1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh pháp luật và bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của việt nam với các điều ước quốc tế và pháp luật một số nước công nghiệp phát triển

121 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 14,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH CẤ P T H IẾ T CỦA ĐỂ TÀI: Trona một thế giói đan2 có xu hướng toàn cầu hoá nsày càns sâu sắc, Nghị quyết Đai hội IX Đảna Cộne sản Việt Nam nhận định: “C/ĩzi động hội nhập kinh tế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌ C LUẬT HÀ NỘI

VŨ THI PHƯƠNG LAN

SO SÁNH PHÁP LUẬT VE BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC ĐIỂU ƯỚC QUỐC TÊ VÀ PHÁP LUẬT

M ÔT SỐ NƯỚC CÔNG NGHĨÊP PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành: L uật Dán sự

Ma số: 50507

t h ư v i ẹ n TRƯỢNG ĐAI H O C LỤẬT HÀ NÒI

PHÒNG GV_

LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẬT HOC

HÀ NỘI - 2002

Trang 2

Lời đầu tiên của bản luận văn này, tôi xin dành để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo Tiến sỹ Đinh Văn Thanh - Người hướng dẫn khoa học cho đề tài đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy, Cô giáo giảng dạy chuyên ngành Luật Dân sự, Khoa Sau đại học, các thầy cô giáo Khoa Pháp luật Quốc

tế Trường Đại học Luật Hà Nội cùng bạn bè đồng nghiệp đã có những đóng góp quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, vô cùng biết ơn Cha, Mẹ và người Chồng thân yêu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, thường xuyên động viên, cổ vũ và khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Vũ Thị Phương Lan

Trang 3

Nshị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 1/2/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ suns một số điều của N ẹ l i Ị định

số 63/CP ngàv 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp

Nhãn hiệu hàns hoá

Nhãn hiệu dịch vụ

Nhãn hiệu tập thể

Nhãn hiệu chứnc nhân.• oNhãn hiệu nổi tiếng. ỌNhãn hiệu liên kết

Sở hữu công nghiệp

Sở hữu trí tuệ

Điều ước quốc tế

Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (dã được Tổ chức Thươna mại thế giói ký nẹàv 15/4/1994 và có hiệu lực ncày

Trang 4

Tran 2

LỜI NÓI Đ Ầ U

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LU ẬN c ơ BẢN VỂ BẢO HÔ N H H H 1

7.7 Khái niệm NHHH và cơ sở pìưỈD ỉý của việc bảo hộ N H H H 1

7.7.7 Khái niệm N H H H 1

7.7.2 Các dấu hiệu cấu thành N H H H 6

7.7.5 Các tiêu chí đ ể được bảo h ộ 11

1.2 Phân ìũại N H H H " 28 7.2.7 Nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) và nhãn hiệu dịch vụ (N H D V ) "28 7.2.2 Nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng n h ậ n "29 1.2.3 Nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) "33 1.2.4 Nhãn hiệu liên kết (N H LK ) ■•37

1.3 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật hảo hộ N H H H í -38 7 3.1 Trên th ế ạiới ■ • 38

1.3.2 ỏ Việt n a m -42

CHƯƠNG II: BẢO HỘ NHHH THEO PH Á P LUẬT CÁC NƯỚC VÀ s ự TƯƠNG T H ÍC H CỦA PHÁP LU ẬT VIỆT N A M 45

2.1 Căn cứ xét nhận đơn xin đõ 11 ạ ký bảo hộ N H H H '45

2.1.1 Các nguyền rắc chấu nhận đơn xin đãng ký bảo hộ N H H H 45

2.7.2 Yêu cầu về việc sử d ụ n q 49

2.2 Xác lập và huy bỏ auyền SHCN đối vói N H H H 55

2.2.1 Xác lập quyển SHCN đối voi NHHH của các nước và pháp luật Việt nam 55 2.2.2 Các trường hợp huỷ bỏ hiệu lực văn bằng hảo hộ NHHH của các nước và pháp ìuậĩ Việt N a m 64

2.3 Nội dung quyến SHCN CO’bản đối với N H H H 72

Trang 5

2.4 Bảo hộ NHHH với vấn đề chống chia cắt thị trường và chống cạnh Tranh không

lành m ạnh : 76

2.4.1 Bào hộ NHHH với vấn đề chống chia cắt thi trường 76

2.4.2 Bảo hộ NHHH với vấn đề chống cạnh tranh không lành mạnh 78

2.5 Bảo hộ NHHH trong In tern et 82

2.5.7 Internet, tên miền và ảnh hưởng của chúng tới vẩn đé bảo hộ N H H H 82

2.5.2 Pháp luật các nước về ẹỉái quyết các vướng mắc vế bảo hộ NHHH trong internet 85

CHƯƠNG III THỰC TRANG BẢO HỘ NHHH, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ KIẾ.N NGHỊ H O ÀN T H IỆN K H UNG PHẤP LÝ VỂ BẢO HỘ NHHH ở VIỆT N A M 89 3 1 Vài nét về thực trọn ẹ bảo hộ NHHH ở Việt n a m 89

3.7.7 Thực trạng về pháp ỉuậí điểu chỉnh N H H H ,89

3.1.2 Thực Tiễn bảo h ộ 91

3.2 Phương hướng và một s ố kiến nqhị cụ th ể hoàn thiện pháp luật Việt nam về NHỈ IIJ ' ’ ’ 95

3 2.7 Phương hướnọ, hoàn th iệ n 95

3.2.2 M ột s ố kiến nghị cụ th ề 98

KẾT L U Ậ N X05

Trang 6

LỜI NÓI ĐẨU

X TÍNH CẤ P T H IẾ T CỦA ĐỂ TÀI:

Trona một thế giói đan2 có xu hướng toàn cầu hoá nsày càns sâu sắc, Nghị

quyết Đai hội IX Đảna Cộne sản Việt Nam nhận định: “C/ĩzi động hội nhập kinh tế

quốc t ế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả họp tấc quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lọi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc vãn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường.”* Để có

thể chủ độns thành công trong công cuộc hội nhập đó, chúng ta cần phải có sự hiểu biết

cơ bản về pháp luật trone đó có pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) của những nước đối tác kinh tế chiến lược

NHHH là một công cụ tuyệt vời để chiếm lĩnh thị trường Iihờ vào sự phát triển của các phươns tiện quảng cáo, nó là công cụ hiệu quả nhất để phân biệt sản phẩm này với các sản phẩm khác cùng loại NHHH khônẹ phải là sản phẩm nhưns nó tạo cho sản phẩm ý nghĩa và xác định những nét nhận biết trong cả thời gian và không gian Ngày nav, nhận thức của con người đối với NHHH đã có sự thay đổi, giá trị của một doanh nghiệp được đánh giá khôns chỉ còn là dinh cơ, đất đai và các tài sản hữu hình nữa mà còn bao gồm một phần lớn là các giá trị tài sản vô hình trong đó có uv tín của các NHHH mà doanh nghiệp đó sở hữu

ở Việt nam, cùns với sự phát triển của nền kinh tế, thực trạng vi phạm bảo hộ NHHH đans diễn ra ngày càng phức tạp NHHH ]à dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt các hàng hoá và sản phẩm cùng loại trên thị trường Song nó không có tính bí mật

và rất dễ bắt chước Vì thế có những đơn vị kinh doanh hoặc cá nhân lợi dụng đặc điểm

đó sử dụn? trái phép NHHH của những dơn vị khác nhằm dựa vào uy tín sẩn có của nhãn hiệu đó trên thị trườne để thu lợi cho mình, nhiều vụ việc đã bị các cơ quan chức nãns phát hiện và xử lý như làm giả nhãn hiệu bột ngọt “AHNOMOTO” hay thuốc lá

“MALBORO” hoặc sự nhái nhãn mác của “LAVIE", “OMO” Bên cạnh đó, một thực

tế là cbúns ta chuyển sane nền kinh tế thị trường chưa láu, phần lớn các doanh nghiệp thường chỉ chú trọng phát triển sản xuất, mở rộng thị trường mà chưa chú trọng tới vấn

đề bảo hộ NHHH Điều này dẫn tới tình trạns sau khi nhãn hiệu đã có uy tín trên thị trường trons nước và quốc tế rồi thì lại khôna được đăns ký bảo hộ thích họp và bị các

Đ ân c C ộng sản Việt N am , “V ăn kiện Đ ại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX ” , N X B Chính trị Q uốc gia, H à nội

2001, tran g 43

Trang 7

cơ bị tước đoạt nhãn hiệu trên thị trườns của mình vì không có sự chú trọng đầy đủ tới việc bảo hộ nhãn hiệu.

Trước thực trạng trên, một điều cần phải thừa nhận rằns do nền kinh tế còn đang phát triển ở trình độ thấp, với một lịch sử hình thành và phát triển chưa lâu, hệ thống pháp luật của Việt Nam về bảo hộ NHHH còn khá nhiều bất cập Hệ thống các văn bản pháp luật về NHHH chưa đầv đủ và chưa được xác định đúng với tầm quan trọng của

nó Các quy định về bảo hộ NHHH chỉ chiếm một phần khiêm tốn trong một chương quy định về SHTT Irons Bộ luật Dân sự đồ sộ Việc tiến hành bảo hộ NHHH trên thực tiễn chủ yếu chỉ dựa vào các vãn bản dưới luật do Chính phủ và Bộ chủ quản ngành ban hành Các văn bản đó có tính ổn định không cao do rất dễ bị các cơ quan ban hành sửa đổi Hệ thống thiết chế bảo hộ NHHH cũng chưa có sự tổ chức phù hợp Có quá nhiều

cơ quan có chức năn2 hoạt độns liên quan tới vấn đề bảo Ỉ1Ộ NHHH như Chính phủ, Toà án, Bộ Khoa học-Công nghệ-Môì trường, (nay là Bộ Khoa học-Công nghệ), Quản

lv thị trườn 2;, Hải quan Trong khi đó nhiệm vụ, quyên hạn của các cơ quan này lại chưa được phân định rõ ràng Hơn nữa hệ thống đó còn một số nội dung chưa phù hợp với các cam kết quốc tế mà chúng ta mong muốn tham gia trong quá trình gia nhập WTO,

đó là TRIPS Thực tế này đặt ra một yêu cầu cấp bách là phải hoàn thiện kịp thời hệ thống pháp luật về bảo hộ các đối tượng SHCN trong đó có NHH.H theo hướng phù họp với các Đ Ư Q T và thông lệ phổ biến của thế siới để tạo tiền đề cho công cuộc hội nhập của Việt Nam trone lĩnh vực này Để làm điều đó, một trong những phương pháp được

áp dụne phổ biến là so sánh, đối chiếu với các hệ thống pháp luật tiên tiến trên thế giới; qua đó vừa học hỏi vừa rút kinh nghiệm để từng bức hoàn thiện hệ thống pháp luật nước mình

Trona số hệ thống pháp luật về bảo hộ NHHH của các nước công nchiệp phát triển, tác giả lựa chọn hệ thống pháp luật tương ứng của EƯ, Mỹ và Nhật Bản cùng với các ĐƯQT có liên quan để làm đối tượng so sánh với pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam Bởi vì đâv là những nước và khu vực có nền kinh tế phát triển và năng động nhất trên thế giới Thực tiễn bảo hộ và hoạt động NHHH ở những nước và khu vực này cũng

có bề dày lịch sử lâu đời cùng với bề dày lịch sử của nền kinh tế thị trườn2 Do đó hệ thôYie pháp luật về bảo hộ NHHH ỏ' những nước và khu vực này cũng có thể nói là những hệ thốns pháp luật quốc sia về bảo hộ NHHH phát triển nhất trên thế ẹiới Đặc biệt, Nhật Bản là nước có nền văn hoá phương đông gần gũi với Việt Nam Hệ thống pháp luật của họ nói chung và về bảo hộ NHHH nói riêns chắc chắn sẽ có nhiều điểm tương đồnc và đáns rút kinh nạhiệm cho Việt Nam EƯ tuy không phải là một quốc gia

Trang 8

thành sons do được áp dụng thốns nhất trên toàn lãnh thổ 15 nước thành viên nên nó

phản ánh được những nét tương đồne CO' bản nhất trong pháp luật của các nước thành

viên Còn Mỹ là nước có hệ thốns pháp luật về bảo hộ NHHH đầy đủ, chi tiết và tiến bộ vào bậc nhất trên thế giói Một điều mà các luật sia của EU cũng phải thừa nhận là sự phát triển đi trước của pháp luật Mỹ về sỏ' hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và NHHH nói riêng nhiều khi đã chi phối xu hướns, phát triển của pháp luật tương ứng của các nước khác trên thế siới, kể cả EƯ và Nhật Bản Mới đây Việt Nam và Mỹ đã ký Hiệp định thương mại song phương trone dó dành một phẩn đána kể điều chỉnh về bảo hộ SHCN

và NHHH vói nhiều điểm mới so với pháp luật Việt Nam Vì thế cũng cần phải nghiên cứu tìm hiểu nhữns điểm cơ bản trone pháp luật bảo hộ NHHH của nước này trên cơ sở

so sánh với pháp luật Việt Nam

Nhận thức được tầm quan trọng của NHHH đối với sự phát triển và hội nhập kinh tế của Việt Nam trone; eiai đoạn hiện nay, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Sỡ

sánh p h áp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam vói các điều ước quốc tế

và pháp luật m ột số nước công nghiệp p h át triển” với mong muốn có CO' hội nghiên

cứu một cách hệ thống các qui định về NHHH không chỉ của Việt Nam mà cả các qui định của quốc tế và đặc biệt so sánh, đối chiếu và học hỏi những gì mà các nước phát triển đã trải qua, tiếp thu nhữns ưu điểm phù hỢD với điều kiện của Việt Nam, lọc bỏ những nhược điểm, góp phần làm cho hệ thốnơ pháp luật Việt Nam về vấn đề này ngày càne hoàn thiện phù hợp vói xu thế chung của cả cộng đồng quốc tế

2 TÌNH HÌN H NG H IÊN cứu ĐỂ TÀI:

SHTT nói chuns và SHCN nói riêng là một lĩnh vực mới mẻ và rất phức tạp ỏ' Việt Nam Từ năm 1976, ngay sau khi đất nước thống nhất Việt Nam đã tham gia vào

Tổ chức SHTT thế giới W1P0, song phải sang thập kỷ 80 chúng ta mói thực sự xây dựng được nhữna vãn bản pháp lý đầu tiên về vấn đề này ví dụ như: Nghị định 31 ngày 23/1/1981 về sáng kiến, sáng chế; Nghị định 197/HĐBT ngày 13/5/1988 về NHHH; Nghị định 200 và 201/HĐBT ngày 28/12/1988 về giải pháp hữu ích và mua bán li-xăng Những qui định này là sự phản ánh việc bảo hộ SHCN trong thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp Khi đất nước chuyển sans nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mọi mặt đời sống đều thay đổi trong đó có các qui định liên quan đến SHCN, đó là sự ra đời của Pháp lệnh bảo hộ SHCN năm 1989 và hiện nay văn bản pháp lý cao nhất là Bộ luật dân

sự (BLDS) 1995 Vấn đề về bảo hộ quyền SHCN đã thu hút được sự quan tâm, nshièn cứu của nhiều cơ quan, Ban, ncành, các nhà khoa học cũng như các cơ sỏ' đào tạo luật Đặc biệt, đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức liên quan đến vấn đề này như Hội thảo về Hiệp định TRIPS Hội thảo về các đối tượng SHCN mói ỏ' Việt Nam, Hội thảo

Trang 9

Hoa Kỳ - Việt Nam về thực thi quyền SHTT tbárm ] 1/2001 Đồnc thời, đã có nhiều bài viết của nhiều tác ciả trong nước và nước ngoài về SHTT như: Tiến sỹ Dominique

De Stoop (bài giảns về luật quốc tế khoá 2 Dự án VAT), Tiến sỹ Nguvẻn Bá Diến (bài viết hoàn thiện pháp luật về SHTT trona điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế đăns, trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2001), tập bài giảng “SHTT” của Trườno Đại học Luật Hà Nội Tuy nhiên những cônẹ trình đó chỉ dề cập tới các vấn đề liên quan đến SHTT nói chune mà không đi sâu nghiên cứu riênc về bảo hộ NHHH Trons lĩnh vực này đậc biệt có tác 2iả Vũ Thị Hải Yến có cônơ trình nghiên cứu líM ột s ố vấn đề về bảo

hộ quyền SH C N đối với NH H H tại Việt Nam theo qui đinh của pháp luật dân sự", đây

là một công trình chuyên biệt đầu tiên về NHHH Sons, những nghiên cứu đã thực hiện trons; lĩnh vực này chủ yếu tập trung vấn đề bảo hộ NHHH theo các qui định của pháp luật trong nước của Việt Nam Có thể nói, cho đến nay ỏ' nước ta chưa có một côna trinh khoa học nào nshiên cứu một cách cụ thể, chi tiết về vấn đề so sánh pháp luật về

bảo hộ NHHH Vì vậy, đề tài “So sánh pháp luật vé bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của

Việt N am với các Đ iều ước quốc t ế và pháp luật m ột số nước công nghiệp p h á t triển''

là một đề tài độc lập, khôn? có sự lặp lại Tuv nhiên điều đó khôns có nghĩa là đề tài không có sự kế thừa mà ngược lại để hoàn thành luận văn này tác giả phải tham khảo, sưu tầm, học hỏi nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm trong các côna trình khoa học

có liên quan đã được công bố và các bài viết trên các tạp chí chuyên nsành

3 M Ụ C Đ ÍC H CỦ A ĐỂ TÀI:

Mục đích của đề tài là thông qua việc tìm hiểu, phân tích các qui định về NHHH trong các ĐƯQT trone pháp luật của các nước tiên tiến để từ đó đối chiếu so sánh, thấy được những điểm tương đồng cũng như những vấn đề còn chưa phù hợp, cần tiếp thu học hỏi để đề xuất các kiến nshị thích hợp với các cơ quan có thẩm quyền với monẹ muốn pháp luật Việt Nam về vấn đề này ngày càng hoàn thiện, góp đẩy nhanh một cách ổn định tốc độ hội nhập và phát triển của đất nước Trong nội dung của luận văn, các kiến nghị này được trình bày ở Chương III

Với đề tài này, tác eiả cũng mong muốn làm rõ nhữna điểm tươns đổns; và khác biệt của hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam với các nước và khu vực phát triển nhất trên thế giới Qua đó sóp phần náng cao hiểu biết về pháp luật bảo hộ NHHH của các nước này

4 P H Ư Ơ N G P H Á P N G H IÊ N CỨU:

Cơ sở phương pháp luận mà đề tài luôn tuân thủ đó là phép duy vật biện chứns

và duy vật lịch sử của học thuyết Mác - Lê nin Để thực hiện đề tài tác siả đã dựa trên các tài liệu đã có để tổns hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hoá Từ nhữns qui định cụ

thể Dhán tích để làm rõ từng, nội duna đảm bảo tính hệ thống của một đề tài khoa học.

Trang 10

Với đặc thù là đề tài nshiên cứu về so sánh pháp luật nên ngoài các phươnơ pháp trên, phươnẹ pháp so sánh được vận dụng một cách triệt để và liên tục Phương pháp này được sử dụna, trong hầu hết các nội dung của đề tài:

*l* So sánh giữa các qui định của pháp luật Việt Nam với các qui định trong các ĐƯQT

đặc biệt là các Hiệp định của WIPO và WTO

♦ĩ* So sánh giữa các qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành với các qui định của một số nước công nghiệp phát triển là Mỹ, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu

5 N H Ũ N G ĐIỂM MỚI VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI:

Tronẹ lĩnh vực của mình, đáy là đề tài đầu tiên nghiên cứu pháp luật bảo hộ NHHH của Việt nam và pháp luật bảo hộ NHHH của các nước khác trons sự SO' sánh một cách có hệ thốns với nhau Qua sự so sánh đó, các nội dune CO' bản, các kinh nghiệm và những điểm ưu việt trong pháp luật cũng như trong hệ thống bảo hộ NHHH của các nước phát triển trên thế giới được làm rõ và phân tích trong mối tươns quan với điều kiện, hoàn cảnh của từne; nước Qua đó £Óp phần đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt nam về bảo hộ NHHH

Đề tài cần phải được đánh giá bởi các nhà khoa học, có chuyên môn sâu nhưng tác giả cũng mạnh dạn tự đánh giá đây là đề tài có ý nghĩa lý luận vì trong số các đối tượng SHCN thì NHHH có nhiều điểm đặc biệt Chủ văn bằn° bảo hộ NHHH nhiều khi không cần phải bỏ nhiều công sức và thời gian để có thể sáng tạo ra một NHHH nhưne lại được hưởng sự bảo hộ trong một thời gian gần như không hạn chế Luận văn này khi thực hiện xong sẽ eóp phần eiải thích điều đó từ sóc độ lý luận Đồna; thời tìm hiểu, phân tích và so sánh cơ sờ lý luận tương ứng của các nước có nền kinh tế phát triển để

có thể rút ra được những ý kiến nhằm hoàn thiện hơn nữa cơ sở lý luận cho hệ thôn2

pháp luật bảo hộ và định hướng thực hiện quyền SHCN đối với NHHH ở Việt Nam

Bên cạnh ý nghĩa lý luận thì đề tài nghiên cứu nàv cũng rất có ý nghĩa thực tiễn

có thể nói V nghĩa thực tiễn của nó thể hiện đậm nét hơn nhiều so với khía cạnh lý

luận Trong thực tiễn của bất kỳ nền kinh tế nào cũnc vậy, NHHH luôn là đối tượng SHCN có thực tiễn phong phú nhất Nó có số lượng đơn đăng ký hảo hộ lớn nhất và cũng là đối tượng bị vi phạm nhiều nhất và dễ dàng nhất Đặc biệt, nền kinh tế càna phát triển thì thực tiễn bảo hộ và thực thi quyền bảo hộ NHHH càng phong phú Hệ thống pháp luật liên quan đến việc đăng ký bảo hộ NHHH RÍữa các nước và các ĐƯQT liên quan ngày cằna đòi hỏi phải có sự đổnc bộ theo nhữne chuẩn mực chuns nhất định Hệ thống pháp luật liên quan đến việc thực thi quyền bảo hộ NHHH cũns; đòi hỏi phải theo kịp trình độ phát triển của nền kinh tế vừa bảo đảm quyền lợi của người được bảo hộ, song cũng phải ngăn ngừa chủ văn bằng lợi đụnơ quyền bảo hộ thực hiện các

Trang 11

hành vi cạnh tranh khôns lành mạnh, xâm hại lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh doanh khác.

6 C ơ CẤ U CỦA LU ẬN VĂN:

Về nội duna, đề tài được chia thành nhữns phần sau:

Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hộ NHHH

Chương II: Bảo hộ NHHH theo pháp luật các nước và sự tương thích của pháp luật Việt Nam

Chươnẹ III: Thực trạng bảo hộ NHHH, phương hướna và kiến nshị hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ NHHH

Kết luận 4-1 i

Trang 12

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LU Ậ N c ơ BẢN VỂ BẢO HỘ NHHH 1.1 Khái niệm NHHH và co sỏ pháp ỉý của việc bảo hộ NHHH

1.1.1 K h ái niệm NHHH:

].] ].] Theo auy định của cấc Đ ư Q T

Cho đến nay đã có khá nhiều ĐƯQT đa phương và song phươnc điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến NHHH Có thể kể ra trong số này một số ĐƯQT đa phương điển hình có nhiều quốc gia thành viên như Công ước Paris 1883, Thoả ước Madrid 1891, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của SHTT (TRIPS) ký trong khuôn khổ WTO năm 1994 và có hiệu lực từ 1/1/1995, Hiệp định về luật NHHH ký ciữa các nước thành viên trong khuôn khổ WIPO Các ĐƯQT này thường không đưa ra các quy định chuna về khái niệm NHHH mà chỉ quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng SHCN (như trường họp Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đãne ký bảo hộ NHHH (như trường họp Thoả ước Madrid) Chỉ có TR1PS là có những quy định nội dung về khái niệm và những đặc điểm của một đối tượns có khả năns bảo hộ quốc tế như một NHHH, cụ thể Hiệp định TRIPS quy định như sau:

liBất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp vói hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác, đều có th ể làm NHHH Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ k ể cả tên riêng, các chữ cái, chữ sô, các yếu tô hình hoạ và tỏ hợp cấc mầu sắc cũng như tô họp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng kỷ làm NHHH

Như vậy, có thể thấy khái niệm NHHH từ góc độ quy định bởi các ĐƯQT nổi

lên hai đặc điểm CO' bản:

Thứ nhất, các ĐƯQT (cho dù là đa phương hay song phương) càng ở thòi kỳ cận

đại kể từ sau khi WTO ra đời năm 1995 thì cànc quan tâm điều chỉnh một cách cụ thể

về NHHH Điều này thể hiện ỏ' TRIPS và các hiệp định thương mại song phương ký kết trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của một quốc cia vói một quốc gia đã là thành viên của WTO Những ĐƯQT thuộc loại nàv không chỉ dừns lại ở các quy định

về nguvên tắc bảo hộ hay cơ chế bảo hộ mà còn bao sổm các quy định chi tiết về khái niệm, phạm vi và các dấu hiệu của NHHH Trong khi đó, các ĐƯQT trước đó như Công ước Paris hay Thoả ước Mađrid thì chỉ chú trọng vào các nguyên tắc hay thiết lập các cơ chế đănc kv và bảo hộ NHHH trên phạm vi quốc tế mà thôi Xu hướns này cho thấy NHHH ngày càn2 có vai trò quan trọng hơn trons quan hệ kinh tế quốc tế và do

1 Đ iều 15.1 T R IPS , C ác quy định pháp luật về SHCN N X B Chính trị Q uốc ạia 2001, tran c 408

Trang 13

đó các quốc gia cuns ngày càns quan tâm một cách thực chất hơn tới việc bảo hộ NHHH nước mình trên phạm vi quốc tế.

khái quát, và do đó mang tính quy chuẩn Việc xác định một đối tượns nào đó có phải

là NHHH hay khône thường được tiến hành theo mục đích sử dụns của nó chứ không phải bằn? cách cá thể hoá nó Điều này thể hiện rõ nhất trong quy định tươns ứns của TRIPS là bất kỳ một dấu hiệu nào, cho dù là hình ảnh, màu sắc, âm thanh hay thậm chí mùi, có khả năns phân biệt được hàns hoá, dịch vụ của doanh nshiệp này vói hàns hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nshiệp khác đều được coi là NHHH

Căn cứ theo mục đích sử dụnẹ, nếu bất cứ dấu hiệu nào có khả năn£ phân biệthàng hoá này với hàns hoá khác thì đều có thể cẩu thành một NHHH Vì thế, khôngthể và cũng khôns nên cố gắng xây dựng một danh mục cụ thể về những dấu hiệu nào

có thể được đăng ký làm NHHH Nếu muốn đưa ra các ví dụ thì cũng chỉ nên lấy những ví du trong thưc tiễn về những dấu hiêu nào có thể đăng ký nhưns cũnẹ lưu ý nhữns ví dụ đó không phải là duy nhất

Phần lớn các ĐƯQT về NHHH, kể cả TRIPS đều cho phép các quốc gia có thể đặt ra các hạn chế về khả năng đăng ký theo những mục đích thực tiễn Phần lớn các quốc ẹia cho phép việc đãns ký chỉ đối vói những dấu hiệu mà có thể thể hiện được bằng biểu đổ bởi vì chỉ có bằng cách đó mới có thể đãng ký được và công bố được một cách vật chất trong các tạp chí NHHH để có thể thông báo ra công chúng về một nhãn mác đã được đăng ký

Nhìn chung, cách tiếp cận từ mục đích phân biệt hàng hoá dịch vụ của nhữns doanh nghiệp sản xuất hoặc thương mại cạnh tranh với nhau là cách tiếp cận chung của các nước khi định nghĩa NHHH trong pháp luật của mình Tuy nhiên, các nước cũng có những quan điểm khác nhau liên quan đến nhữns yếu tố có thể phân biệt các hàns hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nahiệp Sự khác biệt này đôi khi bắt neuổn từ sự phát triển kinh tế hay mức độ đa dạng của nền kinh tế Vì thế, có trườns họp c h ú n s ta thấy ỏ' một số nước phát triển thì các dấu hiệu được coi là NHHH có thể bao gồm cả hình ảnh

ba chiều, âm thanh hay mùi, trong khi đó ỏ' một số nước khác thì chỉ các yếu tố cấu thành truyền thốns như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được cône nhận

1.1.1.2 Theo quy định của pháp ìuậí M ỹ

Các vấn đề liên quan đến NHHH của Mỹ được điều chỉnh bởi Đạo luật Lanham (Lanham Act) Luật về NHHH ban hành năm 1946 và được sửa đổi rất nhiều lần trone quá trình áp dụng Trong Luật này có hai quy phạm liên quan đến định nghĩa về NHHH có phần nào đó khác nhau Phần Định nghĩa Luật này quy định: “Thuật ngữ

"NHHHD"bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng, hay hình vẽ, hoặc sự kết hợp ọiữa

Trang 14

chúng mà - (]) được sử dụng bởi một người, hoặc (2) được mội người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy đinh tại luật này - đ ể xác định và phân biệt hàng hoá của người đó, bao gồm cả cấc hàng hoú đặc chủng, với những hàng hoá cùng ỉoại được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và đ ể chỉ rõ nguồn gốc của hàng hoá thậm chí khi mà không xác định được nguồn gốc đó.”

Theo quy định này, rõ ràng các yếu tố được côns nhận trong khái niệm NHHH theo pháp luật Mỹ chỉ bao gồm những yếu tố truyền thống như tên gọi, biểu tượng, hình vẽ hay sự kết hợp giữa chúna mà thôi Các yếu tố mới không manơ tính chất

truyền thống nhưns vẫn có khả n ã n s phân biệt hàns hoá dịch vụ cùng loại của các

doanh nghiệp khác nhau như âm thanh hay mùi dườnc như chưa được bao trùm trong định nehĩa này Tuy nhiên, trên thực tế, Mỹ lại là một trong những nước đầu tiên trên thế siới, do nhu cầu phát triển mạnh mẽ và đa dạna của nền kinh tế, đã côns nhận và cho đăng ký các NHHH chứa đựng các yếu tố mới này Thực tiễn này diễn ra ]à nhò' việc giải thích một điều khoản có tính mở trons Luật NHHH 1946 của Mỹ (điều 2)

Điều luật này quy định: “Không có NHHH nào có khả năng phân biệt hàng hoá của

người nộp đon với nhữrìg hàng hoá của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào sổ đăng k ỷ " Theo tinh thần của điều khoản nàv thì bất kỳ dấu hiệu nào, không phân

biệt định hình hay khône; định hình nếu có khả nănẹ phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp thì đều có thể được coi là NHHH miễn là nó có khả năng phân biệt hàna hoá của người này với hàne hoá cùng loại của người khác Dựa trên cách giải thích có tính mở căn cứ vào mục đích của NHHH, các luật sư đã thuyết phục các cơ quan thi hành pháp luật MỸ áp dụns điều khoản này theo quan điểm mở để đưa các yếu

tố mới vào khái niệm NHHH Ví dụ mùi hoa cỏ rươi tái hiện mùi hoa Plimeria đã được đănạ ký cho mặt hàng chỉ may và sợi thêu2 Âm thanh PRELUDE cũng được đăng kv theo đơn của Metro-Goldwyn-Mayer Lion Corporation dành cho các nhóm mặt hàns thiết bị chăm sóc sức khoẻ, âm thanh, truyền thông, máy ghi âm, ạ;hi hình, máy bán hàng tự động, máv đếm tiền, thiết bị xử lý thông tin kể cả máy tính, dịch vụ truvền thôns, thể thao, siải trí, văn hoá, giáo dục và đào tạo3

Các vấn đề về NHHH của EU được tập trung thống nhất trons Quy định của Hội đồne EU số 40/1994 nsày 20 tháng 12 năm 1993 về NHHH của cộng đồng chung Châu Âu Theo điều 4 của quy định này thì NHHH EU có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào, đặc biệt là các dấu hiệu địa lý, các từ nẹữ, bao gồm cả tên riêng, hình vẽ, chữ cái, con số, hình dáne đổ vật hoặc bao bì đồ vật, vói điều kiện là những dấu hiệu đó phải có

Ị Q uyết định TTA B (1990) Cục đãng ký bảo hộ N H H H và sáng c h ế M ỹ

’ T heo O A M I-O N L IN E (xvebside các thône, tin trực tuyến về SHTT)

Trang 15

khả nănc phân biệt bànẹ hoá hoặc dịch vụ của một thương nhân này vói hàng hoá, dịch

vụ cùng loại của thương nhân khác

Khái niệm NHHH theo pháp luật EƯ cũng tương tự như TRIPS Trước tiên NTHHH được định nchĩa theo mục đích sử dụns Mọi dấu hiệu có khả năng phán biệt đều có thể được coi là NHHH Với cách tiếp cận này, có thể nói các nhản tố mới như mùi hay âm thanh cũng đều đã được dự liệu trước trons phạm vi điều chỉnh của pháp luật EƯ mặc dù có thể trên thực tế chưa có đơn đăns ký nào dành cho loại hình NHHH này Bên cạnh một quy phạm mỏ' như vậy, điều khoản trên của pháp luật EƯ cũng liệt

kê một số yếu tố truyền thống và phổ biến của NHHH, đó là các dấu hiệu địa lý, tên gọi, hình vẽ, chữ cái con số v.v mà các doanh nshiệp thường dùng làm NHHH cho sản phẩm của mình

Là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhất trên thế giới, tuy nhiên,

hệ thống pháp luật Nhật Bản, lại thiên về xu hướng truyền thống trong các quy định về khái niệm NHHH Khác với một quy định mở về khái niệm NHHH trong TRIPS hay pháp luật EU, pháp luật Nhật Bản quy định NHHH là các chữ cái, con số, dấu hiệu, hình họa ba chiều hay sự kết hợp giữa chúng có thể có mầu sắc, thoả mãn một trong hai điều kiện sau: thứ nhất, đối với nhãn hiệu gắn lên hàng hoá, nó phải được sử dụng đối với hàng hoá mà một người sản xuất, xác nhận hay đem vào lưu thông; hoặc thứ hai, đối với nhãn hiệu dịch vụ, nó được sử dụng đối với dịch vụ mà một người cung cấp hay xác nhận trong quá trình thương mai Và theo quy đinh này, cho đến thời điểm tác giả thực hiện luận vãn này, pháp luật Nhật Bản cũng như Cục SHCN Nhật Bản vẫn chưa côns nhận cho đăng ký NHHH âm thanh và mùi.4

7.7.7.5 Theo quy định của pháp luật Việt Nam

Hiện nay, các vấn đề liên quan đến đăng ký và bảo hộ NHHH tại Việt Nam được quy định trong BLDS 1995 và Nghị định 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 (Nehị định 63/CP) của Chính phủ quy định chi tiết về SHCN đã được sửa đổi bổ sung một số điều bởi Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 1 tháng 2 năm 2001 (Nghị định 06/2001) Ngoài ra, trong xu hướng mở rộng quan hệ họp tác kinh tế quốc tế trên con đưòns gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã bắt đầu ký kết các cam kết thương; mại sons phương với các nước thành viên WTO trong đó có các nội duns tương ứng về bảo hộ NHHH trên tinh thần của TRIPS Vì thế, khi tìm hiểu về định nghĩa NHHH theo pháp luật Việt Nam cần phải phán tích đồng thời cả các quy phạm hiện hành trong BLDS và các hiệp định thươns mại sons phương mà Việt Nam đã ký kết Các quy phạm trong BLDS sẽ cho chúns ta thấy các quy định chính thức hiện hành của pháp luật Việt Nam

4 Giới thiệu pháp luật N H H H , Cục SHCN Nhật Bản-TT SHCN Châu Á TBD (JIIĨ) 2000, trang 14

Trang 16

về khái niệm NHHH, còn các quy phạm tương ứng trong các hiệp định thương mại son2 phươnc mà Việt Nam đã ký kết, mặc dù không trực tiếp là các quy phạm trong hệ thốn? pháp luật Việt Nam, nhưns cũns có thể cho chúng ta thấy được tinh thần trong

xu hướns phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHHH trên con đường hội nhập vói các nền kinh tế thế giới.

Điều 785 BLDS quy định: “NHHH là những dấu hiệu dùng đ ể phân biệt hàng

hoá, dịch vụ cùng loại của các CO' sở sản xuất, kinh doanh khác nhau NHHH có th ể là

từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết họp các yêu tố đố được thể hiện bằng một hoặc nhiêu màu sắc." Quy định này bao gồm hai nội dunc Nội dung thứ nhất quy định về chức năng và

cũna là mục đích của NHHH, ]à để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau, v ề tinh thần, nội dung này là một quy định mang tính

mở, tạo điều kiện cho việc coi các dấu hiệu có thể phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau đều có thể là NHHH Tuy nhiên, nó không thể hiện sự quy định mạnh mẽ ơiống như ở quy phạm tương ứng của TRIPS -

“bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ họp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng ho á hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của cấc doanh nghiệp khác, đều có th ể làm N H H H ”5 Thêm vào đó, nội dung thứ hai lại hạn chế một số yếu

tố có thể được đăng ký làm NHHH, đó ]à từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết họp các yếu tố này Với truyền thống áp dụng pháp luật của Việt Nam xuất phát từ công tác pháp điển hoá các văn bản pháp luật và các cơ quan nhà nước thường chỉ thực hiện chức năng và tiến hành các hoạt độnc trong phạm vi pháp luật cho phép thì tính mở, nếu có, của nội dung thứ nhất bị giảm đi rất nhiều Thực tiễn bảo hộ NHHH của Việt Nam cho thấy khái niệm NHHH theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam bị giới hạn ỏ' những yếu tố hình ảnh hoặc từ ngữ hoặc sự kết hợp giữa chúng có chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác Các chữ số, chữ cái không được coi là dấu hiệu bảo hộ NHHH vì bị coi là khôns có khả năng phán biệt do tính đơn siản, dễ bị nhầm lẫn Các yếu tố mói khác mà thế giới dã công nhận là có thể đăng ký làm NHHH như bản thán màu sắc hoặc sự kết họp mầu sắc, mùi, âm thanh hoặc là vẫn chưa được quy định rõ trong các văn bản pháp luật hoặc còn xa lạ trong thực tiễn đănc ký và bảo hộ NHHH tại Việt Nam

Cần nhận thấy rằng sự ciới hạn này phần nào thể hiện một cách họp lý trình độ phát triển còn hạn chế của nền kinh tế Việt Nam Mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần trong một thời gian chưa lâu nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn còn rất lạc hậu

5 Niiuồn đã dẫn, chú lìĩich s ố 1

Trang 17

Tuy nhiên, cùng với việc tiếp cận và giao lưu với nhữns hệ thống pháp luật tiên

tiến trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt là quá trình đàm phán

gia nhập WTO, hệ thốns pháp luật của Việt Nam tron? đó có pháp luật về NHHH cũnẹ

đã có xu hương neày càng được hoàn thiện thêm Quy định liên auan đến bảo hộ

NHHH của Hiệp định thưone mại Việt-Mv mới được ký kết gần đây đã thể hiện một

khái niệm bao quát hơn và gần với chuẩn mực quốc tế hơn về NHHH: “ AỈHHH được

cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của cấc dấu hiệu có khả năng

phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người với hàng hoá hoặc dịch vụ của người

khấc, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, chữ số tô hợp mầu sắc, các yếu tố hình

hoặc hình dạng của hàng hoá hoặc hình dạng của bao bì hàng hoá.,,è

' Hiệp định này đã mở rộng hơn phạm vi các yếu tố có thể được đãng ký và bảo

hộ NHHH tại Việt Nam Các doanh nghiệp giò' đây khône những có thể dùng các từ

ngữ hay hình ảnh thôns thườnơ mà còn có thể dùng chữ số, tổ họp màu sắc để làm

NHHH Tuy nhiên, các nhãn hiệu phi hình thể như mùi hay âm thanh thì vẫn chưa được

quy định trong hiệp định này

1.1.2 Các dấu hiệu cấu thành N H H H

Qua phân tích các khái niệm NHHH trong các văn bân pháp luật và thực tiễn

pháp lý của các nước, có thể thấy rằng các nước khác nhau có những quy định và quan

điểm khác nhau về khái niệm NHHH Sự khác nhau đó có thể là hệ quả của trình độ

phát triển kinh tế không giống nhau hoặc cũna có thể là hệ quả của sự khác biệt trong

truyền thống pháp luật của mỗi nước Vì thế trong khi Mỹ và EU có cách tiếp cận rất

rộns về khái niệm NHHH trên cơ sở chỉ trú trọns đến mục đích phân biệt của NHHH

mà khône quá quan tâm tới hình thức thể hiện của nó thì Nhật Bản và Việt Nam lại có

cách tiếp cận hẹp hơn trên cơ sỏ' côns tác pháp điển hoá và coi trọng nhữns hình thức

của NHHH được quy định trong các vãn bản pháp luật

Xu thế mở cũng là cách tiếp cận của pháp luật quốc tế hiện đại khi quy định về

NHHH Điều nàv được thể hiện rõ qua Điều 15 TRIPS được phân tích trên đây Và như

vậy, theo xu hướng quốc tế hiện nay thì các dấu hiệu có thể được đăns ký bảo hộ

NHHH rất phonơ phú Nó có thể gần như bao Rồm bất kỳ yếu tố nào có khả nănẹ phân

biệt hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh

nghiệp khác Trên tinh thần nhữns quy định của các ĐƯQT thì có thể phân loại một số

dấu hiệu hiện nay có thể được dùng làm NHHH như sau:

* Từ ngữ: bao sồm tên cône ty, họ, tên, tên địa lý và bất kỳ từ nsữ nào, bất kể tự

tạo ra hay không, và khẩu hiệu Đây là những dấu hiệu được dùns phổ biến nhất khi

6 Đ iều 6.1 H iệp định T hươne mại Việt - M v

Trang 18

đăng ký bảo hộ NHHH ở Mỹ và Châu Âu, họ d a đình thường được dùng rất phổ biến

làm tên cônc ty hay nhãn hiệu gắn lên hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, pháp luật đa số

các nước kể cả Mỹ và Châu Âu thường khôna cho phép đăns ký các họ gia đình phổ

thôns làm NHHH vì nó thiếu tính phán biệt Đồnẹ thời nó cũns có thể ẹâv nhầm lẫn

đối vói khách hàne Tên địa lý được bảo hộ NHHH thưòns rất dễ nhầm lẫn với nguồn

gốc xuất xứ địa lý của sản phẩm ví dụ Champagne đối với rượu sấm-panh Pháp, hay

Svviss Chocolate đối với sô-cô-la Thuỵ sĩ Vì thế nhữne; NHHH thuộc loại này dễ được

đăna ký nhất là những nhãn hiệu ám chỉ đến những khu vực địa lý mà người tiêu dùng

thường khôns nshĩ rằne đó là nơi xuất xứ gốc của sản phẩm đó

kết hợp giữa chune Đáy cũng là một dạns NHHH phổ biến Tuy nhiên, không phải bất

kỳ chũ' cái hay con số nào cũng có thể đănơ ký làm NHHIi Đặc biệt là các chữ cái

đứng đơn lẻ và khônơ được cách điệu thì thường bị đa số pháp luật các nước và pháp

luật quốc tế coi là khôns có tính phán biệt và vì thế không có khả năng đăng ký

NHHH Theo pháp luật Việt Nam, các chữ số, chữ cái, các chữ kết họp với nhau mà

không có khả năng phát âm được như một từ ngữ thì khôns được đăng ký làm NHHH

trừ khi nó đã được thừa nhận một cách rộng rãi.7 Cũng với cách tiếp cận tương tự nhưng

pháp luật một số nưóc Châu Âu ví dụ như Đức và Áo, yêu cầu khi NHHH sồm các chữ

cái và con số thì chúng phải có sự kết họp với số đơn vị ít nhất từ 3 trỏ' lên Còn nếu tất

cả là chữ cái thì ít nhất phải phát âm được.8 Luật về NHHH của Mỹ, với một cách tiếp

cận luôn luôn mở, không đề cập gì đến điều kiện về sự kết họp có thể phát âm được hay

với những số lượng chữ cái, chữ số tối thiểu để một nhãn chữ cái hoặc chữ số có thể

được đăng ký như một NHHH Còn pháp luật Nhật Bản lại không quy định một cách

cứns nhắc buộc việc kết hợp các chữ cái phải theo một thứ tự có thể phát âm được Các

nhãn chỉ gồm chữ cái và chữ số, nếu chỉ có một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quá

đơn giản và khôn? được bảo hộ Còn nếu là sự kết họp bai chữ cái trỏ' lên thì được xem

là khống quá đơn giản và dễ có khả năng được bảo hộ Tuy nhiên, nếu sự kết họp đó lại

tạo thành một thứ tự mà chính bản thân hàns; hoá hoặc dịch vụ mans nhãn lại lấy đó

làm dấu hiệu hoặc mã hàne theo quy định của Nhật Bản thì sự kết họp đó lại bị xem

như quá đơn giản và theo đó không được đănơ ký Ngoài ra một quy định khá đặc biệt

nữa là nếu hai chữ cái alphabet được nối với nhau bằng dấu gạch nẹanc (-) thì sẽ bị coi

là quá đơn giản không được đăng ký tronơ khi nếu nối với nhau bằng dấu “&■’ thì lại

được coi là có tính phân biệt và có khả nàng đănẹ ký.9

7 Đ iều 6.2.a N ahị định 63/C P ngày 24 tháng 10 nàm 1996

!' T ran g 65, C hương 2, Tài liệu tham khảo của W IP O về SHTT (tài liệu ĩham khảo số 39)

“ Giới thiệu p háp lu ậ t N tìH H , Cục SHCN Nhật B àn-T rung tám SHCN Châu á-TBD (JIII) 2000, trang 8

Trang 19

* Hình vẽ: bao gồm các hình vẽ trang trí, các nét vẽ, biểu tượnc hoặc hình hoạ

hai chiều của hànc boá hay bao bì Hầu hết pháp luật các quốc gia đều công nhận các hình vẽ, biểu tượnơ có tính phân biệt và có khả nãna đăng ký bảo hộ cao Tuy nhiên, nsoại trừ pháp luật Mỹ, pháp luật các nước khác như Đức, Nhật Bản, Việt Nam đều khôns côns nhận đăns ký NHHH cho những dấu hiệu hình học hai chiều đơn giản ví

dụ hình tam giác neược hoặc xuôi, hình vuônơ, hình tròn, hình bình hành, hình quả tim, nguyệt quế Các hình học cơ bản này muốn được đãng ký làm NHHH thường phải được trình bày một cách cách điệu để tạo thành sự khác biệt giống như trườns họp chữ “S” có nhiều nét lồng vào nhau làm nhãn hiệu một dòns xe ô tô của Tây Ban Nha

* Sư kết hợp của bất kỵ yếu tố nào k ể Trên, bao ẹồm cả dưới dạn 2 hình khối và nhãn hiệu

* Các nhãn hiêu màu sắc, loại này bao gồm các từ ngữ, hình vẽ và bất kỳ sự kết

hợp nào giữa chúng có mầu sắc hoặc sự kết hợp màu sắc hoặc bản thán màu sắc Việc

sử dụng các chữ cái, hình hoạ với mầu sắc hoặc kết hợp với mầu sắc nói chung thường làm tăng thêm tính phân biệt của chúng Vì thế, các đơn đăng ký đối với những dấu hiệu trong đó có nói rõ mầu sắc dùng hay mô tả trons đơn thường dễ được đăng ký hon NHHH đầu tiên được đăng ký tại Anh năm 1876 (và vẫn còn hiệu lực) là một hình tam giác (một dạng hình học cơ bản) màu đỏ

Tuy nhiên, TRIPS quy định không những các dấu hiệu thông thường có thể được đăng ký làm NHHH với những màu sắc khác nhau mà ngay chính bản thân sự kết hợp các màu sắc với nhau cũng có thể được đăng ký như một NHHH Pháp luật Mỹ và EƯ, theo định nghĩa rộng về NHHH phân tích trên đây, cũng không phản đối điều này Thậm chí trong Luật mẫu về NHHH của Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO) cũng dành hẳn phần 1(2) quy định về nhữns sự kết hợp màu sắc nào có thể được đăng ký làm NHHH Trên thực tế pháp luật các quốc gia sẽ quyết định xem liệu chúng có được xem

là tự bản thân có tính phân biệt hay về cơ bản có mang tính mô tả với khả năng qua quá trình sử dụng sẽ trở thành có tính phân biệt hav không Pháp luật Nhật Bản cũng như pháp luật Việt Nam, kể cả Hiệp định thương mại Việt-Mỹ cũng chưa có quy định tương

lự đối với lĩnh vực này

* Các dấu hiêu và hình ảnh ba chiểu: Đây là một loại NHHH mói đang được

các doanh nghiệp ngày càng ưa chuộns Các dấu hiệu và hình ảnh ba chiều thườns tạo

ra ấn tượng rất manh, dễ tác đônẹ và in sâu vào tâm trí người tiêu dùnơ vì thế chúng có khả năns phân biệt rất cao (Ví dụ: ngôi sao ba cánh nổi nằm trons vòna tròn của xe Mercedes, hình con sư tử đứns hai chân nổi của xe Peuseot, hình con nsựa bay đúc nguyên khối của xe Rolls-Royce) Tuy vậy dạns điển hình nhất của các dấu hiệu hình

ba chiều là hình dáng hàns hoá hoặc bao bì ĐƯQT và phấp luật các nước, đều có sự

Trang 20

cồm một cách rõ ràns thuật nsữ “các dấu hiệu ba chiều” hay “hình ảnh ba chiều” vào phạm trù của NHHH Tuy nhiên, nếu giải thích rộng ra thì thuật ngữ “hình ảnh” mà diều 785 đề cập đến bao 2ổm cả hình ảnh hai chiều và hình ảnh ba chiều Vì vậy có

thể nói pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng giống như pháp luật các nước khác đều công nhận và bảo hộ NHHH ba chiều

Tuy nhiên, trong các vãn bản dưới luật cụ thể hoá BLDS về vấn đề nàv là Nghị định 63/CP, Nghị định 06/2001 và Thông tư 3055/TT-SHCN chưa quy định cụ thể về các điều kiện cần thiết để một NHHH ba chiẻu có thể được đăns ký Bởi vì NHHH ba chiều là các dấu hiệu phức tạp nó khác NHHH hai chiều thône thường ở chỗ những gì thể hiện trên bản vẽ chỉ là sự miêu tả chứ hoàn toàn khôns; phải là chính bản thân NHHH Vì thế điều kiện mà pháp luật các nước thường đặt ra khi tiến hành bảo hộ NHHH ba chiều, ngoài tính phân biệt của nhãn hiệu đó, còn là nhãn hiệu đó phải có khả năns mô tả được theo hình hoa hai chiều Trên cơ sở đó các nước thường vêu cầu nẹười nộp đơn hoặc phải nộp một bản thể hiện theo hình họa 2 chiều của nhãn 3 chiều (hình vẽ, ảnh hay bất kv sự thể hiện nào khác có thể in được) hoặc phải mô tả (hoặc là

cả hai) Pháp luật Nhật Bản thậm chí còn quy định nếu một NHHH ba chiều mà không thể thể hiện được qua lời chú giải hoặc qua hình vẽ là một NHHH ba chiều đúng với bản thân nó thì khônC2 đươc bảo hô Ví du nếu trong bản vẽ mô tả mà không thể hiện < — ■ t— '

đươc đồ dầy của những măt đứng của hình khối ba chiều trong NHHH thì NHHH ba chiều đó khônơ được đăng ký Hay khi mà các hình hoạ thể hiện trên mặt phẳnơ hai chiều lại được trình bày không tương phản với các hình khối ba chiều trona NHHH đó, nghĩa ]à nsười xem không biết là phần hình hoạ hai chiều nằm ở vị trí nào so vói phần

ba chiều thì NHHH ba chiều đó cũng coi như không mô tả được và khôns thể được đănẹ ký.10

Mặc dù, thường có khả năng mang tính phân biệt cao sons không phải bất kỳ hình ảnh ba chiều nào cũng có khả năng đăng ký làm NHHH Pháp luật các nước khác nhau lại một lần nữa có sự quy định khác nhau trong vấn đề này Pháp luật thành văn của Mỹ và EƯ không đề cập đến vấn đề này và khi thực tiễn phát sinh nhữns tranh chấp cần giải quyết thì hai hệ thống pháp luật này mặc nhiên công nhận các hình họa

ba chiều có thể được đăng ký và bảo hộ là NHHH Pháp luật Nhật Bản quy định về vấn

đề này tương tự như đối với các NHHH hình ảnh hai chiều rằns các hình khối ba chiều như hình cẩu, hình lập phương, hình khối chữ nhật, khối tam giác hay hình trụ đều

■° Giới thiệu pháp luật N H H H Cục SHCN Nhật Bản - Trung tâm SHCN Châu á-Thái bình dươne (jn i) 2000.

trang 85 86

Trang 21

khôns được đăns ký và bảo hộ như NHHH vì chúng quá đơn siản và do đó thiếu tính

phán biệt.11 Pháp luật Việt Nam hiện tại chưa có sự quy định rõ ràna; về vấn đề này

m ùi): đáy là hai loại NHHH mới phát triển trone thời gian Rần đây do nhu cầu phát

triển đa dạng của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của thươns mại hàng

hoá Các doanh nshiệp năns độna, phát hiện ra rằng ám thanh cũng có khả năno; làm

cho nsười tiêu dùng nhận biết được hàng boá mà mình cần dùng hay siúp nsười tiêu

dùne phân biệt được nguồn gốc sản xuất khác nhau của hàn? hoá cùns loại, nsay cả

khi người tiêu dùng chưa cần nhìn thấv hàng hoá Chính vì lợi thế này nén nhà sản xuất

và bán lẻ kem hàng đầu thế giới Wall của Mỹ đã đăns; ký giai điệu âm nhạc đặc trưng

trên các xe bán kem lưu động làm NHHH âm thanh độc đáo cho sản phẩm kem của

mình Sự ra đời của internet và thươns mại diện tử càng làm cho môi trường kinh doanh

trở nên đa dạng và nhãn hiệu âm thanh phát huy được vai trò của mình một cách tích

cực hon Ví dụ nhà sản xuất hoặc phân phối có thể “nhắc nhở” khách hàns mua sản

phẩm của mình khi người này đanơ duyệt một trans web bán các sản phẩm cùn2; loại

bằng một tín hiệu âm thanh đặc trưng cho sản phẩm của mình Có hai dạns nhãn âm

thanh thường được sử dụne, Đó là những nốt nhạc hoặc tiết tấu nhạc ngắn được sáng

tác (ví dụ các âm thanh của chương trình Windows) hoặc các âm thanh tron2; tự nhiên

(ví dụ tiếng gầm của loài thú hay tiếng rì rào của biển cả) Cũng giống như nhãn hiệu

ba chiều, để được đãng ký bảo hộ thì nhãn hiệu âm thanh phải được thể hiện thành các

nốt nhac và tiết tấu nhac trên giấy, Và do đó, trên thưc tế cái cần bảo hô là siai điêu

nhạc gắn lên hàns, hoá, dịch vụ trong khi đó cái được bảo hộ lại là những nốt nhạc và

tiết tấu nhạc mà người nộp đon thể hiện trên giấy

Đối với nhãn hiệu khứu giác (nhãn hiệu mùi) chưa có sự phát triển mạnh mẽ như

nhãn hiệu âm thanh Một trong những lý do của thực tiễn này là vì, không ẹiốns như

nhãn âm thanh hay nhãn ba chiều, việc mô tả các mùi hết sức khó khăn, đặc biệt là

các mùi tự tạo khôns có trong thiên nhiên Một lý do nữa là t r o n g việc giúp người tiêu

dùng phân biệt và nhận ra sản phẩm quen dùng, các mùi không có hiệu quả cao như

hình ảnh hoặc ám thanh Vì thế cho đến nay vẫn mới chỉ có một số mùi nhất định đăng

ký cho một số hàng hoá đặc thù nhất định Đó là những mùi đặc trưng (hav còn sọi là

mùi cơ bản) mà khônỉỊ cần mô tả ai cũnơ có thể biết và nhận ra chúng, ví dụ mùi

vanilla đăng ký cho một số loại bánh kẹo hay hương liệu, mùi hoa Plimeria đănẹ ký

cho chỉ may và sợi thêu

Như trên đã đề cập mùi và âm thanh là hai vếu tố rất mói cấu thành nên NHHH

VI thế hầu hết pháp luật và thực tiễn bảo hộ NHHH ỏ' các nước trên thế giới chưa kịp

" Giới thiệu pháp luật NHHH, Cục SHCN Nhật Bản - Trung tâm SHCN Chầu á-TBD (IIII) 2000, trang 7

Trang 22

quv định hoặc điều chỉnh đầy đủ đối với hai đối tượng này Đối với cách tiếp cận mở về khái niệm NHHH của Mỹ, EƯ và TRIPS như phân tích ỏ' trên, có thể thấy rằng hai loại hình NHHH mới này khi phát sinh cũng khône hoàn toàn mâu thuẫn với định nghĩa hiện hành về NHHH của các hệ thống pháp luật này Tuv nhiên, pháp luật Mv và EU vẫn có rất nhiều việc phải làm liên quan đến khía cạnh thủ tục và bảo hộ đối với NHHH

âm thanh và mùi Pháp luật Nhật Bản cũns giống như pháp luật Việt Nam chưa tính đến các yếu tố mùi và âm thanh trong cấu thành NHHH và do đó loại bỏ các nhãn hiêu

âm thanh và mùi ra khỏi thực tiễn đãne ký và bảo hộ NHHH của mình.12

được nhận biết qua xúc giác thườn2 dành để gắn lén những loại hàng hoá siúp cho nsười khiếm thị nhận biết được hàng hoá mình cần chọn, v ề bản chất, lý thuyết về nhữns dấu hiệu khác khôns nhìn thấy được có khả năng đăng ký làm NHHH được phái

triển trên cơ sở “tính m ở ' của khái niệm NHHH như quy định của TRIPS, Mỹ và EU

Như đã phân tích trên đây, pháp luật các nước này chỉ chú trọnẹ đến tính phân biệt của một dấu hiệu để xác định NHHH Vì vậy, về nguyên tắc bất kỳ dấu hiệu nào có thể phân biệt hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của một doanh nghiệp khác đều có thể được coi là NHHH Có thể có những nhân tố mà neày nay chúng ta chưa xác định được nhưng trons tương lai, với sự ra đời và phát triển của các môi trường mới như Internet, thực tại ảo (Virtual Reality), chúns có thể tboả mãn chức năng phân biệt của một NHHH

l l ị Các tiêu chí đê được bảo hộ

Như trên đã phán tích, mặc dù pháp luật quốc gia và quốc tế phần nào có sự khác nhau về định nshĩa NHHH son2 chúns đều thốnơ nhấí ỏ' chức năng hay mục đích

sử dụng NHHH Để phân biệt các hàng hoá, dịch vụ của mình với hàns hoá, dịch vụ cùns loại của đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể sử đụn? nhiều loại nhãn hiệu khác nhau để gắn lên sản phẩm của mình Nhãn hiệu đó có thể là các dấu hiệu thông thường như các chữ cái, chữ số, hình họa hai chiều hoặc cũng có thể là các dấu hiệu đặc biệt như hình khối ba chiều, màu sắc, âm thanh hay mùi Tuy nhiên, khóng phải bất cứ dấu hiệu nào mà các doanh nghiệp dùn£Ị để gắn lên hàng hoá, dịch vụ của mình cũng đều trở thành NHHH Để được các cơ quan nhà nước cho phép đăng ký và bảo hộ như một NHHH dấu hiệu đó phải đáp ứng; một số yêu cầu nhất định Pháp luật quốc tế

và của mỗi quốc gia thường có các quy định khác nhau về các yêu cầu cụ thể dể một

dấu hiệu có thể được đãns ký làm NHHH Tuy nhiên, nhìn chuns thì các Yêu cầu cụ thể đó có thể được tập hợp thành ba loại yêu cầu mang tính chuẩn mực toàn cầu

|: Giới thiệu p h á p lu ậ t N H H H , Cục SHCN N hật Bàn - T rung tâm SHCN Cháu á-Thái bình dương (JĨĨI) 2001

Đ iéu 785 BLDS nước C H X H C N V iệt Nam

Trang 23

Loai yêu cầu Thứ nhất liên quan đến chức năns cơ bản của một NHHH đó là chức năng

phán biệt hàng hoá, dịch vụ của một doanh nehiệp này với những hàng hoá, dịch vụ cùns loại của các doanh nơhiệp khác Từ chức năns đó thì NHHH phải mang tính riêng hoặc tính phân biệt đối với các hànẹ hoá

Loai yêu cầu thứ hai liên quan đến nhữnẹ hậu quả có hại có thể xảy ra từ NHHH nếu

nhãn hiệu đó có nhữnẹ dấu hiệu sây ra sự hiểu lầm Cụ thể hơn, loại yêu cầu này nhằm bảo đảm NHHH đó không có nguy CO' gây nhầm lẫn với hàng hoá thuộc nguồn thươnẹ mại khác hay làm cho người tiêu dùng hiểu nhầm về chất lượng sản phẩm

Loai \êìẮ cầu thứ ba liên quan đến việc sử dụne một số dấu hiệu và biểu tượng đặc biệt

làm NHHH Loại yêu cầu này nhằm tránh cho việc sử dụng NHHH xâm hại đến sự miễn trừ nsoại giao dành cho các chủ thể đặc biệt hoặc xâm hại đến đạo đức xã hội hay lợi ích công cộng

Ba loại yêu cầu này cùng tồn tại gần như tronẹ tất cả các luật về NHHH của các quốc gia Chúng cũng được quy định tại Điều 6quinquies B của Cóng ước Paris Theo đó các NHHH được bảo hộ theo Điều 6quinC!Uies A có thể bị từ chối đăng ký chỉ khi nếu

“chúng hoàn toàn thiếu đặc tính phân biệt” hay nếu “chúng trái với các giá trị đạo đức

và trật tự công cộng, đặc biệt, là nếu chúng thuộc loại để ơây hiểu nhầm cho côna chúng”

Một NHHH, để có thể làm tốt chức năng của mình và được bảo hộ trước tiên cần phải có tính phán biệt Điều 15.1 TRIPS quy định bất kỳ một dấu hiệu nào có khả nănẹ phán biệt hàne hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp vói hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nehiệp khác đều có thể làm NHHH Trường họp tự thân dấu hiệu không có khả năng phân biệt thì việc đăng kv chỉ được tiến hành nếu xác định được qua quá trình sử d ụ n ơ , dấu hiệu vẫn có thể đạt được tính phân biệt Pháp luật của EU cũng quy định rất rõ rằng nếu dấu hiệu khôns có tính phân biệt thì dù đó là dấu hiệu gì

cũns không thể được đăne ký làm NHHH.13 Điều 6.2.ã Nghị định 63/CP của Chính

phủ Việt Nam cũng quy định dấu hiệu không có tính phấn biệt là căn cứ để từ chối naay lập tức việc bảo hộ như một NHHH Trong pháp luật Nhật Bản và pháp luật Mỹ cũna; có những điều khoản tương tự

“Tính phân biệt" của một NHHH đana là một vấn đề phức tạp, nhất là trona việc pháp điển hoá bằng pháp luật Một thực tế là trong các quy định thành văn của TRIPS cũno như pháp luật các nước khônR đề cập cụ thể thế nào là “tính phân biệt” của NHHH Mặc dù vậy, khái niệm về tính phân biệt lại được hiểu một cách khá nhất quán trong giới luật gia các nước Họ thường cho rằng mộĩ NHHH có tính phân biệt nếu sau

Trang 24

khi nó được đăne ký và áp dụng vào thương mại cho các hàng hoá, dịch vụ tương ứng thì có khả năns làm cho người tiêu dùns nhận biết được hàng boá, dịch vụ mang nó với hànc hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác Việt Nam có lẽ ]à nước có quy định thành văn chi tiết nhất về khái niệm tính phân biệt của NHHH so với pháp luật các nước trên Điều 6.1 Nghị định 63/CP quy định một dấu hiệu dùng làm NHHH được công nhận là có tính phân biệt khi nó đáp ứng đầy đủ 8 điều kiện liệt kê trong đó Tuy nhiên, các điều kiện này trên thực tế cũng được đề cập đến một cách đầy đủ trons pháp luật của Mỹ, EU và Nhật Bản Pháp luật các nước này coi chúng là những trườns hợp

rõ ràng cần phải từ chối đơn đăng ký chứ không dùng chúng để xây dựng định nghĩa về tính phân biệt Vì thế, về mặt bản chất cách hiểu của pháp luật Việt Nam về tính phân biệt của NHHH khôna có gì khác so với cách hiểu chune của pháp luật quốc tế và các nước nói trên

Như vậy, có thể hiểu một cách chuns nhất tính phân biệt của NHHH là khả năng của NHHH giúp cho người tiêu dùng xác định được nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ mans nhãn Nhìn từ sóc độ người tiêu dùng, nếu NHHH được gắn lên hàng hoá, dịch vụ tương ứng khi đến với người tiêu dùng nó có khả năng đem lại cho người tiêu dùng thông điệp giúp người tiêu dùna nhận ra được hàng hoá dịch vụ nàv

thuộc nguồn gốc thương mại nào (do ai sản xuất hay cung cấp với chất lượng mà người

tiêu dùnơ đã quen thuộc) chứ khôns phải là nguồn sốc thương mại nào khác

Một dấu hiệu không có tính phân biệt thì không thể giúp nsười tiêu dùng xác định đúnc được hàng hoá mà họ muốn lựa chọn Từ “quả táo” hoặc một hình ảnh quả táo không thể được đăng ký cho hàns hoá là táo, nhưng lại có thể mang tính phân biệt cao đối với những chiếc máy tính Điều này cho thấy đặc tính phân biệt cần phải được đánh giá trong mối liên hệ vói những hàng hoá mà NHHH được áp dụng

Việc xác định xem NHHH có mang tính phân biệt hay không phải tuỳ thuộc vào

sự nhận thức của người tiêu dùns;, hay ít nhất là của những người là đối tượng hướng tói của nhãn hiệu đó Một nhãn hiệu sẽ là mang tính phân biệt đối với hàng hoá mà nó áp dụns khi nó được nhận ra, hoặc có khả năng được nhận ra, bởi những người là đối tượnc hướng tới của nhãn hiệu đó, nhằm xác định đúns hàns hoá đó là íừ một nguồn thương mại riêng biệt

Thuộc tính phàn biệt của một nhãn hiệu khôns phải là một nhân tố bất biến hay tuyệt đối Tuv thuộc vào các công đoạn của người sử dụng nhãn hiệu hay bên thứ ba,

nó có thể bị mua lại hay tăng thêm hoặc thậm chí có thể mất đi Các yếu tố như quá trình sử dụna (có thể rất dài và rộng rãi) đối với nhãn hiệu cần phải được cơ quan đăng

13 Đ iều 7 Q uỵ định số 4 0 /1 9 9 4 của Hội đổng Châu Âu

Trang 25

ký tính đến khi đưa ra ý kiến rằnc nhãn hiệu đó có thiếu tính phân biệt cần thiết hay khônc, nghĩa là khi đó nhãn hiệu tự bản thân nó khône mans tính phân biệt.

Đươnẹ nhiên có nhữns cấp độ phân biệt khác nhau và câu hỏi đặt ra là liệu một dấu hiệu phải có tính phân biệt đến mức độ nào để có thể được đăng ký Liên quan đến vấn đề này cần phải có sự phân biệt giữa hai loại nhãn hiệu tiêu biểu - các NHHH tự đặt hoặc tự nghĩ ra mà không hàm chứa ý nghĩa £Ì cả và các loại nhãn hiệu khác lấy từ những dấu hiệu có sẵn trong tự nhiên

Môt ví du nổi tiếne của loai NHHH thứ nhất là nhãn hiệu KODAK dành cho

phim chụp ảnh hay hình con cò và vòns tròn vẽ cách điệu dành cho dịch vụ vận tải hànc khôns của Vietnam Airlines Do là nhữns dấu hiệu tự nhà sản xuất hay phân phối hàng hoá tạo ra mà trước đó chưa tồn tại tronc tự nhiên, những NHHH này có thể không được các nhà marketing ưa chuộna, bởi n^ười tiêu dùng chưa biết gì về chúng cũng như ý nshĩa vãn học mà chúng đem lại khi lần đầu tiên họ được biết đôi khi cũng không liên quan đến sản phẩm hay dịch vụ mang nhãn Từ KODAK hoàn toàn không

có nghĩa và càng không có nghĩa là phim chụp ảnh cũng như hình ảnh con cò không liên quan gì đến việc chuyên chở bằng máv bay Do đó, những NHHH này yêu cầu phải có sự đầu tư tốn kém vào quảng cáo để làm cho người tiêu dùng biết về chúng Tuy nhiên, chúng lại nhận được sự bảo hộ mạnh mẽ của pháp luật và có khả nãnc đăng

ký rất cao Bởi chúng thường là độc nhất vô nhị, có tính chất như một vật đặc định nên mang tính phân biệt rất rõ nét Khi những NHHH loại này đã đi vào lòng công chúng thì người tiêu dùng sẽ nhận ra hàng hoá, dịch vụ mang nhãn ngay lập tức khi nhìn thấy chúng

Ngoài những dấu hiệu tự con người nghĩ ra như trên, loại dấu hiệu thứ nhất này còn có thể bao gồm những ngôn nsữ hay hình ảnh sử dụng hàng ngày, có nghĩa nhất đinh trong đời sống Tuv nhiên những nghĩa thông thường mà mọi người biết tới đó lại khône hề có liên quan gì đến sản phẩm mà nó mang nhãn Vì thế những nhãn hiệu này vẫn được xếp vào loại thứ nhất, mang tính phân biệt cao và dễ được các cơ quan nhà nước cho đăng ký Điều này dúng đối với cả các nhãn hiệu từ ngữ hoặc hình ảnh Có thể đưa ra các ví dụ nổi tiếnẹ như nhãn hiệu CAMEL dùns cho thuốc lá và nhãn hiệu APPLE đã để cập trẽn đáy (bao gồm cả phần từ ngữ và hình ảnh) dành cho máy tính

Từ “camel” tronơ tiếng anh có nshĩa là con lạc đà và khôns liên quan gì đến thuốc lá, chính vì vậy khi hãns Phillips Morris chọn từ này cùnạ hình ảnh con lạc đà làm nhãn hiệu cho thuốc lá của mình thì nó có tính phân biệt rất cao Người hút thuốc lá khi nhìn thấy nhãn hiệu con lạc đà cùng chữ “Camel” là xác định được ngay đây có phải là loại thuốc lá mình cần hav kbôns Tương tự, từ “apple” trong tiếng anh có nshla là quả táo

và về nshĩa vãn học nó khôns liên quan gì đến máy tính cá nhân, vì thế khi nó được chọn làm nhãn hiệu máy tính thì lập tức có tính phán biệt cao mà người tiêu dùng khi

Trang 26

nhìn thấv nhãn đó cắn trên máy tính đã biết máy tính đó do hãng nào sản xuất và chấtlượng có thoả mãn được vêu cầu của mình hav khôns.

Những nsười làm o o m a r k e t i n g thườnơ rất thích dùng các nhãn hiêu có thể hàmo cchứa sự liên tưởna đến sản phẩm trong đầu óc của người tiêu dùng Vì thế họ thường có

xu hướng lựa chọn loại NHHH thứ hai - nhữns thuật ngữ ít nhiều mang tính mô tả

(descriptive), nshĩa ]à nhữnẹ dấu hiệu làm cho người tiêu dùng liên tưởng đến sản phẩm mane nhãn bằng cách nơẩm chứa đựn°Ị nhữna thôns tin liên quan đến các đặc điểm hay chất lượng của sản phẩm mang nhãn Nhìn chung pháp luật các nước đều công nhận một nguyên tắc là các thuật ngữ mô tả có thuộc tính phân biệt đối với nhữne hàns hoá liên quan nếu nó mang được một nshĩa thứ cấp (secondary meaning), có nghĩa là nếu nhữns ncười tiêu dùns khi nhìn thấy nó có thể nhận biết được hàna hoá là

từ một nguồn thương mại xác định Nếu đáp ứng được điều này thì nhãn đó có thể được đăng ký Các ví dụ loại này có rất nhiều trong thực tiễn “Điện quang” được dùn? làm NHHH cho một loại bóng đèn do công ty Điện quang sản xuất và nó cũne raans nghĩa

là thắp sáng bằng điện và làm cho người dùng ngay cả khi chưa dùng bóng Điện quang cũng có thể liên tưởng; tới bón^ đèn Hay “Ivorỵ” trong tiếng Anh có nghĩa là nẹà voi

và cũng là nhấn hiệu của một loại xà phòng Ivory có thể làm cho người tiêu dùns liên tưởng tới màu của loại xà phòng đó hoặc là ẩn ý chất lượng của nó có thể làm sạch và trắns da như nsà voi

Một nội dung nữa cần lưu ý khi bàn về tính phân biệt của NHHH là thuật ngữ

“ giữa các hàn" hoá và dịch vụ cùng loại ” trong định nghĩa về NHHH của pháp luật

quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam Cụm từ này có tác dụng giới hạn bối cảnh xác định tính phân biệt của NHHH Khi cân nhắc một NHHH có tính phân biệt khi đem nó gắn lên một hàng hoá, dịch vụ hay khôns người ta phải đối chiếu nó với những hàna hoá, dịch vụ cạnh tranh vói nó, có thể gây nhầm lẫn trong sự lựa chọn của người tiêu dùng Có nghĩa là phải đặt hàng hoá, dịch vụ mang nhãn trons; bối cảnh của hàn2; hoá dịch vụ cùng loại Nếu đặt bàns hoá dịch vụ mang nhãn trong bối cảnh chuns; của tất

cả các loai hàns hoá, dich vu trên thi trườnơ thì sẽ là vô nahĩa vì muc đích của nhà sảno ’ o oxuất hay phán phối hàng hoá chỉ nhằm mục đích nhờ NHHH làm cho người tiêu dùnc phân biệt và lưa chọn hàns hoá của mình trong sự cạnh tranh từ những hànơ hoá cùng loại khác mà thôi Hơn nữa nếu cho rằns NHHH khônơ những đem lại tính phân biệt đối với các hàng hoá cùng loại của các doanh nghiệp khác mà còn đối với tất cả các loại hàng hoá khác của các doanh nghiệp khác thì sẽ dẫn tới chỗ khi một NHHH đã được đăng ký cho một hay một số nhóm hàng hoá dịch vụ thì các doanh nghiệp trong các lĩnh vực hànc hoá, dịch vụ khác (không cùng loại) khôns thể lấy NHHH làm nhãn hiệu cho mình Và như vậy là khôns thực sự thích đáng Hiện nay có một số tài liệu

dịch các ĐƯQT hoặc pháp luật của các nước chưa để ý đến điều này nên khi dịch

Trang 27

TRIPS sang tiến2 Việt họ khônc đưa thuật ngữ “cùns loại’' vào định nshĩa N H H H 14 Điều này dẫn tới chỗ hiểu nhầm các quy định tương ứns của TRIPS Thực tế bản tiếng

Anh có quy định tương ứng là “Any sign, or any combinaĩion o f signs, capable o f

distinguishing the goods or services o f one underiaking from tho se o f other undertakings, shalì be capable o f constừuting a trademark,' ìĩ‘ Từ “those" là một dại từ

xác định và dùng trons bối cảnh này có nshĩa là “cùng loại”

Qua các phân tích về tính phân biệt của NHHH trên đây, có thể thấv giá trị của một NHHH chính là tính phán biệt của I1Ó Các doanh nghiệp bao giờ cũns nỗ lực hết sức nânơ cao chất lượns và quảng bá sản phẩm nhằm làm cho NHHH của mình có tính phán biệt cao trong tấm trí nsười tiêu dùng

Đối với các cơ quan nhà nước, cũng thưòns căn cứ trên sự xác định tính phán biệt của một nhãn hiệu để cho phép hay không cho phép đăng ký NHHH Để phục vụ việc xác định tính phân biệt của một nhãn hiệu được dễ dàng, pháp luật các nước thườns quy định một số trườns họp nhãn hiệu rõ rànc là không có tính phán biệt, có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và do đó sẽ bị từ chối đăng ký NHHH Ngoài ra còn

có một loại lý do thứ hai bao gồm một số trường họp tuy nhãn hiệu dự định dùng có thể

có tính phân biệt song vì một số lý do đặc biệt nào đó mà nó không thể đăng ký NHHH được Các trường hợp thuộc cả hai loại này sẽ được phân tích dưới đâv Khác với pháp luật quốc gia, các ĐƯ QT trong lĩnh vực bảo hộ NHHH lại khône có các quy định ỏ mức độ cụ thể như vậy Vì thế phần dưới đây sẽ chỉ phân tích và so sánh các quy định tương ứng trone pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam

Nếu một dấu hiệu khôns mane tính phân biệt, nó không thể thực hiện chức nãnẹ của một NHHH và việc xin đãns ký nó sẽ bị từ chối Thôna thường nsười nộp đơn

không cần chứng minh tính phấn biệt, trách nhiệm đó thuộc về cơ quan đănơ Họ phải chứno minh rằng nhãn hiệu thiếu tính phân biệt để từ chối đãng kv Ngược lại hoặc trong trường hợp có do dự về tính phán biệt thì nhãn hiệu đó cần phải được đăng ký

Vậy những trườnơ họp nào có thể bị cơ quan đăne ký coi là thiếu tính phán biệt

và không được đăng ký? Nhìn chung, pháp luật các nước, tronơ đó có Việt Nam đều chia những trường họp khôn? được đăng ký do thiếu tính phân biệt thành những loại eiống nhau Tuy nhiên, các quv định về từnc tnrờns họp cụ thể trons mỗi loại thì có sự khác nhau

* Loại thứ nhất: Thiếu tính phân biệt do trùng hay tương tự với m ột nhãn hiệu khác

14 C á c q u x đ ịn h p h á p lu ậ t vé S H C N , N X B C hính trị Q uốc g ia 2001, tra n ẹ 408

15 Đ oạn í K hoản 1 Đ iều 15 T R IP S

Trang 28

ở loại điều kiện thứ nhất nàv, dấu hiệu xin đănơ ký phải khôna được trùnc hoặc tương tự ỏ' mức có thể gây nhầm lẫn với một NHHH nào đó đã tồn tại trước đó (nhãn hiệu đối chứng) Mục đích của việc thoả mãn điều kiện này là bảo vệ quyền lợi của chủ nhãn hiệu đối chứns, đồnẹ thời tránh cho người tiêu dùnc có thể hiểu nhầm là nhữne sản phẩm mang dấu hiệu xin đăng ký là nhữns sản phẩm mans nhãn hiệu đối chứns hoặc nơược lại.

Theo quy định của pháp luật SHCN Việt N am , các trường hợp sau có thể bị coi

là thiếu tính phán biệt do trùng hay tương tự tới mức gây nhầm lẫn dẫn đến thiếu tính

phân biệt:

- Trùng hoặc tươne tự tới mức gây nhầm lẫn vói nhãn hiệu của ngưòi khác đang đưọ'c bảo hộ tại Việt Nam kể cả các NHHH đans được bảo hộ theo các ĐƯQT

mà Việt Nam tham gia;

- Trùnẹ hoặc tươns tự tới mức sây nhầm lẫn với một NHHH đã được nêu trons đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ NHHH đã nộp cho CO' quan có thẩm quyền với ngàv

ưu tiên sớm hơn kể cả các đơn về NHHH được nộp theo các ĐƯQT mà Việt Nam tham ííia Theo điều khoản này thì dù nhãn hiệu đối chứng chưa được chính thức cấp văn bằng bảo hộ nhưng nếu đã nộp đơn với ngày ưu tiên sóm hơn so vói nhãn hiệu đang xem xét thì nhãn hiệu sau này không được đăns ký Các cơ quan có thẩm quyền về vấn

đề này ns;oài cục SHCN Việt Nam còn có các cơ quan khác theo quy định của các ĐƯQT về bảo hộ NHHH mà Việt Nam tham gia

- Trùng hoặc tươnc; tư tới mức sây nhầm lẫn vói NHHH của naười khác đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo hộ nhưng thời ẹian tính từ khi hết hiệu lực hoặc

bị đình chỉ hiệu lực chưa quá 5 năm Trường hợp chủ NHHH đối chứns đã không sử dụng NHHH trong 5 năm liên tục trước ngày có yêu cầu đình chỉ mà không có lv do chính đáng thì không tính đến thời hạn 5 năm sau khi có quyết định đình chỉ hiệu lực

- Trùng hoặc tươnạ tự tới mức aây nhầm lẫn với NHHH của người khác được coi là nổi tiếng (theo điều ốbis Côns ước Paris) hoặc với NHHH của nsười khác đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi.16

Một vấn đề nữa trons những quy định này của Việt Nam là làm thế nào để có

thể xác định được mức gây nhầm lẫn của tính tươnơ tự của một nhãn hiệu đối với một

nhãn hiệu đối chứne Các văn bản pháp luật hiện hành của Việĩ Nam chưa có các quy

định điều chỉnh vấn đề này Việc quyết định một nhãn xin đăng ký có tưons tự tới mức

gây nhầm lẫn đối với một nhãn đối chứng hav khôns hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự xem

xét của Cuc SHCN Neav chính bản thán Cuc SHCN cũns chưa có văn bản hướnẹ dẫn

Đ ièu 6 K hoản 1 Đ iểm b c d e N ehị định 63/C P

THƯ VIỆNTRƯỜNG ĐẠI H Ọ f ■■ ‘ HÀ NỘI

P H Ò N G G V _ _ _

Trang 29

chính thức về phương pháp xác định mức độ có thê gây nhấm lẫn này Điều đó đã tạo

khônẹ ít khó khăn cho các doanh nghiệp khi lựa chọn các nhãn hiệu thích hợp cho mình cũng như cho các đại diện SHCN khi làm việc với Cục về vấn đề liên quan Mỹ,

EU và Nhật Bản cũng không có quy định chính thức thành vãn bản đối với cách thức xác định vấn đề này, nhưng bù lại họ có nhiều công cụ'khác Ví dụ các cơ quan có thẩm quyền đãng ký NHHH của các nước đó thường phát hành các tài liệu hướng dẫn (Manuals) về đãnc ký NHHH Những tài liệu rất chi tiết và có đề cập tới các nguyên tắc xác định mức độ tươns tự có thể gây nhầm lẫn Ngoài ra ở Mỹ và EU, các bản án của tòa án, đặc biệt là Toà tối cao Mỹ và Toà tối cao Châu Âu (European Court of Justice) là nguồn quan trọns của pháp luật và trons đó có những lời phán tích rất cạn

kẽ về các vấn đề pháp lý liên quan đến NHHH

Trong thực tế thẩm định tính tương tự có thể sây nhầm lẫn Cục SHCN Việt Nam cũng áp dụng một số nguyên tắc nhất định Trước tiên là việc xác định nguy cơ nhầm lẫn có thể xảy ra phải từ phía người tiêu dùng vì họ là đối tượng hướng tới của mọi loại hàns hoá, dịch vụ Sau đó là một sô' nguyên tắc mang tính kỹ thuật ví dụ như dấu hiệu đanẹ xem xét có tương tự về mặt cấu trúc, ý nghĩa và hình thức thể hiện với nhãn hiệu đối chứng hay không? bản chất hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu có tương tự với hàns hoá, dịch vụ mang nhãn đối chứns khôns? mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu đối chứng? v.v

Pháp luật Nhật Bản, cũng quy định rằng một dấu hiệu có khả năng được đặng

ký phải là một dấu hiệu không được gây nhầm lẫn về hàng hoá có xuất xứ từ doanh

nghiệp hoặc nguồn thương mại khác hay dẫn tới sự hiểu nhầm của côns chúng đối với

chất lượng của hàng hoá Trên cơ sở đó, có nhiều trường họp cụ thể thuộc loại này được viện dẫn bởi Cục SHCN Nhật Bản:

- Các dấu hiêu trùng hay tương tự với những nhãn hiệu nổi tiếng đối với người tiêu dùns; và được dùng đối với những hàng hoá, dịch vụ cùng loại với hàng hoá, dịch

vụ của nhãn đối chứna đó Một nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Nhật Bản không những chỉ nổi tiếng đối với người tiêu dùng mà còn phải nổi tiếng cả đối với nhữns nhà phân phối hàng hoá, dịch vụ đó

- Các dấu hiệu trùng hay tương tự các nhãn hiệu đã đăng ký trước hay nộp đơn với ngày ưu tiên trước đối với hàng hoá, dịch vụ cùng loại

- Các dấu hiệu trùng hay tương tự với các nhãn hiệu lán cận, hay còn gọi là nhãn hiệu phòng vệ (deíensive mark) đã đăng ký của người khác và cũns được đùna với hàns hoá, dịch vụ cùng loại

- Các dấu hiệu trùns hay tươns tự với các nhãn hiệu đã đănc ký đối với hàng hoá cùng loại của người khác trong thời hạn một năm kể từ ncày nhãn hiệu đối chứnc

Trang 30

nàv hết hạn hay bị hết hiệu lực theo quyết định của toà án hay cơ quan có thẩm quyền

Về cơ bản điều kiện này giốnơ với điều kiện mô tả trên đây theo pháp luật Việt Nam

Tuy nhién thời hạn ở đáy có naắn hơn, chỉ quy định 1 năm so với 5 năm của Việt Nam

- Các dấu hiệu trùnạ hoặc tương tự với lên gọi của một họ hạt giốns đã được đăna; ký theo Luật về nhân giốns và hạt giống nông nghiệp Nhật Bản (Luậĩ số 83 năm

1998) và được sử dụng trên hạt siốna của họ hạt giống đó hay trên các hàng hoá, dịch

vụ tương tự Đây ]à trườna hợp hoàn toàn chưa được quy định bởi pháp luật Việt Nam

Quy định này nhằm bảo vệ các sản phẩm hạt giốnơ trong cùng một họ khi được nhân

siốns Khi tên của họ hạt giống nàv đã được đăng ký thì các nhãn hiệu gắn trên hàns

hoá cùnẹ loại sẽ không được trùng hay tương tự với tên này

Pháp luật EU cũng đề cập đến những trườns hợp không được đãng ký trên cơ

sỏ' thiếu tính phân biệt do sự trùng hay tươns tự vói một nhãn hiệu trước đó Những

trườns họp thuộc loại này được gọi là những trường hợp từ chối đăng ký NHHH vì

những lý do mềm (relative grounds for reíusal) Cụ thể pháp luật EU đề cập tới nhữnẹ

trường họp sau:

- Theo sự phản đối của chủ một NHHH đã được đăng ký trước (nhãn hiệu đối

chứng-TG), dấu hiệu đang xin đăng ký sẽ không được đăng ký:

a nếu nó giống hệt với NHHH trước đó và hàng hoá, dịch vụ xin đăng ký

được mang dấu hiệu đó giống hệt với hàng hoá, dịch vụ mà NHHH trước

đã được bảo hộ; hay

b nếu vì tính giống hệt hoặc tương tự của nó với NHHH đối chứng mà có

khả nănẹ sẽ gây ra sự nhầm lẫn trong công chúng trong lãnh thổ mà NHHH đăng ký trước được bảo hộ; khả năng gây nhầm lẫn này bao gồm

cả khả năng gây ra liên tưởng đến NHHH đã đăng ký trước đó

Đối với trường hợp này, Quy định 40/1994 ngày 20/12/1993 của Hội đồng Châu

Âu cũng đưa ra hai khả năng tươna tự như pháp luật Nhật Bản Nếu dấu hiệu xin đăns

ký giống hệt với nhãn đối chứng thì sẽ bị từ chối Nếu dấu hiệu đó tương tự nhãn hiệu

đối chứng thì nó sẽ bị từ chối nếu gây ra sự nhầm lẫn trong công chúng tronẹ lãnh thổ

mà nhãn đối chứns được bảo hộ Tuy nhiên, ỏ' đây cũng đề cập rõ sự nhầm lẫn có thể

có hai loại Thứ nhất, nsười tiêu dùng (côna chúng) nhầm lẫn về nguồn cốc hàng; hoá

mang nhãn Thứ hai, người tiêu dùns có thể liên tưởng đến NHHH đã đãns ký trước.17

- Theo sự phản đối của chủ sỏ' hữu NHHH, một người đại lý hoặc đại diện của

họ khônẹ được đănơ ký NHHH đó dưói tên của neười đại lý hoặc đại diện đó mà

không có sự đổng ý của chủ sở hữu, trừ khi người đại ]ý hoặc dại diện có thể chứng

17 K hoản 2 Điều 8 Q uy định số 40/1994 của Hội đ ồ n e Chấu Âu

Trang 31

minh hành độn2 đàns ký của mình là chính đánc Trườns họp này được pháp luật EƯ

đật ra khá mới so với pháp luật Việt Nam và Nhật Bản ớ đây có hai chủ thể, một là

chủ sở hữu NHHH đã đãne ký và một đang xin đãng ký, có liên quan mật thiết vói

nhau Người xin đăns ký sau là người đại lý hoặc đại diện của chủ nhãn hiệu đối

chứns Nsười đại lý hay đại diện này có thể có một số quyền nào đó trons việc sử dụns

NHHH đối chứng Tuy nhiên, nếu không có sự đồns ý của chủ nhãn hiệu đối chứng thì

họ khôns thể đăng ký tên của họ cho một dấu hiệu giốnạ hệt với nhãn hiệu đối chứns

được Vì mối quan hệ giữa người đại lý hay đại diện (the agent) với người giao đại

diện, đại ]ý (the principle) thườn2 là rất mật thiết trong truyền thống pháp luật Châu

Au Quy định này cũns mỏ’ ra một khả năng ngoại lệ cho nạ ười đại lý hay đại diện nếu

chứng minh được việc xin đăne ký của mình là chính đ án s.18

- Nếu nhãn hiệu đối chứng là một nhãn hiệu nổi tiếng trong lãnh thổ EU hoặc các nước thành viên EU thì nguyên tắc bảo hộ NHNT sẽ được áp dụng Có nghĩa là

việc xem xét tính trùng hay tương tự của NHHH đó đối với nhãn đối chứns sẽ không

chỉ dừng lại ỏ' các hàns hoá, dịch vụ cùng loai mà cả đối với các hàng hoá, dịch vụ

khônơ cùng loại

Đây là một trường hợp SỊÍống với trường hợp tron2 quy định của pháp luật Việt

Nam và Nhật Bản cấm đănơ ký các nhãn hiệu giống với nhãn hiệu đối chứns; là các

NHHH nổi tiếng Tuy nhiên, vì quy định này do một cơ quan của EU ban hành nên ỏ'

đây có sự phân biệt hai cấp độ nổi tiếng, nổi tiếng trong lãnh thổ cộns đồng châu  u-

nếu nhãn hiệu đối chứng là nhãn hiệu cộng đồng và Dổi tiếng trong lãnh thổ m ột quốc

gia thành viên-nếu nhãn hiệu đối chứng là nhãn hiệu quốc gia thành viên E U i9

Có thể thấy các trườno hợp trùng hoặc tươns tự dẫn tới gây nhầm lẫn được quv

định trong pháp luật EƯ trên đây đều là những trường hợp mà cơ sở để ra quyết định từ

chối cho đăng ký là hết sức tương đối Chủ yếu nó phụ thuộc vào sự cân nhắc, xem xét

của cơ quan có thẩm quyển Đôi khi việc áp dụnơ các căn cứ này yêu cầu có sự trao đổi

hay đàm phán trước giữa cơ quan có thẩm quyền và luật sư của nsưòi nộp đơn Chính

vì vậy những căn cứ này được gọi là những căn cứ mềm Một đặc điểm nữa của pháp

luật EU khi đề cập đến những căn cứ này là luôn luôn đề cao sự phản đối từ phía chủ

nhãn hiệu đối chứng, coi đó như ỉà một tiền đề cho việc xem xét từ chối đăns ký

So với các quy định của các nước phân tích trên đây, pháp luật Mỹ, quy định về

vấn đề này một cách đon giản hơn Điều 2.d (Ư.s.c 1052) của Luật NHHH năm 1946

của Mỹ quy định đơn xin đănơ ký NHHH sẽ không bị từ chối, trừ khi nó giống một

nhãn đã đăng ký tại Cục NHHH và Sáng chế, hoặc một nhãn hiệu hav tên thương mại

1S K hoản 3 Đ iều 8 Q uy định số 4 0 /1994 của Hội đồrm Châu Âu

19 K hoản 5 Đ iểu 8 Q uy định số 40/1994 của Hội dồng Châu Âu

Trang 32

trước đó đã được sử dụns ỏ' lãnh thổ Hoa Kỳ bởi một người khác mà chưa bị người này

từ bỏ quyền sử d ụ n s , khi nhãn hiệu hay tên thươns mại này cũng được sử dụng đối với các hàng hoá của nsười nộp đơn, tới mức có thể gây ra sự hiểu lầm hoặc dối trá Đối chiếu với các quy định tươns ứns của Việt Nam Nhật Bản và EƯ phân tích trên đáy,

quv định nàv có một số điểm khác biệt đána lun V Thứ nhấí, việc đănơ ký nhãn hiệu

có thể bị chối bỏ ngay cả khi nó giống với một tên thương mại, mà một nsười đã sử

dụn° trước đó Thứ hai, việc đăn2 ký có thể bị từ chối ngay cả khi nhãn đối chứng chưa phải là nhãn đã đăns ký mà chỉ cần là nhãn đã được sử dụne trước so với nhãn đans xin đãns ký Đặc điểm này chịu ảnh hưởns rất nhiều của truyền thống án lệ và nguyên tắc first-to-use trong thực tiễn bảo hộ NHHH của Mỹ

Một ngoại lệ của trườnẹ họp này, cũng được quy định tại cùng điều khoản, ]à nếu Cục trưởng Cục SHCN Mỹ quả quyết rằng tuv hai nhãn hiệu tương tự nhau nhưns

việc sử dụng đồng thời chúng vẫn không thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoặc dối trá thì vẫn có

thể cho phép đãng ký NHHH xin đăng ký sau Ngoại lệ này có thể cho phép áp dụng thậm chí với nhiều hơn hai nhãn hiệu tương tự nhau Quy định về ngoại lệ này dường như khôna họp lý vì khó có thể cho rằng hai nhãn hiệu tương tự nhau, hay giốns; nhau lại không gây ra nhầm lẫn Tuy nhiên nếu chúns ta xem xét bối cảnh, điều kiện địa lv cũns như truyền thống pháp luật Mỹ thì điểu này lại họp lý

* Loại thứ hai: Thiếu tính phân biệt do sử dụng các thuật ngữ gốc hay thuật ngữ áp

dụng chung ịgeneric ỉerms)

Một dấu hiệu sẽ được coi là mang tính áp dụng chuns (generic) khi nó xác định một loại hay một nhóm mà hàns hoá manẹ nhãn thuộc về loại hay nhóm đó v ề cơ bản, pháp luật các nước đans phân tích ở đây thống nhất với nhau rằna để bảo đảm tính cône bằne trong thươn? mại và n?ăn chặn khả năng gây nhầm lẫn thì cả nhà kinh doanh và người tiêu dùne không ai được phép độc quyền sử dụng những thuật ngữ gốc này

Các ví dụ về các thuật neữ gốc này có thể liệt kê như “đồ sia dụnơ” (fumiture) (chỉ đổ gia dụng nói chung, và cũng chỉ bàn, ghế v.v.) và “ ơhế” (chỉ các loại shế) Các

ví dụ khác chẳng hạn như “đồ uống”, “cà phê”, và “cà phê hoà tan” (instant coffee) chỉ

ra rằng có nhữne loại hoặc nhóm hànẹ hoá rộns hơn hoặc hẹp hơn, tất cả đều có điểm chunẹ là thuật ngữ rộng luôn được dùne để chỉ các loại hàng hoá đó là thuật nsữ gốc

Những dấu hiệu này hoàn toàn thiếu đi tính phân biệt, và ở một số hệ thống pháp luật thậm chí còn quy định rằng, dù chúns được khai thác và đầu tư nhiều và chúng có thể đã tạo ra được những nshĩa thứ cấp (secondary meanins), nhưng chúng cũng không thể được đăng ký vì theo quan điểm của nhu cầu sử dụng công bằno trong giới thương mại thì chúng không được phép được độc quvền

Trang 33

Tuy về mặt tinh thần, pháp luật các nước đana; phán tích ở đây đều thống nhất ỏ'

sự thiếu tính phân biệt của các NHHH thuộc loại này, song các quy định tương ứng của các nước lại khác nhau Việt Nam và Nhật Bản dành hẳn nhữns điều khoản cụ thể trons văn bản pháp quv để quy định về vấn đề nàv Điều 6.2.Ồ Nghị định 63/CP quy

định: "Dấu hiệu, biểu tượng quy ư ớ c h ìn h v ẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá

thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên được nhiều người biết đến ’ thuộc loại thuật ngữ chunR và khôns được bảo hộ với danh nghĩa NHHH

Còn pháp luật Nhật Bản xếp những nhãn hiệu này thuộc diện những dấu hiệu được sử dụng chung trong thươns mại và được định nshĩa là những dấu hiệu mà một người không thể dùnẹ nó để làm cho hàng hoá, dịch vụ của mình phân biệt với hàns hoá: dịch

vụ của người khác được, bởi vì chúns quá chung chung chỉ được sử dụns để chỉ ra những chủng loại của hàng hoá, dịch vụ Do đó pháp luật Nhật Bản khôns cho phép những nhãn hiệu này thuộc quyền sử dụng riênơ của người nào cả Những ví dụ thuộc loại này, theo hướng dẫn của cục SHCN Nhật Bản là, “Sake” (rưcm sakê), “Mứt bánh bột gạo”, “dịch vụ nhà ở”, “dịch vụ đặt chỗ khu giải trí” hay tên chung của các hàn°; hoá dịch vụ khác như “nhôm”, “xử lý văn bản”, “bảo hiểm phi nhân thọ”, “vận tải phi hàng không” .20

Khác với pháp luật Việt Nam và Nhật Bản, pháp luật của EU và Mv không quy định một cách rõ ràn2 trong trường hợp này Pháp luật của EU chỉ quy định một cách chung chunẹ là nếu NHHH chỉ bao cổm các dấu hiệu hay tín hiệu đã trở nên quen thuôc tronẹ nạôn ngữ thương mai hiên hành hoặc trong các thực tiễn phổ biến trong thương mại thì nó khône được đăng kv Còn Luật NHHH năm 1946 của Mỹ thì hoàn toàn không có quy định gì mà có lẽ họ xếp loại nhãn hiệu chung này vào các loại dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả được quy định tại Điều 2.e (U.s.c 1052)

* Loại thứ ba: Thiếu tính phân biệt do sử dụng các dấu hiệu đon thuần mang tính mô

tả (Descriptive signs)

Các dấu hiệu mô tả là nhữns dấu hiệu sử dụng trong thương mại để đơn thuần

chỉ ra chủng loại, chất lượns, mục đích sử dụng, giá trị, xuất xứ, thòi gian sản xuất

hoặc bất kỳ đặc tính nào khác của hàng hoá Vì thế cũng có thể nói các dấu hiệu đơn thuần mana; tính mô tả này ví dụ như “tốt”, “rẻ”, “tốt nhất-best”, “đẹp nhất-nicest", “rẻ nhất”, “tuyệt vời nhất" cũng mang tính chất của những thuật nơữ chuns Có nghĩa là

nó có thể dùns bởi mọi loại hàns hoá, dịch vụ và khôns một loại hàng hoá, dịch vụ nào được phép độc quyền mans chúns Vì thế, pháp luật các nước về tinh thần chuns đều

20 Giới thiệu pháp luật NHHH Cục SHCN Nhặt Bản - Trung lâm SHCN Châu á-Thái bình dươne (-TIII) 2001,

trang 2

Trang 34

cấm các dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả này đăng ký NHHH để tránh nhầm lẫn cho nơười tiêu dùns.

* Loại thứ tư: Các dấu hiệu khác thiếu tính phân biệt (distinctiveness)

Các dấu hiệu xin đăng ký có thể thiếu 'tính phân biệt do một số nguyên nhân khác nữa Các hình vẽ mà do tính đơn giản hoá hoặc đơn thuần mang đặc điểm trans trí hay minh hoạ, có thể không thu hút được sự chú ý nào của người tiêu dùng như là một dấu hiệu liên hệ tới nguồn sốc sản phẩm, mà chỉ thu hút sự chú ý đó như một phẩn minh hoạ đơn thuần của bao gói sản phẩm siới thiệu đến người tiêu dùng hoàn toàn khônc đem lại tính phán biệt cho nhãn hiệu Hay một khẩu hiệu quảng cáo dài eiới thiệu hàns hoá tới nsười tiêu dùng mà khẩu hiệu này, ncay cả khi đã được in trên bao

bì hàng hoá, thì vẫn quá phức tạp để người tiêu dùng có thể hiểu được như đồ là một sự

ám chỉ tới nguồn Rốc của sản phẩm

Pháp luật các nước có sự quy định khác nhau về vấn đề này Pháp luật Việt Nam

và Nhật Bản, một lần nữa, lại có các quy định rất chi tiết về các trườns họp khác thiếu tính phân biệt ngoài 3 loại trên Pháp luật EU và Mỹ có các quy định ngắn gọn nhưng

bù lại chúnẹ lại có một số các quy định khác mang tính khái quát cao nên vẫn loại trừ được bất kỳ trường họp nào thiếu tính phân biệt

Pháp luật Việt Nam quy định các trường họp thuộc loại này là:

- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của nsười khác đang được bảo hộ, hoặc với chỉ dẫn địa lý (kể cả tên gọi xuất xứ hàng hoá đang được

Pháp luật N hật Bàn cũng đề cáp đến những trường họp cụ thể tương tự:

- Các nhãn hiệu chỉ đơn thuần là dấu hiệu chỉ ra một cách chun ạ chuns họ 2Ìa

dinh phổ biến hav tên pháp nhân.

2] Điều 6 K hoản 1 Đ iểm f, g, h; Đ iều 6 Khoản 2 Đ iểm a N ghị định 63/CP

Trang 35

- Các nhãn hiệu chỉ bao 2ồm các dấu hiệu (từ neữ hoặc hình dạns) rất đơn giản

và phổ biến Cũnơ siống quy định của pháp luật Việt Nam, loại này bao gồm các hình tròn, tam siác xuôi, tam siác ngược, hình vuônơ, hình khối đơn giản, các chữ cái đơn

lẻ, các chữ cái kết hợp đon giản

- Các nhãn hiệu gồm các dấu hiệu chỉ ra nguồn gốc xuất xứ của rượu vans, hay rượu mạnh của Nhật Bản do Cục trưởng Cục SHCN quy định hay các nhãn hiệu chỉ ra nguồn sốc xuất xứ của rượu vang hay rượu mạnh của các nước thành viên WTO

- Các dấu hiệu chỉ bao gồm các hình dạns ba chiều của hàn2 hoá hay bao bì của chúng mà nhữníỉ bình dạns này là những hình dạriR bắt buộc không thể khác được để hàne hoá hay bao bì của nó thực hiện đúns chức năng của mình Đây là trường hợp mà pháp luật Việt Nam không quy định Theo quan điểm của các nhà lập pháp Nhật Bản, những hình dạng đó là bắt buộc một cách tự nhiên đối với hàns hoá hay bao gói của chúng Vì thế không nhà sản xuất hay phân phối nào được độc quyền đăng ký và sử dụng thông qua NHHH Để xác định thế nào ]à hình dạns bắt buộc, các cơ quan chức năng của Nhật Bản sẽ tập truns vào chức năng của hàna hoá hoặc bao bì của nó theo

các tài liệu giới thiệu đặc tính kỹ thuật và quảng cáo với hai nguyên tắc sau, thứ nhất

liệu có thể có một hình dáno khác mà vẫn làm cho hàng hoá hay bao bì của nó thực

hiện tốt chức năng vốn có của nó hay không, thứ hai liệu có thể có một hình dáng ba

chiều khác được làm với chi phí tương tự hoặc thấp hơn hay không.22

Pháp luật EU giống pháp luật Nhật ỏ' chỗ cũng quy định các dấu hiệu như hình dáng

bắt buộc của bản thán hàn2 hoá; hoặc hình dáng của hàng hoá băt buộc phải có để bảo đảm đặc tính kỹ thuật của sản phẩm; hoặc hình dáng tạo giá trị cơ bản cho hàng hoá là nhữnR dấu hiệu mang tính bắt buộc tự nhiên và không thể đănẹ ký được do thiếu tính phân biệt.23

Tuy nhiên pháp luật EU lại hoàn toàn khác với pháp luật Nhật Bản và Việt Nam

ở chỗ ngoài ba trường hợp trên nó không quy định bất kỳ trường họp nào khác thuộc loại này Mặc dù vậy như trên đã đề cập Quy định số 40/1994 lại có một điều khoản mang tính dự phòne và rất khái quát rằng những nhãn hiệu hoàn toàn khống có tính phân biệt sẽ bị từ chối bảo hộ NHHH.24 Với quy định này cũng có thể nói bất kỳ trườns hợp nào nằm trons; sự tiên liệu của pháp luật Việt Nam và Nhật Bản như trình bày trên đây cũng đã được dự trù trong pháp luật EU

27 G iói thiệu p h á p luật N H H H , Cục SHCN N hạt Bản - T rung tâm SHCN Châu á-Thái bình dươna (JII1) 2 0 0 ]

iran g 30

2? Đ iều 7.1.e Quy dịnh 40/1994

24 Đ iều 7.1 b Quv định 4 0 /1994

Trang 36

Pháp luật Mỹ, chỉ có ba trường họp thuộc loại này được quy định Thứ nhất là một

NHHH chỉ ra một xuất xứ của sản phẩm là rượu vang hay rượu mạnh khác với xuất xứ thực của loại rượu đó và lần đầu tiên được người xin đăns ký sử dụns, đối với loại rượu

đó sau một năm kể từ khi thoả thuận WTO có hiệu lực đối với Mỹ25, ở trườns hợp thứ hai và ba, NHHH sẽ bị coi là thiếu tính phân biệt nếu nó chỉ manẹ tính chỉ dẫn về nguồn sốc địa lý của hàns hoá hoặc chỉ đơn siản là họ sia đình phổ thông26 Tuy nhiên, pháp luật Mỹ lại đặt ra ngoại lệ đối với hai trường họp sau này Đó là khi nhãn hiệu mặc dù thiếu tính phân biệt do trùng hay tươna tự vói xuất xứ địa K' hoặc họ gia đình

Sons nếu qua thực tế sử dụng trone thươna mại mà nó đã tạo ra nghĩa thứ cấp nshĩa là

tự tạo ra tính phân biệt cho nó thì vẫn được đãn^ ký

Ngoài ba trưònơ họp trên pháp luật Mỹ không có quy định nào khác tương tự như quy định mở phán tích trên đây của pháp luật EU Cùns với nguyên tắc xác định tính phân biệt qua quá trình sử dụnẹ đối với NHHH bản thân thiếu tính phân biệt, có thể nói luật pháp rất thoáng trong việc quy định khả năns đănẹ ký và bảo hộ NHHH

Ngoài những dấu hiệu bị từ chối cấp đăng ký do thiếu tính phân biệt kể trên, thực tiễn bảo hộ NHHH cho thấy có những dấu hiệu khác tuv tự bản thân nó có thể có tính phán biệt, hay có thể hình thành tính phân biệt qua quá trình sử dụns;, nhưnơ vì một số lý do chính đáng nào đó như bảo vệ ]ợj ích công cộng, nhân phẩm danh dư công dân, trật tự, đạo đức xã hội những nhãn hiệu đó cần phải bị từ chối đăns ký bảo hộ NHHH Nói chung các nước và cả các ĐƯQT cũng có quy định khá nhất quán đối với các trường họp này

* Nhãn hiệu mang tính đánh lừa

Những NHHH có xu hướng đánh lừa côns chúnơ về bản chất, chất lượng hay bất kỳ đặc điểm nào khác của hàn? hoá hay nguồn 2ỐC địa lý thì vì lợi ích công cộnơ sẽ không đủ tiêu chuẩn để được đăne ký

Pháp luật Việt Nam quy định các dấu hiệu làm người tiêu dùns; hiểu sai lệch,

sây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa đào nsười tiêu dùns về xuất xứ, tính năng, công dụne, chất lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ thì khôns được bảo hộ với danh nghĩa NHHH.27

25 Điều 2.a đoạn 2 L uật N H H H M ỹ Năm 1946

26 Đ iều 2.e.3 và 2.e.4 L uật N H H H M ỹ N ăm 1946

27 Điều 6.2.d N chị định 63/C P

Trang 37

Quy định của phấp luật EU gần như trùng hoàn toàn với pháp luật Việt Nam

NHHH thuộc loại gây ra tác dụng lừa dối đối với công chúng, ví dụ về bản chất, chất lượng hay nsuồn gốc địa lv của hàng hoá, dịch vụ sẽ không được bảo hộ.28

Pháp luật Nhật Bản cũng có quy định tươna tự, sona chỉ đề cập đến việc nhãn

hiệu có tính đánh lừa người tiêu dùng về chất lượng của hàng hoá hoặc dịch vụ thì bị

< _ 29

cam

Pháp luật M ỹ chỉ đề cập đến vấn đề này một cách chung chuns Điều 2.a Luật

NHHH của Mỹ 1946 quy định các NHHH bao gồm những dấu hiệu dối trá sẽ không được bảo hộ theo pháp luật Mỹ Ngoài ra khi các nhãn hiệu mang tính mô tả hàng hoá một cách không chính xác nhằm lừa dối nói chunc cũng bị cấm theo điều 2.e.l của Luật này Tuy nhiên, đối với trường họp mô tả khồne chính xác nhằm đánh lừa một cách chung chung thì Luật vẫn quy định ngoại lệ Đó là khi nhãn hiệu đó có yếu tố

đánh lừa nhưng qua quá trình sử dụng lâu dài đã tạo ra tính phân biệt đối với người tiêu

dùng Điều nàv cũnơ có nghĩa là qua quá trình lâu dài đưa vào thương mại đó, người tiêu dùnơ đã quen với nhãn hiệu và cũng biết rõ được về tính chất cũng như đặc điểm thật của hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên nếu nhãn hiệu là sự mô tả không chính xác dẫn đến đánh lừa về nguồn gốc địa lý của sản phẩm thì sẽ không có trường hợp ngoại lệ này.30

Để phục vụ mục đích xác định tính đánh lừa của những NHHH thuộc loại này, WIPO đã tổng kết một số nguyên tắc thực tiễn Trước tiên, các nhãn hiệu loại này cần phải được xem xét ở hai khía cạnh: thứ nhất chúng phải mang tính phân biệt, và thứ hai chúng không phải mans tính đánh lừa Sau đó nếu NHHH càns mang tính mô tả thì càns dễ mang tính đánh lừa nếu nó không được dùng cho những hàns hoá có tính chất như đã được mô tả.31

* Nhãn hiệu đi ngược lại giá trị đạo đức hoặc chính sách công cộng

Pháp luật NHHH nói chung từ chối việc đăng ký đối với các nhãn hiệu đi ngược lại các siá trị đạo đức hay chính sách công cộng Các ví dụ phổ biến thuộc loại này là các hình ảnh hay từ nsữ có tính chất khiêu dâm, phân biệt chủng tộc, các nhãn hiệu đi nẹược lại lợi ích công cộng hay quan niệm chung về đạo đức

Pháp luật N hật Bản, M ỹ và EU về cơ bản giống nhau đối với vấn đề này mặc

dù mức độ để cập cụ thể của từns nước có sự khác nhau Pháp luật N hật Bản và M ỹ

28 Điều 7.1 g Q uv định 40/1994.

29 Giới thiệu p h á p lu ậ t N H H H , Cục SHCN N hật Bản - T rung tâm SHCN Châu á-Thái bình dương (IIII) 2 0 0 ],

trang 17

30 Đ iều 2 f Luật N H H H M ỹ N ăm 1946

Tài liệu h ư ớ nc dẫn về SHTT W IP O , tranc 64 - h ttp ://w w w w ipo.int/aboui-ip/en/iprm /index.htm

Trang 38

chú trọne cấm các nhãn hiệu tạo ra ấn tượng khiêu dâm, phân biệt chủng tộc hay xúc phạm mọi neười, các dấu hiệu vi pham đạo đức và lợi ích công cộng, các nhãn nhằm

lãns nhục con người hoặc quốc sia nào đó.32 Trons khi đó, pháp luật EU chú trọng

nhiều hơn tới các nhãn hiệu đi ngược lại với chính sách Cốn2 cộns hay các nạuyên tắc

đã được cône nhận về đạo đức.33

Khác với ba hệ thông pháp luật trên, pháp luật Việt Nam hoàn toàn khônơ cócác quy định về trường hợp không được bảo hộ thuộc loại này

* Quyền bảo lưu sử dụng của Nhà nước và cấc T ổ chức công cộng hay các tổ chức

quốc tê

Đáy là nhữne dấu hiệu, biểu trưng thể hiện sự hiện diện của các Nhà nước hay các tổ chức quốc tế Trone quan hệ quốc tế, các thiết chế này được hưởng chế độ miễn trừ và theo đó các dấu hiệu mà chúng sử đụng cũng mang tính độc quyền Các nước có các quy định gần như hoàn toàn giống nhau về trường hợp này theo tinh thần của Điều 6ter Côns ước Paris cũng về việc bảo hộ các biểu trưns chính thức (notiíied signs) của các nước thành viên khác và các tổ chức quốc tế liên chính phủ (ví dụ Liên hợp quốc)

Các trường hợp cụ thể thuộc loại nàv bao gồm:

- Dấu hiệu giốnc hoặc tươns tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra bảo hành .của các thiết chế nhà nước, nước ngoài cũng như tổ chức quốc tế;

- Dấu hiệu, tên gọi (bao eổm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình vẽ, biểutượng giống hoặc tương tự tói mức câv nhầm lẫn với hình quốc kv, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của quốc gia cũng như của nước ncoài nếu khổng được các cơ quan có thẩm quyền cho phép;

- Các nhãn hiệu giống hoặc tương tự như cờ quốc gia, gù mào gà của đế vương,huân chương, huy chương, huy chương danh dự, cờ quốc gia nước ngoài

- Các nhãn hiệu tươns tự các biểu tượng quốc ơia khác nsoài quốc kỳ của các nước là thành viên công ước Paris

- Nhãn hiệu tương tự hoặc giống vói dấu hiệu chữ thập đỏ trên nền trắng của tổ chức nhân đạo quốc tế.34

* Bảo lưu sử dụng của các cá nhân

52 Giới thiệu p h á p luật N H H H , Cục SHCN Nhật Bản - T rung tám SHCN Châu á - Thái Bình Dương, trang 12,

Đ iẻu 2.a L uật N H H H M ỹ N ăm 1946

Đ iều ỉ Ị Q uy định 4011994

34 Đ iều 6 K hoản 2 Đ iểm e, f N ghị định 63/CP; Giới thiệu p h á p luật N H H H , Cục SHCN N h ật bản - T rung lâm

SHCN C hâu á-Thái bình dương (IIII) 2001, trang 11; Đ iều 2.a, 2.b Luật N H H H M ỹ năm 1946; Đ iều 7.1.h, 7.1.1

Q uy định 4 0 /1 9 9 4 của H ội đồng Châu Âu

Trang 39

Ngoài pháp luật Nhật Bản và EU khônơ quy định cụ thể các trường hợp thuộc

loại này, pháp luật Mỹ và Việt nam đều có quy định khá cụ thể Các trường họp dấu

hiệu trùns với tên, chân duns hay chữ ký của một người cụ thể thường bị coi là xám

phạm quyền rự do cá nhân của cốns dân được ơhi nhận trons Hiến pháp các nước Vì

thế, nếu không có sự đồne ý của thân chủ thì các dấu hiệu đó sẽ không được đăng ký

bảo hộ NHHH

1.2 Phản loai NHHH

Trong thực tiễn bảo hộ NHHH của các nước và quốc tế, NHHH thường được

chia thành các loại khác nhau dựa trên các căn cứ phân loại khác nhau và tuỳ thuộc vào

tính chất của từng loại Mỗi loại NHHH đó có nhữns điểm eiốns và khác nhau nhất

định Cá biệt có nhữns loại NHHH độc lập với những tính chất đặc biệt đòi hỏi phải có

sự điều chỉnh thích họp trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế, ví dụ trường họp

NHHH nổi tiếng

Pháp luật các nước thông thường đều có sự đề cập đến nhiều loại NHHH như

phân tích dưới đây Tuy nhiên, mức độ đề cập và điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp

luật đối vói từng loại NHHH là khác nhau tuỳ thuộc vào thực tiễn bảo hộ NHHH ỏ' mỗi

nước Các ĐƯQT đa phươne cũng có sự quan tâm nhất định đối với một số loại

NHHH Song chúng chỉ điều chỉnh về mặt nội dung đối với NHHH nổi tiếng mà dành

các loại NHHH khác cho phạm vi điều chỉnh của pháp luật quốc gia

1.2.1 Nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) và nhãn hiệu dịch vụ (NHDV)

Tất cả các văn bản pháp luật của Mỹ, EU, Nhật Bản, Việt Nam phân tích ò đây,

cùna với TRIPS Côns ước Paris và Hiệp định thương mại Việt-Mỹ khi đề cập tới vấn

đề NHHH đều có sự phân biệt nhất định siữa NHHH và NHDV Tuy nhiên, sự khác

biệt giữa hai loại nhãn hiệu này chỉ ở chỗ NHHH là những dấu hiệu phấn biệt được gắn

lên các sản phẩm là hàng hoá; còn các NHDV là nhũn? dấu hiệu phân biệt dành cho

các sản phẩm dịch vụ, tức là các sản phẩm vô hình do một người hay một doanh nghiệp

thực hiện để phục vụ một hay nhiều người hav doanh nghiệp khác Ngoài sự khác biệt

này NHHH và NHDV cơ bản trùng vói nhau về bản chất Bởi vì NHDV cũns; mang đầy

đủ chức nãns biểu hiện nauồn gốc và phân biệt đối với dịch vụ giốns như các chức

năng tương tự của NHHH đối với hàng hoá Hầu hết các văn bản pháp luật của các

nước và pháp luật quốc tế đều có sự thừa nhận điều này Tuy nhiên, sự quy định thành

văn và cách tiếp cận của từng hệ thốn2, có phần nào khác nhau

* ở TRỈPS và pháp luật EU, khôna có sự tách biệt giữa NHHH và NHDV từ

khái niệm đến các khía cạnh điều chỉnh khác Cũng khônc có điểu khoản nào nhắc đến

sự khác biệt giữa NHHH và NHDV Khi định nghĩa về NHHH TRIPS mặc nhiên công

Trang 40

nhận đó là các dấu hiệu có khả năng phân biệt không những hàng hoá mà cả dịch vụ

cùns loại của doanh nshiệp này với các doanh nghiệp khác

quy định thành vãn một cách cụ thể hơn về sự không phân biệt giữa NHDV và

NHHH.35

Như vậy trong hầu hết các hệ thốns pháp luật NHHH quốc gia hay quốc tế,

NHDV được đăng ký, gia hạn và huỷ bỏ theo cùne một cách như NHHH và được

chuyển siao hoặc cấp phép sử dụns theo cùng nhữns điều kiện như NHHH Vì thế, các

quv định điều chỉnh NHHH ở các nước cũng được áp dụng, về nguyên tắc, giống hệt

cho NHDV

1.2.2 Nhãn hiệu tập th ể và nhãn hiệu chứng nhận

Trong nhiều trường hợp, NHHH xác định một nhóm các doanh nshiệp là nguồn

gốc của hàng, hoá hoặc dịch vụ sản xuất ra Người ta có thể chia các NHHH do một tập

thể các doanh nghiệp làm chủ Văn bằng hoặc cùns sử dụng một nhãn hiệu chung ra

làm hai dạn?: Nhãn hiệu tập thể (NHTT) và Nhãn hiệu chứng nhận (NHCN) Theo

pháp luật các nước, mục đích sử dụng của hai loại nhãn hiệu này có sự khác nhau

NHTT biểu thị sự liên minh của một số doanh nghiệp sử dụng NHHH Tron^ khi đó

NHCN dẫn chiếu đến những tiêu chuẩn nhất định mà các sản phẩm sử dụn? nhãn dó

phải đáp ứng

Dưới dây là những đặc điểm giốns và khác nhau trong những quy định của pháp

luật các nước về vấn đề này

1.2.2.1 Nhãn hiệu tập th ể (N H TT)

Nhìn chung, các ĐƯQT về NHHH chỉ quy định nhữno vấn đề liên quan đến thủ

tục hay thiết lập các vùng bảo vệ trên phạm vi quốc tế về NHHH mà không đi sâu quy

định về khía cạnh nội dung của NHHH Trong số các ĐƯQT đề cập ở đây, TRỈPS

không có quy định về khái niệm hay việc bảo hộ NHTT cũng như NHCN Hiệp định

TM Việt-Mỹ thì chỉ nhắc đến NHTT như một loại hình của NHHH trong Khoản 1 Điều

6 Chương II Công ước Paris là ĐƯQT duy nhất giành riêng một điều khoản để quy

định về NHTT - Điều 7bis Tuv vậy, điều khoản này cũng chỉ quy định về nshĩa vụ của

các nước thành viên trons việc bảo hộ NHTT mà không trực tiếp quy định về khái niệm

?í K hoản 1 Đ iều 6 Ch ươn c II H iệp định thương m ại V iệt-M v quy định: " N H H H bao gồm cà n hãn hiệu dịch vụ,

nliũn hiệu tập th ê và nhãn hiệu chứng n h ậ n Z

Đ iều 3 Luật N H H H M ỹ N ăm 1946 (15 u s c 1053) Q uy dinh: “P hụ thuộc vào các điều khoán liên quan đến việc

đăng ký N H H H , N H D V s ẽ được đăng kỷ với cùng cách thức và cùng tinh hiệu lực n h ư N H H H và khi đăng ký

chúng s ẽ được hảo hộ theo qu y đinh n h ư đối với N H H H Thủ tục nộp đơn và trình tự theo qu y định Iiàx s ẽ được

áp d ụ n g tương tự n h ư đối với các thủ rục đăng ký N H H H "

K hoản 7 Đ iều 2 N sh ị định 6 3/C P quv định: “N H H H được hiểu là bao gồm cà nhãn hiệu dịch vụ”

Ngày đăng: 14/08/2020, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w