1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận lý thuyết tài chính thị trường vốn việt nam trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4 0

39 119 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 620,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động thịtrường vốn được tập trung nghiên cứu trên các khía cạnh: các tổ chức cung cấp dịch vụtrên thị trường vốn, công cụ trên thị trường vốn bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, vàchứng

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vốn là một đầu vào trong quá trình sản xuất và chiếm vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy tăng trưởng sản lượng và thu nhập Mô hình tăng trưởng của Solow và các sốliệu thực nghiệm đã chứng minh tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư là yếu tố then chốt quyết địnhmột nước giàu hay nghèo

Thị trường tài chính, trong đó một phần quan trọng là thị trường vốn, là một tronghai kênh tích lũy và chu chuyển vốn trong nền kinh tế Mặc dù ở hầu hết các nước, vaitrò của các trung gian tài chính là lớn hơn trong việc huy động vốn Tuy nhiên, thịtrường tài chính/thị trường vốn đang chiếm vị trí quan trọng hơn trong quá trình thúcđẩy tích luỹ và tập trung vốn Do vậy xây dựng thị trường tài chính trong đó nhấnmạnh vào các khía cạnh cạnh tranh, minh bạch sẽ là yếu tố cần thiết để thiết lập một hệthống tài chính bền vững

Phát triển thị trường vốn là một vấn đề quan trọng vì một số lý do chính sau đây:

Thị trường vốn thúc đẩy sự phát triển của khu vực tài chính, nâng cao hiệu quả vàtăng trưởng Thị trường vốn cung cấp tính thanh khoản, thúc đẩy sự minh bạch tronghoạt động của các công ty, từ đó giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Việc phát triển thị trường vốn trong điều kiện hội nhập kinh tế cũng làm nảy sinhnhững rủi ro nhất định Tự do hoá hệ thống tài chính quá vội vàng hoặc không cẩn trọngcùng với những yếu kém về quản lý, điều hành, giám sát đã dẫn đến những cuộc khủnghoảng tài chính Do vậy phát triển thị trường vốn cần thực hiện các biện pháp thận trọng.Thực tế cho thấy, công nghệ đang làm thay đổi xu hướng phát triển của thị trườngtài chính toàn cầu, cũng như cách thức cung cấp sản phẩm, dịch vụ Điều này cũngđang tác động rõ nét tới thị trường tài chính Việt Nam Đồng nghĩa với sự ảnh hưởngcủa thị trường tài chính, đó là sự tác động mạnh mẽ đến sự trường vốn Sự ảnh hưởng

ấy đòi hỏi những cách thức mới, đồng thời phải có sự thay đổi để thị trường vốn ViệtNam có thể tồn tại và phát triển trong thời đại Cách mạng 4.0

Chính vì những lý do trên, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “Thị trường vốn Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghệ 4.0” để làm đề tài nghiên cứu Tuy

nhiên, vì đây là một đề tài quan trọng, rộng lớn, đã được rất nhiều nhà khoa học trong

Trang 2

nước cũng như ngoài nước nghiên cứu, thảo luận dưới nhiều góc độ khác nhau Vậynên dù đã rất cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, nhưng sự hiểu biết cũng như cách tiếp cậncác tài liệu tham khảo, các tài liệu nghiên cứu trước còn hạn chế nên bài tiểu luận sẽkhó tránh khỏi những vấn đề sai sót trong quá trình nghiên cứu Chính vì vậy, rấtmong nhận được những nhận xét, đánh giá bổ sung của cô giáo.

Xin chân thành cảm ơn cô!

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm đánh giá thực trạng, so sánh sự thay đổi và đưa ra các giải pháp phát triểnthị trường vốn tại Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng 4.0 Để giải quyết được mụcđích trên, bài tiểu luận cần trả lời những câu hỏi:

Cách mạng 4.0 là gì? Đặc trưng của Cách mạng 4.0?

Thị trường vốn là gì? Vai trò của Thị trường vốn

Đề xuất các giải pháp nào cần được thực hiện để phát triển thị trường vốn tại Việt Nam hiện nay

3 Khung nghiên cứu

- Cách mạng công nghệ 4.0 đã ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp đến thị trườngvốn như thế nào? Cách thức tác động?

- Thị trường vốn và những thay đổi tích cực và tiêu cực trong bối cảnh

Cách mạng 4.0

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là thị trường vốn ở Việt Nam từ giai đoạn Cách mạng công

nghiệp 4.0 xuất hiện cho đến nay, tức trong giai đoạn 2008 đến nay Hoạt động thịtrường vốn được tập trung nghiên cứu trên các khía cạnh: các tổ chức cung cấp dịch vụtrên thị trường vốn, công cụ trên thị trường vốn bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, vàchứng khoán tái sinh Bên cạnh đó là sự xuất hiện của các công ty Fintech

Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động của thị trường vốn tại Việt Namtrong bối cảnh Cách mạng công nghệ 4.0 Bên cạnh đó, đề tài chỉ ra được những thànhtựu, hạn chế và giải pháp của thị trường vốn

Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi thị trường vốn của Việt Nam

Trang 3

Về thời gian: Các thông tin, số liệu phản ánh trong đề tài tập trung chủ yếu trong khoảng thơi gian từ năm 2008 đến nay và đề xuất các giải pháp cho tương lai.

5 Kết cấu

Gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Kết quả và thảo luận

Chương 3: Kết luận kèm theo gợi ý chính sách

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Nghiên cứu trong nước

- Nghiên cứu của Phạm Đình Long và các tác giả khác (năm 2009):

Đề cập đến sự phát triển của Fintech trong lĩnh vực tài chính ngân hàng trong bốicảnh thế giới đang đứng trước Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Đây không chỉ đơnthuần là sự đổi mới về mặt kỹ thuật, mà là sự thay đổi lớn về công nghệ ở mức độ cóthể tạo ra một cuộc cách mạng thay đổi cơ bản cấu trúc của xã hội hiện tại Một trongnhững đại diện của nó là cuộc cách mạng trong nền công nghiệp Tài chính – Fintech

Có thể coi những công ty Fintech đang đảm nhận vai trò này là những “công ty côngnghệ chuyên xử lý dữ liệu lớn liên quan đến tiền” (Fintech 4.0 - Kitao Yoshitaka).Nghiên cứu tìm hiểu xu hướng phát triển Fintech trong lĩnh vực Tài chính- Ngân hàng

và chỉ ra vai trò của kĩ thuật này trong hiện tại và tương lai Đồng thời, cũng khảo sátkinh nghiệm phát triển Fintech của các nước trên thế giới Việc Fintech phát triểnmạnh mẽ sẽ đem đến những thuận lợi và thách thức cho ngành tài chính ngân hàngViệt Nam Trong bài nghiên cứu này, tác giả cũng đã chỉ ra những kinh nghiệm pháttriển Fintech của một số nước trên Thế giới, cụ thể là Trung Quốc với ứng dụngFintech vào thanh toán di động và cho vay trực tuyến, Mỹ với sự ra mắt của GoogleWallet và Bitcoin, Singapore với ứng dụng phổ biến là GoBear

- Nghiên cứu Hoàng Hải Yến và các tác giả khác (năm 2010):

Nghiên cứu đề cập đến ổn định tài chính trong bối cảnh Cách mạng công nghệ 4.0thông qua sự hợp tác ngân hàng – Fintech Với sự phát triển công nghệ, hoạt động ngânhàng đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ các giao dịch sản phẩm, dịch vụ truyền thốngsang ngân hàng kỹ thuật số (digital banking) và cũng chứng kiến sự thay đổi của môitrường cạnh tranh với sự xuất hiện của nhiều yếu tố mới, gồm cả chủ thể và sản phẩm dịch

vụ, nổi bật nhất là sự xuất hiện của các công ty công nghệ tài chính (Fintech) Xu hướnghợp tác thay cho cạnh tranh giữa ngân hàng và Fintech là xu hướng tất yếu và quan trọng

để đạt được sự ổn định tài chính quốc gia trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 Bàinghiên cứu phân tích những yếu tố liên quan đến ổn định tài chính khi có

Trang 5

sự phát triển của các công ty Fintech, các vấn đề về khả năng hấp thụ, chịu đựng vàvượt qua rủi ro của hệ thống tài chính khi có sự hợp tác giữa ngân hàng và Fintech Bàiviết cũng nêu lên các vấn đề về ổn định tài chính tại Việt Nam và nhấn mạnh sự hỗ trợ

từ phía chính phủ đối với quá trình hợp tác ngân hàng – Fintech nhằm ổn định tàichính quốc gia

- Nghiên cứu của Nguyễn Phúc Cảnh và các tác giả khác (năm 2011):

Nghiên cứu đề cập đến thực trạng đầu tư Fintech và xu hướng phát triển trong tươnglai Trong bối cảnh Fintech đang tái định nghĩa lại dịch vụ khách hàng tài chính toàn cầu,

sự cạnh tranh và cùng phát triển giữa các tổ chức Fintech và định chế tài chính truyềnthống Các khách hàng của dịch vụ tài chính không còn chỉ dựa vào một hoặc hai công tynữa mà khách hàng luôn có sự lựa chọn giữa các tổ chức truyền thống và phi truyền thống

để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của mình Khi các công ty Fintech bắt đầu phát triển saukhủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, các bên liên quan cho rằng những công ty mới này

sẽ không bao giờ vượt qua các rào cản trong ngành Tuy nhiên, hàng loạt các công tyFintech đã ra đời cạnh tranh với các dịch vụ ngân hàng toàn cầu cho thấy cách các công tyFintech đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ mới, đe dọa

sự tồn tại của dịch vụ ngân hàng truyền thống Các công ty Fintech với lợi thế sáng tạo vànhanh nhẹn đang cạnh tranh với các công ty truyền thống chậm đổi mới, kế thừa côngnghệ và văn hóa nội bộ Đồng thời, các công ty Fintech đang nhận ra rằng khả năng mởrộng và tạo được niềm tin của khách hàng, hoạt động có quy mô và điều hướng một môitrường pháp lý phức tạp phụ thuộc vào sự hỗ trợ, sự tham gia và sự am hiểu của các công

ty truyền thống trong ngành Mặc dù các tổ chức tài chính truyền thống và các công tyFintech hiểu được giá trị mà mỗi doanh nghiệp có thể cung cấp, thị trường đã có một vàicâu chuyện thành công trong đó quan hệ đối tác giữa các công ty Fintech và công tytruyền thống đã tạo ra sự tăng trưởng đáng kể

1.1.2 Nghiên cứu ngoài nước

- Nghiên cứu của Krishnamurti và các tác giả khác (năm 2007)

Các tác giả này nghiên cứu tác động của mô hình tổ chức trung tâm giao dịch chứngkhoán tới chất lượng hoạt động của thị trường Sử dụng mô hình của thị trường chứngkhoán Ấn Độ với 2 sở giao dịch: Sở giao dịch Bombay và Sở giao dịch chứng khoán quốcgia Mặc dù hai sở giao dịch này sử dụng hệ thống giao dịch giống nhau, giao dịch

Trang 6

các loại cổ phiếu giống nhau và có thời gian giao dịch như nhau, nhưng Sở giao dịchquốc gia có chất lượng hoạt động tốt hơn so với Sở giao dịch Bombay, căn cứ vào tiêuchí chất lượng thị trường của Hasbrouck Sự khác biệt về chất lượng được giải thích là

vì đối với những sở giao dịch được tổ chức như một hiệp hội các nhà môi giới và hoạtđộng phi lợi nhuận thường không thích những đổi mới hoạt động, mặc dù những sựđổi mới này làm tăng giá trị cho thị trường Trong các trường hợp độc quyền, các sởgiao dịch như vậy cản trở việc tăng cường chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp nếu nhưviệc tăng cường chất lượng ảnh hưởng tới lợi ích của các thành viên sở giao dịch Sởgiao dịch quốc gia hoạt động như một công ty Điều này cho phép Sở có thể ghi điểmcao hơn trên các khía cạnh quản lý: sử dụng công nghệ hiện đại, hệ thống kiểm soátnội bộ, minh bạch, hệ thống kiếm soát rủi ro tốt, và các qui định bảo vệ nhà đầu tưđược thiết lập với các tiêu chuẩn cao Bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy đa biếnlên biến phụ thuộc là chi phí thực hiện giao dịch, các tác giả cho thấy Sở giao dịchquốc gia có chất lượng cao hơn thể hiện ở chi phí giao dịch thấp hơn, biến động giáchứng khoán thấp hơn, và mức độ thanh khoản cao hơn

- Nghiên cứu của Green và các tác giả khác (năm 2009)

Cũng liên quan tới vấn đề điều hành thị trường vốn, Green và các tác giả khác đãnghiên cứu tác động chi phí giao dịch tới biến động giá cổ phiếu trên Sở giao dịchchứng khoán Luân đôn Kết quả từ nghiên cứu số liệu giao dịch cho thấy, chi phí giaodịch và thuế giao dịch có tác động thuận chiều đối với biến động của thị trường(market volatility) và biến động quá mức (excess volatility).Chi phí và thuế giao dịchtăng lên làm tăng biến động giá cổ phiếu do tác động của qui mô giao dịch nhỏ Tuyvậy, kết quả nghiên cứu cũng khuyến nghị đối với các nhà quản lý thị trường tại cácthị trường mới nổi lên là việc giảm chi phí giao dịch hoặc các loại thuế giao dịchkhông phải là công cụ duy nhất để tác động tới giá trị giao dịch và biến động thịtrường Các nhà quản lý thị trường cũng cần phải lưu tâm đến sự cân bằng giữa cấutrúc thị trường, các loại chi phí giao dịch, và việc điều hành các nhà tạo lập thị trường

- Nghiên cứu của Daouk và các tác giả khác (năm 2010)

Daouk và các tác giả xem xét tác động của công tác điều hành tới hoạt động của thịtrường vốn Các yếu tố của công tác điều hành thị trường được xác định và ước lượng baogồm: việc áp dụng và thực hành các qui định về giao dịch nội gián; chỉ số tổng hợp

Trang 7

về chất lượng thu nhập công ty được công bố, và chỉ số về các hạn chế bán khống Dựatrên các yếu tố này, các tác giả đã xây dựng chỉ số CMG – chỉ số quản lý thị trườngtổng hợp (CMG index – Capital market governance) để phản ánh chất lượng quản lýthị trường Sử dụng số liệu trên thị trường vốn chính thức từ 22 nước phát triển doMorgan Stanley Capital International cung cấp, các tác giả đã rút ra được các kết quảchủ yếu sau đây:

Sự cải thiện trong chỉ số CMG ở các nước khác nhau đã giúp cho việc giảm chi phívốn cổ phần giảm đi 2,6% khi chỉ số CMG tăng lên 1 độ lệch chuẩn

Sự cải thiện trong chỉ số CMG cũng làm tăng giá trị giao dịch, qui mô của thị trường,tăng số lượng các nhà đầu tư

Sự cải thiện trong chỉ số CMG cũng cải thiện việc định giá IPOs tốt hơn, nâng cao hiệuquả định giá của thị trường

1.1.3 Kết luận rút ra từ các nghiên cứu trước đây về đề tài nghiên cứu và khoảng trống trong nghiên cứu

Các nghiên cứu đưa ra bằng chứng chắc chắn về các giả thiết nghiên cứu đượckiểm định Do đặc điểm quy mô giao dịch và tính thanh khoản thấp dẫn tới tình trạngkhông thỏa mãn các giả thiết cơ bản của các nghiên cứu nước ngoài Do vậy, việc ápdụng vào thị trường vốn Việt Nam đòi hỏi sự chọn lọc và điều chỉnh phù hợp

1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Cơ sở lý luận về Cách mạng công nghiệp 4.0

1.2.1.1 Khái niệm về Cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư) là kỷnguyên công nghiệp lớn lần thứ tư kể từ cuộc cách mạng công nghiệp lần đầu tiên từ

thế kỷ XVIII Theo Gartner, Cách mạng Công nghiệp 4.0 xuất phát từ khái niệm

“Industrie 4.0” trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013 “Industrie 4.0” kết nốicác hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữaCông nghiệp, Kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong

“Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóasản xuất Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt

Trang 8

Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba.

Nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số vàsinh học” Đây là khái niệm của Klaus Schwab

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể được mô tả như là sự ra đời củamột loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật

số,

sinh học, và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế vàngành công nghiệp

1.2.1.2 Đặc trưng của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0

- Qui mô và tốc độ phát triển – Chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại

Tốc độ phát triển của những đột phá trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư này làkhông có tiền lệ trong lịch sử Nếu như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây diễn ravới tốc độ theo cấp số cộng (hay tuyến tính) thì tốc độ phát triển của cách mạng côngnghiệp lần thứ tư này là theo cấp số nhân [1] Thời gian từ khi các ý tưởng về công nghệ

và đổi mới sáng tạo được phôi thai, hiện thực hóa các ý tưởng đó trong các phòng thínghiệm và thương mại hóa ở qui mô lớn các sản phẩm và qui trình mới được tạo ra trênphạm vi toàn cầu được rút ngắn đáng kể Những đột phá công nghệ diễn ra trong nhiềulĩnh vực như kể trên với tốc độ rất nhanh và tương tác thúc đẩy nhau đang tạo ra một thếgiới được số hóa, tự động hóa và ngày càng trở nên hiệu quả và thông minh hơn

- Tác động mạnh mẽ và toàn diện đến thế giới đương đại

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động tích cực đến lạm phát toàn cầu.Nhờ những đột phá về công nghệ trong các lĩnh vực năng lượng (cả sản xuất cũng như

sử dụng), vật liệu, Internet vạn vật, người máy, ứng dụng công nghệ in 3D (hay cònđược gọi là công nghệ chế tạo đắp dần, có ưu việt là giúp tiết kiệm nguyên vật liệu vàchi phí lưu kho hơn nhiều so với công nghệ chế tạo cắt gọt truyền thống v.v… đã giúpgiảm mạnh áp lực chi phí đẩy đến lạm phát toàn cầu nhờ chuyển đổi sang một thế giớihiệu quả, thông minh và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn

Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa vào động lựckhông có trần giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay cho tăng trưởng chủ yếudựa vào các yếu tố đầu vào luôn có trần giới hạn Chính vì vậy mà Cuộc cách mạng

Trang 9

công nghiệp lần thứ tư đang vẽ lại bản đồ kinh tế trên thế giới, với sự suy giảm quyềnlực của các quốc gia dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và sự gia tăng sức mạnh củacác quốc gia dựa chủ yếu vào công nghệ và đổi mới sáng tạo:

Nhiều quốc gia phát triển song chủ yếu dựa vào tài nguyên như Úc, Canada, Na

Uy v.v… đang phải trải qua một quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nhiều thách thức rập Xê-út gần đây đã chính thức tuyên bố về kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế và chuyểnđổi mô hình tăng trưởng Nước Mỹ – đầu tàu thế giới về công nghệ và dẫn dắt cuộccách mạng công nghiệp lần thứ tư đang khôi phục vị thế hàng đầu của mình trên bản

Ả-đồ kinh tế thế giới Bản Ả-đồ sức mạnh của các doanh nghiệp cũng đang được vẽ lại: cáctập đoàn lớn vang bóng một thời và thống lĩnh thị trường trong một giai đoạn dài đang

bị các doanh nghiệp trẻ khởi nghiệp trong giai đoạn gần đây trong lĩnh vực công nghệvượt mặt

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, quá trình tái cơ cấu đang diễn ra trên diệnrộng ảnh hưởng đến việc làm của hàng triệu nhân viên trong 10 năm tới do ứng dụngngân hàng trực tuyến di động, và sự cạnh tranh quyết liệt từ các doanh nghiệp khởinghiệp từ Silicon Valley cung cấp các dịch vụ tài chính rẻ hơn nhiều cho khách hàngnhờ ứng dụng điện toán đám mây Ngành bảo hiểm cũng đang chịu sức ép tái cơ cấudưới tác động của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, và tương lai sụt giảm nhu cầu bảohiểm xe cộ khi xe tự lái trở nên phổ biến trên thị trường

Cuộc cạnh tranh toàn cầu lại càng thêm khốc liệt với sự nhập cuộc của nhiều công ty

đa quốc gia siêu nhỏ, đang trở thành một xu hướng rõ nét nhờ hạ tầng thông tin Internetcho hiện thực và thương mại hóa một ý tưởng mới trên toàn cầu một cách nhanh chóng dochi phí giao dịch giảm mạnh, giúp giảm đáng kể chi phí và qui mô nhập cuộc

1.2.2 Cơ sở lý luận về thị trường vốn trong bối cảnh Cách mạng 4.0

1.2.2.1 Khái niệm về thị trường vốn

Mishkin định nghĩa thị trường vốn là thị trường trong đó, các công cụ nợ dài hạn(thường có kỳ hạn thanh toán lớn hơn một năm) và các công cụ vốn cổ phần được giaodịch Thị trường vốn được phân loại đối lập với thị trường tiền tệ, trong đó các công cụ

nợ ngắn hạn với kỳ hạn thanh toán dưới 1 năm được giao dịch Theo định nghĩa vàcách phân loại này, sự phân biệt giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ chủ yếu dựavào kỳ hạn thanh toán của công cụ tài chính được mua bán trên thị trường

Trang 10

Cùng với quan điểm tương tự về kỳ hạn của chứng khoán giao dịch để phân loạithị trường, Madura cũng phân loại thị trường vốn là thị trường giao dịch các công cụtài chính có kỳ hạn thanh toán lớn hơn một năm Các công cụ được giao dịch trên thịtrường vốn theo tác giả này bao gồm các loại trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, cácmón vay bảo đảm bằng bất động sản và cổ phiếu.

Về khái niệm thị trường vốn của các học giả trong nước, có một số quan điểm sau đầy

về thị trường vốn:

Theo GS.TS Nguyễn Văn Nam và các tác giả, thị trường vốn là nơi phát hành,mua bán, trao đổi và chuyển nhượng các công cụ tài chính trung dài hạn theo cácnguyên tắc, luật lệ nhất định Quan điểm này phân biệt thị trường vốn dựa trên kỳ hạncủa các loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường

Thống nhất với quan điểm nêu trên, GS TS Lê Văn Tư cũng định nghĩa thịtrường vốn là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các chứng khoán và các giấy tờ ghi

nợ trung hoặc dài hạn thường từ một năm trở lên

Các tác giả Ngô Hướng và Tô Kim Ngọc cũng định nghĩa thị trường vốn là nơitrao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn cho cáckhoản đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp, chính phủ và các hộ gia đình Thị trườngvốn có thể được chia thành thị trường tín dụng trung dài hạn và thị trường chứngkhoán Thị trường tín dụng chuyển vốn qua hoạt động của các trung gian tài chính, cònthị trường chứng khoán là nơi mua bán trao đổi các chứng khoán có thời hạn trên mộtnăm dưới hình thức trái phiếu, cổ phiếu, và các công cụ phái sinh Quan điểm này xácđịnh chi tiết hơn về công cụ giao dịch trên thị trường vốn, đồng thời mở rộng phạm vithị trường vốn đối với cả các công cụ chứng khoán phái sinh

Tuy vậy, quan điểm của hai tác giả này là không triệt để Vì trong các công cụ củathị trường vốn không thấy đề cấp tới các khoản tín dụng trung dài hạn Thêm vào đó,nếu xét trên quan điểm kênh huy động vốn thì hoạt động tín dụng liên quan tới hoạtđộng tài chính gián tiếp, không nên có sự lẫn lộn với hoạt động của thị trường vốn - làhoạt động tài chính trực tiếp

Quan điểm của Mishkin, PGS.TS Nguyễn Hữu Tài và các tác giả cho rằng thị trườngvốn là nơi giao dịch các loại chứng khoán có kỳ hạn thanh toán lớn hơn một năm Mộtđiểm đáng chú ý theo các tác giả này là thị trường vốn bao gồm cả thị trường các

Trang 11

món vay có thế chấp bằng bất động sản (một thị trường rất phổ biến ở Mỹ) Tuy nhiên,cần chú ý rằng đặc điểm hoạt động của thị trường các món vay có thể chấp khác rấtnhiều so với thị trường tín dụng trung, dài hạn như quan điểm của các tác giả NgôHướng và Tô Kim Ngọc

Qua các quan điểm nêu trên, có thể rút ra một khái niệm chung về thị trường vốn là:

“Thị trường vốn là nơi phát hành và giao dịch các loại chứng khoán trung dài hạn, bao gồm các công cụ nợ và vốn cổ phần, có kỳ hạn thanh toán lớn hơn một năm Thị trường vốn bao gồm các nhà đầu tư, các chủ thể phát hành chứng khoán gồm chính phủ và các doanh nghiệp (chủ yếu là phát hành các công cụ nợ và vốn cổ phần) Thị trường vốn là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính chịu sự quản lý của chính phủ để đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả và lành mạnh”.

Vai trò của thị trường vốn

Sự phát triển của thị trường vốn, cùng với thị trường tài chính nói chung, đóng vai tròquan trọng trong hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế

Thứ nhất, thị trường vốn cung cấp thêm một kênh đầu tư cho các nhà tiết kiệm (bao gồm cả các cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp, hoặc các trung gian tài chính) Bên cạnh

việc gửi tiền tại các ngân hàng hoặc các tổ chức nhận tiền gửi, người tiết kiệm có thểmua các loại chứng khoán (bao gồm cổ phiếu, trái phiếu các loại)

Thứ hai, thị trường vốn thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm soát công ty thông qua việc thiết lập các sức ép từ bên ngoài đối

với hoạt động của công ty Thị trường vốn cũng cung cấp khả năng san sẻ và quản lýrủi ro tốt Thị trường vốn cho phép các nhà đầu tư chia sẻ rủi ro của những dự án cómức độ rủi ro, lợi nhuận cao và cho phép các dự án này có thể thực hiện

Thứ ba, thị trường vốn là một kênh huy động vốn quan trọng của chính phủ Thị trường

vốn cho phép chính phủ, các cơ quan của chính phủ phát hành các loại trái phiếu để vay

nợ nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách hoặc các hoạt động của chính phủ

Thứ tư, thị trường vốn là một kênh thu hút vốn đầu tư gián tiếp từ các nhà đầu tư nước

ngoài muốn đa dạng hoá danh mục đầu tư của họ Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài chophép các công ty trong nước huy động vốn với chi phí rẻ hơn, đồng thời làm tăng tínhthanh khoản cho thị trường vốn trong nước

11

Trang 12

Cấu trúc thị trường vốn:

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân loại thị trường vốn thành cácthị trường bộ phận

Thứ nhất, căn cứ vào đặc trưng của chứng khoán được giao dịch, thị trường vốn có thể

được chia thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần (cổ phiếu) Thị trường nợ làthị trường giao dịch, mua bán các công cụ nợ Thực chất của các công cụ nợ là cácthỏa thuận vay nợ mang tính hợp đồng theo đó người phát hành là người vay nợ theophương thức hoàn trả cả gốc và lãi định kỳ Trên thị trường vốn, các công cụ nợ điểnhình là trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty Khác với thị trường nợ, thị trườngvốn cổ phần là nơi mua bán các cổ phiếu hay giấy xác nhận sự góp vốn của các cổđông vào công ty cổ phần

Thứ hai, căn cứ vào đặc điểm phát hành và giao dịch các công cụ tài chính, thị trường

vốn có thể được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp

là thị trường trong đó các công cụ tài chính được mua bán lần đầu tiên Đây thườngđược coi là thị trường tạo hàng hóa cho giao dịch sau này trên thị trường thứ cấp Cácchủ thể phát hành sẽ chỉ huy động được vốn duy nhất một lần thông qua việc chào bánchứng khoán trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các công cụ tàichính đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Việc mua bán chứng khoán trên thịtrường thứ cấp không làm thay đổi nguồn vốn của tổ chức phát hành mà thực chất chỉ

là việc chuyển nhượng quyền sở hữu các công cụ tài chính Thị trường thứ cấp giúpxác định giá cả và cung cấp tính thanh khoản cho các loại công cụ tài chính Hoạt độngcủa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có tác dụng tăng cường, bổ sung, thúc đẩyhoạt động lẫn nhau giữa hai loại thị trường

Thứ ba, căn cứ vào đặc điểm tổ chức giao dịch, người ta có thể chia thị trường vốn thành

thị trường chứng khoán Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được thực hiện tạimột địa điểm tập trung được gọi là sàn giao dịch Các nhà đầu tư hoặc là trực tiếp, hoặcthông qua các nhà môi giới thực hiện các giao dịch chứng khoán trên sàn giao dịch này.Các chứng khoán phải thỏa mãn những điều kiện nhất định về qui mô và hiệu quả hoạtđộng kinh doanh mới được giao dịch trên Sở giao dịch và được gọi là các chứng khoánniêm yết Khác với Sở giao dịch, thị trường phi tập trung không có địa điểm giao dịch

Trang 13

tập trung mà các giao dịch trên thị trường phi tập trung được diễn ra tại nhiều nơi mà chủ yếu là tại các quầy giao dịch của các ngân hàng và các công ty chứng khoán.

Các công cụ trên thị trường vốn

Công cụ trên thị trường vốn rất đa dạng, nhưng đề tài tập trung nghiên cứu ba cong cụchính: cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh

Thứ nhất là cổ phiếu Cổ phiếu là loại công cụ tài chính được biết đến nhiều nhấttrên thị trường vốn Đó là chứng chỉ hoặc các bút toán ghi sổ chứng minh sự góp vốn

và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ cổ phiếu đối với tài sản và thu nhập còn lại củamột công ty cổ phần Có thể có nhiều loại cổ phiếu khác nhau như cổ phiếu thường, cổphiếu ưu đãi, cổ phiếu ghi danh, cổ phiếu vô danh Việc nắm giữ các cổ phiếu đem lạithu nhập cho các nhà đầu tư dưới dạng cổ tức, nhưng quan trọng hơn là kỳ vọng thuđược chênh lệch giá từ việc nắm giữ cổ phiếu Giá cả của cổ phiếu biến động trên thịtrường phụ thuộc vào cung, cầu cổ phiếu, dự tính của các nhà đầu tư về hoạt độngtrong tương lai của công ty cổ phần

Thứ hai là trái phiếu bao gồm trái phiếu công ty và trái phiếu Chính phủ Tráiphiếu công ty là các thoả thuận vay nợ mang tính hợp đồng được chuẩn hoá do cáccông ty phát hành để vay vốn trên thị trường tài chính Khác với trái phiếu chính phủ,các công ty thường trả lãitrái phiếu 2 lần trong một năm để làm tăng tính hấp dẫn củatrái phiếu Trái phiếu Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ là các công cụ vay nợ

do chính phủ phát hành hoặc do chính phủ bảo lãnh cho các cơ quan của chính phủphát hành để vay nợ trên thị trường Các loại trái phiếu này có độ an toàn cao, tínhthanh khoản cao và thường được sử dụng làm các trái phiếu chuẩn để phản ánh giá cả

và lãi suất trên thị trường vốn

Thứ ba là chứng khoán phái sinh Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính

mà giá trị của chúng phụ thuộc vào giá của một tài sản cơ sở.Chứng khoán phái sinhquy định quyền lợi và/hoặc nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng đối với việc thanhtoán và hoặc chuyển giao tài sản cơ sở với một mức giá được thỏa thuận trước vào mộtthời điểm nhất định trong tương lai.Tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh có thể làhàng hóa như nông sản, kim loại, v,v hoặc công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,lãi suất, v.v

1.2.2.2 Sự ra đời và phát triển của Fintech

13

Trang 14

a Khái niệm Fintech

Fintech là một thuật ngữ tiếng Anh chỉ sự kết hợp giữa Finance (tiền tệ, tài chính)

và Technology (công nghệ) Khi chuỗi các công ty Start-up lần lượt ra đời sau cuộckhủng hoảng tài chính năm 2008, những cuộc cách mạng về công nghệ trong lĩnh vựctài chính đã trỗi dậy, thay đổi cách thức của giới ngân hàng nói riêng và thị trường tàichính trên thế giới nói chung Đây cũng chính là lúc thuật ngữ Fintech ra đời Ban đầuthuật ngữ này chỉ được dùng khi nói về hệ thống xử lý dữ liệu (back-end) thiết lậpmạng lưới người tiêu dùng trong các tổ chức tài chính thương mại

Tuy nhiên, kể từ cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỉ 21, thuật ngữ này đã được mởrộng để nói về bất kì đổi mới công nghệ nào trong lĩnh vực tài chính, bao gồm các cảitiến về tài chính và giáo dục, ngân hàng bán lẻ, đầu tư và thậm chí cả lĩnh vực tiền điện

tử như Bitcoin Từ sự bùng nổ của cuộc Cách mạng Internet và cách mạng Internettrên nền tảng di động, ngành công nghệ tài chính đã bùng nổ Fintech vốn ban đầu chỉ

áp dụng cho các ứng dụng văn phòng của các ngân hàng hoặc các công ty thương mại,nay đã lấn sân sang lĩnh vực tài chính

b Các đối tượng chính của Fintech

Một thị trường tài chính truyền thống sẽ bao gồm 2 đối tượng: Các định chế tài chính(ngân hàng, đầu tư, bảo hiểm, chứng khoán, công ty tài chính,…) và khách hàng Đối vớiFintech, các đối tượng sẽ bao gồm 3 bên, giữ mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau:

- Các công ty Fintech:

Đây là các công ty độc lập, chuyên hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, cungcấp các sản phẩm, dịch vụ mới trong lĩnh vực tài chính Khách hàng của các công tyFintech có thể là người sử dụng cuối cùng và cũng có thể là các định chế tài chính

- Các định chế tài chính:

Đây là thực thể quan trọng trong ngành tài chính Các định chế ngày càng hợp tác sâurộng với các công ty Fintech, do nhận thấy tầm quan trọng của công nghệ Mặt khác,bản thân các định chế này cũng trực tiếp đầu tư vào các công ty Fintech hoặc các hoạtđộng nghiên cứu, từ đó chủ động nắm giữ công nghệ mới và chiếm lĩnh thị trường

- Khách hàng:

Trang 15

Đối tượng khách hàng ở đây là người sử dụng sản phẩm dịch vụ tài chính nói chung.

Có thể nói rằng, với những ứng dụng công nghệ mới, thì khách hàng chính là nhữngngười hưởng lợi nhiều nhất từ sự cạnh tranh giữa các định chế tài chính, các công tyhay những tiện ích mà công nghệ mới có thể mang lại

c Những nhóm sản phẩm chính:

Dựa theo đối tượng sử dụng mà các sản phẩm trong fintech được chia làm 2 nhómkhác nhau, bao gồm:

- Nhóm thứ 1: Là các sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng, các công cụ kỹ thuật

số và công nghệ khác Mục đích là cải thiện cách các cá nhân vay mượn, quản

lý tiền bạc và tài trợ vốn cho các startup

- Nhóm thứ 2: Là các sản phẩm công nghệ “back-office” Nhóm sản phẩm này hỗ trợ hoạt động của các định chế tài chính cũng như bản thân các fintech

Trên thực tế thì ngoài những dịch vụ thông thường như cho vay, chuyển tiền,thanh toán,… Fintech còn cung cấp nhiều dịch vụ trải rộng hơn, chẳng hạn: Cho vayngang cấp (peer to peer lending); gọi vốn cộng đồng (crowdfunding); tư vấn tài chính(personal finance); quản trị dữ liệu (data management); công nghệ bảo hiểm(insurtech); tiền tệ số (crypto blockchain)

d Tiềm năng của Fintech

Tiềm năng mở rộng của Fintech là vô cùng lớn Nhiều sáng kiến Fintech có tầmảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực thương mại, ngân hàng, tư vấn tài chính và sản phẩmtài chính Các công nghệ trí tuệ mới như: trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích và dự đoánhành vi, tiếp thị theo phân tích dữ liệu sẽ đưa ra phỏng đoán và thói quen ra khỏi cácquyết định tài chính Bởi những ứng dụng của Fintech sẽ không chỉ đơn thuần tìm hiểuthói quen của người dùng mà còn thu hút người dùng ra những quyết định chi tiêu vàtiết kiệm trong vô thức tốt hơn Trong năm 2016, các công ty start up của Fintech đãnhận được 17,4 tỷ đô la tài trợ và số tiền này ngày càng tăng

e Rủi ro tiềm ẩn mà Fintech có thể mang đến

Một số người nghi vấn và đặt ra nhận định rằng Fintech không thể thay thế vai tròcủa các ngân hàng truyền thống do một số hạn chế nhất định, có thể kể đến như: Các

hộ gia đình có thu nhập thấp không thể tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng

Trang 16

Sự lên xuống thất thường từ cổ phiếu của các công ty Fintech khiến nhiều ngườiđặt dấu chấm hỏi về tính ổn định cũng như những rủi ro về fintech hoàn toàn là mộtviễn cảnh có thể xảy ra Mặc dù Fintech cung cấp nhiều loại hình dịch vụ tài chính, tuynhiên, sự thuận tiện quá mức có thể khiến một số khách hàng không thực sự hiểu vềcác quyền hạn lẫn nghĩa vụ của bản thân Nhiều vấn đề về tính an toàn, chính xác của

hệ thống tài chính Fintech vẫn cần được siết chặt và đảm bảo hơn

Tuy nhiên, tính cho đến thời điểm hiện tại thì đây vẫn được xem là một lĩnh vựctài chính an toàn, uy tín, không chỉ trên thị trường tài chính tại Việt Nam mà còn ởphạm vi thế giới

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng bao gồm:

Phương pháp phân tích và tổng hợp, kết hợp phân tích định lượng, phân tích và giảithích số liệu, liên hệ với các nguyên nhân thực tế

Phương pháp thu thập số liệu:

- Số liệu liên quan tới thị trường cố phiếu, trái phiếu và thị trường chứng khoán pháisinh, tác giả chủ yếu sử dụng các số liệu trên trang web của Bộ Tài chính, Uỷ ban giámsát Tài chính Quốc gia, các báo cáo tổng quan thị trường tài chính của Ủy ban giám sátTài chính quốc gia (UBGSTCQG), báo cáo tài chính của Quỹ đầu tư trái phiếu SSI, cơ

sở dữ liệu của HSC (Ho Chi Minh City Security Corporation),

- Các số liệu khác, tác giả tổng hợp từ: HSC, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, IMF Report, báo cáo liên quan của Uỷ ban giám sát Tài chính Quốc gia,

Phương pháp phân tích số liệu:

- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá một cách tổng quát thực trạngcủa thị trường vốn Việt Nam năm 2018

- Trên cơ sở phân tích kết quả của việc nghiên cứu về thị trường vốn Việt Nam,rút ra những thành tựu và thách thức, qua đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằmnâng cao tính hiệu quả và sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong giai đoạnCMCN 4.0

Trang 17

Phương pháp so sánh thống kê sử dụng số liệu thực tế theo thời gian và số liệu thờiđiểm để so sánh dọc, so sánh chéo về sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam vớicác thị trường vốn ở một số nước trên thế giới.

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

2.1 Kết quả nghiên cứu

2.1.1 Thực trạng thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh công nghiệp 4.0

Thời kỳ lãi suất thấp thúc đẩy đầu tư vào các tài sản rủi ro hơn để tìm kiếm lợi nhuận.Dòng tiền đầu tư tăng mạnh vào các thị trường chứng khoán và thậm chí còn đầu tư nhiềuvào các trái phiếu doanh nghiệp với mức xếp hạng tín dụng thấp hơn, tiềm ẩn nguy cơ đảochiều giá tài sản khi chỉ số P/E của thị trường hiện đang ở mức cao

Hình 2: Lợi tức TPCP kỳ hạn 10 năm Hình 1: Chỉ số chứng khoán thế giới

của các nền kinh tế lớn (%)

Thị trường cổ phiếu toàn cầu tăng trưởng tích cực Hầu hết các chỉ số chứng khoánlớn toàn cầu đều tăng điểm cao so với đầu năm Dẫn đầu là thị trường châu Á với mứctăng trung bình trên 20% so với đầu năm, tiếp theo là thị trường chứng khoán Mỹ (trên15%) Việt Nam thuộc top 5 thị trường có mức tăng trưởng cao nhất thế giới và đứngđầu khu vực châu Á

Trên thị trường trái phiếu toàn cầu, lợi tức TPCP dài hạn của các nền kinh tế lớn có xuhướng giảm đáng kể từ sau khủng hoảng tài chính 2008 và hiện đang ở mức thấp

Trang 18

Điều này khiến dòng vốn có xu hướng tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở những tài sản rủi

ro hơn hoặc quay trở lại các thị trường mới nổi và đang phát triển

Hình 3: Dòng vốn danh mục đầu tư nước ngoài tại các nền kinh tế mới nổi

(% GDP)

Dòng vốn danh mục đầu tư nước ngoài có thể đạt mức 300 tỷ USD trong năm

2017, gấp hơn 2 lần giai đoạn 2015-2016 và ngang bằng với giai đoạn tăng trưởng tốt

từ 2010-2014 Các quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất từ dòng vốn là những nền kinh

tế đang phát triển có quy mô lớn như Colombia, Mexico, Nam Phi và Thỗ Nhĩ Kỳ

2.1.2 Thực trạng thị trường vốn Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp 4.0

2.1.2.1 Những thành tựu của thị trường vốn Việt Nam trong bối cảnh công

nghiệp

4.0

Năm 2018, thị trường vốn Việt Nam tiếp tục gặt hái được những kết quả đáng ghi nhận nhờ những nỗ lực điều hành vĩ mô của Chính phủ, bất chấp những hệ lụy từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và nhiều thách thức khác trên toàn cầu.

Trang 19

Cũng theo nhận định của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, trong năm 2018, dòngvốn ngoại vào thị trường chứng khoán Việt Nam tích cực Khối ngoại mua ròng khoảng1,9 tỷ USD cổ phiếu trên sàn, tập trung vào các giao dịch thỏa thuận lớn Tổng giá trịdanh mục đầu tư của khối ngoại khoảng 35,3 tỷ USD, tăng 8,9% so với cuối năm 2017.Huy động vốn qua đấu giá cổ phần, thoái vốn Nhà nước đạt khoảng 40.000 tỷđồng, giảm 67% so với năm 2017 Tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại nhiềudoanh nghiệp lớn còn chậm, chưa đạt mục tiêu đề ra (Vinalines, FPT, Tổng Công tyHàng không, Bia Hà Nội, Petrolimex ).

Hình 4: Biểu đồ thể hiện giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu/GDP của các nước trong khu

vực

Nguồn: Thomson Reuters, UBS

b Thị trường trái phiếu

Trên thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP), quy mô thị trường đạt khoảng 27%

GDP (tương đương với cuối năm 2017) Năm 2018, Kho bạc Nhà nước đã huy độngkhoảng 160 nghìn tỷ đồng, đạt 91% so với kế hoạch điều chỉnh năm 2018 Lãi suấtTPCP có xu hướng tăng sau khi tạo đáy vào cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 2018 Năm

2018, khối ngoại bán ròng 1,4 nghìn tỷ đồng TPCP do FED tăng lãi suất làm giảmchênh lệch lợi suất giữa TPCP Mỹ và Việt Nam

Trong khi đó, theo nhận định của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), thịtrường TPCP sơ cấp đang đạt được những kết quả bước đầu đối với mục tiêu phát triểncác nhà đầu tư dài hạn Năm 2018, Bảo hiểm Xã hội đã tham gia mua TPCP dưới hìnhthức đấu thầu Các công ty bảo hiểm nhân thọ cũng tăng tỷ lệ đầu tư vào trái phiếu trongbối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển Giá trị trúng thầu TPCP của khối bảo

Ngày đăng: 14/08/2020, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Xuân Hạng & Phạm Ngọc Dũng. 2011. Giáo trình Tài chính – Tiền tệ.NXB Tài chính, trang 164 – 167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Xuân Hạng & Phạm Ngọc Dũng. 2011. "Giáo trình Tài chính – Tiền tệ
Nhà XB: NXB Tài chính
2. Green, C. et al. 2009. Regulatory lessons for emerging stock markets from a century of evidence on transaction costs and share price volatility in the London Stock Exchange. Journal of Banking and Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: Green, C. et al. 2009. Regulatory lessons for emerging stock markets from a century of evidence on transaction costs and share price volatility in the London Stock Exchange
3. Hazemz, D. et al. 2010. Capital market governance: “How do security laws affect market performance?”. Journal of Banking & Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hazemz, D. et al. 2010. Capital market governance: “How do security lawsaffect market performance?”
4. Hoàng Hải Yến và các tác giả khác. 2010. Ổn định Tài chính Quốc gia trong bối cảnh Cách mạng công nghệ 4.0 thông qua sự hợp tác Ngân hàng – Fintech.Tạp chí Kinh tế và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Hải Yến và các tác giả khác. 2010. Ổn định Tài chính Quốc gia trongbối cảnh Cách mạng công nghệ 4.0 thông qua sự hợp tác Ngân hàng – Fintech
6. Lê Văn Giáp. 2019. Thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam đang đứng ở đâu so với thế giới. Kinh tế/BNEWS – Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN). Truy cập ngày 10/09/2019, từdang-o-dau-so-voi-the-gioi-/109887.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế/BNEWS – Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN)
7. Madura, J. 2001. Financial markets and institutions. South-Westen College Publishing, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Madura, J. 2001. "Financial markets and institutions
8. Mishkin, F. S. 2004. The Economics of Money, Banking, and Financial Markets. The Addision-Wesley series in economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mishkin, F. S. 2004
9. Ngô Hoàng Minh. 2019. Một số điểm hạn chế của sàn phái sinh. Đầu tư chứng khoán. Truy cập ngày 06/09/2019, từhttps://tinnhanhchungkhoan.vn/chung- khoan/mot-so-diem-han-che-cua-san-phai-sinh-274812.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Hoàng Minh. 2019. Một số điểm hạn chế của sàn phái sinh. "Đầu tư chứng khoán
5. Krishnamurti, C. et al. 2007. Stock exchange governance and market quality.Journal of Banking & Finance Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w