Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ phân tích, đánh giá quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước; vai trò của nhân dân trong xây
Trang 13
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐAI HOC LUÂT HẢ NÔI
N G U Y Ễ N THƯ AN
TÌM HIỂU T ư TƯỞNG H ổ CHÍ MINH VỂ
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CỦA DÂN, DO DÂN, v ì DÂN
Chuyên nghành : Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
T ôi x in c a m đ o an
Đ â y là c ô n g trìn h n g h iê n cứu c ủ a riê n g tôi
C ác s ố liệu , lu ận c ứ k h o a h ọ c n êu tro n g lu ận văn
là tru n g thự c, k h á c h q u an
Người viết cam đoan
Nguyễn Thu An
Trang 4MỤC LỤC
PHẨN MỞ ĐẦU
TRUNG VÀ CÁC GIÁ TRỊ c ơ BẢN CUA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYEN.
1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền.
2 Sự phát triển và các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền.
2.1 Tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại
2.2 Các đặc trưng cơ bản của N hà nước pháp quyền
3.1 Nhà nước pháp quyền với việc đề cao pháp luật và giá trị nhân văn của pháp luật
3.2 Nhà nước pháp quyền với viêc đề cao chủ nghĩa lập hiến
3.3 Nhà nước pháp quyền với viêc khẳng định nguồn gốc chínhquyền là ở nhân dân
3.4 Nhà nước pháp quyền với việc đề cao vai trò của các cơ quan
nghĩa của dân, do dân, vì dân.
1.1 Nhà nước của dân, do dân, vì dân
1.2 Nhà nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 51.3 Nhà nước mà ở đó pháp luật được đề cao 67
Nhà nước và Pháp luật trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
quyền xã hội chủ nghĩa
chức Nhà nước
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Q? /// /ũéu íưíưAitụ &úJ/ỉ/fƯL oỉ<?ỉ/tà nưiíep/táp Ợíiựền saĩ /lột (Vui nạ/ũa ffliff dáfụ dtì í/á/L, tùdâjr.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội Đ ảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định nhiệm vụ của Nhà nước Việt nam trong giai đoạn này là : "xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản" [7, tr.1 3 1 ] Nhiệm vụ này đã được thể chế hoá trong điều 2, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) với qui định :
"Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức " [17]
Với quan điểm trên việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã trở thành nguyên tắc bắt buộc trong hoạt động của Nhà nước XHCN Việt nam, nhằm tạo cơ sở đảm bảo thực thi quyền dân chủ, khẳng định vai trò của nhân dân trong xây dựng và quản lí đất nước và giải quyết các vấn đề liên quan đến tổ chức quyền lực Nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật, mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân
Việc nghiên cứu các giá trị cơ bản của tư tưởng Nhà nước pháp quyền
và quá trình vận dụng những tư tưởng ấy trong thực tiễn hoạt động của nhà nước sẽ tạo nền tảng lí luận cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam hiện nay
Trên thực tế tư tưởng Nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí
M inh nêu ra vào năm 1919 Tại bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" gửi cho các nước đồng minh thắng trận trong chiến tranh thế giới lần thứ 1 ở hội nghị V éc-Xây năm 1919, Người yêu cầu thay thế chế độ Sắc lệnh bằng chế
độ ban hành các Đạo luật Cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộne hoà tư tưởng Nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện rõ nét trong quá trình tổ chức quản lí và điều hành đất nước
Trang 7ĩ7ĩ/>r /tif 'it {//' hứìítự (ị^/rí ////ii/i cữ t?ĩ/rà nưlớe p jtá p t/uụẨn a?fĩ /lớ i fỉ/tt} nợ/tỉa ờ/ý / 1 eùín, f/f) f/âny a iiù u i.
2
Như vậy có thể thấy Chủ tịch Hồ Chí M inh chính là người đặl nền móng đầu tiên cho việc xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền ở V iệt nam Việc nghiên cứu tư tưởng H ồ Chí M inh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
và quá trình vận dụng tư tưởng của Người trong xây dựng Nhà nước Việt nam sau cách m ạng tháng 8 năm 1945 không chỉ m ang lại ý nghĩa lí luận mà còn
là bài học thực tiễn cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt nam
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi m ạnh dạn chọn vấn đề “Tìm hiểu tư tưởng H ồ Chí M inh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa V iệt Nam của dân, do dân, vì dân “ làm đề tài cho luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng H ồ Chí M inh trong các lĩnh vực Giáo dục, đạo đức, quân sự, ngoại giao trong lĩnh vực Nhà nước và Pháp luật chúng ta kể đến đề tài “tư tưởng Hồ Chí M inh về nhà nước của dân,
do dân, vì dân” được thực hiện từ tháng 6 năm 1992 đến tháng 12 năm 1994 thuộc công trình KX - 02, do PTS Luật học Nguyễn Đình Lộc làm chủ nhiệm đề tài
Từ việc nghiên cứu quá trình phát triển tư tưởng H ồ Chí M inh về Nhà nước và Pháp luật qua các thời kỳ; hệ tư tưởng Hồ Chí M inh về Nhà nước kiểu mới của dân, do dân và vì dân và việc vận dụng tư tưởng H ồ Chí M inh trong xây dựng Bộ m áy nhà nước, xây dựng pháp luật đề tài này hướng tới đưa ra một số kiến nghị với Đ ảng và Nhà nước trong cải cách Bộ máy nhà nước theo
tư tưởng kiểu mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cùng với công trình KX - 02 còn phải kể đến hàng loạt các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành nghicn cứu tư tưởng Hồ Chí M inh về Nhà nước và Pháp luật như : “Tư tưởng Hồ Chí M inh về Nhà nước và Pháp luật” GS.TSKH Đ ào T rí ú c (tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 năm 1995), “Quan điểm của Hồ Chí M inh về cách mạng xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt N am ” - GS.VS N guyễn Duy Quý (tạp chí cộng sản số 6 năm 1997);
Trang 8vTffn /r/stỉ tũăáiriự ^ 5? ẽ /t/j/tfftA rtẽ Vĩ/là ru/iý'e p/táp ạaụầi x ã /ló / (Juí ttịf/tữ / ftí// ctữ t/átL, tùdầ/L.
số 8 tháng 8 năm 2002), “vấn đề dân chủ và các đặc trưng của mô hình tổng thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt N am ” - GS TS Hoàng Văn Hảo (tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2, năm 2003), “cách mạng tháng 8 năm
1945 và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” - PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc; “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí M inh về Pháp luật và Đạo đức” - TS Hoàng Thị Kim Quế (tạp chí nghiên cứu lập pháp số 8, tháng 8 năm 2002)
Dù vậy cho đến nay ngoài công trình KX-02 nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí M inh về Nhà nước và Pháp luật, chúng ta chưa có m ột công trình nghiên cứu toàn diện, đề cập trực diện, chính thức đến tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Gần đây, tại bài viết “Nhà nước nhán auvền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” đăng trên Tạp chí
lí luận chính trị số 10, năm 2002, GS.TS Hoàng Văn Hảo đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam khi giải quyết hai vấn đề cơ bản! Nguồn gốc của quyền lực Nhà nước và tính hợp pháp và hợp hiến trong hoạt động của Bộ máy Nhà nước
Trang 9•~ 7ì/n /tiisi //ỉ'/í/'tí/lự @ /t/^íin/t ơé Vừi naifc p /táfỉ í/i/ựfS! x ã /tô ie/tíi nự/rũi « í f f dâểt, díf (/âsi^ n/ ///bi.
4
Như vậy, có thể khẳng định việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân mới chỉ dừng lại ở những bước đi ban đầu
Tuy nhiên, với qui định tại Điều 2, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đã irở thành nguyên tắc bắt buộc trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước Do đó, chúng ta không nên chỉ dừng lại ở các bài viết của cá nhân nhà khoa học mà cần có các công trình khoa học cẩn trọng, nghiêm túc khi tìm hiểu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm tạo nền tảng lí luận căn bản, vững chắc cho việc xây dựng
mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở V iệt Nam hiện nay
3 M ục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là tìm hiểu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ đó đưa ra một số kiến nghị trong việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí M inh vào xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ phân tích, đánh giá quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước; vai trò của nhân dân trong xây dựng Nhà nước, xây dựng Pháp luật; vai trò của Nhà nước và Pháp luật trong việc thừa nhận và bảo vệ các giá trị dân chủ Qua đó khẳng định tính nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh khi đặt mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như một đảm bảo vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của một nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân và phục vụ nhân dân
Tuy nhiên nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật
là một vấn đề phức tạp và có phạm vi rộng lớn, trong thời gian nhất định và sự hạn chế của quá trình nghiên cứu chúng tôi chưa có điều kiện để giải quyết triệt để những vấn đề liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về xâv dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Luận văn mới chỉ dừng lại ở việc tập trung
Trang 10Ỡ 2rtf /tiên /ú /ííiỉttạ @ /n'///f/r/i oé tfỊ/ù r nuíí? pYtííp t/tiự ềti ,rsĩ /liĩi e /tii ftị/A ũ / etia (//ÍSI-, í/tì (úin, từ í/íitL.
5
phân tích và đánh giá những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí M inh về Nhà nước, Pháp luật và vai trò của nhân dân trong Nhà nước được thể hiện thông qua việc xây dựng Bộ m áy Nhà nước và hệ thống Pháp luật trong những năm đầu của chính quyền cách m ạng cho đến các giai đoạn sau này khi đất nước hoàn toàn thống nhất
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề giải quyết những nội dung trên, phương pháp nghiên cứu cơ bản mà luận văn sử dụng là phương pháp qui nạp trên cơ sở thống kê, tổng hợp, nghiên cứu và phân tích các tài liệu, tư liệu liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí
M inh từ đó làm sáng tỏ quan điểm của Người về N hà nước và Pháp luật
Luận văn cũng sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, phương pháp so sánh, đối chiếu giữa tư tưởng H ồ Chí M inh về Nhà nước
và pháp luật với thực tiễn quá trình xây dựng Nhà nước V iệt nam sau cách mạng tháng 8 m à kết quả của nó chính là sự ra đời của N hà nước hợp hiến sau tổng tuyển cử : Nhà nước V iệt nam Dân chủ Cộng hoà m à Chủ tịch H ồ Chí
M inh giữ vai trò là người đứng đầu Nhà nước
5 N hững đóng góp mới về m ặt khoa học của luận văn
M ặc dù đã có những công trình nghiên cứu cũng như các bài viết của nhiều nhà khoa học về tư tưởng Hồ Chí M inh trong xây dựng Nhà nước và xây dựng Pháp luật song luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đã trực tiếp đặt vấn đề “tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí M inh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" như m ột đề tài để nghiên cứu và từ đó giải quyết các vấn đề liên quan đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí M inh về Nhà
iiLivỹv_/ * d I iicLj^y i u u L
Luận văn cũng đưa ra m ột số kiến nghị trong việc vận dụng tư tưởng
Hổ Chí M inh khi xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở đánh eiá đúng giá trị khách quan của tư tưởng
Hổ Chí M inh về Nhà nước và Pháp luật cũng như tôn trọng và nhận thức đúng
Trang 11Ợĩrtt /// ///iitrợ & t/y///n A rứ V Ỉ/ià niứ fe p /ư íp f///ụ ề/t «rã /tộ / e /tti rrụ/r/f/ etúi i/â tt, fú% t/â /t, iùdtút*
6
các qui luật vận động và phát triển của thực tại khách quan để từ đó có cái nhìn linh hoạt, sáng tạo, Irong khi kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch
Hổ Chí M inh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần m ở đầu, kết luận và danh m ục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 2 chương :
Chương I : M ột vài nét về lịch sử phát triển, các đặc trưng và các giá trị cơ bản của nhà nước pháp quyền
Chương II : Tim hiểu tư tưởng Hồ Chí M inh về Nhà nước pháp quvền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Trang 12r7ì/n /t/éi/ ỉũ /ítiin ự 2Kô & tt\ ///Srr/i fữ w /ià rtuíí'epVưíp ////ụrỳi irã /r/ĩ/ fVf/í /lự /lũ/ a íti //ú /t, tlíi/e, rù (//in.
7
CHƯƠNG I
M ỘT VÀI NÉT VỂ LỊCH s ử PHÁT TRIỂN, CÁC ĐẶC TRƯNG VÀ CÁC GIÁ TRỊ C ơ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỂN
1 KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC PHÁP QUYEN
Nhà nước pháp quyền là một học thuyết chính trị pháp lý và triết học xuất hiện ở Tây Âu vào thế kỷ XVII, XVIII Tuy nhiên, khi nói đến Nhà nước Pháp quyền là nói đến một phương thức dân chủ trong tổ chức và thực thi quyền lực Nhà nước, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước; vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo thực hiện các thiết chế dân chủ; vai trò tối thượng của Hiến pháp và các đạo luật trong Hệ thống pháp luật Mặc dù giá trị của nhà nước pháp quyền là không thể phủ nhận, song đã có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nhà nước pháp quyền Trước khi nêu khái niệm về nhà nước pháp quyền, tôi xin trình bày một số quan điểm sau :
Thứ nhất : Không nên định nghĩa nhà nước pháp quyền như là một kiểu Nhà nước Trên thực tế, trong lịch sử mới có 4 kiểu Nhà nước : Kiểu Nhà
nước chiếm hữu nô lệ, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư sản và kiểu
nhà nước xã hội chủ nghĩa Trong mỗi kiểu nhà nước này có thể đều đã khai thác giá trị học thuyết nhà nước pháp quyền ở những khía cạnh khác nhau Sự hình thành học thuyết chính trị pháp lí nhà nước pháp quyền không diễn ra
m ột sớm một chiều mà là kết quả của qúa trình nghiên cứu tổ chức quyền lực nhà nước để thiết kế một mô hình nhà nước thích hợp và xây dựng hành lang pháp lí đủ mạnh để thực hiện quyền lực đó trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể
Do đó, nêu đổng nghla nhà nước pháp quyền với khái niệm kiểu Nhà nước thì mặc nhiên sẽ cho rằng sự xuất hiện của nhà nước pháp quyền là kết quả của mộl cuộc cách mạng xã hội và đương nhiên phải tìm cho được một giai cấp cầm quyền đặc định (không thể thay đổi) trong kiểu nhà nước đó
Trang 1377 /// t ò / /ií' fiififrtj &Ú ////h A iff w /tà nirrie pY/áfi ợi/ụẽ/r ar/í /ứ)i (Vt/Í nợ/ũt/ (lít/ fùĩft, </r> flãềL, rù
8
Thứ 2 : Khi đặt vấn đề xây dựng khái niệm nhà nước pháp quyền, nên hiểu đây là khái niệm về một mô hình nhà nước, chứ không phải xuất phát từ khía cạnh nhà nước pháp quyền với tư cách một học thuyết về chính trị - pháp
lí Do đó cần phản ánh cho được những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, nghĩa là phải chi ra được nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền
Thứ 3 : Cũng không nên xem xét khái niệm nhà nước pháp quyền trong sự đối lập tuyệt đối của hai khái niệm : Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nehĩa và nhà nước pháp quyền tư sản, bởi như vậy đã phần nào làm mất đi giá trị khách quan của học thuyết Không nên xây dựng khái niệm nhà nước pháp quyền từ góc độ chính trị, hay bản chất giai cấp mà nên nhìn nhận nhà nước pháp quyền như m ột di sản văn hóa chung của nhân loại Tuy vậy, rõ ràng việc xâv dựng nhà nước pháp quyền ở từng quốc gia không thể không bị chi phối bởi các vấn đề liên quan đến bản chất giai cấp, chế độ chính trị cũng như
sự tác động của các nguyên nhân khách quan khác
Trong Từ điển Pháp Việt có nêu định nghĩa về nhà nước pháp quyền như sau:" Nhà nước pháp quyền là nhà nước tuân theo pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật, xem pháp luật có vị trí chi phối mọi hành vi của cơ quan công quyền và của công dân"[ 23, Tr.103]
Theo GS, TS Hoàng văn Hảo: "Định nghĩa trên vẫn chỉ có ý nghĩa tương đối, chưa bao quái hết một nội dung quan trọng của nhà nước pháp quvền là tư tưởng dân chủ, nhân quyền, là khẳng định cội nguồn quyền lực nhà nước là ỏ nhân dân" [21, Tr.72]
Như vậy, có thể thấy nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị pháp lý phức tạp và thường được hiểu theo nhiều cấp độ, do đó khó có thể có khái niệm bao quát hết nội dung của nó Do vậy, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về nhà nước pháp quyền trên cơ sở xác định nội hàm của khái niệm như sau:
"Nhà nước pháp quyền ỉà một mô hình nhà nước mà trong đó các giá trị dãn chủ được đảm hảo thực hiện bởi các thiết c h ế tương ứng Các giá trị dân chủ còn phải được đảm bảo thực hiện trong việc tổ chức quyển lực Nhà nước;
Trang 14r7ĩ/n /t/êtt /u" fi/íí'/iff Zfiri ////tr/i f>ê G ĩ/ưì nưlríe p/u/fi! ợit//ềsf x ã /tắ ìe/u í n ợ /i//f eriti f//ì í/íĩ/t, tù í/íĩrt.
9
trong việc xác định và giải quyếỉ mối quan hệ giữa nhà nước với công dân
trên cơ sở khẳng định tính tối cao của luật, tính độc lập của nên tư pháp nhằm
tổ chức, ổn định và xây dựng trật tự x ã hội công bằng".
PHÁP QUYEN
2.1 Tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại.
Những m anh nha tư tưởng đầu tiên của nhân loại về Nhà nước pháp
quyền đã có nguồn gốc từ rất lâu đời Ngay trong thời cổ đại người ta đã cố
gắng tìm kiếm các nguyên tắc, hình thức và các đại lượng chung để thiết lập
và giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật và quyền lực, giữa cá nhân với cộng
đồng Từ thế kỷ IX - VI ( trước công nguyên), các nhà tư tưởng Hi Lạp cổ đại
đã cho rằng các nguyên tắc công bằng, pháp chế và sự vĩnh hằng bao giờ cũng
gắn với quyền năng của các thiên thần trên đỉnh núi O lym pia mà đứng đầu là
Dớt Hay như biểu tượng cổ xưa về vị quan tòa - nữ thần bịt m ắt chính là sự
thể hiện công bằng, vô tư và nghiêm khắc trong việc sử dụng sức m ạnh của
quyền lực pháp luât "trật tự pháp luật mà nữ thần bảo vệ là bắt buộc và bình
đẳng với tất cả mọi người" [27, tr 2]
Rõ ràng ngay trong thế kỷ này khi giải quyết mối quan hệ giữa Pháp
luật và quyền lực, các học giả đã cố gắng tìm đến m ột đại lượng công bằng,
khách quan nhằm biểu đạt cho sự tồn tại của quyền lực Nhà nước Câu nói
của Heraclit : "nhân dân phải đấu tranh bảo vệ luật như bảo vệ chốn nương
thân của mình" đã phản ánh sự tôn trọng luật công bằng, thần thánh
+ Xocrat (469-399 TCN) là triết gia đặt nền m óng đầu tiên cho tư
tưởng Nhà nước pháp quyền Theo ông, công lí được thể hiện troníĩ các văn
bản do Nhà nước ban hành Sự công minh và sự hợp pháp là một Nếu không
có sự tuân thủ pháp luật thì không có Nhà nước và không có trật tự xã hội
Dấu hiệu để đánh giá m ột Nhà nước phồn vinh chính là mức độ tôn trọng và
thực hiện pháp luật của công dân Chỉ khi nào pháp luật được tôn vinh, Nhà
nước mới được tốn vinh
Trang 157 7 / / / /tiẽi/ ừt'/triinợ ///út/r oé Qừuì t/t/íá'?p/uíp í/í/ụ /n iKŨ /tóf'(St/Ỉ /lự /lũ / etia </f> (//in , n ì '//in
10
+ Trong khi đó Platon (428-347 TCN) - một học trò của Xocrat lại cho rằng Nhà nước lí tưởng là Nhà nước được cầm quyền bởi sự thông thái, ông đề cao vai trò của tòa án với tư cách là cơ quan bảo vệ pháp luật và công
lí ớ đâu pháp luật không còn sức mạnh và ở dưới quyền lực ai đó, ở đó Nhà nước bị diệt vong Nhà nước không tồn tại nếu như trong Nhà nước tòa án khôn£ được tổ chức một cách thỏa đáng
+ Arixtot (384-322 TCN) với 2 công trình nghiên cứu về chính trị :
"Hiến pháp A.Ten" và "Chính trị" đã tổng kết và phát triển các kết luận của các bậc tiền bối về nguồn gốc, bản chất, hình thức và các vai trò của Nhà nước
và pháp luật Với ông yếu tố cấu thành cơ bản trong luật là sự phù hợp của tính đúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền Ông cho pháp luật là qui tắc khách quan, có tính chính trực, vô tư xuất phát từ quyền lực và phù hợp với mục đích quốc gia Nơi nào không có sức mạnh của pháp luật thì nơi đó không có hình thức và chế độ của Nhà nước "khái niệm công bằng gắn liền với quan niệm về Nhà nước, bởi vì pháp luật - tiêu chuẩn của sự công bằng, là qui phạm điều chỉnh sự giao tiếp chính trị"[27, tr.7] Như vậy, một nền chính trị đúng đắn phải là một nền chính trị được xây dựng trên cơ sở pháp luật và tôri trọng pháp luật Pháp luật chính là nghệ thuật của sự thật và công lí Ông phàn biệt 2 loại pháp luật : Pháp luật chung (pháp luật tự nhiên) và pháp luật riêng (pháp luật được xác lập do con người) ; trong đó pháp luật chung được đánh giá cao hơn pháp luật riêng Căn cứ theo tiêu chuẩn số lượng (số lượng người cầm quyền) và chất lượng (mục đích của sự cầm quyền) ông chia Nhà nước làm 2 loại : Nhà nước chân chính và Nhà nước biến chất, trong đó Nhà
Trang 16(Tint fw fưí?/iạ @ /t/y///ti/t tứ w /i/t /tttrí/* p /ư íp t/í/ụ ề /t n?tĩ /tfí/(V tú rrụ/tũi ( r ó / (/á ti, f/f) ///rrt, f)i t/ásL.
11
nước chân chính (Nhà nước đúng) khi m ục đích của nó vì lợi ích chung và Nhà nước biến chất khi lợi ích riêng của những người cai trị chiếm ưu thế Ông phân biệt sự cầm quyền của m ột người, m ột số người và của đa số Phẩm chất của Nhà nước được xác định bằng năng lực cầm quyền phục vụ lợi ích của xã hội, sự dung hòa lợi ích giữa kẻ giàu và người nghèo quyết định giá trị của Nhà nước Ba hình thức Nhà nước Quân chủ, quí tộc, dân chủ trong lịch sử đều là hợp lí nếu nó không biến thành độc tài, chuyên chế và ngộ nhận về m ặt quyền lực Ở đây pháp luật giữ vai trò điều tiết và là đại lượng công bằng để đảm bảo sự tham gia và vai trò của công dân Theo ông" ch ế độ dân chủ chính trị có thể sẽ chuyển thành chế độ mị dân và từ đó chuyển thành chế độ độc tài, nếu ý chí thực hiện điều tiết bằng pháp luật được thay th ế bằng ý chí cá nhân tùy tiện, lợi ích của đa số bị thay th ế bởi lợi ích chung phi nhân cách, để cá nhân có quyền lực thao túng" [22, tr.102]
Một trong những điểm nổi bật của tư tưởng A rixtot trong việc tổ chức quyển lưc Nhà nước là ông đưa ra tư tưởng cho rằng bất kỳ Nhà nước nào cũng phải có 3 bộ phận : cơ quan làm luật trông coi việc nước, các cơ quan thực thi và các tòa án Theo ông, ba bộ phận này sẽ tạo nên cơ sở của mọi Nhà nước Tất nhiên, sự khác nhau về thể chế sẽ tạo nên sự khác nhau trong mỗi bộ phận đó Tư tưởng này của ông đã được các học giả tư sản sau này (J.locke,S.L M ongteskiơ) phát triển nên m ột trình độ pháp lí mới với những tư tưởng
về phân quyền trong tổ chức quyền lực Nhà nước ở Nhà nước pháp quyền
+ X ixeron (106-43 TCN) với các công trình khoa học nổi tiếng như
"về Nhà nước", "về những đạo luật" và "về các nghĩa vụ" đã có những phát triển mới về tư tưởng Nhà nước pháp quyền X ixeron cho rằng quyền lực và tổ chức quvền lực là tất vếu hởi nó diễn ra từ bản chất con người m uốn chạy trốn khỏi sự cô đơn và khao khát cuộc sống công đồng, xã hội Nó không sinh ra bởi cá nhân mà bởi nhân dân Nhân dân theo ông không phải là m ột tập hợp nào đó, một số đông, m ột bầy đàn mà là sự tập hợp của nhiều người gắn bó với nhau bằng sự thống nhất về pháp luật và lợi ích chung Do đó, Nhà nước
Trang 17Ĩ77/H / / / « / /tift/iiin 'f ^ í ? t»é G ĩ/ià n ư iíep /u íp t/ttt/ề/t x ã /tâ t? J tỉ/ ểỉự/ỉĩ// etía (//ítt, //& dotty í)ií/â tt.
12
khi ra đời đã có khuynh hướng liên minh, liên kết con người với nhau Nhiệm
vụ quan trọng của Nhà nước là bảo vệ sở hữu tư nhân, hoạt động chính trị và tham gia vào đời sống chính trị là biểu hiện cao nhất của con người Công việc của Nhà nước là công việc của nhân dân và pháp quyền được lập ra để xác lập
sự thống nhất xã hội trên cơ sở khẳng định và đảm bảo vai trò tối thượng của luật trong N hà nước "Tất cả mọi người đều phải ở dưới hiệu lực của pháp luật" [4] Như vậy theo Xixeron : pháp luật chính là cơ sở, căn cứ để tổ chức Nhà nước Pháp luật ở đây là pháp luật tự nhiên, pháp luật có trước Nhà nước và pháp luật thành văn, pháp luật xuất phát từ bản chất lí trí của con người và của thế giới xung quanh con người như m ột sự sáng tạo của lí trí thần thánh Do
đó, pháp luật của Nhà nước phải đáp ứng những đòi hỏi của pháp luật tự nhiên
Xem xét mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật, Xixeron cho rằng Nhà nước chính là pháp luật, pháp luật tự nhiên của nhân dân Sự bình đẳng của công dân trước pháp luật của Nhà nước chính là ở chỗ bản thân Nhà nước
là pháp luât chung cho mọi công dân
Như vậy, có thể thấy cội nguồn của tư tưởng Nhà nước pháp quyền là những quan điểm , tư tưởng của các triết gia cổ đại, mà vấn đề nổi bật nhất là
sự cần thiết phải có một chế độ Nhà nước trong đó không chỉ chú trọng đến tính tối cao của pháp luật mà còn quan tâm đến sự hợp lí trong tổ chức quyền lực Nhà nước
Những quan điểm, tư tưởng này đã được bổ sung, hoàn thiện, phát triển mạnh về m ặt lí luận và mang tính hệ thống vào thế kỷ XVII, XVIII Với tính chất tiến bộ của thời kỳ này, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền mà một trong những giá trị cơ bản là đề cao chủ nghĩa lập hiến, đã trở thành tiêu chí
để lộp hợp lực ỉưựng Irong cách mạng tư sản ỏ' M ĩ và Tây Âu nhằm lật đổ chế
độ phong kiến độc đoán, chuyên quyền
Trong tác phẩm "Tìm hiểu về Nhà nước pháp quyền", chủ biên TSKH
Đào Trí Úc viết: " Tư tưởng của các nhà kinh điển c ổ đại về vấn đ ề Nhà nước
pháp quyền đ ã thu hút sự chú ý của các nhà iư tưởng thời kỳ trung và cận đại
Trang 18Ĩ7Ĩ/H /liéii ft/' /ỉtíírtạ & t/ y//tn/t ftê w/tii at/íỉ? p/tííp r/r/ụềsi seã /tói ú nợ/rũ/ « * 7 < fểiềt, f/f> s/fĩrr, fM
M ột trong những đặc điểm nổi bật ở tư tưửng chính trị pháp lí của
J.LỐ CCƠ là học thuyết phân chia quyền lực X uất phát từ quan điểm cho rằng nguy cơ xâm phạm của quyền lực Nhà nước đối với các quyền tự nhiên của con người và pháp luật xuất phát từ chính các đặc quyền của người cầm quyền Do đó, quyền lực Nhà nước không thể rơi vào tay m ột người và cũng không có m ột ngoại lệ nào trong việc tuân thủ pháp luật
Khi phân chia quyền lực Nhà nước, ông khẳng định : chủ quyền nhândân là nền tảng bảo đảm cho sự tồn tại của Nhà nước, việc điều hành Nhà nước phải dựa trên các đạo luật do nhân dân tuyên bố và biết rõ về chúng Chủ quyền nhân dân cao hơn chủ quyền Nhà nước do họ thành lập
Các quan điểm chính trị pháp lí tiến bộ của J.LỐCCƠ đã có ảnh hưởngsâu sắc đến qưan điểm của các học giả tư sản sau đó như : M ongtexkiơ, Vônte, R utxô Học thuyết về "phân chia quyền lực" đã được M ongtexkiơ và các nhà tư tưởng tư sản khác k ế thừa và phát triển
Trang 19Z7ìm A /e u / í f ' V/ r S / / / / 'tt / t o ê n /tííe p jtá p ợ x tụ Ể rt 3e ã /tâ i.e ftú n ợ /tĩ/í f* ư i (//}* !-, íử> « 7 / 7 / / , lù t/á ti*
14
+ M ongtexkiơ (1689-1755) nhà tư tưởng người Pháp, ông là một trong những gương mặt xuất sắc của trào lưu khai sáng thế kỷ XVIII ở Pháp Trong tác phẩm nổi tiếng "Tinh thần pháp luật", ông cho rằng cần tổ chức quyền lực Nhà nước với hình thức cộng hòa Nền cộng hòa vốn có tình yêu tự do, lòng căm thù chế độ chuyên chế, do vậy nó đảm bảo cho mình được độc lập Còn Nhà nước chuyên chế là Nhà nước của sự độc đoán và tùy tiện, bởi lẽ nguyên tắc chủ yếu của chế độ quân chủ chuyên chế là làm cho con người khiếp sợ Trong Nhà nước đó không bao giờ có pháp luật, mà nếu có chăng nữa, Pháp luật cũng đã bị vô hiệu hóa và không có thiết chế nào để bảo vệ
Do đó, cần phải xây dựng nhà nước trên cơ sở nghiên cứu những quy luật lịch sử cho sự phát triển của Nhà nước và Pháp luật Khi xem xét và khảng định về sự cần thiết của pháp chế với nội dung quan trọng là tuân Ihủ pháp luật; trong việc tổ chức quyền lực Nhà nước để bảo vệ lợi ích toàn Xã hội
và nhân dân; trong việc xây dựng Hệ thống pháp luật với tư cách là cơ sở pháp
lý, rào cản tránh sự tùy tiện và lạm quyền trong việc sử dụng quyền lực Nhà nước M ongtexkiơ tiếp tục phát triển tư tưởng phân quyền trong tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước của J loccơ Theo ông " nếu quyền lập pháp và quyền hành pháp nằm trong tay một người hoặc một cơ quan; cũng như khi quyền tư pháp không tách khỏi hai nhánh quyền lực kia thì sẽ không có tự do, còn nếu như quyền tư pháp hợp nhất với quyền hành pháp thì tòa án sẽ có khả nãng trở thành kẻ đàn áp và tất cả sẽ bị hủy diệt nếu như quyền lực nằm trong tay một người hay một cơ quan họp nhất cả ba quyền này" [13, tr.98-124]
Để tránh lạm quyền, 3 quyền đó phải nằm ở 3 cơ quan khác nhau, kiềm chế lẫn nhau Sự phân chia và kiềm chế lẫn nhau, giữa 3 quyền sẽ là điều kiên co' hản để đảm hảo tư do chính tri tronẹ nhà nước Ớ đây nôi đunẹ cơ bản của học thuyết phân quyền là dùng quyền lực hạn chế quyền lực bằng một cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa Nghị viện (cơ quan đảm nhiệm quyền lập pháp), Chính phủ (cơ quan đảm nhiệm quyền hành pháp), tòa án (cơ quan thực hiện quyền tư pháp) - để không một cơ quan nào có thể nắm toàn bộ quyền lực
Trang 20ĩ7ĩtn /tiêu /lỉ' /triittợ jfcti ft/tf ///tti/i w furii's p/iáị 0 ụuụẨn aoã/tâ/eểiíi tiự /tũ / n i / 1 (/si/t-, f/f> t/á/L, tù íiâ ti.
15
Nhà nước Chính vì vậy "thuyết phân quyền với những hạt nhân hợp lí là vũ
khí tấn công m ạnh mẽ vào chế độ quân chủ phong kiến - nơi mà Nhà vua có
thể tự đặt ra luật lệ và không bị ràng buộc bởi luật lệ và không phải chịu trách
nhiệm đối với thần dân của mình" [9] Sau này thuyết phân quyền đã trở thành
một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ m áy
Nhà nước tư sản Hiến pháp năm 1787 của M ĩ là H iếp pháp tư sản đầu tiên ghi
nhận nguyên tắc này
+ K ant (1724-1804) nhà triết học nổi tiếng người Đức là người đã lập
luận về m ặt triết học cho lí luận về Nhà nước pháp quyền Ông cho rằng Nhà
nước pháp quyền là sự hợp nhất của m ột xã hội trong đó mọi người biết phục
tùng các đạo luật được xây dựng theo ý chí của nhân dân Ông triệt để tán
thành việc áp dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức quyền lực Nhà nước,
ở đâu có phân quyền thì ở đó có Nhà nước pháp quyền còn nếu không chỉ là
Nhà nước chuyên quyền - nơi ý chí của cá nhân có thể quyết định tất cả Ông
đề cao vấn đề chủ quyền nhân dân, tính tối cao của chủ quyền nhân dân là
điều kiện cơ bản và quan trọng nhất cho sự tự do bình đẳng của tất cả nhân
dân trong m ột nhà nước Nhân dân chứ không phải ai hết lập ra Nhà nước Do
đó, quyền lực Nhà nước phải của nhân dân chứ không thuộc về m ột cá nhân
hay m ột tập đoàn nào
nhà nước pháp quyển xung quanh việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước
pháp quyền với xã hội công dân Theo ông, hai khái niệm này có quan hệ m ật
thiết với nhau, không thể tấch rời Xã hội công dân là xã hội trong đó mọi
cồng dân đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ theo qui định của pháp luật Các
o U n L , u u i l * a K/V-/ ^ịUuii iiii'U iiuvyw cị UUii ÌAV UiiÃẲĨ vtUỈẤ^ * W*Ĩ*Ẳ*
thực hiện nghĩa vụ của mình trước Nhà nước, nqược lại thông qua việc xây
dựng trật tự pháp luật Nhà nước phải đảm bảo cho việc thực hiện các quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân Ông đối lập Nhà nước pháp quyền với Nhà
Trang 21&ĩ/tt /ùẽít fit ftiií'nự v /ií ///in/t rữ vư tà ftutâcp/táp f/ttựêỉi sr/ĩ /tó i e/í/t n(//tftì ería t/sirr, f/n ///in, rù íù/rt.
16
nước cực quyền nơi mà bộ máy quyền lực chính trị quan liêu và hệ thống pháp luật có tính chất tùy tiện và mệnh lệnh tồn tại
Bên cạnh các học giả trên, khi nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền với
tư cách là m ột hệ tư tưởng chính trị pháp lí không thể không kể đến các triết gia người Đức với những lí luận về nhà nước pháp quyền R.F Môn và K.T Vancơ coi tính tối cao của pháp luật là nguyên tắc cơ bản, đầu tiên và quan trọng của Nhà nước pháp quyền Tính tối cao của pháp luật là sự thể hiện và bảo đảm chủ quyền nhân dân dưới hình thức quyền lực của Nghị viện Theo R.F M ôn trong 3 hệ cơ quan Nhà nước thì cơ quan lập pháp ở vị trí cao nhất và không chịu sự kiểm soát cuả cơ quan tư pháp M ột trong những tiêu chuẩn của nhà nước pháp quyền đó là sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật, phát huy tự do và năng lực của mỗi thành viên trong xã hội
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, học thuyết Nhà nước pháp quyền
đã thu hút nhiều nhà lí luận và học giả 3của các nước Phương Tây tham gia như Hécbư, Laban, Elinéc và Ierieng với hàng loạt các quan điểm : Nhà nước là hình thức pháp quyền đối với toàn bộ đời sống của nhân dân và là pháp nhân tối cao ( theo quan điểm của Hécbơ), hay Nhà nước là một tổ chức pháp lí của nhân dân (theo quan điểm của Laban)
N hư vậy, có thể thấy học thuyết về Nhà nước pháp quyền đã và đang tồn tại như m ột học thuyết chính trị pháp lí Học thuyết này bắt đầu xuất hiện
ở Tây Âu vào th ế kỷ XVII, XVIII song tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã manh nha từ thời cổ đại với các triết gia tiêu biểu như Salon, Platon, Arixtốt
và phát triển m ạnh ở thời kỳ trung, cận đại Do đó, cần khẳng định học thuyết
về nhà nước pháp quyền với những giá trị tiến bộ là một di sản văn hoá pháp
ỉí của th ế giỏi
Tuy nhiên, việc vận dụng học thuyết nhà nước pháp quyền ở các quốc gia khác nhau với những chế độ kinh tế, xã hội khác nhau; trình độ và truyền thống khác nhau đều có sắc ihái, màu sắc riêng Bởi nhà nước pháp quyền với việc khẳng định vị trí, vai trò, tính cần thiết của pháp luật; với yêu cầu về sự
Trang 22ĩ7ffễt /r/êíí ùf'ỉífiỉ'nự @ /tể's//fểt/f £9ẻ fSĩ/ti.7 ểtiiíỹc p /ư íp ợi/ị/Ẩ/t SEđĩ /tắ / tí/t/ỉ ểtự/ỉĩs/ (¥/// d/ĩ/L, ế£ơ ếùĩsr, fù f//ĩfỉ.
17
hiển diện của pháp luật và vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ các giá trị
dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân không thể nằm ngoài sự
vận động, sự tác động của các qui luật khách quan
2.2 Các đặc trưng của nhà nước pháp quyền
Như đã khẳng định, tư tưởng nhà nước pháp quyền m anh nha xuất
hiện từ rất sớm Tuy nhiên, cho đến thế kỷ X VII - X V III ở Tây Âu, tư tưởng
nhà nước pháp quyền mới chính thức trở thành m ột học thuyết chính trị pháp
lí Nhà nước được hiểu như m ột tổ chức pháp lí nhằm thực hiện công quyền
Quyền lực Nhà nước phải thuộc về nhân dân, xuất phát từ nhân dân; các giá trị
cơ bản của Nhà nước, của xã hội, các quyền và nghĩa vụ của công dân phải
được điều chỉnh, qui định và bảo vệ bởi pháp luật; mối quan hệ giữa Nhà nước
- công dân phải được giải quyết đúng trên cơ sở sự hiện hữu của pháp luật với
tư cách là đại lượng đảm bảo cho việc thực hiện các quyền dân chủ.Trên cơ sở
rúl ra một số đặc trưng cơ bản sau đây về nhà nước phíỉlMíNí&ỄAl ẩMỉ&ẽAlHQCUi/- „ LU >VP;
PHONgĐỌC
2.2.1 N hà nước pháp quyền là N hà nước mà ở đó ph áp luật được coi là phương tiện N hà nước sử dụng đ ể thực hiện và khẳng định sức mạnh của
công quyền Đ ồng thời nhà nước bị ràng buộc, chê ngự bởi chính pháp luật.
Ở đây, vấn đề cần giải quyết là mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp
luật: vị trí của Nhà nước, vị trí của pháp luật và sự tác động qua lại lẫn nhau
giữa 2 yếu tố này ra sao Đương nhiên phải khẳng định Nhà nước là chủ thể
của quyền lực và pháp luật là phương tiện do Nhà nước ban hành để đảm bảo
thực hiện chức nãng quản lý của chính mình Học thuyết Nhà nước pháp
quyền khi thừa nhận và khẳng định vai trò của pháp luật với tư cách là phương
tiện, nền tảng để duy trì công quyền đã mặc nhiên thừa nhận tính độc lập và
tương tác trở lại của pháp luật với Nhà nước, ở khía cạnh nhất định, Nhà nước
là chủ thể ban hành pháp luật, sons; rõ ràng Nhà nước không thể không; ban
Trang 2377 / / / / ì / é / / / / / fiứ ĩ'n ợ J ổ fi f» ẽ G ỉ/tíì ft/fr tc p / tííp I '///Ị /é r t x ã e /t/i tiợ /tĩa « / / f/f> d a n , r ù
"pháp luật tự nhiên" Ông khẳng định : luật nằm sẵn trong tự nhiên, "bản chất của pháp luật là tự nhiên".Tất nhiên khi ông phủ nhận tính ý chí của pháp luật nghĩa là ông chưa thừa nhận vai trò sáng tạo của Nhà nước với tư cách là chủ thể ban hành và xây dựng pháp luật mà có chăng ông chỉ thừa nhận vai trò của Nhà nước trong việc nhận thức và phản ánh những qui luật của tự nhiên để tạo nên luật Như vậy dù chúng ta chưa thể khẳng định tính chính xác, khách quan trong quan điểm của Arixtot, song rõ ràng ở khía cạnh nhất định, Arixtot đã nhận thức được vị trí khách quan và giá trị khách quan của pháp luật với tư cách là một đại lượng của sự công bằng Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong việc đề cao pháp luật và trong việc xây dựng pháp luật ( mộl nội dung cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ) với tư cách là công cụ, phương tiện của Nhà nước nhằm mục đích bảo vệ các quyền tự nhiên của con người, các giá trị dân chủ, tiến bộ của nhân loại Chúng ta cần đặt việc vận dụng tư tưởng nhà nước pháp quyền trong xu thế của sự phát triển, vận động khách quan của lịch sử thế giới
Salon - triết gia HiLạp cho rằng : Ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp của sức mạnh với pháp luật; với Heraclit "nhân dân phả) đấu tranh bảo vệ luật như bảo vệ chốn nương thân của mình"; Platon lại khẳng định : Chúng ta thừa nhận rằng những nơi mà luật được đinh ra vì iợi ích của một số người thì ở đó không có chế độ Nhà nước, chỉ có thể gọi là Nhà nước nếu như có sự công bằng
Như vậy, có thể thấy khi giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật, các học giả đều khẳng định vai trò cần thiết và tính tất yếu cần có của pháp luật cho dù pháp luật chỉ là phương tiện để đảm bảo, duy trì sự công
Trang 24Ĩ7 Ỉ/H /t/êit /r/ 'fuiíuụ r»ề t/trrícp/táp t/t/ụề/i sài /tót e/tứ nụ/tũ/ rtí /1 tỉ/ỉn, ế/fl (//in, lù í/án.
Khi khẳng định vai trò của pháp luật, các học giả không chỉ chú trọng đến tính tối cao của luật, mà còn chỉ ra vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng pháp luật, trong việc đảm bảo các giá trị khách quan của pháp luật thông qua việc tổ chức, thực hiện quyền lực Nhà nước
Trên thực tế dù có vị trí, vai trò đặc biệt, song pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên sức m ạnh của quyền lực Nhà nước Dĩ nhiên pháp luật do Nhà nước ban hành và sự hoàn thiện của pháp luật luôn gắn với
sự bảo đảm của quyền lực Nhà nước Nếu không có sự phân chia rõ ràng trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước, không có sự thống nhất giữa các cơ quan Nhà nước trong tổ chức thực hiện quyền lực thì không thể đảm bảo tính tối thượng của pháp luật Arixtot đã coi bản chất về tổ chức quyền lực Nhà nước
là sự phân chia về quyền lực Nhà nước với 3 bộ phận lập pháp, hành pháp, và
tư pháp Trong đó lập pháp có chức năng ban hành các đạo luật, hành pháp giữ vai trò thực hiện pháp luật và tư pháp đảm nhiệm vai trò xél xử trên cơ sở luật
Tư tưởng này của ông đã được các học giả tư sản sau này tiếp tục phát triển đặc biệt là trong học thuyết "tam quyền phân lập" của Mongtexkiơ Mục đích của học thuyết này là tìm ra một cơ chế "kiềm chế và đối trọng" trong sử dụng quyền lực giữa các cơ quan Nhà nước khi thực thi quyền lực - không có bất cứ một cá nhân, tổ chức nào có thể đứng trên pháp luật và nằm ngoài sự kiểm soát của pháp luật
Trang 25-77/tr / / / / / / iff ftfitfiff t t t ĩ yV Gỉ/tà nuii'e f/t/t/e/t ã /t<í/ fSt/i rtạSữa eú/ 1 {/Ún, (/rt ////ft-, oi ////ft.
20
Rõ ràng không thể có Nhà nước nào đứng trên pháp luật, hay chúng ta
không chỉ đơn giản coi Nhà nước là thuộc tính số một, pháp luật là thuộc tính
số hai Nhà nước ban hành pháp luật, nhưng yêu cầu về sự hiện hữu của pháp
luật là yêu cầu khách quan xuất phát từ chính bản thân hoạt động quản lý Nhà
nước Pháp luật là phương tiện để quyền lực Nhà nước được thực thi và bảo vệ
Đương nhiên xét về yếu tố kỹ thuật và bản chất của pháp luật thì trình độ và
bản chất của pháp luật lại là kết quả của sự thể hiện ý chí và trình độ của Nhà
nước Tuy nhiên, Nhà nước không thể coi nhẹ các giá trị xã hội của pháp luật,
không thể không tính đến các nhu cầu khách quan cần được điều chỉnh bằng
pháp luật của xã hội Xét đến cùng Nhà nước và Pháp luật đều là hai thành tố
thuộc thượng tầng chính trị pháp lí - nghĩa là chúng đều phải chịu sự tác động,
chi phối của các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp cầm quyền, của các
tiền đề kinh tế - xã hội
2.2.2 N hà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đó m ột trong những
vãn đê được nhà nước chú ý giải quyết là tổ chức quyền lực nhà nước.
Trên cơ sở khẳng định sự cần thiết, khách quan của pháp luật trong tổ
chức và thực thi quyền lực Nhà nước, học thuyết nhà nước pháp quyền cũng
đặt ra một vấn đề hết sức quan trọng về cách thức phân chia quyền lực Nhà
nước giữa các hệ cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong sự tác động
qua lại và kiềm chế lẫn nhau, tránh sự lạm quyền, lộng quyền sự vi phạm các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Nguyên tắc phân chia quyền lực là một nguyên tắc bất di bấl dịch
dược thể hiện trong tư tưởng của các học giả Phương Tây về mô hình nhà nước
pháp quyền, đặc biệt là trong tư tưởng của J.Locco' và M ongtexkiơ (thế kỷ
XVIII) Tuy nhiên, ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tướng đã bắt đẩu đề cập đến
nguyên tắc phân quyền trong tổ chức quyền lực Arixtot đã đề cập đến nguyên
tắc này khi thiết kế xây dựng mô hình Nhà nước với ba cơ quan : cơ quan làm
ra luật, cơ quan thi hành luật và cơ quan xét xử Sau này M ongtexkiơ lại đưa
ra quan điểm về Tự do chính trị trong dó công dân có quyền " làm tất cả
Trang 267 7 / / / /tí'?// /ít'fi/'tí'/iụ J/'jfi @ /i/.//ừtr/t tié WSùi nu/7'f' p /iá p ợ t/Ị/t/t sa ĩ /tÂt e/tú n ụ /tữ t a ỉtz t/íirt, t/rỉ tù (//in.
21
những gì mà pháp luật cho phép" Chính phủ phải được tổ chức hợp lí, quyền
hạn của chính phủ phải được qui định chặt chẽ trong luật và Chính phủ" chỉ
được làm những gì mà pháp luật cho phép" Ông cũng cho rằng xu thế chung
là những người có quyền luôn lạm dụng quyền lực; người dân trước bộ máy
Nhà nước luôn ở vị thế yếu hơn Để Chính phủ không lạm dụng quyền lực và
các quyền tự do, dân chủ của công dân được bảo đảm cần áp dụng nguyên tắc
"quyền hành ngăn chặn quyền hành" Quyền lực nhà nước phải được chia
thành 3 quyền : quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp theo cơ
chế kiềm chế đối trọng giữa Nghị viện (cơ quan thực hiện quyền lập pháp) với
Chính Phủ (cơ quan đảm nhiệm quyền hành pháp) và toà án (cơ quan thực
hành quyền Tư Pháp) sao cho không m ột cơ quan nào nắm toàn bộ quyền lực
Với nội dung này, học thuyết phân chia quyền lực của M ongtexkiơ đã tấn
công quyết liệt vào chế độ quân chủ phong kiến với vai trò tối thượng của Nhà
Vua( đứng trên pháp luật và không phải chịu trách nhiệm đối với thần dân của
mình) và học thuyết này còn thực hiện mục đích bảo vệ các quyền tự nhiên
của giai cấp tư sản đang lên Hiếp pháp Mỹ năm 1787, tuyên ngôn của Pháp
về quyền của con người và của công dân năm 1789 đã thể hiện tương đối rõ
nét nguyên tắc này trong tổ chức và thực thi quyền lực của Nhà nước
"Những cơ sở triết học cho học thuyết về nhà nước pháp quyền" lại căn cứ vào
sự tồn tại hay không tồn tại của chế định phân công quyền lực để phân biệt hai
hình thức cầm quyền : nhà nước pháp quyền và Nhà nước độc tài Theo ông,
chủ quyền nhân dân chỉ có thể tồn tại trong thực tế trên cơ sở việc phân chia
quyền lực phải được coi là một nơuyên tắc quan trọng nhất của tổ chức quyền
lưc Nhà nước Như vậy nguyên tắc quyền lực Nhà nước được phân chia có
xuất phát điểm từ những yêu cầu khách quan trong việc hạn chế sự lạm quyền,
lộng quyền, chuyên quyền của tổ chức, cá nhân khi sử dụng quyền lực để
bảo vệ các quyền tự nhiên của con người
Trang 277 7 / / / /riẽ/í ftí'ffiirí'/tợ ////fi/i tữ W /itì trt/fífJ p /ư íp t/t/Ị/ên zerĩ /tô ỉ e/iủ Itợ/rũi ft/it t/ã n , (/r> t/à / 1 , fù (/íin.
22
Sau này, tư tưởng phân quyền ở học thuyết nhà nước pháp quyền vẫn tiếp tục được khai thác và sử dụng trong việc xây dựng mô hình bộ máy Nhà nước ở các nước tư sản hiện đại Phân quyền trở thành nguyên tắc bắt buộc trong xây dime nhà nước pháp quyền tư sản Nhà nước pháp quyền tư sản đòi hỏi phải có sự phân chia rạch ròi giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các qui định của pháp luật thực định Cách phân chia quyền lực này đảm bảo sự vận hành thống nhất của quyền lực Nhà nước, trong việc duy trì trật tự pháp luật và việc bảo vệ các quyền dân chủ ở các nước tư sản Trên thực tế, mỗi hệ cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có vị trí độc lập song chúng nằm trong mối quan hệ kiểm soát, ràng buộc và đối trọng lẫn nhau.Nếu như nguyên tắc "phân quyền" là một nguyên tắc bắt buộc trong tổ chức
và thiết kế quyền lực ở các nước tư sản, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa xuất phát từ bản chất và chế độ chính trị của Nhà nước( Quyền lực Nhà nước xuất phát từ nhân dân, thuộc về nhân dân và vì nhân dân) bộ máy nhà nước được thiết k ế theo một mô hình phù hợp nhằm đảm bảo chủ quyền nhân dân và các giá trị dân chủ thực sự Giai cấp tư sản trong cuộc cách mạng nhằm lật đổ địa chủ, phong kiến với một nhân vật trung tâm của quyền lực:" Nhà Vua" đã tìm thấy ở nguyên tắc" phân quyền" một đáp án thích hợp để tổ chức quyền lực nhà nước trên cơ sở sự" kiềm chế và đối trọng" giữa các cơ quan khi thực hiện
3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Thì với nguyên tắc" quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân'1, với mục đích xây dựng nhà nước" của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân", xây dựng chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân nguvên tắc tập quyền (quyền lực tập trung) trong tổ chức quyền lực nhà nước lại là nguyên tắc không thể thay đổi khi xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Xéí đến cùng, việc phân chia quyền lực nhà nước và đưa ra các nguyên tắc trong tổ chức quyền lực trên cơ sở các qui định của pháp luật thực định (pháp luật hiện hữu) cuối cùng vẫn chỉ nhằm thực hiện bản chất giai cấp của nhà nước - cái ý chí của giai cấp thống trị trong nhà nước - trên cơ sở thừa nhận, tôn trọng hoặc bảo vệ những qui luậl khách quan của vận động xã hội Nói như vậy cũng có nghĩa việc lựa chọn nguyên
Trang 28b7? m / t i ê j / / í t '//f( in ụ & t/J ? /in /t W f? ữ ư ì n tứ íe p /u íp , Ợ //Ị/Í -/1 í f ũ /r /ít' e / i / í ttụ /iũ i n ia t/A tí, ( /fí f / / ĩ / t ý c ù
23
tắc nào trong tổ chức quyền lực nhà nước phụ thuộc vào sự tiến bộ và bản chất
chính trị của chính giai cấp cầm quyền trong nhà nước
Điều ghi nhận và đánh giá cao trong học thuyết nhà nước pháp quyền
là học thuyết đã đặt vấn đề về tổ chức quyền lực giữa các cơ quan nhà nước
như một nguyên tắc để đảm bảo dân chủ và trật tự pháp luật luật Các học giả
của học thuyết nhà nước pháp quyền đã xuất phát từ chính yêu cầu nội tại của
hoạt động quản lý nhà nước, từ việc khẳng định vai trò của pháp luật với nhà
nước, từ việc thừa nhận và khẳng định các quyền tự nhiên, quyền con người
và quyền công dân để tìm kiếm và lí giải mối quan hệ giữa nhà nước và pháp
luật, giữa việc tổ chức quyền lực nhà nước và việc đảm bảo các thiết chế dân
chủ Do đó khi nghiên cứu nguyên tắc" phân quyền" trong xây dựng nhà nước
pháp quyền tư sản hay nguyên tắc "tập quyền" trong xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa cần xuất phát từ yêu cầu nội tại của xã hội (Với tư
cách là nền móng của việc nghiên cứu, khởi nguồn và phát triển của hệ tư
tưởng), vấn đề bản chất nhà nước, vai trò của pháp luât trong nhà nước, vai trò
của nhân dân trong xây dựng và tổ chức quyền lực nhà nước, mục đích cuối
cùng trong sự thống nhất của quyền lực nhà nước Từ đó giải quyết mối
quan hệ và xác lập vị trí giữa các hệ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp khi
thực hiện các quyền năng tự nhiên của bất cứ nhà nước nào Đương nhiên ở
đây câu hỏi cuối cùng vẫn là : quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp nào, thuộc về ai?
2.2.3 N hà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đó quyền con người
và quyển công dân được khẳng định và đảm bảo thực hiện; là nhà nước mà
trong đó mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được xác định và giải quyết
đúng đắn.
Việc khẳng; định vai trò quan trọng, cần thiết của pháp luật trong nhà
nước và sự cần thiết tìm ra một cơ chế hợp lí trong việc tổ chức quyền lực của
nhà nước là những giá trị quan trọng, cơ bản của học thuyết nhà nước pháp
quyền tuy nhiên đây không phải là giá trị duy nhất của học thuyết này Lịch
sử các học thuyết chính trị pháp lí đã cho thấy ở bất cứ thời kỳ nào việc xem
Trang 29- y 7 // / /rtêt/ fttfr/'A'nff ttê ftỉ/tà n/fií'r p /tá p ại/ụes/ rfii /ttjf (Jut /lự/rũ/ etí/t //Ún, tfa {ft ///in
24
xét, đánh giá vai trò của pháp luật cũng được nhà nước quan tâm, giải quyết Xét đến cùng nhà nước nào cũng phải có pháp luật và quyền lực nhà nước chỉ được duy trì trên cơ sở của pháp luật cho dù đó là nhà nước dân chủ hay phi dân chủ Do đó, cùng với việc khẳng định vai trò và giá trị của pháp luật, một trong những nội dung quan trọng của nhà nước pháp quyền là giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với công dân trên cơ sở nguyên tắc bảo vệ các quyền con người và quyền công dân - chính điều này mang lại cho học thuyết nhà nước pháp quyền giá trị đích thực và bền vững
Các học giả tiêu biểu của học thuyết nhà nước pháp quyền đều khẳng định : Nguồn gốc của quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước cho dù khái niệm nhân dân có thay đổi cùng với sự phát triển của lịch sử Salong( 638-559 TCN) cho rằng ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật Trong khi đó Platon khẳng định : nơi mà luật làm
ra vì lợi ích của môt số người thì ở đó không có chế độ nhà nước
Trong giai đoạn cách mạng tư sản với mục đích nhằm lôi kéo và thực hiện sự liên minh giai cấp; giai cấp từ sản đã giương cao khẩu hiệu tự do, bình đẳng và dân chủ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ và "Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân" 1789 của Pháp đã ghi nhận hàng loạt các quyền con người và quyền công dân Trong đó quyền con người được coi là các quyền không thể tách khỏi con người, là khả năng thực hiện các đặc quyền tự nhiên và khách quan của con người với tư cách là thành viên của xã hội; còn quyền công dân có tính xác định hơn, gắn với từng quốc gia và do pháp luật quốc gia qui định
Như vậy, việc ihừa nhặn và bảo vệ các quyển con người và quyền công dân là một nội dung quan trọns trong việc đảm bảo các giá trị dân chủ thực sự khi xây dựnu mô hình nhà nước pháp quvền Tuy vậy các qui định về quyền con người và quyền công dân trong pháp luật không đồng nhất với việc đảm bảo thực hiện các quyền đó ở các quốc gia Chún^ ta không chỉ thừa nhận sự
Trang 30vTĩrtt /i/êu / // /tfji/ijff Jfa? @/ti ////tt/t nê Vỉ/rri ttuiie p/ts/jL> {//ff/s/r seã /ttĩ/ e/tíí Itự/t/í/ (riff t/ỉi/ 1 , í/r) /lì í/ân.
Việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với công dân ở các quốc gia khác nhau có thể rất khác nhau song các quốc gia đều thống nhất đề cao các giá trị dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của con người, vì sự công bằng
và tiến bộ Đương nhiên trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước ( xét
về bản chất luôn bảo vệ trước hết cho lợi ích của giai cấp thống trị) với công dân, Nhà nước phải được nhìn nhận như m ột tổ chức công quyền nhằm dung hòa, điều hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, nhóm cư dân vì lợi ích chung của toàn xã hội.N hà nước và công dân đều bị ràng buộc bởi pháp luật - với vai trò là đại lượng đảm bảo pháp lí ( xây dựng các cơ sở và các định khung pháp lí) Sẽ rất m ơ hồ khi bàn đến vấn đề dân chủ trong mối quan hệ giữa nhà nước - công dân, trách nhiệm của nhà nước với công dân và công dân trước nhà nước nếu như mối quan hệ này không được qui định cụ thể trong luật Phải nhấn m ạnh trong nhà nước pháp quyền không chỉ công dân có nghĩa
vụ với nhà nước mà nhà nước cũng có nghĩa vụ với công dân thông qua việc xây dựng các hành lang pháp lí cụ thể đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa
vụ pháp lí của công dân Ngược lại nhà nước pháp quyền đòi hỏi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật trên nguyên tắc "có quyền làm tất cả
của pháp luật
Trang 31ĨT Ỉn t A if / í h r ///t in // J /r i f^ /tt ///t 'n /r r*f f? ỉ/t à n u ifa p /u ip ỉ///ụ f /t J W /lô t e /iú rtự /iĩư f i/s / r f /it i, f/f> ( //in p i ///ỉn
26
3 CÁC GIÁ TRỊ C ơ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYEN
thể thấv học thuyết Nhà nước pháp quyền với những hạt nhân khoa học đã
thực sự mang lại những giá trị to lớn cho việc xây dựng và tổ chức quyền lực
nhà nước trong giai đoạn hiện nay Việc xây dựng các thiết chế dân chủ, đảm
bảo thực hiện các thiết chế đó thông qua bộ máy nhà nước tương xứng đang là
thước đo cho sự tiến bộ Ở đó các vấn đề về quyền con người và quyền công
dân không chỉ là vấn đề đơn lẻ ở từng nước, mà của cả nhân loại trong quá
trình xây dựng một trật tự thế giới hòa bình
Đương nhiên để thực hiện và đảm bảo thực hiện cho được các yêu cầu
này cần phải đánh giá đúng vai trò của pháp luật với tư cách là phương tiện
mang lại sức mạnh thực tiễn cho hoạt động quản lí, là thước đo và là các bảo
hệ giữa nhà nước và công dân
Như vậy, Nhà nước pháp quyền với các giá trị cơ bản như: Đề cao
pháp luật và giá trị nhân văn của pháp luật; đề cao chủ nghĩa lập hiến; khẳng
định nguồn gốc của chính quyền là ở nhân dân; đề cao vai trò của các cơ quan
tư pháp; đảm bảo các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân vẫn giữ nguyên giá tộ khoa học và ý nghĩa tiến bộ trong giai đoạn hiện nay
Khi đặt vấn đề cần tổ chức quyền lực Nhà nước họp lý trong Nhà nước
pháp quyền và đảm bảo cho quyền lực ấy phục vụ nhân dân, thuộc về nhân
dân cáu ỈIỌC giả tiêu biểu của học thuyết Nhà nước pháp quyền đã đề cao
tính hợp hiến trong tổ chức và hoạt động của nhà nước song song, đồng thời
với việc khắng định, đề cao vai trò và giá trị nhân văn của pháp luật với tư
cách là một đại lượns, chung đảm bảo và thực hiện cồng bằng xã hội Tất
nhiên" pháp luật trong nhà nước pháp quyền là pháp luật mang tính nhân văn
Trang 327r/n /liéỳt /li firri'f tợ w*ĩ ể / w ' Mrt/i oê f?ỉ/tà fttf iri'r p/itíp ạtyự/n xã /t/iỉ fViii nụ/tĩi/ erí / 1 < '/'///, t/ữ s//í/r, rù
có chấp nhận hay không Pháp luật tự nhiên là pháp luật căn bản, tồn tại một cách tự nhiên, vĩnh cửu, bất di bất dịch (Arixtốt) H ọc thuyết pháp luật tự nhiên tiếp tục phát triển rực rỡ trong th ế kỷ X VIII, XIX ở Châu Âu với các đại diện tiêu biểu như M ongtexkiơ, Rutko, Locker .Theo quan điểm của họ pháp luật tự nhiên bắt nguồn từ các quyền tự nhiên của con người như quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu Do đó pháp luật tự nhiên luôn đứng cao hơn pháp luật thực định Với quan điểm này, các học giả theo học thuyết pháp luật tự nhiên đã cố gắng tìm ở tự nhiên những qui chuẩn m ang tính khuôn mẫu của pháp luật từ đó phủ định hoặc đánh giá không đúng vai trò của Nhà nước trong viêc nhân thức, phản ánh các qui luât tự nhiên, trong việc xây dựng những qui tắc sử xự mới để điều chỉnh trật tự xã hội Đ iều này có nghĩa các học giả đã phủ nhận bản chất quan trọng nhất của pháp luật đó là tính ý chí (ý chí của giai cấp, của các lực lượng trong xã hội) hoặc họ có thừa nhận tính ý chí của pháp luật song lại cho rằng cái ý chí ấy là ý chí của tự nhiên, của ý niệm (HêGhen)
Trong khi đó, các học giả theo thuyết "Pháp luật thực định" (thế kỷXIX) lại cho rằng : Pháp luật thực định là cơ sở của trật tự và ổn định xã hội,
họ đề cao cái hiện hữu, cái đang tồn tại bởi sau khi đã nắm được quyền lực giai cấp tư sản không còn m uốn chia sẻ quyền lực, không muốn thừa nhận các giá trị xã hội của pháp luật Lúc nàv hoc Ihuyết pháp luât thưc đinh chính là
cơ sở cho sự bảo vệ ý chí duy nhất của giai cấp tư sản
Tuy nhiên khi xem xét pháp luật và các giá trị của nó không thể không đặt pháp luật trong trạng thái vận động của xã hội cũne, như không thể phủ nhận giá trị khách quan của pháp luật và vai trò của pháp luật trons, việc phản
Trang 33~7ì/ff /ỉ/Vỉ/ f/f '/íiírỉềĩợ (&/r/V///ff/r fw W/rrY ntiii'f p/tftp, ế/tíựắt stH M S tVttf ftự/rĩ/i &/SI ế/sĩ/ty f/í9 f//ĩn f fù fitin*
28
ánh, điều chỉnh, kích Ihích hoặc kìm hãm sự vận độne và phát triển của các quan hệ xã hội Đồng thời cũng không thể phủ nhận tính ý chí và bản chất giai cấp của pháp luật với tư cách là công cụ, phương tiện để duy trì và trấn áp giai cấp của Nhà nước Ở đây nhà làm luật không sáng tạo ra luật mà chỉ khám phá ra các qui luật của tự nhiên:" Nhà làm luật cần nhìn vào mình như một nhà thực nghiệm tự nhiên Nhà làm luật không làm ra luật, không phát minh
ra luật, mà chỉ hình thành ra nó, thể hiện vào trong các đạo luật tốt và đã được nhận thức những qui luật nội tại của các quan hệ tinh thần"[5, tr.162]
Như vậy vai trò của nhà làm luật hay của Nhà nước là phải nhận thức đúng và kịp thời phản ánh các qui luật vận động của thực tại khách quan Càng làm tốt điều này giá trị khách quan của pháp luật càng được khẳng định Tất nhiên ở đây đòi hỏi nhà làm luật phải có trình độ trong khi thực hiện quá trình phản ánh tự nhiên Sự sáng tạo của con người với pháp luật là quan trọng song con người không được phép thoát khỏi hiện thực khách quan
Bên cạnh việc khảng định vai trò tối thượng của pháp luật, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc giá trị của các học thuyết về pháp luật, khi đánh giá và xem xét giá trị của pháp luật cần đặt pháp luật trong hàng loạt mối quan hệ vận động Pháp luật với tư cách là một yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc pháp lí không thể nằm ngoài sự tác động, chi phối của các qui luật khách quan Do đó chúng ta không được phép quên đi tính chất xã hội của pháp luật, chức năng phản ánh của pháp luật - chính điều này đã mang lại giá trị thực tiễn và chất lượng cho hệ thống pháp luật Việc thực hiện tốt bản chất xã hội còn mang lại cho pháp luật tính hợp lý, khách quan, khả năng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát triển xã hội của pháp luật Với tư cách là phương tiện, công
cụ thực hiện hoạt động quản lý của Nhà nước, pháp luật là cơ sở để đảm bảo thực hiện bản chất của Nhà nước Pháp luật có trách nhiệm đảm bảo cho việc thực hiện công khai, họp pháp của quyền lực nhà nước thông qua các qui phạm có tính phổ biến và có tính bắt buộc chung
3.2 N hà nưóc p h áp quyền vói việc đề cao chủ nghĩa lập hiến
Trang 34Ĩ7ỉttt /ttêtt ý^/i/ ///in /í íữ O ỉ/uì atúĩe fj/ưí/> ợ ttọ ầ t snĩ /tó i e/ni n ợ /tĩa etía í/sĩ/t, //sỉ (/âtr, n ì i/ếỉ/ĩ.
29
Học thuyết Nhà nước pháp quyền chính thức xuất hiện ở Tây Âu vào thế kỷ XVII, XVIII Mục đích của nó là giúp cho giai cấp tư sản tập hợp lực lượng trong cuộc cách mạng tư sản nhằm lật đổ chế độ phong kiến chuyên quyền Với ý nghĩa như vậy, cùng với việc đưa ra mô hình Nhà nước pháp quyền giai cấp tư sản giương cao ngọn cờ của "chủ nghĩa lập hiến" với khẩu hiệu : Hạn chế quyền lực của nhà vua và bảo đảm các quyền tự do cá nhân Đây được coi như một nội dung quan trọng trong việc xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền tư sản
Như vậy thực chất sự xuất hiện của chủ nghĩa lập hiến trong Nhà nước pháp quyền lại xuất phát từ đòi hỏi được khẳng định địa vị chính trị của giai cấp tư sản đang lên trong cuộc tranh giành quyền lực với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Tuy nhiên nếu gác lại một bên xuất phát điểm và ý chí thực
sự của giai cấp tư sản khi đề cao chủ nghĩa lập hiến, để xem xét những giá trị tích cực về m ặt nội dung của chủ nghĩa lập hiến trong cách mạng tư sản chúng
ta có thể tìm thấy ở đó những giá tri khoa học và thực tiễn trong việc khẳng định vai trò của pháp luật và cơ chế xây dựng pháp luật trong Nhà nước pháp quyền hiện đại
M ột nội dung hết sức quan trọng của chủ nghĩa lập hiến là yêu cầu về
sự hiển diện và vị trí tối thượng của Hiến Pháp không chỉ trong hệ thống pháp luật thực định mà trong toàn bộ đời sống xã hội Trên thực tế, một hệ thống pháp luật mạnh phải là một hệ thống mà ở đó Hiến Pháp và các đạo luật phải phát huv được sức mạnh và hiệu lực thực tế Sự ghi nhận vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật chính là căn cứ pháp lí đầu tiên cho sự thống nhất, đồng bộ và cấu trúc logic chặt chẽ về nội dung của hệ thống pháp luật Hiến
trong hệ thống pháp luật có nghĩa vụ phải qui định và giải quyết cho được những vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước như : các vấn đề thuộc về bản chất Nhà nước, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, chế độ kinh tế, các vấn
đề về quyền con người và quyền cône, dân Các quan hệ xã hội cơ bản nhất,
Trang 35V//U ////"// f i t ' ft/'tiitff {J/i/ ///Stt/t íỉê Vỉ/ttì fH/rff p/ưíp f///ụé/t nrsỉ / l Á ì H ự /lữ / «/<-/ s/íĩrt, t/t) dân, f)f f/ũ/t.
30
phổ biến nhất và điển hình nhất phải được qui định và điều chỉnh bởi Hiến
Pháp Các qui định tại Hiến pháp phải được coi như những nguyên tắc bất khả
xám phạm Đ iều này có nghĩa một Hiến pháp tốt, có giá trị, có chất lượng sẽ
là cơ sở cho sự thống nhất của hệ thống pháp luật, ở một khía cạnh nhất định,
Hiến Pháp còn được coi như thước ngắm các giá trị dân chủ trong một nhà
nước
Với việc xác định và đề cao vai trò của Hiến Pháp và các đạo luật rõ
ràng chú nghĩa lập hiến không thể xuất hiện ở thời kỳ cổ đại và trung đại
Song tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật và thứ bậc của các qui phạm khuôn
mẫu đã có từ những chế định chính trị pháp lí của các thời kỳ trước.Thời kỳ
này, H eraclit - nhà triết học cổ đại - đã thấy sức mạnh to lớn của pháp luật và
cho rằng:" nhân dân cần phải đấu tranh bảo vệ luật như bảo vệ chốn nương
thân của mình"
M ột giá trị hết sức quan trọng của chủ nghĩa lập hiến trong cách mạng
tư sản là cùng với việc khẳng định sự cần và phải có của Hiến Pháp, các học
giả tư sản đặt vấn đề tự do, dân chủ, quyền con người và quyền công dân như
một nội dung quan trọng của học thuyết Sự xuất hiện của Hiến Pháp Mỹ năm
1787 và Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của Pháp năm
1789 đã m ang lại cho chủ nghĩa lập hiến lên những giá trị mới Lúc này, vấn
đề quan trọng là phải tổ chức quyền lực như thế nào để đảm bảo cho việc thực
hiện các thiết chế dân chủ và dọn đường cho sự xuất hiện của học thuyết phân
quyền trong tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản
quyển là ở n h â n dân
Hệ thống pháp luật dân chủ đã tạo nên mối quan hệ tương đối bình
đẳng giữa Nhà nước và công dân Đây là một đặc trưng hết sức quan trọng
trong lý luận của học thuyết nhà nước pháp quyền Khi xem xét mối quan hệ
giữa nhà nước - công dân trong nhà nước pháp quyền chúng ta cần phải xuất
phát lừ những vấn đề liên quan đến bản chất nhà nước, nguồn gốc của quyền
Trang 36ĨTìrtt /riêu /tí'/triíttự fj/t/ ///ù i/r rứ w /tà n u ííc p/táp Ợ írụ/n arsĩ /i/)ie /u í n ợ /lũ / ớúa M /r, f/f> t/íirr, a i dân.
31
lực nhà nước, tính giai cấp của nhà nước, mối quan hệ giữa nhà nước - công dân và trật tự pháp luật Từ đó trả lời cho câu hỏi: ở nhà nước pháp quyền pháp luật giữ vị trí nào trong việc đảm bảo thực hiện mối quan hệ giữa nhà nước với công dân Trong khi nhà nước với tư cách là m ột tổ chức thực hiện hoạt động quản lý và thiết lập m ột quyền lực công cộng đặc biệt trong phạm vi lãnh thổ trên cơ sở hệ thống pháp luật tương ứng, thì khái niệm công dân lại nghiêng về góc độ cụ thể : những đối tượng của quản lý nhà nước và gần như đồng nghĩa với khái niệm "thần dân" trong thời kỳ cổ đại, phong kiến Do vậy m ặc dù mối quan hệ giữa nhà nước - công dân là mối quan hệ bình đẳng song không cào bằng Theo đó công dân có quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật, công dân được Nhà nước bảo vệ về các quyền tự do dân chủ, quyền và nghĩa vụ hợp lý song cùng với nó là nghĩa vụ phải tuân thủ các qui định của Nhà nước Ngược lại nhà nước có nghĩa vụ xây dựng các thể chế pháp luật, hành lang pháp lý cho việc đảm bảo các quyền tự nhiên của con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tất nhiên cả nhà nước và công dân đều phải tuân thủ theo pháp luật và không thể đứng trên pháp luật
H ọc thuyết nhà nước pháp quyền không xem xét mối quan hệ nhà nước và công dân m ột cách khô cứng, riêng lẻ m à đã tìm thấy trong việc giải quyết mối quan hệ này vai trò của công dân với nhà nước : công dân là chủ thể của quản lí nhà nước, là sức m ạnh của quyền lực nhà nước, là nguồn gốc và đổn£ thời là m ục đích cuối cùng mà quyền lực nhà nước phục vụ H ọc thuyết nhà nước pháp quyền khẳng định nguồn gốc chính quyền là ở nhân dân Nhà nước tìm thấy ở nhân dân sức m ạnh vật chất trong xây dựng và bảo vệ chính quyền Đồng thời nhà nước lại là thiết chế được xây dựng để phục vụ nhân dân, dung hòa tương đối lợi ích của các cá nhân trong xã hội Sẽ không có nhà nước pháp quyền nếu như nhà nước chỉ lo bảo vệ lợi ích của giai cấp mình mà quên đi lợi ích của cộng đồng Trong nhà nước pháp quyền việc thực hiện và bảo vệ chức năng xã hội cũng hết sức quan trọng Tuy nhiên khi thực hiện các chức năng xã hội, nhà nước không được phép coi nhẹ việc thực hiện các chức
Trang 37Í7 ĩttt /itê/t ỉưỉtíiínự &/r/ ////'/r/i iff w /tà niúỉe p/táfiL f/rn/e/r Xfĩ ểttii efuí nụ/tĩa aưi /íf) í/âtL, rù t/à//.
32
năng giai cấp bởi chức năng giai cấp chính là cơ sở đảm bảo quyền lực chính trị và sự tồn tại của nhà nước
3 4 Nhà nước pháp quyển với việc đề cao vai trò của các cơ quan tư pháp.
M ột trong những vấn đề quan trọng của nhà nước pháp quyền là việc
tổ chức quyền lực nhà nước và đảm bảo tính dân chủ trong tổ chức quyền lực nhà nước.Tất nhiên vấn đề đặt ra là phải tìm cho được một cơ chế phân công
và chia sẻ thích hợp giữa ba quyền tự nhiên của bất cứ nhà nước nào: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Cho dù vận dụng nguyên tắc phân quyền trong mô hình nhà nước tư sản hay nguyên tắc tập quyền trong mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa thì việc đề cao vai trò của các cơ quan Tư pháp là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tính dân chủ trong phân công quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước
Ngay từ thời c ổ đại Arixstot đã cho rằng trong bất cứ Nhà nước nào cũng cần đến ba hệ cơ quan : cơ quan làm luật, cơ quan thi hành luật và cơ quan xét xử Sau này M ôngtexkiơ với thuyết "Tam quyền phân lập" đã đưa tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước thành một nguyên tắc trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản Theo ông khi "quyền tư pháp gắn với quyền lập pháp thì cuộc sống và tự do của công dân sẽ bị chi phối bởi sự tuỳ tiện của một vị quan toà ( vị quan toà này chính là người làm luật), còn nếu quyền Tư pháp gắn liền với quyền hành pháp thì quan toà sẽ thành kẻ áp bức" [27, tr.36] Do đó việc xác định vị trí độc lập cho cơ quan Tư pháp trong mối quan
hệ với hệ cơ quan hành pháp và hệ cơ quan lập pháp sẽ đảm bảo duy trì trật tự Nhà nước, trật tự pháp luật từ đó đảm bảo các quyền tự do dân sự và tự do chính trị của công dân
Khi xem xét vai trò của các cơ quan tư pháp, các học giả theo học thuyết nhà nước pháp quyền đã xem xét mối quan hệ giữa 3 hệ cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp; từ đó khẳng định vị trí độc lập của hệ cơ quan tư pháp trong khi thực thi quyền lực, trong khi tiến hành kiểm tra việc thực hiện các quyền hành pháp, quyền lập pháp; trong việc bảo vệ các quvền tự nhiên
Trang 38ĨTrrti St/e / 1 tư '//íiỉrtự ãKã rữ w /từ /U íiíep/tsíp ợ/tụềtt /tộ / rrợ /iũiÍtíư í/ếỈM, t/o t/ã/i? rù /////!.
33
của con người và quyền của công dân khi bị xâm hại Rõ ràng hệ cơ quan tư pháp đã tồn tại như một thiết chế bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực thi N hờ bộ máy công quyền này mà pháp luật được đảm bảo thực hiện
và phát huy sức m ạnh của nó
Bên cạnh đó việc khẳng định vai trò của các cơ quan Tư pháp còn xuất phát từ chính các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động nội bộ của hệ cơ quan này : các cơ quan thực hiện chức năng tư pháp hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Như vậy với việc xây dựng các qui định pháp lí tạo cơ sở cho hoạt động của hệ cơ quan tư pháp, pháp chế và trật tự pháp luật sẽ được đảm bảo thực hiện
Tuy nhiên ngoài việc xây dựng các qui định về m ặt pháp lí cho sự tồn tại của hệ cơ quan tư pháp nhằm đảm bảo hiệu lực và vai trò thực sự của các
cơ quan Tư pháp trong việc kiểm tra, giám sát và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, N hà nước cần phải chú ý đến việc xây dựng các qui định có tính pháp lí trong hoạt động nội bộ trong hệ thống cơ quan này Tính chặt chẽ của
cơ cấu tổ chức nội bộ, trình độ của cán bộ tư pháp sẽ tạo nên một cơ chế đồng
bộ cho hoạt động của các cơ quan tư pháp Đương nhiên điều này sẽ dẫn tới loại hỏ tình trạng lạm quyền, lộng quyền của các cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền lực, loại bỏ các hành vi xâm hại lợi ích Nhà nước và lợi ích của công dân
V iệc khẳng định vai trò của hệ cơ quan Tư Pháp trong mô hình Nhà nước pháp quyền đã đặt hệ cơ quan tư pháp trong trạng thái kiềm chế đối trọng với hệ cơ quan lập pháp và hệ cơ quan hành pháp Tính độc lập của Tư pháp phụ thuộc vào chính các qui định của pháp luật về chức năng của hệ cơ quan này cũng như các nguyên tắc tổ chức và hoạt động nội bộ của nó Do đó tuỳ thuộc vào đặc điổm văn hoá, truyền thống dân tộc và bản chất nhà nước
mà mỗi quốc gia lựa chọn nguyên tắc tập quyền hay nguyên tắc phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước Tuv nhiên dù lựa chọn nguyên tắc nào vêu cầu đặt ra là phải đảm bảo vị trí độc lập của hệ cơ quan tư pháp và nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật trong hoại động của hệ cơ quan này
Trang 39Ĩ7ìftt /tiê/i /ff'ửáỉ'nạ @ /úy///ft/t rtr V Ỉ/uì n ííííe p /trí/ỉ t/tiự ê/t ,r/ĩ /tõ{'e/iứ nự/ũrt ( r ó i / t/sĩst, í/n tù /tí, lù f/ã /i.
34
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Đây là tiêu chí quyết định trong đánh giá kết quả của việc xây dựng
mô hình nhà nước pháp quyền và là một trong những giá trị nhân văn quan
trọng và tiến bộ của học thuyết này Xét đến cùng không chỉ trong nhà nước
pháp quyền vấn đề về tổ chức quyền lực nhà nước và xác định vai trò của pháp
luật trong nhà nước mới được đặt ra Tuy nhiên chỉ ở học thuyết nhà nước
pháp quyền việc thực hiên các quyền tự nhiên của con người, các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân mới được coi là nguyên tắc quan trọng chi phối
hoạt động tổ chức quyền lực nhà nước, xây dựng pháp luật Các học giả của
học thuyết nhà nước pháp quyền không chỉ dừng lại ở việc đề cao các quyền
dân chủ thuộc về con người (các quyền tự nhiên và các quyền được thừa nhận
bởi nhà nước) mà còn đặt yêu cầu về việc xây dựng cơ chế đảm bảo thực hiện
các quyền ấy, song song và đồng thời với việc tổ chức quyền lực nhà nước,
xây dựng bộ máy nhà nước, xây dựng pháp luật Việc thực hiện các quyền
công dân phụ thuộc vào khả năng thực hiện hoạt động quản lí của nhà nước,
vai trò của nhà nước trong việc nhận thức, phản ánh, điều tiết hay thúc đẩy
các giá trị khách quan của tồn tại xã hội
Do đó cùng với việc ghi nhận các quyền con người, quyền công dân
học thuyết nhà nước pháp quyền đã đưa ra cách thức tổ chức quyền lực nhà
nước nhằm bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp
của cônơ dân Với ý nghía này, nhà nước pháp quyền với các giá trị thực tiễn
cuả nó không chỉ dừng lại trong phạm vi lý luận của một học thuyết chính trị
pháp lí mà thực sự đã trở thành một mô hình lí tưởng cho tổ chức thực hiện
quyền lực nhà nước trong xã hội công dân
Trang 407 i/ / / /liêít f// 'íiứbiự & tí ///t'n/i lữ Wỉ/i/ì ruiiĩe p /tííp í/jf//ẽfr íeã /ló i f/u i >tụ/ũ/i ( r ó i í/â n , ế/t) tù in , tù t//ĩ/r.
35
CHƯƠNG II
TÌM HIỂU T ư TƯỞNG H ổ CHÍ MINH VỂ NHÀ NƯỚC PHÁP
Q UYỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN, v ì DÂN
Học thuyết nhà nước pháp quyền là một học thuyết chính trị - pháp lí với những giá trị cơ bản: đề cao vai trò của pháp luật và giá trị nhân văn của pháp luật, đề cao chủ nghĩa lập hiến, khẳng định nguồn gốc chính quyền là ở nhân dân, đề cao vai trò của các cơ quan tư pháp, đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Học thuyết này đang trở thành một
mô hình tổ chức quyền lực nhà nước lí tưởng nhằm đảm bảo thực hiện các thiết chế dân chủ
Nhận thức rõ điều này, lần đầu tiên trong một văn bản qui phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất của hệ thống pháp luật - Hiến pháp năm 1992 (sứa đổi) đã qui định ngay từ những điều khoản đầu tiên việc phải xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân vcd giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức " [17]
Vì vậy, vấn đề nhận thức đúng những đặc trưng, giá trị của nhà nước pháp quyền, trên cơ sở đó vận dụng sáng tạo trong việc tổ chức quyền lực nhà nước là m ột yêu cầu khách quan, gắn với nhu cầu đổi mới của hoạt động quản
lý nhằm làm cho bộ máy nhà nước thực sự mạnh, hoạt động có hiệu quả, phát huy sức mạnh dân chủ và vai trò của nhân dân - chủ thể của quyền lực nhà nước trong xây dựng và kiến thiết đất nước
Cần khẳng định tuy yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã trở thành nguyên tắc bắt buộc, định hướng trong hoạt động của bộ máy nhà nước nhưng việc vận dụriR những hạt nhân, giá trị của tư tưởng nhà nước pháp quyền đã xuất hiện ở Việt Nam ngay lừ những năm đầu tiên xây