Nhận thức từ tầmquan trọng của BHXH nên Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm thường xuyên đếnviệc thực hiện các chế độ chính sách BHXH đối với cán bộ, công chức, quânnhân và NLĐ thuộc các thà
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Lê Cường
Hà Nội - Năm 2017
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Nhữngkết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đình Đạt
Trang 5- nghiên cứu khoa học vừa qua.
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với TS Nguyễn LêCường đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoahọc cần thiết cho luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội,khoa Quản trị Kinh doanh, TT sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốtcông việc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đãgiúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của học viên,luận văn này không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sựchỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo để tôi có điều kiện bổ sungnâng cao kiến thức của mình, phục vụ tốt hơn trong công tác thực tế sau này
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đình Đạt
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 12
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 12
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 12
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội 12
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm thu bảo hiểm xã hội 20
1.1.3 Vai trò của thu bảo hiểm xã hội 24
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI CẤP QUẬN 26
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội 26
1.2.2 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội cấp quận 28
1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý thu bảo hiểm xã hội cấp quận 37
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO QUẬN BẮC TỪ LIÊM, HÀ NỘI 40
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội của một số địa phương 40
1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm 44
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI QUẬN BẮC TỪ LIÊM HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010-2016 46
2.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI QUẬN BẮC TỪ LIÊM VÀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BẮC TỪ LIÊM TỪ LIÊM GIAI ĐOẠN 2010 – 2016 46
2.1.1 Khái quát về Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm 46
Trang 72.1.2 Thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2010 – 2016( Từ 2010
đến 31/3/2014 là huyện Từ Liêm) 50
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI QUẬN BẮC TỪ LIÊM GIAI ĐOẠN 2010 - 2016 65
2.2.1 Về quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 65
2.2.2 Về quản lý quỹ lương làm căn cứ tính tiền đóng bảo hiểm xã hội 70
2.2.3 Về quản lý tiền thu bảo hiểm xã hội 73
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 76
2.3.1 Những kết quả đạt được 76
2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 79
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI QUẬN BẮC TỪ LIÊM 87
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI QUẬN BẮC TỪ LIÊM GIAI ĐOẠN 2017 - 2020 87
3.1.1 Bối cảnh mới có ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm 87
3.1.2 Phương hướng, mục tiêu chủ yếu hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm 90
3.2 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI QUẬN BẮC TỪ LIÊM 91
3.2.1 Nhóm giải pháp quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 91
3.2.2 Nhóm giải pháp quản lý quỹ lương làm căn cứ tính tiền đóng bảo hiểm xã hội 96
3.2.3 Nhóm giải pháp quản lý tiền thu bảo hiểm xã hội 100
3.2.4 Nhóm giải pháp điều kiện 103
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 106
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước về chính sách Bảo hiểm xã hội 106
3.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 107
3.3.3 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 8PHỤ LỤC 1 115 PHỤ LỤC 2 117 PHỤ LỤC 3 120
Trang 9DANH M C CÁC CH VI T T T ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Ữ VIẾT TẮT ẾT TẮT ẮT
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
TNLĐ – BNN Tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp
DANH M C B NG ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ẢNG
Bảng 2.1: Tốc độ tăng thu BHXH hàng năm giai đoạn 2010-2016 55Bảng 2.2: Cơ cấu thu BHXH theo loại hình đơn vị 55Bảng 2.3: Số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN giai đoạn 2010 –
2016
58Bảng 2.4: Tình hình nợ BHXH, BHYT, BHTN theo loại hình 59Bảng 2.5: Đơn vị đăng ký tham gia BHXH theo loại hình 65
Trang 10Bảng 2.6: Số đơn vị tăng mới 66
Bảng 2.7: Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới hàng năm 66Bảng 2.8: Số lao động tham gia BHXH bắt buộc theo loại hình đơn vị
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BHXH quận Bắc Từ
Liêm – Hà Nội
49
Hình 2.2: Kết quả thu BHXH quận giai đoạn 2010-2016 54Hình 2.3: Cơ cấu thu BHXH năm 2016 theo loại hình đơn vị 56Hình 2.4: Cơ cấu nợ BHXH theo loại hình năm 2016 60Hình 2.5: Cơ cấu lao động theo loại hình tổ chức năm 2016 69Hình 2.6: Sơ đồ tổ chức thu BHXH của BHXH Quận Bắc Từ
Liêm
74
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
BHXH là chính sách nòng cốt trong hệ thống an sinh xã hội Hiện nay,nhiều quốc gia trên thế giới rất coi trọng chính sách BHXH, bởi việc thực hiệntốt chính sách BHXH sẽ giúp phần bảo đảm ổn định cuộc sống cho NLĐ nóichung, góp phần ổn định chính trị và đảm bảo an toàn xã hội Nhận thức từ tầmquan trọng của BHXH nên Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm thường xuyên đếnviệc thực hiện các chế độ chính sách BHXH đối với cán bộ, công chức, quânnhân và NLĐ thuộc các thành phần kinh tế ngay từ khi thành lập nước
Quỹ BHXH là xương sống của bất kỳ một hệ thống BHXH nào Bởi vìcác chế độ BHXH đều nhằm mục đích đảm bảo an toàn về đời sống của NLĐ,quỹ BHXH góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ Đồng thời hạnchế những tệ nạn xã hội xảy ra do nguyên nhân của thất nghiệp và nghèo đói,xây dựng một nền an sinh xã hội bền vững Mặt khác, cũng giúp cho giới chủ ổnđịnh sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh Nhờ vậy mà kinh tế đấtnước sẽ được phát triển nhanh chóng và bền vững bởi được tăng trưởng về chất
Thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến chi và quá trình thực hiện chínhsách BHXH trong tương lai BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khácđều dựa trên cơ sở nguyên tắc “có đóng, có hưởng”, công tác thu nộp BHXHbắt buộc đã đặt ra yêu cầu thu đúng, đủ, kịp thời Nếu không thu được BHXHthì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Vì thế,thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng và quyết định đến khả năngthực hiện chính sách BHXH, qua đó ảnh hưởng đến việc đảm bảo ổn địnhcuộc sống cho NLĐ cũng như tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị, doanhnghiệp hoạt động
Do vậy, quản lý thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH
Để thu BHXH đạt hiệu quả cao thì quản lý thu BHXH phải được tổ chức chặt
Trang 12chẽ, thống nhất, khoa học trong cả hệ thống, từ lập kế hoạch thu, phân cấpthu, ghi kết quả và quản lý tiền thu BHXH…
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua quản lý thu BHXH ở nước ta cònbộc lộ những hạn chế như: số đơn vị, số lao động chưa tham gia BHXH,BHYT, BHTN còn rất lớn, tỷ lệ gia tăng về mức lương tham gia BHXH hàngnăm chưa cao, số đơn vị nợ đọng BHXH tăng nhanh, gây ra những ảnhhưởng tiêu cực về quyền lợi đối với NLĐ Bên cạnh đó, tăng trưởng nguồnthu BHXH còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng
BHXH quận Bắc Từ Liêm là đơn vị trực thuộc BHXH thành phố Hà Nội,
có nhiệm vụ quản lý thu và tổ chức chi trả các chế độ BHXH trên địa bàn quận BHXH quận Bắc Từ Liêm chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của BHXH thànhphố Hà Nội, sự quản lý về mặt hành chính Nhà nước của UBND quận Bắc TừLiêm
BHXH quận Bắc Từ Liêm được thành lập theo Quyết định số BHXH ngày 27/01/2014 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam
118/QĐ-Trong thời gian qua, được sự quan tâm của Quận uỷ, UBND quận , sựchỉ đạo trực tiếp của BHXH thành phố Hà Nội BHXH quận Bắc Từ Liêm đãlàm tốt công tác phối hợp với Ban Tuyên giáo Quận ủy tổ chức các hội nghịgiao ban, tuyên truyền về Luật BHXH; Phối hợp với các cơ quan thông tintruyền thông ở địa phương tăng cường công tác phổ biến pháp luật về BHXHvới nhiều hình thức đa dạng, phong phú để phát triển đối tượng; Tham mưuvới UBND quận trong việc xử lý nợ đọng BHXH, BHYT thông qua việcthành lập Tổ công tác Liên ngành của Quận và Chỉ đạo thu nợ tiền BHXH,BHYT Tuyên truyền, phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT BHXHquận tăng cường công tác kiểm tra; phối hợp liên ngành thực hiện thanh tra,kiểm tra các đơn vị SDLĐ trên địa bàn, tập trung vào những đơn vị nợ đọngBHXH Báo cáo BHXH Quận Bắc Từ Liêm phối hợp với Thanh tra lao động(Sở LĐTB&XH) đi kiểm tra để xử phạt hành chính đối với các đơn vị vi
Trang 13phạm Luật BHXH Tuy nhiên, công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn quậnBắc Từ Liêm cũng không tránh khỏi những hạn chế đó là tình trạng nợ đọngBHXH trong những năm gần đây của quận khá phổ biến và có xu hướng giatăng, trong đó tập trung ở các DNNQD, DNNN Các đơn vị còn lại có mức nợđọng tuy không nhiều nhưng cũng có chiều hướng tăng lên Công tác xử lý nợđọng BHXH, BHYT được quy định tại Luật BHXH, Luật BHYT và đã được
cụ thể hoá trong các văn bản hướng dẫn như Nghị định của Chính phủ, Thông
tư của các Bộ Tuy nhiên, việc thực hiện xử lý nợ đọng còn mang tính tựphát, thiếu sự phối hợp giữa cơ quan BHXH với UBND quận và những đơn vịquản lý Nhà nước trên địa bàn Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với
cơ quan BHXH còn nhiều hạn chế Nhận thức của cấp uỷ và chính quyền một
số địa phương về chính sách BHXH, BHYT còn chưa đầy đủ Một số nơi chínhquyền địa phương chưa thật sự vào cuộc cùng với cơ quan BHXH để thực hiệnchính sách BHXH, BHYT cho NLĐ; chính quyền vẫn coi việc thực hiện chínhsách BHXH, BHYT là trách nhiệm của cơ quan BHXH, chưa tạo điều kiện tốt
để cơ quan BHXH thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn quản lý;Công tác xây dựng kế hoạch xử lý đơn vị nợ đọng BHXH, BHYT hàng nămcủa cơ quan BHXH còn hạn chế Các chế tài xử lý vi phạm Luật BHXH cònhạn chế, mang tính hình thức, chưa đủ sức răn đe Do vậy, hiệu quả xử lý nợđọng đạt được còn rất thấp; Công tác khởi kiện về BHXH, BHYT còn mới, dovậy các Toà án còn lúng túng ngay trong quá trình thụ lý, hoà giải và xét xử.Nhiều trường hợp đã được xét xử, tuy nhiên lại gặp khó khăn trong việc thihành án; Từ năm 2016 theo quy định thì BHXH không có chức năng khởikiện mà chuyển sang Liên đoàn vì vậy mà công tác khởi kiện các đơn vị nợđọng BHXH, BHYT càng gặp khó khăn do Liên đoàn lao động chưa cóhướng dẫn cụ thể, không có cán bộ chuyên trách, các thủ tục để khởi kiện cònrườm rà, phức tạp… dẫn đến từ năm 2016 đến nay chưa khởi kiện được đơn
vị nào; Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra cũng như khởi kiện chủ yếu làm
Trang 14kiêm nhiệm, còn thiếu và yếu về trình độ pháp lý ở tất cả các đơn vị, do vậy,hiệu quả chưa cao Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp, chủ SDLĐ cố tình láchluật, lạm dụng quỹ BHXH Nhiều NLĐ do nhận thức chưa đầy đủ về quyền lợikhi tham gia BHXH nên cũng đồng tình với người SDLĐ để trốn đóngBHXH
Để khắc phục những hạn chế nói trên, nhằm mở rộng và tăng trưởngnguồn thu BHXH, phát triển bền vững quỹ BHXH trên địa bàn quận Bắc TừLiêm, rất cần có những giải pháp cụ thể, hiệu quả trong thời gian tới
Với lý do đó, tác giả lựa chọn chủ đề: “Quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn
thạc sĩ quản trị kinh doanh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, lĩnh vực BHXH nói chung và thu BHXHnói riêng đã và đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu Đã có một sốcông trình nghiên cứu về BHXH với những cách tiếp cận khác nhau, được đềcập và thể hiện trong một số đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và nhiều luận vănTiến sĩ, Thạc sĩ khác Cụ thể như:
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, 1996 Thực trạng quản lý thu BHXH hiệnnay và một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu Chủ nhiệm đề tàiNguyễn Văn Châu, BHXH Việt Nam Đây là một trong những đề tài đượcthực hiện sớm nhất kể từ khi ngành BHXH Việt Nam được thành lập (1995).Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý thu BHXH của BHXH Việt Namvới vai trò là cơ quan cấp Trung ương quản lý về BHXH, trong công cuộc đổimới về kinh tế của Đảng và Nhà nước đề ra Phạm vi nghiên cứu trên toànquốc Đề tài đã đánh giá kết quả công tác thu BHXH thời kỳ kế hoạch hóa tậptrung, bao cấp là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển chính sách BHXH, phântích thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra đối với BHXH Việt Nam đối
Trang 15với quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam khi mà Nhà nước đang mở ramột nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, với nhiều thành phần kinh
tế, thu hút đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải đổi mới chính sách pháp luật quyđịnh về thu BHXH nhằm đảm bảo mở rộng đối tượng NLĐ và NSDLĐ thuộccác thành phần kinh tế tham gia đóng BHXH đầy đủ Đáp ứng thực tiễnphong phú, đa dạng về các mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóngBHXH, hình thức đóng BHXH đồng thời có cơ chế quản lý số tiền thu BHXH
từ cấp địa phương đến trung ương Đề tài đã đóng góp những nghiên cứukhoa học, có ý nghĩa thực tiễn về xây dựng hệ thống biểu mẫu thu BHXH,phương thức thực hiện thu BHXH từ địa phương đến trung ương, quản lý quỹBHXH cũng như hình thức, phạm vi đầu tư tăng trưởng một phần quỹ BHXHgóp phần tạo lập bền vững và cân đối quỹ BHXH về lâu dài
- Đề tài cấp Bộ, 2007 Các giải pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH bắtbuộc khi thực hiện Luật BHXH” Chủ nhiệm đề tài Phạm Đỗ Nhật Tân, BộLao động thương binh và Xã hội Nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH đã đượccác nhà nghiên cứu khoa học xã hội và tổ chức lao động quốc tế (ILO)khuyến nghị tới Chính phủ Việt Nam từ khi xây dựng Luật BHXH Khi mànguồn hình thành và quản lý các quỹ thành phần như là quỹ BHXH, quỹBHYT, quỹ BHTN, trong đó quỹ BHXH chia thành các quỹ thành phần nhưlà: quỹ chi trả chế độ hưu trí, tử tuất (dài hạn); quỹ chi trả chế độ ốm đau, thaisản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp(ngắn hạn) Việc hình thành nên các quỹ này là từ nguồn thu BHXH bắt buộc.Chính vì thế mà đề tài đã hệ thống các quy định của Nhà nước về đối tượngthu, mức thu, cách thức vận hành và quản lý các quỹ BHXH, phân tích đánhgiá thực trạng tình hình thu – chi của quỹ BHXH bắt buộc của Việt Nam, từ
đó đề tài đã đưa ra các dẫn chứng về những ưu điểm và những mặt hạn chế vềviệc duy trì và mở rộng nguồn thu BHXH, sử dụng quỹ BHXH, điều kiện để
Trang 16hưởng các chế độ chính sách BHXH nhằm đảm bảo sự an toàn của quỹBHXH, cân đối quỹ BHXH trong tương lai
- Đỗ Văn Sinh, 2005 Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam Luận
án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã gópphần làm rõ thêm cơ sở khoa học và thực tiễn của quản lý quỹ BHXH ở ViệtNam; tổng kết mô hình và phương thức quản lý quỹ BHXH của một số nướctrên thế giới để rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quản
lý quỹ BHXH ở Việt Nam; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiệnquản lý quỹ BHXH ở Việt Nam
- Phạm Trường Giang, 2010 Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở ViệtNam Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Lao động xã hội Đóng góp nghiên cứukhoa học của luận án đó là tác giả đã nghiên cứu về cơ chế chính sách thuBHXH ở Việt Nam, việc phân cấp quản lý thu BHXH, các chế tài về đóngBHXH và xử lý vi phạm về đóng BHXH Trên cơ sở phân tích cơ chế chínhsách thu BHXH ở Việt Nam, đề cập vấn đề chế tài xử phạt vi phạm pháp luậtBHXH còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tác giả có tham khảo một số mô hình thuBHXH ở một số nước phát triển, từ đó tác giả có khuyến nghị một số giảipháp có ý nghĩa thực tiễn hoàn thiện cơ chế chính sách thu BHXH ở ViệtNam
- Nguyễn Hữu Vinh, 2010 Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng
và trốn đóng BHXH ở Hà Nội” Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường ĐH kinh tếquốc dân ; Nguyễn Dương, 2010 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thuBHXH tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội Luận văn thạc sĩ kinh tế,Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Hai đề tài của hai tác giảđược thực hiện trong cùng một thời gian, trên cùng một địa bàn, nghiên cứuhai nội dung khác nhau nhưng lại có những vấn đề liên quan tới nhau Tác giảNguyễn Hữu Vinh đi sâu lý giải nguyên nhân làm giảm nguồn thu là do tình
Trang 17trạng nợ đọng tiền đóng BHXH kéo dài, trốn đóng BHXH dưới nhiều hìnhthức của các doanh nghiệp, từ đó tác giả kiến nghị các giải pháp làm giảmtình trạng nợ đọng, truy thu, tính lãi thậm chí là khoanh nợ để đảm bảo thuđúng, đủ, kịp thời không làm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng các chế độBHXH của NLĐ Còn tác giả Nguyễn Dương đã làm rõ một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về chất lượng quản lý thu BHXH, từ đó tác giả đã có nhận định
về quản lý thu BHXH còn yếu kém do nguyên nhân cả chủ quan lẫn kháchquan, tác giả đã có những kiến nghị về giải pháp tăng cường chất lượng quản
lý thu, khắc phục tình trạng nợ đọng, trốn đóng tiền BXHH trên địa bànThành phố Hà Nội
- Trần Quốc Túy, 2000 Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực Doanhnghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Kinh tếQuốc dân.; Cao Thị Lan Mây, 2014 Hoàn thiện công tác thu BHXH khốingoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Luận vănthạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.Hai tác giả cùng nghiên cứu về một đề tài, cùng mục đích nghiên cứu nhưngkhác nhau về không gian, thời gian, cách thức chọn mẫu và phương phápnghiên cứu Bối cảnh nghiên cứu năm 2000, tác giả Trần Quốc Túy đã đánhgiá trên bình diện toàn quốc thời kỳ bùng nổ các Doanh nghiệp ngoài quốcdoanh, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam rất lớn là cơ hội đồng thời cũng làthách thức, đòi hỏi ngành BHXH Việt Nam cần khai thác triệt để thu BHXHkhu vực ngoài quốc doanh để đạt hiệu quả, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ khuvực ngoài quốc doanh Đến năm 2014, khi mà nền kinh tế chịu ảnh hưởngnặng nề của suy thoái và khó khăn về SXKD, hàng tồn kho, cạnh tranh gaygắt của các Doanh nghiệp đặc biệt là Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì đềtài nghiên cứu của tác giả Cao Thị Lan Mây có ý nghĩa trong phân tích thựctrạng tình hình thu BHXH khối ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Bắc
Trang 18Ninh, từ đó đưa ra một số giải pháp khả thi nhằm mở rộng đối tượng thuBHXH, tận thu, giúp cho BHXH tỉnh Bắc Ninh hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao Đóng góp về nghiên cứu khoa học của hai tác giả đó là tổng kết tìnhhình thu BHXH nói chung và thu BHXH khối quốc doanh nói riêng, rút ra bàihọc kinh nghiệm Phân tích thực trạng tình hình thu BHXH khối ngoài quốcdoanh với hai mốc thời gian khác nhau năm 2000 và 2014, từ đó mỗi tác giả
đã có kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH đốivới các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh phù hợp với tình hình thực
tế
- Đề án nghiên cứu khoa học, 2011 Hoàn thiện quy trình quản lý thu,quy trình cấp và quản lý sổ BXHH, thẻ BHYT.Chủ nhiệm đề án: DươngXuân Triệu, Viện nghiên cứu khoa học – BHXH Việt Nam Đề án đã hệthống hóa các văn bản của Nhà nước, của Ngành về thực hiện về thu BHXH,cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, phân tích đánh giá thực trạng thực hiện thu BHXH,cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong mối tương quan hỗ trợ nhau Đề án đã phântích được những mặt còn chưa hợp lý, hạn chế như: văn bản quy định chồngchéo, thủ tục hành chính còn nhiều, biểu mẫu chưa khoa học, ứng dụng côngnghệ thông tin còn thấp, việc thực hiện ở các địa phương còn chưa đồng nhất
do nhận thức chưa đúng quy định của Nhà nước, của Ngành Từ đó Đề án đưa
ra các giải pháp về xây dựng thống nhất các chỉ tiêu, biểu mẫu, quy trình vềthu BHXH, cấp và quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT phù hợp với tình hình mới
- Ngoài ra học viên còn tham khảo tài liệu giảng dạy của Trường đàotạo nghiệp vụ BHXH của ngành, tài liệu nghiên cứu của Viện nghiên cứukhoa học BHXH; Tạp chí của BHXH Việt Nam; Tạp chí Lao động và xã hội
Qua nắm bắt tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, họcviên nhận thấy các đề tài nghiên cứu trước đây liên quan đến quản lý thuBHXH đều xuất phát từ thực trạng và hướng tới các giải pháp hoàn thiện quản
Trang 19lý thu BHXH ở mỗi địa phương, mỗi thời kỳ nhằm nuôi dưỡng và phát triểnnguồn thu BHXH một cách bền vững Tuy nhiên trong thời gian gần đây, khi
mà Nhà nước ban hành nhiều sửa đổi bổ sung chế độ chính sách BHXH,chính sách kinh tế xã hội thì chưa có công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứunào về quản lý thu BHXH bắt buộc sau khi Luật BHXH số 71/2006/QH11ngày 29/6/2006, Luật BHXH sửa đổi bổ sung số 58/2014/QH13, ngày20/11/2014 và Luật BHYT sửa đổi bổ sung số 46/2014/QH13, ngày13/6/2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua với nhiều quy định mới, trongbối cảnh tình hình nợ đọng BHXH, trốn đóng BHXH của chủ sử dụng laođộng tăng cao đáng báo động làm ảnh hưởng đến việc giải quyết quyền lợicho người lao động, tiềm tàng nguy cơ vỡ quỹ BHXH
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thu
BHXH cấp quận , qua thực trạng quản lý thu BHXH ở quận Bắc Từ Liêm,luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXHtại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận
Trang 204 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý
thu BHXH ở quận Bắc Từ Liêm
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quản lý thu BHXH bắt buộc
trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm trên các phương diện sau: (1) Quản lý đốitượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN, (2) Quản lý quỹ lương làm căn cứtính tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, và (3) Quản lý tiền thu BHXH, BHYT,BHTN
Phạm vi về đối tượng thu BHXH bắt buộc được đề cập trong luận vănbao gồm NLĐ tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam và ngườiSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc, được quy định cụ thể trong Luật BHXH doQuốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày
29 tháng 6 năm 2006 tại kỳ họp thứ 9
Nghiên cứu thực trạng được thực hiện cho giai đoạn 2010 - 2016 Các
đề xuất được thực hiện cho giai đoạn 2017-2020
- Không gian : Địa bàn ở huyện Từ Liêm (Khi chưa điều chỉnh địa giớihành chính để thành lập 2 quận và 23 phường) và các giải pháp, kiến nghị sẽthực hiện tại quận Bắc Từ Liêm (Vì lý do tách huyện Từ Liêm thành 2 quận,Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm)
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, tài liệu, chọn mẫu khảo sátthống kê liên quan đến thu BHXH
Phương pháp thực nghiệm: sử dụng các phép toán để phân tích các nhân
tố ảnh hưởng, tác động đến quản lý thu nhằm phân tích hoạt động quản lý thu,
Trang 21mở rộng đối tượng quản lý và thực hiện quy trình thu BHXH trên địa bànquận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
6 Đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn sau đây:
Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản
về quản lý thu BHXH trên địa bàn quận trong điều kiện hiện nay
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng quản lý thu BHXH trên địa bàn quậnBắc Từ Liêm, chỉ ra được những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân của nó
Đề xuất một số giải pháp có giá trị thực tiễn cao nhằm mục đích hoànthiện quản lý thu BHXH trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm hiệu quả, nhằm gópphần phát triển bền vững quỹ BHXH cũng như góp phần đảm bảo ổn địnhchính trị - xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý thu Bảo hiểm xã hội
Chương 2: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2010 – 2016
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thu tại Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm
Trang 22Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội, các loại hình và chế độ bảo hiểm xã hội
Khái niệm bảo hiểm xã hội
Hệ thống BHXH đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ XIX làcông trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-1889) với
cơ chế ba bên (Nhà nước - giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểmcho NLĐ trong một số trường hợp họ gặp rủi ro Chế độ BHXH này bao gồm:Chế độ bảo hiểm ốm đau (1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảohiểm tuổi già, tàn tật (1889) Sau đó, trước tác dụng tích cực của BHXH trongquan hệ lao động nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thống BHXH Trong nhữngnăm 30 của thế kỷ XX, một số nước còn mở rộng thêm những chế độ khácngoài BHXH và xuất hiện khái niệm mới: Social Security (an sinh, an toàn xãhội) Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã có Công ước số 102 năm 1952 về ansinh xã hội Hiện nay, trên thế giới nói chung người ta coi BHXH là một bộphận cấu thành của an sinh xã hội
Ở nước ta, xét về mặt lịch sử, BHXH xuất hiện vào những năm 30 củathế kỷ XX, một số chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tainạn, chế độ hưu trí và cũng chỉ áp dụng cho một số đối tượng làm việc, phục
vụ trong bộ máy hành chính, quân đội của Pháp Sau khi nước Việt Nam dânchủ cộng hòa ra đời, tại văn bản pháp luật cao nhất đã có những quy định vềBHXH, thể hiện sự quan tâm và nhận thức của Nhà nước về vấn đề này Điều
14 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Những người công dân già cả hoặc tàn
Trang 23tật, không làm được việc thì được giúp đỡ…” Sau đó, các sắc lệnh số 29-SL
ngày 12-3-1947, Sắc lệnh số 76-SL ngày 20-5-1950, Sắc lệnh số 77-SL ngày22-5-1950 ở các mức độ khác nhau quy định về quyền hưởng BHXH củaNLĐ thông qua các chế độ cụ thể Song vì tình hình chính trị - xã hội phứctạp khi đó cũng như những khó khăn về quỹ, về đối tượng tham gia và hưởngBHXH… mà pháp luật BHXH chưa được áp dụng theo nghĩa đầy đủ về mặtnội dung pháp lý cũng như xã hội của nó
Pháp luật BHXH được chính thức áp dụng rộng rãi kể từ khi Chính phủban hành Nghị định số 218/CP ngày 27-12-1961 kèm theo Điều lệ tạm thời vềBHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước Văn bản pháp luật này điềuchỉnh tất cả các vấn đề về BHXH ở nước ta trong suốt thời gian dài, từ khiđược ban hành cho đến những năm 80 của thế kỷ XX Sau đó, với sự thừanhận và phát triển của nền kinh tế thị trường, pháp luật nói chung và pháp luậtBHXH nói riêng đã có sự đổi mới về chất Điều 56 Hiến pháp năm 1992
(được sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi nhận: “Nhà nước quy định… chế độ
BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động”.
Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP ngày 22-6-1993 quyđịnh tạm thời chế độ BHXH Sau một thời gian thực hiện, trên cơ sở đúc rútkinh nghiệm và từ yêu cầu của thực tế đời sống, pháp luật BHXH được xâydựng thành một chương độc lập (chương XII) trong Bộ luật Lao động ngày23-6-1994 đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, cải cách chế độ BHXH
Để cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Lao động, Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 12/CP ngày 26-01-1995 kèm theo Điều lệ BHXH; Nghị định số45/CP ngày 15/7/1995 về việc ban hành Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quânnhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhândân và Nghị định số 19/CP ngày 16-02-1995 về việc thành lập BHXH Việt
Trang 24Nam Với sự sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động (tháng 4-2002) trong đó cócác nội dung về BHXH, Nghị định của Chính phủ số 01/2003/NĐ-CP ngày09-01-2003 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH ban hànhkèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26-01-1995 được ban hành Tiếp đó, trên
cơ sở các cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc gia nhập WTO vềchính sách an sinh xã hội cùng với sự chín muồi về nhận thức, về điều kiệnkinh tế - xã hội đất nước, nhu cầu của đời sống xã hội… ngày 29-6-2006 tại
kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI nước ta đã thông qua Luật BHXH và có hiệulực từ ngày 01-01-2007 (riêng đối với BHXH tự nguyện có hiệu lực từ ngày01-01-2008; BHTN có hiệu lực từ ngày 01-01-2009) Như vậy, việc xây dựng
và phát triển pháp luật BHXH ở nước ta luôn phản ánh và song hành với cácnhu cầu của đời sống trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể
Tuy nhiên, khi bàn đến khái niệm BHXH thì tùy theo góc độ nhìn nhận
mà khái niệm BHXH được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau Theo Từđiển tiếng Việt, BHXH là sự: “Bảo đảm những quyền lợi vật chất cho côngnhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai
nạn lao động…” [33, tr.36] Theo Đỗ Văn Sinh: Bảo hiểm xã hội là biện pháp
Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập chongười tham gia bảo hiểm, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảmsức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết; gắnliền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi cácbên tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tàichính nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo antoàn xã hội [24, tr.14]
BHXH, kể từ khi xuất hiện đến nay luôn luôn phát huy tác dụng trongnhững lúc NLĐ gặp khó khăn hiểm nghèo do bị ốm đau, thai sản, tai nạn laođộng, tuổi già… trên cơ sở những cam kết đóng góp của NLĐ và người
Trang 25SDLĐ cho một bên thứ ba (cơ quan bảo hiểm) trước khi xảy ra những biến cố
đó Tuy nhiên, BHXH không trực tiếp chữa bệnh cho người tham gia BHXHkhi họ ốm đau, tai nạn, sắp xếp việc làm cho người mất việc làm… mà chỉgiúp họ giữ thăng bằng phần thu nhập bị giảm hay bị mất hoặc giúp họ trangtrải phần chi tiêu bị tăng cao đột xuất do gặp các rủi ro nói trên
Vì vậy, dưới góc độ kinh tế: BHXH là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự
đảm bảo thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảmhoặc mất khả năng lao động
Sở dĩ khái niệm BHXH được tiếp cận với những nội dung đa dạng nhưtrên bởi trước khi có Luật BHXH thì không có văn bản pháp lý nào quy địnhmột cách cụ thể và chính thức về vấn đề này, hơn nữa sự đa dạng đó còn đượcgiải thích bởi góc độ tiếp cận và nhu cầu nghiên cứu khác nhau Hiện nay,theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH thì BHXH được định nghĩa
như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”.
Các loại hình bảo hiểm xã hội
Hiện nay, có hai loại hình BHXH cơ bản: BHXH bắt buộc và BHXH
để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất
Các chế độ bảo hiểm xã hội
Trang 26Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quyđịnh cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiệnBHXH đối với NLĐ Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định đượcpháp luật hoá về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từngtrường hợp BHXH cụ thể.
Ở nước ta, tại Điều 4 Luật BHXH quy định rõ các chế độ BHXH, gồm:BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây: (1)Ốm đau; (2)Thai sản;(3)Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (4)Hưu trí; (5)Tử tuất
BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: (1) Hưu trí; (2) Tử tuất
1.1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội
Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn rình rập, đe dọa cuộcsống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinhhoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lường trước được, nhưng xét trên bìnhdiện xã hội, rủi ro là một tất yếu không thể tránh được Để phòng ngừa vàhạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội lànhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH
Thứ nhất, BHXH góp phần trợ giúp NLĐ gặp rủi ro (ốm
đau,TNLĐ-BNN, thất nghiệp ) sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm trở lại
Theo quy định của BHXH thì NLĐ khi có việc làm sẽ đóng góp mộtphần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng Quỹ này hỗ trợ NLĐ khi ốmđau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả
để duy trì và ổn định cuộc sống của NLĐ và gia đình họ Do vậy, hoạt độngBHXH, một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng NLĐ đối với bản thânmình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vìmọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thểhiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ
kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất vềquyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững
Trang 27Người SDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH cho NLĐ.Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc đóng góp BHXH cho NLĐ có thể sẽ làmtăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng thực chất, vềlâu dài, việc tham gia BHXH đó chuyển giao trách nhiệm bảo vệ NLĐ khigặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúpcho chủ SDLĐ bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanhnghiệp, yên tâm tổ chức SXKD
Trong hoạt động BHXH, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế
độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền
và nghĩa vụ của người tham gia BHXH Như vậy nhà nước giữ vai trò quản lý
về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ NSNN cho lĩnh vựcnày Mặt khác, chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng của chính sách xãhội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và xã hội trênphương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ vững ổnđịnh xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá trình
Thứ hai, BHXH góp phần ổn định cuộc sống của NLĐ khi hết tuổi lao
động hoặc không còn khả năng lao động.
Theo quy định của Luật BHXH, NLĐ tham gia đóng BHXH từ 20 năm trởlên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợcấp hằng tháng Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thunhập ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Hiện nay, cả nước đó cókhoảng hơn 2,5 triệu người đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng thángvới số tiền chi trả từ quỹ BHXH hàng nghìn tỉ đồng mỗi tháng
Trong nhiều năm qua, kể từ khi chính sách BHXH được thực hiện,cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điềuchỉnh cho phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội Vào các thời điểmtăng mức lương cơ sở cũng như việc xem xét chỉ số giả cả, Nhà nước đều có
sự điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý Mức lương hưu không ngừng được
Trang 28điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung toàn xã hội tại thời điểm hưởnglương hưu đó bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu, tạo sự an tâm, tintưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động Tương tự như vậy, cácquyền lợi về BHYT, về chế độ ốm đau, chế độ TNLĐ-BNN; mức trợ cấp tuấtmột lần cũng được cải thiện rõ rệt
Sở dĩ có được điều kiện nâng cao và mở rộng các quyền lợi của BHXH
là do phương thức tài chính được hình thành theo cách lập quỹ và có sự tínhtoán điều chỉnh quan hệ đóng - hưởng trong phạm vi toàn xã hội theo những
dự báo về các yếu tố kinh tế - xã hội trong tương lai Theo phương thức lậpquỹ, NLĐ, trước hết phải có trách nhiệm với bản thân trong việc đóng góp lậpquỹ BHXH Mặt khác, với việc lập quỹ BHXH đó gắn kết được trách nhiệmcủa các thế hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH Vì vậy, nguồn quỹBHXH được Nhà nước bảo hộ và phát triển cân đối bền vững sẽ là cơ sở đểcải thiện không ngừng các chế độ BHXH nói chung và đời sống của ngườinghỉ hưu nói riêng
Thứ ba, BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của NLĐ trong các thành phần kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng hưởng” đó tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của NLĐ về chínhsách BHXH Khi đó, mọi NLĐ làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngànhnghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham giathực hiện các chính sách BHXH Phạm vi đối tượng tham gia BHXH khôngngừng được mở rộng đó thu hút hàng triệu NLĐ làm việc trong các thànhphần kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyềnlợi BHXH, tạo sự an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, SXKD
-NLĐ tham gia BHXH, BHYT khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh vàđược quỹ BHYT chi trả phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau
Trang 29không đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khámthai, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợcấp thai sản; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhậnphần trợ cấp do giảm khả năng lao động do TNLĐ-BNN gây ra Ngoài ra,NLĐ còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻhay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực Khi NLĐ mất việc làm sẽ đượchưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề để
có cơ hội tìm kiếm việc làm mới
Với những quyền lợi của NLĐ khi tham gia BHXH đó góp phần thuhút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, giữ gìn và nâng cao thể lực choNLĐ trong suốt quá trình lao động, sản xuất Việc được tham gia BHXH khiđang làm việc và được hưởng lương hưu sau này đó tạo ra cho NLĐ sự phấnkhởi, tâm lý ổn định, an tâm vào việc làm mà họ đang thực hiện Thực tế lànhiều doanh nghiệp, khi tuyên truyền quảng cáo tuyển dụng lao động, thì tiêuthức được tham gia BHXH cũng là một quyền lợi quan trọng thu hút đượcnhiều lao động
Sự an tâm của NLĐ cũng như việc bảo vệ sức lao động của họ thôngqua chính sách BHXH đó trở thành một chính sách thu hút nguồn lao độngvào nền sản xuất xã hội, bảo đảm sự ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ tư, BHXH giúp phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công
bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho NSNN, bảo đảm an sinh xã hội bền vững.
Trên thị trường lao động, “tiền lương là giá cả sức lao động” được hìnhthành tự phát căn cứ vào quan hệ cung cầu, vào chất lượng lao động cũng nhưcác điều kiện khung mà trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý thông quanhững quy định về mức lương tối thiểu và những điều kiện lao động cần thiết.Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa chủ SDLĐ và NLĐ là sự
Trang 30phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng NLĐ Do vậy, NLĐ có taynghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu của xã hội sẽ có thu nhậpcao Đó là sự hợp lý và khuyến khích làm giàu chính đáng
Sau khi đó thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân phốilại thông qua chính sách BHXH Khi đó, người có năng lực hơn, nhận đượctiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp những người
có mức lương thấp hơn trong xã hội Một bộ phận lao động khác do gặp phảirủi ro trong cuộc sống như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình
có việc làm và thu nhập thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH để duytrì cuộc sống Bên cạnh đó, chế độ hưu trí, tử tuất với nguyên tắc tương đồnggiữa mức đóng và mức hưởng đó khuyến khích NLĐ khi làm việc có thunhập cao và đóng góp ở mức cao, với thời gian dài thì sau này sẽ được hưởngtiền lương hưu với mức cao, an tâm nghỉ ngơi khi tuổi già
BHXH được thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, có nghĩa là ngườitham gia đóng góp vào quỹ BHXH thì người đó mới được hưởng quyền lợi vềBHXH Như vậy, nguồn để thực hiện chính sách là do NLĐ đóng góp, Nhànước không phải bỏ ngân sách ra nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu an sinh
xã hội lâu dài
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm thu bảo hiểm xã hội
1.1.2.1 Khái niệm thu bảo hiểm xã hội
Thu BHXH là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để bắt buộc cácđối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đốitượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợpvới thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trungnhằm mục đích bảo đảm cho các hoạt động BHXH
Các đối tượng thu BHXH
BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi
do NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên
Trang 31nhân như ốm đau, tai nạn, già yếu… Chính vì vậy, đối tượng của BHXHchính là thu nhập của NLĐ bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặcmất khả năng lao động, mất việc làm của những NLĐ tham gia BHXH Cònđối tượng tham gia BHXH là NLĐ và người SDLĐ Tuy vậy, tùy theo điềukiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cảhoặc một bộ phận những NLĐ nào đó.
Ở nước ta, Điều 2, Luật BHXH quy định đối tượng áp dụng như sau:
- Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảohiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợpđồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theomột công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể
cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đạidiện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về laođộng;
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 thángđến dưới 03 tháng;
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công annhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theohọc được hưởng sinh hoạt phí;
Trang 32+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luậtngười lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã cóhưởng tiền lương;
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn
- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam cógiấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắtbuộc theo quy định của Chính phủ
- Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm
cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổchức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộkinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụnglao động theo hợp đồng lao động
- Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ
đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội
Trang 33của Chính phủ; Nghị định số 05/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chínhphủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXHViệt Nam; Nghi định số 01/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2016 củaChính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaBHXH Việt Nam.
BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung,thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có:
Ở Trung ương là BHXH Việt Nam
Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương (sau đây gọi chung là BHXH tỉnh) trực thuộc BHXH Việt Nam
Ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là BHXH huyện ) trực thuộcBHXH tỉnh
1.1.2.1 Đặc điểm thu bảo hiểm xã hội
Số đối tượng phải thu rất lớn và gia tăng theo thời gian nên thu BHXH rất khó khăn và phức tạp.
Theo quy định của Luật BHXH, số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc rấtlớn Do đó, quản lý thu BHXH phải đảm bảo để tất cả các đối tượng thuộc diệnphải tham gia BHXH đều phải tham gia BHXH nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐ
Thu BHXH mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại, do đó khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho thu cũng phải tương ứng.
Theo quy định, hàng tháng, khi có phát sinh tăng giảm lao động hoặctiền lương, chủ SDLĐ lập danh sách gửi cơ quan BHXH để được tăng, giảmkịp thời Số đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng đòi hỏi nguồn nhânlực, cơ sở vật chất phục vụ quản lý phải phù hợp Chỉ có như vậy thì quản lýthu BHXH mới đảm bảo kịp thời và chính xác
Trang 34Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai phạm, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ BHXH.
Theo quy định, chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị tríchtiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền lương, tiền công tháng của nhữngNLĐ tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công thángđóng BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng mộtlúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Khobạc nhà nước Trong thực tế hiện nay, số đơn vị thực hiện theo đúng quy địnhnày không nhiều, một số đơn vị còn nộp chậm BHXH, do vậy đòi hỏi trongthu BHXH phải sát sao, kịp thời
1.1.3 Vai trò của thu bảo hiểm xã hội
Thứ nhất, vai trò của thu BHXH trong việc tạo lập quỹ BHXH và thực
hiện chính sách BHXH.
Thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXHnhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt tập trung, thống nhất Qua đó,đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXHnói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng
Thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến chi và quá trình thực hiện
chính sách BHXH trong tương lai BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác
đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đó đặt ra yêu cầu đốivới thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn
để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Do đó, thu BHXH đóng một vai tròquyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ
Thứ hai, vai trò của thu BHXH trong mối quan hệ giữa các bên trong BHXH.
Để thực hiện chính sách BHXH thuận lợi thì thu BHXH có vai trò nhưmột điều kiện cần và đủ Bởi thu BHXH là đầu vào, là nguồn hình thành cơbản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH Đồng thời thu BHXH cũng làmột khâu bắt buộc đối với NLĐ và người SDLĐ tham gia BHXH
Trang 35Thứ ba, vai trò của thu BHXH trong việc đảm bảo sự công bằng trong BHXH.
BHXH không nhằm mục đích kinh doanh, không vì lợi nhuận, nhưngphân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sựphân phối lại thu nhập BHXH dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trongnghĩa vụ đóng góp và hưởng quyền lợi BHXH thông qua hoạt động của mình.BHXH tham gia vào phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa nhữngNLĐ thế hệ trước với thế hệ sau, giữa những ngành nghề sản xuất, giữanhững người thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa những người khoẻmạnh, may mắn có việc làm ổn định và những người ốm, yếu, gặp phải nhữngbiến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, BHXHgiúp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo đồngthời góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thu BHXH là khâu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để BHXH thực hiệnđược vai trò vừa nêu Bởi lẽ, thu BHXH đảm bảo nguồn lực để thực thi chínhsách BHXH Bên cạnh đó, ngoài việc đảm bảo cho quỹ BHXH tập trung vềmột mối, thu BHXH còn đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra sốlượng người tham gia BHXH ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương hoặc trênphạm vi toàn quốc Bởi thu BHXH cũng được tổ chức tập trung, thống nhất,
có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tàichính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơquan đơn vị cũng như của từng NLĐ Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạtđộng có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người và sốtiền lương, tiền công tham BHXH để tạo lập quỹ BHXH - nguồn lực để thựchiện chính sách BHXH
Trang 361.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI CẤP QUẬN
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội
Khái niệm quản lý thu BHXH.
Quản lý thu BHXH được hiểu là sự tác động có tổ chức, có tính pháp lý
để điều chỉnh các hoạt động thu Sự tác động đó được thực hiện bằng hệthống pháp luật của nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinhtế của các cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu thu đúng đối tượng,thu đủ số lượng và đảm bảo thời gian theo quy định
Do vậy, quản lý thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn củangành BHXH Để thu BHXH đạt hiệu quả cao thì phải có quy trình quản lýthu chặt chẽ, hợp lý, khoa học… Vì vậy, quản lý thu BHXH phải được tổchức chặt chẽ, thống nhất trong cả hệ thống, từ lập kế hoạch thu, phân cấpthu, ghi kết quả và đặc biệt là quản lý tiền thu BHXH
Mục tiêu quản lý thu BHXH
Thứ nhất, đảm bảo thu đúng đối tượng: Tức là tất cả các đối tượng theo
quy định của Luật BHXH đều phải được tham gia BHXH
Thứ hai, đảm bảo thu đủ số lượng: Thu đủ số lượng ở đây gồm cả đủ
về số người và đủ số tiền phải đóng để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ khihưởng các chế độ BHXH
Thứ ba, đảm bảo thời gian theo Luật định: Theo quy định của luật
những đối tượng nào đóng theo tháng thì phải nộp theo tháng, những đốitượng nào nộp theo quý hoặc 6 tháng một lần thì nộp theo quý hoặc 6 tháng,tránh tình trạng nộp không đúng quy định
Các nguyên tắc quản lý thu BHXH.
Quản lý thu BHXH được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch:
Chính sách, chế độ tạo lập và sử dụng quỹ được ban hành thực hiệnthống nhất trong toàn quốc Chế độ đóng góp và hưởng thụ phải được thực
Trang 37hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không phân biệt đối xử theo giới tính,dân tộc, địa giới hành chính… Bên cạnh đó, phải thực hiện chế độ công khaiquỹ, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát quỹ từ phía các cơ quanquản lý nhà nước và các tổ chức xã hội (Tổng LĐLĐ Việt Nam, PhòngThương mại công nghiệp Việt Nam…).
Tất cả các chế độ chính sách đối với mọi đối tượng phải được áp dụng
và điều chỉnh một cách thống nhất trong toàn ngành để đảm bảo đầy đủ quyềnlợi cho NLĐ, đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ
Đây là nguyên tắc cao nhất trong quản lý thu BHXH cũng như tronghoạt động BHXH nói chung Bởi lẽ, chỉ có như vậy mới thực hiện được vaitrò và mục đích của thu BHXH tạo ra được một nguồn lực to lớn để thực hiệncác chế độ BHXH cho NLĐ và cung cấp nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong quản lý thu BHXH, mục tiêu quan trọng và phải luôn hướng tới
là mục tiêu công bằng, công khai và dân chủ Vì vậy, để đạt được mục tiêunày phải xây dựng một cơ chế dựa trên một hệ thống tiêu thức phản ánh đầy
đủ các nội dung cần quản lý Hệ thống đó phải được xây dựng một cách côngkhai, dân chủ, được mọi người, mọi đơn vị tham gia thảo luận và thống nhấttrước khi tổ chức thực hiện Hệ thống đó cũng phải được bổ sung, sửa đổihoàn chỉnh từng bước trong quá trình tổ chức, thực hiện để phù hợp với thựctiễn hoạt động của từng đơn vị tổ chức, cá nhân và điều kiện, hoàn cảnh củađất nước
Nguyên tắc hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần:
Quỹ ốm đau và thai sản, quỹ TNLĐ-BNN, quỹ hưu trí và tử tuất (củaBHXH bắt buộc), quỹ BHXH tự nguyện, quỹ BHTN được hạch toán độc lậptheo các quỹ thành phần Chỉ có như vậy mới đảm bảo sự an toàn và cân đốilâu dài của quỹ BHXH Mặt khác, nguyên tắc này cũng nhằm tạo cơ sở điềuchỉnh tỷ lệ đóng đối với từng quỹ, đảm bảo phù hợp với từng giai đoạn
Trang 381.2.2 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội cấp quận
1.2.2.1 Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Quản lý đối tượng tham gia BHXH chính là quản lý NLĐ và ngườiSDLĐ Để quản lý đối tượng tham gia BHXH, một việc làm rất cần thiết làquản lý các đơn vị SDLĐ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo các địabàn hành chính, kể cả những người buôn bán nhỏ, hộ sản xuất KD trong cáclàng nghề truyền thống có thuê mướn và SDLĐ thuộc đối tượng bắt buộctham gia BHXH
Cơ quan BHXH cấp quận: Điều tra, lập danh sách các đơn vị SDLĐthuộc đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn Thông báo,hướng dẫn các đơn vị kịp thời đăng ký tham gia, đóng đủ BHXH, BHYT,BHTN cho NLĐ theo quy định của pháp luật Định kỳ báo cáo UBND cùngcấp, cơ quan quản lý lao động địa phương tình hình chấp hành pháp luật vềBHXH, BHYT của các đơn vị trên địa bàn, đề xuất biện pháp giải quyết đốivới các đơn vị chậm đóng kéo dài hoặc đơn vị cố tình trốn đóng, đóng không
đủ số người thuộc diện tham gia BHXH, BHYT, BHTN theo quy định củapháp luật Đối với các trường hợp đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHXH,BHYT, BHTN như không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHXH,BHYT, BHTN không đủ số lao động, không đúng thời hạn theo quy định củapháp luật thì cơ quan BHXH lập biên bản, truy thu BHXH, BHYT, BHTNcho NLĐ
Quản lý cấp sổ BHXH Để quản lý tốt đối tượng tham gia BHXH, cơquan BHXH thực hiện cấp sổ BHXH để ghi nhận quá trình tham gia BHXH,BHTN Theo Luật BHXH 2014 (có hiệu lực đầu năm 2016), NLĐ có quyền tựquản lý sổ BHXH thay vì chủ sử dụng lao động giữ như trước đó Đây là mộttrong những điểm mới của Luật BHXH, nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐmột cách tích cực hơn NLĐ tự quản lý sổ BHXH không chỉ nắm rõ được cácthông tin về quá trình tham gia BHXH của bản thân mà còn chủ động hơn
Trang 39trong việc thực hiện giải quyết các chế độ BHXH theo luật định.Hoạt động nàynhằm mục đích quản lý chặt chẽ đối tượng tham gia và đóng BHXH, giúpNLĐ có cơ sở pháp lý kiểm tra, giám sát kết quả đóng và thực hiện các chế độBHXH của người SDLĐ, tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm công bằng choNLĐ khi chuyển nơi làm việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động bởi vẫn duytrì được quyền lợi về BHXH Sổ BHXH còn là cơ sở giải quyết các tranh chấpphát sinh giữa NLĐ, người SDLĐ và cơ quan BHXH
Quản lý đơn vị nợ tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN:
*Đối với đơn vị nợ
Phân loại nợ
- Nợ chậm đóng: các trường hợp nợ có thời gian nợ dưới 01 tháng
- Nợ đọng: các trường hợp nợ có thời gian nợ từ 01 tháng đến dưới 03tháng
- Nợ kéo dài: thời gian nợ từ 03 tháng trở lên và không bao gồm cáctrường hợp nợ khó thu
- Nợ khó thu, gồm các trường hợp:
+ Đơn vị không còn tại địa điểm đăng ký kinh doanh (đơn vị mất tích).+ Đơn vị đang trong thời gian làm thủ tục giải thể, phá sản; đơn vị cóchủ là người nước ngoài bỏ trốn khỏi Việt Nam; đơn vị không hoạt động,không có người quản lý, điều hành
+ Đơn vị chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản theo quy định của phápluật
+ Nợ khác: đơn vị nợ đang trong thời gian được tạm dừng đóng vàoquỹ hưu trí, tử tuất, đơn vị được cấp có thẩm quyền cho khoanh nợ
* Quy trình quản lý nợ, đôn đốc thu nợ
- Hằng tháng, cán bộ thu thực hiện đôn đốc đơn vị nộp tiền theo quyđịnh Trường hợp đơn vị nợ từ 02 tháng cán bộ thu trực tiếp đến đơn vị đểđôn đốc; gửi văn bản đôn đốc 15 ngày một lần Sau 2 lần gửi văn bản mà đơn
vị không nộp tiền, chuyển danh sách đơn vị đến Phòng Khai thác và thu nợtiếp tục xử lý
Trang 40- Đối với đơn vị nợ từ 03 tháng trở lên: Lập Biên bản đối chiếu thu nộpBHXH, BHYT, BHTN (Mẫu C05-TS); Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lậpbiên bản đối chiếu thu nộp BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu C05-TS), nếu đơn vịkhông nộp tiền thì phối hợp với Tổ Kiểm tra báo cáo Giám đốc ra quyết địnhkiểm tra, thanh tra đóng BHXH, BHYT, BHTN, xử lý vi phạm theo quy định.Trường hợp đơn vị nộp tiền trước thời hạn kiểm tra, thanh tra; báo cáo Giámđốc ra Quyết định tạm dừng kiểm tra, thanh tra.
- Chủ trì phối hợp với Phòng Quản lý thu tổng hợp Danh sách đơn vị cốtình không trả nợ báo cáo BHXH cấp trên (Mẫu B03a-TS) và thông báo trêncác phương tiện thông tin đại chúng
- Đối với các đơn vị không còn tồn tại, giải thể, phá sản, hoặc tạmdừng đóng:
Đơn vị không còn tồn tại, giải thể, phá sản,
Đối với đơn vị không còn tại địa điểm đăng ký kinh doanh (mất tích),giải thể, phá sản
Căn cứ hồ sơ, biên bản kiểm tra do Phòng/Tổ Khai thác và thu nợchuyển đến, Phòng/Tổ Quản lý thu thực hiện dừng tính số phải thu phát sinh,dừng tính lãi chậm nộp, mở sổ theo dõi, điều chỉnh giảm số phải thu kể từthời điểm đơn vị không giao dịch với cơ quan BHXH Thời điểm xác địnhkhông giao dịch: thời điểm cuối cùng đơn vị nộp hồ sơ phát sinh hoặc chuyểntiền đóng BHXH
Đối với đơn vị giao dịch lại (không bao gồm đơn vị tạm dừng đóngtheo quy định)
Đơn vị lập tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin đơn vị tham giaBHXH, BHYT (mẫu TK3-TS) đồng thời nộp đủ số tiền phải đóng, tiền lãichậm đóng và số tiền lãi phát sinh từ thời điểm dừng tính lãi đến tháng giaodịch lại vào tài khoản của cơ quan BHXH
Trình tự thực hiện