1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận lý thuyết tài chính đánh giá tính bền vững của nợ công ở việt nam theo mô hình cây nhị phân

12 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 25,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, về mặt danh nghĩa chỉ số nợ công của Việt Nam vẫn ở mức an toàn, tuy nhiên, theo các chuyên gia nếu tính cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước DNNN thì thực tế nợ công Việt Nam đã

Trang 1

1 GIỚI THIỆU

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến 31/12/2016 nợ công của Việt nam đã ở

mức 64,7% GDP, là "tiệm cận" của mức trần cho phép của Quốc hội (65% GDP) Như vậy, về mặt danh nghĩa chỉ số nợ công của Việt Nam vẫn ở mức an toàn, tuy nhiên, theo các chuyên gia nếu tính cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN)

thì thực tế nợ công Việt Nam đã vượt quá xa mức trần Quốc hội cho phép Thêm nữa, nợ công Việt Nam lại có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây, áp lực trả nợ trong ngắn hạn đang đến gần, trong khi năng lực trả nợ rất hạn chế Do vậy, nợ công của Việt Nam đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, nên triển vọng là không bền

vững Nếu không có một chương trình và kế hoạch hành động ứng phó kịp thời và hiệu quả thì nguy cơ mất kiểm soát nợ công thậm chí vỡ nợ công trong tương lai là điều có thể xảy ra Vấn đề đặt ra là: liệu mức nợ công hiện nay của Việt Nam có

thực sự an toàn hay không, liệu có nguy cơ nào cho một khủng hoảng trong tương lai?Nợ công Việt Nam có bền vững hay không? Chính phủ Việt Nam cần có những quyết sách gì trong quản lý nợ công?Thực tế nói trên đã đặt ra một yêu cầu cấp

thiết là cần có các nghiên cứu về tính bền vững của nợ công Việt Nam, để trên cơ

sở đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao tính bền vững của nợ công Việt nam thời gian tới Mô hình Cây nhị phân (Binary Recursive Tree) đã được Paolo Manasse và Nouriel Roubini nghiên cứu và đưa vào sử dụng (2005) để phân tích

rủi ro nợ công của các nước và đã đem lại kết quả đáng tin cậy, đã được thừa nhận

Trang 2

rộng rãi Chính vì vậy, tác giả đã thực hiện nghiên cứu: "Đánh giá tính bền vững của nợ công ở Việt Nam theo mô hình cây nhị phân" bài nghiên cứu này nhằm đạt

được một số mục tiêu: Khái quát về thực trạng rủi ro nợ công và tác động của nợ công lên kinh tế, Đánh giá tính bền vững của nợ công ở VN theo mô hình DSF của Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International

Monetary Fund –IMF) Theo Từ đó đòi hỏi các nhà quản lý phải có cái nhìn nghiêm túc để đưa ra những giải pháp quản lý nợ công cũng như nâng cao tính bền vững của nợ công một cách hiệu quả trong giai đoạn phát triển 5 năm tới 2016-2020

2 Cơ sở lí thuyết và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

2.1 Cơ sở lí thuyết

2.1.1 Nợ công

Nợ công hoặc nợ quốc gia, tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp

từ trung ương đến địa phương đi vay.Việc đi vay này nhằm tài trợ cho các khoản

thâm hụt ngân sách nên nói cách khác,nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế

đến một thời điểm nào đó

“Nợ chính phủ là một cổ phiếu; thâm hụt ngân sách của chính phủ là một dòng chảy ”(Mankiw,N 2009, 18.)

Trang 3

Theo Ngân hàng Thế giới - WB (2002), nợ công là tổng nợ của

chính phủ và các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh Dựa trên định nghĩa của IMF

(2010), nợ công được hiểu nghĩa vụ trả nợ của khu vực công

IMF cũng đưa ra định nghĩa cụ thể của khu vực công, bao gồm cả chính phủ

ngành công nghiệp và khu vực công (IMF 2010.)

2.1.2 Tính bền vững của nợ công

WB (2006) chỉ ra nợ công nước ngoài của một quốc gia được coi là bền vững nếu như các nghĩa vụ nợ (trả gốc và lãi) được thực hiện một cách đầy đủ mà không cần

phải sử dụng đến các biện pháp tài trợ ngoại lệ (ví dụ như xin miễn giảm), hoặc không cần phải thực hiện những điều chỉnh lớn đối với cán cân thu nhập và chi tiêu của mình Như vậy, tính bền vững của nợ công được hiểu là việc vay nợ công vẫn

được quốc gia đảm bảo trả nợ gốc và lãi theo định kì như trong cam kết hợp đồng vay trả và việc trả nợ nằm trong tầm kiểm soát chi trả của một quốc gia

2.1.3 IMF và WB

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (tiếng Anh : International Monetary Fund, viết tắt IMF) là

một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng cách theo dõi tỷ giá

Trang 4

hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi

có yêu cầu Trụ sở chính của IMF đặt ở Washington, D.C., thủ đô của Hoa Kỳ

IMF được mô tả như "Một tổ chức của 189 quốc gia", làm việc nuôi dưỡng tập đoàn tiền tệ toàn cầu, thiết lập tài chính an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế, đẩy mạnh việc làm và tăng trưởng kinh tế cao, và giảm bớt đói nghèo

Ngân hàng Thế giới (World Bank) là một tổ chức tài chính quốc tế nơi cung cấp

những khoản vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình vay vốn Ngân hàng Thế giới tuyên bố mục tiêu chính của mình

là giảm thiểu đói nghèo

2 Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công

Tổng quan nghiên cứu Nghiên cứu về các phương pháp đánh giá tính bền vững

của nợ công đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong

và ngoài nước Trong đó có thể kể đến: Nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)

và của Ngân hàng Thế giới (WB) về xây dựng khung nợ bền vững áp dụng cho các

nước thu nhập thấp (Debt Sustainability Framework for Low-Income Countries,

IMF/WB, 2005), khung nợ này được cập nhật vào các năm 2006, 2009 và 2012

Nghiên cứu của Manasse, P và Roubini, N (2005) đã dựa trên số liệu quan sát

theo năm của 47 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1970-2002, để tiến hành xây

Trang 5

dựng mô hình cây nhị phân (Binary Recursive Tree) để phân tích rủi ro nợ công

của các nước Nghiên cứu của Giancarlo Corsetti và Nouriel Roubini (1991) dựa

trên nguyên lý: nếu chuỗi thời gian của nợ công không dừng, nghĩa là tỷ lệ nợ

thực/GDP liên tục tăng và vượt quá giá trị hiện tại của các khoản thặng dư ngân

sách trong tương lai thì nợ công sẽ không bền vững Nghiên cứu của Greiner A &

Semmler W (1999) và của Campbell và Shiller (1987) lại đánh giá tính bền vững

của nợ công dựa trên sự kiểm định điều kiện giới hạn ngân sách liên thời gian

Trong các phương pháp nói trên, phương pháp đánh giá theo mô hình Cây nhị

phân của Manasse, P và Roubini, N (2005) là một trong những phương pháp

nghiên cứu có độ tin cậy cao, được IMF, WB và các nhà nghiên cứu thừa nhận Do

vậy, tác giả sử dụng mô hình Cây nhị phân của Manasse, P và Roubini, N (2005)

là khung phân tích phục vụ cho bài nghiên cứu này

3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Liên quan đến đánh tính bền vững của nợ công ở Việt Nam, cho đến nay cũng có

một số công trình nghiên cứu như: Nghiên cứu của Phạm Thế Anh và cộng sự

(2013) đã sử dụng phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công (DSA) của

WB (World Bank, 2006, A Guid to LIC Debt Substainability Analysis) và Cây nhị

Trang 6

phân của Manasse, P và Roubini, N (2005) để đánh giá tính bền vững của nợ

công Việt Nam năm 2011 và nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Trong ngắn hạn khả

năng xảy ra khủng khoảng nợ công ở Việt Nam là thấp, rủi ro nợ công của Việt

Nam chủ yếu đến từ phần nợ trong nước

Nghiên cứu của Habib, R.(2014) cũng đã chỉ ra rằng tình hình nợ công hiện tại của

Việt Nam vẫn bền vững nhưng khối nợ đang tăng nhanh khiến khả năng ứng phó

với các cú sốc tương lai có thể bị suy giảm đáng kể

Nghiên cứu của Đào Văn Hùng và cộng sự (2014) cũng đã đưa ra đánh giá: Nợ

công của Việt Nam hiện nay có mức độ rủi ro vỡ nợ thấp nhưng còn tiềm ẩn nhiều

rủi ro, nên triển vọng là không bền vững

Nghiên cứu của nhóm chuyên gia của IMF (2016) đã chỉ ra: Nợ công của Việt Nam

đã tăng mạnh và nguy cơ khủng hoảng nợ đã tăng lên, chủ yếu là từ nợ trong

nước Dự báo sơ bộ của nhóm nghiên cứu của IMF, nợ công của Việt Nam đến

năm 2021 có thể sẽ tăng lên 70% GDP, rủi ro về nợ công sẽ gia tăng trong thời

gian tới Tỷ lệ nợ nước ngoài của Việt Nam so với GDP dự kiến sẽ tăng trong ngắn

hạn nhưng vẫn ở mức vừa phải Tuy nhiên, nợ nước ngoài của Việt Nam có thể bị

tổn thương do sự mất giá của đồng nội tệ và những cú sốc tài khoản vãng lai đầu

Trang 7

năm 2016 khi nợ công đạt 64,5%, gần với giới hạn 65%, nhiều người lo ngại rằng

nó có thể đe dọa ổn định tài chính của Việt Nam

Trong nghiên cứu của một bài báo bởi Minh Anh (2018) :Nợ công bình quân đầu

người của Việt Nam sẽ tăng lên 1.500 đô la trong năm nay, một báo cáo mới của

chính phủ cho biết

Nợ công của Việt Nam có thể sẽ đạt 63,92 phần trăm GDP, hay 3.530 tỷ đồng (151

tỷ đô la) vào cuối năm nay, theo một báo cáo do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đệ trình

lên Thủ tướng

Báo cáo tập trung vào việc quản lý và sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

vào năm 2018-2020, lưu ý rằng quốc hội đã đặt ra mức trần nợ là 65% GDP

Dự báo nợ dựa trên kịch bản “nhiều khả năng” nhất là tăng trưởng 6,53 phần

trăm trong GDP và lạm phát dưới bốn phần trăm

Theo những con số này, mỗi người Việt Nam có khả năng mang gánh nặng nợ

công 35 triệu đồng (1.500 đô la) trong năm nay Đây là khoản tăng gần 4 triệu

đồng (150 đô la) so với nợ công đầu năm ngoái, là 31,3 triệu đồng (1.350 đô la)

Trang 8

Bộ cũng dự báo rằng nợ công sẽ giảm nhẹ xuống còn 63,46% GDP năm sau và

62,58% GDP vào năm 2020.Nhưng về mặt tiền tệ, nợ công sẽ tăng trong hai năm

tới, khoảng 360 nghìn tỷ trong năm tới và 380 nghìn tỷ vào năm 2019.Nợ công của

Việt Nam đã tăng lên trong những năm gần đây, tăng 6,8 điểm phần trăm từ năm

2013-2017.Lý do chính cho điều này là bội chi, Bộ Tài chính cho biết tại một cuộc

họp vào tháng Năm

Nó nói thêm rằng nếu xu hướng này vẫn tồn tại, Việt Nam sẽ phải đối mặt với

nguy cơ nợ bền vững thấp, có nghĩa là đất nước sẽ không thể đáp ứng các nghĩa

vụ nợ của mình mà không đòi nợ

Theo nghiên cứu của Nợ Chính phủ Việt Nam cho GDP 2000-2018

Việt Nam ghi nhận nợ chính phủ tương đương 61,50 phần trăm tổng sản phẩm

quốc nội của nước này trong năm 2017 Nợ chính phủ so với GDP ở Việt Nam

trung bình 44,60 phần trăm từ năm 2000 đến năm 2017, đạt mức cao 61,50 phần

trăm trong năm 2017 và mức thấp kỷ lục 31,40 phần trăm trong 2000

Theo Bộ Tài Chính (2017): Tình hình nợ công đã được cải thiện rõ nét khi nợ công

Việt Nam tính tới 31/12/2017 ước khoảng 61,3% GDP, thấp hơn con số được ước

tính trước đó

Trang 9

Với giả định rằng tăng trưởng khoảng 6,7 – 7%, Bộ Tài chính từng dự báo nợ công

vẫn duy trì ở mức cao trong năm 2018, khoảng 64,7% GDP World Bank, cùng thời

điểm, cho rằng nợ công Việt Nam sẽ vượt mức an toàn năm 2018

Theo nghiên cứu của Đức Minh(2018) Với giả định rằng tăng trưởng khoảng 6,7 –

7%, Bộ Tài chính từng dự báo nợ công vẫn duy trì ở mức cao trong năm 2018,

khoảng 64,7% GDP, nợ công cao sẽ dần đến chèn ép thị trường tiền tệ, chèn ép

thị trường vốn (vay vốn của doanh nghiệp) do Chính phủ huy động trái phiếu để

đảo nợ chúng ta cần đẩy nhanh quá trình tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy nhà nước

một cách hiệu quả, thông qua đó giảm chi thường xuyên

Quá trình mà Chính phủ thực hiện đang đi đúng hướng Chúng ta đang đẩy nhanh

quá trình tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng chất lượng tăng trưởng, năng

suất sử dụng vốn hiệu quả, tập trung vào những nguồn lực sử dụng vốn hiệu quả

nhất từ đó, có nguồn tài chính đủ mạnh tập trung vào kết cấu hạ tầng, nâng cao

sức cạnh tranh, tạo bứt phá trong tăng trưởng Thông qua đó, giảm nợ công trên

GDP một cách tích cực.Việt Nam hoàn toàn có thể kiểm soát được nợ công dưới

ngưỡng 65%

Trang 10

Con số trên là quan trọng bởi từ đó, nợ công tính ra còn 61,3% GDP Thủ tướng

Chính phủ cũng nhớ tới thời điểm đầu năm 2016 khi nợ công lên tới khoảng

64,5% GDP, gần kịch trần Khi đó, nhiều ý kiến đã lo lắng về nợ công có thể đe dọa

nền tài chính Việt Nam.Tuy nhiên, với kết quả hiện tại, Thủ tướng Chính phủ cho

rằng, GDP đạt con số 5,1 triệu tỷ đồng là cố gắng lớn và con số này quan trọng với

Bộ Tài chính vừa đưa ra dự báo năm 2017 – 2018 sẽ là đỉnh của nợ công Việt Nam

với mức nợ có thể tiến sát ngưỡng 65% GDP

Tổ chức đánh giá tín nhiệm hàng đầu thế giới Moody’s Investors Service ngày

21/8/2018 đánh giá rằng Việt Nam nhiều khả năng sẽ duy trì được tốc độ tăng

trưởng kinh tế vững mạnh trong vài năm tới và sự tăng trưởng đó sẽ giúp ổn định

tình hình nợ công của Việt Nam. Theo báo cáo, ở ngưỡng 52% GDP, nợ công của

Việt Nam hiện nay phù hợp với mức bình quân 50% đối với các quốc gia ở ngưỡng

điểm tín nhiệm Ba Báo cáo cho rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng sẽ

giúp tỷ lệ nợ công của Việt Nam ổn định ở ngưỡng này

Ngoài ra, Moody’s nói rằng cấu trúc nợ công của Việt Nam đã được cải thiện, với

thời hạn nợ dài hơn và tỷ lệ nợ ngoại tệ giảm xuống, giúp Việt Nam hạn chế khả

năng thương tổn trước các cú sốc tài chính

Trang 11

Nhìn chung, các nghiên cứu, báo cáo hiện tại ở trong nước mới chỉ dừng lại ở việc

đánh giá tính bền vững của nợ công Việt Nam theo các khung nợ cũ của IMF và

WB (2005, 2006) thiếu tính cập nhật, chưa phù hợp với tình hình nợ công của Việt

Nam hiện tại Nghiên cứu của nhóm chuyên gia của IMF (2016) tuy dựa trên

khung nợ bền vững DSF được cập nhật (2012) nhưng số liệu nghiên cứu mới chỉ

đến 2015 Vì vậy cần phải có một nghiên cứu cập nhật đầy đủ, phù hợp với thực

tế và theo cách tiếp cận khác để có thêm cách nhìn mới về tính rủi ro của nợ công

Việt Nam hiện nay

TÀI LIỆU THAM KHẢO

https://e.vnexpress.net/news/business/data-speaks/vietnam-s-public-debt-rises-to-1-500-per-citizen-3793295.html

https://tradingeconomics.com/vietnam/government-debt-to-gdp

http://cafef.vn/bo-tai-chinh-no-cong-viet-nam-nam-2017-o-muc-613-gdp-20180108135548399.chn http://cafef.vn/nam-2018-no-cong-co-tiep-tuc-la-noi-am-anh-voi-nguoi-dan-20180102150133355.chn

http://cafef.vn/moodys-no-cong-viet-nam-se-on-dinh-nho-tang-truong-kinh-te-vung-vang-20180822103207823.chn

Ngày đăng: 14/08/2020, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w