'Vì vậy, xây dựng một cơ cấu vốn như thế nào là hợp lí, phù hợp với các qui định của pháp luật, phù hợp với khả năng của công ty và phù hựp với phạm vi, qui mô hoạt động kinh doanh, nhằm
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PH Á P
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
* * * * * * * * * * *
H O À N G THỊ GIANG
CÂU TRÚC VỐN VÀ SỤ CHI PHỐI CỦA CÂU TRÚC VỐN ĐỐI VỚI c ơ CÂU T ổ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY c ổ PHÂN
Chuyên ngành: Luật Kinh tê
Mã số: 60.38.50
THƯ VI ÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI PHÒNG ĐC)C
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC • • •
NGƯỜI HƯỚNÍỈ DẪN KHOA HỌC: PGS-TS Lê H ồng Hạnh
MẢ NỘI - 2003
Trang 361826264354
58
587379838588
9295
N hữ ng ưu th ế của công ty cổ phần
Chương 2: CẤU TRÚC VON CỦA CÔNG TY c ổ PHẦN
Vốn của công ty cổ phần
Những đặc thù trong cơ cấu vốn của công ty cổ phần
So sánh cổ phần của công ty cổ phần và phần vốn góp trong
các loại doanh nghiệp có vốn góp khác.
Chương 3: s ụ CHI PHỐI CỦA CÂU TRÚC VỐN Đ ố i VỚI
C ơ CÂU T ổ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY c ổ PHẨN
C ổ đông và bộ máy quản lý của công ty cổ phần
■Cổ phần- C ổ đông và Đại hội đồng cổ đông.
C ổ phần- Cố đông và H ội đồng quản trị.
C ổ phần- C ổ đông và Ban kiêm soát.
C ổ đông thiểu sô trong công ty cổ phần
M ột sô đ ề xu ấ t bước đầu nhằm hoàn thiện pháp luật công ty ở khía cạnh cấu trúc vốn
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Trang 4BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
2 Công ly Trách nhiệm hữu hạn Công ty TNHH
3 Doanh nghiệp Nhà nưóc DNNN
4 Doanh nghiệp tư nhãn DNTN
5 Đại hội đồng c ổ đông ĐHĐCĐ
Trang 5Mỏ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào muốn thực hiện các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận thì vốn là điều kiện tiên quyết, là cơ sở nền tảng không thể thiếu Đối với CTCP vốn là cơ sớ cho hoạt động kinh doanh, đồng thời vốn là một trong những tiêu chí để xác định vị thế, phạm vi, qui mô cũng như năng lực cạnh tranh của CTCP trên thị trường Vì vậy, vấn đề quan tâm hàng đầu của CTCP cũng như của giới đầu tư và các đối tác đó là cấu trúc vốn Cấu trúc vốn không những quyết định hoạt động kinh doanh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc chi phối cấu trúc quản lý của CTCP Bởi vì, nguyên tắc hoạt động cơ bản đặc trưng của CTCP là nền dân chủ cổ phần Trong CTCP, việc hình thành bộ máy tổ chức quản lý và việc phân chia quyền lực giữa các bộ phận cấu thành đó, cấu trúc vốn có ảnh hưởng quyết định và chi phối 'Vì vậy, xây dựng một cơ cấu vốn như thế nào là hợp lí, phù hợp với các qui định của pháp luật, phù hợp với khả năng của công ty và phù hựp với phạm vi, qui mô hoạt động kinh doanh, nhằm thu hút tối đa các nguồn vốn trong xã hội là vấn đề mà bất cứ CTCP nào cũng quan tâm Với cấu trúc vốn
mở, đa dạng hoá các loại cổ phần khác nhau được qui định trong Luật doanh nghiệp 1999, đã và đang là nền tảng pháp lý cho CTCP trong việc tạo lập và huy động vốn, là cơ sở nền tảng thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Đồng thời căn cứ vào đặc điểm, tính chất của cấu trúc vốn mà đặc biệt quan trọng là cơ cấu VĐL để CTCP thiết lập một cơ cấu quyền lực cho hợp lý Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật doanh nghiệp có nhiều ý kiến xung quanh cơ cấu vốn của CTCP như việc bỏ VPĐ đối với các ngành nghề kinh doanh liệu có thông thoáng quá hay không khi cơ chế hậu kiểm vãn còn nhiều bất cập Cần phải qui định một tỷ lệ cụ thể giữa VĐL và vốn vay nhằm đảm báo an toàn cho các chủ nợ, quyền và lợi ích của các cổ đông thiểu số được
Trang 6bảo vệ như thế nào Đ ể nghiên cứu và khai thác cấu trúc vốn của CTCP dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là nghiên cứu sự chi phối của cấu trúc vốn
đối với cấu trúc quản lý của CTCP Tác giả đã chọn đề tài: “Cấu trúc vốn và
sự chi phôi của cấu trúc vốn đôi với cơ cấu tổ chức quản lý của CTC P” làm
đề tài cho Luận văn Thạc sỹ
2 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những đặc trưng, những
ưu thế của CTCP trong nền kinh tế thị trường Từ đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc vốn của CTCP dưới nhiều góc độ khác nhau, để làm rõ sự chi phối của cấu trúc vốn đối với cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP Đồng thời, qua quá trình nghiên cứu tác giả đã đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện cấu trúc vốn của CTCP
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về
cấu trúc vốn của CTCP và sự chi phối của nó đối với cơ cấu quản lý của CTCP
Phạm vi nghiên cứu: Cấu trúc vốn của CTCP là vấn đề rất phức tạp cả
về lý luận và thực tiễn Để nghiên cứu cấu trúc vốn của CTCP, trong phạm vi của luận văn, tác giả đã nghiên cứu những đặc điểm, ưu thế của CTCP, tuy nhiên' đây không phải là phạm vi nghiên cứu chính của luận văn mà trên cơ sở
đó làm rõ cấu trúc vốn của CTCP, so sánh với cấu trúc vốn của các CTCP của các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời nghiên cứu sự chi phối của cấu trúc vốn đối với cơ cấu quản lý của CTCP
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan
điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.Đồng thời luận văn sử dụng phương pháp so sánh, diễn giải, phân tích tổnghợp đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn
3 Những đóng góp mới của luận văn:
Trang 7Thứ nhất: Luận văn đã đưa ra được những ưu thế của CTCP trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Từ đó khẳng định vị thế của CTCP với
tư cách là một chủ thể kinh doanh độc lập
Thứ hai: Luận văn đã phân tích cấu trúc vốn của CTCP dưới nhiều góc
độ khác nhau, đặc biệt cấu trúc vốn được tiếp cận dưới góc độ pháp lý, làm rõ tại sao trong cấu trúc vốn của công ty về cơ bản có hai bộ phận, VĐL và vốn vay, cơ cấu VĐL, ưu thế, vai trò của VĐL trong CTCP Mối quan hệ, tỷ lệ giữa VĐL và vốn vay, từ đó các nhà đầu tư có phương án đẩu tư thích hợp
Thứ ba: Cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP là một trong những chế định
được pháp luật điều chỉnh và các cổ đông quan tâm Vấn đề cốt yếu nhất là sự phân chia quyền lực như thế nào trong các bộ phận cấu thành Luận văn đã lý giải một cách đầy đủ và dẫn chứng, so sánh với cơ cấu bộ máy quản lý của CTCP của các nước khác, để thấy rõ tổ chức bộ máy quản lý của CTCP rất chặt chẽ, đồng thời có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các bộ phận cấu thành
Thứ tư: Vốn là cơ sở chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ
doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường Đối với CTCP cơ cấu vốn có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh Là công ty đối vốn điển hình, cấu trúc vốn của CTCP là cơ sở cho hoạt động kinh doanh đồng thời cấu trúc vốn còn chi phối cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP Đây là vấn đề mà từ trước đến nay hầu như chưa có tác giả nào khai thác cách
Thứ năm: Trên cơ sở nghiên cứu từ lí luận và thực tiễn về cấu trúc vốn của CTCP, luận văn đã đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện cấu trúc vốn của CTCP
4 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo Kết cấu của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: CTCP và những ưu thế của nó trong nền kinh tế thị trường.Chương 2: Cấu trúc vốn của CTCP
Chương 3: Sự chi phối của cấu trúc vốn đối với cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP
Trang 8CHƯƠNG 1CÔNG TY C ổ PHẨN VÀ NHỮNG ư u THẾ CỦA NÓ
TRONG NÊN KINH T Ế THỊ TRƯỜNG.
1.1 M Ộ T S Ố V Â N Đ Ê L Ý LU Ậ N V Ê C Ô N G T Y c ổ PH Ẩ N
1.1.1 KHÁI NIỆM CÔNG TY c ổ PHẨN.
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của CTCP gắn liền với nền kinh tế thị trường Với tính chất là một hiện tượng kinh tế - xã hội, CTCP nói riêng cũng như các loại hình công ty nói chung có Ihể được hiểu trên nhiều nghĩa khi tiếp cận từ các góc độ khác nhau Từ góc độ kinh tế, CTCP là một tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường, là sự liên kết của nhiều người để tiến hành các hoạt động kinh doanh vì mục đích kiếm lời Dưới góc độ pháp lý, CTCP là một pháp nhân kinh tế, được xác định bởi hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia cụ thể Vì vậy, CTCP là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có khoa học pháp lý Trong khoa học pháp lý, CTCP được tiếp cận như là một thương nhân-pháp nhân Các nhà nghiên cứu, các luật gia đưa ra rất nhiều cách định nghĩa về CTCP
Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, pháp luật của Cộng hoà Nhân dân
Trung Hoa th/ 'CTCP (gọi là công ty hữu hạn cổ phần) là một loại hình
công ty mà toàn bộ vốn chia thành các cổ phần có mức bằng nhau, cổ phần phát hành công khai theo pháp luật bằng hình thức cổ phiêỉi và tự do chuyển nhượng Trong công ty hữu hạn cổ phần, s ố cổ đông rất nhiều, tài sản cá nhân tách riêng khỏi tài sản công ty, trách nhiệm đối với các món nợ của công ty hạn c h ế ở mức bỏ vốn của từng người ” [56, tr 1947] Định nghĩa này nhấn
mạnh tính chất và cấu trúc vốn của CTCP và tính chất đa thành viên của nó cũng như giới hạn trách nhiệm của thành viên
Trang 9Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: ‘C TC P là những công ty
được hình thành trên cơ sở liên hợp tư bản cá nhân bằng cách phát hành vả bán cổ phần và lợi nhuận của công ty được phân phối giữa các cổ đông í heo
chủ yếu khía cạnh kinh tế, cụ thể là tính chất của việc phân phối lợi nhuận, tính chất hợp vốn của công ty Khác với cách tiếp cận từ góc độ kinh tế, các nhà luật học Việt Nam đã đưa ra định nghĩa pháp lý khá rõ ràng, cụ thể về
CTCP: "CTCP là công ty trong đố VĐL được chia thành những phần nhỏ nhất
và bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phần của công ty gọi là cổ đông C ổ đông chỉ chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ của công ty đến hết giá trị
c ổ phần mà họ nắm giữ Công ty có quyền phát hành chứng khoán đ ể công khai huy động vốn ” [43, tr 22] Định nghĩa này về CTCP nhấn mạnh đến tính
chất và cấu trúc vốn, chế độ trách nhiệm của thành viên
Như vậy, có thể nhận thấy rằng các định nghĩa về CTCP là không đồng nhất với nhau, nhưng những định nghĩa trên đều nêu những điểm chung nhất thể hiện bản chất của CTCP là doanh nghiệp vốn góp với cơ cấu vốn đặc thù
và chế độ TNHH của các thành viên
Những quan điểm khác nhau về CTCP trong khoa học kinh tế, pháp lý dẫn đến hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cũng có những cách tiếp cận khác nhau vế CTCP Tại các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law), tiêu biểu là Pháp, Đức, CTCP là loại hình công ty đối vốn, có qui chế pháp lý riêng và được phân biệt rõ ràng với công ty đối vốn khác, đó là công
ty TNHH [25, tr 105] Theo pháp luật của Cộng hoà Pháp, CTCP được gọi là công ty vô danh phải có ít nhất 7 cổ đông, VĐL của công ty được chia thành các cổ phần với mệnh giá thống nhất là 100 F Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần Công ty có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn theo các quy định pháp luật về chứng khoán [50, tr.47] Ó Cộng hoà Liên bang Đức, theo luật về CTCP ngày 4/4/1892 (được sửa đổi ngày 4/7/1980),
Trang 10CTCP có những đặc điểm pháp lý cơ bản giống như công ty vô danh của Pháp Bên c-ạnh đó, CTCP của Đức cũng có những đặc điểm riêng thể hiện ở chỗ sau khi CTCP được chứng nhận tư cách pháp nhân thì toàn số vốn cổ phần có thể được chuyển nhượng cho một thành viên duy nhất và CTCP này sẽ trở thành doanh nghiệp một chủ.
Khác với các nước theo hệ thống dân luật, các nước theo hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (hay còn được gọi là Common law) không phân chia công ty đối vốn thành CTCP hoặc công ty TNHH một cách rõ ràng Tuy nhiên, ở các nước này tồn tại cồng ty có tính chất pháp lý tương tự như CTCP theo hệ thống dân luật, ớ Vương quốc Anh, công ty đối vốn được tổ chức dưới hình Công ty công -hữu hạn (Public limited Company) hay Công ty TNHH theo cổ phần (Company limited by Share) Công ty công hữu hạn có cấu trúc vốn linh hoạt, VĐL được chia thành các cổ phần Các cổ phần đều có thể được chuyển nhượng trừ khi điều lệ công ty có quy định khác [49, tr 48, 49]
ở Australia, công ty đối vốn có thể là Công ty công (Public Company) hoặc Công ty tư (Proprietary Company) Công ty công của Australia có những đặc điểm pháp lý về cơ bản giống như Công ty công hữu hạn của Vương quốc Anh Công ty bắt buộc tối thiểu phải có 5 thành viên và không bị hạn chế số lượng tối đa Vốn cổ phần của công ty được tự do chuyển nhượng theo quy định eủa pháp luật Công ty công phải có kiểm toán viên và phải thực hiện chế
độ báo cáo công khai tài chính hàng năm [1, tr 8, 9] Ở Hoa Kỳ, pháp luật hiện hành quy định có ba loại hình Công ty: 1 Công ty hợp danh (Partnership) là công ty trong đó một số thành viên không trực tiếp điều hành hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm giới hạn trong phần hùn của họ; 2 Công ty công (Public Corporation) là công ty có cổ phẩn bán rộng rãi cho công chúng; 3 Công ty đóng (Closed Corporation) là công ty giới hạn bởi số lượng cổ đông
và không có cổ phần bán rộng rãi ra công chúng [25, tr 514, 515]
Trang 11Hệ thống pháp luật các nước ASEAN, kể cả pháp luật công ty chịu ảnh hưởng sâu sắc hệ thống pháp luật của các nước trước đây đã từng áp đặt ách thống trị Do các nước ASEAN chịu khá nhiều ảnh hưởng khác nhau từ các nước Anh, Mỹ, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha nên trong pháp luật cồng ty cũng có những dấu ấn của ảnh hưởng trên Không có gì ngạc nhiên khi cách tiếp cận về CTCP của một vài nước ASEAN giống với các nước theo hệ thống dân luật và hệ thống pháp luật Anh-Mỹ, trong lúc đó có nước lại chịu ảnh hưởng của Common Law Tuy nhiên, nhìn chung luật công ty của các nướctrong khối ASEAN chịu ảnh hưởng hệ thống pháp luật Anh-Mỹ nhiều hơn ở Thái Lan, công ty hữu hạn được chia thành cồng ty công (public Corporation)
và công ty tư (private Corporation ) tương lự như ở Hoa Kỳ Công ty TNHH tư
là công ty trong đó vốn được chia thành các cổ phần bằng nhau với mệnh giá nhất định Công ty được hình thành sau khi được Bộ thương mại đăng ký vào danh bạ Đối với công ty TNHH tư không yêu cầu mức vốn tối thiểu, nhưng lại giới hạn số thành viên tối thiểu là 7 và số thành viên tối đa là 99 Công ty TNHH tư được điều chỉnh bởi Bộ luậl dân sự và thương mại Công ty TNHH công là công ty được thành lập để tạo điều kiện cho công chúng tham gia rộng rãi vì công ty phát hành các loại chứng khoán ra công chúng Công ty có số lượng thành viên tối thiểu là 100 không hạn chế số lượng thành viên tối đa Công ty TNHH công được điều chỉnh bởi Luật công ty TNHH công năm
1978 [15, tr 87]
Luật công ty của Philippines không phân chia công ty thành công ty TNHH và CTCP như các nước theo hệ thống dân luật truyền thống Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ đối với lĩnh vực luật công ty của Philippines Pháp luật công ty của Philippines phân chia công ty thành công ty công (public Corporation) và công ty tư (private Corporation) Công ty công là công ty do Nhà nước thành lập và nắm giữ hoàn toàn tài sản Nếu công ty mà trong đó Nhà nước nắm phần lớn cổ phiếu hoặc cổ phần thì
Trang 12cũng không được gọi là công ty công Tiêu chí cơ bản để phân biệt giữa công
ty công và công ty tư là mục đích hoạt động Công ty công hoạt động vì mục đích phúc lợi công cộng còn công ty tư hoạt động với mục đích lợi nhuận [15,
tr 88, 89]
Như vậy, ở các quốc gia theo hệ ihống dân luật hoặc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và các quốc gia chịu ảnh hưởng của hai hệ thống pháp luật đó, có những cách tiếp cận khác nhau về công ty, nhất là cách phân loại công ty công và công ty tư Việc so sánh các công ty này đòi hỏi phải nghiên cứu chúng một cách toàn diện vì pháp luật về CTCP ở các quốc gia này không đưa
ra định nghĩa chính thức về CTCP
Ở Việt Nam, trong nền kinh tế tập trung bao cấp không tồn tại (hoặc nói chính xác hơn là hầu như không tồn tại) công ty với bản chất đặc trưng của nó là sự liên kết của các thành viên, cùng góp vốn nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, dù trên thực tế có rất nhiều tổ chức kinh tế được gọi là công ty Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986
đã đề ra đường lối đổi mới, chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành, phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa [16, tr 142] Chính sách này đã được thể chế bằng nhiều văn bản pháp luật Trong số đó có Luật công ty 1990 - văn bản quan trọng cho sự xuất hiện và hoạt động của CTCP và công ty TNHH Theo luật công ty 1990, CTCP và công ty TNHH là loại hình công ty đối vốn có sự liên kết của nhiều thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận và cùng chịu
lỗ trong phạm vi phần vốn góp Xét ở nhiều khía cạnh, Luật công ty năm 1990
có cách tiếp cận về CTCP khá đồng nhất với cách tiếp cận về CTCP với pháp luật nhiều nước nhất là các nước theo hệ thống dân luật Luật công ty 1990 không nêu định nghĩa về CTCP mà chỉ nêu những dấu hiệu cơ bản, đặc trưng thể hiện bản chất của nó Khoản 1, 2, Điều 30 Luật công ty 1990 quy định :
“CTC-P là công tỵ trong đó sô' thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có
Trang 13trong suốt thời gian hoạt động ít nhất lù 7, VĐL của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Mỗi cổ đông có th ể mua một hoặc nhiều cổ phần”.
Theo xu hướng này, Luật doanh nghiệp được ban hành sau đó 10 năm vẫn giữ nguyên cách tiếp cận như vậy Điều 51- Luật doanh nghiệp 1999 quy định:
“7 CTCP là doanh nghiệp trong đó:
a) VĐL được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) C ổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi s ố vốn đã góp vào doanh nghiệp.
c) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác d) C ổ đông cố th ể là tổ chức, cá nhân s ố lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn c h ế s ố lượng cổ đông tối đa.
2 CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
3 CTCP có tư cách pháp nhân k ể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.
Như vậy, tuy Luật doanh nghiệp 1999 có đưa ra thêm một vài đặc điểm nữa về CTCP song nhìn chung cách tiếp cận vẫn giống như Luật công ty 1990 Điều này cho thấy tính chất phức tạp của loại hình doanh nghiệp này kể cả về
cơ cấu tổ chức, kể cả về địa vị pháp lý Sẽ là phi thực tế nếu có ý định xây dựng một khái niệm chung, đầy đủ chính xác về CTCP phù hợp cho tất cả các quốc gia Vì vậy, chúng ta có thể tìm thấy trong pháp luật của các quốc gia khác nhau khá nhiều qui định đặc thù về CTCP phản ánh điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử và truyền thống lập pháp của của quốc gia đó CTCP
dù được tiếp cận dưới góc độ nào cũng đều ghi nhận là loại hình công ty đối vốn điển hình, cấu trúc vốn và cơ cấu cổ đông linh hoạt, có khả năng xã hội
Trang 14hoá cao, việc tổ chức và hoạt động của CTCP cũng như quyền lợi, trách nhiệm của các cổ đông được giải quyết chủ yếu dựa trên cơ sở nguyên tắc đối vốn.
Từ những phân tích nêu trên có thể khái quát những đặc điểm của CTCP như sau:
' Thứ nhất: CTCP là một pháp nhân kinh tế.
CTCP là một pháp nhân kinh tế hoạt động độc lập có tính tổ chức chặt chẽ, cấu trúc vốn hoàn thiện, hoạt động mang tính xã hội hoá cao Tài sản của CTCP được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu được hình thành từ nguồn vốn do các cổ đông góp và tách bạch rõ ràng với tài sản của các cổ đông Cổ đông có quyền sở hữu một phần trong công ty tương ứng với giá trị cổ phần mà mình nắm giữ, nhưng không có quyền sở hữu tài sản của công ty Việc thay đổi số lượng cổ đông không ảnh hưởng đến sự tồn tại của CTCP Chính vì vậy người ta cho rằng một trong những đặc điểm của CTCP là tính trường tồn của nó CTCP là chủ thể tạo được sự ổn định cao cho các nhà đầu tư khi muốn tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Với tư cách là một chủ thể pháp luật, CTCP tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập CTCP có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của chủ thể pháp luật khi tham gia hoạt động trong nền kinh tế thị trường Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, công ty nhân danh chính mình thông qua người đại diện theo pháp luật, đồng thời phải chịu trách nhiệm vô hạn trước các nghĩa vụ phát sinh đến hết giá trị tài sản của công ty Với tư cách là một thực thể kinh tế dựa trên chế độ đa sở hữu, CTCP có khả năng huy động nhiều nhà đầu tư tham gia góp vốn thành lập và có khả năng tập trung được nguồn vốn lớn để thực hiện các hoạt động kinh doanh
Thứ hai: CTCP là loại Công ty đối vốn điển hình.
Khi tham gia vào CTCP, các cổ đông không quan lâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phẩn vốn góp (cổ phần) Cơ cấu tổ chức bộ
Trang 15máy quán lý, những vấn đề về quản lý nội bộ, quyền lợi và nghĩa vụ của các
cổ đông được giải quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (tức là căn cứ vào giá trị cổ phần mà các cổ đông nắm giữ) Đặc điểm này cùng với khả năng chuyển nhượng cổ phần dễ dàng trên thị trường, làm cho CTCP có phạm vi, quy mô kinh doanh lớn, số lượng cổ đông đông đảo và có khả năng tập trung huy động vốn lớn để phát triển sản xuất kinh doanh
Thứ ba: CTCP có cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt.
Với cấu trúc vốn mở, có khả năng xã hội hoá cao, VĐL của CTCP được chia thành các cổ phần bằng nhau Có rất nhiều các loại cổ phần khác nhau như cổ phần phổ thông và các loại cổ phần ưu đãi Cấu trúc vốn đa dạng hoá các loại cổ phần tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc thiết lập một cơ cấu vốn hợp lý, tính chuyển nhượng dễ dàng của cổ phẩn trên thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho CTCP trong việc tạo lập và huy động vốn, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các nhà đầu tư khi đầu tư vốn vào CTCP Trong quá trình hoạt động kinh doanh CTCP được phát hành các loại chứng khoán ra công chúng để huy động vốn Do đó, sự ra đời và phát triển của CTCP gắn liền Với sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán - đỉnh cao của thị trường vốn và là sản phẩm của nền kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao
Thứ tư: V ề cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trong CTCP.
CTCP là loại hình doanh nghiệp đa sở hữu, là hiện thân của nền kinh tế thu nhỏ Với tính chất đa sở hữu, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, cơ chế quản
lý trong CTCP dựa trên sức mạnh kinh tế của các nhóm sở hữu trong công ty Trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các bộ phận Sự phân chia quyền lực này hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ (tỷ lệ) vốn góp của các cổ đông nhằm đảm bảo một cơ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông Điểm khác biệt về cơ cấu tổ chức quản
lý, đồng thời là đặc trưng của CTCP so với các loại hình doanh nghiệp khác đó
là cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP chịu sự chi phối của cấu trúc vốn
Trang 161.1.2 SO SÁNH CÔNG TY c ổ PHẨN VỚI C Á C DOANH NGHIỆP CÓ VỐN GÓP KHÁC.
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều loại doanh nghiệp có vốn góp như: Công ty TNHH có 2 thành viên trở lên, HTX, DNLD Giữa CTCP và các doanh nghiệp này có những điểm chung sau đây:
V ề thành viên: Một trong những đặc trưng của các doanh nghiệp có vốn
góp là phải có nhiều người tham gia Những người tham gia vào các doanh nghiệp đối vốn có thể là cá nhân hoặc tổ chức Trong các doanh nghiệp khác nhau tên gọi của những người tham gia có thể khác nhau Đối với HTX, công
ty hợp danh, công ty TNHH thì người góp vốn để tham gia doanh nghiệp được gọi là các thành viên, còn đối với CTCP thì đó là cổ đông, đối với DNLD thì là bên góp vốn Tuy nhiên, đối với từng loại công ty, pháp luật có những hạn chế nhất định đối với việc trở thành thành viên của doanh nghiệp góp vốn Chẳng hạn, để trở thành thành viên hợp danh, người tham gia nếu là thể nhân thì phải đáp ứng được điều kiện tối thiểu là phải đạt tuổi thành niên trong lúc hạn chế này không áp dụng đối với việc trở thành cổ đông của CTCP
V ề vốn: VĐL của các doanh nghiệp có vốn góp ban đầu đều do các
thành viên góp Khi góp vốn vào doanh nghiệp, thành viên trở thành chủ sở
hữu cỊối với doanh nghiệp chứ không phải đôVbất cứ phần tài sản cụ the nào trong đó Các thành viên của doanh nghiệp có vốn góp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi phần vốn góp đã góp vào doanh nghiệp trừ các thành viên chịu trách nhiệm vô hạn của công ty hợp danh Mục đích góp vốn của các thành viên chủ yếu là nhằm kiếm lợi nhuận
từ hoạt động thương mại của bản thân doanh nghiệp
V ề tổ chức bộ máy: Trừ hợp danh theo Luật doanh nghiệp 1999, tổ chức
bộ máy quản lý, cơ chế quản lý của các doanh nghiệp có vốn góp đều chịu sự chi phối của mức vốn góp v ề cơ bản, bộ máy quản lý của doanh nghiệp có
Trang 17vốn góp có sự phân chia quyền lực và cơ cấu hoàn chỉnh rõ ràng hơn so với DNTN, hợp danh phổ thông và cả hợp danh hữu hạn như kiểu hợp danh được qui định trong Luật doanh nghiệp 1999.
• Khi khi nghiên cứu về CTCP, ngoài các điểm chung nói trên, giữa CTCP với các doanh nghiệp có vốn góp khác, nhất là công ty đối vốn như: Công ty TNHH có hai thành viên trở lên; HTX; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn có nhiều điểm khác nhau cần được nhận diện đầy đủ
* Một sô điểm khác nhau giữa CTCP và công ty TNHH có hai thành viên trở lên.
Giữa CTCP và công ty TNHH có một số điểm khác nhau sau:
V ề giới hạn s ố lượng chủ th ể tham gia vào công ty: CTCP giới hạn số
lượng cổ đông tối thiểu (ba cổ đông) không giới hạn số lượng cổ đông tối đa, còn công ty TNHH có hai thành viên trở lên giới hạn số lượng thành viên tối
đa không vượt quá năm mươi thành viên Tại sao lại có sự qui định khác nhau này về việc hạn chế số lượng cổ đông tối thiểu và số lượng thành viên tối đa? Như chúng ta đã biết CTCP và công ty TNHH đều là loại hình công ty đối vốn, song CTCP là loại hình công ty đối vốn đặc trưng bởi tính chất sở hữu, phạm vi quy mô hoạt động, số lượng cổ đông Các cổ đông của CTCP thường rất đông, có những CTCP có tới hàng vạn cổ đông ở khắp nơi Có thể dễ dàng nhận thấy rằng CTCP có khả năng thu hút vốn lớn thông qua việc phát hành
cổ phần ra công chúng Cũng chính từ khả năng này mà CTCP có mức độ xã hội hóa rất cao Công ty TNHH về bản chất là loại hình công ty đối vốn nhưng vãn mang nhiều nét của công ty đối nhân Nét đối nhân trong công ty TNHH thể hiện ở chỗ thành viên trong công ty TNHH thường là những người quen biết nhau hoặc có quan hệ họ hàng với nhau Vì vậy, thành viên trong công ty TNHH thường có mối quan hệ tin cậy lẫn nhau lớn, số lượng thành viên cũng hạn chế hơn ớ Việt Nam, theo qui định của Luật doanh nghiệp
Trang 181999, số lượng thành viên của công ty TNHH không vượt quá năm mươi thành viên (ở Thái Lan giới hạn không quá một trăm thành viên) Như vậy, rõ ràng xét ở tiêu chí này thì qui mô của CTCP lớn hơn nhiều so với công ty TNHH.
Vốn điều lệ: Trong CTCP VĐL bắt buộc phải chia thành các phần bằng
nhau gọi là cổ phần Hình thức thể hiện của các cổ phần là cổ phiếu Trong công ty TNHH VĐL không có kết cấu như vậy VĐL của CTCP và vốn thực
có của nó ở thời điểm thành lập có thể có sự chênh lệch, song điều này không thể xảy ra đối với công ty TNHH Các cổ đông trong CTCP góp vốn bằng cách mua các cổ phần Các cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần phụ thuộc vào khả năng của mình Thành viên của công ty TNHH góp vốn bằng cách góp trực tiếp và phải góp đầy đủ, đúng hạn số vốn mà họ đã cam kết góp vào công ty v ề phần này chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn ở chương II
Trong CTCP việc chuyển nhượng vốn được thực hiện một cách tự do, linh hoạt giữa các cổ đông Việc huy động vốn của CTCP cũng được thực hiện một cách thuận tiện thông qua việc phát hành các loại chứng khoán trên thị trường tài chính Vì vậy, CTCP có khả năng thu hút được lượng vốn lớn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư phục vụ cho các hoạt động kinh doanh Trong công ty TNHH việc chuyển nhượng vốn bị hạn chế Theo qui định của Luật doanh nghiệp việc chuyển nhượng vốn của công ty TNHH được thực hiện trước hết giữa các thành viên trong nội bộ công ty Các thành viên chí được chuyển nhượng vốn ra bên ngoài khi các thành viên của công ty không mua hoặc mua không hết và được chuyển nhượng theo một trình tự khá khắt khe
Vê' cấu trúc quản lý : Thông thường số lượng thành viên trong công ty
TNHH không lớn và chủ yếu chỉ giới hạn ở những người quen biết, hoặc có
họ hàng với nhau Thành viên của công ty TNHH không muốn trao quyền quản lý và kiểm soát công ty cho người khác, các thành viên thường trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh của công ty Vì vậy, cấu trúc quản lý của công
ty TNHH trong nhiều trường hợp khồng mang tính chất chuyên nghiệp Các
Trang 19thành viên đều tham gia hội đồng thành viên để quản lý điều hành các hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Đây là điểm khác với bộ máy quản lý của CTCP.
* CTCP và hợp tác xã
Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do những người lao động có nhu cầu và lợi ích chung tự nguyện góp vốn góp sức lập ra theo qui định của pháp luật Giữa CTCP với HTX khác nhau ở những điểm sau:
Vốn điều lệ: Trong CTCP, VĐL được chia thành các phần bằng nhau
như trên đã phân tích, còn VĐL trong HTX không chia thành các phần bằng nhau Về góp vốn, mỗi xã viên HTX có thể góp ít hoặc nhiều vốn hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng của minh Ngoài việc góp vốn các xã viên HTX còn phải góp sức lao động, đây chính là đặc thù của HTX Trong HTX, việc góp vốn của các xã viên bị khống chế mức tối đa Mức vốn góp của mỗi xã viên
có thể nhiều hơn mức tối thiểu nhưng ở mọi thời điểm không vượt quá 30%
tổng số VĐL của HTX Đối với CTCP, các cổ đông không bị hạn chế về số lượng vốn góp mà ngược lại được khuyến khích góp càng nhiều càng tốt (trừ một số hạn chế đối với cá nhân và tổ chức nước ngoài) Ngoài việc góp vốn, các cổ đông có thể tham gia hoặc không tham gia vào hoạt động của CTCP,
họ được chia lợi nhuận theo điều lệ của CTCP qui định Việc hạn chế mức vốn góp trong CTCP chỉ áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân nước ngoài Việc đóng góp nhiều hay ít vốn vào HTX không mang lại ưu thế của thành viên trong việc hoạch định chính sách, kế hoạch của HTX Điều này khác với
cơ chế một cổ phần một phiếu bầu trong CTCP
V ề tổ chức bộ máy quản lí: Tổ chức bộ máy quản lý của HTX thống trị
một nguyên tắc truyền thống bất di, bất dịch đó là bình đẳng và dân chủ Các
xã viên trong HTX không phụ thuộc vào số vốn góp nhiều hay ít họ đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng như nhau Mỗi xã viên có quyền biểu quyết ngang nhau và ho cổ mốt phiếu bầu tai đai hôi xã viên để bầu Ban quán tri và THƯ V I Ê N
Trang 20Chủ nhiệm HTX Trong khi đó, tổ chức bộ máy quản lí của CTCP dựa trên nguyên tắc đặc trưng là nền dân chủ cổ phần, cổ phần dựa vào phiếu và phiếu hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng và tỷ lệ cổ phần mà các cổ đông sở hữu.
1.2 NHỮNG ƯU T H Ế C Ủ A C Ô N G T Y c ổ PHẨN
1.2.1 CÔNG T Y C ổ PHẨN VÀ VÂN Đ Ề HIỆU QUẢ s ử DUNG VÕN■ ■
Mục đích của các cổ đông khi góp vốn vào CTCP chủ yếu là vì lợi ích kinh tế vì mối quan tâm hàng đầu của đa số các cổ đông là cổ tức Lợi ích kinh tế của các cổ đông gắn chặt với CTCP trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của nó Để đảm bảo lợi ích cho các cổ đông, để tồn tại và phát triển, CTCP phải hoạt động có hiệu quả Để hoạt động có hiệu quả CTCP phải sử dụng một cách hợp lí các nguồn vốn Hiệu quả hoạt động kinh doanh của CTCP phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức, quản lí sử dụng vốn Các cổ đông với tư cách là chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá, lựa chọn phương án đầu tư, lựa chọn cách thức, hình thức tập trung huy động vốn cũng như quản lí và sử dụng vốn Các chủ sở hữu của CTCP có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lí, sử dụng vốn, tham gia vào việc huy động vốn, quyết định các giao dịch lớn cũng như định đoạt các tài sản của CTCP thông qua cơ quan quyền lực của mình là ĐHĐCĐ Những quyết định đã được ĐHĐCĐ thông qua sẽ được HĐQT cơ quan quản lí điều hành hoạt động của CTCP thực thi Tại Đại hội cổ đông, HĐQT phải thông qua báo cáo tài chính hàng năm Báo cáo tài chính của CTCP bao gồm bản cân đối kế toán và bản quyết toán tài chính, thông qua báo cáo tài chính các cổ đông sẽ nắm bắt được hoạt động kinh doanh cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của CTCP Đồng thời báo cáo tài chính của CTCP phải nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, để các cơ quan này kiểm tra hoạt động kinh doanh của CTCP Từ đó các cổ đông có thể xem xét và quyết định phương thức quản lí,
sử dụng vốn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao Hiện nay các CTCP nói riêng và các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo qui định của Luật
Trang 21doanh nghiệp nói chung không thực hiện chế độ báo cáo tài chính hàng năm Theo thống kê của Sở Kế hoạch - Đầu tư Hà Nội trên địa bàn Hà Nội có 90% doanh nghiệp không nộp báo cáo tài chính theo qui định của Pháp luật, trong khi đó cả nước có 80% doanh nghiệp không nộp báo cáo tài chính [36, tr 41] Đối với CTCP nếu không nộp báo cáo tài chính các cổ đông không thể biết thực trạng kinh doanh, thực trạng tài chính cũng như kết quả kinh doanh của CTCP Điều này làm ảnh hưởng trước hết đến lợi ích của các cổ đông, vi phạm các qui định của Luật doanh nghiệp
1.2.2 CÔNG T Y C ổ PHẨN VỚI V IỆC TẬP TRUNG VốN VÀ DÂN CHỦ
HOÁ ĐỜI SỐNG DOANH NGHIỆP.
* Một trong những ưu thế của CTCP so với các doanh nghiệp khác là khả năng tập trung và huy động vốn một cách nhanh chóng, thuận tiện thông
qua việc phát hành rộng rãi các loại chứng khoán ra công chúng để gọi vốn
Chính nhờ tính chất chuyển nhượng dễ dàng của cổ phiếu trên thị trường
chứng khoán mà CTCP có những lợi thế hơn hẳn trong việc huy động vốn so
với các loại hình doanh nghiệp có vốn góp khác như công ty TNHH có hai
thành viên trở lên, HTX Trong công ty TNHH có hai thành viên trở lên, việc
góp vốn của các thành viên được thực hiện một cách trực tiếp, không phải
mua cổ phần hoặc cổ phiếu, tính chất chuyển nhượng vốn không được thực
hiện tự do dễ dàng Vì vậy, công ty TNHH muốn huy động vốn đồng nghĩa
với việc phải kết nạp thêm thành viên mới hoặc tăng phần vốn góp của các
thành viên Như vậy, công ty sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn để mở
rộng sản xuất kinh doanh khi người đầu tư mới chỉ muốn trở thành thành viên
“tạm trú” và các cổ đông hiện hành không muốn thay đổi phần vốn góp của
mình
Trong CTCP việc gọi vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh được thực
hiện chủ yếu bằng cách phát hành cổ phần Đặc trưng của cổ phần là tính
chuyển nhượng dễ dàng, tính thanh khoản cao Điều này làm cho công chúng
Trang 22thích mua cổ phiếu của CTCP để tìm kiếm lợi nhuận mà không sợ đồng vốn
của mình bị cột chặt vào trong công ty Họ có thể luân chuyển vốn đầu tư từ
công ty này sang công ty khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác một cách
dễ dàng thông qua việc mua, bán, chuyển nhượng cổ phẩn trên thị trường thứ
cấp Có thể nói phát hành cổ phần là một kênh huy động vốn rất hiệu quả của
CTCP, khiến cho loại hình công ty này không chỉ có sức hút, sức hấp dẫn đối
với các nhà kinh doanh mà còn cả đối với công chúng “Không có sáng kiến
tìm ra cổ phiếu thì không nghĩ đến sự phát triển, c ổ phiếu đã trở thành công
cụ đ ể chuyển những dành dụm trong mọi tầng lớp dân cư vào đầu tư sản
xuất C ổ phiếu tạo điều kiện tách bạch chức năng của nhà cấp vốn Một
người cỏ tài kinh doanh có th ể trở thành nhà kinh doanh ngay khi anh ta
không g ià ir[32] Trong tất cả các kênh huy động vốn của doanh nghiệp nói
chung, việc phát hành cổ phần, trái phiếu là kênh huy động vốn hiệu quả
nhất, giúp cho CTCP tập trung không những được nguồn vốn trong nước mà
đặc biệt còn huy động được nguồn vốn của các nhà đầu tư nước ngoài Hiện
nay các nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần tại doanh nghiệp theo qui
định của pháp luật Việt Nam Đây là bước tiến của pháp luật Việt Nam nhằm
thu hút vốn đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời làm
cho pháp luật của Việt Nam tương thích với pháp luật của các nước trong khu
vực và trên thế giới, làm cho thị trường chứng khoán trở nên sôi động hơn khi
có các nhà đầu tư nước ngoài tham gia Với thành phần cổ đông bao gồm cổ
đông trong nước, cổ đông Nhà nước (đối với DNNN cổ phần hoá), và cổ
đông là các nhà đầu tư nước ngoài các CTCP sẽ có tiềm lực kinh tế mạnh
hơn, đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong nền kinh tế
* Do tính chất đa sở hữu, cơ chế quản lí của CTCP phụ thuộc vào các chủ sở hữu tùy theo mức độ góp vốn Vì vậy, so với các loại doanh nghiệp
khác CTCP là sự biểu hiện rõ nét nhất tính dân chủ trong hoạt động kinh
doanh cũng như trong tổ chức quản lý Tuy nhiên, cần khẳng định đây là nền
Trang 23dân ọhủ cổ phần, tức là nền dân chủ dựa vào sức mạnh đóng góp của cổ đông Nền dân chủ cổ phần hầu như không mang sắc thái chính trị mà chủ yếu mang sắc thái kinh tế Cơ chế quản lý và đời sống của CTCP nói chung chứa đựng nhiều yếu tố dân chủ hơn so với các loại hình doanh nghiệp một chủ như DNNN, DNTN Trong DNNN, cơ chế quản lý hoạt động của doanh nghiệp do Nhà nước chi phối với tư cách là chủ sở hữu Như vậy, cách thức tổ chức quản lý của DNNN vãn mang tính mệnh lệnh hành chính Đối với DNTN, do tính chất đặc thù một cá nhân đầu tư vốn, tổ chức quản lý Vì vậy, toàn bộ hoạt động của DNTN đều do một cá nhân quyết định và định đoạt,
do đó không thể có tính dân chủ trong hoạt động của DNTN
Trong CTCP với tính chất đa chủ sở hữu tham gia góp vốn Vì vậy, quyền lực của CTCP không nằm trong tay một cá nhân mà thuộc về tất cả các
cổ đông góp vốn với tư cách là chủ sở hữu thông qua nguyên tắc hoạt động đặc trưng của CTCP là dựa trên nền dân chủ cổ phần Các cổ đông có quyền bàn bạc và quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn tại và phát triển của CTCP như: bầu thành viên của HĐQT, quyết định các loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán, quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần, việc tổ chức lại, chia tách, sáp nhập, giải thể CTCP đều do các cổ đông bàn bạc dân chủ và quyết định tại cơ quan quyền lực cao nhất của mình, đó là ĐHĐCĐ
1.2.3 CÔNG T Y C ổ PHẨN VÓI TIÊN TRÌNH c ổ PHẨN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
CỔ phần hoá là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước Mục đích, yêu cầu, các giải pháp và tiến trình cổ phần hoá đã được nói rõ trong nhiều văn kiện của Đảng cũng như trong nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước Việc cổ phần hoá DNNN nhằm hướng tới hai mục tiêu cơ bản
Trang 24Thứ nhất, huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước, để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, tạo thêm việc làm, thay đổi
cơ cấu DNNN
Thứ hai, tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ
phần và những người góp vốn được làm chủ thực sự Thay đổi phương thức quản lý, tạo động lực để thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước [35,
rõ: “Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nhằm tạo ra loại hình
doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, đ ể
sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn của xã hội đ ể phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh m ẽ và cơ c h ế quản
lý năng động, cố hiệu quả cho doanh nghiệp Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của
x ã hội đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, c ổ phần ho á doanh nghiệp Nhà nước không được biến thành tư nhân hoá doanh nghiệp” [ 1, tr.ll].
Trang 25Để thực hiện cổ phần hoá từ năm 1992 đến nay Đảng và Nhà nước rất quan tâm và chủ trương đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá (tính đến cuối tháng
11 năm 2002 cả nước có 907 doanh nghiệp cổ phần hoá) Tuy nhiên, tiến trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp diễn ra còn chậm, còn gặp nhiều vướng mắc về cơ chế chính sách, về chính sách ưu đãi đối với người lao động, về tổ chức quản lý, về việc quyết định phương án kinh doanh và soạn thảo điều lệ Nhưng vướng mắc cơ bản nhất là việc xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá, để thực hiện Nghị quyết Trung ương ba khoá IX, ngày 19 tháng 6 năm 2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/2002/NĐ-CP
về chuyển DNNN thành CTCP thay thế cho Nghị định 44 CP Nghị định 64
CP đã qui định cụ thể về việc xử lí tài chính và xác định giá trị của doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá như xác định và xử lý tài sản thuê, mượn, góp vốn liên doanh, liên kết, các khoản nợ phải thu, phải trả, các khoản dự phòng
và lãi chưa phân phối, tài sản góp vốn liên doanh với nước ngoài Với những quy chế xử lý tài chính và xác định giá trị tài sản, giá trị doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá DNNN [36, tr 15,16], [8, tr 20,21]
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả hạn chế của tiến trình cổ phần hoá là sự thiếu hoàn chỉnh trong nền tảng pháp lý cho hoạt động của
CTCP Trong 8' vứxm trước khi ban hành Luật doanh nghiệp 1999, các DNNN
cổ phần hoá không thể hoạt động một cách có hiệu quả vì nhiều vấn đề đặt ra
từ thực tiễn hoạt động không tìm được lời giải đáp trong Luật công ty 1990 và trong các văn bản hướng dẫn thi hành Vấn đề vốn, vấn đề đại diện, vai trò của
cổ đông sáng lập, cơ chế bỏ phiếu, cơ chế hình thành HĐQT, thẩm quyền và mối quan hệ giữa các bộ phận cơ cấu quyền lực trong CTCP chưa được xác định rõ trong pháp luật, khi thực tiễn nước ta chưa coi trọng điều lệ công ty DNNN cổ phần hoá thường chuyển sang hoạt động như những CTCP Việc hoàn thiện các qui định pháp luật điều chỉnh hoạt động của CTCP, khiến cho
Trang 26loại hình doanh nghiệp này chiếm vị trị chủ đạo trong nền kinh tế không chỉ
về số lượng mà cả về hiệu quả sẽ là một động lực thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá ở nước ta
1.2.4 CÔNG T Y C ổ PHẨN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN
CỦ A THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Để xây dựng nền kinh tế thị trường, một trong những điều kiện quan trọng cần có là xây dựng thị trường vốn Thị trường vốn là yếu tố quan trọng của kinh tế thị trường hiện đại, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế và giải quyết, các vấn đề xã hội Để xây dựng thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán phải có một quá trình và những bước đi thích hợp Trước hết phải tạo cơ sở tiền đề để thiết lập và bảo đảm sự hoạt động của thị trường chứng
khoán Đảng ta khẳng định: “p h ả i phát triển thị trường vốn bằng nhiêu cách
M ở rộng việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu và xúc tiến chuẩn bị về th ể chế, cán bộ và các điều kiện cần thiết cho việc thiết lập thị trường chứng khoán và bảo đảm sự hoạt động lành manh của thi trường này [10] và “phát triển nhanh và bền vững thị trường vốn nhất là thị trường vốn dài hạn và trung hạn
T ổ chức vận hành thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm an toàn, hiệu quả Hình thành đồng bộ thị trường tiền tệ, tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam ” [12, tr.101] Trong điều kiện đó CTCP có vai trò đặc biệt
quan trọng CTCP là chủ thể sản xuất “hàng hoá ” cho thị trường chứng khoán Mối quan hệ giữa CTCP và thị trường chứng khoán là mối quan hệ đặc thù giữa người sản xuất và người tiêu thụ, và cổ phiếu, cổ phẩn là những chứng khoán đầu tiên [14, tr 13- 15], [48, tr 33-35] Việc phát hành chứng khoán của CTCP tạo ra thị trường chứng khoán sơ cấp Trong các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, CTCP là chủ thể có quyền phát hành chứng khoán rộng rãi nhất bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu Bản chất của thị trường chứng khoán là rất sôi động và nhạy cảm và hoạt động trên cơ sở của nguyên tắc công khai, minh bạch Vì vậy, các CTCP được niêm
Trang 27yết và giao dịch cổ phiếu trên thị trường phải hoạt động có hiệu quả và minh bạch về tài chính Nếu CTCP làm ăn có lãi các nhà đầu tư yên tâm đầu tư, giá
cổ phiếu tăng Ngược lại CTCP làm ăn không có hiệu quả, có hành vi lừa đảo hoặc gian lận trong kinh doanh, các cổ đông sẽ bán cổ phần làm giá cổ phần giảm, gây phản ứng dây chuyền cho thị trường chứng khoán Ví dụ như cổ phiếu của CAN (CTCP đồ hộp Hạ Long) bị ngừng giao dịch khi cán bộ của công ty có hành vi chiếm đoạt tiền của công ty thông qua việc hoàn thuế giá trị gia tăng, c ổ phiếu của CAN tụt dốc nhanh chóng Hay khi xuất hiện tin đồn toà nhà e.Town của CTCP cơ điện lạnh Thành phố Hồ Chí Minh (REE) có vốn đầu tư trên 10 triệu USD mới đưa vào hoạt động đã bị lún làm cho các cổ đông hoang mang và tác động mạnh mẽ đến cổ phiếu của REE1 Như vậy, để tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán hoạt động, trở thành kênh huy động vốn có hiệu quả nhất CTCP phải cung cấp nguồn hàng hóa có chất lượng tốt
sẽ thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, ngược lại nếu CTCP kinh doanh không có hiệu quả, không minh bạch về tài chính sẽ làm chao đảo thị trường chứng khoán, ảnh hưởng xấu đến nhà đầu tư
T in từ Saigonnet.
Trang 28CHƯƠNG 2
CÂ U TRÚC VỐN C Ủ A CÔNG T Y c ổ PHẨN
2 1 V Ố N C Ủ A C Ô N G T Y c ổ PHẨN
m
2.1.1 KHÁI NIỆM V Ề VỐN TRONG CÔNG T Y c ổ PHẨN
Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có vốn Hoạt động kinh doạnh của doanh nghiệp nhìn từ góc độ tài chính là quá trình phân phối nhằm tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh doanh Vì vậy, để thực hiện các hoạt động kinh doanh vốn là nhân tố cơ bản và không thể thiếu
Trong cơ chế quản lý tập trung, vốn chưa được xem xét một cách toàn diện, đúng đắn bởi những đặc trưng của cơ chế quản lý bao cấp chi phối Thời
kỳ này, hoạt động tài chính của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào cơ chế cấp phát, 'giao nộp giữa Nhà nước và các đơn vị kinh tế của Nhà nước Vốn của doanh nghiệp trong thời kỳ này thường được qui về hiện vật, qui về giá trị sử dụng, còn yếu tố giá trị của nó không được chú trọng Mặt khác, nhiều yếu tố khác của vốn trong một doanh nghiệp như lợi thế kinh doanh, sở hữu công nghiệp không được tính đến
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vốn được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau và quan niệm về vốn đã có những thay đổi căn bản Để thực hiện các hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn vốn bằng tiền, doanh nghiệp còn huy động nhiều nguồn vốn không phải bằng tiền nhưng có vai trò quan trọng trong •hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, vốn có thể là nguồn tài sản (kể cả sức lao động) để làm tăng giá trị của doanh nghiệp, hoặc vốn có thể là toàn bộ hàng hoá, tài sản, những sở hữu khác được dùng làm ra lợi nhuận Trong nền kinh tế thị trường ngoài nguồn vốn là tài sản hoặc các quyền tài sản thì lợi thế doanh nghiệp, uy tín danh dự của doanh nghiệp và thị phần trên thị
Trang 29trường mà doanh nghiệp đó đang có lợi thế cũng được coi là vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn này không thể xác định và tìm thấy ngay trước mắt, mà nằm ở lợi thế tương lai của doanh nghiệp, có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, ngoài nguồn vốn bằng tiền với chức năng phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ, là thước đo trong quá trình lưu thông, trao đổi phục vụ cho hoạt động kinh doanh, còn có nguồn vốn không phải bằng tiền Như vậy, vốn bao gồm nhiều loại khác nhau, song điểm chính nhất vốn là tất cả giá trị (vật chất, phi vật chất) được doanh nghiệp sử dụng để làm ra lợi nhuận đó là tiền, giấy tờ được trị giá bằng tiền, tài sản, quyền tài sản, lao động, chất xám, kỹ năng, lợi thế của doanh nghiệp.
Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh CTCP phải có vốn Vốn của CTCP là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của CTCP trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các vấn
đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp Không thể không nhận thấy lằng vốn của công ty là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty trước các đối tác của nó chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và tư cách pháp lí của công ty Những yếu tố đó được các đối tác của công ty quan tâm đến nhiều nhất [13, tr 19-25]
Vốn của doanh nghiệp có thể tiếp cận dưới góc độ pháp lý và góc độ
kinh tế Dưới góc độ kinh tế vốn được coi là ‘toàn bộ giá trị chiếm dụng mà
doanh nghiệp dùng đ ể mua tư liệu sản xuất, trả thù lao cho người lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh ” [57] hay vốn là ‘tổng th ể nói chung những tài sản bỏ ra lức đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất, kinh doanh, nói chung trong hoạt động sinh lợi ” [40, tr 1087] Pháp luật của
nhiều nước cũng có những định nghĩa riêng về vốn Theo Luật công ty của Thái Lan, Malaysia, Philippin, Singapore vốn của công ty là khoản tiền có thể được đầu tư hoặc thực sự được đầu tư vào một công ty bằng việc bán cho các
Trang 30chủ đầu tư những cổ phần thể hiện lợi ích, quyền sở hữu của họ trong công ty [53, tr: 28] Tóm lại, vốn dù định nghĩa ở góc độ nào cũng thể hiện cách hiểu nhất quán rằng vốn là toàn bộ những giá trị mà doanh nghiệp đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận.
Trong đời sống CTCP vốn là yếu tố năng động, luôn biến đổi và có khả năng gây chấn động, nhạy cảm với thị trường đóng vai trò quyết định trong quá trình hoạt động kinh doanh của CTCP Đồng thời vốn cũng là yếu tố phản ánh tiềm lực, khả năng tài chính, vị thế của CTCP trước các đối tác và trên thị trường
2.1.2 CÂU TRÚC VỐN CỦA CÔNG TY c ổ PHẦN
Trong CTCP, cấu trúc vốn giữ vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại
và phát triển của CTCP, ảnh hưởng tới quyền lực và việc phân chia lợi ích trong CTCP Cấu trúc vốn phản ánh rõ vị thế, qui mô, uy tín của CTCP trên thị trường Một cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt sẽ đáp ứng được các nhu cẩu khác nhau của các nhà đầu tư, đáp ứng được các hoạt động kinh doanh của CTCP Vốn trong CTCP bao gồm các bộ phận cấu thành như: vốn do cổ đông góp dưới dạng mua cổ phần được xác định là VĐL và vốn vay dưới dạng các hợp đồng tín dụng, hoặc phát hành trái phiếu Mỗi bộ phận nằm trong cấu trúc vốn của CTCP có những đặc điểm, vai trò và tính chất riêng, thể hiện đúng bản chất của nó đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau Qua nghiên cứu pháp luật về CTCP của các quốc gia và ở Việt Nam cho thấy thành phần cơ bản trong cấu trúc vốn hay những công cụ tài chính mà CTCP sử dụng về cơ bản bao gồm hai bộ phận chủ yếu đó là : VĐL và vốn vay (tuy nhiên ở các nước trong khối ASEAN không sử dụng thuật ngữ VĐL
mà gọi là vốn cổ phần) [54, tr 28] Cấu trúc vốn của công ty theo Luật công ty Singapore, bao gồm hai bộ phận cơ bản vốn cổ phần và vốn vay Vốn cổ phần được phân thành VĐL (authorized Capital), vốn phát hành (issued Capital) và
vốn đã nộp (paid-up Capital) Vốn vay (hay gọi là tài chính nợ) bao gồm trái
Trang 31phiếu , trái khoán công ty và giấy nhận nợ [15, tr.79] Như vậy, so với cấu trúc vốn của công ty TNHH, của HTX về cơ bản cũng bao gồm VĐL và vốn vay, cấu trúc vốn của CTCP tương đối hoàn thiện, phản ánh đúng bản chất và lợi thế của CTCP trong nền kinh tế thị trường.
Cấu trúc vốn của CTCP là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành có mối quan hệ tác động qua lại lãn nhau, là một trong những yếu tố tạo nên bản chất pháp lí của nó Cấu trúc vốn của CTCP được xem xét từ hai phương diện pháp lí và kinh tế Việc xem xét từ hai phương diện này có ý nghĩa trong việc xác định đúng bản chất cấu trúc vốn của CTCP, xác định rõ
vị thế của CTCP trong nền kinh tế [52, tr.7,8]
Dưới góc độ kinh tế, cơ cấu vốn của CTCP do công ty tự quyết định phù hợp với tính chất, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh Pháp luật chỉ ràng buộc một số vấn đề trong quá trình quản lý và sử dụng vốn như: nguyên tắc trích khấu hao tài sản cố định, quản lí các chi phí sản xuất kinh doanh, các nghĩa vụ
mà công ly phải gánh vác phát sinh từ việc quản lý và sử dụng vốn nhằm đảm bảo cho công ty sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cũng như các nghĩa vụ tài chính khác Dưới góc độ kinh tế, cấu trúc vốn của CTCP bao gồm: vốn cố định và vốn lưu động
Vôh c ố định : Là biểu hiện bằng tiền (trị giá) của tài sản cố định và các
khoản đầu tư dài hạn
Tài sản c ố định: Đây là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn
tham gia vào nhiều chu kì sản xuất, giá trị của nó được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kì sản xuất Tài sản cố định bao gồm:
Tài sản c ố định hữu hình' Là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu
hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, các vật kiến trúc
Trang 32Tài sản c ố định vô hình: Đây là những tài sản cố định không có hình
thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đẩu tư, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kì kinh doanh như: chi phí thành lập, chi phí về đất sử dụng, chi phí mua bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thương mại, giá tỷ lợi thế thương mại
Các khoản đầu tư dài hạn: Bao gồm các loại chứng khoán dài hạn, vốn
góp liên doanh dài hạn, cho vay vốn dài hạn, cho thuê tài sản cố định theo phương thức thuê tài chính, đầu tư kinh doanh bất động sản
Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền (trị giá) của tài sản lưu động.
Tài sản lưu động: Là các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật
liệu, bán thành phẩm) chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm Tài sản lưu động bao gồm: tiền, các chứng khoán ngắn hạn, tài sản trong thanh toán, tài sản dự trữ trong sản xuất kinh doanh và vốn lưu đông của CTCP đươc chia thành: vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn, vốn trong thanh toán, vốn dự trữ trong sản xuất kinh doanh đảm bảo cho hoạt động của CTCP được tiến hành thường xuyên liên tục [42, tr 27, 59], [45, tr 255-262]
2.1.2.1 CẤU TRÚC VỐN DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LÍ
Việc xem xét vốn của CTCP từ phương diện pháp lí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Xét ỏ góc độ này, cơ cấu vốn bao gồm: VPĐ , VĐL và vốn vay Việc xem xét vốn của CTCP được xem xét từ phương diện pháp lí có ý nghĩa thực tiễn đối với CTCP khi thành lập và hoạt động kinh doanh Trong quá trình hoạt động kinh doanh, CTCP căn cứ vào cơ sở pháp lí qui định về cấu trúc vốn để thực hiện việc tạo lập và huy động vốn phù hợp với các qui định của pháp luật
Dưới góc độ pháp lý, cấu trúc vốn của CTCP bao gồm:
Trang 33* vỏ n pháp định
Theo Luật công ty 1990 VPĐlà mức vốn tối thiểu phải có để thành lập
công ty do pháp luật qui định đối với từng ngành nghề (Điều 3- Luật công ty
1990) Như vậy, theo qui định tại Điều 15, Luật công ty 1990 VPĐlà một điều
kiện quan trọng để thành lập công ty Muốn thành lập công ty các nhà đầu tư
bắt buộc phải có VĐL tối thiểu phải bằng hoặc lớn hơn mức VPĐ qui định đối
với nghành nghề đăng ký kinh doanh
Nghị định 26 CP ngày 07/05/1998 của Chính phủ qui định ba nhóm
ngành nghề: Chế biến nông lâm thuỷ sản; Công nghiệp xây dựng; Du lịch
khách sạn CTCP, công ty TNHH, DNTN, kinh doanh trong những nhóm
ngành nghề đó phải có VĐL tối thiểu bằng VPĐ mà pháp luật qui định
Như vậy, khi qui định VPĐ , các nhà lập pháp xuất phát từ mục đích
chủ yếu thực hiện sự quản lý Nhà nước đối với CTCP trong thành lập và đăng
ký kinh doanh, đồng thời nhằm bảo vệ lợi ích cho các đối tác Vì vậy, trong
quan hê kinh doanh, nhiều khi đối tác chỉ nhìn vào VPĐ để xác định độ tin
cậy đối với bạn hàng của mình
Thực tiễn 10 năm thực hiện luật công ty cho thấy, việc qui định về VPĐ
*
là rất hình thức, bất hợp lí Thực chất VPĐ của nhiều công ty chỉ là vỏ bao bên
ngoài, không có thật dẫn đến tình trạng VPĐ “ma” đã được hợp pháp hóa
khiến cho các đối tác nhầm lẫn Trong thực tế có nhà đầu tư vay ngân hàng A
sau đó gửi vào ngân hàng B lấy giấy xác nhận có tài khoản ở ngân hàng để
được thành lập công ty và đăng ký kinh doanh Việc hợp pháp hóa vốn vay
của nhà đẩu tư trở thành VĐL là hành vi lừa đảo các đối tác Mặt khác việc
qui định VPĐ với các thủ tục phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư Nếu
đặt ra mức VPĐ cao thì cản trở đầu tư, ảnh hưởng đến việc thành lập công ty
Có những nhà đầu tư có khả năng quản lý, có bí quyết kinh doanh nhưng do
mức vốn thấp hơn VPĐ nên đã không thành lập được công ty để thực hiện ý
tưởng đầu tư kinh doanh của mình Ngược lại nếu qui định VPĐ thấp thì điều
Trang 34này làm mất đi ý nghĩa thực hiện quản lý Nhà nước đối với CTCP trong thành lập và đăng ký kinh doanh và bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Mặt khác, VPĐ không phản ánh giá trị thực của CTCP, khá năng kinh doanh, khả năng trả nợ không phụ thuộc vào VPĐ mà phụ thuộc vào năng lực tài chính thực sự của công ty.
Luật doanh nghiệp 1999 về cơ bản đã bỏ VPĐ đối với hầu hết các
ngành nghề kinh doanh Đây là bước đột phá trong thủ tục thành lập và đăng
ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng, đồng thời cũng là bước đột phá trong việc rỡ bỏ rào chắn về vốn để các nhà đầu tư
có cơ hội đầu tư vào những ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng của
họ Việc bỏ VPĐ là hoàn toàn phù hợp với cải cách hành chính trong việc quản lý doanh nghiệp, là bước thực hiện việc chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm
sang cơ chế hậu kiểm Tuy nhiên, việc bãi bỏ VPĐ không phải là bỏ hẳn, cũng
không đồng nghĩa với sự buông lỏng quản lý Nhà nước Việc quản lý Nhà nước về vốn sẽ tập trung vào việc theo dõi những biến động của vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh của CTCP Tuy nhiên, đối vời một số ngành nghề kinh doanh như: tiền tệ, bảo hiểm, chứng khoán, kinh doanh vàng vẫn cần có qui định về VPĐ Khi CTCP muốn kinh doanh trong những nghành nghề này phải có đủ VPĐ theo qui định của pháp luật
Ví dụ: CTCP muốn kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán như: Bảo lãnh phát hành, VPĐ qui định là 22 tỷ đồng; kinh doanh môi giới, tư vấn
chứng khoán VPĐ là 3 tỷ đồng; tự doanh VPĐ là 12 tỷ (Khoản 3 - Điều 30-
Nghị Định 48119981 NĐ- CP ngày 11/7/1998) Những ngành nghề kinh doanh
này phải có VPĐ, bởi vì đây là những ngành nghề kinh doanh đặc thù, chứa đựng rủi ro cao Để đảm bảo an toàn cho các nhà đẩu tư, an toàn cho các đối tác, pháp luật qui định VPĐ đối với những ngành nghề kinh doanh này Hiện nay, có những doanh nghiệp khi thực hiện các hoạt động kinh doanh pháp luật vẫn qui định VPĐ như: DNNN, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Trang 35Việt Nam Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam pháp luật qui định mức VPĐ tối thiểu là 30% trên tổng vốn đầu tư nhằm mục đích
để doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư, thực hiện các hoạt động kinh doanh Qui định như vậy là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế
Trong quá trình thực hiện Luật doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc xung quanh việc xác định cơ quan nào là cơ quan có thẩm quyền xác nhận VPĐ cho doanh nghiệp Đây là vấn đề cần được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền tháo gỡ ngay, nhầm tạo điều kiện thuận lợi cho CTCP ra đời và hoạt động
* Vốn điều lệ
Vốn điều lệ là số vốn do các nhà đầu tư góp khi thành lập doanh nghiệp
và được ghi vào điều lệ doanh nghiệp Như trên đã phân tích, vốn bao gồm tài sản hữu hình và cả những tài sản vô hình Những tài sản vô hình này không thể nhìn thấy được trước mắt được nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh như quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kĩ thuật, lợi thế, uy tín của doanh nghiệp Như vậy, toàn bộ những tài sản hữu hình và tài sản vô hình được các cổ đông góp vằ được ghi vào điều lệ gọi là VĐL của CTCP Luật công ty 1990 và Luật doanh nghiệp 1999 đều qui
định VĐL là số vốn do các thành viên góp và ghi vào điều lệ công ty (Khoản
4 , Điều 3- Luật công ty 1990; Khoản 6, Điều 3 Luật doanh nghiệp 1999) Như
vậy, điểm nhất quán ở đây toàn bộ những tài sản khi được các cổ đông góp và ghi vào điều lệ của CTCP - gọi là VĐL của CTCP
Trong cấu trúc vốn của CTCP, VĐL đóng vai trò quan trọng VĐL là chỉ số kinh tế phản ánh năng lực tài chính (thực trạng tài chính) của CTCP Tuy nhiên VĐL không hẳn phản ánh giá trị thực của CTCP bơi vì giá trị thực của CTCP có thể cao hơn hoặc thấp hơn VĐL Thực tế, VĐL chỉ phản ánh một phần giá trị thực của CTCP, giá trị của CTCP phụ thuộc vào nhiều chi số
Trang 36khác nhau trong đó có VĐL VĐL trong CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau Các cổ đông góp vốn vào CTCP bằng cách mua cổ phần mà hình thức thể hiện là cổ phiếu Vốn góp của các cổ đông có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật và các tài sản khác Khi thực hiện hành vi góp vốn các cổ đông được ghi tên vào trong các sổ đăng ký cổ đông, đồng thời các cổ đông được hưởng các quyền, lợi ích và gánh vác các nghĩa vụ pháp lí phát sinh từ phần vốn góp của mình.
Trong CTCP, vốn nói chung và VĐL nói riêng không phải là yếu tố tĩnh, nó luồn biến động, nhạy cảm với thị trường Bản thân VĐL không phản ánh đầy đủ năng lực tài chính của CTCP vào một thời điểm nhất định Vậy Irong CTCP, VĐL nào là VĐL danh nghĩa? VĐL nào là VĐL danh chính? Vấn đề này cần được lí giải một cách thấu đáo để hiểu đúng bản chất VĐL của CTCP Giả sử có các tình huống sau:
Tình huống một: Một CTCP có thể bắt đầu hoạt động với số vốn ít hơn
số vốn được ghi ban đầu trong bản điều lệ Luật doanh nghiệp 1999 qui định:
“Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% s ố cô phần ph ổ thông được quyền chào bán ”(Khoản 1-Điều 58-Luật doanh nghiệp) Như vậy
công ty khai VĐL là 10 tỷ đồng có thể đi vào hoạt động với số vốn thấp hơn
10 tỷ đồng Thực tế trong các CTCP hiện nay số vốn thực góp của các cổ đông thường thấp hơn VĐL đăng ký Số vốn còn lại công ty sẽ huy động dứt điểm khi đi vào hoạt động Nếu tiền thu về vừa đủ 10 tỷ đồng thì chẳng còn gì phải bàn thêm Nhưng thực tế điều này rất ít xảy ra, bởi giá trị thực của công ty sẽ biến động và được tái định ngay khi nó bắt đầu hoạt động Tiền thu về thường
là lớn hơn 10 tỷ hoặc thấp hơn 10 tỷ Như vậy sau khi huy động xong, tổng số vốn thực góp của các cổ đông có thể là lớn hơn hoặc nhỏ hơn 10 tỷ Điều này làm bộc lộ ngay sự khác biệt giữa vốn ghi trong điều lệ và vốn thực góp Tiền vốn ghi trong bản điều lệ lúc này có vẻ như đùa với chính nó khi soi mình vào
Trang 37sổ sách kế toán Số tiền ghi trên điều lệ của CTCP sẽ nhanh chóng không còn mấy giá trị thông tin Vì vậy vốn ghi trên điều lệ vào thời điểm đăng ký kinh doanh chỉ là VĐL trên danh nghĩa.
đã ghi vốn 10 tỷ đồng) Số vốn này được hiểu tương đương với 1 triệu cổ phần với mệnh giá cổ phần là 10.000 đồng Trong trường hợp công ty cần huy động thêm vốn, giả sử họ có thể tăng gấp đôi VĐL (tức là lượng vốn được huy động thêm tối đa là 10 tỷ đồng) Sẽ có hai trường hợp xảy ra: hoặc là lượng cổ phần bán ra có thể nhỏ hơn một triệu cổ phần mà số tiền thu về bằng hoặc lớn hơn
10 triệu Như vậy, CTCP được đánh giá lạc quan và kinh doanh có hiệu quả Nếu lượng cổ phần bán ra sẽ lớn hơn 1 triệu và số tiền thư về nhỏ hơn 10 triệu, CTCP bị đánh giá kinh doanh không có hiệu quả, và không lạc quan Như vậy với tổng số tiền là 10 tỷ bị khống chế (tức là CTCP chốt số tiền cứng thay vì chốt cổ phần) làm sao xác định được lượng cổ phần để bán tương đương với
10 triệu trong khi đó giá trị thực của cổ phẩn đang còn là một ẩn số trên thị trường Thực tế, bản chất việc góp vốn vào CTCP của các cổ đông là mua cổ phần không phải góp một số tiền nhất định Giả định CTCP cứ bán 1 triệu cổ phần, giá cổ phần tăng 3 lần khi bán Số tiền huy động được lúc này là 30 tỷ
So lại với điều lệ thì vốn huy động đã tăng gấp ba lần chứ không phải gấp đôi,
và thực tế công ty đã cầm của cổ đông là 30 tỷ Như vậy, CTCP sẽ ghi VĐL đợt huy động (được luật qui định) là 30 tỷ hay 10 tỷ? Trong trường hợp này CTCP phải phản ánh trên sổ sách kế toán là 30 tỷ chứ không phải là 10 tỷ Nếu sổ sách kế toán của CTCP chỉ phản ánh 20 tỷ thì số chênh lệch so với thị giá cổ phần sẽ được xử lí như thế nào? Ví dụ: Cuối năm 2001 Công ty giấy Hải Phòng (Hapaco) đã phát hành 1 triệu cổ phần, mệnh giá 10 000 đồng/cổ phần để bổ xung VĐL Giá bán của lô cổ phần này 32000/ cổ phần Thực tế Hapaco huy động được 32 tỷ chênh lệch so với mệnh giá là 22 tỷ đồng'
' Xem thêm chứng khoán Việt Nam số 2-tháng 2/2003.
Trang 38Như vậy, bản thản VĐL ban đầu đã không bao hàm và từ chối tiếp nhận một lượng vốn được huy động theo điều lệ một cách hợp pháp Nếu sổ sách kế toán của CTCP, không phản ánh một cách trung thực những chi tiết này thì cổ đông sẽ là người phải gánh chịu thiệt hại đầu tiên.
Tình huống ba: Giả sử CTCP tăng vốn chủ sở hữu bằng hình thức trích
từ lợi nhuận để lại của công ty Như vậy, trường hợp này có làm tăng VĐL hay không? Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty được hình thành từ nguồn vốn góp của các cổ đông và lợi nhuận để lại chưa phàn phối Còn VĐL là vốn được ghi trong điều lệ của công ty Lúc CTCP mới thành lập thì vốn chủ sở hữu cũng đồng thời là VĐL vì CTCP chưa có các quĩ dự trữ và lợi nhuận chưa phân phối Chỉ sau khi CTCP hoạt động một thời gian và có lợi nhuận để lại thì VĐL danh chính mới có sự phân biệt rõ ràng với VĐL đăng
ký ban đầu về bản chất chứ không phải ở nội dung pháp lý Trong quá trình hoạt đ ộ n g kinh doanh, CTCP thường tăng VĐL bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, mới Việc tăng VĐL này bắt buộc phải đăng ký với cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền Tăng VĐL bằng phương thức này cũng đồng thời làm tăng vốn chủ sở hữu của CTCP Trường hợp tăng VĐL bằng phương thức trích từ lợi nhuận của CTCP thể hiện quyền chủ động, linh hoạt của CTCP trong hoạt động kinh doanh Như vậy, việc tăng vốn chủ sở hữu trong trường hợp này không làm tăng VĐL và thực chất không có sự thay đổi nào đối với nguồn vốn của CTCP CTCP không được phản ánh trên sổ sách kế toán việc tăng VĐL của công ty
Theo qui định của pháp luật khi thành lập, CTCP phải lập và nộp đủ hồ
sơ đăng ký kinh doanh cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh Vì vậy, điều lệ của công ty có trước, và vốn ghi trong điều lệ mới chỉ là vốn dự kiến, nếu căn cứ vào vốn dự kiến này thì cơ cấu VĐL của CTCP sẽ bị diễn dịch sai, gây nhầm lẫn Khác với công ty TNHH, không có mấy biến động về vốn và các thành viên phải góp đầy đủ số vốn đã cam kết ngay từ khi thành
Trang 39lập Vì vậy, giữa VĐL đăng ký và vốn góp không chênh lệch nhiều Nhưng đối với CTCP, bản thân vốn và giá trị vốn đó không đứng yên mà luôn biến động trong quá trình hoạt động kinh doanh Vì vậy, việc xác định bản chất VĐL danh chính của CTCP là điều có ý nghĩa thực tiễn với công ty, với các cổ đông và đối tác [49, tr 16-18].
Như vậy, VĐL của CTCP thực chất là một đại lượng được chuẩn nhận trong bản điều lệ Đại lượng này căn cứ theo cổ phần gọi là VĐL theo cổ phần Mệnh giá cổ phần chỉ là giá trị tham chiếu, c ổ phần phát hành nhiều đợt
có thể có giá trị khác nhau nên tổng vốn bằng tiền của các cổ đông trực tiếp góp vào sẽ khác nhau Điểm nhất quán ở đây là bất cứ tài sản nào do cổ đông góp thông qua việc mua cổ phần đều phải được mặc nhiên ghi nhận đầy đủ trong điều lệ của CTCP Sẽ không có chuyện cổ đông góp 20 đồng thông qua việc mua cổ phần mà điều lệ của công ty chỉ ghi 10 đồng Vốn cổ đông góp gồm hai phần: Vốn góp trực tiếp (Direct payment) và lợi nhuận giữ lại (Retaineđ eaming) Phần vốn góp trực tiếp chính là VĐL của CTCP Trong cơ cấu VĐL của CTCP cần phân biệt giữa vốn thực góp (paid-up Capital) và vốn chủ sở hữu (owner’s equity)
' Vốn thực góp là vốn của các cổ đông thực góp vào CTCP thông qua việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu
Vốn chủ sở hữu là tài sản thuần của công ty bao gồm vốn thực góp của các cổ đông và lợi nhuận giữ lại hay trừ đi phần lỗ
Như vậy, trong CTCP điều lệ ghi nhận VĐL đăng ký ban đầu, sổ sách
kế toán xem trọng vốn thực góp của các cổ đông Do đó chỉ khi nào lượng cổ phần thay đổi thì cồng ty mới điều chỉnh điều lệ Việc điều chính VĐL được thực hiện khi: công ty phát hành thêm cổ phần để huy động thêm vốn, chia cổ tức bằng cổ phần, mua lại cổ phần và rút hẳn để giảm VĐL Trong các trường hợp này công ty cần công bố VĐL điều chỉnh VĐL của CTCP là cơ sở vật chất nhằm đảm báo hoạt động thực tế của CTCP, nhằm thực hiện nghĩa vụ đối
Trang 40với chủ nợ và xác định mức độ sở hữu của các cổ đông trong CTCP Chính vì vậy, nếu không xác định VĐL nào chỉ là trên danh nghĩa và VĐL nào là danh chính sẽ gây thiệt hại cho các cổ đông và chủ nợ.
* Vốn vay
Vốn vay là nguồn vốn mà CTCP huy động, khai thác trên cơ sở các chính sách, chế độ Nhà nước hoặc các hợp đồng giữa CTCP với các tổ chức, các nhân khác CTCP có quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc hoàn trả Vốn vay của CTCP bao gồm: Vốn vay của ngân hàng, của các cá nhân tổ chức khác, vay thông qua kênh phát hành trái phiếu
và vay thông qua thuê tài chính Thực tế, CTCP không thể tiến hành hoạt động kinh doanh nếu chỉ dựa vào VĐL mà không có sự huy động vốn từ bên ngoài Như trên đã phân tích, nguồn vốn vay của CTCP rất đa dạng và phong phú So với các loại hình doanh nghiệp khác như: Công ty TNHH, DNNN, CTCP có lợi thế hơn nhiều trong việc huy động vốn nhờ cấu trúc vốn linh hoạt mềm dẻo, trong đó có một bộ phận quan trọng đó là vốn vay
Vậy vốn vay có thuộc quyền sở hữu của CTCP không? hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vốn vay của CTCP Có quan điểm cho rằng vốn vay không thuộc sở hữu của CTCP và đặc biệt là vay thông qua hình thức thuê tài chính Quan điểm khác cho rằng vốn vay thuộc sở hữu của CTCP, trừ vay thông qua hình thức thuê tài chính Để lý giải vấn đề này, vốn vay được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ kinh tế, vốn vay là do CTCP huy động từ bên ngoài, vốn vay không phản ánh năng lực tài chính của CTCP Vì vậy, khó có thể nói vốn vay thuộc sở hữu của CTCP
Dưới góc độ tài chính, vốn vay là khoản nợ phải trả của CTCP Vì vậy, các khoản vốn vay phải được hạch toán vào các khoản nợ và được chia thành các khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn để CTCP có phương án trả nợ Vốn vay