Thông tin của hệ thống báo cáo tài chính không chỉ cần thiết cho cácnhà quản lý doanh nghiệp mà còn là sự quan tâm của nhà đầu tư, cơ quan quản lýnhà nước, người lao động, các đối thủ cạ
Trang 1DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHỆP 3
1.1 Khái quát chung về báo cáo tài chính doanh nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm và nguyên tắc lập báo cáo tài chính doanh nghiệp 3
1.1.2 Nội dung và phương pháp lập báo cáo tài chính 8
1.2 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính 9
1.2.1 Phương pháp so sánh 10
1.2.2 Phương pháp loại trừ 12
1.2.3 Phương pháp liên hệ cân đối 14
1.2.4 Một số phương pháp khác 14
1.3 Nội dung phân tích báo cáo tài chính 16
1.3.1 Ý nghĩa phân tích hệ thống báo cáo tài chính 16
1.3.2 Nội dung phân tích hệ thống báo cáo tài chính 17
1.4 Tổ chức phân tích báo cáo tài chính 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOÀ PHÁT 37
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần tập đoàn Hoà Phát 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và tổ chức bộ máy quản lý .38
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và sổ kế toán 41
2.2 Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 44
2.2.1 Phương pháp phân tích 44
2.2.2 Nội dung phân tích 44
Trang 22.2.3 Tổ chức phân tích 60
2.3 Đánh giá thực trạng phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 60
2.3.1 Về phương pháp phân tích 61
2.3.2 Về nội dung phân tích 61
2.3.3 Về tổ chức phân tích 62
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOÀ PHÁT 64
3.1 Yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính 64
3.2 Nội dung và giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 65
3.2.1 Hoàn thiện phương pháp phân tích 65
3.2.2 Hoàn thiện nội dung phân tích 70
3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp 80
3.3.1 Về phía Nhà nước 80
3.3.2 Về phía Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang 3BCTC Báo cáo tài chính
EBT Lợi nhuận trước thuế
EPS Lợi nhuận cho mỗi cổ phiếu thường
ROA Suất sinh lời của tài sản
ROE Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
ROS Suất sinh lời của doanh thu
Trang 4Danh mục bảng
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình tài chính 44
Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu tài sản 47
Bảng 2.3: Phân tích cơ cấu nguồn vốn 48
Bảng 2.4: Phân tích các khoản nợ phải thu năm 2009 50
Bảng 2.5: Phân tích các khoản nợ phải trả năm 2009 51
Bảng 2.6: Phân tích khả năng thanh toán trong năm 2009 52
Bảng 2.7: Bảng phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 53
Bảng 2.8: Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm 2009 của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 56
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu phân tích phản ảnh suất sinh lời 57
Bảng 2.10: Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ 58
Bảng 3.1: Các nhân tố tác động đến ROE của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 66
Bảng 3.2: Bảng phân tích ROE theo phương pháp loại trừ 68
của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 68
Bảng 3.3: Phân tích xu hướng biến động của các chỉ tiêu chủ yếu trên báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 69
Bảng 3.4: Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 73
của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 73
Bảng 3.5: Phân tích các chỉ tiêu về cân bằng tài chính năm 2009 74
Bảng 3.6: Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định 75
Bảng 3.7: Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 76
Bảng 3.8: Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm 2009 77
Bảng 3.9: Phân tích khả năng thanh toán trong năm 2009 78
Bảng 3.10: Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính qua cơ cấu nợ năm 2009 79
Trang 5pháp Dupont 15
Sơ đồ 1.2: Nguồn tài trợ tài sản 22
Sơ đồ 2.1: Bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần Tập đoànHoà Phát 39
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty cổ phần Tập đoàn HoàPhát 41
Sơ đồ 3.1: Nguồn tài trợ tài sản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát 71
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tàichính của doanh nghiệp, về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một chu kỳkinh doanh Thông tin của hệ thống báo cáo tài chính không chỉ cần thiết cho cácnhà quản lý doanh nghiệp mà còn là sự quan tâm của nhà đầu tư, cơ quan quản lýnhà nước, người lao động, các đối thủ cạnh tranh… Đặc biệt khi các công ty cổphần niêm yết chứng khoán trên sàn giao dịch thì hệ thống báo cáo tài chính haycòn gọi là cáo bạch trở thành thông tin tổng hợp mang đầy đủ tính chất pháp lýcho các đối tượng bên ngoài cần quan tâm phân tích Do đó việc phân tích hệthống báo cáo tài chính là công cụ mang tính chất nghiệp vụ trợ giúp đắc lực chotừng đối tượng quan tâm kể trên Tuỳ từng đối tượng mà nội dung và phương phápphân tích khác nhau cho phù hợp với mục đích
Công ty cổ phần tập đoàn Hoà Phát là Công ty sản xuất và thương mại hàngđầu của Việt Nam với hơn 18 năm hoạt động; với ngành nghề kinh doanh đa dạngnổi lên với thương hiệu kinh doanh bất động sản, đầu tư tài chính, đầu tư xây dựng
hạ tầng đồng bộ với tiềm lực tài chính rất mạnh Trong định hướng phát triển tươnglai, Công ty cổ phần tập đoàn Hoà Phát sẽ đầu tư kinh doanh các loại hình bất độngsản cao cấp, đầu tư tài chính ngân hàng, công nghệ với hàm lượng chất xám cao…Với các lĩnh vực đầu tư kinh doanh kể trên tình hình tài chính, cũng như kết quảkinh doanh hiện tại trở thành mối quan tâm của các nhà đầu tư, cổ đông Do đó việcphân tích hệ thống báo cáo tài chính của tập đoàn Hoà Phát để đánh giá tình hình tàichính cũng như khả năng của công ty trong tương lai là rất cần thiết
Chính vì lý do trên mà tôi chọn “Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần tập đoàn Hoà Phát” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
Trang 7đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công tynói riêng và các công ty có cùng loại hình kinh doanh.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực trạng về phân tích báo cáo tàichính của Công ty cổ phần tập đoàn Hoà Phát
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất củaCông ty cổ phần tập đoàn Hoà Phát, chủ yếu là hệ thống báo cáo tài chính hợp nhấttheo chuẩn mực kế toán Về thời gian luận văn sử dụng số liệu báo cáo chủ yếu củaCông ty năm 2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng là cơ sở nền tảng để nghiên cứu Ngoài ra luậnvăn còn sử dụng các phương pháp toán học, hệ thống hoá kết hợp với lý luận cơ bảncủa khoa học chuyên ngành kế toán tài chính để nghiên cứu đề tài này
5 Dự kiến những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá lý luận về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chínhtrong các doanh nghiệp
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổphần tập đoàn Hoà Phát
- Đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích báo cáotài chính tại Công ty cổ phần tập đoàn Hoà Phát nói riêng và các doanh nghiệp khácnói chung nhằm thực hiện tốt chức năng cung cấp thông tin của các doanh nghiệptrong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng phát triển
6 Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn được chialàm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích báo cáo tài chính trong
các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần tập
đoàn Hoà Phát
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính
tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoà Phát
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHỆP 1.1 Khái quát chung về báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và nguyên tắc lập báo cáo tài chính doanh nghiệp
* Báo cáo tài chính doanh nghiệp
Báo cáo tài chính (BCTC) là báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản,nguồn vốn, công nợ, tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp sau một kỳ kếtoán Nói cách khác, BCTC là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạngtài chính doanh nghiệp (DN) cho những người quan tâm như chủ doanh nghiệp, nhàđầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế, các cơ quan chức năng, những người hưởnglương trong doanh nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (IAS 1) “báo cáo tài chính cung cấpthông tin tình hình tài chính, kết quả hoạt động tài chính cũng như lưu chuyển tiền
tệ của DN và đó là thông tin có ích cho việc ra quyết định kinh tế”
Theo Viện kế toán công chứng Mỹ (AICPA) thì “Báo cáo tài chính được lậpnhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét định kỳ hoặc báo cáo về quá trình hoạtđộng của nhà quản lý, về tình hình đầu tư trong kinh doanh và kết quả đạt đượctrong kỳ báo cáo Hệ thống báo cáo tài chính phản ánh sự kết hợp của những sựkiện được ghi nhận, những nguyên tắc kế toán và những đánh giá cá nhân, mà trong
đó những đánh giá và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đếnviệc ghi nhận các sự kiện” [12,t11]
Còn theo hai tác gải Bryan Carsberg và Susan Dev thì bản chất của báo cáotài chính là “hệ thống báo cáo tài chính được thiết kế để trình bày những kết quả ảunhững nghiệp vụ và những sự kiện xảy ra trong quá khứ và là kênh truyền đạt thôngtin chính của những hoạt động quản lý với thế giới bên ngoài” [15,t8]
Còn ở Việt Nam, trong hệ thống kế toán Việt Nam, báo cáo tài chính là loạibáo cáo kế toán phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn
Trang 9vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trongmột thời kỳ nhất định
Như vậy báo cáo tài chính, thông thường là hệ thống các báo cáo tài chính lànhững văn bản riêng của kế toán, được tiêu chuẩn hoá trên phạm vi quốc tế vềnguyên tắc và chuẩn mực Báo cáo tài chính chiếm vị trí quan trọng trong báo cáothường niên của công ty Tuỳ thuộc vào đặc điểm mô hình kinh tế, cơ chế quản lý
và cả tính văn hoá, tính dân tộc, ngôn ngữ mà về mặt hình thức, cấu trúc, tên gọi cácbáo cáo tài chính có thể có đôi nét khác nhau ở từng quốc gia, tuy nhiên về nội dung
mà chúng chứa đựng và phản ánh lại hoàn toàn thống nhất Nội dung mà các báocáo tài chính phản ánh là tình hình tổng quát về tài sản, nguồn vốn, tình hình và kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh
Theo thông lệ quốc tế, hệ thống báo cáo tài chính bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán, có nhiều quen gọi là bảng tổng kết tài sản, bảng cânbằng hay bảng đối chiếu tài sản
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, một số người gọi là báo cáo lưu ngân, hay dònglưu kim Báo cáo này ở một số nước mang tính chất bắt buộc, một số nước chỉmang tính hướng dẫn
- Thuyết minh các báo cáo tài chính
Theo chế độ kế toán của Pháp, báo cáo kế toán có hai loại biểu mẫu chủ yếu:
- Bảng tổng kết tài sản (trình bày tình hình tài sản và nguồn tài trợ)
- Bảng kết quả niên độ (trình bày tình hình thu nhập, chi phí và lỗ, lãi).[17,t271]
Còn ở Việt Nam, theo quyết định số 15/2006/QĐ BTC do Bộ Tài Chính banhành ngày 20/3/2006, quy định đối với doanh nghiệp nhà nước, hệ thống BCTC baogồm:
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu B 01 – DN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu B 02 – DN)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu B 03 – DN)
Trang 10- Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu B 09 – DN)
Tuy khác nhau về cách gọi và số lượng các báo cáo trong hệ thống báo cáotài chính ở các quốc gia nhưng tầm quan trọng của hệ thống báo cáo tài chính thểhiện ở cách lập và trình bày Tính chính xác và tính khoa học của báo cáo tài chínhcàng cao bao nhiêu, sự phản ánh về “tình trạng sức khoẻ” của doanh nghiệp càngtrung thực bấy nhiêu [4,t187]
Theo xu hướng phát triển kinh tế, để chiến thắng trong cạnh tranh, để chiếmthị phần hay để cùng phân chia lợi nhuận,…mà một số doanh nghiệp liên kết vớinhau theo mô hình công ty mẹ con hoặc tập đoàn Và báo cáo tài chính của cácTổng công ty và tập đoàn không chỉ đơn thuần là báo cáo tài chính riêng lẻ của từngcông ty mà là báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty con, công ty thành viên
Báo cáo tài chính hợp nhất được lập do công ty mẹ (tập đoàn) là báo cáo củamột tập đoàn hay một nhóm các công ty nằm dưới sự kiểm soát của một công ty mẹ,được trình bày như một báo cáo của một doanh nghiệp đơn lẻ
Theo chuẩn mực quốc tế về kế toán số 27 (IAS 27) thì báo cáo tài chính hợpnhất bao gồm tất cả các doanh nghiệp do công ty mẹ kiểm soát (tức là công ty mẹ
sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hơn 50% doanh nghiệp đó) Tuy nhiên quyền kiểmsoát của công ty mẹ có thể ít hơn hoặc bằng 50% vẫn có thể lập báo cáo tài chínhhợp nhất nhưng phải là các trường hợp đặc biệt và có những điều khoản bắt buộckhác được quy định Các trường hợp loại trừ khỏi quá trình hợp nhất đối với công tycon khi:
- Quyền kiểm soát chỉ là tạm thời vì công ty con được mua và giữ một cáchriêng biệt nhằm mục đích thanh lý nó trong tương lai gần
- Hoạt động dưới sự hạn chế lâu dài làm giảm tối đa khả năng chuyển vốncho công ty mẹ [8,t544]
Báo cáo tài chính hợp nhất cũng bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán hợp nhất
- Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất
Trang 11- Thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất
Theo chế độ kế toán Pháp, đối với các tập đoàn, báo cáo tài chính của tậpđoàn bao gồm:
- Bảng tổng kết tài sản tổng hợp
- Báo cáo kết quả tổng hợp
- Bảng phụ lục tổng hợp [18,t45]
Ở nước ta, chuẩn mực kế toán số 25(VAS 25) – báo cáo tài chính hợp nhất
và kế toán khoản đầu tư vào công ty con được ban hành kèm theo quyết định số234/QĐ – BTC ngày 30/12/2003 của Bộ Tài chính đã quy định những vấn đề cơbản nhất về lập báo cáo tài chính hợp nhất Theo chuẩn mực số 25 thì tất cả cáccông ty mẹ phải lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất, trừ trường hợp công ty
mẹ đồng thời là công ty con bị một công ty khác sở hữu toàn bộ hoặc gần như toàn
bộ thì không nhất thiết phải lập báo cáo tài chính hợp nhất Khái niệm bị sở hữu ởđây có nghĩa là công ty mẹ bị công ty khác nắm giữ trên 90% quyền biểu quyết.Công ty mẹ khi lập báo cáo tài chính hợp nhất phải hợp nhất tất cả các công ty con
ở trong nước và nước ngoài [3]
Như vậy, báo cáo tài chính hợp nhất cũng là báo cáo tài chính bắt buộc màtập đoàn hay công ty mẹ chịu trách nhiệm lập và thông tin thể hiện trên báo cáo tàichính hợp nhất là số liệu được tổng hợp của các công ty con vào công ty mẹ Tuynhiên sự hợp nhất không đơn thuần là cộng các số liệu cùng chỉ tiêu mà có sự điềuchỉnh theo quy định ở một số tài khoản Và báo cáo tài chính hợp nhất của công ty
mẹ cũng được trình bày như một báo cáo tài chính doanh nghiệp
* Nguyên tắc lập báo cáo tài chính
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” thìBCTC phải được trình bày một cách trung thực và hợp lý, phản ánh chính xác tìnhhình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp
Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý các BCTC phải được lập và trình bày trên
cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán và các quy định có liên quan hiện hành Do
đó khi lập báo cáo tài chính doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Trang 12- Nguyên tắc “Hoạt động liên tục”.
Nguyên tắc đòi hỏi người đứng đầu doanh nghiệp phải đánh giá về khả nănghoạt động liên tục của doanh nghiệp Nguyên tắc này cho biết doanh nghiệp đanghoạt động liên tục và sẽ hoạt động bình thường trong tương lai gần
- Nguyên tắc “Cơ sở kế toán dồn tích”
Nguyên tắc này đòi hỏi báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập theo cơ
sở dồn tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến luồng tiền Điều đó có nghĩa: cácgiao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thờiđiểm thực thu, thực chi và được ghi nhận vào sổ kế toán và báo cáo tài chính củacác kỳ kế toán liên quan
- Nguyên tắc “Nhất quán”
Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính phải nhấtquán từ niên độ này sang niên độ khác trừ khi có sự thay đổi đáng kể về bản chấtcác hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại việc trình bày báo cáo tàichính cho thấy cần phải thay đổi để trình bày một cách hợp lý hơn trong các giaodịch và các sự kiện hoặc một chuẩn mực kinh tế khác yêu cầu có sự thay đổi trongviệc trình bày Việc thay đổi cách trình bày báo cáo tài chính chỉ được thực hiện khicấu trúc trình bày mới sẽ được duy trì lâu dài trong tương lai hoặc lợi ích của cáchtrình bày mới được xác định rõ ràng Đồng thời khi có thay đổi doanh nghiệp cầnphải phân loại lại các thông tin mang tính so sánh sao cho bảo đảm tính so sánhđược của chỉ tiêu và phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi trong phầnthuyết minh báo cáo tài chính
- Nguyên tắc “Trọng yếu”
Một thông tin được coi là trọng yếu nếu không được trình bày hoặc trình bàythiếu chính xác có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộcvào quy mô và tính chất của các khoản mục được đánh giá trong từng tình huống cụthể nếu khoản mục này không được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính.Nguyên tắc trọng yếu đòi hỏi từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệttrong báo cáo tài chính Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng
Trang 13rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc có cùng chức năngtrong báo cáo tài chính hoặc trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính.
- Nguyên tắc “Bù trừ”
Theo nguyên tắc này các khoản mục tài sản, nợ phải trả trình bày trên báocáo tài chính không được bù trừ, trừ khi có một chuẩn mực kế toán khác quy địnhcho phép bù trừ
- Nguyên tắc “So sánh”
Như đã trình bày ở nguyên tắc “nhất quán”, các thông tin phản ánh trên báocáo tài chính phải đảm bảo so sánh được giữa kỳ này so với kỳ khác ở cùng một chỉtiêu Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong báo cáotài chính, phải phân loại lại các số liệu so sánh (trừ khi việc này không thể thực hiệnđược) Và nếu không thể thực hiện được việc phân loại thì doanh nghiệp cần phảinêu rõ lý do và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại lại được thực hiện.[10,t57]
Việc lập báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán đã được chấpnhận rộng rãi là rất cần thiết giúp cho những người sử dụng thông tin của báo cáotài chính đánh giá được tính trung thực và hợp lý của báo cáo được trình bày
1.1.2 Nội dung và phương pháp lập báo cáo tài chính
Nội dung, phương pháp lập và trình bày các chỉ tiêu trong từng báo cáo tàichính đã quy định trong chế độ được áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp trên
cả nước Trong quá trình áp dụng nếu thấy cần thiết có thể bổ sung, sửa đổi hoặc chitiết các chỉ tiêu cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp nhưng phải được Bộ Tài chính chấp nhận bằng văn bản
Thông tin trình bày trong hệ thống BCTC Việt Nam về cơ bản cũng tươngđồng với những quy định trong chuẩn mực kế toán quốc tế Để đạt được mục đíchcủa BCTC, những thông tin cần phải trình bày trong BCTC như tên doanh nghiệp,ngày (niên độ), báo cáo doanh nghiệp riêng lẻ hay báo cáo cho một nhóm các doanhnghiệp, các bộ phận cấu thành của BCTC được lập
Trang 14Các BCTC phản ánh các hoạt động kinh tế bằng cách tập hợp chúng lạithành các khoản mục lớn có cùng tính chất kinh tế Những khoản mục này được gọi
là các yếu tố của BCTC Đây chính là những thông tin căn bản cần phải trình bàytrên các BCTC Cụ thể:
- Trên Bảng cân đối kế toán phản ánh các thông tin về tài sản và nguồn vốncủa doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo
- Trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các thông tin về thunhập, chi phí, lãi (lỗ) trong chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các thông tin về các luồng tiềntrong kỳ được phân loại thành tiền của hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư,hoạt động tài chính theo các cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh củadoanh nghiệp
- Trên thuyết minh báo cáo tài chính phản ánh khái quát đặc điểm hoạt độngsản xuất kinh doanh, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp áp dụng,tình hình và lý do biến động của một số đối tượng…
Để báo cáo tài chính hợp nhất cung cấp đầy đủ thông tin tài chính về toàn bộtập đoàn thì báo cáo tài chính hợp nhất được lập theo quy trình sau:
- Trên cơ sở từng dòng, cộng các khoản mục thuộc tài sản, nợ phải trả, vốnchủ sở hữu, thu nhập và các khoản chi phí
Các bút toán hợp nhất:
- Xoá bỏ tài khoản đầu tư trong Bảng CĐKT của công ty mẹ (bằng phần vốnchủ sở hữu của các cổ đông trong Bảng CĐKT của công ty con)
- Xoá bỏ những nghiệp vụ giao dịch giữa liên công ty (bán và mua) và các số
dư (khoản phải thu và phải trả)
- Xoá bỏ các khoản lợi nhuận chưa thực hiện được hoặc phát sinh từ cácnghiệp vụ được giao dịch liên công ty [8,t545]
1.2 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính
Có rất nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong phân tích báo cáotài chính Về mặt lý thuyết có rất nhiều phương pháp phân tích như phương pháp so
Trang 15sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ cân đối… Như vậy, phân tích báo cáo tài chính có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau.Trên quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng tuỳ vào từng điều kiện và mục đích phântích mà các nhà phân tích có thể vận dụng các phương pháp phân tích cho phù hợp.Một số phương pháp phân tích báo cáo tài chính thường được sử dụng là:
Để tiến hành so sánh được, cần lưu ý các vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, trong quá trình so sánh cần phải đảm bảo phương pháp so sánhcác điều kiện sau:
- Các chỉ tiêu được sử dụng để so sánh phải cùng phản ánh một nội dungkinh tế
- Các chỉ tiêu phải cùng một phương pháp tính toán
- Các chỉ tiêu phải được tính theo một đơn vị đo lường
- Các chỉ tiêu phải được thu thập ở cùng một phạm vi thời gian và cùng mộtphạm vi không gian
Tất cả các điều kiện kể trên được gọi chung là “tính có thể so sánh được”.Nếu không đảm phương pháp so sánhảo các điều kiện thì việc so sánh trở nên khậpkhiễng, không có giá trị, đôi khi còn phản ánh sai lệch thông tin
Trang 16Thứ hai, phải chọn được tiêu chuẩn so sánh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêucủa một kỳ được chọn làm căn cứ để so sánh, gọi là gốc so sánh Gốc so sánhthường được xác định theo không gian và thời gian Tuỳ vào mỗi mục đích phântích khác nhau người phân tích sẽ chọn gốc so sánh phù hợp Để đánh giá xu hướngphát triển của các chỉ tiêu, gốc so sánh được chọn là số liệu kỳ trước hoặc cùng kỳnày năm trước Để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán, định mức, gốc sosánh được chọn là số liệu kế hoạch, số liệu dự toán, số liệu định mức Để đánh giákết quả đạt được của DN so với DN khác gốc so sánh được chọn là DN có điều kiệntương đương hoặc số liệu trung bình ngành.
Quá trình so sánh có thể thực hiện bằng ba hình thức: So sánh theo chiềungang; so sánh theo chiều dọc và so sánh xác định xu hướng, tính chất liên hệ giữacác chỉ tiêu
So sánh ngang trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc so sánh,đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu,trên từng báo cáo tài chính Thực chất của phân tích này là phân tích sự biến động
về quy mô của từng khoản mục trên từng báo cáo tài chính của DN Qua đó xácđịnh mức biến động tăng hay giảm về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnhhưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
So sánh dọc trên báo cáo tài chính của DN chính là việc sử dụng các tỷ lệ,các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính,giữa các báo cáo tài chính của DN Thực chất việc so sánh theo chiều dọc là phântích sự biến động về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thốngbáo cáo tài chính DN Chẳng hạn trong Bảng cân đối kế toán, chỉ tiêu tổng tài sảnthể hiện quy mô chung, những khoản mục tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn được thểhiện bằng số tỷ lệ kết cấu so với tổng tài sản Hoặc trong Báo cáo kết quả kinhdoanh thông thường chỉ tiêu doanh thu thuần được lựa chọn làm quy mô chung đểxác định tỷ lệ của các chỉ tiêu khác so với doanh thu thuần
Trang 171.2.2 Phương pháp loại trừ
Phương pháp loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởngtừng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích và được thực hiện bằng cách khi xác định sự ảnhhưởng của nhân tố này thì phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác
Phương pháp lạo trừ được thực hiện bằng hai cách:
- Phương pháp số chênh lệch: dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố
- Phương pháp thay thế liên hoàn: Thay thế sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố
* Phương pháp số chênh lệch:
Phương pháp số chênh lệch là phương pháp dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếpcủa từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Bởi vậy trước hết phải biết số lượng các chỉtiêu nhân tố ảnh hưởng đến, môi quan hệ giữa các chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phântích, từ đó xác định công thức lượng hoặc ảnh hưởng của nhân tố đó Tiếp đó, phảisắp xếp và trình tự xác định sự ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu cần phântích theo quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi Nghĩa là sắp xếp nhân tố số lượngtrước, nhân tố chất lượng sau Trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng và chấtlượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau Trình tự xác định sựảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích cũng được thực hiện theo nguyêntắc trên Có thể khái quát hoá mô hình phương pháp số chênh lệch như sau:
Giả sử chỉ tiêu X cẩn phân tích phụ thuộc vào ba nhân tố ảnh hưởng có thứ
tự sắp xếp là a, b, c và các nhân tố này có quan hệ tích số với chỉ tiêu cần phân tích
X => X = a.b.c
Ta có: Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ phân tích: X1 = a1.b1.c1
Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ gốc: X0 = a0.b0.c0
- Số tuyệt đối: ∆X = X1 – X0
- Số tương đối: X1/X0 x 100
∆X là số chênh lệch tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích giữa kỳ phân tích và kỳgốc Bằng phương pháp số chệnh lệch, có thể xác định sự ảnh hưởng lần lượt từngnhân tố đến chỉ tiêu phân tích như sau:
- Ảnh hưởng của nhân tố a: ∆Xa = (a1 – a0).b1.c1
Trang 18- Ảnh hưởng của nhân tố b: ∆Xb = (b1 – b0).a1.c1
- Ảnh hưởng của nhân tố c: ∆Xc = (c1 – c0)a1.b1
Cuối cùng là tổng hợp, phân tích và kiến nghị:
∆X = ∆Xa + ∆Xb + ∆Xc
Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tốcần rút ra những kết luận và kiến nghị giải pháp thiết thực nhằm không ngừng nângcao kết quả của chỉ tiêu phân tích
* Phương pháp thay thế liên hoàn:
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởngcủa từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích bằng cách thay thế lần lượt(mỗi lần một nhân tố) các nhân tố từ giá kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị sốcủa chỉ tiêu phân tích khi trị số nhân tố thay đổi Chênh lệch giữa kết quả thay thếnhân tố lần sau với kết quả thay thế lần trước chính là ảnh hưởng của nhân tố vừathay thế đến sự biến động của chỉ tiêu cần phân tích Phương pháp thay thế liênhoàn được thực hiện qua các bước sau:
- Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích, các nhân tố này đòi hỏiphải có quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu phân tích dưới dạng tích số hoặc thương số
Bằng những giả định và ký hiệu như trên có thể minh hoạ phương pháp thaythế liên hoàn như sau:
Giả sử chỉ tiêu phân tích X chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố a, b, c, và có quan
hệ với X dưới dạng tích số: X= a.b.c
Trang 191.2.3 Phương pháp liên hệ cân đối
Phương pháp liên hệ cân đối cùng để phân tích mức độ ảnh hưởng của cácnhân tố mà giữa chúng có sẵn mối liên hệ cân đối và chúng là những nhân tố độclập Một lượng thay đổi trong mỗi nhân tố sẽ làm thay đổi trong chỉ tiêu phân tíchđúng một lượng tương ứng Những liên hệ cân đối thường gặp trong phân tích tàichính như: tài sản và nguồn vốn, đẳng thức quá trình kinh doanh, cân đối hàng tồnkho, nhu cầu vốn và sử dụng vốn,…
Giả sử có chỉ tiêu X cần phân tích, các nhân tố a, b, c có quan hệ độc lập ảnhhưởng đến chỉ tiêu cần phân tích
Quan hệ của X với các nhân tố: X = a + b – c
Ta gọi ∆X là đối tượng cần phân tích:
∆X = X1-X0 = ∆a + ∆b - ∆c
Ta có: ∆a = a1 – a0, ∆b = b1 – b0, ∆c = c1 – c0
Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng: ∆X = ∆a + ∆b - ∆c
Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tốđến chỉ tiêu phân tích cần rút ra những nguyên nhân và kiến nghị những giải phápnhằm đưa quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đật được những kết quảcao hơn
1.2.4 Một số phương pháp khác
Ngoài các phương pháp trên, trong quá trình phân tích BCTC, các nhà phântích còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp Dupont, phươngpháp tỷ lệ
Phương pháp Dupont: Phương pháp này lần đầu tiên được công ty Dupont ápdụng nên được gọi là phương pháp Dupont, phân tích các chỉ tiêu suất sinh lời dựavào mối quan hệ với các chỉ tiêu khác Theo phương pháp này, suất sinh lời của vốnchủ sở hữu được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 20Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời
theo phương pháp Dupont
Phương pháp tỷ lệ: Đây là một dạng đặc biệt của phương pháp so sánh, bằngcách so sánh các chỉ tiêu Một tỷ lệ là mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu hoặc hai nhómchỉ tiêu Tất nhiên các chỉ tiêu được chọn để so sánh phải có quan hệ với nhau thìmới thu được tỷ lệ có ý nghĩa Chọn đúng tỷ lệ và tiến hành phân tích chúng sẽ pháthiện được tình hình tài chính Phân tích tỷ lệ cho phép phân tích đầy đủ khuynhhướng vì “một số dấu hiệu có thể được kết luận thông qua quan sát số lớn các hiệntượng nghiên cứu riêng rẽ” [17,t25]
Trên đây là một số phương pháp cơ bản thường được sử dụng trong phân tíchbáo cáo tài chính Vì một nội dung cần phân tích có thể được phản ánh qua nhiềuchỉ tiêu nên các nhà phân tích có thể vận dụng phương pháp phân tích phù hợp vớinội dung và chỉ tiêu cần phân tích
Suất sinh lời của vốn chủ
sở hữu (ROE)
Hệ số tài sản trên
vốn chủ sở hữu Suất sinh lời củatổng tài sản
Số vòng quay của
Doanh thu : Tổng tài sản bình quân Lợi nhuận sau thuế : Doanh thu
X X
Trang 211.3 Nội dung phân tích báo cáo tài chính
1.3.1 Ý nghĩa phân tích hệ thống báo cáo tài chính
Quan tâm đến hệ thống BCTC doanh nghiệp gồm nhiều nhóm người khácnhau, cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, có quan hệ lợi ích với doanh nghiệp
ở những mức độ khác nhau
Đối với chủ doanh nghiệp cần hiểu rõ tình hình tài chính, kết quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Họ cũng là người có nhiều lợi thế nhất trong phântích tài chính Do đó thông tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động vốn,khả năng sinh lãi, khả năng trả nợ, tình hình thu chi tài chính, rủi ro tài chính doanhnghiệp giúp họ đánh giá các hoạt động kinh doanh trong kỳ đồng thời giúp họ ra cácquyết định về đầu tư, tài trợ, phân chia lợi nhuận, cổ phần,… Do đó kết quả củaphân tích tài chính không những giúp họ khắc phục những mặt thiếu sót, hạn chế,phát huy những mặt tích cực trong quá trình kinh doanh mà còn giúp họ dự đoánđược tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương lai
Đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp: như các nhà đầu tư, các chủ
nợ, các nhà cung cấp, các đối tác kinh doanh sẽ quan tâm đến thực trạng tài chính,tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lãi, khả năng thanh toán để đưa ra cácquyết định về đầu tư, liên doanh liên kết hay cho vay về mặt quy mô và thời hạncho vay
Đối với các cổ đông tương lai và hiện hữu với mục đích là kiếm lợi nhuận từ
cổ phiếu doanh nghiệp nên họ cũng quan tâm đến phân tích báo cáo tài chính đểquyết định xem có nên đầu tư, có nên tiếp tục nắm giữ cổ phiếu doanh nghiệp nữahay không
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan thuế, thống kê, thanh tra,kiểm toán phân tích báo cáo tài chính cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ chothực hiện chức năng quản lý vĩ mô, cho những công việc cụ thể của họ
Các đối thủ cạnh tranh cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi, doanh thu và cácchỉ tiêu tài chính khác trong điều kiện có thể sẽ tìm biện pháp cạnh tranh với doanhnghiệp Do đó, đây cũng là đối tượng quan tâm đến phân tích báo cáo tài chính
Trang 22Ngoài ra, những người lao động, những người đang đi tìm việc làm cũng cóthể rất quan tâm đến thông tin từ phân tích báo cáo tài chính Bởi vì ai đi làm cũngmong muốn nhận được mức lương cao, công việc ổn định thì nguồn thông tin từphân tích báo cáo tài chính giúp họ đánh giá được triển vọng của doanh nghiệptrong tương lai, nơi mà họ đang làm việc hoặc muốn tìm đến làm việc.
Các thông tin từ phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp nói chung cònđược cả nhà nghiên cứu, các sinh viên kinh tế quan tâm phục vụ cho mục đíchnghiên cứu, học tập của họ
Như vậy, đối tượng quan tâm đến phân tích báo cáo tài chính là rất đông, từnhóm có quan hệ lợi ích trực tiếp như nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, đối táckinh doanh, cơ quan thuế…đến nhóm có quan hệ lợi ích gián tiếp như đối thủ cạnhtranh, cơ quan thống kê, viện nghiên cứu, sinh viên, người lao động Điều này chothấy tầm quan trọng của việc phân tích báo cáo tài chính trong nền kinh tế thịtrường nói chung và thị trường tài chính nói riêng
1.3.2 Nội dung phân tích hệ thống báo cáo tài chính
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải cóvốn Do đó việc huy động, phân phối và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả là mốiquan tâm hàng đầu của các nhà quản lý doanh nghiệp Muốn có thông tin chính xác
về thực trạng tài chính đó thì các nhà quản trị phải thường xuyên phân tích hệ thốngbáo cáo tài chính doanh nghiệp Việc phân tích này giúp họ xác định được thựctrạng tài chính, xác định được rõ các nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từngnhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Để phát huy hết vai trò và nhiệm
vụ của phân tích báo cáo tài chính thì nội dung cơ bản của phân tích báo cáo tàichính có thể đi theo hai cách tiếp cận sau:
Phân tích hệ thống chỉ tiêu thông tin kế toán được trình bày trên từng báocáo tài chính doanh nghiệp như:
- Phân tích Bảng cân đối kế toán
- Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
- Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 23- Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính
Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo và trên các báo cáotài chính nhằm đánh giá những nội dung cơ bản sau: [15,t16]
- Phân tích cấu trúc tình hình tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh
- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
- Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Phân tích khả năng sinh lời của tài sản
- Định giá doanh nghiệp và phân tích tình hình rủi ro tài chính của doanh nghiệpNội dung phân tích kết hợp đi theo hai cách tiếp cận trên sẽ giúp cho các nhàphân tích thấy được “bức tranh tài chính” của doanh nghiệp đầy đủ và sinh độnghơn Tuỳ theo mục đích và nhiệm vụ phân tích các nhà phân tích có thể lựa chọnnhững nội dung, những chỉ tiêu cho phù hợp Và dù đi theo cách tiếp cận nào thì nộidung phân tích báo cáo tài chính phải đảm bảo thể hiện các chỉ tiêu phân tích sau”
1.3.2.1 Phân tích cấu trúc tài chính
Cấu trúc tài chính là một khái niệm rộng, phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúcnguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp Để phântích khái quát tình hình huy động vốn và sử dụng vốn, nhà phân tích tiến hành phântích tài sản và cơ cấu nguồn vốn
* Phân tích cơ cấu tài sản:
Khi xem xét cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cũng như từngloại tài sản cuối kỳ so với đầu năm còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếmtrong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lý củaviệc phân bổ Tỷ trọng này được tính như sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản
chiếm trong tổng số tài sản =
Giá trị của từng bộ phận tài sản
x 100Tổng số tài sản
Việc đánh giá mức độ hợp lý trong việc phân bổ tài sản phải căn cứ trên tínhchất của lĩnh vực, ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh, tính thời vụ hoặcchính sách đầu tư của doanh nghiệp
Trang 24Đối với TSCĐ, tỷ trọng của tài sản này trong tổng số đối với từng ngànhnghề là khác nhau Tỷ trọng này thường cao đối với các doanh nghiệp sản xuất, nhất
là hoạt động trong những ngành có hàm lượng kỹ thuật cao như: công nghiệp thăm
dò khai thác dầu khí (90%), ngành luyện kim (70%) Ngược lại, trong các ngànhkinh doanh thương mại, dịch vụ, thông thường tỷ trọng TSCĐ thấp, ngoại trừ trongtrường hợp kinh doanh khách sạn và hoạt động vui chơi giải trí Do những đặc điểmtrên, để đánh giá hợp lý trong đầu tư TSCĐ cần xem xét đến số liệu trung bìnhngành Ngoài ra, tỷ trọng TSCĐ còn phụ thuộc vào chính sách đầu tư, phương phápkhấu hao mà doanh nghiệp đang áp dụng
Đối với hàng tồn kho, tỷ trọng loại tài sản này cũng phụ thuộc đặc điểm hoạtđộng sản xuất kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp Trong các doanh nghiệpsản xuất có chu kỳ kinh doanh dài như xây lắp, đóng tầu, tỷ trọng hàng tồn kho sẽcao Các doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho là đối tượng cơ bản trong kinhdoanh nên tỷ trọng cũng tương đối cao hơn so với các loại tài sản khác Ngược lại,doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì tỷ trọng hàng tồn kho thấp Tỷ trọng loại tàisản này còn phụ thuộc vào chính sách dự trữ và tính thời vụ trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Ngoài ra khi phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cần xem xéttrong mối tương quan với tăng trưởng doanh nghiệp
Đối với các khoản phải thu khách hàng, tỷ trọng của loại tài sản này phụthuộc vào phương thức bán hàng, chính sách bán hàng, khả năng quản lý nợ củadoanh nghiệp Nếu doanh nghiệp bán lẻ, bán hàng thu tiền ngay thì tỷ trọng khoảnphải thu thấp và ngược lại đối với doanh nghiệp bán buôn thì tỷ trọng này lại lớn.Nếu thời hạn tín dụng dài, số dư định mức cho khách hàng cao thì tỷ trọng khoảnphải thu lớn và ngược lại Tuy nhiên, tín dụng bán hàng lại ảnh hưởng đến doanh sốbán hàng nên khi đánh giá tính hợp lý của chỉ tiêu này cần đặt trong mối quan hệvới doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp
Trong trường hợp thu thập đầy đủ số liệu, nên phân tích sự biến động về tỷtrọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản của doanh nghiệp qua
Trang 25nhiều năm khác nhau, đồng thời có thể so sánh với cơ cấu chung của ngành để việcđánh giá được hoàn thiện hơn.
* Phân tích cơ cấu nguồn vốn:
Phân tích cơ cấu nguồn vốn được thực hiện nhằm đánh giá tình hình huyđộng vốn của doanh nghiệp Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương
tự với việc phân tích cơ cấu tài sản Ngoài ra việc so sánh sự biến động trên tổng sốnguồn vốn cũng như từng nguồn vốn cuối kỳ so với đầu năm, các nhà phân tích cònphải xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biếnđộng của chúng nhằm đánh giá được khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanhnghiệp cũng như mức độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh
Tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng số được xác định như sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn
vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn =
Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn
x 100Tổng số nguồn vốn
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng số nguồn vốnthì doanh nghiệp đủ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập củadoanh nghiệp đối với các chủ nợ là cao và ngược lại Tuy nhiên để thấy rõ hơn khảnăng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, các nhà phân tích thường sử dụng cácchỉ tiêu sau:
- Hệ số tài trợ: Là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chínhđộc lập và mức độ độc lập của doanh nghiệp Qua chỉ tiêu này cho biết vốn chủ sởhữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp Trị số củachỉ tiêu càng lớn thể hiện khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính, mức độ độc lập vềtài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Chỉ tiêu này được tính theo côngthức sau:
Hệ số tài trợ = Tổng số nguồn vốnVốn chủ sở hữu
- Hệ số nợ so với tài sản: chỉ tiêu này phản ánh mức độ tài trợ tài sản củadoanh nghiệp bằng các khoản nợ Hệ số nợ so với tài sản = 1 – Hệ số tài trợ
Do đó để giảm hệ số nợ so với tài sản, doanh nghiệp phải tìm mọi cách đểtăng hệ số tài trợ
Trang 26- Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đảm bảo nợbởi vốn chủ sở hữu doanh nghiệp Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ mức độđảm bảo của vốn chủ sở hữu đối với các khoản nợ càng lớn, tính tự chủ của doanhnghiệp càng cao.
- Hệ số tự tài trợ (còn gọi là hệ số vốn chủ sở hữu trên tài sản dài hạn): là chỉtiêu phản ánh mức độ đầu tư của vốn chủ sở hữu vào TSDH là bao nhiêu Trị số củachỉ tiêu càng cao, chứng tỏ vốn chủ sở hữu được đầu tư vào TSDH càng lớn Điềunày tuy giúp doanh nghiệp tự bảo đảm về mặt tài chính nhưng hiệu quả kinh doanh
sẽ không cao do vốn đầu tư chủ yếu là TSDH, ít sử dụng vào kinh doanh để quayvòng sinh lợi
Khi phân tích tính tự chủ về tài chính cần sử dụng số liệu trung bình ngành,
số liệu của các doanh nghiệp khác tương đương hoặc số liệu định mức mà ngânhàng quy định đối với doanh nghiệp Đồng thời, để đánh giá chính xác, hợp lý vềmức độ an toàn tài chính, các nhà phân tích cần liên hệ với chính sách huy động vốn
và chính sách đầu tư trong từng thời kỳ của doanh nghiệp Ở các doanh nghiệp cótrị số chỉ tiêu “Hệ số tài trợ” thấp, “Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn” cao sẽ gặpnhiều khó khăn khi huy động vốn từ các nhà đầu tư, các ngân hàng…Do đó doanhnghiệp cần phải có các giải pháp thích hợp để duy trì tỷ trọng nợ phải trả và vốn chủ
sở hữu một cách phù hợp nhất
1.3.2.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng tài sản nhất định
để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó vấn đề quan trọng đối với nhàquản lý là tìm nguồn tài trợ như thế nào để đảm bảo luôn có đủ tài sản cho quá trìnhkinh doanh được tiến hành liên tục và có hiệu quả Về thực chất, phân tích tình hìnhđảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh chính là việc xem xét mối quan hệ cân đốigiữa tài sản và nguồn tài trợ tài sản hay chính là phân tích cân bằng tài chính củadoanh nghiệp Cấu trúc của nguồn vốn không chỉ thể hiện tính tự chủ trong tài chính
mà còn thể hiện tính ổn định trong tài trợ Dưới góc độ ổn định trong tài trợ, toàn bộnguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nguồn tài trợ thường xuyên và nguồn
Trang 27tài trợ tạm thời Nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp được
sử dụng lâu dài, thường xuyên vào hoạt động kinh doanh, nguồn tài trợ thườngxuyên trong doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản vay, nợ dàihạn, các khoản vay, nợ trung hạn Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn tài trợ mà doanhnghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn, nguồn tài trợtạm thời trong doanh nghiệp bao gồm các khoản vay, các khoản vay nợ quá hạn, cáckhoản chiếm dụng bất hợp pháp của các cá nhân và tổ chức khác
Dưới góc độ này, cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳng thức sau:
Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn = Nguồn tài trợ
thường xuyên +
Nguồn tài trợtạm thờiĐồng thời cân bằng tài chính có thể được khái quát dưới sơ đồ sau:
số nguồn tài trợ
Tài
sản
ngắn
hạn
- Tiền và tương đương tiền
- Đầu tư Tài chính NH
Nguồn tài trợ tạm thời
Sơ đồ 1.2: Nguồn tài trợ tài sản
Dưới góc độ ổn định về nguồn tài trợ tài sản, phân tích báo cáo tài chính cânbằng tài chính của doanh nghiệp sẽ cung cấp cho nhà quản lý biết được sự an toàn,tính bền vững, cân đối trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng nhưnhững nhân tố có thể gây ảnh hưởng đến cân bằng tài chính Khi phân tích cân bằngtài chính, trước hết cần so sánh tổng nhu cầu về tài sản với nguồn tài trợ thườngxuyên Nếu các nguồn tài trợ thường xuyên trang trải đủ hoặc thừa tổng nhu cầu vềtài sản thì doanh nghiệp cần sử dụng hợp lý số dôi ra này để tránh bị chiếm dụngvốn Ngược lại, khi nguồn tài trợ thường xuyên không đáp ứng đủ nhu cầu về tàisản thì doanh nghiệp cần phải có biện pháp huy động và sử dụng phù hợp Đồng
Trang 28thời, đối với từng nguồn tài trợ, cần phải phân tích sự biến động về tổng số cũngnhư từng loại giữa cuối kỳ so với đầu năm và dựa vào sự biến động của bản thântừng nguồn tài trợ để rút ra nhận xét.
Từ đẳng thức cân bằng tài chính trên đây, ta có thể biến đổi như sau:
Tài sản ngắn hạn - Nguồn tài trợ = Nguồn tài trợ thường xuyên - Tài sản dài hạn
Về thực chất, nguồn tài trợ tạm thời cũng chính là số nợ ngắn hạn phải trả, vếtrái của đẳng thức trên cũng chính là chỉ tiêu” Vốn hoạt động thuần” Vốn hoạtđộng thuần là chỉ tiêu phản ánh số vốn của doanh nghiệp được sử dụng để duy trìnhững hoạt động bình thường, diễn ra thường xuyên tại doanh nghiệp Với số vốnhoạt động này, doanh nghiệp có khả năng đảm bảo chi trả cho các hoạt động diễn ra
mà không cần vay, mượn hay chiếm dụng bất cứ một khoản nào khác
Như vậy ta có thể tính vốn hoạt động thuần theo cách sau:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn (1)
Hay:
Vốn hoạt động thuần = Nguồn tài trợ thường xuyên - Tài sản dài hạn (2)
Ở cân đối (1) cho biết vốn hoạt động thuần được tài trợ chủ yếu cho TSNH lànhững tài sản có tính thanh khoản cao (tiền và tương đương tiền, nợ phải thu ngắnhạn và hàng tồn kho…) Ở cân đối (2) vốn hoạt động thuần thể hiện quan hệ tài trợthường xuyên với TSDH
Vốn hoạt động thuần có thể nhỏ hơn, lớn hơn hoặc bằng 0 Trong mỗi trườnghợp có ý nghĩa khác nhau:
- Trường hợp vốn hoạt động thuần >0:
Trong trường hợp này nguồn tài trợ thường xuyên của doanh nghiệp khôngnhững được sử dụng để trang trải cho TSDH mà còn trang trải một phần cho TSNH.Lúc này cân bằng tài chính được coi là cân bằng tốt, an toàn, bền vững Một doanhnghiệp muốn hoạt động không bị gián đoạn thì cần thiết phải duy trì một mức vốnhoạt động thuần hợp lý để thoả mãn việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và dựtrữ hàng tồn kho Vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp càng lớn, khả năng thanh
Trang 29toán của doanh nghiệp càng cao Ngược lại, khi vốn hoạt động thuần giảm sút,doanh nghiệp mất dần khả năng thanh toán.
- Trường hợp vốn hoạt động thuần < 0:
Trong trường hợp này, nguồn tài trợ thường xuyên không đủ để tài trợ choTSDH nên phần thiếu hụt doanh nghiệp phải bù đắp bằng nợ ngắn hạn Cân bằng tàichính trong trường hợp này là không tốt, vì doanh nghiệp luôn rơi vào tình trạngchịu áp lực nặng nề về thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán luônmất cân bằng Khi vốn hoạt động thuần càng nhỏ hơn 0, doanh nghiệp càng khókhăn trong thanh toán và có nguy cơ phá sản
- Trường hợp vốn hoạt động thuần = 0:
Trong trường hợp này, nguồn tài trợ thường xuyên của doanh nghiệp vừa đủ
để trang trải cho TSDH nên không cần huy động thêm ở nợ ngắn hạn để bù đắp.Lúc này, cân bằng tài chính xảy ra, tuy nhiên tính ổn định chưa cao, vẫn tồn tạinguy cơ rơi vào tình trạng mất cân bằng
Những nghiên cứu trên đây mới chỉ xem xét vốn hoạt động thuần tại mộtthời điểm Để có căn cứ đánh giá tính ổn định và bền vững của cân bằng tài chính,các nhà phân tích cần phải xem xét sự biến động của vốn hoạt động thuần trongnhiều năm liên tục Điều này sẽ giúp loại trừ những sai lệch về mặt số liệu do tínhthời vụ hay tính chu kỳ trong kinh doanh, lại vừa cho phép dự đoán được tính ổnđịnh và cân bằng tài chính trong tương lai
Ngoài ra, để có nhận xét chính xác và toàn diện về tình hình đảm bảo vốncho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khi phân tích các nhà phân tích còn sửdụng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số tài trợ thường xuyên: Chỉ tiêu này cho biết nguồn tài trợ thườngxuyên chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng nguồn tài trợ của tài sản của doanhnghiệp Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện tính cân bằng và ổn định tài chính của doanhnghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số tài trợ tạm thời: Chỉ tiêu này cho biết nguồn tài trợ tạm thời chiếm tỷtrọng bao nhiêu trong tổng nguồn tài trợ của tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này
Trang 30càng nhỏ thể hiện tính cân bằng và ổn định tài chính của doanh nghiệp càng cao vàngược lại
- Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên: Chỉ tiêu này chobiết vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số nguồn tài trợ thườngxuyên Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện tính tự chủ, độc lập về tài chính của doanhnghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với TSDH: Chỉ tiêu này cho biếtmức độ tài trợ TSDH bằng nguồn tài trợ thường xuyên Chỉ tiêu này càng lớn thểhiện tính ổn định và bền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết mức
độ tài trợ TSNH bằng nợ ngắn hạn là cao hay thấp Chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, thểhiện tính ổn định, bền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
1.3.2.3 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chấtlượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động tài chínhtốt, khả năng thanh toán sẽ cao, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, ít bị chiếm dụng vốncũng như ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu doanh nghiệp hoạt động tài chínhkém thì dẫn đến tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chiếm dụng vốnlẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa, kéo dài
* Phân tích khả năng thanh toán
Để phân tích khả năng thanh toán, các nhà phân tích thường dùng các chỉtiêu liên quan đến hệ số thanh toán sau:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng số nợ phải trảTổng sô tài sản
Có sự khác nhau về cách tính chỉ tiêu này Các nhà khoa học Trường Đại họcKinh tế quốc dân xác định hệ số khả năng thanh toán tổng quát theo công thức trên.Còn theo một số tác giả Học viện Tài chính kế toán xác định tử số của công thứctrên là Tiền và tương đương tiền có thể thanh toán, và mẫu số là tổng số nợ ngắnhạn phải thanh toán Theo tác giả cách xác định hệ số khả năng thanh toán tổng quátcủa các nhà khoa học Trường Đại học Kinh tế quốc dân là hợp lý Còn cách xác
Trang 31định của các nhà khoa học Học viện Tài chính chỉ đúng khi xác định chỉ tiêu khảnăng thanh toán nợ ngắn hạn.
Nếu trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” luôn ≥1 thìdoanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán và ngược lại, trị số này càng <1thì doanh nghiệp mất dần khả năng thanh toán
Để đánh giá khả năng thanh toán tạm thời các khoản nợ ngắn hạn của doanhnghiệp trong kỳ báo cáo, các nhà phân tích sử dụng chỉ tiêu “Hệ số thanh toán nợngắn hạn” Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tổng giá trị thuần của TSNHTổng số nợ ngắn hạnCách xác định hệ số này, các tác giả Học Viện Tài chính cho rằng phần mẫu
số bao gồm tổng số nợ ngắn hạn đã đến hạn và quá hạn Thực ra, số nợ ngắn hạn,
nợ khác đã đến và quá hạn phải dựa vào chi tiết công nợ của đơn vị Do đó phầnmẫu số xác định tổng số nợ ngắn hạn, theo tác giả vẫn là cách xác định đầy đủ, bởi
vì dù là nợ đã đến và quá hạn cũng đều nằm trong tổng số nợ ngắn hạn phải trả màthôi
Chỉ tiêu này cho biết khả năng giá trị thuần của TSNH đảm đương các khoản
nợ ngắn hạn mà không cần phải vay thêm Theo PGS.TS Nguyễn Văn Công, nếuchỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợvay ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏhơn 1 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp Tác giảNguyễn Tấn Bình cho rằng, chỉ tiêu này “thông thường lớn hơn hoặc bằng 2 thìđược xem là lành mạnh” Cũng có tác giả cho rằng, “hệ số thanh toán ngắn hạnđược các chủ nợ chấp nhận là bằng 2” Tuy nhiên để đánh giá hệ số này của doanhnghiệp là tốt hay xấu cần phải xem xét thêm các yếu tố: bản chất kinh doanh, cơ cấutài sản ngắn hạn, hệ số quay vòng của từng loại tài sản ngắn hạn
Bên cạnh chỉ tiêu “hệ số thanh toán nợ ngắn hạn”, các nhà phân tích còn sửdụng chỉ tiêu “hệ số thanh toán nhanh” để đánh giá khả năng thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền, các khoản tương đương tiền và các khoảnđầu tư tài chính ngắn hạn Chỉ tiêu này được tính như sau:
Trang 32Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn khoTổng số nợ ngắn hạnTrong các tài liệu khác, tử số của công thức trên có thể tính bằng các chỉ tiêukhác nhau, như: Tiền cộng với đầu tư chứng khoán ngắn hạn và khoản phải thu củakhách hàng hay tài sản lưu động trừ cho hàng tồn kho Trong nền kinh tế thị trườngnói chung và thị trường tài chính, tiền tệ chưa phát triển như ở Việt Nam, việc traođổi, mua bán các khoản phải thu chưa trôi chảy thì tử số của công thức này nên làtiền và các khoản tương đương tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Tuynhiên công thức chỉ là bước dẫn đường, là một cách cô đọng ý tưởng của vấn đề,đối với từng doanh nghiệp cụ thể, có thể sử dụng các chỉ tiêu trên tử số của côngthức một cách linh hoạt, bởi “về nguyên tắc, tất cả những tài sản có thể biến thànhtiền đều có thể đặt trên tử số” [5,t494] Điều này được thấy rõ nét nhất đối vớidoanh nghiệp kinh doanh vàng bạc, đá quý, hàng tồn kho chính là vàng bạc, khảnăng thanh khoản của loại hàng này rất cao, do đó nó hoàn toàn có thể trả nợ nhanh.
Thực tế cho thấy, nếu hệ số thanh toán nhanh lớn hơn 0,5 thì tình hình thanhtoán tương đối khả quan, nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp gặp khó khăntrong việc thanh toán công nợ Tuy nhiên hệ số này quá lớn lại gây ra tình trạng mấtcân đối của TSNH do khi tập trung quá nhiều vốn bằng tiền và các chứng khoánngắn hạn
Các chỉ tiêu “hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn”, “hệ số khả năng thanhtoán nhanh” mang tính thời điểm vì tính toán dựa trên số liệu của bảng cân đối kếtoán nên trong nhiều trường hợp, các chỉ tiêu này phản ánh không đúng tình hìnhthực tế Vì vậy các nhà phân tích cần kết hợp với các chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanhtoán của tiền và các khoản tương đương tiền” Hệ số này khắc phục được nhượcđiểm của hai chỉ tiêu trên vì nó xác định cho cả kỳ kinh doanh và nó không phụthuộc vào yếu tố thời vụ
Hệ số khả năng thanh toán ngay = Nợ quá hạn và đến hạnTiền
Chỉ tiêu này cho biết với dòng tiền thuần tạo ra từ các hoạt động của doanhnghiệp trong kỳ, doanh nghiệp có đủ khả năng đảm bảo dược khả năng thanh toán
Trang 33các khoản nợ quá hạn và đến hạn hay không Do tính chất của các hoạt động màdoanh nghiệp tiến hành, trong điều kiện cho phép, chỉ tiêu này có thể được xác địnhriêng cho từng hoạt động (hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tàichính).
1.3.2.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh
Bản thân hoạt động kinh doanh đã là một hoạt động kiếm lời, bởi vậy mốiquan tâm thường trực của các nhà đầu tư không ngừng nâng cao hiệu quả kinhdoanh, thu được nhiều lợi nhuận
Để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, thông thường các nhà phân tíchthường sử dụng các chỉ tiêu như: sức sinh lời của tài sản, sức sinh lời của vốn chủ
sở hữu, tỷ suất lợi nhuận so với chi phí, lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu
Sức sinh lời của tài sản: Để thấy được lợi nhuận tạo ra từ tài sản đầu tư, các nhàphân tích thường tính chỉ tiêu sức sinh lời của tài sản, và chỉ tiêu này được tính theocông thức sau:
Tỷ suất sinh lời
Kinh tế của tài sản =
Tổng lợi nhuận kế toán trước
thuế và lãi vay x 100Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích 1 đồng tài sản đầu tư bỏ ra thì thuđược bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập doanh nghiệp và lãi vay.Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tốt, đó là nhân tố góp phầnnâng cao hiêu quả sử dụng vốn
Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu:
Để đánh giá được khả năng tạo ra lợi nhuận của vốn chủ sở hữu trong quátrình hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích sử dụng chỉ tiêu sức sinh lời của vốnchủ sở hữu Đặc biệt các công ty cổ phần, các nhà đầu tư lại càng quan tâm đến chỉtiêu này Chỉ tiêu này được tính như sau:
Sức sinh lời
của vốn chủ sở hữu =
Tổng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
Vốn chủ sở hữu bình quân
Trang 34Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn chủ sở hữu thì thu được bao nhiêu lợi nhuậnsau thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụngvốn chủ sở hữu càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp.
Để đánh giá trình độ tổ chức sản xuất, sử dụng các yếu tố của quá trình sảnxuất, các nhà phân tích thường xem xét chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận so với chi phí Chỉtiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận
so với chi phí =
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
Tổng chi phí trong kỳChỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chiphí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao, hiệu quả sử dụngcác yếu tố sản xuất của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao mức lợi nhuậntrong kỳ
Lãi cơ bản trên cổ phiếu:
Để xem xét khả năng tạo ra lợi nhuận của mỗi cổ phiếu phổ thông đang lưuhành trong kỳ phân tích, các nhà phân tích xem xét chỉ tiêu lãi cơ bản trên cổ phiếu.Chỉ tiêu này được tính như sau:
Lãi cơ bản trên
Lãi (Lỗ) được chia cho các cổ phiếu phổ thôngTổng cổ phiếu phổ thông trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết, các cổ đông đầu tư 1 đồng cổ phiếu phổ thông theomệnh giá thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng hấpdẫn các nhà đầu tư
Để đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh các nhà phân tíchthường đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định và tài sản ngắn hạn
Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Hiệu quả sử dụng TSCĐ được tính toán bằng nhiểu chỉ tiêu nhưng phổ biến
là các chỉ tiêu sau:
- Sức sản xuất của TSCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị nguyên giá bìnhquân của TSCĐ đem lại bao nhiêu đơn vị tổng giá trị sản xuất Chỉ tiêu này đượctính như sau:
Trang 35Sức sản xuất của TSCĐ = Giá trị còn lại của TSCĐ Tổng giá trị sản xuất
Sức sản xuất của TSCĐ càng lớn, hiệu quả sử dụng TSCĐ càng tăng, vàngược lại, sức sản xuất của TSCĐ càng nhỏ, hiệu quả sử dụng TSCĐ càng nhỏ.Trong công thức trên, chỉ tiêu “Tổng giá trị sản xuất” được tính như sau:
Tổng giá trị sản xuất = Doanh thu thuần về bán hàng và dịch vụ ± Chênhlệch cuối kỳ so với đầu kỳ của thành phẩm tồn kho, hàng gởi bán, sản phẩm dởdang + giá trị nguyên liệu nhận gia công cho khách hàng
- Sức sinh lời của TSCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh nguyên giá bình quân củaTSCĐ đem lại mấy đơn vị lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
Sức sinh lời của TSCĐ = Lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế Giá trị còn lại của TSCĐ
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ càng lớn và ngượclại
- Sức hao phí của TSCĐ: Chỉ tiêu này cho biết, để có 1 đơn vị tổng giá trịsản xuất, doanh nghiệp cần phải có bao nhiêu đơn vị nguyên giá bình quân TSCĐ
Sức hao phí của TSCĐ = Nguyên giá bình quân của TSCĐ Tổng giá trị sản xuất
Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng TSCĐ càng lớn và ngược lại.Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn:
Tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu phảnánh hiệu quả sử dụng TSNH Nếu tốc độ luân chuyển TSNH tăng thì hiệu quả sửdụng TSNH cao và ngược lại Để xác định tốc độ luân chuyển của TSNH khi phântích thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Số vòng quay của TSNH: Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh ,TSNH quay được mấy vòng Chỉ tiêu này được tính như sau:
Số vòng quay của TSNH = Tài sản ngắn hạn bình quânTổng số luân chuyển thuần
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao và ngượclại
- Thời gian của một vòng luân chuyển: Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cầnthiết để cho TSNH quay được một vòng Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Trang 36Thời gian của một vòng quay TSNH = Số vòng quay của TSNH trong kỳThời gian của kỳ phân tích Thời gian một vòng quay càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của TSNH cànglớn và ngược lại.
Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu trên, cácnhà phân tích có thể đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua báo cáo kếtquả kinh doanh bằng phương pháp so sánh
1.3.2.5 Phân tích rủi ro tài chính
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên phải đối đầu với cácrủi ro trên thương trường Qua phân tích báo cáo tài chính, các nhà phân tích dự báonhững rủi ro tiềm ẩn về tài chính trên khía cạnh thanh toán, thậm chí cả rủi ro vềphá sản mà DN có thể phải đương đầu Từ đó, các nhà quản lý có thể để ra những
kế sách, các quyết định kịp thời, hợp lý để ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro cho DN
Rủi ro tài chính là rủi ro gắn liền với cấu trúc nguồn vốn và là rủi ro mà cácchủ sở hữu phải gánh chịu do việc sử dụng nợ mang lại Bởi vậy khi xem xét rủi rotài chính các nhà phân tích thường xem xét rủi ro thanh toán nợ và ảnh hưởng của
cơ cấu nợ đến khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu của DN
* Rủi ro thanh toán nợ:
Rủi ro thanh toán nợ là một bộ phận cấu thành nên rủi ro tài chính Rủi rothanh toán nếu không kịp thời khắc phục, tất yếu sẽ dẫn đến DN phá sản Rủi rothanh toán nợ xảy ra khi DN không đủ hoặc không có khả năng thanh toàn Bởi vậy,
để phân tích rủi ro thanh toán, nhất là khả năng thanh toán nợ đến hạn và nợ ngắnhạn Khả năng thanh toán nợ đến hạn không những cho nhà quản lý biết được nănglực thanh toán nợ đến hạn mà còn báo cho nhà quản lý biết được khả năng có thểdẫn DN lâm vào tình trạng phá sản Bên cạnh đó có thể dự đoán được những rủi ro
về thanh toán có thể gặp trong tương lai, các nhà phân tích còn xem xét khả năngthanh toán trong thời gian tới
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đo bằngnhiều chỉ tiêu khác nhau như “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” “Hệ số khảnăng thanh toán nhanh” “Hệ số khả năng thanh toán của tài sản ngắn hạn”, “Hệ số
Trang 37khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của tiền và tương đương tiền” (đã được trình bày
ở phân tích tình hình và khả năng thanh toán
* Rủi ro do ảnh hưởng của cơ cấu nợ:
Rủi ro tài chính mà doanh nghiệp gặp phải còn gián tiếp thể hiện qua ảnhhưởng của cơ cấu nợ đến khả năng sinh lời tính trên vốn chủ sở hữu hay mức lợinhuận trên mỗi cổ phiếu thường của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh doanhthuận lợi, ổn định, trị số đòn bẩy tài chính càng cao thì suất sinh lời của tàisản(ROA) và suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) càng cao và ngược lại Tuynhiên trong môi trường kinh doanh đầy biến động với sự cạnh tranh, việc nâng caohiệu quả kinh doanh bằng cách thay đổi cấu trúc nguồn vốn theo hướng tăng số nợphải trả để tăng trị số của đòn bẩy tài chính thực sự là con dao hai lưỡi Ngoài việctăng số nợ đặt doanh nghiệp vào tình trạng luôn phải đối phó với các khoản nợ đếnhạn thì khi tăng số nợ cũng đồng nghĩa với tăng số lãi vay phải trả (trừ một vàikhoản nợ không phải chịu lãi) Vì thế, phân tích rủi ro tài chính gián tiếp qua cơ cấu
nợ thường sử dụng các chỉ tiêu phản ánh đòn bẩy tài chính và khả năng thanh toánlãi vay của doanh nghiệp Các chỉ tiêu mà các nhà phân tích thường sử dụng là:
- Đòn bẩy tài chính (a): được tính bằng tỷ lệ tài trợ tài sản bằng vốn chủ sởhữu và được tính theo công thức sau:
Đòn bẩy tài chính (a) = Vốn chủ sở hữuTổng nguồn vố
- Đòn bẩy tài chính (b): Được tính bằng tỷ lệ tham gia tài trợ tài sản củadoanh nghiệp bằng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu và được tính theo công thức:
Đòn bẩy tài chính (b) = Vốn chủ sở hữuNợ phải trảNgoài ra nhà phân tích còn sử dụng chỉ tiêu: “Độ nhạy của đòn bẩy tàichính” để phân tích mức độ thay đổi của lợi nhuận sau thuế so với lợi nhuận trướcthuế và lãi vay Chỉ tiêu này được tính theo công thưc sau:
Độ nhạy của đòn bẩy tài chính = % thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay% thay đổi của lợi nhuận sau thuế
Để xác định khả năng chi trả lãi vay, nhà phân tích xác định hệ số chi trả lãi vay:
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Trang 38Hệ số chi trả lãi vay = Lãi vay
Phân tích khả năng chi trả lãi vay còn được đặt trong mối quan hệ với suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Trong quan hệ này, suất sinh lời của vốn chủ
sở hữu (ROE) được viết dưới dạng sau:
x
Lợi nhuận sau thuế (NI)Vốn chủ sở
hữu (E) Tổng tài sản (TA)
Lợi nhuận trướcthuế (EBT) +
Lãivay (I)
Do IN = EBT – EBT x Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (ký hiệu rt),tức là IN = EBT – EBT x rt = EBT(1- rt) nên ta có:
ROE = TAE x EBT + ITA x EBT + IEBT x (1-rt)Thay EBT = (EBT + I – I) vào công thức trên ta được:
ROE = TAE x EBT + ITA x EBT + I - IEBT + I x (1-rt)
ROE = Đòn bẩytài chính x Suất sinh lời
kinh tế của TS x 1 - Hệ số chi trả lãi vay1 x (1-rt)Mặt khác, từ công thức xác định suất sinh lời kinh tế của tài sản ta rút ra:
EBT = (TA x Suất sinh lời của tài sản – I)Lãi vay I = D x rbvà TA = D + E nên EBT = [(D + E) x ROA] – D x rb
Từ đó, IN = [(D + E) x ROA– D x rb] x (1 - rt)
Trang 39Trong đó:
rb: Lãi suất vay, D: nợ vay; ROA: suất sinh lời kinh tế của tài sản
Tiếp tục biến đổi công thức trên ta có:
ROE = [D x (ROA - rb) + (E x ROA)] x (1 - rE t)Hay:
ROE = [
Đòn bẩy tài chính x (
Suất sinh lờikinh tế của TS - rb ) + kinh tế của TS ] x (1-rSuất sinh lời t)Trong mối quan hệ này, do (1 – rt) luôn >0 (thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp không thể lớn hơn bằng 100 được) nên khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi
và ROA>rb (suất sinh lời kinh tế của tài sản lớn hơn lãi suất vay) sẽ làm cho ROEtăng lên Vì thế trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể vay thêm để đầu tư chokinh doanh mà vẫn nâng cao được hiệu quả kinh doanh và an toàn tài chính Việcgia tăng nợ vay trong trường hợp này sẽ làm cho đòn bẩy tài chính tăng theo kéotheo sự gia tăng của suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Do vậy đòn bẩy tài chínhtrong trường hợp này được gọi là “đòn bẩy dương” Ngược lại, khi ROA < rb thìviệc vay nợ đã phần nào làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếudoanh nghiệp tiếp tục vay thêm thì không những làm giảm hiệu quả kinh doanh màchắc chắn sẽ gặp rủi ro trong thanh toán Vì thế trong trường hợp này, đoàn bảy tàichính được coi là “đòn bảy âm”
1.4 Tổ chức phân tích báo cáo tài chính
Tổ chức phân tích chính là vận dụng tổng hợp các phương pháp phân tích đểđánh giá đúng kết quả, chỉ rõ những sai lầm và tìm biện pháp sửa chữa thiếu sớttrong kinh doanh Việc tổ chức phan tích có thể được hiểu thông qua các bước sau:
- Chuẩn bị phân tích:
Trong bước này nhà phân tích cần lập kế hoạch phân tích, bao gồm xác địnhtrước nội dung, phạm vi, thời gian và cách thức phân tích Nội dung phân tích xácđịnh rõ các vấn đề cần được phân tích: toàn bộ hoạt động kinh doanh hay một sốvấn đề cụ thể Phạm vi phân tích có thể là một đơn vị hoặc một vài đơn vị để làmđiểm phân tích Tuỳ theo yêu cầu và thực tiễn quản lý mà xác định nội dụng và
Trang 40phạm vi phân tích phù hợp Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cảthời gian chuẩn bị và thời gian tiến hành phân tích Chuẩn bị phân tích có thể qui vềnhững công việc chủ yếu sau:
* Lập kế hoạch phân tích:
Ở bước này cần xác định mục tiêu phân tích và chương trình phân tích báocáo tài chính Mục tiêu phân tích là phục vụ cho đối tượng nào sẽ ảnh hưởng đếncác chỉ tiêu và số liệu cần để phân tích
* Thu thập và kiểm tra tài liệu:
Công việc này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất lượng thông tin củaviệc phân tích Nguồn tài liệu làm căn cứ phân tích thường bao gồm: các tài liệuchính như BCTC, các tài liệu kế hoạch, định mức, dự toán; các tài liệu phi tài chínhnhư các bản nghị quyết, chỉ thị trong đơn vị hay của các cơ quan quản lý cấp trên
Các tài liệu này cần được kiểm tra nhiều mặt như: tính hợp pháp của tài liệu(trình tự lập, ban hành, người lập, người ký duyệt….), nội dung và phương pháptính của các chỉ tiêu, sự chính xác của việc tính và ghi các con số, cách đánh giá đốivới các chỉ tiêu giá trị
Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứ phântích mà cả ở những tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là tài liệu gốc
* Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích: tuỳ theo nội dung
phân tích, tài liệu thu thập được, nhu cầu thông tin của chủ thể phân tích mà xâydựng hệ thống chỉ tiêu phân tích phù hợp
* Đánh giá khái quát tình hình biến động của chỉ tiêu phân tích.
* Xác định nhân tố ảnh hưởng, xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từngnhân tố đến chỉ tiêu phân tích