Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt dược trong việc quản lý hoạt dộng của các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn, thực tiễn hiện nay cũng đang bộc lộ những khiếm kh
Trang 2Bộ (ỈIÁO DỤC VẢ ĐÀO TẠ O TRƯNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VÃN QUỐC GIA
VIỆN NGHIÊN CỨU NHÀ NƯỚC VÃ PHÁP LUẬT
P H Ạ M QUÝ TỴ
NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ BẰNG PHÁP LUẬT■
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP T ư NHÂN
VÀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN■ ■
CIIƯYÊN NGÀNH : LUẬT NHÀ NƯỚC
Trang 3L Ờ I C A M Đ O A N
T ôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Phạm Quý Tỵ
Trang 4M ỤC LỤC
Trang
phần mở đầu 1
C hương 1 : Cơ sở lý luận của việc N h à nước quản lý bằng pháp luật
dõi vói doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta 1 1
1.1 Chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
cơ ch ế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, cơ sở để phát triển doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu
hạn 1 1
1.2 Sự cần thiết Nhà nước phải quản lý bằng pháp luật đối với doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn 221.3 Nội dung Nhà nước quản lý bằng pháp luật dối với doanh nghiệp
lư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn h ạ n 34
ỉ
C hương 2 : Thực trạng N h à nước quản lý bằng pháp luật đôi vói
doanh nghiệp tư nhản, công ty trách nhiệm hữu h ạ n 5 4
2.1 Thực trạng về việc Nhà nước ban hành pháp luật để quản lý các
doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu h ạ n 542.2 N hà nước tổ chức thi hành pháp luật để quản lý các doanh nghiệp
lư nhàn, công ty trách nhiệm hữu hạn 702.3 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các doanh
nghiệp tư nhàn, còng ly trách nhiệm hữu hạn 108
Trang 5Chương 3 : N hữ ng p h ư ơ n g hướng VÀ g iả i p h á p nhằm đổi mới và
áng ca0 hiệu (I U(Ỉ hoạt dộng quản lý n h à nước bằng p h á p luật đôi vói
3.1 Tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế,
1 1 0 cơ sở pháp lý vững chắc để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước
dối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu h ạ n 1343.2 Hoàn thiện các cơ quan quản lý nhà nước để thi hành pháp luật và
táng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp tư
nhàn, công ty trách nhiệm hữu h ạ n 152
Phần kế t luận 169
Tài liệu tham k h ả o 172-183
Trang 6P H Ẩ N M Ở Đ Ầ U
1- Tính cấp bách của đ ề tài
Để đạt được mục đích kinh tế - xã hội đã đề ra là "Làm cho dân gián, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thẩn cùa nhân dàn” [72; 18-19], Nhà nước ta chủ trương "Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ ch ế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [72; 18] Chủ trương này đã được thực hiện lừ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 năm 1986, khi Đảng và N hà nước ta đã thay đổi chính sách đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân
Từ đó trong nền kinh tế ở Việt N am đã xuất hiện một loạt các doanh nghiệp mà chủ sở hữu của chúng không phải là nhà nước xã hội chù nghĩa Trong số đó trước hết phải kể đến là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Việc phát triển nhanh chóng hai loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn trong cơ c h ế thị trường, đã đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường công tác quản lý để các doanh nghiệp phát triển theo hưởng của N hà nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt dược trong việc quản lý hoạt dộng của các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn, thực tiễn hiện nay cũng đang bộc lộ những khiếm khuyết như: xu hướng phát triển các loại hình doanh nghiệp này có chiều hướng chững lại, hoạt động quản lý Nhà nước đối với chúng còn lúng túng, các quy định pháp luật còn nhiều bất cập Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt dộng của hai loại hình doanh nghiệp này, đồng thời đòi hỏi Nhà nước phải có những hình thức quản lý kinh tế phù hợp
Cố nhiên, Nhà nước quản lý kinh tế trong cơ c h ế thị trường cần phái ctược thiết k ế theo những nguyên tắc, hình thức và công cụ mới và đôi khi xa
lạ so với ở thời kỳ kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp Hiến pháp 1992 quy dịnh “ -Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế
Trang 7|l0ạch chính sách ” Như vậy, nội đung của quản lý nhà nước đã được đặt [ri}n những bình diện mới Trong khi đó những công trình nghiên cứu về vấn này từ phương diện hành chính học và luật học còn lẻ tẻ và chưa thực sự
nohièn cứu vấn đề mới mẻ, khó và rất bức xúc này ở nước ta hiện nay
Song với khuôn khổ của một luận án, chúng tôi không giải quyết vấn
j ề Nhà nước quản lý xã hội nói chung m à chỉ xem xét dưới góc độ N hà nước quàn lý bằng pháp luật ở nước ta hiện nay, vì đây là biện pháp phổ biến nhất, một công cụ vãn minh nhất trong quản lý kinh tế v ề đối tượng quản lý, chúng tôi tập trung vào hai loại hình doanh nghiệp, đó là doanh nghiệp tư nhăn và công ty trách nhiệm hữu hạn Hai loại hình doanh nghiệp này ở nước
ta trong khoảng 10 năm qua đã phát triển với số lượng lớn, góp phần tăng irường nền kinh tế đất nước, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Nhưng cũng chính những doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
đã để lại những ảnh hưởng xấu cho xã hội, mà nguyên nhân của nó là do có
sự bất cạp trong một số các quy định của pháp luật, và một phần do buông lòng quàn lý của các cơ quan nhà nước Đó cũng là những bức xúc trong quản lý kinh tế hiện nay đòi hỏi phải sớm được nghiên cứu một cách đầy dù
và đề ra phương hướng giải quyết M ặt khác, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta hiện nay đều là cloanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và khuyến khích phát triển Đ iều này cũng phù hợp với xu thế phát triển của các nước trên thế giới về việc ưu tiên phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đó là lý do mà chúng tôi chọn vấn đề “ Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhàn, công ty trách nhiệm hữu hạn ” để làm đề tài nghiên cứu của mình
2- T inh h ìn h nghiên cứu đ ề tài
Trang 8Việc N hà nước quàn lý bằng pháp luậl dối với doanh nghiệp lư nhan và
IV trách nhiệm hữu hạn là mội vấn dề mới ờ nước la Từ năm 1986 ưừ
|.,j clây, vấn đề xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận dộng tltco cơ ch ế thị trường có sự quàn lý cùa Nhà nước dược dồ cập ngày càng nhiều và hiện thực xã hội thể hiện tư tưởng dó với quy mô ngày càng lớn, các ilìiếl chế xã hội bào đâm cho nó phát triển ngày càng hoàn thiện
Tham gia vào cơ ch ế kinh lố thị Irường có nliiẻu thành pliíin kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp, trong đó các doanh nghiệp tư nhân và côi.g ly nách nhiệm hữu hạn dóng mộl vai trò quan trọng Khi doanh nghiệp tư nhan
và còng ly Irácli nhiệm hữu 1.1 ạ 11 clưực plicp pliál (riổn dã này sinh vốn (lề (lòi hôi lý luận phải giải quyếl Đó là sự quản lý cùa Nhà nước dối vứi hai loại hình doanh nghiệp nãy như Ihế nào Nhà nước có cần thiết phải quản lý bằng pháp luịll (lối với doanh nghiệp tư nhân và công ly trách nhiệm hữu hạn hay không ?
Về những vấn dề này, dã có những công (rình nghiên cứu khoa học cùa
các lác già đã c ô n g b ố như :
- Chu Hồng Thanh: “Nhà mrớc quàn lý kinh tế bỗng pháp luỌI Irong cơ chế thị uường ở Việt Nam hiện nay” (Luận án Phó tiến sĩ Luậl học 1993)
- Bùi Xuân Đức: “Thẩm quyền của chính quyền clịa phương trong quàn
lý kinh lế” (Luận án Phó liến sĩ Luật học 1990)
- Trần Trọnơ Hựu: “ Pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luệt ừ Việt Nam ũ ong giai doạn hiện nay” (Trong luyển các bài viốl “ Xã hội và Pháp
- Hoàng Kim Giao: “ Quàn lý nhà nước dối với ihànli phần kinh tế ngoài
Trang 9Dương Đăng Huệ: “ Pháp luật về việc cấp giấy phép thành lập doanh Ị^êp dăn g ký kinh doanh ở Việt Nam, thực trạng và một vài kiến nghị
•j-.jp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/1994)
- Trần Văn Thông: “ Thực hiện Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật
- Nguyễn Thị Thu Vân: “Một số vấn đề hoàn thiện Luật Công ty” (Luận án Thạc sĩ năm 1996)
Ngoài ra, cũng còn mội số những bài viết, những công trình nghicn cứu khoa học khác cũng đã ít, nhiều đánh giá thực trạng kiến nghị về hoạt động quàn lý nhà nước đối với các doanh nghiệp tư nhàn và công ty trách nhiệrn lũru hạn Tuy nhiên, tất cả các bài viết, công trình nghiên cứu khoa học đó do những mục đích yêu cầu nghiên cứu khác nhau, nên chỉ dừng lại ở những kliía cạnh nhất định, mà chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có
họ thống về vấn đề Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhãn và côn g ty trách nhiệm hữu hạn Luận án này là đề tài khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về hoạt động quản lý cùa Nhà Iiưức bằng pháp luật đối với các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta hiện nay
3 M ụ c đích, nhiệm vụ của luận án
Thực tế đổi mới trong những năm qua đã chứng tỏ rằng, nén kinh tế nhiều thành phần vận hành theo CO' c hế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một hiện thực, chúng ta đã thực hiện bước đầu có kết quả dáng khích 'ộ- Đó là nhân tố giữ vững sự định hướng xã hội chủ nghĩa Nhưng, Nhà nước qu ản lý như thế nào để ngày càng có hiệu quả hơn nền kinh tế của đàl nước, đây là vấn đề còn nhiều điều phải bàn cả ờ tầm lý luận, lẫn trong quá ll'ình thực hiện
Trang 10Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành Quyết định số 27-HĐBT M’ìv 9/3/1989 cho phép kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhàn dược phát triển;
■'Luật Doanh nghiệp tư nh àn ” và "Luật Công ty” được Quốc hội khóa 8 thông
un ngày 21/12/1990, và nhiều văn bản pháp luật khác nhằm tạo ra môi ỉriíờng pháp lý bảo đảm cho sự phát triển của các thành phẩn kinh tế đó, nhưng trong thực tế vẫn có những vấn đề vướng mắc cần giải quyết Đó là những vấn đề còn khiếm khuyết của bản thân chù thể quản lý là N hà nước, chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý trong kinh tế thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; trên thực tế N h à nước đang tìm một cơ chế quàn lý thích hợp nền kinh tế thị trường trong điều kiện ở nước ta hiện nay; công cụ quản lý là hệ thống pháp luật hiện nay chưa hoàn chỉnh và dồng bộ, (lóng thời một số văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt dộng của các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn sau một thời gian ihực hiện dã bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập khi thực hiện
Để đạt được mục tiêu trên đây, nội dung của luận án sẽ đề cập và giải quyết những vấn đề sau;
I M nhất, làm rõ việc phái triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phẩn
I l i e o cơ c hế thị trường đó là cơ sở để ra đời và phát triển các doanh nghiệp tư nhàn, công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng thời cũng đòi hỏi Nhà nước phải quán lý bằng pháp luật đối với các quan hệ kinh t ế trong nền kinh tế thị trường ở nước ta như một quy luật khách quan trong thời kỳ quá độ đi lcn thủ nghĩa xã hội, trong đó có doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hĩru li-in Luận án phân tích một cách toàn diện những cơ sở pháp lý và nội dung cùa việc Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân, cúng ty trách nhiệm hữu hạn, qua đó đưa ra những kiến nghị về việc quàn lýl,a> loại hình doanh nghiệp này
Thứ hai, dựa trên cơ sở lý luận dã giải quyết ở nhiệm vụ thứ nhất, luận
an bước đầu đánh giá thực trạng Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với
Trang 11, ianh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng thời nêu lên
I , f m 2 vấn đ ề đang đ ặ t ra trong công lác quàn l ý nhà nước d ố i với hai loại
Ị ình doanh nghiệp lư nhàn và công ty trách nhiệm hữu hạn
Thứ ba, sau khi phân tích những cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng 'uuit động quản lý nhà nước bunơ pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và
;ũiia ty trách nhiệm hữu hạn, luận án nêu ra một số phương hướng nhằm dổi mái và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của Nhà nước, đối với nền kinh
riông Xây dựng cơ ch ế Nhà nước quản lý bằng pháp luật, cĩối với doanh n*’hiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn Qua đó thấy rằng nếu quản
lý mà không hình thành một cơ c hế thì hiệu quả quản lý không cao Cùng với những phương hướng trên, vấn đề đặt ra là tiếp tục hoàn thiện pháp luật kinh
nhiệm hữu hạn Đó là hoàn thiện một công cụ có hiệu lực đặc biệt, nhầm nàng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với thành phần kinh tế tư nhân, irong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
4- C ơ sở lý luận và phư ơ ng pháp nghiên cứu
Cơ sỏ lý luận:
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hổ Chí Minh về nhà nước và pháp luật để luận chứng các vấn đề đặt ra trong luận án Trong đó đặc biệt chú ý đến những tư tưởng của V.I Lênin trong "Chính tách kinh tế mới” (NEP) ,có đề cập tới thái độ, chính sách của Đảng và Nhà nước của giai cấp cônơ nhân đối với thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế tư bàn và kinh tế tư bản nhà nước; thành tựu của những n ă m đổi mới; những MUan điểm đã được Đảng ta khẳng định trong " Cương lĩnh chính trị trong
Trang 12thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ” , " Chiến lược ổn định và phát triển kinh
[0 xã hội đến nãm 2000 ” , Nghị quyết 6, 7, 8 Đại hội Đại biểu toàn quốc cùa Đàng
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp của chù nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử đổ phân tích, so sánh, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài.Trong đó chú trọng đến phương pháp phân tích số liệu , sau
dó đối chiếu với lí luận từ đó rút ra những kết luận , kiến nghị đề x u ấ t Đổng ihừi vận dụng các nguyên lắc, phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật biện chứns và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử để ỉàm rõ Nhà nước quản lý bằng pháp luật dối với thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nước dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn; làm
rũ thực ưạng và các giải pháp cần thiết để hiệu lực quản lý của Nhà nước tốt hơn
Phương pháp xã hôi hoc Để đánh giá thực trạng quản lý của các cơ quan quản lv nhà nước trong từng lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của
Phương pháp thống kê Để so sánh, đánh giá mức độ phát triển của các
cỏ những giải pháp hữu hiệu để quản lý
Phương pháp kết hợp xem xét những vấn đề chung nhất trong phạm vi (-'ủ nước, đi sâu đánh giá một địa phương để làm cơ sở chứng minh Cụ thể là ílánh giá thực trạng quản lý của tỉnh Hà Bắc cũ, và tỉnh Bắc Giang hiện nay dối với các doanh nghiệp tư nhàn và công ty trách nhiệm hOu hạn trong tỉnh
làin chủ nhiệm đề tài với nội dung là “ Góp phần nghiên cứu thực trạng quàn
lý nhà nước bằng pháp luật đối với các doanh nghiệp tư nhàn và công ly trách
Trang 13nhiệm hữu hạn tỉnh Bắc Giang Đề tài có sự tham gia của 8 cơ quan cấp tinh như Văn phòng Ưỷ ban nhân dàn tỉnh, Sở K ế hoạch và Đẩu tư, Sờ Lao tlònơ, Sử Địa chính, Cục Thuế, Ban Kinh tế tỉnh uỷ, N gân hàng nhà nước, Sở Xùi chính lỉnh là các cơ quan đang quản lý các doanh nghiệp tư nhàn và công
nơhiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn, làm việc với các cơ quan có chức năng quàn lý doanh nghiệp tư nhàn và công ty trách nhiệm hữu hạn cùa tỉnh về nhiều lĩnh vực, từ đó rút ra những đánh giá, kết luận về thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn ở tỉnh Bắc Giang Những đánh giá của đề tài khoa học, kết hợp với những tài liệu khác đã góp phần hoàn thành luận án của chúng tôi hôm nay
Phương pháp so sánh đối chiếu pháp luật nước ta và pháp luật một số nước trên thê' giới, điều chỉnh hoạt động các doanh nghiệp tư nhân, công ty Irách nhiệm hữu hạn, từ đó rút ra những mặt hạn ch ế Irong các quy định của pháp luật nước ta để khắc phục Đổng thời xem xél những quy định trong pháp luật một sô' nước để đề nghị với Nhà nước xem xét, áp dụng vào việc quàn lý các doanh nghiệp lư nhàn, công ty trách nhiệm hữu hạn ờ nước ta Pháp luật một số nước, mà chúng tôi đã xem xét trong đó được chú trọng đến các nước cùng khu vực với nước ta như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines, Trung Quốc
5- Cái mới của luận án
Lần đầu tiên một luận án tiến sĩ đã tiếp cận từ góc độ Luật học để phân tích, làm rõ cơ sở lv luận của Nhà nước quản lý bằng pháp luật, đối với doanh nghiệp tư nhân, còng ly trách nhiệm hữu hạn Từ đó luận chứng về 'hực trạng và dề xuất giải pháp, phương hướng nhằm đổi mới, nâng cao hiệu
Trang 14quà Nhà nước bằng pháp luật dối với doanh nghiệp lư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Luận án cũng đã nêu lên được Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn trên 3 nội duns cơ bản đó là việc ban hình pháp luật, tổ chức triển khai việc thực hiện pháp luật và thanh tra, kiểm tra của cơ quan Nhà nước đối với doanh nghiệp
tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Trên cơ sở đó luận án phân tích một cách tương đối đầy đủ về vai trò quan trọng của pháp luật trong quản lý kinh
tế hiện nay Qua đó chứng minh thêm cho quan điểm của Đảng và Nhà nước chỉ có thông qua quản lý của Nhà nước bằng pháp luật mới thể c h ế hóa và tạo
ra cơ ch ế vận hành nền kinh tế của đất nước, bảo đảm sự định hướng Xã hội chù nghĩa Đồng thời quản lý nhà nước bằng pháp luật là một hình thức quản
lý phù hợp với quy luật khách quan, chặt chẽ nhất và hiệu quả nhất đối với nước ta hiện nay
Bước đầu đánh giá thực trạng hoạt động quản lý của Nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Trên
cư sở đó đề ra một số biện pháp nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước bủng pháp luật đối với các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu lụm Nhà nước cần sớm hoàn thiện pháp luật về kinh tế và hoàn thiện bộ máy nhà nước về quản lý kinh tế, để tổ chức thi hành pháp luật có hiệu quả đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Trong dó cần chú trọng đến cơ quan dăng ký kinh doanh có chức năng lưu giữ và cung cấp Iliông tin về doanh nghiệp, tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp tự giám sát làn nhau, làm cho môi trường kinh doanh lành mạnh hơn, trong sáng hơn.Kiến nghị với Nhà nước cần sớm hoàn thiện pháp luật về kinh tế làm cơ
sở pháp lý để quản lý các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Giải quyết về một số vấn đề bức xúc hiện nay như: cần phải quy định Ihêm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân; mở rộng quyền dược góp vốn vào công ty hợp danh; cho phép doanh nghiệp tư nhàn được
Trang 15J ,, ến sang công tv trách nhiệm hữu han một thành viên; sửa đổi Luật Phá
•in doanli nghiệp cho phù hợp với yêu cầu Ihực tế hiện nay Hoàn thiện các
t tục về đăng k ý kinh doanh, các quy định về thanh tra, kiểm tra
6- Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng ta về vấn đề Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Trong đó thể hiện rõ quan điểm của Dàng ta đối với kinh tế tư nhân trong đó có các doanh nghiệp tư nhân và các cổng ty trách nhiệm hữu hạn trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã lu)i chủ nghĩa
Qua những cơ sở lý luận và thực tiễn được đề cập, luận án có ý nghĩa không những về lý luận phát triển khoa học nhà nước và pháp luật, khoa học lịuàn lý, mà còn có giá trị thiết thực vào việc giải quyết những khó khăn, vtrớng mắc trong thực tiễn xây dựng, hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật đối với các doanh nghiệp
lư nhàn, công ly trách nhiệm hữu hạn
Luận án đóng góp cho công tác quản lý của Nhà nước bằng pháp luật tlối với các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn, những ý kiến nhằm nâng cao hiệu qủa của công tác quản lý, tạo môi trường pháp ]ý thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy luật kinh tế, quản lý nhà nước cũng như những người quan tâm về nó
7- Câu trúc của luận án
Ngoài phan mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương, 8 tiết và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 16Chương 1
c ơ s ở LÝ LUẬN CỦA VIỆC NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ
b ằ n g p h á p l u ậ t đ ố i Vớ i d o a n h n g h iệ p Tư n h â n,
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ở NƯỚC TA
1.1.C h ín h sách p h á t triển nền kìn h t ế hàng hoá n h iều th à n h phần theo cơ c h ế th ị trường có s ự quản lý của N hà nước, theo định hướỉig x ã hôi chủ nghĩa, cơ sở đ ể p h á t triển doanh nghiệp tư n h â n , công ty trách nhiệm h ữ u h ạn
Sự phát triển của xã hội có thể diễn ra theo những con đường khác nhau, tuỳ Ihuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thổ của mỗi nước, ở Viộl Nam, sau khi đánh đổ chủ nghĩa thực dân phong kiến ở miền Bắc năm
1954, và sau khi Ihống nhất đất nước năm 1975, chúng ta bắt tay ngay vào xây dựng chính quyền vô sản, tiến hành công cuộc cải tạo x ã hội chù nghĩa Với sự giúp đữ của các nước xã hội chủ nghĩa và bè bạn trên thế giới, chúng
la dã tiến hàn h công nghiệp hoá, tạo ra tiền đề vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển lực lượng sản xuất làm cơ sở hoàn thiện quan hộ sản xuất mới T uy nhiên, kết quả hàng chục năm xây clựng chủ nghĩa xã hội đã không được nh ư chúng ta m ong muốn Sản xuất chậm phát triển, nền kinh tế không ổn định, đất nước rơi vào trạng thái khủng ho ản g từ cuối những năm
1980 Mặc dù trong nhiều năm, Đảng và Nhà nước đã hết sức cố gắng chấn chỉnh, cải liến quàn lý các đơn vị kinh tế, nhưng do vần trong khuôn khổ nhận thức và CO' c h ế cũ nên không thu dược kết quả khá quan
Trước yêu cầu ihực t ế của xã hội, với những đòi hỏi cùa cuộc sống, Đùng la đã tổng kết thực tiễn và ra Nghị quyết Trung ương 6 (khoú 6) năm
Trang 17, )79 dề ra chính sách phát triển kinh t ế ngoài quốc doanh cả trong sản xuất Á
.-nlư n ơhiệp và nông nghiệp Tiếp theo là Chỉ thị 100 của Bộ Chính trị (1- ,ỌJJỊ) về phát triển nông nghiệp, đã tạo ra những chuyển biến bước đầu quan
JƯỢC trong vài năm sau dó lại xấu đi Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần [fiứ 6 (1986) đã đ ề 'r a việc tiến hành đổi mới toàn diện, trên mọi mặt của đời sónơ xã hội, nhằ m phát triển kinh t ế đất nước Sau Nghị quyết Đại hội 6, về cửnơ nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn có các Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị
và Quyết định 27/HĐBT ngày 9-3 -1989 của Hội đổng Bộ trường về phát triến kinh tế tư nhân Do vậy, kinh t ế tư nhàn không còn bị coi là thành phần kinh tế phi xã hội chủ ngh ĩa như trước, m à được khuyến khích phát triển, và Irỏn ihực tế đã phái triển rất nhanh cả về s ố lượng xí nghiệp và vốn đầu tư.Trước yêu cầu đó, Đảng đã đề ra c h ủ trương phải xem xét lại phương thức và con đường đưa đất nước tiến lên X ác định nước ta từ một nước tiền
lư bàn đi lên chủ ngh ĩa xã hội, chúng ta khô ng thể bỏ qua việc xây dựng các
cơ sử vạt chất- kỹ thuật ở trình dộ mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được Bởi vì,
chính cơ sở vật chất- kỹ thuật ấy là cơ sở, nền tảng của sự phát triển xã hội,
và cùng với việc phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao, nó là cơ sở cùa sự hình thành và phát triển quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất xã liội chủ nghĩa Chủ trương mà Đảng ta đ ã nêu ra có cơ sở lý luận và thực tiễn tlược thể hiện như sau:
Về cơ sở lý luận, Kinh tế chính trị M ác -L ên in đã chỉ ra rằng, trong lịch
sừ phát triển kinh tế- xã hội hiếm có m ộ t nền kinh tế thuần nhất Thông thường trong một c h ế độ kinh tế- xã hội đương thời vẫn tổn tại những tàn dư cùa phương thức sản xuất trước và chứa đựng những nhân tố của phương thức s;in xuất k ế sau Nh ữn g phương thức sản xuất tiêu biểu cho c h ế độ kinh tế- xã hội hiện thời giữ địa vị thống trị, chi phối, còn các tàn dư và nhân Lố của Những phương thức sàn xuất khác ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối Nhưng
Trang 18, n tT [ịch sử của mọi nước lại có nhũng giai đoạn mà xã hội đang Irong bước
.1 u.vcn từ c h ế độ này sang c h ế độ khác, ở đó không có phương thức sản xuất
• oiữ clia vi ih ố n g Iri, VI p h ư ơ n g thức s ả n x u ấ t đ ã từ n g g i ữ đ ia vi th ố n g tri
n^Ư à
, ,11 ơ thời kỳ trước đan g suy thoái, không còn đủ sức để chi phối nền kin h tế uốc dàn nữa và phương thức sản xuất mới đang lớn lên nhưng chưa giành J'fơe địa vị thống trị Đó chính là thời kỳ quá độ, trong đó m ọ i phương thức s-m xuất chỉ là một mảnh, một bộ phận của kết cấu kinh t ế xã hội vừa có tính Jòc lập tương đối, vừa có tính tương trợ lẫn nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau Mỗ i bộ phận là một thành phần kinh tế- xã hội M ộ t trong những thành phần ấy sẽ vươn lên giữ vai trò chủ đạo, lôi cuốn các thành phần khác theo định hướng của mình và tiến tới giữ địa vị thống trị n ề n kinh tế quốc dàn Tuy t h ế tiến trình lịch sử đã cho thấy có những thành phần kinh tế không bao giờ giữ vai trò chủ đạo và không thể vươn lèn giữ địa vị thống trị như kinh l ế gia đình, sản xuất hàng hóa nhỏ
Về c ơ sở thực tiễn trên thế giới và ở nước ta trước thời kỳ đổi mới 198Ố
của một nước lạc hậu, kinh t ế tiểu nông chiếm đại bộ phạn, kinh tế tư bản chưa phát triển V.I Lênin đã khảng định rằng không thể chuyển trực tiếp nước Nga lên chủ nghĩa xã hội mà phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, nhằm khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng c ơ sở vật chất kỹ ihuật cho chủ nghĩa xã hội V.I Lênin viết: " Chúng ta hãy kể ra các thành phần kinh tế đó là:
1- Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất
Trang 194- Chả nghĩa tư bản nhà nước.
lo lắng đến sự thuần túy của chủ nghĩa cộng sản ” [120; 281]
V.I Lènin khẳng định rằng do những sai lầm của chính sách kinh tế [rước đây, đ ể cứu vãn nước N ga khỏi khủng hoảng, cần áp clụng c h ế độ tự do buôn bán trao đổi hàng hóa Việc thực hiện c h ế độ tư do buôn bán trao đổi
hàng h ó a , đ iề u đ ó c ó thể dẫn đ ế n h iệ n tư ợng đ ẩ u c ơ trục lợi, h i ệ n tư ợng b u ô n
bán vô chính phủ, trốn tránh sự kiểm tra của N hà nước vô sản, hiện tượng phá rối thị trường v.v V.I Lênin viết: " Trao đổi hàng hóa và tự do buôn
bán nh ất đ ịn h s ẽ là m x u ấ t h iệ n n h ữ n g n h à tư bản v à n h ũ n g q u a n h ệ tư bủn
chù nghĩa K hông việc gì phải sợ điều đó N hà nước công nhân có trong lay
dẩy đù p h ư ơ n g tiệ n đ ể c h o p h é p n h ữ n g q u a n h ệ đ ó - n h ữ n g q u a n h ệ h iện dang c ó íc h v à c ầ n th iế t tro n g h o à n c ả n h s ả n x u ấ t n h ỏ - phát triển c ó c h ừ n g
mực nhất địn h và đ ể kiểm soát những quan hệ đó ” [120; 331] N hư vậy,
chính s á c h đ ú n g đắn nh ất n h ằ m n â n g c a o đ ờ i s ố n g nhân dân v à phát triển lực 'ưỢng s ả n x u ấ t c h ỉ c ó thể là c h ín h s á c h th ú c đ ẩ y sự phát triển c ủ a c á c thành
phần kin h tế
Trang 20- Đối với Việt Nam, nền kinh tế tính từ năm 1954 đến nay, có thể tạm chia làm hai giai đoạn, lấy năm 1986 - năm mà Đảng và Nhà nước ta xướng chù trương đổi mới nền kinh tế đất nước làm mốc.
Thời kỳ trước năm 1986, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tập trung, ,irln liêu, bao cấp với hai Ihành phần kinh tế chủ yếu, đó là kinh t ế quốc
j oanh và kinh tế tạp thể Khu vực kinh tế tư nhân không những không được iliừa nhận, mà còn cho là đối tượng cần phải cải tạo Vì chỉ có hai thành phần kinh tế, nên kinh tế Việt N a m giai đoạn này không phải là n ể n kinh t ế hàng hóa với sự đa dạng của các thành phần kinh tế, mà là nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, không có cạnh tranh, m à chỉ có sự độc quyền của Nhà nước trong mọi lĩnh vực Hiến pháp năm 1959 nước Việt Nain Dân chủ cộn g hòa quy định: " ở nước Việt N a m Dân chủ cộng hòa [rong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là hình thức sở hữu của N h à nước tức là của toàn dan, hình thức sở hữu cùa hợp tác xã là hình thức sở hữu của tập thể của nhân dân lao dộng, hình thức của người lao độ n g riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sàn dân tộc ” [73; 4 3 ]
Do hoàn cảnh lịch sử trong thời kỳ này, kinh tế tư n h à n không phát iriển Do vậy, Hiến pháp n ă m 1959 tuy có thừa nhận hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc, nhưng dcn Hiến pháp năm 1980 được khẳng định " Nhà nước tiến hành cách mạng
vc quan hệ sản xuất, sử dụ n g và cải tạo các thành phần kinh t ế phi xã hội chù nghĩa thiết lập và củng cố c h ế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai ihành phán: thành phần kinh tế quố c doanh thuộc sở hĩru toàn dân và thành phần kinh tê Hợp tác xã thuộc sở lìĩru tập thể của người lao động Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh t ế quốc dân và được phát triển ưu tiên ” [74; 355]
Trang 21Có thể nói thời kỳ irước năm 1986, chúng ta đã nhấn m ạnh một chiều -hế độ sở hữu tư liệu sản xuất là tiền đề, là nhân tố quyết địn h m ở đường cho Ịực lượng sản xuất phát triển m à quên rằng “ bất cứ một sự biến động nào về mãt quan hệ chiếm hữu cũng đều là kết quả tất yếu cùa việc tạo nên những
[|6; 452- 453].Do đó, N hà nước không quan tâm đến việc phát triển thành phàn kinh tế tư nhân, chỉ coi trọng hai thành phần kinh tế là quốc doanh và lập thể với vai trò bao trùm của N hà nước từ khâu sản xuất đến khãu phân phối, lưu thông Trong quản lý kinh tế N hà nước đưa ra hệ thống k ế hoạch pháp lệnh, quy định giá cả, nơi tiêu thụ cho hầu hết các sản phẩm và đề ra các chính sách hỗ trợ tài chính qua đầu tư tín dụng cho các doanh nghiệp, kết quả là trong x ã hội không chỉ tồn tại hai thành phần kinh tế N h à nước và tập thể, m à vẫn có những mầm nống, những nhân tố của các thành phần khác cùng lổn tại diều này được thể hiện rõ nhất là kinh tế gia đình, kinh tế tiểu chủ như thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán, kinh doanh dịch vụ cá thể Những “thành phần” kinh tế này một phần còn tổn tại lại sau cuộc cải tạo công thương nghiệp tư doanh vào những năm 1955-1960 của Nhà nước ta M ặt khác nó được phát triển ngay trong công cuộc xây dựng chù nghĩa xã hội ở m iền Bắc, khi mà hai thành phần kinh tế N h à nước và tập thể còn những mặt chưa đáp ứng được yèu cầu của x ã hội N ăm 1975 giải phóng miền N am thống nhất đất nước, m ột kin nữa N hà nước ta tiến hành cải lạo các nhà tư sản và vận động nông dàn các tỉnh miền N am vào hợp tác xã nòng nghiệp, thực hiện thống nhất trong toàn quốc chỉ có hai thành phần kinh tế N h à nước và tập thể
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, dãn đến sau năm 1975 kinh tế nước
ta chậm phát triển, đời sống nhân dân nói chung ngày một khó khăn hơn Cũng từ đó kinh tế tiểu chù và các thành phần kinh tế khác tuy không được thừa nhận nhưng đ ã ngày m ột phát triển trong nông nghiệp ờ một số địa
Trang 22phương đã mạnh dạn khoán đến hộ sản xuất, tiểu thủ công nghiệp xuất hiện các tổ sản xuất, cửa hàng dịch vụ có thuê, mướn m ột sô' ít lao dộng, những hình thức hoạt động này đã nhanh chóng dược xã hội thừa nhạn như một tất yếu khách quan và phần nào giải quyết được những khó khăn, bức xúc về kinh tế lúc bấy giờ.
Căn cứ vào những cơ sở lý luận và thực tiễn nh ư đã nêu ờ trên, Đại hội lần thứ 6 năm 1986 của Đảng đã xuất phát từ thực tế nước ta, vận dụng quan diểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, và chỉ ra rằng: “ ở nước ta các thành phần kinh tế đó là:
- Kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó
( thợ Ihủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch
vụ cá thể ) kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức mà hình Ihức cao nhất là công tư hợp doanh, kinh tế tự nhiên tự cấp, tự túc trong một bộ phận đổng bào dàn tộc thiểu số ờ Tây N guyên và các vùng núi cao khác ” [28; 56]
Sự dổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta với việc thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đã khẳng định tính thống nhất hữu cơ giữa các quy luật kinh tế đặc thù của chủ nghĩa xã hội với nhũng qụy luật kinh tế hàng hóa Quan điểm mới đó là cơ sở tạo ra động lực m ạnh mẽ thúc đẩy sản xuất hàng hóa và kinh tế hàng hóa phát triển
Cùng với việc đổi mới về tư duy kinh tế, Đảng ta cũng chỉ ra rằng, trong
diều k iệ n kinh t ế n h iề u thành phần ở c h ặ n g đ ư ờ n g đ ầ u tiê n c ủ a thời k ỳ quá
độ thì việc vận dụng tính thống nhất của các quy luật kinh tế ở nước ta càng phủi được quan tâm để có chính sách và cơ chế quản lý phù hợp Phải nhận thức dược Irong hệ thống các quv luật, qu>TTũẸ£ỊẬựlỴtếxơ’bảfr-eùng với các
Trang 23quv luật đặc Ihù khác của chủ nghĩa xã hội ngày càng phát huy vai trò chủ dạo, vận động trong một ihể thống nhất với các quy luật của sản xuất hàng hóa, clặc biệt là quy luật giá trị và quan hệ cung cầu Phải kết hợp hài hòa oiữa quyền lợi và nghĩa vụ Bởi vì " Không có quyền lợi nào mà không có nơhĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi ” [15; 615]
Những hạn c h ế cùa tư duy kinh tế cũ đã dựa trên quan niệm giản đơn về chù nghĩa xã hội, không thừa nhận thực trạng kinh tế nhiều thành phần là tất yếu hoặc cho nó chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn Vì vậy, muốn đẩy nhanh cách mạng quan hệ sản xuất theo hướng tập thể hóa càng sớm càng tốt Quan điểm ấy đã dẫn tới hiện tượng lúc thì nóng vội, lúc lại buông lỏng công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa M ặt khác, tư duy cũ coi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền sản xuất mang tính xã hội trực tiếp ngay từ đầu, không cần phải qua các quan hệ hàng hóa - tiền tệ Từ đó dẫn đến sự cường điệu khả năng tổ chức quản lý và k ế hoạch hóa tập trung trực tiếp từ cấp trên, chủ yếu dựa vào quyền lực hành chính và quan hệ hiện vật, nhấn mạnh k ế hoạch tập trung, xem nhẹ quy luật giá trị, phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ đúng nghĩa củ a nó trong quản lý kinh tế Vì thế, cơ ch ế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã vi phạm nghiêm trọng quy luật khách quan trên hai m ặ t :
M ột là, vi phạm sự tác động biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, cũng như giữa cơ ch ế quản lý với đối tượng quản lý
Hai là, vi phạm tính khách quan và tính hệ thống của các quy luật kinh
*c, do cơ c h ế quản lý chủ yếu dựa vào mệnh lệnh gắn liền với việc chưa thật
sự thừa nhận những quy luật và phạm trù của sản xuất hàng hóa Sự vi phạm (]uy luật của sản xuất hàng hóa tất yếu dẫn đến vi phạm mọi quy luật kinh tế
kể cà quy luật kinh tế co' bản của chủ nghĩa xã hội, và làm m ất khả năng vận ('ộng của các quy luật khác
Trang 24Do có sự nhận ihữc dũng dấn như vậy, nên Đại hội Đủii” lẩn thứ 6
•1)8 6) tlã xác dịnh những cỊuan diổm và phương hướng dổi mới kinh lố- xã
v i trong đó việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phẩn dược coi như
7,1 chủ trương m ang tính chiến lươc Chính vì vây đến đai hôi Đảng lần Ihứ
i U\
- tron° khi khẳng định việc tiếp tục đổi mới toàn diện và sâu sắc các mặt của
|ji sống kinh tế - x ã hội, đ ã chỉ rõ: " Chúng ta chủ trương thực hiện nhất
|U'ín c h ín h s á c h k in h tế n h iề u th ành phần t h e o đ ịn h h ư ớ n g x ã h ộ i c h ủ n gh ĩa
\ịoi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu
vì thu nhập hợp pháp Các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau, hình thành những tổ chức kinh doanh đa dạng Các doanh nghiệp không phân hiệt quan hệ sở hữu, đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật ” [29; 115-116] Quan điểm bao trùm của Đảng ta tlic hiện xu hướng đổi mới tư duy trong lĩnh vực quản lý kinh tế là thật sự nhìn nhận tính khách quan, tính hệ thống của nền kinh tế đang chuyển mạnh sang kinh tế hàng hóa với cơ cấu nhiều thành phần, cũng như sự tồn tại tất yếu của quan hệ h àn g hóa - tiền tệ và quan hệ thị trường
N hò có đường lối chiến lược đúng đắn của Đ ảng, cùng với quyết tàm của loàn Đ ảng, toàn dân thực hiện cho được mục tiêu: " Cơ bản ổn định tình
iriổn kinh tế xã hội của Việt N am là: " Tăng cường kinh tế xã hội chù nghĩa Irèn cả ba mặt : c h ế độ sở hữu, c h ế độ quản lý, c h ế độ phân phối làm cho kinh tế quốc doanh giữ vai Irò chủ dạo và cùng với kinh tế tập thổ giữ vai trò lỊUyết định trong n ền kinh tế quốc dân, chi phối các thành phần kinh tế khác, khuyến k hích phát triển kinh tế gia đình sử dụng kinh lế tư bản tư nhân 'rong một số n g à n h nghề m ở rộng nhiều hình thức liên kêi giữa các thành phần kinh tế theo ngu y ên tắc cùng có lợi, bình đẳng trước pháp luật” [28;
*27] Cho nên thời k ỳ sau năm 1986, nền kinh tế Việt N am d ã cỏ một sự thay (tôi lớn nhằm xoá bỏ triệt đổ cơ c h ế quàn lý kinh tế tạp chung quan liêu, hao
Trang 25|, lùnh ihành cơ ch ế thị Irường có sự quản lý của Nhà nước bằn Sỉ pháp luật, kõ' hoạch, chính sách và công cụ khác.
Đỉnh cao về quyết tâm đổi mới của Đàng và N hà nước ta dã thể hiện tron2 việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Điều 21 của bản Hiến pháp 1992 dã yic nhận năm thành phán kinh tế, trong đó thành phần kinh tế tư nhân được Nhà nước bảo đảm những điều kiện phát triển thuận lợi: " Kinh tế cá thể, kinh tế tư bàn lư nhàn dược lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất, dược thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong n h ữ n g ngành nahề có lợi cho quốc k ế dàn sinh ” [72; 20-21]
Những quy định liên đây của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chú Iiỉlhĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định địa vị pháp lý của các thành phần kinh tế Vai trò và cơ ch ế hoạt động của các thành phần kinh tế nhà nước, tập ihc và tư nhàn có những thay đổi đáng kể, trong đó vai trò chủ đạo vần thuộc
vổ thành phần kinh tế quốc doanh Kinh tế quốc doanh sẽ nám một số ngành tlicn cliốl, sao cho thông qua kinh tế quốc doanh, Nhà IIước tác d ộ n s vào nén
tro 1 12 nền kinh tế quốc dân, là nhằm báo đảm cho sự phát triển ổn định và có hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, theo định hướng xã hội chù nghĩa Cúc
thành phần kinh tế tổn tại và phát triển trên n g u y ê n tá c bình đ ẳ n g trước pháp
luật, và “ Nhà nước quan lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp c h ế xã hội chủ nghĩa ” [72; 17]
Trên cơ sớ kết quá bước đầu đã đạt được của những năm đổi mới, Đại hội lần thứ 7 Đảng Cộng san Việt Nam đã thông qua " Chiến lược ổn định và
những phương hướng nói trên, nhấn mạnh phải dổi mới cơ ch ế quàn lý kinh
tế Ilieo hướng: " Tiếp tục xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đổng bộ và vận hành có hiệu quà cơ c h ế thị Irường, có sự quàn lý của Nhà nước ” [25; 23 J Đây là cơ sở hết sức quan trọng đổ cho các doanh
Trang 26nưhiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhàn ra đời và phát triển Thực tế cho
0 y chỉ sau m ột thời gian ngán từ khi Đủng ta tiến hành công cuộc dổi mới ựiám 1986) đến năm 1990, hàng loạt các xí nghiệp tư nhân được thành lập phần lớn những xí nghiệp này khi có Luật Doanh nghiệp tư nhàn và Luật cỏng ty đã chuyển thành doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu
mới nền k in h tế đ ấ t nước
Có được một nhận thức đúng đắn về quy luật kinh tế và các yếu tố khác, ánh hưởng đến việc phát triển kinh tế, từ đó đề ra các chủ trương, chính sách kinh tế phù hợp với giai đoạn cách mạng hiện nay của Đảng ta, là cả một quá
trình đ ư ợ c v ạ n d ụ n g , k iể m n g h iệ m bằn g thực tiễn ở n ư ớ c ta trong thời gian
qua Do đó đã mang lại kết quả trong những năm đổi mới, dồng thời khảng
(.lịnh c h ín h s á c h phát triển kinh l ế h àn g h o á n h iề u thành phẩn, th eo CƯ c h ế thị
Irường, có sự quan lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đàng ta là hoàn toàn đúng đắn
Tuy nhiên, một vấn clề dật ra là Nhà nước phai lổ chức quán lý thành phần kinh t ế mới được thừa nhận và phát triển như thế nào Bời vì, nước la xuất phát từ một nước phổ biến là sản xuất nhỏ, lực lượng sản xuất phát triển không đều và do đó, cúc thành phần kinh tế còn cùng lổn tại Nếu để phát Iricn tự phát trong nền kinh tế thị Irường, thì theo lô gích tự nhiên, nền kinh
lê lìirớc ta sẽ di lèn chủ nghĩa tư bản Do vạy, nhiệm vụ cùa Nhà nước là phải quàn lý được thành phần kinh tế tư nhân nói chung, doanh nghiệp tư nhân, ròng ty Irách nhiệm hữu hạn nói riêng phát triển theo định hướng xã hội chú nghĩa
Để làm được điều này yêu cẩu đặt ra là Đảng, Nhà nước phải kịp thời sửa dổi, bổ sung chính sách, pháp luật, không còn phù hợp đang kìm hãm sự phát triển cùa các doanh nghiệp Chúng ta đã có chính sách, pháp luậl cho phép các doanh nghiệp lư nhân, công tv trách nhiệm hữu hạn phát triển và
Trang 27turc tế 10 nám qua đã có hàng vạn doanh nghiệp dược cấp đăng ký kinh
rinơ chúng ta còn thiếu những chính sách cụ thể để khuyến khích các doanh ,,,-liiệp đầu tư, phát triển theo định hướng cùa Nhà nước Đối với pháp luật cùn nhiều văn bản mang tính luật khung, thiếu những văn bản dưới luật dể cụ thế hoá việc tổ chức thực hiện pháp luật, vì vậy đã có ảnh hưởng đến hoạt Jòng cùa các doanh nghiệp Vấn đề này phải được khắc phục kịp thời tạo cơ
SỪ pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động
1.2 S ự cần thiết N h à nước p h ả i quản lý bằng pháp luật đối vói doanh nghiệp tư n hân, công ty trách nhiệm hữu hạn
Việc xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
và Nhà nước phải tổ chức quản lý là một tất yếu khách quan, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn của nước ta Bàn về quản lý xã hội nói chung Các Mác đã v i ế t : " Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động ” [14; 29] Như vậy, ở đâu có sự hiệp tác của nhiều người, ở đó cần phải có quản lý, vì mọi hoạt động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết với nhau dưới nhiều hình thức Khái niệm về quản lý bao gồm hai mặt: một mặt, quản ỉý là cần thiết để bảo đảm tính nhất trí giữa còng việc của cá nhân tổ chức, hay nói cách khác, quản lý là sự lác động đến cách thức xử sự của những người bị quản lý từ phía những chủ thể quản lý; mặt khác, quản lý còn là sự thực hiện những chức năng chung nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ thực thể sản xuất xã hội Chức năng chung, qua thực liễn cho thấy đã ngày càng tăng lên và đóng vai trò quan trọng trong quản lý
xã hội cùng với mức độ phát triển của sản xuất, tính phức tạp của sinh hoạt
•Xã hội, sự tăng trưởng nói chung của xã hội Chức năng chung cùa quản lý không đơn giản là sự thống nhất, sự phối hợp công việc riêng biệt, sự tác dộng chung, duy trì những điều kiện tổn tại của lao động, phục vụ những nhu cầu tập thể tiến hành những công việc chung, như k ế hoạch hóa công tác
Trang 28-.c phân công côn g việc, bảo đảm phương tiện iao động chung, Irả công lao Jỏnơ phân phối Hũ ci' c t*lu n ^ập v-v— những chức năng này tách khỏi quá
únh chất bào đảm ở cấp độ nhà nước, những công việc chung đó, chức năng
■hung đó mang tính chất quốc gia Nhiều chức năng được tách ra và thoát kllòi quá trình sản'xuất, tạo nên cơ sở c ủ a các chức năng và những nhiệm vụ của Nhà nước, của quản lý nhà nước, k h ô n g còn là sự thống nhất đơn giản
„ifra các cá nhân riêng biệt
Như vậy, quả n lý nhà nước không chỉ là sự tác động, mà là hoạt động nhiéu mặt Đó là phương tiện thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước, là việc Ihực hiện các chính sách của Nhà nước Đây chính là cơ sở khách quan của quản ỉý nhà nước Ngoài ra, quản lý nhà nước cũng như tấl
cá các dạng quản lý xã hội khác đều mang bản chất tổ chức
Tổ chức là sự phân công, phàn định rõ vị trí, chức trách của từng cá
nhân tro n g tạp t h ể c ủ a c á c CƯ q u a n t r o n g bộ m á y n h à nư ớc, là s ự p hố i hợp,
liên kêì hoạt dộng của nhiéu người, nhiều cơ quan đổ thực hiện mục tiêu đã ilc ra Tổ chức là yếu tố quyết (lịnh mang lại hiệu quả cho quản lý Không có
lổ chức thì khổng thể quản lý có hiệu quả Quản ỉý nhà nước không phái là quyền riêng của các cơ quan chấp hàn h thực hiện, dó là hoạt động cùa toàn
bộ hệ thống các c ơ quan nhà nước, toàn bộ bộ máy nhà nước, cíó là hoạt động
lõ chức nhiều mặt nhầm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Hoạt động quản lý của Nhà nước được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, kinh tế Irong đó hoạt động llu‘in lý của Nhà nước về kinh tế giữ vị trí hết sức quan trọng đối với dời sỏng xã hội
Để thực hiên chức năng quàn lý kinh tế, Nhà nước tiến hành nhiều hoạt (*()ng quản lý khác nhau, trong đó có hoạt động quản lý các loại hình doanh
Trang 29^1’liiệp- Trong phạm vi dề tài này, như chúng lôi đã nêu ờ phần mở dầu, chỉ
li cập đến hoạt độ n g quản lý của Nhà nước bằng pháp luật đối với hai loại j-.pl! doanh nghiệp đó là doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữuhạn
Về lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp lư nhàn, :flnơ ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng Nhà nước áp dụng nhiều biện pháp Ịdríc nhau Điều 26 Hiến pháp năm 1992 có quy định: ” N h à nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, k ế hoạch, chính sách [72; 22] N h ư vậy, trong các côn g cụ mà Nhà nước ta sử dụng để quản lý nền kinh tế, ngoài pháp luật còn mội s ố phương pháp khác chẳng hạn phương pháp có tính chất chính trị, tinh thần: thuyết phục, giáo dục, khuyến khích về linh thẩn; phương pháp có tính chất kinh tế: khuyế n khích vật chất các hoạt (lộng xã hội có ích; phương phá p tổ chức: dự định, tổ chức, kiểm soát, chỉ dạo; phương pháp mệnh lệnh hành chính Nhưng pháp luật được đề lên hàng iláu và là công cụ khô ng thể thiếu được trong quản lý kinh tế m à biểu hiện rõ nhất là pháp luật tác động lên hệ thống quản lý và hệ thống chịu sự quản lý
Đối với hệ thống quản lý:
cường mọi biện pháp tổ chức nhằm kiện toàn cơ cấu bộ m á y quản lý trong
phận cấu thành của chúng và những người có trách nhiệm, có nghĩa là điểu chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ hệ thống quản lý
- Cùng cố quá trình quản lý, dự kiến những điều kiện để quản lý, quy
Trang 30- Bảo đảm các điều kiện dể thực hiện hoạt dộng quản lý quy định
•rách n h iệm cùa các cơ quan và những người có chức năng quản lý Định lrifớc những biện pháp bảo vệ, ngăn chặn những hành vi nhằm cản trở hoạt dỏng quản lý
Đối với hệ thống chịu sự quản lý :
Pháp luật nói chung đóng vai trò là phương tiện để tác động lên nhận thức và hoạt động của mọi đối tượng chịu sự quản lý N hờ có pháp luật mà
lập ra được quyền và nghĩa vụ chủ thể của họ, giới hạn các hành vi cho phép, cưỡng c h ế thực hiện khi cần thiết
Vai trò cùa pháp luật thể hiện tính khách quan của hoạt động quản lý
trong nền kinh tế thị trường, m à yếu tố chủ quan của chủ thể quản lý dù
muốn hay k h ô n g m uốn thì cũng không thể áp đặt được
T rở lại thời kỳ Nhà nước quản lý kinh tế theo cơ c h ế tập chung, quan
liêu, bao cấp lúc đó công cụ quản lý của N hà nước cũng bao gồm pháp luật,
kè' hoạch, chính sách N hư vậy, không phải từ sau thời kỳ đổi mới nền kinh
lố đất nước, N hà nước ta mới sử dụng công cụ pháp luật trong quản lý kinh
lè, mà trước đó pháp luật đ ã có mặt trong số các công cụ quản lý kinh tế Tuy
nhiên, cỉo hoàn cảnh lịch sử thời kỳ đó c h ế độ kinh tế của chúng ta chí có hai
thành phần kinh tế, tương ứng với hai hìn h thức sờ hữu, dó là sỡ hữu nhà
nước và sở hữu tạp thể Nhà nước điều hành kinh tế chủ yếu bằng các chỉ liêu
pliáp lệnh, các doanh nghiệp thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh thông qua k ế hoạch
dược giao, n h ư sản xuất mặt hàng gì, số lượng bao nhiêu, bán cho ai, giá cả
bao nhiêu tất cả đều nằm trong k ế hoạch
Với cơ c h ế quản lý kinh tế như vậy, cho nên các doanh nghiệp hầu như
không cần cạn h tranh với nhau Trong sản xuất kinh doanh, tuy pháp luật có
quy định về ký kết hợp đổng kinh tế nhưng hầu hết các doanh nghiệp không
quan tâm đến vấn đề này Vì trong hoạt độn g sản xuất, kinh doanh của doanh
Trang 31c-hiệp dừ có lỗ hay lãi cũn g không có gì ảnh hưởng đến doanh nghiệp Nếu
r i thì nôp về ngân sách, nếu lỗ không hoàn thành k ế hoach thì cuối năm Nhà
;1Lfức điều chỉnh lại chỉ liêu k ế hoạch Tha m gia trực tiếp vào quản lý kinh tế ư0nơ thời kỳ này không chỉ có Nhà nước mà còn có các tổ chức chính trị khác lúc đó các chi bộ, đảng uỷ cơ quan có thể ra nghị quyết mang tính chất qirin lý đối với các doanh nghiệp mà không cần đến sự quản lý của các cơ ỊU-in Nhà nước Vai trò của các tổ chức cơ sở đảng có lúc lấn sân sang chức nìnơ quản lý kinh tế của các cơ quan nhà nước
Trước tình hình nh ư vậy vai trò của pháp luật bị lu mờ và trở nên không thực sự cần thiết khi tham gia vào quản lý kinh tế Điều này hoàn toàn không có nghĩa là pháp luật lúc đó không mang giá trị của nó mà chính là do
CƯ chế quả n lý thờ i k ỳ hàn h chính bao c ấ p đ ã không phát huy h ế t vai trò của pháp luật trong quản lý kinh tế Mặt khác có thể nói rằng ở thời điểm đó, chúng ta cũn g chưa nhận thức một cách đầy đủ về vai trò của pháp luật có tác ilọng đến nền kinh tế, nhất là tác động đến kinh t ế tư nhân Do đó kinh tế tư nliân khô ng được khuyến khích phát triển, cho nên pháp luật đã cấm mọi hoạt dộng nhàm mục đích phát triển kinh t ế tư nhân
Chuyển sang thời kỳ kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phát triển Ilico cơ c h ế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo địn h hướng xã hội chù nghĩa, thì yêu cầu về quản lý xã hội, quản lý kinh tế của Nhà nước được thay đổi về chất N h à nước quản lý kinh tế bằn g pháp luật, k ế hoạch, chính sách trong đó pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng Điều này cũng không phải do chủ thể quản lý quy định pháp luật là quan trọng, mà chính là
do sự chuyển đổi về cơ c h ế quản lý đã làm thay đổi vai trò của pháp luật, dòi hỏi phải có pháp luật để điều chỉnh các quan hệ của xã hội Chính vì vậy, Irong khoản g 10 n ă m trở lại đây rất nhiều các văn bản pháp luật dã được Nhà nưóc ban hàn h để quả n lý kinh tế như Bộ luật Dủn sự, Bộ luật Lao động, Luật
Trang 32jnli n 45hiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Phá sản doanh nghiệp và gần dày
LU;U D o a n h n g h iệp
Việc xác định vai trò quan trọng của pháp luật và N h à nước quản lý
; n j 1tẽ' bàng pháp luật khô ng phải lần đầu tiên được xác định ở nước ta, mà - nước trên thế giới, phát triển kinh tế theo cơ c h ế thị trường đều áp dụng.S-Ịiit là các nước đa áp dụng cơ c h ế thị trường hàng trăm n ă m nay cho thấy, thi dã chấp nhận việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
■0 chế thị trường, thì pháp luật bao giờ cũn g là công cụ có vai trò quan trọng nhất trong quản ỉý kinh tế M ặt khác khi nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị tníờng thì pháp luật đã trở thành một bộ phận cấu thành của c ơ chế quản lý kinh tế Không có pháp luật, hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu
d u cùa nền kinh tế thị trường, thì nền kin h t ế thị trường không thể vận hành trùi chảy dược Một khi pháp luật đặt ra ngoài quá trình cải cách kinh tế hoặc không dược chú trọng đúng với tầm quan trọng của nó, thì cải cách kinh tế theo hướng phát triển nền kinh tế thị tnrờng sẽ rơi vào tình trạng lộn xộn và
di (lốn thất bại ở đây, pháp luật đóng vai trò đảm bảo việc chuyển nền kinh
ló iliị trường từ trạng thái tự phát, kém tổ chức sang một thị trường văn minh Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập m ộ t môi trường pháp lý thuận tiện cho mọi hoạt dộng sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế Tiêu chí để đánh giá pháp luật đó đúng đắn hay không, chính là sự phát triển phổn vinh của nền kinh tế thị trường văn minh Vai Irò dó của pháp luật được quy định trước hết bởi những yêu cầu khách quan do chính nền kinh tế thị 'rưừng đặt ra, sau nữa bởi những giá trị xã hội của pháp luật trong việc bào
‘lam tính tổ chức, trật tự và kỷ luật cao cùa một nền kinh tế, và trong điều kiện của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, giá trị xã hội của pháp luật lại Ci‘ng to lớn
Trong một nền kinh t ế thị tnrờng văn minh, việc bảo đảm sự thống nhất h;‘ii hòa giữa nén kinh tế và xã hội là một yêu cầu khách quan Hai mặt này
Trang 33■1 luôn luôn ờ trạng th á i màu Ihuẫn nhau Tro ng khi dó, với mục đích nhằm , [ dược lợi nhuận cao nhất, bản thân nền kinh t ế thị trường không bao hàm
nơ dó Cơ c h ế bào đ ả m các vấn đề xã hôi Sư thống nhất giữa phát triển
i nỊ1 tê' lẫn xã hội chỉ có thể đạt được b ằ n g s ự can thiệp c ủ a Nhà nước bằngnháp luật
Về đường lối phát triển kin h tế ở nước ta hiện nay Đảng, Nhà nước đã fchẩnơ định chúng ta phát triển nền kin h t ế nhiều thành phần, theo cơ c h ế thị trường N h ư vậy về lý thuyết n h ư đã phà n tích ở trên thì pháp luật là công cụ quan trọng nhất trong q u ả n lý kinh t ế của N h à nước Thực tiễn quản lý kinh
tó cùa Nhà nước ta trong n h ữn g nãm vừa q u a đã kh ẳng định điều đó là đúng dãn Chúng ta có thể dễ d à n g nhậ n thấy rằn g hoạt độn g kinh tế hiện nay còn nhiều khó khăn, tính tự phát nổi lên k h á phổ biến, hiện tượng liêu cực trong kinh tế khá nhiều: " C h ún g ta chưa gắn chặ t nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội với bảo vệ an ninh, trật tự, chưa q u a n tàm đúng mức giải quyết những Itguyèn nhân và điều kiện làm nảy sinh phát triển tội phạm; còn buông lỏng pháp chế, kỷ cương; đ ấ u tranh chưa m ạ n h mẽ, x ử lý c h ư a nghiêm minh những kẻ phạ m tội; còn có mặl hữu k h u y n h mất cành giác .” [29; 38 ] Thực trạng đó có phần do h ậ u q u ả c ủ a c ơ c h ế cũ để lại, có phần do tính phức tạp ánt quan hệ thị trường, dặc biệl là do Irong diều kiện nền kin h tế nước ta còn Iliiếu nhiều yếu tố c ủ a m ộ t thị trường đích thực, đầy đủ, chứa dựng nhiều yếu
tó tác động ngoài kin h tế N g u y ê n nhân q u a n trọng ỉà do ta còn có nhiều sơ trong chính sách, thể lệ kinh tế do hệ th ốn g phá p luật kinh tế còn thiếu và cliàp hành pháp luật đã được ban hàn h ch ưa nghiêm Nhận định về vấn đề này, văn kiện đại hội Đ ả n g toàn quố c lần th ứ 8 có nêu, c h ú n g ta “ chưa giải cỉuyêL tốt một số chính s á c h để k h uy ến khích kinh t ế tư nhà n phát huy tiềm n;ing, đổng thời ch ưa quản lý tốt thành phầ n kinh t ế n à y ” [27; 65; 66] Vì vậy, Nhà nước phải coi trọng điều hàn h nền kinh t ế bàng pháp luật, đó là đặc lrưng vốn có của sự q u ả n iý nhà nước N h ờ có pháp luật làm chuẩn mực cho
Trang 34j n ơ cùa các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế mà xác lập dược kỷ
L ụ l uụ
trật tự trong kinh tế
V'ũ trò quan trọng của pháp luật còn được thể hiện ử chỗ khi chúng ta
- dịnh nền kinh tế thị trường nước ta có định hướng xã hội chủ nghĩa , như
;nh kinh tố, mà bao giờ cũng phải gắn liền với những thay dổi lớn, căn bản
vé xì hội thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và tiến
y, xã hội Vì vậy, pháp luật phải đóng vai trò đảm bảo tính hai mặt chủ yếu -úa quá trình đó: Một mặt, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dàn, rti.u khác, phải đảm bảo lợi ích của xã hội, bảo vệ người lao động, người tiêu dùng không thể để xẩy ra tình trạng làm kinh tế bằng bất cứ giá nào Thiếu vai trò của pháp luật không thể có một nền thị trường văn minh Nói đến thị nường là nói đến đa hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, đa thành phần kinh lố, đa lợi ích Từ dó yêu cầu đặt ra là phải bảo đ ả m bình đẳng và công h.íim Việc bảo đàm bình đẳng và công bằng trong khi điều hành nền kinh tế lung pháp luật đó cũng là chức năng của pháp luật
Đối với những đối tượng quản lý hoạt động trong cơ ch ế thị trường, quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh sẽ là hình thức nếu thiếu
Mí quy định của pháp luật đảm bảo quyền binh đảng của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn trước pháp luật nói riêng Trong những hoàn cảnh như nhau, mọi doanh nghiệp diíực hường những khả năng, điều kiện và có lợi như nhau, phải ngang quyền ln>ng quan hệ với nhau, không có sự phân biệl đối xử nào Trong điều kiện kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế thì càng phải đề c,l° vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự bình đảng, nếu không nền kinh tế nước ta rất dễ quay trở lại cơ c hế cũ: tập trung quan liêu - bao cấp
•^ột quy (.lịnh của pháp luật khi ban hành phủi dược số dông trong cộng đổng Unc hộ, cho là dúng thì tính công bàng lại càng cao Để có mội hệ thống
Trang 35• j p luàt đạt dược yêu cầu dó, cán phải xây dựng một cơ c h ế xây cỉựng pháp fn‘ *
■ , I iiiâi sư dân chủ, đủ diều kiên để phản ánh sư đa dang về lơi ích, làm sao
pl áp luật kinh tế phải thực sự là " đại lượng bằng nhau ” cho những chù thể ' hác nhau thực hiện được chức năng " chuẩn mực chung của đời sống kin h tế
Khái niệm N h à nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhàn và công ty trách nhiệm hữu hạn bao h à m những nội dun g cơ bản như Nhà nước là chủ thể quản lý, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn là đối tượng quản lý và pháp luật là công cụ để Nhà nước thực hành viỌc quản lý
Với tư cách là chù thể quản lý các doanh nghiệp tư nhân và công ty
(rách nhiệm hữu hạn, Nhà nước định hướng cho các doanh nghiệp phát triển Iheo hướng nhất định Nhà nước tác động vào mọi hoạt độn g của doanh nghiệp tư nhân và côn g ly trách nhiệm hữu hạn thông qua cơ c h ế quản lý Bời vậy, nếu Nhà nước túc dộng theo đúng quy luật, thì sẽ thúc đẩy được doanh nuhiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn phát triển, bằng không thì
nghiệp
Trong cương lĩnh chính trị của Đảng ta có nêu: " Là lổ chức thể hiện và Iliực hiện ý chí, qu yề n lực của nhàn dàn, thay mặt nhàn dân, N h à nước ta phai có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra pháp luật và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống x ã hội bằng pháp luật ” [26; 7]
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và cỏng tỵ trách nhiệm hữu hạn ở nước ta hiện nay có c ơ sở khách quan của nó Chúng ta chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa, thị
■rường cỉược m ở rộng thì các mối quan hệ kinh tế cũng phái triển theo và trở nẻn hết sức phức tạp Người sản xuất làm ra sản phẩm không phải để tiêu
Trang 36,-ng cho c h ín h bân thân họ mà là để bán Hình thức trao đổi hiên vật dã _ Ị,ượnơ chỗ cho hình thức mua bán và do đó sản phẩm đã trờ thành hàng hóa
I ^ ơ đằng sau nó là các chủ thể gặp nhau trên quan hệ lợi ích do hàng hóa
Jí (jem lại- Mục tiêu lợi nhuận cùa người kinh doanh được quyết định cả từ hai phía - người sản xuất và người tiêu dùng, do đó quan hệ cung cầu chi
„1,(51 đằng sau nó r ó hàng loạt yếu tố tác động Trong điều kiện đó, để định hướng sự kinh doanh đúng đắn và điều hòa hợp lý các quan hệ lợi ích , đòi hỏi phải có c ơ chế, chính sách và pháp luật Ngoài ra còn nảy sinh không ít liiọn tượng c ác nhà kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh t ế - không riOng gì các doanh nghiệp tư nhàn và công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ vì mục đích lợi nhuận, vì lợi ích riêng của bản thân và của tập thể nhỏ mà gây hại cho người khác và xã hội bằng những hành động dối trá, lừa đảo, phá hoại, vi phạm chính sách và pháp luật, bất chấp đạo lý và pháp luật Thực tế trong những năm qua đã có khô ng ít những giám đốc doanh nghiệp tư nhân
và công ty trách nhiệm hữu hạn phải ra tòa với các tội danh: lừa đảo, trốn thuế, lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân Trong điều kiện đó, pháp luật có tác dụng đề phòng và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật và bảo vệ lợi ích cùa người tiêu dùng , bào vệ lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội
Từ thực trạng quản lý kinh tế - xã hội trong thời điểm sôi động hiện Hay, càng cho thấy mối quan hệ và tác động lẫn nhau giữa cơ c h ế chính sách v'à pháp luật và yêu cầu khách quan phủi tăng cường pháp luật Sàn xuất kinh
‘loanh là một hiện tượng khách quan, nhưng lại chịu sự tác động mạnh mẽ
°ùa cơ c h ế chính sách, có thể thúc đẩy, kìm hãm nếu chính sách đúng hay Sai' Khi có cơ chế, chính sách, pháp luật phù hợp thì hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ phát ,riẽn với tốc độ tới hạn của chính nó và khi đó cần có sự quản lý của Nhà nưác không phải để kìm hãm tốc độ phát triển, mà nh ờ có cơ c h ế chính sách
Trang 37- niõ tlúng đắn, Nhà nước vừa kích thích s ự phát triển với Lốc độ cao vừa v,.-in cấm và hạn c h ế tới mức thấp nhất những sai phạm gày tổn hại cho nền
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và cùng ty trách nhiệm hữu hạn là một hiện tượng phổ biến đối với các nước, chứ không phải đặc thù của Việt Nam T uy nhiên ,về mức độ và yêu cầu quán lý ở mỗi nước có khác nhau và phụ thuộc vào trình độ phát triển ở từng nước, trước hết là sự phát triển của luật học, trình độ quản lý của Nhà nước
và trình độ dân trí Đối với nước ta, trong những n ă m đầu chuyển từ cơ chế lịuàn lý hành chính, tập trung, quan liêu, bao cấp, sang cơ c h ế thị trường vai trò cùa N h à nước và pháp luật chưa thực sự được coi trọng đúng mức Song Iltực tiễn c ủ a những năm đổi mới đã cho chúng ta một nhận thức rằng, muốn ilàm bảo qu yền làm chủ thực sự của nhân dàn trước hết là về mặt kinh tế, ihóng q u a s ự quản lý của Nhà nước, tiến tới một nhà nước pháp quyền thì vai trò của phá p luật và quản lý nhà nước bằng pháp luật lại càng trở nên quan Irọng và cấp bách Pháp luật trước hết bảo vệ quyền làm chủ cho các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn về kinh tế, chính trị, xã hội không phải bằng lời nói, bằng những hoạt động hình thức mà bằng cơ chế chính sách, thể chế, bằng những quy định mang tính pháp lý bắt buộc đối với các doanh nghiệp Trong quản lý kinh tế, pháp luật đảm bảo cho mọi công diln thuộc mọi thành phần kinh tế được tự do kinh doanh hợp pháp, mọi công dàn được bình đẳng trước pháp luật, đảm bảo gắn quyền với trách nhiệm,
Trang 38;,.ỊÍĨU vụ với lợi ích, dân chủ với kỷ cương, ngăn chận và trừng trị những
ện iượng làm ăn gian dối, phá hoại, vi phạm pháp luật, bất k ể họ là ai
T ron g l ĩn h v ự c quản l ý k in h t ế đ ố i v ớ i d o a n h n g h i ệ p tư n h â n v à c ô n g ty
Irúch nhiệm hữu hạn, pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các doanh n*’hiệp khi tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh Pháp luật cũng
[hành phần, định hướng x ã hội chủ nghĩa bằng m ột hệ thống luật kinh tế như Diều lệ xí nghiệp, L uật Công ty, Luật D oanh nghiệp tư nhân, Luật giải thể và phá sàn doanh nghiệp, Luật về các cơ quan tài phán kinh tế, Bộ luật Dân sự
Trong n ền k in h t ế h à n g h ó a , p h á p luật c ò n là c ô n g c ụ b ảo đ ả m c h o h o ạ t d ộ n g
kinh doanh, vận hành có trật tự trong m ột hành lang cho phép, đảm bảo sử dụng và khai thác mọi tiềm năng của kinh tế có hiệu quả nhất Pháp luật góp phán ngăn cấm c ác hành vi lừa đảo, gian ỉận thương mại, do đó đòi hỏi những quy định, pháp lý về tiêu chuẩn hàng hóa, đo lường, sáng c h ế phát minh, chuyển giao công nghệ, bảo vệ sở hữu công nghiệp, quy định về quản
lý khoa học và cô n g nghệ, luật bảo vệ môi trường
Như vậy, nói đến N hà nước quản lý bằng pháp luật là nói đến cơ chế pháp lý của q u ản lý Đó là một quá trình tác động mang tính quản lý của các
CƯ q u a n n h à n ư ớ c có th ẩ m q u y ề n lên h o ạ t đ ộ n g c ủ a c á c đ ố i tư ợn g c h ịu s ự
quàn lý với sự giúp đỡ của pháp luật, nhằm đạt được những kết quả có lợi cho Nhà nước, x ã hội Cơ c h ế đó, m ộ t mặt, tuân thủ các yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, m ặ t khác, phải có được m ột h ệ thống pháp luật thích hợp
dể quản lý nền kin h tế Vì vậy, cơ chế quản lý của N h à nước bằng pháp luật (iói với doanh n g h iệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn là khái niệm tỉùng để chỉ phương thức m à bằng pháp luật N h à nước tác động vào đối
tưỢng đ ể đ ịn h h ư ớ n g c h o c á c d o a n h n g h iệ p tư n h à n v à c ô n g ty trách n h iệ m
hữu hạn vận độn g đến mục tiều mà N hà nước đ ã định Đối với các doanh
Trang 39I®hiộpt trên c ơ s ở c á c q u y đ ịn h c ù a pháp luật d ư ợ c tự d o sản xuất, kinh
;tvinh theo m ụ c tiêu, p h ư ơ n g h ư ớ n g m à d o a n h n g h iệ p đã địn h.
Thực h iệ n ch ủ trương ph át triển k in h t ế h à n g h ó a n h iều th ành phần với:
• Xư tưởng chỉ dạo của k ế hoạch và chính sách kinh tế là giải phóng mọi n;inư lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của dất nước và
sữ dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển m ạnh m ẽ lực lượng sản
xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ” [28;
471- N ề n k in h t ế h à n g h ó a n h iề u th ành phần c ó tính đa d ạ n g , p h o n g phú,
nhiều hình, nhiều vẻ, chứa đựng cả mặt tích cực và tiêu cực, có nhiều mâu
thuẫn về lợi ích, nên đòi hỏi phải nâng cao vai trò quản lý của N hà nước bằng
pháp luật Đ ó là các hoạt động với những hình thức kiểm tra, kiểm soát, tạo
mỏi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, đồng thời thiết lập một hành
lang pháp lý cho phép và điều tiết các quan hệ, bảo đảm sự kết hợp đúng đắn
cúc lợi ích k in h tế.
1.3 N ộ i dung N h à nước quản lý bằng pháp lu ậ t đôi với doanh nghiệp tư n hân, công ty trách nhiệm h ữ u hạn
Do khác nhau về quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất, cho nên quản lý
nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách
nhiệm hữu hạn, có những điểm khác so với quản lý các loại hình doanh
nghiệp khác Những nội dung chủ yếu về N hà nước quản lý bằng pháp luật
dối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn là:
1.3.1 N hà nước ban hành pháp luật, tạo m ôi trường pháp lý thuận lợi
dê khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
phát triển.
Trang 40Mục đích chù yếu của các nhà kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận do vậv tùy theo khả năng về vốn, kinh nghiệm quản lý, thị trường tiêu thụ mà nhà kinh doanh quyết định quy mô đầu tư Nhưng dù là quy mô lớn hay quy [nô nhỏ điều quan trọng là N hà nước cần phải có những quy định của pháp ịuât như th ế nào để các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn ra đầu tư N h à nước không nên có những quy định chung cho tất cả các vùng, m iền trong cả nước, hoặc các ngành, nghề sản xuất, kinh doanh như nhau M ọi vùng, m iền hoặc ngành, nghề đều có những đặc điểm riêng, vì vậy chính sách pháp luật sẽ là dộng lực để các nhà kinh doanh đầu tư vào các vùng, m iền có các điều kiện
tự nhiên, kinh tế, x ã hội không thuận lợi Những quy định của pháp luật cũng khuyến khích các doanh nhân m ạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất để tạo ra nhiều hàng hóa cho x ã hội, giải quyết công ăn việc làm cho đội quân lao động đang dư thừa hiện nay
N hững quy định của pháp luật không chỉ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh m à còn phải thể hiện rõ để các nhà kinh doanh biết được ngành nghề nào thì được làm và ngành nghề nào không được làm Những lĩnh vực m à N hà nước thường xuyên chú ý đến, trong quản lý hoạt dộng của các doanh nghiệp đó là các quy định về thuế, vay vốn, nhà đất
để xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, sản xuất hàng xuất khẩu M ặt khác, Nhà nước cẩn tạo những cơ sở pháp lý quan trọng để cho các doanh nghiệp hoạt động Đó là:
N h à nước ban hành các văn bản pháp luật, quy định cho các doanh nghiệp được tự do kinh doanh, tự do giao lưu kinh tế Có thể nói đây còn là nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất của m ột nền kinh tế thị trường, theo đó các doanh nghiệp được quyền chủ động hoàn toàn trong quá trình giao lưu kinh tế, tự do ký kết hợp đồng, tự do tuyển dụng lao động nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật