Nếu tính đến yếu tố thuế phải nộp ta có công thức biểu diễn lãi suất thựcsau khi đóng thuế như sau: Rat = i*(1-t)- Pe
•Quan điểm thứ hai cho rằng, lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có mốiliên hệ với nhau qua biểu thức sau: r = i + Pe + Lq + Df + Mt
Trong đó:
- r : Lãi suất danh nghĩa Lãi suất này còn gọi là lãi suất bề ngoài hay lãisuất danh định, là lãi suất thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa người đivay và người cho vay về một số vốn nào đó
- i : Lãi suất thực Lãi suất thực thường được hiểu là lãi suất trong điềukiện không có bất cứ loại rủi ro nào (rủi ro lạm phát, rủi ro sai hẹn ) Hai yếu
tố quyết định lãi suất thực: (1) Cơ hội kinh doanh được thể hiện bằng tỷ suấtlợi nhuận trên vốn đầu tư kỳ vọng bình quân Nếu tỷ suất lợi nhuận trên vốnđầu tư bình quân càng cao thì lãi suất thực càng cao và ngược lại Tỷ suất lợinhuận trên vốn đầu tư kỳ vọng bình quân quyết định giới hạn trên của lãi suất.(2) Thời gian ưu tiên cho tiêu dùng hay sự cấp bách tiêu dùng Nếu sự cấpbách tiêu dùng càng cao, thì tiết kiệm và do đó cung tín dụng càng thấp nênlãi suất thực càng cao và ngược lại Thời gian ưu tiên cho tiêu dùng quyếtđịnh mức tiêu dùng mà người tiêu dùng vui lòng hoãn lại và do đó quyết địnhcung tín dụng
- Pe : Phí bù đắp rủi ro lạm phát, được tính bằng tỷ lệ lạm phát dự báotrung bình
Trang 33- Lq : Phí bù đắp rủi ro thanh khoản Tính thanh khoản của một chứngkhoán nợ là khả năng chuyển đổi sang tiền mặt nhanh chóng và ở mức giáhợp lý Một công cụ nợ có tính thanh khoản càng thấp thì chịu mức phí bùđắp rủi ro càng cao.
- Df : Phí bù đắp rủi ro sai hẹn Rủi ro sai hẹn là rủi ro xảy ra do người
đi vay không hoàn trả được tiền vay như đã giao hẹn Có nhiều yếu tố chiphối rủi ro sai hẹn, bao gồm rủi ro đạo đức và rủi ro đối nghịch cũng như uytín của người vay Rủi ro sai hẹn càng cao thì phí bù đắp rủi ro sai hẹn càngcao
- Mt : Phí bù đắp rủi ro kỳ hạn Do mối tương quan nghịch giữa thời giá vàlãi suất, nên một công cụ nợ có kỳ hạn càng dài thì sự biến động giá cả cànglớn và rủi ro càng cao Vì vậy, lãi suất dài hạn thường phải cao hơn lãi suấtngắn hạn
1.2.2.3 Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất
+ Lãi suất cố định : là lãi suất được áp dụng cố định trong suốt thời hạn
vay Nó có ưu điểm: người gửi tiền và người vay tiền biết trước tiền lãi đượctrả và phải trả Bên cạnh đó có nhược điểm: bị ràng buộc bởi một mức lãi suấtnhất định trong một thời gian nào đó các tổ chức cung ứng tín dụng và ngườivay tiền khó có khả năng phản ứng linh hoạt với những biến động nếu có củacung và cầu vốn trên thị trường tài chính
+ Lãi suất thả nổi : là lãi suất có thể thay đổi phù hợp với lãi suất thị
trường và có thể báo trước hoặc không báo trước Mặc dù khi áp dụng cơ chếlãi suất này, cả người đi vay và người cho vay xác định một cách chính xácmức lãi suất sẽ phải trả nhưng nó thích hợp với một môi trường đầu tư không
ổn định và các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất là khó dự đoán
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
1.2.3.1 Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu vốn vay trên thị trường
Lãi suất được xem là giá cả của quyền sử dụng vốn vay do vậy nó sẽđược xác định trên cơ sở quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường
Trang 34Cung vốn vay là khối lượng vốn dùng để cho vay kiếm lời của các
chủ thể khác nhau trong xã hội Cung vốn vay được tạo bởi các nguồnsau:
- Tiền gửi tiết kiệm của các hộ gia đình Đây là bộ phận quan trọng nhấtcủa quĩ cho vay Trong điều kiện bình thường, tiền gửi tiết kiệm phụ thuộcnhiều vào lãi suất: nếu lãi suất tăng sẽ làm tăng nhu cầu tiết kiệm và ngượclại Tuy nhiên mức độ nhạy cảm này còn tuỳ thuộc vào tình trạng của nềnkinh tế cũng như thói quen tiết kiệm và tiêu dùng của công chúng
- Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp dưới hình thức:quĩ khấu hao cơ bản, lợi nhuận chưa chia, các quĩ khác chưa sử dụng Nguồnvốn này biến động cùng chiều với lãi suất tuy không nhạy cảm nhiều nhưnguồn trên
- Các khoản thu chưa sử dụng đến của ngân sách nhà nước Bộ phậnnày chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng quĩ cho vay của nền kinh tế và khôngphụ thuộc vào lãi suất
- Nguồn vốn của các chủ thể nước ngoài có thể là chính phủ, có thể làdoanh nghiệp, có thể là dân cư nước ngoài Sự biến động của nguồn vốn nàycùng chiều với sự biến động của lãi suất
Cầu vốn vay là nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu
dùng của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế Cầu từ vốn vay được cấu thành từ các bộ phận sau :
- Nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và hộ gia đình nhằm hìnhthành vốn đầu tư và trang trải các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất vàtiêu dùng Trong điều kiện các yếu tố khác (lạm phát dự tính, khả năng sinhlợi dự tính của các cơ hội đầu tư) không đổi, nhu cầu vốn của doanh nghiệp
và của hộ gia đình biến động ngược chiều với sự biến động của lãi suất
- Nhu cầu vay vốn của khu vực chính phủ nhằm bù đắp thiếu hụt ngânsách nhà nước Nhu cầu này độc lập với sự biến động của lãi suất
- Nhu cầu vay vốn của chủ thể nước ngoài bao gồm các loại chủ thể
Trang 35như doanh nghiệp, chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài chính trung giannước ngoài Nhóm nhu cầu này biến động ngược chiều với biến động của lãisuất
Như vậy, cung vốn vay được tạo bởi số vốn dư thừa chưa sử dụng đếncủa các hộ gia đình, các doanh nghiệp, chính phủ và nước ngoài Mặc dù cónhững bộ phận biến động không phụ thuộc vào lãi suất nhưng vì chúng khôngchiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu quĩ cho vay nên nhìn chung cung vốn vay vẫnphụ thuộc vào lãi suất Trong điều kiện các nhân tố khác (lạm phát dự tính,của cải ) không thay đổi, cung vốn vay tăng khi lãi suất tăng và ngược lại
Lãi suất LS - lượng cung vốn vay
O
i
LD - lượng cầu vốn vay
Cung cầu vốn vay
Hình 1.3 : Quan hệ giữa cung cầu vốn và lãi suất
Đường cung cầu vốn vay nói trên cho các nhà kinh tế một mô hình đểxác định lãi suất thị trường, được gọi là mô hình “Khuôn mẫu tiền vay”(Loanable funds framework) Điểm cân bằng cung - cầu vốn vay tại một thờiđiểm xác định mức lãi suất thị trường tại thời điểm đó Vì vậy, các nhân tốảnh hưởng tới lãi suất thị trường cũng chính là những nhân tố làm thay đổiđiểm cân bằng của thị trường
Nhóm các nhân tố làm dịch chuyển đường cung vốn vay:
- Tài sản và thu nhập : Trong giai đoạn đang tăng trưởng kinh tế thu
nhập tăng và do đó tài sản của các chủ thể kinh tế tăng lên, làm tăng khả năngcung ứng vốn Cung vốn vay vì vậy tăng lên và đường cung vốn vay dịch
Trang 36chuyển sang phải ngược lại trong giai đoạn suy thoái kinh tế, cung vốn chovay giảm, đường cung vốn vay dịch chuyển sang trái.
- Rủi ro : Nếu như rủi ro mất vốn khi cho vay tăng lên thì việc cho vay
trở nên kém hấp dẫn, cung vốn vay giảm xuống làm cho đường cung vốn vaydịch chuyển sang trái Điều này thường xảy ra khi giá cả các công cụ nợ lênxuống thất thường hay nguy cơ vỡ nợ của các tổ chức tín dụng tăng lên
- Lợi tức dự tính : Lợi tức dự tính của các công cụ nợ không chỉ phụ
thuộc vào lãi suất của công cụ nợ mà còn phụ thuộc vào sự biến động giá thịtrường của công cụ đó Lợi tức dự tính của các công cụ nợ tăng lên sẽ làmnhu cầu mua các công cụ đó tăng lên, do đó làm tăng cung vốn vay (đườngcung vốn vay dịch chuyển sang phải) và ngược lại Ví dụ: lãi suất được dựtính là cao hơn trong tương lai sẽ làm giảm nhu cầu mua các công cụ nợ dàihạn của các chủ thể kinh tế, vì thế mà nguồn cung vốn dài hạn giảm xuống.Lợi tức dự tính của các dạng tài sản khác thay đổi cũng có thể dẫn đến sự thayđổi trong cung vốn vay Chẳng hạn, một sự tăng lên của lạm phát dự tính sẽlàm tăng giá của các tài sản hữu hình và do vậy sẽ làm giảm lợi tức dự tínhcủa việc cho vay so với mua các tài sản hữu hình Kết quả là cung vốn vaygiảm xuống
- Tính lỏng của các công cụ đầu tư: Là thời gian và chi phí để chuyển
đổi công cụ đó thành tiền mặt nếu như các công cụ nợ như trái phiếu có thểmua bán dễ dàng thì sẽ làm tăng nhu cầu đầu tư vào chúng và vì vậy cung cầuvốn vay sẽ tăng lên, đường cung vốn dịch chuyển sang phải
Nhóm các nhân tố làm dịch chuyển đường cầu vốn vay:
- Khả năng sinh lợi dự tính của các cơ hội đầu tư : Càng có nhiều cơ
hội đầu tư sinh lợi thì càng làm tăng nhu cầu đi vay Điều này thường thấytrong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng Khi kinh tế tăng trưởng, các cơ hộiđầu tư sinh lời tăng lên làm cho nhu cầu vay vốn tăng mạnh Mặt khác, trongđiều kiện kinh tế phát triển, của cải cũng tăng lên và sẽ kích thích tăng cungvốn vay Vậy lãi suất sẽ tăng hay giảm? Trong thực tế thì lãi suất cân bằng
Trang 37trong những điều kiện như vậy thường tăng lên do hiệu ứng tăng cung vốnvay từ tăng của cải diễn ra chậm hơn tăng cầu vốn vay do nền kinh tế tăngtrưởng nhanh.
- Lạm phát dự tính : chi phí thực của việc vay tiền được xác định chính
xác hơn bằng lãi suất thực, nó bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát dựtính Với một mức lãi suất cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên thì chi phíthực của việc vay tiền giảm xuống, điều này làm tăng nhu cầu vay vốn
- Tình hình ngân sách chính phủ: Vì chính phủ các nước hiện nay có xu
hướng tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng đi vay nên tình trạng thâm hụtngân sách của chính phủ sẽ tác động tới nhu cầu vay vốn của chính phủ và do
đó tác động đến nhu cầu vay vốn của nền kinh tế Thiếu hụt ngân sách chínhphủ lớn hơn làm tăng nhu cầu vay vốn và làm cho đường cầu vốn vay dịchchuyển sang phải
1.2.3.2 Nhóm các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu tiền tệ
Khi nghiên cứu về cung cầu tiền tệ, ta thấy có mối liên hệ giữa lãi suấtvới cung cầu tiền tệ trên thị trường : Ứng với mỗi một mức cung cầu tiền sẽxác định được một lãi suất cân bằng tương ứng Cho nên có thể nói nhữngnhân tố ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu tiền tệ trên thị trường cũng sẽ ảnhhưởng đến sự biến động của lãi suất trên thị trường
Để phân tích sự ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ tới mức lãi suất cân bằng, mô hình “khuôn mẫu ưa thích tiền mặt” (Liquidity preference framework ) ởhình dưới đây được sử dụng Khuôn mẫu ưa thích tiền mặt cho thấy lãi suấtcân bằng thay đổi khi các đường cung, cầu tiền tệ dịch chuyển Vì vậy cácnhân tố làm dịch chuyển đường cung cầu tiền tệ cũng chính là các nhân tốlàm thay đổi lãi suất cân bằng
Trang 38Nhóm nhân tố làm dịch chuyển đường cầu tiền :
- Thu nhập : Thu nhập tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu nắm giữ tiền để
giao dịch và làm nơi cất trữ giá trị, do đó làm cho lượng cầu tiền tăng lên vàđường cầu tiền dịch chuyển sang phải Lập luận tương tự với trường hợp thunhập giảm sẽ có sự dịch chuyển của đường cầu tiền sang trái
- Mức giá : Những thay đổi của mức giá sẽ làm cầu về tiền thực tế thay
đổi nếu cầu tiền danh nghĩa chưa thay đổi Do nền kinh tế có xu hướng cầumột lượng tiền thực tế không đổi ứng với một mức lãi suất và thu nhập nhấtđịnh nên cầu tiền danh nghĩa sẽ phải thay đổi theo mức giá để đảm bảo ổnđịnh cầu tiền thực tế Kết quả là là một sự gia tăng lên của mức giá sẽ làmlượng cầu tiền tăng lên
Nhóm nhân tố làm dịch chuyển đường cung tiền :
- Cung tiền trong nền kinh tế hiện nay phần lớn chịu sự tác động củaCSTT của các NHTW Cung tiền thay đổi, ngoài những hoạt động nhằm thựcthi mục tiêu của CSTT ra, còn chịu ảnh hưởng bởi mức độ phụ thuộc củaNHTW vào chính phủ và chế độ tỷ giá hối đoái của nước đó Nếu sự phụthuộc của NHTW vào chính phủ cao thì tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài
có thể sẽ tạo sức ép khiến NHTW phải in thêm tiền mua các chứng khoánchính phủ vào để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, dẫn đến tăng cung tiền.Thêm vào đó, một chế độ tỷ giá hối đoái cố định đòi hỏi sự can thiệp của
Trang 39NHTW vào thị trường ngoại hối thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ, và dovậy cũng sẽ ảnh hướng đến cung tiền.
1.2.3.3 Các nhân tố khác
Tỷ lệ lạm phát kỳ vọng: Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời
kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu hướng tăng Điều này là xuất phát từ mối quan hệgiữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi,
tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa cũng phải tăng lên tương ứng.Mặt khác, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mìnhcho việc dự trữ hàng hóa hoặc những dạng phi tài sản như vàng, ngoại tệmạnh hoặc đưa vào sinh hoạt tiêu dùng Tất cả những điều này làm giảm cungnguồn vốn cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường
Tỷ suất lợi nhuận bình quân: Hoạt động của các doanh nghiệp là nền
tảng của hoạt động tín dụng Do đó tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh
tế là cơ sở để xác định lãi suất tín dụng hợp lý Thông thường mức lãi suất tíndụng nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân Có như vậy các nhà đầu tư mới cólợi nhuận từ các dự án đầu tư và phấn khởi mở rộng đầu tư
Chính sách thuế : Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
luôn có tác động đến lãi suất Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đimột phần thu nhập của các cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng haynhững người tham gia kinh doanh chứng khoán Mọi người đều quan tâm đếnthu nhập thực tế hơn là thu nhập danh nghĩa Do vậy, để duy trì một mức lợinhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thayđổi của thuế
Tỷ giá hối đoái kỳ vọng: Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do
những dao động của các đồng ngoại tệ mạnh thì tâm lý phổ biến của ngườidân là coi ngoại tệ mạnh như một trong những loại tài sản tiết kiệm an toàn.Chẳng hạn, khi hiện tượng Đôla hoá xảy ra, người dân sẽ ồ ạt chuyển sang tiếtkiệm bằng ngoại tệ cụ thể là Đôla Mỹ Làm như vậy người gửi hưởng lợi képgồm lãi suất tiền gửi và sự lên giá của đồng Đôla Mỹ Sự chuyển dịch này tạo
Trang 40ra sự khan hiếm nội tệ ở các NHTM và buộc các ngân hàng này phải tăng lãisuất tiền gửi đồng nội tệ để huy động cho vay nền kinh tế Như vậy, khi xâydựng chính sách lãi suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá để giảm bớtmức chênh lệch giữa lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi suất chovay nội tệ và ngoại tệ Điều này giúp giảm bớt sự dịch chuyển không mongđợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la lên giá.
1.2.4 Vai trò của lãi suất
Lãi suất tín dụng là biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế thịtrường Căn cứ vào sự biến động của lãi suất tín dụng, người ta có thể dự báocác yếu tố khác của nền kinh tế như: tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mứclạm phát dự tính, mức thiếu hụt ngân sách Nhà nước Người ta cũng có thểdựa vào mức lãi suất tín dụng trong một thời kỳ để dự báo tình hình kinh tếtrong tương lai Vai trò chủ yếu của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế đượcthể hiện như sau:
1.2.4.1 Ở tầm vi mô
Lãi suất là giá cả của tín dụng, do đó nó tác động đến các quyết định vềđầu tư hay tiêu dùng, mua sắm tài sản hay mua trái phiếu, hoặc gửi tiết kiệmcủa các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội Lãi suất góp phần hướngcác nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực có hiệu quả với tỷ suất lợi nhuận caonhất
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, luôn luôn có những ngườitạm thời thừa vốn và những người tạm thời thiếu vốn, quan hệ tín dụng là mộtquan hệ phổ biến, hầu như không một doanh nghiệp nào lại không phải thamgia vào quan hệ này Vì vậy lãi suất được coi là một khoản chi phí doanhnghiệp, và cộng với những chi phí sản xuất khác thành tổng chi phí của doanhnghiệp, nên lãi suất ảnh hưởng trực tiếp tới tổng lợi nhuận Do đó lãi suất là
cơ sở hoạch toán kinh tế trong các đơn vị
Tiền lãi là một khoản mà các doanh nghiệp phải trả cho người cho vaytrên tổng số vốn mà họ vay ở các đơn vị khác, nên lãi suất thúc đẩy hoạt động