ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT - NHỮNG CÔNG c ụ QUẢN LÍ Quan điểm truyền thống cho rằng "Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, th ể hiện ỷ chí của
Trang 2B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜ NG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
N G U YỄN VĂN NĂM
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VỚI
ĐAO ĐỨC Ở VIÊT NAM
Chuyên ngành : Lý luận nhà nước và pháp luật.
TRƯỜNG ĐẠ! HỌC Í.ÚÂĨ HA NỘI
PHÒNG Đ Ọ C
LUẬ N VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS N guyễn M inh Đoan
HÀ N Ộ I - 2003
Trang 3NHỮNG HẠN CHẾ TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT
VỐI ĐẠO ĐỨC ỏ VIỆT NAM HIỆN NAY
*2.1 Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật với
đạo đức ở Việt Nam hiện nay
2 2 Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy những điểm
tích cực, khắc phục những hạn chế trong mối quan
hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam trongđiều kiện hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài.
Điều chỉnh hành vi con người, xã hội có nhiều công cụ khác nhau, trong
đó, pháp luật và đạo đức là những công cụ quan trọng bậc nhất Bên cạnh những ưu thế vốn có, cả pháp luật và đạo đức đều có những hạn chế nhất định, song, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, bổ sung cho nhau Chính vì vậy, để quản lí xã hội một cách có hiệu quả, cần phải kết hợp một cách khéo léo giữa pháp luật và đạo đức
ớ Việt Nam, trước đây, vai trò, tác dụng của pháp luật và đạo đức cũng như mối quan hệ giữa chúng chưa được nhận thức một cách đúng đắn và đầy đủ Trong cơ chế kinh tế cũ, nhận thức về pháp luật có hai khuynh hướng, hoặc quá
đề cao pháp luật, coi pháp luật là công cụ vạn năng có thể xác lập hay xoá bỏ một quan hệ xã hội nào đó một cách duy ý chí hoặc lại hạ thấp vai trò của pháp luật, dẫn đến sử dụng mệnh lệnh hành chính hay các quan niệm đạo đức mới như tinh thần làm chủ tập thể, mỗi người vì mọi người để thay thế cho pháp luật Trong khi đó, các quan niệm đạo đức truyền thống của dân tộc có phần bị coi nhẹ, xem thường, thậm chí bị coi là tàn dư của chế độ cũ cần phải loại bỏ Điều này dẫn đến, một mặt, những ưu thế vốn có của pháp luật cũng như đạo đức không được phát huy hết, mặt khác, sự tác động bổ sung cho nhau giữa chúng cũng không khai thác được, chính vì vậy, hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội của cả pháp luật và đạo đức đạt được đều chưa cao
Trong điều kiện hiện nay, pháp luật đã được xác định là công cụ quan trọng nhất để nhà nước quản lí xã hội, đồng thời vai trò của đạo đức cũng được hết sức chú trọng Tuy nhiên, về mặt lí luận, mối quan hộ giữa pháp luật với đạo đức chưa được giải quyết một cách triệt để, đó là một trong những nguvên nhân dẫn đến trong thực tiễn xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật ở nước ta còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết Điều đó cho thấy cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, chỉ rõ những điểm tích cực cũng như những hạn chế của từng yếu tố trong quản lý xã hội
Trang 5chỉ rõ sự tác động qua lại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa chúng Trên cơ sở
đó, đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, từ đó có cơ sở đề
ra những giải pháp để tăng cường quản lí xã hội bằng pháp luật kết hợp giáo dục nâng cao đạo đức, sao cho pháp luật và đạo đức được sử dụng một cách có hiệu quả nhất trong quản lí xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức là một đề tài rất lớn, đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những mức độ và phạm vi khác nhau Các giáo trình lí luận nhà nước và pháp luật, giáo trình đạo đức học đều đề cập tới vấn đề này ở mức độ rất khái quát Nhiều luận văn tốt nghiệp đại học, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học ở các cấp, nhiều công trình khoa học trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập tới vấn đề này Ở trình độ cử nhân,
đã có hai luận văn tốt nghiệp cử nhân luật nghiên cứu về mối quan hệ này,
một của Trần Huy Chân: "Một s ố vấn đề về quan hệ giữa đạo đức cộng sản và
pháp luật x ã hội chủ nghĩa" và một của Nguyễn Chiến Thắng: "Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lí xã hội ở nước ta hiện nay", ở các cấp
độ cao hơn, có công trình nghiên cứu của thạc sĩ Nguyễn Quốc Việt: "Bảo lưu
các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật V iệt Nam hiện nay"’, công trình nghiên cứu của tiến sĩ HoàngThị
Kim Quê: "Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lí x ã hội ở
nước ta hiện nay" Tiến sĩ HoàngThị Kim Quế cũng có hàng loạt bài nghiên
cứu đề cập các góc độ khác nhau của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trên các tạp chí Nhà nước và pháp luật; Nghiên cứu lập pháp; Triết học Hai tác giả Lê Hoài Thanh và Trần Hậu Thành cũng đã công bố công trình nghiên
cứu: "Vê quan hệ giữa pháp luật và đạo đức" trên tạp chí Khoa học Chính trị
Đặc biệt phải kể đến công trình của Giáo sư Vũ Khiêu và Phó giáo sư Thành
Duy: "Pháp luật và đạo đức trong triết lí phát triển ở Việt Nam" Tuy nhiên,
Trang 6các công trình này hoặc chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở một góc độ nhất định, hoặc đề cập đến nó với mức quá khái quát, chưa giải quyêt một cách triệt để về mặt lí luận mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, do vậy không có cơ sở để tổng kết một cách toàn diện thực tiễn mối quan
hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
M ục đích nghiên cứu:
Làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, từ đó xây dựng cơ sở cho việc đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam, qua đó đề xuất một sô giải pháp cơ bản nhằm phát huy điểm mạnh, khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết trong mối quan
hệ giữa chúng trong điều kiện hiện nay ở nước ta
N hiệm vụ của luận văn:
- Phân tích một cách có hệ thống những điểm tương đồng và khác biệt
cũng như sự tác động qua lại giữa pháp luật với đạo đức
- Nghiên cứu thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những điểm tích cực cần phát huy, những hạn chế, khiếm khuyết cần khắc phục cũng như những nguyên nhân của tình trạng đó
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát huy những điểm tích cực, khắcphục những hạn chế của mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, qua đó nhằm nâng cao vai trò của pháp luật và đạo đức trong quản lí xã hội ^
Phạm vi nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức là một đề tài rất lớn và tương đối phức tạp Chính vì vậy, trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ có điêu kiện đề cập những vấn đề lí luận cơ bản nhất về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức Trên cơ sở thực tế tình hình pháp luật, đạo đức ở Việt Nam hiện nay, luận văn tập trung chỉ rõ nhũng thành tựu cũng như những hạn chế trong
Trang 7mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
4 Co sỏ lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam Tác giả đã vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể như phân tích và tổng hợp, giải thích, so sánh, tổng kết thực tiễn để lí giải các vấn đề đã được đặt ra
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn.
Luận văn đã chỉ rõ những điểm giống nhau, khác nhau cơ bản giữa pháp luật và đạo đức Qua đó, luận văn đã làm sáng tỏ sự tác động qua lại giữa chúng.Cùng với việc chỉ rõ thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam hiện nay, luận văn đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhầm phát huy những yếu tố tích cực, khắc phục những khiếm khuyết tồn tại trong mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong điều kiện Việt Nam hiện nay, qua đó nhằm tăng cường quản lí xã hội bằng pháp luật đồng thời kết hợp giáo dục nâng cao đạo đức
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc thêm những vấn đề lí luận về mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp lí cũng như các nhà hoạt động thực tiễn
Luận văn cũng đóng góp quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như trong quá trình tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm phần mở đầu, hai chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8CHƯƠNG IMỘT SỐ VẨN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ MỐI QUAN HỆ GIỮA
PHÁP LUẬT VỚI ĐẠO ĐỨC
1.1 ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT - NHỮNG CÔNG c ụ QUẢN LÍ
Quan điểm truyền thống cho rằng "Pháp luật là hệ thống những qui tắc
xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, th ể hiện ỷ chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tô'điều chỉnh các quan hệ xã hội"K Có thể nói,
hầu hết các sách báo pháp lí, các nhà khoa học, các luật gia nước ta đều thừa nhận cách hiểu này Tuy vậy, cũng có một số tác giả không hoàn toàn tán thành cách hiểu trên Xuất phát từ quan niệm "qui tắc xử sự" là những mô hình, khuôn mẫu cho hành vi con người, nó xác định rõ trong điều kiện, hoàn cảnh hay tình huống nào thì chủ thể được làm gì, phải làm gì, làm như thế nào hay không được làm gì , một số tác giả cho rằng, pháp luật được hiểu là "hệ thống những qui tắc xử sự" sẽ không bao quát hết những "sự vật" mà nó phản ánh, bởi lẽ trong "pháp luật" còn có rất nhiều qui định do nhà nước ban hành nhưng không phải là những "qui tắc xử sự" Tác giả cho rằng lập luận này có phần gò bó và cứng nhắc Thực tế, đúng là có rất nhiều qui định do nhà nước ban hành chỉ là để qui định cách hiểu về một thuật ngữ, giải thích'm ột khái
1 Đại học L uật H à N ội, G iáo trình Lý luận n h à nước - pháp luật, N xb C ô n g an nhàn d ân , Mà N ội 2 0 0 2 , tr 64.
Trang 9niệm hay nêu lên một tư tưởng, một nguyên tắc nào đó, chúng không phải là những qui tắc xử sự bởi chúng không đưa ra một phương án xử sự cụ thể nào
để chủ thể thực hiện theo Tuy nhiên chúng lại có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp các chủ thể nhận thức và thực hiện một cách đúng đắn, đầy đủ những qui tắc của hành vi mà nhà nước đã đề ra Không có nó, chắc chắn việc nhận thức
và thực hiện những qui tắc của hành vi sẽ không có sự thống nhất Mặt khác, pháp luật không phải là phép cộng giản đơn những qui tắc xử sự do nhà nước ban hành Chính những tư tưởng, những nguyên tắc hay những qui định về cách hiểu các khái niệm, thuật ngữ nào đó là "chất keo" liên kết những "qui tắc xử sự" thành một thể thống nhất Thiếu chúng, các "qui tắc xử sự" do nhà nước ban hành chỉ là một tập hợp giản đơn, không thể trở thành một "hệ thống" Bởi vậy, theo tác giả, quan niệm "pháp luật là hệ thống những qui tắc
xử sự " là hoàn toàn chính xác (tác giả nhấn mạnh chữ "hệ thống")
Tuy nhiên, sẽ là không chính xác nếu cho rằng pháp luật chỉ "thể hiện ý chí của giai cấp thống trị" Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, do vậy, nó phải thể hiện ý chí nhà nước Nhà nước, tổ chức đại diện chính thức và hợp pháp cho toàn xã hội, có khả năng bắt tất cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội phục tùng ý chí của mình Nhà nước có thể cho phép các thành viên trong xã hội được làm gì, bắt buộc họ phải làm gì, làm như thế nào hay không cho phép họ làm gì Nhà nước, tổ chức quyền lực chung của toàn thể xã hội vừa phải đứng ra tổ chức và quản lí đời sống cộng đồng, vì sự ổn định, trật tự và phát triển của cả cộng đồng, vừa phải duy trì, củng cố và bảo
vệ lợi ích của giai cấp thống trị Chính vì vậy, pháp luật do nhà nước ban hành không chỉ "thể hiện ý chí của giai cấp thống trị" mà trên cơ sở ý chí của giai cấp thống trị, ý chí chung của cộng đồng xã hội tập trung thành ý chí nhà nước, thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, ý chí nhà nước được thể hiện thành những qui định pháp luật cụ thể
Từ tất cả những phân tích trên đây, có thể quan niệm rằng: pháp luật là
H
hệ thống các qui tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể
Trang 10hiện ỷ chí nhà nước, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ x ã hội.
Trong xã hội có giai cấp, pháp luật được xác định là công cụ quan trọng nhất để quản lí xã hội So với các công cụ quản lí xã hội khác, pháp luật có những ưu th ế hơn hẳn như tính được đảm bảo bằng nhà nước, tính xác định chặt chẽ về hình thức Nhờ đó, pháp luật là phương tiện có vai trò quan trọng nhất để tổ chức và quản lí đời sống xã hội Pháp luật đảm b ảo ^h o xã hội tổn tai và phát triển trong ổn định, trật tư Nhờ có pháp luật, các hành vi xâm hạitrật tự, an toàn xã hội được hạn chế từng bước bị loại trừ khỏi đời sống xã hội Nhờ có pháp luật, giai cấp thống trị có thể củng cố, duy trì địa vị thống trị
xã hội của mình, bảo vệ và phát triển các lợi ích của nó, trấn áp sự phản kháng của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Bằng pháp luật, nhà nước có thể quản lí các m ặt khác nhau của đời sống xã hội trên các lĩnh vực của cuộc sống Nhờ có pháp luật, nhà nước có cơ sở để phát huy quyền lực của mình, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong xã hội Pháp luật là cơ sở để tổ chức bộ máy nhà nước, qui định chức năng, nhiệm vụ, hình thức và phương pháp hoạt động của các cơ quan, nhân viên trong bộ máy nhà nước Nhờ có pháp luật mà bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ,
có hiệu lực và hiệu quả Đồng thời, pháp luật cũng là công cụ để đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện với sự kiểm soát chặt chẽ, nhờ đó, các hiện tượng lạm quyền, vượt quyền, thiếu trách nhiệm bị hạn chế và loại trừ Pháp luật là phương tiện thể hiện và thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của lực lượng cầm quyền Nhờ có pháp luật, chủ trương, chính sách của các lực lượriR cầm quyền có thể triển khai nhanh chóng và thực hiện có hiệu quả trong thực tế đời sống Pháp luật là phương tiện hữu hiệu để bảo đảm và bảo
vệ các quyền tự do dân chủ, các lợi ích của các thành viên trong xã hội Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia trên thế giới
1.1.2 Đạo đức:
Cũng như pháp luật, đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp, vì thế,
Trang 11cho đến nay, khái niệm này vẫn chưa được nhận thức một cách thống nhất.Trong triết học, đạo đức được hiểu là một hình thái ý thức xã hội, tuy nhiên, có khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này Có tác giả cho rằng đạo đức là những quan điểm, quan niệm 1 Có tác giả cho rằng đạo đức là những nguyên tắc, qui tắc xử sự của con người2 Một số tác giả khác lại cho rằng đạo đức vừa thể hiện ở dạng những quan điểm, quan niệm, vừa thể hiện ở dạng các qui tắc xử sự \
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức trước hết là những quan điểm, quan niệm, tư tưởng của một cộng đồng người, một giai cấp, một dân tộc về chân, thiện; về hạnh phúc; về danh dự, vinh, nhục; về trách nhiệm và tình thương; về tính trung thực, lòng vị tha, lẽ sống Những quan điểm quan niệm này thường tồn tại thành từng cặp đối lập nhau: thiện - ác; tốt - xấu; thật - giả; đúng - sai; cao quí - thấp hèn Chẳng hạn, nói dối là xấu, trung thực thật thà
là tốt; nịnh hót là hèn, thẳng thắn, cương trực là cao quí; hi sinh tính mạng vì
Tổ quốc là vinh, khom lưng, quì gối trước kẻ thù là nhục Như vậy, đạo đức không chỉ là những quan niệm, quan điểm về chân, thiện, mĩ Nó là tất cả những quan niệm, quan điểm, tư tưởng về "đạo làm người", về vai trò, trách nhiệm của mỗi người trước người khác và trước cộng đồng Nóí cách khác, những quan niệm, quan điểm đạo đức chính là những yêu cầu, đòi hỏi của cộng đồng xã hội đối với hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội Con người sống trong xã hội dù ở cương vị nào, trong điều kiện hoàn cảnh nào cũng phải
ý thức được về chính bản thân mình, ý thức được nghĩa vụ, bổn phận của mình đối với người khác và đối với xã hội
Trên cơ sở các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đó, các qui tắc cho xử sự
1 G iáo trìn h T riế t h ọ c M ác - L ên in , N xb C h ín h trị q u ố c g ia, H à Nội 1999, tr.5 9 0 ; G iáo trìn h Lý luận về n h à nước - p h áp luật, Đ ại h ọ c L u ật H à N ội, N x b C ô n g an nhân d ân , H à Nội 2 0 0 2 , tr.66.
2 Sự biến đổi củ a th a n g g iá trị đ ạo đức tro n g nền k in h tế thị trường với việc xây dự ng đ ạo đức m ới ch o cán bộ
q u ản lí ở nước ta hiện nay, N xb C hính trị q u ố c g ia , H à Nội 1999, tr 13; G iáo trìn h Đ ạ o đức học, K h o a T riế t,
H ọc viện C hính trị q u ố c g ia , N x b C hính trị q u ố c g ia , Hà nội 2 000, lr.8; Đ ạ o đức h ọ c, N x b G iáo d ụ c, H à N ội
1998, tr 4; V ũ K h iêu - T h àn h D uy, Đ ạo Đ ứ c và P h áp luật trong triết lý phát triển ở V iệt N am , N xb C hính trị
q u ố c g ia , H à N ội 2 0 0 1 , tr 10.
ĩ T riế t họ c M ác - L ên in , N xb G iáo d ụ c, H à Nội 1999, tr 147 G iáo trình Đ ạ o đứ c họ c M ác - L ênin, khoa T riế t
T rư ờ n g đại họ c k h o a họ c xã hội và nhân văn, Đ ại họ c quốc g ia H à N ội, tr 5, 6.
Trang 12của con người được hình thành Từ quan niệm về vinh, nhục, người ta thấy không được khom lưng, quì gối trước kẻ thù; khi Tổ quốc bị xâm lược, phải hi sinh tính mạng vì Tổ quốc Từ quan niệm về thiện, ác người ta thấy phải cứu giúp người bị nạn, phải giúp đỡ kẻ khốn khó, không được làm bất cứ điều gì
có hại cho người khác Từ những xử sự ban đầu được khuyến khích hay bị phản đối, những quan niệm, quan điểm về chân - giả, đúng - sai, thiện - ác từng bước hình thành Cũng từ đó, cộng đồng nhận thấy rằng, trong cuộc sống hàng ngày, mọi người nên làm, phải làm điều này, không được làm điều kia Nói cách khác, các qui tắc đạo đức cũng từng bước hình thành Như vậy, giữa các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức và các qui tắc đạo đức có sự gắn
bó chặt chẽ, mật thiết với nhau, tồn tại không thể tách rời nhau
Trên cơ sở các qui tắc xử sự, cộng đồng đánh giá về những hành vi xử sự của các chủ thể xẩy ra trong đời sống cộng đồng Do vậy, đạo đức còn bao gồm thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về hành vi của các chủ thể trong xã hội Một hành vi nào đó có thể được cộng đồng khen hay chê, được coi là ưu điểm hay khuyết điểm, được đánh giá là thiện hay ác, chân hay giả, tốt hay xấu Sự đánh giá này được biểu hiện tập trung nhất thành dư luận xã hội Bên cạnh sự đánh giá từ phía cộng đồng xã hội thì chính bản thân chủ thể cũng tự đánh giá về hành vi của mình Lương tâm chủ thể thấy thanh thản hay
bị vò xé, cắn rứt Từ đó mà hình thành những xúc cảm, tình cảm trong mỗi con người Chẳng hạn, người ta trắc ẩn, xót thương những nạn nhân của cái ác, khinh bỉ, giận giữ, công phẫn trước những kẻ gây nên cái ác; vui sướng, tự hào khi đem lại hạnh phúc cho cho mọi người
Tóm lại, đạo đức là tổng th ể các quan niệm, quan điểm của một cộng
đồng dân cư nhất định vê chân, thiện, công bằng, danh dự trên cơ sỏ đó hình thành lên các qui tắc xử sự nhằm điều chỉnh các quan hệ x ã hội, chúng được thực hiện bởi lương tâm, tình cảm cá nhân và sức mạnh của dư luận xã hội.
Đạo đức có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lối sống Nó là nhũng chuẩn mực để con người tự rèn luyện, tu dưỡng nhân cách
Trang 13Đạo đức là những quan điểm, quan niệm, tư tưởng về đạo lí làm người, là
"nguyên tắc sống chủ yếu của con người” 1 Không có đạo đức người ta có thể làm một nhà chuyên môn giỏi nhưng không thể trở thành một con người hoàn hảo Đạo đức là những qui tắc đối nhân, xử thế trong cuộc sống hàng ngày Nhờ có đạo đức, mỗi người đều tự xác định được vị trí, vai trò của mình trong
xã hội, để từ đó xử sự phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, đúng với vị trí
và vai trò của mình
Đạo đức cũng có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố và duy trì ổn định, trật tự xã hội, bởi xã hội nào cũng cần phải có sự ổn định và trật tự Xã hội nguyên thuỷ chưa có pháp luật, ở đó, đạo đức là công cụ quan trọng bậc nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ gìn ổn định, trật tự xã hội Trong xã hội có giai cấp, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật không phải là công cụ duy nhất, công cụ vạn năng Ngoài pháp luật, còn có những công cụ điều chỉnh khác như đạo đức, tín điều tôn giáo, tập quán, quy định của các tổ chức xã hội , trong đó đạo đức là công cụ rất quan trọng Nó điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội, kể cả những quan hệ tình cảm như tình bạn, tình yêu
là những quan hệ xã hội mà pháp luật và các công cụ khác không điều chỉnh Nhờ có đạo đức, các hành vi trái những qui tắc sinh hoạt chung của cộng đồng được hạn chế, do vậy trật tự xã hội được bảo đảm Đặc biệt, nhờ có đạo đức, quan hệ giữa người với người được đảm bảo bằng tình thương yêu đồng loại, bằng sự đoàn kết, gắn bó, đùm bọc lẫn nhau, do vậy trở nên nhân đạo, nhân văn hơn
Đạo đức còn có vai trò bổ sung, thay thế cho pháp luật nhất là trong trường hợp pháp luật chưa hoàn thiện, còn nhiều chỗ trống Khi đó, để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức hay cá nhân, nhà chức trách phải áp dụng tương tự pháp luật bằng cách dựa vào ý thức đạo đức của mình, dựa vào những
lẽ phải ở đời mà mọi người đều cồng nhận
1 Vũ T in h , Đ ạ o đức họ c phư ơng đ ô n g cổ đ ạ i, N xb C hính trị quốc g ia , Hà N ội 1998, tr 13.
Trang 141.2 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỔNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA PHÁP LUẬT VỚI ĐẠO ĐỨC.
1.2.1 Sự tương đồng giữa pháp luật và đạo đức.
1.2.1.1 Pháp luật và đạo đức đều là những phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Con người, trong đời sống xã hội luôn có những nhu cầu, lợi ích, mục đích nhất định Để thoả mãn nhu cầu, lợi ích của mình, mỗi chủ thể có những phương pháp, cách thức riêng Trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định, có thể có những chủ thể lại thực hiện những hành vi làm tổn hại tới lợi ích của chủ thể khác, tổn hại tới lợi ích chung của cộng đồng Xã hội vì thế sẽ trở nên
mất ổn định, trật tự xã hội sẽ bị xâm hại Theo Tuân Tử: "Người ta sinh ra là
có lòng muốn, muốn mà không được thì không th ể không tìm, tìm mà không có chừng mực, giới hạn thì không th ể không tranh, Tranh thì loạn, loạn thì khốn cùng"' Bởi vậy, để xã hội tồn tại trong ổn định, trật tự, các quyền, lợi ích của
các thành viên trong cộng đồng được bảo đảm và bảo vệ, đòi hỏi xử sự của mỗi người phải dựa trên những chuẩn mực nhất định, theo những khuôn mẫu nhất định Nói cách khác, các mối quan hệ trong xã hội cần phải được điều chỉnh, đảm bảo để xử sự của chủ thể này không làm tổn hại tới lợi ích của chủ thể khác, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của cộng đổng
Đ iều chỉnh các quan hệ xã hội là đưa ra những cách xử sự mẫu cho các chủ thể để họ thực hiện theo khi họ ở trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định Nói cách khác, đó là việc xác định cho chủ thể những quyền, nghĩa vụ nhất định khi họ tham gia vào những quan hệ xã hội cụ thể Điều chỉnh các quan hệ xã hội có nhiều công cụ phương tiện khác nhau, trong đó, pháp luật
và đạo đức là những công cụ rất quan trọng Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật và đạo đức phải tác động vào nhận thức của chủ thể nhằm hình thành ở chủ thể một ý thức nhất định, trên cơ sở đó, các chủ thể lựa chọn cách
1 T rần T rọ n g K im , N ho g iáo , N xb V ăn hoá th ô n g tin , H à N ội 2 0 01, tr 321.
Trang 15xử sự phù hợp Con người là một thực thể có lí trí và có ý chí, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức Vì vậy, nhà nước và xã hội không thể buộc một người phải thực hiện một hành vi nào đó nếu không tác động vào ý thức của họ Chỉ trên cơ sở có sự tác động vào ý thức, con người mới nhận thức được trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, xác định mình được làm gì, phải làm
gì, làm như thế nào hay không được làm gì Trên cơ sở nhận thức được nhu cầu đòi hỏi của xã hội, nhận thức được một hành vi nào đó là được khuyến khích hay bị ngăn cấm, nhận thức được hậu quả sẽ phải gánh chịu nếu có, cân nhắc giữa cái được, cái mất khi thực hiện một hành vi nhất định , chủ thể mới
có thể kiềm chế không thực hiện những hành vi bị ngăn cấm hay không được khuyến khích; tích cực, chủ động, tự giác thực hiện những hành vi được cho phép, được khuyến khích hay có yêu cầu, đòi hỏi Như vậy, điều chỉnh các quan hệ pháp luật bằng pháp luật hay đạo đức thực chất là dùng chúng tác động lên nhận thức của chủ thể, trên cơ sở lí trí và tự do ý chí, chủ thể sẽ tự lựa chọn và thực hiện một hành vi phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của nhà nước hay của cộng đồng xã hội
Điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật và đạo đức đều mang tính qui phạm phổ biến Chúng đều là những mô hình, chuẩn mực cho hành vi con người Pháp luật là hệ thống các qui tắc xử sự của con người do nhà nước ban hành, nó tác động đến tất cả các cá nhân, các tổ chức trong xã hội, tác động đến mọi vùng lãnh thổ của đất nước Trong xã hội, ở đâu có con người, ở đó
có đạo đức Đạo đức điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội kể cả những quan
hê mà các phương tiện khác không thể điều chỉnh được
Điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật và đạo đức có sự thống nhất cơ bẳn Sự thống nhất giữa pháp luật và đạo đức thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục đích điều chỉnh Đặt ra pháp luật và đạo đức để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhà nước và xã hội bao giờ cũng nhằm đạt được những mục đích nhất định Một mặt, chúng bảo vệ và định hướng cho sự phát triển của các quan hệ xã hội phù hợp với xu thế tất yếu của cuộc sống, mặt khác hạn
Trang 16chế sự phát triển và đi tới ỉoại bỏ khỏi đời sống xã hội những quan hệ xã hội không phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, lợi ích chung của cộng đồng, bảo đảm cho xã hội tồn tại và phát triển trong ổn định, trật tự.
Pháp luật bao giờ cũng có sự phù hợp nhất định đối với đạo đức của giai cấp thống tri.iK hTdoTca pháp luật và đạo đức đều được xác định là vũ khí chính trị của giai cấp thống trị, công cụ hướng hành vi của con người vào những khuôn khổ có lợi cho giai cấp thống trị, nhằm củng cố và bảo vệ vững chắc địa vị thống trị của chúng Pháp luật còn phù hợp với những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong m ĩ tục và những giá trị đạo đức của dân tộc Trong trường hợp đó, pháp luật và đạo đức có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong việc giữ gìn ổn định, trật tự xã hội, giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong, mĩ tục của dân tộc Trong một số trường hợp, pháp luật cũng phản ánh ở mức độ nhất định các quan niệm, quan điểm đạo đức của các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội bởi vì sự hình thành các quan điểm quan niệm đạo đức của giai cấp thống trị cũng bị ảnh hưởng bởi quan niệm đạo đức của các giai cấp, tầng lớp khác
Pháp luật và đạo đức trong chủ nghĩa xã hội có sự thống nhất về cơ bản Pháp luật được xây dựng trên nền tảng những quan niệm, quan điểm đạo đức của nhân dân lao động, nhằm giữ gìn và phát huy những quan niệm, quan
điểm đạo đức đó Giữa pháp luật và đạo đức trong chủ nghĩa xã hội, "các quan
niệm vê công bằng, thiện ác, nhân đạo về nguyên tắc là không có sự đối lập nào"' Ở một góc độ nào đó, pháp luật còn được coi là những chuẩn mực đạo
đức tối thiểu cần có Chính vì vậy, có tác giả đã cho rằng "đạo đức của một cộng đồng còn bao hàm cả pháp quyền của nó; pháp quyền của một cộng đồng là đạo đức tối thiểu của nó"2
1 H o à n g T h ị Kim Q u ế , M ộl s ố suy n g h ĩ về m ối q u an hệ g iữ a p h áp luật và đạo đức trong hệ th ố n g đ iều chính
x ã h ộ i, T ạ p c h í nh à nước và ph áp lu ật s ố 7 /1 9 9 9 , tr 13.
2 N g u y ễ n K h ắc H iếu , G iáo trình đ ạo đức học M ác - L ên in , Đ ại họ c khoa họ c xã hội và nh ân văn, H à Nội
1 9 99, tr 64.
Trang 171.2.1.2 Pháp luật và đạo đức đểu thuộc phạm trù ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội.
Theo Mác, toàn bộ đời sống xã hội được chia thành hai lĩnh vực lớn: lĩnh vực vật chất và lĩnh vực tinh thần, đó là tồn tại xã hội và ý thức xã hội Pháp luật và đạo đức thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, nói cách khác, chúng thuộc phạm trù ý thức xã hội, là những phương thức phản ánh đời sống
xã hội Pháp luật và đạo đức đều là sản phẩm của bộ óc con người, là kết quả quá trình con người nhận thức đời sống của chính mình Pháp luật và đạo đức không phải là những bản sao máy móc đời sống kinh tế xã hội Hiện thực của đời sống tác động vào bộ óc con người, qua quá trình phân tích, đánh giá, sàng lọc, tổng kết cuối cùng khái quát hoá thành các quan niệm, quan điểm, qui tắc đạo đức hay pháp luật Sự phản ánh đời sống hiện thực bằng pháp luật và đạo đức có thể trung thực, chính xác nhưng cũng có thể sai lệch Điều đó là
do, các yếu tố như lợi ích, lí tưởng, tài năng, ý chí của chủ thể đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau và ảnh hưởng nhất định đến kết quả nhận thức
Pháp luật trước tiên phản ánh các quan hệ kinh tế và đối sánh giai cấp
Nó phản ánh những quan hệ xã hội đã tồn tại một cách khách qúán, phổ biến, điển hình và tương đối ổn định Trên cơ sở nhận thức thực trạng, xu hướng vận động cũng như nhu cầu, đòi hỏi của cuộc sống; trên cơ sở nhận thức về các loại lợi ích cần bảo vệ; về tương quan lực lượng giữa các giai cấp trong xã hội nhà làm luật khái quát thành những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong xã hội, đảm bảo để chúng phù hợp với những lợi ích của nhà nước, của giai cấp thống trị, của cộng đồng Như vậy, pháp luật phản ánh đời sống xã hội thông qua thiết chế nhà nước
Đạo đức là m ột trong những hình thái ý thức xã hội xuất hiện sớm nhất,
nó phản ánh đời sống xã hội của con người không cần thông qua một thiết chế
xã hội nào Từ thực tế cuộc sống mà dần dần hình thành những quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực trong xử sự giữa các thành viên trong đời
Trang 18sống chung của cộng đồng.
Như vậy, pháp luật và đạo đức không phải là những cái có sẵn trong tự nhiên, không phải do m ột thế lực siêu nhiên nào bên ngoài xã hội "ấn vào" đời sống xã hội Nó là sản phẩm của việc con người nhận thức đời sống của chính mình Thông qua pháp luật, đạo đức, chúng ta hiểu được ở một mức độ nhất định thực trạng của đời sống xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử
Phản ánh đời sống xã hội, pháp luật và đạo đức đều do tồn tại xã hội
quyết định Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: "Không phải ỷ thức của con
người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại x ã hội quyết định ý thức của
h ọ "1 Mỗi xã hội có những quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức riêng,
hệ thống pháp luật riêng phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá trong xã hội đó Nói cách khác, trong xã hội có những quan niệm, quan điểm, nguyên tắc hay qui tắc đạo đức, pháp luật nào, nội dung của chúng ra sao điều đó do điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội quyết định
Anghen đã khẳng định: "Mọi lí thuyết đạo đức đ ã có từ trước tới nay đều là
sản phẩm của tình hình kinh t ế x ã hội lúc bấy giờ”2 Khi điều kiện kinh tế - xã
hội thay đổi thì những quan niệm, quan điểm, chuẩn mực đạo đức, pháp luật thay đổi theo Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ý thức xã hội nói chung, pháp luật và đạo đức nói riêng (nhất là đạo đức) thường có sự lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội, vì vậy, điều kiện kinh tế, chính trị của xã hội cũ có thể đã mất đi nhưng trong xã hội những quan niệm đạo đức, pháp luật cũ có thể vẫn tổn tại Là sản phẩm của điều kiện kinh tế - xã hội đương thời, song pháp luật và đạo đức vừa
có tính vượt trước vừa có tính kế thừa Chính vì vậy, từ thời đại này sang thời đại khác, chúng ta vẫn thấy có những quan niệm đạo đức giống nhau, những qui định pháp luật tương tự nhau
Pháp luật và đạo đức đều có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội,
1 D ẫn th e o G iá o trình T riế l họ c M ác - L ên in , N xb C hính trị Q uốc g ia, H à N ội 1999, T r.5 7 8
2 Ả n g h e n , C h ố n g Đ uy R in h , N x b Sự th ật, H à N ội 1971, tr 163.
Trang 19chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm ở những mức độ nhất định sự phát triển của tồn tại xã hội.
I.2.I.3 Pháp luật và đạo đức đều thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu
sự chi phối của cơ sở hạ tầng nhưng có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
Xem xét ở góc độ khác, chúng ta thấy pháp luật và đạo đức đều thuộc kiến trúc thượng tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định và có sự tác động trở lại cơ
sở hạ tầng
Mỗi xã hội có một kết cấu kinh tế đặc trưng tức là một cơ sở hạ tầng của
xã hội, trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng tương ứng, trong đó có pháp luật và đạo đức Tương ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội là một kiểu đạo đức Cũng như vậy, tương ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội trong xã hội có giai cấp là một kiểu pháp luật Là hình thức pháp lí của các quan hệ kinh tế, vì vậy, về cơ bản pháp luật qui định về vấn đề gì, qui định như thế nào, điều đó trước tiên phụ thuộc vào thực trạng nền kinh tế Khi cơ sở hạ tầng
xã hội biến đổi thì đạo đức, pháp luật cũng bị "đảo lộn ít nhiều, nhanh chóng"
Mặc dù do cơ sở hạ tầng quyết định song pháp luật và đạo đức đều có tính độc lập tương đối và đều có sự tác động trở lại ở những mức độ nhất định đối với cơ sở hạ tầng Sự tác động này có thể diễn ra theo hai hướng, tích cực hoặc tiêu cực Khi pháp luật và đạo đức phù hợp với qui luật phát triển của đời sống, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, phù hợp với các loại lợi ích trong xã hội, nói cách khác, khi pháp luật và đạo đức phản ánh đúng thực trạng của nền kinh tế xã hội thì chúng có tác động tích cực Chúng củng cố, tạo môi trường pháp lí và đạo lí thuận lợi cho các quan hệ kinh tế - xã hội tồn tại và phát triển, đồng thời chúng góp phần loại bỏ những quan hệ kinh tế - xã hội không phù hợp, đi ngược lại lợi ích của giai cấp thống trị và lợi ích chung của cộng đồng Ngược lại, khi pháp luật và đạo đức không phù hợp với qui luật vận động phát triển của xã hội, không phản ánh đúng thực trạng của nền kinh tế chúng sẽ có tác động tiêu cực Chúng có thể cản trở, kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội, làm cho đời sống xã hội trở nên mất ổn
Trang 20định Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng sự tác động của pháp luật đối với
cơ sở hạ tầng là tương đối mạnh mẽ và dễ nhận thấy, còn sự tác động của đạo đức đến cơ sở hạ tầng không mạnh mẽ như pháp luật nên khó nhận thấy hơn
Là hai hiện tượng của kiến trúc thượng tầng, pháp luật và đạo đức đều có
sự tác động nhất định đến những thành tố khác của kiến trúc thượng tầng cũng như chịu sự tác động trở lại ở những mức độ nhất định của các yếu tố đó Chẳng hạn, cả pháp luật và đạo đức đều bị ảnh hưởng bởi các quan điểm chính trị của giai cấp cầm quyền Ngược lại, cả pháp luật và đạo đức vừa là những hình thức thể hiện vừa là những phương tiện thực hiện chính trị của giai cấp cầm quyền
I.2.I.4 Trong xã hội có giai cấp, pháp luật và đạo đức vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội.
PC?-JMh kiên sinh hoat vât chất khác nhau nên ỷ thức của các giaLcấp cữngjdĩác-nhau thậm-G bí-ểểi-íập- nhau, Trong xã hội nguyên thuỷ, m ọi thành
viên trong xã-hội-đéu- cá -d ịa vị và lựi ích như nhau nên đạo-đức của họ là thống nhất Khi xã hội phân chia thành giai cấp ĩhLđạọ đức £ũng mang tính giạLcấp, mỗi giai cấp có những quan niêm, quan điểm, chuẩn mực đạo đức phù hợp vói lợi ích của giai cấp mình Trong xã hội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng có hai thứ đạo đức trái ngược nhau Giai cấp thống trị nhờ nắm trong tay các phương tiện sản xuất vật chất và cả các phương tiện sản xuất tinh thần, lại có sự hỗ trợ của nhà nước, pháp luật nên có điều kiện áp đặt những quan điểm, tư tưởng đạo đức của giai cấp mình lên toàn xã hội nhằm củng cố và bảo
vệ địa vị thống trị xã hội của chúng Do đó, đao đức của giaLcấp_xhnW trị trở thành phổ biến trong xã hội và được củng cố thành thói quen, ph ong lục, tập quán Cũng vì vậy, đạo đức của giai cấp thống trị thường có sức sống dai dẳng trong đời sống xã hội Giai cấp bị trị do bị tước mất tư liệu sản xuất nên ở vào địa vị phụ thuộc trong xã hội, do vậy họ không có điều kiện phát triển đạo đức của mình ngang tầm với đạo đức của giai cấp thống trị Bởi vậy, đạo đức của giai cấp bị trị không có điều kiện ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội,
Trang 21nó tồn tại như cái không chính thống và dễ bị mai một.
Cũng như nhà nước, pháp luật luôn thể hiện tính giai cấp Hình thành bằng con đường nhà nước, pháp luật thể hiện ý chí nhà nước Tuy nhiên, nhà nước bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định, là công cụ trong tay giai cấp thống trị về kinh tế nên pháp luật do nhà nước ban hành phải phản ánh ý chí của giai cấp đó, ghi nhận và bảo vệ những lợi ích của nó, là công cụ bảo vệ địa vị thống trị xã hội của giai cấp đó Thông qua nhà nước, bằng con đường nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị được tập trung thành ý chí nhà nước và được nâng lên thành pháp luật
Trong chủ nghĩa xã hội, đạo đức và pháp luật vẫn mang tính giai cấp Xã hội xã hội chủ nghĩa vãn còn là xã hội có giai cấp, lợi ích các giai cấp vẫn chưa hoàn toàn đồng nhất, lực lượng chống đối chủ nghĩa xã hội vẫn còn Đạo đức của nhân dân lao động vẫn có sự khác biệt cơ bản với đạo đức của các thế lực chống đối, phản động, phản cách mạng Trong điều kiện đó, pháp luật vẫn phải được xác định là công cụ hữu hiệu để củng cố và bảo vệ các quyền, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Bên cạnh tính giai cấp, cả pháp luật và đạo đức đều mang tính xã hội Pháp luật và đạo đức đều phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của cộng đổng xã hội như những điều kiện lịch sử, vãn hoá, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện tự nhiên Cả đạo đức và pháp luật đều là những công cụ
để tổ chức và quản lí đời sống xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ gìn
ổn định, trật tự xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng xã hội Khi đó, cả pháp luật và đạo đức đều là những chuẩn mực chung của xã hội, nó là kết quả của quá trình "chọn lọc, đào thải" một cách tự nhiên các cách xử sự trong xã hội
để giữ lại những cách xử sự hợp lí nhất, phù hợp với lợi ích của số đông trong
xã hội, phù hợp với lợi ích của toàn thể dân tộc Trong xã hội, mặc dù các giai cấp có điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau nhưng vẫn có những quan niệm, quan điểm đạo đức chung, phản ánh và điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa người với người, những thực thể có ý thức, có nhân cách, có lòng nhân hậu
Trang 22biết hờn giận, biết yêu thương Có thể nói, đạo đức là nguyên tắc, qui tắc làm người, là lĩnh vực "thực sự người".
1.2.2 Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức
* I.2.2.I Con đường hình thành ỉ
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, pháp luật là sản phẩm của
sự phát triển xã hội Xã hội nguyên thuỷ chưa có nhà nước cũng chưa có pháp luật Để tổ chức và quản lí đời sống xã hội, người nguyên thuỷ dùng đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo Những qui phạm này điều chỉnh rất có hiệu quả các quan hệ xã hội trong điều kiện một xã hội thuần nhất và lợi ích của các thành viên trong xã hội là đổng nhất, Khi trong xã hội có kẻ giầu, người nghèo, các qui phạm này đần không phát huy tác dụng, nó không còn điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội như trước đây Để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong điều kiện mới, thông qua nhà nước, trong xã hội dần hình thành một loại qui tắc xử sự mới là pháp luật Pháp Ịuât duocjiinh thành bằng
trong xã hội phù hợp với điều kiện xã hội hiện tại, không mâu thuẫn với lợi ích giai cấp cầm quyền và dùng quyền lực nhà nước đảm bảo cho nó được
thực hiện trên thực tế Thứ hai, nhà nước thừa nhận cách giải quyết các vụ việc
cụ thể trên thực tế của các cơ quan nhà nước, dùng làm khuôn mẫu để giải
quyết các việc có nội dung tương tự về sau Thứ ba, nhà nước thông qua các
cơ quan nhà nước ban hành ra những văn bản trong đó có chứa đựng các qui phạm pháp luật, đó là những văn bản qui phạm pháp luật Như vậy, pháp luật hình thành là kết quả của hoạt động tự giác, tư duy tích cực của nhà nước, tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội Khi mới hình thành, pháp lụật chủ yếu tồn tại ở dạng không thành văn Cùng với sự phát triển của xã hội, pháp luật ngày càng chủ yếu tồn tại dưới dạng văn bản qui phạm pháp luật
Cũng như pháp luật, đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả tất yếu của cuộc sống con người Tuy nhiên, đạo đức chủ yếu hình thành bằng con đường tự phát Chúng xuất hiện và tồn tại không cần qua một
Trang 23thiết chế xã hội nào mà chỉ cần sự thừa nhận của cộng đồng Ban đầu chỉ là xử
sự của một chủ thể nào đó, do nhu cầu, đòi hỏi của cuộc sống mà dần dần người ta ý thức được đó là điều nên làm, cần phải làm hay không nên làm, không được làm Những quan điểm, quan niệm đầu tiên về cách thức xử sự giữa con người với nhau trong cuộc sống như vậy mà từng bước hình thành
Đ ạo đức cũng có thể được hình thành một cách tự giác Nó là kết quả hoạt động nhận thức thực tiễn và sáng tạo tích cực của những cá nhân tiêu biểu, những người "đức cao vọng trọng" trong xã hội Xã hội nào cũng xuất hiện những cá nhân tiêu biểu, những vĩ nhân, những người có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của xã hội Nhờ có những cá nhân ưu tú đó mà trí tuệ, nhu cấu, nguyện vọng của quần chúng được đúc kết lại và được nâng lên tầm cao mới Khổng Tử, Thích Ca, Giê Su, Tôn Dật Tiên, Hồ Chí Minh không chỉ là những tấm gương về đạo đức mà còn là những người có đóng góp rất quan trọng vào việc hình thành những quan niệm, quan điểm, nguyên tắc, qui tắc đạo đức Ngoài ra, những chuẩn mực đạo đức cũng có thể do các thiết chế xã hội đặt ra
1.2.2.2 Hình thức thể hiện.
Hình thành chủ yếu bằng con đường tự phát, đạo đức chủ yếu tồn tại ở dạng không thành văn và được truyền khẩu từ người này sang người khác, từ vùng này sang vùng khác, từ đời này sang đời khác Đạo đức thường được thể hiện thông qua tục ngữ, thành ngữ, ca dao, dân ca, hò, vè, những lời răn dạy, những phong tục, tập quán, thói quen xử sự của một cộng đồng dân cư Đạo đức còn có thể được thể hiện trong kinh thánh, trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, trong các học thuyết về đạo đức, về chính trị xã hội, trong các bài phát biểu, bài nói chuyện, trong các qui tắc, điều lệ của các thiết chế trong xã hội Như vậy, sự biểu hiện của đạo đức rất đa dạng và không có những hình thức đặc thù cho riêng mình
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức bao gồm các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức, trên cơ sở đó hình thành lên các qui phạm đạo đức; nó
Trang 24cũng bao gồm cả thái độ, tình cảm, sự đánh giá của cộng đồng xã hội cũng như bản thân chủ thể về hành vi đạo đức của họ Như vậy, yếu tố cơ bản của đạo đức, yếu tố cốt lõi, hạt nhân của đạo đức là các quan điểm, quan niệm, tư tưởng đạo đức Quan điểm, tư tưởng đạo đức là cơ sở, là chất liệu làm nên mọi yếu tố còn lại của đạo đức Giáo dục đạo đức trước hết và cơ bản là giáo dục quan điểm, tư tưởng đạo đức Các tư tưởng, quan điểm, quan niệm đạo đức, bản thân nó không phải là những qui tắc xử sự, chúng không xác định rõ cách
xử sự cho các trong những trường hợp cụ thể, nhưng chúng có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Chúng là những quan điểm chỉ đạo, những nguyên tắc chung, cơ bản chi phối hành vi con người Trên cơ sở các quan niệm, quan điểm này mà các qui phạm đạo đức được hình thành, nói cách khác, ẩn đằng sau những tư tưởng, quan điểm đạo đức ấy chính là những qui phạm đạo đức Chẳng hạn, với quan điểm "Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều", cộng đổng xã hội đòi hỏi mỗi người phải giúp đỡ người khác trong hoàn cảnh khó khăn hoạn nạn; hoặc với quan niệm
"đói cho sạch, rách cho thơm", qui tắc xử sự mà cộng đổng muốn mọi người thực hiện đó là dù khó khăn, nghèo túng nhimg phải biết giữ mình trong sạch, không được làm điều gì làm hoen ố nhân cách, chẳng hạn không tham lam, không trộm cắp
M ột quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức có thể được thể hiện qua một hoặc nhiều qui tắc xử sự, ngược lại, một qui phạm đạo đức lại có thể phản ánh nhiều quan niệm, quan điểm đạo đức Chẳng hạn, qui tắc: phải giúp đỡ người khác khi họ gặp phải khó khăn hoạn nạn được thể hiện qua những quan niệm, quan điểm "lá lành đùm lá rách"; "thương người như thể thương thân" Pháp luật được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau nhưng xu hướng chung là ngày càng tồn tại một cách phổ biến dưới dạng các văn bản qui phạm pháp luật Tồn tại dưới dạng này, pháp luật thể hiện một cách tập trung nhất ý chí của nhà nước, đồng thời, khi đó nó cũng đảm bảo tính minh bạch, chính xác của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội
Trang 25Nói đến pháp luật là nói đến các qui phạm pháp luật Dù tồn tại ở dạng thành văn hay không thành văn thì pháp luật cũng luôn được thể hiện dưới dạng các qui tắc xử sự - các qui phạm pháp luật Chi trong một số trường hợp nhất định, khi thật cần thiết mà các qui phạm pháp luật chưa đầy đủ thì các quan niệm, quan điểm, tư tưởng pháp luật mới đóng vai trò bổ sung, thay thế cho các qui phạm pháp luật trong việc điều chỉnh hành vi con người.
Như vậy, xét về hình thức thể hiện, pháp luật và đạo đức có sự khác biệt cãn bản Thứ nhất, pháp luật chủ yếu tồn tại ở dạng thành văn còn đạo đức chủ yếu tổn tại ở dạng không thành văn Thứ hai, yếu tố cơ bản, cốt lõi cấu thành nên pháp luật là các qui phạm pháp luật trong khi đó, yếu tố cốt lõi, hạt nhân của đạo đức lại là quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức
Hiện nay ở nước ta, pháp luật chủ yếu tồn tại dưới dạng văn bản qui phạm pháp luật Trong khi đó, những quan niệm, quan điểm, chuẩn mực đạo đức được vãn bản hoá nhìn chung còn rất hạn chế Chỉ một vài lĩnh vực như y
tế, báo chí, hoạt động của luật sư đã xây dựng được các qui tắc đạo đức nghề nghiệp Trong tương lai, có thể các qui tắc đạo đức nghề nghiệp ở nước ta sẽ dược xây dựng phổ biến hơn
Pháp luật thường rất xác định về mặt hình thức Trước hết, pháp luật, bản thân nó là một hệ thống, đó là một thể thống nhất bao gồm các qui phạm pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau được sắp xếp một cách logic, khách quan và khoa học Thứ hai, qui phạm pháp luật, thành tố nhỏ nhất cấu thành nên pháp luật cũng luôn xác định về hình thức Qui phạm pháp luật thường chỉ
rõ điều kiện, hoàn cảnh mà nó tác động tới, những tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi tác động của nó; khi đó, họ được làm gì, phải làm gì, làm như thế nào hay không được làm gì Khi cần thiết nhà nước còn dự kiến những biện pháp
sẽ áp dụng để đảm bảo cho qui phạm đó được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế Thứ ba, tính xác định về hình thức của pháp luật còn thể hiện ở yêu cầu về kĩ thuật sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt ý chí nhà nước sao cho các qui phạm pháp luật dễ hiểu, hiểu đúng, chính xác
Trang 26Trái lại, tính xác định về hình thức của đạo đức thường không chặt chẽ như pháp luật Thứ nhất, đạo đức không được quan niệm là một thể thống nhất, nói cách khác, nó không phải là một "hệ thống" Chính vì vậy, đạo đức thường được định nghĩa là "một hình thái ý thức xã hội bao gồm " Thứ hai, đạo đức bao gồm cả những quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức, cả thái
độ, tình cảm đạo đức Tồn tại dưới dạng tình cảm đạo đức, sự tự đánh giá của chủ thể, đạo đức không thể xác định về hình thức bởi tình cảm, lương tâm của mỗi người tồn tại trong ý thức của họ, do vậy không có tiêu chuẩn nào để kiểm nghiệm được tính xác định của nó Thứ ba, bản thân các qui phạm đạo đức cũng không xác định về hình thức như các qui phạm pháp luật Rất ít các qui phạm đạo đức chỉ rõ điều kiện, hoàn cảnh mà nó tác động cũng như xác định rõ chủ thể nằm trong phạm vi tác động của nó Các qui phạm đạo đức thường không dự liệu biện pháp chế tài Ngược lại, chúng thường chỉ xác định cách xử sự cho chủ thể, chẳng hạn, phải cứu giúp người bị nạn; phải hăng hái, nhiệt tình trong công việc; không được, trông chờ, ỷ lại
I.2.2.3 Phạm vi điều chỉnh.
Có nhiều quan điểm về phạm vi điều chỉnh của pháp luật và đạo đức Đại
đa số các tác giả cho rằng, đạo đức có phạm vi điều chỉnh rộng hơn pháp luật Tuy nhiên cũng có một số tác giả cho rằng, pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng hơn đạo đức
Bên cạnh những ưu thế vốn có, pháp luật cũng còn những hạn chế nhất định Pháp luật chỉ được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp tác động bên ngoài, vì thế, nó không thể điều chỉnh được tất cả các quan hệ xã hội, đặc biệt
là những quan hệ xã hội mà trong đó hành vi của các chủ thể chỉ bị chi phối bởi tình cảm, lương tâm con người Pháp luật chỉ có thể điều chỉnh những quan hệ xã hội mà hành vi của chủ thể quan hệ đó bị chi phối bởi ý chí, lí trí Trong số đó, pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản có tầm quan trọng nhất định của đời sống xã hội, đã tồn tại một cách khách quan, mang tính phổ biến, điển hình trong đời sống xã hội Khi dùng pháp luật để
Trang 27điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhà nước phải cân nhắc nhiều yếu tố như: Phải nhận Ihức đúng thực trạng của đời sống, xác định đúng nhu cầu đòi hỏi của tình hình; đánh giá đúng khả năng điều chỉnh của pháp luật cũng như dự kiến được kết quả điều chỉnh, dự liệu trước cái được, cái mất của việc dùng pháp luật so với không dùng pháp luật để điều chỉnh; phải nghiên cứu, tìm hiểu trong truyền thống dân tộc cũng như kinh nghiệm điều chỉnh của các nước trên th ế giới Cần lưu ý là không phải khi nào pháp luật cũng chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội đã và đang tồn tại Trong một số trường hợp, pháp luật còn làm nảy sinh trong đời sống những quan hệ xã hội nhất định Chẳng hạn, nhờ có những qui định của pháp luật về bảo hiểm, tố tụng mà những quan hệ
xã hội về bảo hiểm, tố tụng mới tồn tại và được điều chỉnh Nhìn chung, theo
sự phát triển của xã hội, pháp luật có xu hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh.Trong khi đó, phạm vi điều chỉnh của đạo đức rất rộng Cứ ở đâu có con người, ở đó có đạo đức Đạo đức là một yếu tố tinh thần không thể tách rời hành vi của con người, không thể thiếu được trong đời sống của mỗi con người Mỗi cá nhân đều có một vị trí nhất định trong xã hội, vì vậy, ở đâu, bao giờ, khi nào cũng luôn phải chú ý đối nhân xử thế sao cho đúng mực Như vậy, ngay cả các quan hệ do pháp luật tạo ra thì sau khi nó hiện diện trong đời sống, đạo đức cũng tham gia điều chỉnh Tuy nhiên, cần lưu ý là trong trường hợp này, đạo đức chỉ điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể với tư cách là những
cá nhân con người với nhau "Trên thực tế, không một lĩnh vực quan hệ xã hội nào từ lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế - kinh doanh, quân sự, hành chính pháp lí mà lại không có quan hệ ít nhiều với đạo đức, từ các phạm trù của đạo đức: thiện, ác, tốt, xấu, công bằng, nhân đạo, lương tâm, vinh, nhục "1.\Tóm lại, đạo đức điều chinh hầu hết các quan hệ xã hội với tính cách chủ thể của nó
là những con người có ý thức, có nhân cách Đạo đức không chỉ là qui tắc của hành vi con người trong quan hệ với người khác, nó còn là qui tắc để chủ thể
tự điều chỉnh hành vi của mình trong "quan hệ vói chính mình": tự trọng, tự ái,
1 H o àn g T h i K im Q u ế, sđd, tr 15.
Trang 28tự trách mình đó là những tư tưởng để mỗi cá nhân tự rèn luyện tu dưỡng nhân cách lối sống của bản thân mình.
Khác với pháp luật chỉ là "những đòi hỏi tối thiểu" trong hành vi con người, đạo đức "là những đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đ a"1 Chẳng hạn, trường hợp gặp người bị nạn, pháp luật chỉ buộc chủ thể phải thực hiện hành vi cứu giúp, tức là làm cho người đó thoát khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng còn đạo đức đòi hỏi rộng hơn nhiều, nó không chỉ yêu cầu chủ thể phải thực hiện hành
vi giúp người bị nạn thoát khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng mà còn đòi hỏi chủ thể phải có những những hành vi giúp đỡ về vật chất cũng như về tinh thần khác Một hành vi gây thiệt hại cho xã hội chỉ trở thành đối tượng của pháp luật khi thiệt hại mà nó gây ra ở một mức độ nào đó trở lên Người ta không cần và không thể đưa ra toà để xét xử hành vi trộm cắp mớ rau, nải chuối Pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi của các cá nhân khi họ đạt đến độ tuổi nhất định và có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình.^Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người không kể tuổi tác, địa vị xã hội của họ Pháp luật chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội khi nó đã ổn định ở một mức độ nhất định còn đạo đức do tính chất mềm dẻo và linh động, nó điều chỉnh các quan hệ xã hội ngay từ khi nó mới manh nha hình thành
1.2.2.4 Cách thức, cơ chê điều chỉnh.
Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách qui định cho chủ thể các quan hệ đó những hành vi được phép, những hành vi bắt buộc và những hành vi bị ngăn cấm Đạo đức điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách xác định cho chủ thể các quan hệ đó những hành vi nên làm, không nên làm, cần phải làm, không được làm Nói cách khác, pháp luật điều chỉnh các quan hệ
xã hội bằng cách xác định các quyền, nghĩa vụ cho chủ thể còn đạo đức điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu bằng cách xác định những nghĩa vụ, bổn phận cho chủ thể Có thể nói trong đạo đức, vấn đề quyền chủ thể thường rất ít
1 N g u y ề n K h ắc H iếu, sđ d , tr 63.
Trang 29được được đề cập Mặt khác, trong pháp luật, sự cho phép, bắt buộc hay cấm đoán luôn được xác định rất rõ ràng Để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với chủ thể, nhà nước qui định các biện pháp cưỡng chế sẽ được áp dụng trong
bộ phận chế tài của qui phạm pháp luật Ngược lại, hầu hết những nghĩa vụ, bổn phận của chủ thể trong đạo đức thường không mang tính xác định một cách chặt chẽ Đó mới chỉ là những lời khuyên, điều răn của xã hội đối với chủ thể: nên, không nên hay cần phải, không được Bởi vậy, trong đạo đức thường không nêu ra các biện pháp chế tài
Cơ chế điều chỉnh pháp luật và cơ chế điều chỉnh đạo đức khác nhau ở những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, điều chỉnh pháp luật, hầu hết các trường hợp đều phải có các
qui phạm pháp luật Chỉ một số ít các trường hợp khi chưa có các qui phạm pháp luật, những quan niệm, quan điểm của giai cấp cầm quyền, của nhà nước hay của nhà chức trách mới phát huy tác dụng thay thế cho các qui phạm pháp luật để đều chỉnh quan hệ xã hội Khi đã xây dựng được các qui phạm pháp luật, các quan niệm quan điểm của giai cấp cầm quyền, của nhà nước hay của nhà chức trách chỉ còn tồn tại như là yếu tố không chính thức, nó chỉ có giá trị tham khảo khi cần thiết Ở đây, việc thiết lập khuôn mẫu cho hành vi con người thuộc về nhà nước
Điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng đạo đức cũng cần có các qui phạm đạo đức, tuy nhiên, yếu tố quan trọng hơn cần phải có đó là các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức Để có được hành vi đạo đức đòi hỏi mỗi người phải thấm nhuần các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức Nắm được các quan niệm, tư tưởng đạo đức là xác định được mình phải làm gì, làm như thế nào trong điều kiện hoàn cảnh nào, bởi như đã nói, ẩn đằng sau các quan niệm, quan điểm đạo đức chính là những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với hành vi của mỗi người Do vậy, trong điều chỉnh đạo đức điều quan trọng không phải là xây dựng các qui phạm đạo đức mà là hình thành cho được các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức, sao cho chúng ne;ắn gọn, dễ truyền
Trang 30đạt, dễ thuộc, dễ nhớ Khi trong xã hội đã hình thành các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức, qua rất nhiều hình thức khác nhau, chúng được tuyên truyền, phổ biến trong xã hội và cùng với nó, các qui phạm đạo đức cũng hình thành và được phổ biến đến các chủ thể trong xã hội Hoạt động này được tiến hành bởi rất nhiều chủ thể, ở bất cứ đâu, trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào
có thể Việc tuyên truyền và thể chế hoá các quan điểm, tư tưởng đạo đức thành các qui phạm đạo đức là do chủ thể này tiến hành đối với chủ thể khác trong những mối quan hệ xác định và thông thường là quan hệ giữa: Bố mẹ đối với con cái, anh chị đối với em; thầy cô giáo đối với học trò; cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội đối với các thành viên; người lớn tuổi đối với người người ít tuổi; thủ trưởng đối với nhân viên Chẳng hạn, khi người thầy giáo dạy học trò phải trung thực trong cuộc sống thì các qui tắc của hành vi được nêu ra là: không được trộm cắp của người khác, không được nói dối Khi cha
mẹ dạy con phải có hiếu với cha mẹ, thì các qui phạm đạo đức được xây dựng nên là: phải biết nghe lời cha mẹ, không được cãi lại cha mẹ, phải chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ ốm đau, già yếu Khi tình thương và lòng nhân ái được tuyên truyền phổ biến thì qui tắc của hành vi là phải tương trợ nhau lúc túng thiếu, phải giúp đỡ nhau lúc khó khăn hoạn nạn Những quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức và những qui tắc đạo đức ấy ăn sâu, bám rễ một cách chắc chắn trong mỗi chủ thể, nó chi phối hoạt động hàng ngày, hàng giờ của các chủ thể Nó thậm chí đã trở thành thói quen, phong tục, tập quán trong xử sự của mỗi cộng đổng người
Thứ hai, trong điều chỉnh pháp luật, việc cá biệt hoá các qui phạm pháp
luật thành các quyền, nghĩa vụ cho chủ thể có thể do chủ thể tự tiến hành, cũng có thể do các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền (gọi chung là các chủ thể có thẩm quyền) tiến hành tuỳ thuộc vào nội dung của các qui phạm pháp luật Khi các điều kiện, hoàn cảnh hay tình huống được qui định trong các qui phạm pháp luật xẩy ra trên thực tế, các chủ thể có thể hoặc bắt buộc phải thực hiện những hành vi nhất định Nói cách khác, khi các sự
Trang 31kiện pháp lí xẩy ra, các qui phạm pháp luật được cá biệt hoá thành quyền, nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể trong các quan hệ pháp luật cụ thể Đây là những quan hệ xã hội mà sự xuất hiện, thay đổi hay chấm dứt của nó, quyền nghĩa vụ các bên, biện pháp đảm bảo thực hiện bị chi phối rất lớn bởi ý chí của con người Trong điều chỉnh pháp luật, phần lớn các trường hợp, việc cá biệt hoá các qui phạm pháp luật thành những quyền, nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể đều thực hiện bằng văn bản gọi là văn bản cá biệt.
Ngược lại, trong điều chỉnh đạo đức, việc cá biệt hoá các qui phạm đạo đức thành nghĩa vụ, bổn phận cho chủ thể hầu hết do chính chủ thể tự tiến hành Chỉ một số rất ít trường hợp, hoạt động này do chủ thể khác tiến hành cho chủ thể, ví dụ cha mẹ đối với con cái; anh chị đối với em; thầy cô giáo đối với học trò Việc cá biệt hoá qui phạm đạo đức vào trường hợp cụ thể không cần phải ghi trong bất cứ văn bản nào
Trên cơ sở tri thức đạo đức, vốn sống, nhân cách, từ sự hiểu người, hiểu mình, từ sự ý thức về vị trí của mình trong xã hội, về những yêu cầu đòi hỏi của xã hội , khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, chủ thể tự xác định cho minh nên làm gì, phải làm gì hay khống được làm gì Đây là cơ chế tâm lí rất phức tạp, bởi chủ thể có thể do sợ bị xã hội lên án mà không dám thực hiện những hành vi nào đó hay do chủ thể đã được khen ngợi, được khuyến khích hoặc cảm thấy sẽ được khuyến khích, cảm nhận được hạnh phúc sẽ được hưởng mà họ tích cực thực hiện những hành vi khác hoặc do lương tâm cắn rứt, cảm thấy cần phải được thanh thản mà họ buộc phải thực hiện những hành
vi nhất định Với tình cảm đạo đức họ tích cực, say mê thực hiện hành vi với
sự quyết tâm cao độ Tóm lại, trên cơ sở những quan niệm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức đã được giáo dục, trên cơ sở nhận thức về sự đánh giá của xã hội,
sự tự đánh giá cũng như tình cảm của chủ thể , chủ thể tự xác định cho mình những điều nên làm, phải làm, không được làm trong những điều kiện, hoàn cảnh xác định
Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa hai loại điều chỉnh đó là trong điều
Trang 32chỉnh pháp luật, việc cá biệt hoá các qui phạm pháp luật thành quyền, nghĩa
vụ cụ thể cho các chủ thể phần lớn các trường hợp được tiến hành thông qua những hành vi xác định của con người, ngược lại, trong điều chỉnh đạo đức, sự
cá biệt hoá các qui phạm đạo đức thành nghĩa vụ, bổn phận cho chủ thể là hoạt động tâm lí bên trong của chính chủ thể đó
Thứ ba, trong điều chỉnh pháp luật, sau khi được cá biệt hoá, các chủ thể bằng hành vi của mình tự thực hiện những quyền, nghĩa vụ pháp lí đã được xác định Nếu các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm chỉnh, không đúng các quyền, các nghĩa vụ pháp lí của mình thì khâu tiếp theo của cơ chế này là truy cứu trách nhiệm pháp lí đối với họ Nói cách khác, khi chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật, nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động nhằm ấn định một biện pháp trách nhiệm pháp lí cụ thể đối với họ Các biện pháp trách nhiệm pháp lý là những biện pháp tác động bên ngoài, chủ thể có thể phải chịu những hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần, tự do, thậm chí cả tính mạng của mình
Ngược lại, trong điều chỉnh đạo đức, các quy tắc đạo đức sau khi được cá biệt hoá thành nghĩa vụ, bổn phận đạo đức, chủ thể bằng hành vi của mình thực hiện một cách tự giác, hưng phấn cao độ Đối với những trường hợp chủ thể không thực hiện nghiêm chỉnh các bổn phận đạo đức của mình, chủ thể cũng sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi Tuy nhiên, thông thường, đó là những bất lợi về tinh thần đối với chủ thể Các biện pháp trách nhiệm đạo đức
là những biện pháp trách nhiệm từ trong ra ngoài, từ sự cắn rứt về lương tâm đến sự chê cười, phản đối của dư luận Một số trường hợp, chủ thể cũng có thể
bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc như đánh đập, đuổi đi, cạo đầu bôi vôi, thả bè trôi sông
Tóm lại, điều chỉnh đạo đức chủ yếu diễn ra theo cơ chế tâm lí bên trong
Sự tác động của chủ thể bên ngoài chỉ mang ý nghĩa giáo dục chung Nó thể hiện trong hoạt động giáo dục tư tưởng đạo đức, đưa ra những khuôn mẫu, những chuẩn mực đạo đức, đánh giá về hành vi của chủ thể
Trang 33I.2.2.5 Biện pháp bảo đảm thực hiện.
Đây là một trong những sự khác nhau cơ bản giữa pháp luật và đạo đức Pháp luật do nhà nước ban hành nên nó được nhà nước bảo đảm thực hiện Tuỳ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, nhà nước có thể sử dụng một hoặc kết hợp các biện pháp như tuyên truyền giáo dục, hoạt động tổ chức, biện pháp kinh tế
và cuối cùng là biện pháp cưỡng chế nhà nước Thông qua bộ máy tuyên truyền của nhà nước, người dân nắm bắt được những qui định của pháp luật, nắm bắt được chủ trương của nhà nước, từ đó họ chủ động điều chỉnh hành vi của mình theo hướng mà nhà nước mong muốn Nhà nước cũng trực tiếp tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật trong những trường hợp người dân không thể tự thực hiện được hoặc thực hiện không nghiêm chỉnh các qui định của pháp luật Bằng biện pháp khuyến khích về vật chất, tạo ra cho chủ thể sự quan tâm đến các lợi ích vật chất, nhà nước làm cho các chủ thể tích cực, tự giác thực hiện những qui định trong pháp luật Nhà nước cũng thường xuyên kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong xã hội nhằm phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật Hậu quả bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật của
họ có thể là về vật chất, về tinh thần có khi cả tính mạng của chủ thể Tuy nhiên, đó là những hậu quả bất lợi mà họ phải gánh chịu ngay trong hiện tại và
sự đánh giá phán xét từ phía nhà nước chỉ trong một thời gian nhất định Tất
cả những biện pháp nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực hiện đều chỉ là
sự tác động từ bên ngoài đối với chủ thể Thực hiện sự tác động này, nhà nước
có một bộ máy chuyên môn với đầy đủ sức mạnh được tổ chức từ trung ương xuống địa phương Một điều cần lưu ý là, sự đảm bảo bằng nhà nước đối với việc thực hiện pháp luật chỉ là cơ bản và chủ yếu Bên cạnh các biện pháp nhà nước, pháp luật vẫn có thể được đảm bảo bằng các biện pháp xã hội như sự giáo dục trong gia đình, nhà trường, sự tự nguyện, tự giác của chính chủ thể Đối với đạo đức, nhà nước cũng góp phần quan trọng làm cho nó được thực hiện nhất là khi nó phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, của nhà
Trang 34nước hay lợi ích chung của cộng đồng, phù hợp với những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mĩ tục của dân tộc mà nhà nước thấy cần phải giữ gìn, bảo vệ và phát huy các quan niệm, quan điểm đạo đức đó Tuy nhiên, đảm bảo bằng nhà nước đối với việc thực hiện đạo đức không phải là biện pháp cơ bản và chủ yếu Đạo đức được đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh, cơ bản và chủ yếu là các biện pháp phi nhà nước Khác với pháp luật, "Đạo đức được đảm bảo trước hết nhờ vào những yếu tố kích thích nội tâm của con người - sức mạnh từ bên trong, từ lương tâm, từ những thói quen xử sự và từ sức mạnh bên ngoài - dư luận xã hội"1 Trong các biện pháp đảm bảo cho đạo đức được thực hiện, trước tiên, phải kể đến biện pháp tuyên truyền giáo dục, một biện pháp rất chủ yếu Biện pháp này được áp dụng ở mọi lúc, mọi nơi, trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội Để thực hiện biện pháp này, vai trò của cha mẹ, anh chị, thầy cô giáo, người lớn tuổi, những người có uy tín về đạo đức là rất quan trọng Thông qua sự giáo dục trong gia đình, nhà trường, trong môi trường sống , chủ thể nhận thức được và tự nguyện, tự giác thực hiện những hành vi cần có Thông qua sự giáo dục mà hình thành nhân cách con người, hình thành trong mỗi người những đức tính quí báu, những phẩm chất tốt đẹp như lòng nhân ái, đức hi sinh, sự thuỷ chung, khiêm tốn, lễ phép Như vậy, chính môi trường sống tạo nên lương tâm của mỗi người, yếu tố quan trọng đảm bảo cho đạo đức được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống Lương tâm của mỗi người không phải là một phạm trù thiên bẩm, không phải con người "tính bản thiện" hay "tính bản ác", mà thiện ác "phần nhiều do giáo dục
mà nên" Trên cơ sở nhận thức một cách sâu sắc yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống, nhận thức trách nhiệm của bản thân mình đối với xã hội, nhận thức được
ý nghĩa tích cực, tác dụng to lớn trong xử sự của mình, chủ thể hào hứng, nhiệt tình, hăng say tự giác, tự nguyện và sẵn sàng cố gắng hết sức mình để làm một việc nào đó; ngược lại chủ thể lại có đầy đủ bản lĩnh để kiềm chế không thực hiện một hành vi nào đó Có thể nói, lương tâm chủ thể như là một "vị quan
1 H oàng T hị K im Q u ế , sđd, tr 17.
Trang 35toà" công minh, phán xét một cách "khách quan" về các hành vi của chủ thể
Nó như là một "nhân vật" có đầy uy lực luôn theo sát mỗi việc làm, mỗi hành động của chủ thể Nó có thể sai khiến chủ thể, buộc chủ thể phải làm một việc nhất định hay không cho phép chủ thể được làm một việc nhất định Khác với các biện pháp cưỡng chế nhà nước, sự phán xét của "toà án lương tâm" không chỉ diễn ra trong một thời hạn nhất định Sự ân hận, cắn rứt, dày vò trong lương tâm không có thời hiệu, nó diễn ra một cách "triền miên, day dứt, thậm chí suốt cả cuộc đời người vi phạm "1
Dư luận xã hội là biện pháp bảo đảm rất quan trọng của đạo đức Dư luận
xã hội có sức mạnh rất to lớn trong việc tác động đến ý thức và hành vi con người Trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức, dư luận đánh giá hành vi đó thiện hay ác, thật hay giả, tốt hay xấu qua đó nó thể hiện thái độ đồng tình hay phản đối một hành vi nào đó Có thể nói, trong cuộc sống cộng đồng không người nào có thể bỏ qua dư luận xã hội, đặc biệt đối với những người trọng danh dự thì dư luận càng có sự tác động mạnh mẽ Dư luận xã hội có tính hai mặt: Khi thể hiện sự đồng tình với một hành vi nào đó, nó có tác dụng khuyến khích rất lớn, nó như là một "phần thưởng" tinh thần vô giá đối với chủ thể đã thực hiện hành vi, đồng thời nó có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với các chủ thể khác; ngược lại, khi thể hiện sự phản đối một hành vi nào đó thì nó lại có vai trò như một "hình phạt”, một biện pháp chế tài cực kì nghiêm khắc đối với chủ thể Dư luận xã hội không phải một sớm một chiều qua đi mà nó tổn tại một cách dai dẳng, thậm chí "ngàn năm" vẫn còn "trơ trơ" Nó làm chủ thể dày vò, cắn rứt lương tâm, lo lắng, phiền muộn Nó làm cho chủ thể mất uy tín trong cộng đồng Sự xấu hổ và lòng tự trọng có thể khiến chủ thể không thể tiếp tục cuộc sống trong cộng đồng như trước, không dám đi đâu, không dám nhìn ai Thậm chí nó có thể dẫn chủ thể tới xử sự cực đoan là tự tìm đến cái chết để kết thúc cuộc đời, để không còn phải chứng kiến sự "phỉ nhổ", sự lên
án của dư luận
1 H o àn g T h ị K im Q u ế , sđd, tr 17.
Trang 36Ngoài ra, trong một số trường hợp để đảm bảo cho đạo đức được thực hiện còn có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế về tinh thần khác như chửi mắng, khiển trách hoặc cưỡng chế về thân thể như đánh đập
Khác với pháp luật, hậu quả mà chủ thể phải gánh chịu do không thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh chỉ trong điều kiện hiện tại, trong đạo đức, theo quan điểm đạo đức tôn giáo, hậu quả mà chủ thể phải gánh chịu do
vi phạm các qui tắc đạo đức có thể còn cả trong tương lai:"ác giả các báo”;
"đời cha ăn mặn, đời con khát nước"; "nhân nào quả đấy"
Tóm lại, các biện pháp đảm bảo thực hiện của đạo đức vừa có thể là những tác động bên ngoài, vừa có thể là những tác động tâm lí bên trong, nó không chỉ được áp dụng trong hiện tại mà có khi còn được áp dụng cả trong tương lai Một điều cần lưu ý là đạo đức chủ yếu được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp tác động về tinh thần Tuy nhiên không phải vì thế mà cho rằng các biện pháp đảm bảo thực hiện của đạo đức kém phần nghiêm khắc, từ đó cho rằng hiệu quả điều chỉnh hành vi con người bằng đạo đức thấp hơn so vói pháp luật
Ngoài những khác biệt cơ bản trên đây, giữa pháp luật và đạo đức còn có một số điểm khác biệt không cơ bản khác Đó là:
- Mục đích của đạo đức thường cao hơn so với pháp luật Quan niệm đạo đức tôn giáo dạy con người làm điều thiện ngay cả đối với kẻ đã hại bản thân
họ, theo phương châm "lấy ân báo oán", "tình thương đáp lại hận thù", ở khía cạnh nào đó, quan niệm này của đạo đức chưa hẳn đã phải là tích cực, kẻ ác không bị trừng trị có thể sẽ tiếp tục làm điều ác Trái lại, pháp luật thực tế hơn Theo qui định của pháp luật, mọi người có quyền tự vệ khi bị tấn công trái pháp luật và hành vi phòng vệ được pháp luật cho phép đến mức đủ để ngăn chặn sự tấn công
- So với pháp luật, đạo đức xuất hiện sớm hơn Đạo đức xuất hiện từ trong xã hội nguyên thuỷ, còn pháp luật chỉ xuất hiện khi xã hội đã xuất hiện chế độ tư hữu và sự phân hoá xã hội thành các giai cấp
Trang 371.3 SỤ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA PHÁP LUẬT VỚI ĐẠO ĐỨC 1.3.1 Tác động của đạo đức đến pháp luật:
1.3.1.1 Tác động của đạo đức đến việc hình thành các qui định trong pháp luật.
Phải khẳng định rằng, đạo đức có tác động mạnh mẽ đến việc hình thành các qui định jtrong pháp luật Đạo đức như là môi trường cho sự phát sinh, tổn tại và phát triển của pháp luật, là chất liệu làm nên các qui định của pháp luật
Có thể nói, bất kì một hệ thống pháp luật nào bao giờ cũng ra đời, tồn tại và phát triển trên một nền tảng đạo đức nhất định Những quan điểm, quan niệm,
tư tưởng, chuẩn mực đạo đức đóng vai trò là tiền đề tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng nên các qui định cụ thể của pháp luật
Trong bất kỳ xã hội nào cũng luôn tồn tại những quan niệm, quan điểm
và các quy tắc đạo đức nhất định, chúng luôn gắn bó một cách chặt chẽ đối đời sống con người Nhờ có đạo đức mà một con người trở nên hoàn hảo hơn,
có ích cho xã hội hơn, do đó mà xã hội trở nên ổn định và có trật tự Đạo đức hình thành từ trong cuộc sống hàng ngày của con người, trên cơ sở sư thừa nhận của cộng đồng Khi cộng đồng thừa nhận một quan niệm, quan điểm đạo đức nào đó, họ thực hiện nó một cách rất tự giác bằng lương tâm và tình cảm
^ - - •-»
của họ Những quan niệm, quan điểm, chuẩn mực đạo đức đó dần trở thành phong tục, tập quán, thói quen trong xử sự hàng ngày của họ Nhiều quan niệm đạo đức đã trở thành lí tưởng phấn đấu, thành lẽ sống của chủ thể Bởi vậy, hiệu quả điều chỉnh bằng đạo đức đạt được rất cao Chính vì vậy, khi pháp luật được xây dựng phù hợp với đạo đức, nó không chỉ được đảm bảo bằng các biện pháp nhà nước m à nó còn được đảm bảo bằng dư luận xã hội và quan trọng hơn, nó đã được đảm bảo bằng chính lương tâm, tình cảm của chủ thể Ngược lại, nếu không được xây dựng trên cơ sở đạo đức, không phù hợp với đạo đức xã hội, pháp luật sẽ rất khó đi vào đời sống Trong trường hợp đó, pháp luật: khó có thể được thực hiện nhò' sự tự nguyện, tự giác của các thành viên trong xã hội, ngược lại, có khi họ còn tìm cách chống đối, vi phạm pháp
Trang 38luật vì thế sẽ gia tăng Để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, nhà nước sẽ phải sử dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước Tuy nhiên, hiệu quả đạt được nhờ
sử dụng biện pháp này là không cao, có khi còn phản tác dụng
Sự tác động của đạo đức đến việc hình thành các qui định trong pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có sự nhận thức về vai trò của pháp luật cũng như đạo đức Khi nhà làm luật thức được những hạn chế vốn có của pháp luật đồng thời cũng nhận thức được vai trò và tác dụng to lớn của đạo đức, thì đạo đức có thể tác động mạnh mẽ đến pháp luật Ngược lại, khi không đánh giá đúng vai trò của đạo đức, xem nhẹ vai trò cũng như tác dụng của đạo đức, trong khi đó, pháp luật lại được đề cao quá mức, được xem như công cụ vạn năng có thể thay thế hoàn toàn cho các phương tiện điều chỉnh khác thì sự tác động của đạo đức đến pháp luật là rất hạn chế
Sự tác động của đạo đức đến việc hình thành các qui định trong pháp luật thế hiện ở chỗ, trên cơ sở các quan điểm, tư tưởng đạo đức, nhà làm luật đặt ra các qui phạm pháp luật không trái vói đạo đức xã hội, phù hợp với những quan điểm, tư tưởng đạo đức ấy và cao nhất là thể chế hoá chúng thành các qui ' phạm pháp luật Nó cũng được thể hiện qua việc nhà làm luật thừa nhận một phong tục, tập quán đạo đírc nào đó, biến chúng thành tập quán pháp; thừa nhận cách giải quyết các vụ việc cụ thể trên thực tế là tiền lệ pháp để áp dụng giải quyết các vụ việc tương tự về sau
Trong toàn bộ đạo đức xã hội, những quan niệm, quan điểm đạo đức của giai cấp thống trị có ảnh hưởng đến pháp luật mạnh mẽ nhất, nó chi phối hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước Bởi lẽ, thứ nhất, nhà nước nói chung, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng pháp luật nói riêng được hợp thành trước tiên và chủ yếu từ các thành viên trong giai cấp thống trị Bởi vậy, khi xây dựng pháp luật, bao giờ họ cũng chịu sự chi phối bởi những quan niệm, quan điểm đạo đức của giai cấp mà họ là thành viên Thứ hai, đạo đức của giai cấp thống trị có ảnh hưởng sâu rộng trên phạm vi toàn xã hội Chính
vì vậy, khi pháp luật phù hợp với đạo đức của giai cấp cầm quyền sẽ có cơ sở
Trang 39xa hội rộng lớn nhất đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế.
Những quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức truyền thống cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luật Dân tộc nào cũng luôn có những truyền thống nhất định, trong đó có các truyền thống đạo đức Đó là những quan niệm, quan điểm, chuẩn mực đạo đức, những giá trị đạo đức mà các thế hệ ông cha đã tạo dựng và vun đắp nên Đây là bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc
Truyền thống trong đó có các truyền thống đạo đức chính là cơ sở, động lực
để phát triển, "quá khứ chính là nền tảng của tương lai" Dân tộc nào nếu coi thường quá khứ, bỏ qua truyền thống đều khó có thể hưng thịnh "Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hoá"; phát triển "mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác"1
Ở khía cạnh khác, truyền thống nói chung, truyền thống đạo đức nói riêng đã
ăn sâu vào trong tiềm thức của con người, đã trở thành thói quen trong ứng xử của m ột cộng đổng người, không dễ gì có thể thay đổi được Điều chỉnh hành
vi con người bằng pháp luật, nhà nước không mong muốn gì hơn khi hành vi
ấy trở thành thói quen trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày của họ Chính vì thế, pháp luật, công cụ để tổ chức và quản lí xã hội phải được xây dựng trên cơ sở truyền thống, phù hợp với truyền thống, trong đó có truyền thống đạo đức Nói cách khác, truyền thống, truyền thống đạo đức của dân tộc là cơ sở của pháp luật Các quan niệm, quan điểm, chuẩn mực, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc chỉ đạo việc xây dựng pháp luật Khi pháp luật phù hợp với đạo lí, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chẳng những nó được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống mà nó còn góp phần to lớn trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống, đạo lí Vì vậy mà hiệu quả điều chỉnh bằng pháp luật đạt được sẽ lớn hơn Ngược lại, nếu pháp luật không phù hợp với những giá trị đạo
1 Đ ả n g c ộ n g sản V iệt N am , V ãn k iện hội nghị lần th ứ tư BCH T ru n g ương khoá 7, N xb C hính trị q u ố c gia,
H à N ội 1993, tr 6.
Trang 40đức truyền thống của dân tộc, sớm muộn nó sẽ bị thay đổi.
Đạo đức của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội cũng có tác động đến pháp luật bởi lẽ việc hình thành các quan niệm đạo đức của giai cấp thống trị cũng như việc hình thành các quan niệm đạo đức chung của xã hội có sự ảnh hưởng bởi các quan niệm đạo đức của giai cấp bị trị và các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Khi ban hành pháp luật, nhà nước cũng phải tính đến lợi ích, ý chí của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội bởi vì nhà nước nào, giai cấp nào cầm quyền cũng luôn muốn pháp luật của mình phải được thực thi nghiêm chỉnh trên thực tế một cách có hiệu quả cao nhất M ột khi pháp luật phù hợp với đạo đức của họ chắc chắn việc thực hiện sẽ càng nghiêm chỉnh hơn Tuy nhiên cần thấy rằng, sự ảnh hưởng của những quan niệm đạo đức của giai cấp bị trị là tương đối hạn chế bởi lẽ nó luôn tổn tại như
là những quan niệm đạo đức đối lập, như là cái không chính thống do các giai cấp này không có bộ máy tuyên truyền, lại bị chi phối mạnh mẽ bởi các quan niệm đạo đức của giai cấp thống trị
I.3.I.2 Đạo đức tác động đến việc thực hiện pháp luật của các chủ thể.
Cùng với việc ảnh hưởng đến sự hình thành ra các qui phạm pháp luật, đạo đức còn ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật của các chủ thể Sự tác động này phụ thuộc vào hai yếu tố: sự phù hợp của pháp luật với đạo đức và ý thức đạo đức của các chủ thể trong xã hội Khi pháp luật được xây dựng phù hợp với các quan niệm, quan điểm, chuẩn mực đạo đức trong xã hội, thông thường nó sẽ được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, bởi lẽ hành vi thực hiện pháp luật hoàn toàn phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của đạo đức xã hội Ngược lại, nếu pháp luật trái với đạo đức xã hội, nó sẽ khó có thể được thực hiện một cách nghiêm chỉnh trong cuộc sống Người phương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng thường có thói quen xử sự theo đạo lí Đối với nhiều người, trong nhiều trường hợp, dư luận xã hội còn có tác động mạnh mẽ hơn
cả các biện pháp cưỡng chế nhà nước Bởi vậy, rất có thể họ sẽ xử sự theo sự
"mách bảo của lương tâm" và chấp nhận cưỡng chế nhà nước nếu có v ề phía