1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật kinh tế trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế của nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào

171 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 15,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, các quan hộ xã hội trong nền kinh tế không thể tồn tại và phát triển lành mạnh theo định hướng XHCN... Xuất phát từ điều kiện kinh tế - x

Trang 1

_ -X _ V <

Trang 2

XỔM XAY XỈ HÀ CHẤC

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT XINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH o ô ì MỚI QUẢN LÝ KINH TÊ CỦA N líở c CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Chuyên ngành : Luật

M ã sổ : 5.05

LUẬN ÁN TIẾN Sĩ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Trần Ngọc Dũng

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các s ố liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Xổm Xay Xỉ Hà Chắc

Trang 4

Chương h c ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 11

KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH Đ ổi MỚI QUẢN LÝ KINH

TẾ Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

1.1 Vai trò của Nhà nước và pháp luật trong quản lý kinh tế 111.2 Vai trò của pháp luật trong quản lý kinh tế 391.3 Tính tất yếu khách, quan của việc hoàn thiện pháp luật kinh tế 56của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

1.4 Một số quan điểm về luật kinh tế và pháp luật kinh tế 64

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT KINH TẾ CỦA LÀO 7 4

2 1 Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh doanh 78

2.4 Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế 106

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP 117

LUẬT KINH TẾ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

3.1 Những nguyên tắc và phương hướng hoàn thiện pháp luật kinh 117

tế của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh tế của Lào 124

NHŨNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG B ố 164

Trang 5

1 APEC : Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

2 ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á

3 Đảng NDCM Lào : Đảng Nhàn dân cách mạng Lào

4 CHDCND Lào : Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

5 CNXH : Chủ nghĩa xã hội

6 CNTB : Chủ nghĩa tư bản

8 XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghi quyết Đại hội lần thứ r v (1986), lần thứ V (1991) và lần thứ VI (199Ố) của Đảng nhân dân cách mạng Lào (Đảng NDCM Lào) đã khẳng định con đường phát triển của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào)

là xây dựng và phát triển một nền kinh tế thị trường theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Sự nghiệp to lớn này bao trùm các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, vãn hóa, xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, đó là việc xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường, phát huy thế manh của các thành phần kinh

tế, vừa canh tranh, vừa hợp tác bổ sung cho nhau trong một sự thống nhất Trong cơ chế quản lý kinh tế mới, các đơn vị kinh tế bình đẳng trước pháp luật Nhà nước xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp Việc đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế là nhằm phát huy khả năng, vai trò của mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức xã hội và mọi cá nhân trong sự nghiệp phát triển đất nước CHDCND Lào thực hiện việc từng bước hiện đại hóa nền kinh tế, tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài và các

tổ chức quốc tế để thu hút được nguồn vốn của nước ngoài nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển và đảm bảo cuộc sống của nhân dân ngày càng được cải thiện

Việc quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường với đinh hướng XHCN đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật phải được đổi mới và hoàn thiện

Ở CHDCND Lào hiện nay, pháp luật kinh tế có vai trò rất quan trọng Không có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, các quan hộ xã hội trong nền kinh tế không thể tồn tại và phát triển lành mạnh theo định hướng XHCN

Trang 7

Để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế một cách có hiệu quả, CHDCND Lào xúc tiến xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế Nhiệm vụ này cũng

đã được đặt ra một cách cấp thiết tại Đại hội V Đảng NDCM Lào Từ năm

1991 đến nay, Quốc hội Lào đã ban hành một số đạo luật trong lĩnh vực quản lý kinh tế như: Luật Kinh doanh, Luật Hợp đồng, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài tại Lào Đây là bước thể hiện vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô Tuy vậy, những vãn bản pháp luật này còn thô sơ, thiếu đồng bộ, chưa ổn đinh, làm cho các nhà doanh nghiệp trong nước và nước ngoài chưa yên tâm đầu

tư và kinh doanh ỉâu dài Vì vậy, hoàn thiện pháp luật kinh tế ở Lào là đòi hỏi cấp bách của viộc tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo

định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, tôi chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật

kinh tế trong quá trình đổi mới quẩn lý kinh tế của nước Cộng hòa dàn

chủ nhàn dán Lào" làm đề tài luận án tiến sĩ luật, chuyên ngành Luật Kinh

tế, với mong muốn góp phần vào sự nghiệp đổi mới quản lý kinh tế ở Lào

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về lý luận cũng như thực tiễn, vấn đề hoàn thiện pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường đã và đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở Việt Nam, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VT đã có nhiều công trình khoa học đề cập đến vấn đề hoàn thiện pháp luật trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Một số nội dung chủ yếu đã

được bàn đến là: Hoàn thiện Luật kinh tế ở Việt Nam trong nền kinh tế thị ừ-ường định hướng xã hội chủ nghĩa (Nguyễn Am Hiểu, Luận án PTS, Hà Nội, 1996); Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (Chu Hồng Thanh, luận án PTS, Hà Nội, 1993); Vấn đề lý luận và thực tiễn xảy dựng và hoàn thiện hệ thông pháp luật Việt Nam (Lê Minh Tâm, Luận án PTS, Hà Nội, 1992).

Trang 8

ở CHDCND Lào, đây là lĩnh vực lý luận còn nhiều mới mẻ, hiện nay có ít nhà khoa học nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật kinh tế trong

điều kiện nền kinh tế thị trường ớ Lào Có một số tác giả viết về: Đổi mới

cơ ch ế quản lý trong nền kinh tế Lào (Xổm Chay, Quan hộ Việt - Lào, Lào - Việt, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1993); Thực trạng và chiều hướỉĩg đi lên của nền kinh tế Lào (Mai Sĩ Hùng, Quan hộ Việt - Lào, Lào - Việt, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1993); Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong điều kiện đổi mới hiện nay ở CHDCND Lào, Chom Búp Phả Li Văn,

Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998)

Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh và ở các mức độ khác nhau, đem lại nhiều nhận thức và quan điểm mới, chứng minh và phát triển các quan điểm cơ bản của Đảng

và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới Nhưng trong quá trình nghiên cứu có rất nhiều quan điểm khác nhau Phần lớn nội dung nghiên cứu chú ý đến các hình thức kinh tế của quá trình phát triển, quan tâm chưa đúng mức đến vai trò của pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường Đến nay có rất nhiều vấn dề mới đang đặt ra trong lý luận và thực tiễn kinh tế đất nước cần được tiếp tục phân tích một cách khoa học và sâu sắc hơn, đặc biệt là về Dháp luật trong quản lý kinh tế và trong sản xuất kinh doanh, áp dụng pháp

luật trong cơ chế thị trường Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật kinh tế rrong quá trình đổi mới quản lý kinh ỉế của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào'' là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một

cách có hộ thống dưới phương diện khoa học pháp lý phân tích quan điểm

về pháp luật kinh tế và đánh giá một cách cụ thể pháp luật kinh tế hiện hành của Lào Trên cơ sò đó luận án góp phẩn vào quá trình hoàn thiện pháp luật kinh tế và nâng cao vai trò của pháp luật kinh tế trong quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở CHDCND Lào

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án là góp phần làm sáng tỏ vấn để lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện pháp luật kinh tế của Lào, đề xuất và kiến nghị những biện pháp hoàn thiện pháp luật kinh tế

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là: làm rõ vai trò của Nhà nước và pháp luật trong cơ chế thị trường, phân tích thực trạng nền kinh tế và pháp luật kinh tế hiện nay, từ đó rút những yêu cầu khách quan của việc hoàn, thiên pháp luật kinh tế của Lào Trong nội dung luận án, tác giả đã thể hiện việc tìm hiểu những cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện pháp luật kinh tế, tìm hiểu những kinh nghiệm thực tiễn của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, kinh nghiệm của các nước ASEAN, đặc biột là kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam Tác giả cũng đã vận dụng những điều đã nghiên cứu và tìm hiểu được vào việc phân tích, nhận xét thực trạng pháp luật kinh tế của Lặo Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những kiến nghị thiết thực cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật kink tế của Lào

4 Phạm vi nghiên cứu

Để quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước Lào

sử dụng nhiều công cụ, biện pháp và hình thức khác nhau, trong đó, pháp luật là quan trọng nhất Thông qua pháp luật, Nhà nước qui định địa vị pháp

lý cho các cơ quan quản lỷ nhà nước về kinh tế, các chủ thể kinh doanh, qui định mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế và các doanh nghiệp Đồng thời, Nhà nước xâv dựng bộ máy và cơ chế bảo vệ người sản xuất và người tiêu dùng thông qua việc qui định các hành vi phạm tội, hành

vi vi phạm hành chính và đề ra các chế tài tương ứng

ở CHDCND Lào, từ khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới (1986) đến nay, Nhà nước Lào đã ban hành nhiều văn bản pháp luật

Trang 10

trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, luận án này không có tham vọng trình bày một vấn đề rộng lớn như vậy ở đây, tôi chỉ đề cập và nghiên cứu một

số lĩnh vực chủ yếu của pháp luật kinh tế là: Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh doanh, pháp luật về hợp đồng, pháp luật về phá sản doanh nghiệp, pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài này là lỷ luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Đồng thời, tác giả luận án cũng sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp lôgic khi nghiên cứu đề tài này

Cùng với phương pháp luận nói trên, tác giả luận án còn sử dụng các quan điểm của Đảng NDCM Lào về đổi mới tư duy kinh tế và tư duy pháp luật

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hộ thống về việc hoàn thiện pháp luật kinh tế ở Lào Luận án có một số điểm mới chủ yếu sau đây:

- Luận án nghiên cứu vai trò của Nhà nước và pháp luật gắn với yêu cầu đổi mới kinh tế theo quan điểm đổi mới của Đảng Xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước, luận án đã phân tích tính tất yếu khách quan của sự tồn tại pháp luật trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Lào Có thể xem đây là những đóng góp nhằm góp phần nâng cao nhận thức lý luận về pháp luật kinh tế

- Luận án đã phân tích đánh giá một cách toàn diện thực trạng pháp luật kinh tế của Lào Những kết luận rút ra từ thực trạng pháp luật kinh tế của Lào là những cân cứ thực tiễn xác đáng để hình thành phương hướng và giải pháp đổi mới và hoàn thiện pháp luật kinh tế

Trang 11

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả của việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần nàng cao hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước CHĐCN Lào, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quản lý kinh tế, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho hoạt động kinh tế Đồng thời, luận án có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước của Lào trong việc xây dựng và ban hành những vãn bản pháp luật về kinh tế, giúp cơ quan thi hành pháp luật thi hành đúng pháp luật kinh tế Luận án cũng có thể là tài liêu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu và đào tạo luật của Lào

8 Kết cấu của luận án

Ngoài Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 chương với 8 mục

Chương ỉ: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật kinh tế

trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Chương 2: Thực trạng pháp luật kinh tế của Lào.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh

té của nước Cộng hòa dán chủ nhân dân Lào.

Trang 12

Chương 1

C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH TẾ

TRONG QUÁ TRÌNH Đ ổ i MỚI QUẢN LÝ KINH TẾ

ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

1.1 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ KINH TẾ

1.1.1 Vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế

Nhà nước một mặt là thiết chế quyền lực chính trị của một (hoặc một nhóm) giai cấp này đối với giai cấp khác trong xã hội, đồng thời còn là quyền lực công đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội Trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính trị thuộc

về giai cấp thống trị hay liên minh các giai cấp thống trị Bằng quyền lực chính trị, giai cấp thống trị bắt các giai cấp khác phải phục tùng ý chí của mình Nhà nước là công cụ cơ bản của quyền lực chính trị, là bộ máy đặc biệt để cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội Sự tổn tại của Nhà nước trước hết là bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời là đại diện cho toàn thể xã hội thực hiện những hoạt động nhằm duy trì và phát triển xã hội

Quản lý là một tất yếu khách quan khi "có sự tác động phối hợp của nhiều người", khi "có sự hợp tác của số đông người" [7, tr 303] Quản lý tồn tại từ lâu trong lịch sử, từ trước khi chưa có Nhà nước và khổng chỉ Nhà nước mới thực hiện chức năng quản lý Tuy nhiên, quản lý là một chức năng, một hình thức hoạt động cơ bản của Nhà nước Cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan hành chính của Nhà nước) có nội dung hoạt động là đảm bảo việc chấp hành pháp luật nhằm thực hiên có hiệu quả ý chí của Nhà nước

Xét về mặt kinh tế, quản lý kinh tế là các hoạt động chủ quan của chủ thể vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, bảo đảm cho hệ thống tồn tại, phát

Trang 13

triển lâu dài, trang trải vốn và lao động, bảo đảm tính độc lập và cho phép thỏa mãn những đòi hỏi xã hội của Nhà nước và của mọi cá nhân trong hệ thống Mục tiêu của hệ thống do Nhà nước đảm nhận, họ là chủ sở hữu của

hệ thống và là người nắm quyền lực của hệ thống Nói một cách khác, quản

lý kinh tế tùy thuộc vào chủ sở hữu của hệ thống Đây là sự khác biệt về chất giữa quản lý XHCN và quản lý tư bản chủ nghĩa (TBCN)

Khi trình độ của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hóa phát triển chưa cao thì bản thân nền kinh tế chưa đặt ra những yêu cầu đặc biệt đối với quản lý nhà nước Từ khi hình thành xã hội, lúc con người có của thừa thì vấn

đề sở hữu cũng được đặt ra và trở thành tâm điểm của mọi sự tranh chấp và xung đột giữa cá nhân, nhóm người, cộng đồng và xã hội Sở hữu, nhất là sở hữu

tư liệu sản xuất trở thành thước đo trình độ phát triển của chế độ và xã hội

Dưới chế độ chiếm hữu nô lộ, quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tư liệu sản xuất thuộc về các tù trưởng và các thủ lĩnh trong các bộ tộc Con người cũng được xem như là một thứ tư liệu sản xuất mà chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Quyền sở hữu của thiểu số các chủ sở hữu chi phối toàn xã hội, dẫn đến nhiều bất công (người lao động chỉ

là nô lệ và bị chà đạp hết sức dã man) và tất yếu dẫn đến sự tan rã của chế

độ chiếm hữu nô lệ Vấn đề là phải xem xét lại chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất của xã hội

Trong chế độ phong kiến, giai cấp phong kiến là kẻ làm chủ các tư liệu sản xuất Quyền sở hữu tư liệu sản xuất dành cho các tập đoàn phong kiến với số lượng đông hơn các thủ lĩnh dưới thời chiếm hữu nô lệ Người lao động, về cơ bản, vị thế xã hội không được thay đổi Họ vẫn là một thứ tài sản thuộc quyền sở hữu của chúa phong kiến Các mâu thuẫn dưới thời chiếm hữu nò lệ vẫn không được cải thiện, mà chỉ thay đổi ở số lượng các nhà chiếm hữu tăng lên, tạo ra sức mạnh, đối trọng đối với người lao động lớn hơn Lịch sử đã diễn ra sự suv tàn tất yếu của chế độ phong kiến - một

Trang 14

chế độ, nếu xét dưới góc độ sở hữu, vẫn dựa trên quyền sở hữu của nhóm

nhỏ và con người cũng thuộc phạm trù sở hữu

- Chế độ TBCN, để dung hòa mâu thuẫn đối kháng giữa tư bản và vô sản, giữa chính quyền và tư sản, Nhà nước tư bản đã thực hiện chủ thuyết đa

dạng hóa các quyền sở hữu, bao gồm: sở hữu cá nhân, sở hữu cộng đồng và

sở hữu chung, ở hình thức sở hữu cá nhân, các nhà tư sản đã tiến hành các

bước đỉều chỉnh cần thiết để mị dân, để né tránh mũi nhọn đấu tranh nhất

thời- Các hoạt động lợi ích công cộng (thuộc sở hữu nhà nước, cộng đổng

chung), được thực hiện với một tỷ lộ nhất đinh, nhằm không đẩy con người

tới cái ngưỡng quá tải vì bị bóc lột và đẩy họ tới chỗ chết để khỏi buộc họ

làm cách mạng lạt đổ xã hội tư bản

Tính tất yếu của viộc quản lỷ ngày càng tăng lên theo mức độ phát

triển của nền kinh tế và gắn bó với những quan hệ ngày càng phức tạp trong

cơ cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa Sự xuất hiện của thành phần kinh tế nhà

nước và sự can thiệp ngày càng sâu của Nhà nước vào đời sống kinh tế đã

làm tăng thêm vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế tư bản chủ

nghĩa Quá trình phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đồng thời là quá trình

mà vai ưò quản lý kinh tế của Nhà nước tư bản ngày càng tảng lên

ở các nước tư bản, lực lượng sản xuất phát triển, trình độ xã hội hóa

sản xuất cao do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tạo ra Hơn thế nữa, xu

thế quốc tế hóa đời sống kinh tế cũng như nguy cơ nổ ra các cuộc khủng

hoảng đòi hỏi các nhà nước phải can thiệp manh vào đời sống kinh tế nhằm

bảo đảm nền kinh tế phát triển và bảo tồn chế độ tư bản Điều đó được thể

hiện trên nhiều mặt: Hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội, các

chương trình, kế hoạch, ban hành pháp luật kinh tế, các chính sách kinh tế

như: Hàng rào thuế quan, cải cách điền địa, quốc hữu hóa hoặc tư nhân hóa

xí nghiệp, chính sách tài trợ nông dân Neàv nay, không có nhà nước nào

đứng ngoài đời sống kinh tế, không có một nền kinh tế thị trường "thuần

khiết" không có sự điểu tiết của Nhà nước

Trang 15

Ngày nay, trên thế giới hầu như không một Nhà nước nào từ bỏ vai

trò quản lý nền kinh tế Trong các nước tư bản phát triển cũng như ở nước

Mỹ vốn được gọi là "thế giới tự do", "kinh doanh tự do" cũng được điều chỉnh

bởi cơ chế độc quyền Nhà nước hết sức sâu sắc Ngay từ những năm 20 và

30 của thế kỷ này, học thuyết của nhà kinh tế học Mỹ J Kên-xơ đã trở thành

nổi tiếng với nội dung lý thuyết điều chỉnh Nhà nước tư bản Khi phân tích

quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, J Kên-xơ phát hiện ra rằng số

lượng tiền tộ trong lưu thông, về nguyên tắc là phụ thuộc vào sự biến động

giá cả hàng hóa, sản lượng và thu nhập quốc tế của nền kinh tế quốc dân,

đặc biệt là rất nhạy với lãi suất Chính vì vậy, Nhà nước hoàn toàn có khả

năng can thiệp vào sự vận động của nền kinh tế bằng việc điều chỉnh khối

lượng tiền tệ trong lưu thông cho gần sát với nhu cầu giá trị J Kên-xơ cho

rằng: khi nền kinh tế bị "sốt cao" vì các "đợt sóng" dồn dập của đầu tư tự

phát, thì Nhà nước có thể tăng thuế và lãi suất tm dụng tiền cho vay để hạn

chế bớt đầu tư Trong trường hợp ngược lại, Nhà nước cần thực hiện một

chính sách ưu đãi, hạ lãi suất tm dụng để tạo những tích thích "hâm nóng"

nền kinh tế Trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước cần có cơ chế phát

hành thêm tiền tệ đưa vào lưu thông và chủ động kích thích đầu tư mở rộng

thị trường, kích thích tổng cầu với điều kiện là khối lượng tiền tệ Nhà nước

phát hành ra không vượt quá khối lượng tiền tộ dự trữ trong xã hội và của

Nhà nước Lý thuyết J Kên-xơ được vận dụng ở Mỹ và các nước khác như

Anh, Pháp, Tây Đức

Quản lý kinh tế của Nhà nước tư bản hiện đại được thể hiện ở một

số nội dung sau đây:

- Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển nền kinh tế, lựa chọn khả năng phát triển kinh tế đất nước Hiện nay, nhiều nước phát triển đứng

trước vêu cầu cải cách cơ cấu kinh tế, các nhà nước tư bản tiếp tục thực hiện

cải cách theo chủ nghĩa Keynes quốc tế, trong đó chú ý đến các phương

pháp phân tích vĩ mô và đề cao vai trò của Nhà nước can thiệp vào kinh tế

Trang 16

- Nhà nước thiết lập trật tự kinh tế thông qua hộ thống pháp luật, thực hiện những giới hạn và quy phạm đối với người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng kể cả Nhà nước cũng phải thực hiện các quy đinh của pháp luật.

- Nhà nước giữ chức năng quản lý kinh tế xã hội, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô bằng chính sách kinh tế ngăn ngừa lạm phát, giải quyết nạn thất nghiệp, thực hiện các chính sách đối với người nghèo đói và những vấn

đề xã hội, y tế, sức khỏe, môi trường

- Nhà nước đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lực tài nguyên và lao động thông qua viộc ban bố các chính sách đầu tư; thực hiện các nguồn tài trợ nhà nướcr phát triển hệ sinh thái

- Nhà nước quản lý các quan hệ ngoại thương, cấp giấy phép và hạn ngạch xuất nhập khẩu, thực hiện các chính sách đầu tư và kiểm soát các hoạt động thương mại quốc tế trong phạm vi lãnh thổ

Về lý thuyết, nhiểu nhà lý luận đang chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả hai bàn tay là cơ chế thị trường và nhà nước, cho rằng Nhà nước và cơ chế thị trường phải gắn bó chặt chẽ trong quá trình, điều hành kinh tế Thực tế lịch sử cho thấy Nhà nước chính là bảo đảm cho các nguyên tắc thị trường trong nền kinh tế hiện đại Trong điều kiộn hiộn nay, không có Nhà nước thì không thể có tái sản xuất xã hội trên thực tế Nhà nước bảo hộ cả quyền lợi của những người sản xuất và tiêu dùng, châm lo đến những vấn đề liên quan tới phát triển kinh tế như sinh thái, giáo dục, khoa học, bảo hiểm xã hội Vì vậy, khi nói đên kinh tế TBCN hiện đại thì cũng phải tất yếu nói rằng đó là nền kinh tế và canh tranh nhưng Nhà nước

là người bảo đảm cho sự vận động của canh tranh, của thị trường, của toàn

bộ cơ chế kinh tế

Có thể kết luận rằng muốn ổn định và phát triển kinh tế cần phải có một cơ chế quản lý nhà nước hoàn chỉnh, gọn nhẹ và có hiệu lực, biết điều

Trang 17

hòa hợp lý các lợi ích tồn tại và vận động trong thực tế, biết gắn giữa quản

lý kinh tế quốc gia với khai thác lợi ích kinh tế trong thương trường quốc tế

Chủ nghĩa Mác - Lênin xuất phát từ luận điểm cho rằng vai trò quản

lý của Nhà nước phụ thuộc vào đặc điểm và trình độ kinh tế C.Mác cho rằng:

Việc sản xuất những phương tiộn vật chất trực tiếp cho đời sống, và do đó mỗi một trình độ phát triển kinh tế của một dân tộc hoặc một thời đại tạo nên cơ sở để phát triển các cơ quan nhà nước, các quan điểm pháp lý, nghệ thuật và thậm chí cả những khái niệm tôn giáo của con người và cũng từ đó cho nên chúng phải được giải thích chứ không phải ngược lại như cho đến nay người ta vẫn làm [7, tr 350]

Lênin luôn luôn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của nước ngoài và quản lý kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa V.I Lênin cho rằng:

Chủ nghĩa xã hội đâu phải là một ảo tưởng mà là do đội tiên phong của giai cấp vô sản đã cướp được chính quyền, nắm lấy và vận dụng những cái mà các tờ-rớt đã tạo ra Chúng ta, Đảng của giai cấp vô sản không thể lấy đâu ra được năng lưc tổ chức nền sản xuất quy mô cực kỳ lớn theo kiểu tờ-rớt và như các tờ-rớt, không lấy đâu ra được nếu không lấy ở các chuyên gia hạng nhất của chủ nghĩa tư bản [21, tr 311]

Có thể nêu lên một số quan điểm cơ bản của V.I Lênin về chức năng quản lý nền kinh tế của Nhà nước XHCN:

- Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước luôn gắn với trình độ kinh tế

và tính chất sản xuất của nền sản xuất xã hội

- Lênin đặc biệt nhấn mạnh đến việc Nhà nước nắm và vận dụng đúng đắn các quy luật kinh tế khách quan, các tất yếu kinh tế

Trang 18

- Trong cơ chế quản lý kinh tế cần nhấn manh đến việc sử dụng cồng cụ pháp luật và các chính sách kinh tế trong đó các yêu cầu kinh tế khách quan được nhận thức và vận dụng.

- Các công cụ quản lý của Nhà nước đối với kinh tế thể hiện quan hệ giữa các lợi ích kinh tế

- Quản lý kinh tế là một bộ phận của phương thức sản xuất và có quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác của phương thức sản xuất xã hội

Cái khác nhau cơ bản giữa việc quản lý nhà nước về kinh tế của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của quản lý Có thể rút ra một

số nhận xét về sự khác nhau cơ bản giữa Nhà nước XHCB và Nhà nước TBCN trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế Tnrớc hết, về mục đích quản lý kinh tế Nhà nước TBCN lấy lợi nhuận làm cơ sở và mục tiêu tối cao Mục tiêu quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN là sự phát triển tự do

và giải phóng con người trên cơ sở phát triển các quan hệ sản xuất hàng hóa

Vấn đề đặt ra là: Nhà nước XHCN một mặt phải phát huy được những ưu việt của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; mặt khác, phải biết kế thừa

sử dụng nhũng hình thức kinh tế và kinh nghiệm quản lý của các nhà tư bản, nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Trong tác phẩm "Sáng kiến vĩ đại", khi nói đến sự khác biệt giữa Nhà nước XHCN và Nhà nước TBCN về quản lý kinh tế, V.LLênin nhấn manh rằng: Trong xã hội XHCN, quản lý kinh tế chứ không phải là quản lý chính trị, có

ý nghĩa nổi bật Sau khi chính quyền vào tay nhân dân lao động thì quản lý kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước, quản lý kinh tế trở thành vấn

đề chính trị tập trung nhất

Như vậy, Nhà nước XHCN vừa nấm quyền lưc chính trị, vừa nắm quyền lực kinh tế Nhà nước nằm ngaỵ trong guồng máy kinh tế, guồng máy xã hội chứ không phải là một lực lượng đứng trên xã Hội

VƯVIỆN GỈÂG VỈEN

Trang 19

Nhìn tổng quát, Nhà nước XHCN phải làm tròn hai chức năng: Trấn

áp kẻ thù và xây dựng xã hội mới; trong đó, quan trọng nhất là tổ chức, quản lỷ nền kinh tế Theo Lênin, Sau khi giành được chính quyền và đập tan

sự phản kháng của giai cấp bóc lột, " nhiệm vụ quản lý nhà nước trước hết

và trên hết đuợc quy lại thành nhiêm vụ thuần túy kinh tế nói tóm lại, nhiệm vụ đó được quy thành nhiệm vụ tổ chức lại nền kinh tế" [21, tr 163] Trong điều kiện của Lào, quản lý nhà nước còn bảo đảm sự đinh hướng XHCN là yêu cầu khách quan bảo đảm cho toàn bộ các hoạt động kinh tế đạt được các mục tiêu đã định, tăng trưởng kinh tế có hiệu quả

ở Việt Nam, theo quan điểm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế tương ứng với việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, nhờ đó, một mặt phát huy được sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, mặt khác lại phát huy được vai trò điều tiết vĩ mô tập trung của Nhà nước theo định hướng XHCN Điểu 17 Hiến pháp 1992 ghi: "Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy đinh là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân" Điều 23 Hiến pháp cũng ghi:

"Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa " Thực tế vừa qua bước đầu cho thấy việc đa dạng hóa các hình thức về tư liệu sản xuất là hợp lý, nhưng các hình thức sở hữu toàn dân phải từng bước chiếm địa vị là nền tảng và phát huy vai trò chủ đạo của nó trong cơ chế thị trường, chấp nhận canh tranh, chấp nhận mở cửa

Nhà nước CHDCND Lào là Nhà nước kiểu mới - khác với Nhà nước của giai cấp bóc lột Điều 2 Hiến pháp 1991 ghi: "Nhà nước của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là Nhà nước của nhân dân Mọi quyền lực thuộc về

Trang 20

nhân dân, do nhân dân và vì quyền lợi của nhân dân các bộ tộc, bao gồm các tầng lớp trong xã hội do công nhân, nông dân và trí thức làm nòng cốt" Như vậy nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, nhân dân là nguồn gốc của quyền lực Ông Xa Mản Vi Nha Kệt nói "Nhà nước chúng ta là Nhà nước của dân bởi vì nhân dân là người thành lập ra" [59] Đó là một tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Thực hiện quyền lực nhà nước và quyền làm chủ xã hội của nhân dân không những không thủ tiêu mà còn khẳng đinh sự tồn tại, tôn trọng và bảo vệ địa vị làm chủ của từng cá nhân Những nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước và quyền làm chủ xã hội không phải với

tư cách từng cá nhân riêng rẽ, mà thống nhất, gắn liền và hòa hợp với quyền lợi cộng đồng

Nhà nước CHDCND Lào bảo vệ quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) và quyền thừa kế tài sản của các tổ chức

và cá nhân Riêng đối với đất thuộc sở hữu quốc gia, Nhà nước bảo đảm quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng và quyền thừa kế theo pháp luật (Điều 15 Hiến pháp 1991) Để khắc phục tình trạng vô chủ đối với tài sản trên, Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho cá nhân và tập thể lao động theo chính sách và pháp luật đối với tài sản không thể giao quyền sử dụng được thì Nhà nước quản lý bằng pháp luật Mặt khác, Nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu đối với nguồn vốn ngân sách, dự trữ quốc gia, các công trình và xí nghiệp của Nhà nước

ở CHDCND Lào, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là đường lối chiến lược của Đảng là nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước và của nhân dân các bộ tộc Lào Nhà nước quản lý kinh tế, bảo đảm sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế cao gắn liền với tiến bộ xã

Trang 21

hội Hiến pháp 1991 của nước CHDCND Lào xác định: "Chế độ kinh tế ở Cộng hòa dân chủ nhàn dân Lào là kinh tế nhiều thành phần, có mục tiêu phát triển sản xuất và mở rộng lưu thông, chuyển kinh tế tự nhiên sang kinh

tế hàng hóa, làm cho kinh tế quốc dân ngày càng phát triển và không ngừng nàng cao đời sống về vật chất và tinh thần của nhân dân các bộ tộc" (Điều 13 Hiến pháp 1991 của Lào) Điểm xuất phát thấp và trình độ yếu kém của nền kinh tế đang đòi hỏi phải giải quyết một loạt các vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật, tổ chức và thực tiễn

Tất cả các vấn đề ấy xét cho cùng, đều liên quan tới vai trò quản lý của Nhà nước Trong công cuộc đổi mới và xây dựng kinh tế cũng như trong toàn bộ sự nghiệp phát triển đất nước lâu dài "Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý tập trung thống nhất của các ngành ở trung ương với việc phân cấp trách nhiệm quản lý ở địa phương cho phù hợp" (Điều lố Hiến pháp 1991 của Lào) Nhà nước phải được đặt đúng vị trí, phát huy hiệu quả quản lý quốc gia và quản lý kinh tế Trong điều kiện hiện nay, vai trò quản lý của Nhà nước khổng những không giảm

đi như một số người lầm tưởng Mà ngược lại, càng có ý nghĩa rất quan trọng tạo lập các cân đối vĩ mô, điều tiết thị trường, ngăn ngừa và xử lý các sai phạm, tạo điều kiện và môi trường cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, Nhà nước quản lý nền kinh tế, quản lý các doanh nghiệp ở tầm vĩ mô, thông qua đó, tác động vào thị trường tham gia vào cơ chế thị trường Nhà nước quản lý và sử dụng các tài sản quốc gia nhằm sử dụng hợp lý và phát triển các nguồn tài sản đó Nhà nước hướng dẫn và khuyến khích các doanh nghiệp quốc doanh, các doanh nghiệp tư nhân và công ty lựa chọn các mặt hàng, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, quy mô, khối lượng công nghệ và các hình thức kinh tế thích hợp nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong môi trường hợp tác và canh tranh

Trang 22

Để thực hiện nhiệm vụ đó vai trò của Nhà nước CHDCND Lào trong cơ chế thị trường được thể hiện trong một số nội dung sau:

Thứ nhất, Nhà nước phải phát huy mặt tích cực của nền kinh tế thị

trường để phát triển kinh tế, phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động Nhà nước lợi dụng cơ chế canh tranh của thị trường và tự do hóa sản xuất kinh doanh để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, khơi dậy các tiềm năng của mọi cá nhân, tập thể lao động và cả toàn xã hội theo hướng hiện đại phù hợp với xu thế chung của thời đại Muốn vậy, Nhà nước cần hạn chế tối đa những mệnh lệnh hành chính để cho các hoạt động thị trường được diễn ra chủ yếu trên sự hướng dẫn của các quy luật của kinh tế thị trường [25, tr ố] Nhà nước xây dựng thị trường thống nhất trọng cả nước,

có tính đến đặc thù và trình độ phát triển không đồng đều của các vùng, từng bước tích cực xây dựng hê thống thị trường đồng bộ (thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường sức lao động-.)- Trong quá trình xây dựng thị trường cần tuân thủ nguyên tắc là tất cả những gì để cho thị trường điều tiết là tốt thì để cho thị trường tự điều tiết, Nhà nước chỉ can thiộp khi hoạt động vĩ mô ảnh hưởng đến toàn cục, khi thị trường có những biểu hiện tiêu cực cần ngăn chặn

Thứ hai, Nhà nước ở tầm vĩ mô trên cơ sở nắm vững thị trường để

điều tiết kinh tế để hạn chế mặt trái kinh tế thị trường: kinh tế thị trường luôn thể hiện tính hai mặt: một mặt là động lực của sự phát triển, mặt khác

là khuyết tật như khủng hoảng kinh tế, lãng phí tài nguyên, phân hóa giàu nghèo, đầu cơ, buôn lậu, v.v Tính chất hai mặt của kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hướng và điều tiết nền kinh

tế thị trường, xây dựng pháp luật nhằm ổn đinh và tăng trưởng kinh tế [61]

ở CHDCND Lào, Nhà nước xây dựng các chính sách công cụ kinh tế vĩ mô

để điều tiết tổng thể nền kinh tế Mục tiêu của chính sách công cụ kinh' tế vĩ

mô là hướng sức manh của thị trường đi đúng hướng, dựa vào luật pháp để

Trang 23

tạo ra môi trường và hành lang năng động có trật tự cho các chủ thể kinh doanh, làm lành manh các quan hệ thị trường Các chính sách công cụ kinh

tế vĩ mô tác động vào kinh tế thị trường rất đa dạng, trong đó có những chính sách công cụ lớn như luật pháp, chính sách tài chính, chính sách đầu tư, Thông qua chính sách công cụ kinh tế vĩ mô, Nhà nước giảm đến mức thấp nhất mặt tiêu cực và hậu quả kinh tế - xã hội do canh tranh gây ra nhằm đảm bảo phúc lợi công cộng cũng như công bằng xã hội

Thứ ba, phân đinh rành mạch chức năng quản lý hành chính - kinh

tế của Nhà nước với quản lý kinh doanh của các đơn vị cơ sở Kế hoạch Nhà nước không sa lầy vào những chi tiết gây ra cản trở cho sự tự chủ năng động, sáng tạo của các cơ sở sản xuất kinh doanh, đảm bảo được sự linh hoạt, sự phản ứng kịp thời trong sự sôi động của thị trường và cạnh tranh Nhà nước với tư cách là thiết chế chính trị, là người đại diện cho lợi ích của toàn xã hội phải tập trung chủ yếu vào việc đinh hướng điều hòa và phối hợp các lợi ích trong nền kinh tế cho phù hợp với các mục tiêu chung của toàn xã hội

Thứ tư, Nhà nước phải xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung và đồng bộ

hóa hệ thống pháp luật kinh tế phù hợp với việc dân chủ hóa nền kinh tế theo cơ chế thị trường Nếu không có sự kiểm soát bằng pháp luật thì canh tranh và tự do hành nghề của kinh tế thị trường sẽ tác động tiêu cực với xã hội, vì thế kinh tế thị trường phải gắn liền với Nhà nước và Nhà nước sẽ quản lý chủ yếu bằng pháp luật Hệ thống pháp luật nhà nước phải chống độc quyền, thực hiện được sự bình đẳng, đảm bảo cho mọi công dân mọi doanh nghiệp "được phép làm gì mà pháp luật không cám"

Thứ năm, Nhà nước phải xây dựng một đội ngũ cán bộ quản lý kinh

tế có đủ phẩm chất, kiến thức và năng lực thích ứng với cơ chế thị trường, trong điều kiện kinh tế thị trường, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế là nhân tố hết sức quan trọng để phát triển kinh tế thị trường Đội ngũ cán bộ quản lý

Trang 24

kinh tế của Nhà nước phải được trang bị kiến thức, phương pháp, kỹ thuật

và trau dồi phong cách, bản lĩnh trong công việc hàng ngày; có hiểu biết về

kinh tế, quản lý kinh tế, về pháp luật, và nắm vững đường lối chính sách của

Đảng và Nhà nước cũng như có phương pháp tư duy sáng tạo, có tinh thần

dám chịu trách nhiệm Đội ngũ này phải được đào tạo và đào tạo lại hết sức

công phu để r ó thành đội ngũ chuyên nghiệp, có học thức, có đạo đức công

dân gương mẫu, thành thạo trong công việc và tuân thủ nghiêm ngặt của

chính sách, pháp luật của Nhà nước

Vì vậy, quản lý nhà nước về kinh tế là Nhà nước quản lý toàn bộ

nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực nhà nước, thông qua pháp luật, công

cụ, chính sách, lực lượng vật chất, tài chính trên tất cả các lĩnh vực bao gồm

tất cả các thành phần kinh tế

1.1.2 Kinh tế thị trường và những đòi hỏi của nó đối với sự quản lý của Nhà nước

1.1.2.1 Kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường,

trong đó những vấh đề: sản xuất cái gì, sản xuất để làm gì, sản xuất như thế

nào, sản xuất cho ai được giải quyết thông qua thị trường Trong nền kinh tế

thị trường, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu

thị qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường [44, tì- 108] Thái độ cư

xử của thành viên tham gia thị trường là hướng vào tìm kiếm lợi ích của

chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường hay "bàn tay vô hình"

Kinh tế thị trường xuất phát như là một yếu tố khách quan không thể thiếu

được của nền kinh tế hàng hóa là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng

hóa Song không nên hiểu kinh tế thị trường đồng nhất với kinh tế hàng hóa

Xét về mặt lịch sử, kinh tế hàng hóa có trước kinh tế thị trường

Kinh tế hàng hóa ra đời thì thị trường cũng xuất hiện, nhưng không có

Trang 25

nghĩa đó là nền kinh tế thị trường Chỉ đến khi thị trường được mở rộng, phong phú, hoàn thiện, đồng bộ cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế hàng hóa và thị trường được coi như là một đặc trưng nổi bật của nền kinh

tế hàng hóa phát triển thì nền kinh tế thị trường mới ra đời

Kinh tế thị trường là sự hòa nhập của kinh tế hàng hóa với thị trường

để đạt tới sự quyết định và chi phối của thị trường trong sản xuất lưu thông Kinh tế thị trường là giai đoạn cao của lcinh tế hàng hóa, có nghĩa là các loại thị trường trở thành điều kiện chi phối mãnh liệt đối với kinh tế hàng hóa Sản xuất hàng hóa được quyết định bởi thị trường thông qua thị trường

và bằng sự tăng trưởng, mở rộng các loại hình thị trường

Kinh tế thị trường là sự hoạt động và phát triển khách quan của quan

hệ hàng tiền và các quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật canh tranh trong đó quy luật giá trị là đặc trưng nhất Kinh tế thị trường không hoàn toàn đối lập với kinh tế kế hoạch; lấy thị trường làm căn cử quan trọng, kế hoạch có vai trò hướng dẫn nhất định Trong kinh tế thị trường, quan hệ - cung - cầu phản ánh khách quan mối quan hệ giữa hai chủ thể mua và bán Trạng thái cân bằng cung cầu luôn biến đổi, tác động phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhân tố: giá cả, quy mô, điều kiộn sản xuất, khả nâng thanh toán của người mua Đồng thời, còn có quá trình điều tiết để tạo ra sự cân bằng giữa các nhân tố đó Giá cả là tm hiệu khách quan chỉ bảo cho người sản xuất biết xử lý khôn khéo về ba vấn đề cốt tử nhất: sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Sản xuất cho ai? Vì vậy, nắm được quy luật cung cầu là một trong những bí quyết thành công của hoạt động kinh doanh trong kinh tế thị trường Kinh tế thị trường tạo điều kiện phát huy mọi khả năng, nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân, thúc đẩy tính chủ động sáng tạo, nhanh nhạy nắm bắt thị trường, thường xuvên cải tiến phương pháp tổ chức quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, làm cho nền kinh tế năng động có hiệu quả

Trang 26

Bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường thường xuyên tạo ra mặt cân đối bất hợp lý tầm vĩ mô Canh tranh sinh ra độc quyền, buôn gian, bán lậu, lừa đảo, đầu cơ, làm hàng giả, phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, lạm phát, vi phạm đạo đức, lối sống, ô nhiễm môi trường, phá hoại thiên nhiên

Vì vậy, Nhà nước với tư cách là người điều hành, quản lý xã hội, Nhà nước dùng pháp luật để điều hành, dùng các chính sách kinh tế và các công cụ khác để tác động, vạch ra kế hoạch để phát triển, hạn chế những tiêu cực do nền kinh tế gây ra

1.1.2.2 Cơ ch ế thị trường

Cơ chế thị trường là tác động của hệ thống các quy luật của sản xuất

và lưu thông hàng hóa trong đó có vai trò điều tiết khách quan của quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật canh tranh [44, tr 109] Thông qua các mối liên hộ kinh tế, liên hộ tài sản tất yếu trong xã hội Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố quan hệ, môi trường, động lực và quy luật vận hành của thị trường Trong cơ chế thị trường các quan hệ tiền tệ, các quan hệ trong sản xuất và tiêu dùng, trong kinh doanh và dịch vụ suy cho cùng đều

là quan hệ giá trị thể hiện sự cân bằng cung cầu Cơ chế thị trường đóng vai trò to lớn trong việc điều chỉnh sản xuất, gắn sản xuất kinh doanh với tiêu dùng, liên kết kinh tế thị trường thành một thể thống nhất

Kinh tế thị trường và cơ chế thị trường gắn liền với sự phát triển của mọi quốc gia trên con đường tiến bộ lịch sử Cơ chế thị trường tác động manh mẽ đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội mà trước hết là của lực lượng sản xuất Thực tiễn sôi động ở Lào gần đây đã chứng minh điều đó

Cơ chế thị trường đã bước đầu động viên được tiềm năng và làm trỗi dậy các nhân tố của thị trường Cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích cực trong hầu hết các hoạt động kinh tế thúc đẩy sản xuất, giao lưu hàng hóa giữa các vùng trong nước và từng bước mở ra với thị trường khu vực, thế

Trang 27

giới Các thị trường vốn, tiền tệ, thị trường sức lao động đang hình thành

Cơ chế thị trường có những đặc trưng sau đây:

- Các vấn đề liên quan đến việc phân bổ, sử dụng nguồn lao động vốn, tài nguyên thiên nhiên, về cơ bản được quyết định một cách khách quan thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật cung cầu

- Tất cả các mối quan hộ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế được tiền

tệ hóa

- Động lực thúc đẩy sân xuất phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

và lợi ích kinh tế được biểu hiện tập trung ở mức lợi nhuận.

- Tự do lựa chọn phương án sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng từ phía các nhà sản xuất và những người tiêu dừng thông qua các mối quan hệ kinh tế

- Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế, đặc biệt là sự linh hoat của hê thống giá cả, nền kinh tế thị trường luôn duy trì được thế cân bằng giữa mức cung và mức cầu của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ,

ít khi gây ra sự khan hiếm và thiếu thốn hàng hóa

- Canh tranh là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả của sản xuất

- Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, mối quan hộ giữa mục tiêu tăng tự do cá nhân và mục tiêu công bằng xã hội, giữa đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cũng có phát triển tương ứng

- Cơ chế thị trường đặt người tiêu dùng vào vị trí hàng đầu nhờ sự phát triển của sức sản xuất mới và các nhu cầu mới, cơ chế thị trường có xu hướng thỏa mãn nhu cầu không ngừng biến đổi của các nhóm dân cư sao cho phù hợp với lối sống văn hóa của họ, thay cho nguyên tắc sản xuất và cung ứng hàng loạt, bất chấp nhu cầu

Trang 28

- Nhà doanh nghiệp là nhân vật trung tâm trong hoạt động thi trường, là nhàn tố sống động của cơ chế thị trường Nhà doanh nghiệp

không đứng ngoài cơ chế thị trường, không có nhà doanh nghiệp thì không

có cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường và tác động của giá cả thị trường được phát triển

ra khá sớm, trong không gian rộng lớn của thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do

canh tranh Lúc đó giá cả thị trường đã được coi là "bàn tay vô hình" điều

khiển thị trường, điều khiển quan hệ cung cầu Thực tiễn lịch sử kinh tế thế

giới và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản quốc tế cho thấy nền kinh tế vận

hành theo cơ chế thị trường có một số ưu điểm sau đây:

Thứ nhất, cơ chế thị trường là cơ chế đánh giá khách quan đối với

các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc đánh giá đối với các sản

phẩm hàng hóa Vì vậy, đó là cơ chế khách quan để sàng lọc tự nhiên đối

với hàng hóa, nàng cao chất lượng và giá trị sử dụng của hàng hóa

Thứ hai, chấp nhận và thúc đẩy canh tranh kinh tế, kích thích việc

sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao chất

lượng và hiệu quả kinh tế

Thứ ba, cơ chế thị trường bảo đảm tính độc lập của các chủ thể trong

sản xuất kinh doanh, bảo đảm tính tự chủ và năng động sáng tạo đồng thời

bảo đảm đề cao trách nhiộm trong kinh doanh, giải phóng các nguồn năng

lực sản xuất, khai thác các tiềm năng phát triển trong sản xuất kinh doanh

Thứ tư, cơ chế thị trường có khả năng tự động điều tiết nền tảng xã

hội, tức là tự động phân bố các nguồn tài nguyên sản xuất vào các khu vực,

các ngành kinh tế mà không cần bất kỳ sự điều khiển từ trung tâm nào

Thứ năm, cơ chế thị trường tự động kích thích sự phát triển sản xuất,

tăng trưởng kinh tế cả theo chiều rộng và chiều sâu, tăng cường chuyên

môn hóa sản xuất

Trang 29

Với những ưu điểm trên đây cơ chế thị trường chứa đựng rất nhiều khả năng cho tăng trưởng và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế cũng chứng minh rằng nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường cũng có một

số hạn chế sau đây:

- Trong nền kinh tế hàng hóa, vận động theo cơ chế thị trường, mỗi chủ thể kinh doanh, mỗi ngành, mỗi địa phương đều có lợi ích riêng của mình và đều tìm mọi biện pháp để tối ưu hóa lợi ích đó Nhưng khi thực hiện các hoạt động nhằm tối ưu hóa lợi ích của mình, mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành, mỗi vùng có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy sự vi phạm đến lợi ích của người khác, của cơ sở, vùng, ngành khác Do đó, tất yếu nảy sinh hiện tượng: lợi ích của cá nhân hay của bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân, bộ phận khác trong xã hội, xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểu hiện về mặt xã hội của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo, cản trở hoặc triệt tiêu lẫn nhau, các quan hệ tỉ lệ kinh tế quốc dân bị phá vỡ sự phá vỡ các nguồn lực không hợp lý, cơ cấu kinh tế bị đảo lộn, nảy sinh các vấn đề xã hội: lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng, ô nhiễm môi trường, v.v

- Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, các hoạt động

sản xuất kinh doanh, các hành vi giao dịch đều tiến hành thông qua thị trường và tuân theo các quy luật của thị trường Song đối với các hoạt động tạo ra những hàng hóa và dịch vụ, tuy đem lại lợi ích cho nhiều người nhưng những chi phí bỏ ra lại không được thanh toán và bồi hoàn đầy đủ về mặt giá trị tiền tệ Hoặc những hoạt động trong sản xuất và tiêu dùng gây những ảnh hưởng hướng ngoại tiêu cực cho thị trường không được tính toán khi lựa chọn các quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của cá nhân hay của đơn vị kinh tế, gây ra một khoản tổn phí lớn cho xã hội và không tối ưu hóa được lợi ích, xét trên phạm vi toàn xã hội thì tư nhân không thể cung cấp được Điều này là hiển nhiền vì tư nhân không chi phối được giá cả và thu

Trang 30

hồi được chi phí đã bỏ ra và xã hội cũng không chấp nhận những hoạt động

sản xuất và tiêu dùng chỉ nhầm tối ưu hóa những lợi ích ích kỷ của cá nhân,

nhưng lại gây ra những ảnh hưởng hướng ngoại xấu làm thiệt hại đến lợi ích

người khác và lợi ích toàn cộng đồng

- Nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường không thể tách rời môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại Nếu môi trường không ổn đinh,

thường xuyên có đụng độ và xung đột giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội

Các quan hộ giao dịch mua bán trên thị trường không lành manh mang tính

chất lừa đảo, bạo lực, thì kinh tế sẽ không thể phát triển, cơ chế thị trường -

cơ chế điều chỉnh hành vi của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng theo

các quy luật của thị trường sẽ dẫn tới các sai lệch, nhược điểm và khuyết tật

của cơ chế thị trường, sẽ khó có thể khắc phục và sẽ đẩy môi trường chính

trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại vào tình trạng rối loạn và khủng hoảng

Tóm lại, việc khai thác ưu điểm, hạn chế những khuyết tật của cơ

chế thị trường để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ chế này hoạt động có hiệu

quả không thể thiếu vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ thể của toàn bộ

nền kinh tế quốc dân "Để thực hiện cơ chế thị trường trước hết phải đảm

bảo sự quản lý của Nhà nước để khuyến khích mặt tích cực và hạn chế mật

tiêu cực của nó, đảm bảo sự phát triển kinh tế đi đôi với việc phát triển kinh

tế - xã hội " [61] Như vậy, Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế là đòi hỏi

khách quan, là nhu cầu nội tại của nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ

chế thị trường Tuy nhiên, việc điều tiết, khống chế và định hướng các hoạt

động kinh tế của các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo phương hướng

và mục tiêu nào, điều đó phụ thuộc vào bản chất của các hình thức nhà nước

và con đường phát triển mà nước đó đã lựa chọn

1.1.2.3 Những đòi hỏi của kinh tế thị trường đối với sự quản lý của Nhà nước

Quản lv là một tất yếu khách quan trong sự phát triển của xã hội

Xu hướng chung của nền kinh tế quốc tế hiện đại là vai trò quản lý kinh tế

Trang 31

của Nhà nước không ngừng tăng lên Dù là kiểu Nhà nước nào thì cũng đều phải giải quyết các nhiêm vụ đặt ra đối với nền kinh tế của một quốc gia, như: Cần phải sản xuất những hàng hóa gì và với số lượng bao nhiêu? Những mật hàng và dịch vụ gì có thể thay thế nhau? Bao giờ sản xuất? Hàng hóa cần được sản xuất như thế nào? Nghĩa là do ai tiến hành với những nguyên liệu khai thác từ tài nguyên sẵn có nào? Với hình thức công nghệ nào? Hàng hóa sẽ được sản xuất nhằm mục đích gì? Ai sẽ được hưởng lợi và được thu lời lãi?

Những vấn đề trên luôn có quan hệ hữu cơ tương tác lẫn nhau trong mọi thời kỳ của lịch sử

Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường lại nảy sinh rất nhiều vấn đề buộc Nhà nước phải can thiệp mới có thể tháo gỡ được các trục trặc mà không doanh nghiệp hoặc tổ chức phi chính phủ nào có thể đảm trách được, đó là:

Thứ nhất, cơ chế thị trường có những ưu điểm lớn và là phương thức

tối ưu để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế hiộn nay Tuy nhiên, nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường không phải là tuyệt đối hoàn hảo, hoàn toàn tốt đẹp Một đòi hỏi khách quan là phải có vai trò của Nhà nước và pháp luật để hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trường Trong thực tế hiện nay có không ít quan điểm tuyệt đối hóa, lý tưởng hóa vai trò của cơ chế thị trường Thực chất, đó cũng là duy ý chí Từ chỗ ca ngợi tuyệt đối chủ nghĩa

xã hội chuyển sang sùng bái cơ chế thị trường mà không thấy được những khuyết tật, hạn chế của kinh tế thị trường Đến nay, nhiều công trình nghiên cứu kinh tế (kể cả một số lý luận gia tư sản) cũng đã nêu ra những khuyết tật đó Những khuyết tật này phát sinh trong hai khía canh chủ yếu: Một mặt, có những vấn đề đặt ra trong bản thân cơ chế thị trường không thể giải quyết được Mặt khác, sự hoạt động của kinh tế theo cơ chẻ thị trường gây những hậu quả và diễn biến tiêu cực về kinh tế - xã hội: Khu vết tật đó có thể được thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:

Trang 32

- Thông tin là một hoạt động cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế, bởi thông tin là căn cứ quan trọng để người sản xuất và cả người tiêu dùng đưa ra các quyết định Nhưng trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh

tế không có khả năng nhận được thông tin đầy đủ, dẫn đến toàn bộ nền kinh

tế sẽ hoạt động kém hiệu quả Vì thế, chỉ có thông qua sự quản lý của Nhà nước mới có thể xử lý được những thông tin phức tạp, quy định chế độ công khai thông tin để bảo vệ cho cả nhà kinh doanh và cho cả người tiêu dùng

- Khu vực tư nhân có tâm lý chung là không đầu tư vào những lĩnh vực công ích hoặc những lĩnh vực cần vốn lớn, chậm thu hồi hoặc tỷ suất lợi nhuận thấp, mặc dù đó là hàng hóa thiết yếu cho nền kinh tế Điều đó buộc Nhà nước phải tính toán, xác đinh loại hàng chủ yếu nào cần phải đầu tư sản xuất, sản xuất bao nhiêu để thỏa mãn nhu cầu của nền kinh tế

- Những tác động của nền sản xuất xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực, như gây ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên Điều đó buộc Nhà nước phải kiổm soát và có biện pháp hạn chế hoặc ngăn chận, thậm chí phải đình chỉ sản xuất kinh doanh nếu xét thấy không có hiệu quả cho xã hội

Thứ hai, nền kinh tế thị trường sẽ trở thành kém hiệu quả khi xuất

hiện tình trạng độc quyền Độc quyền là đặc điểm và hình thức nổi bật trong sự vận động của kinh tế thị trường Khả năng độc quyền là khả nãng kìm giữ hoặc thay đổi giá cả thị trường của một hàng hóa hoặc dịch vụ nào

đó Trong cơ chế thị trường, nhà độc quyền là người có thể quy định bằng ý chí về lượng sản phẩm sản xuất ra hoặc ổn định về giá cả sản phẩm, thực tế

là làm cho tín hiệu giá cả khách quan bị bóp méo đi Trong một số trường hợp, việc quy định giá cả độc quyền có thể kích thích cải tiến công nghệ và

cơ cấu sản phẩm; song nhìn chung, độc quyền thường đi cùng với lãng phí tài nguyên và sức lao động, bảo thủ không chịu đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất Việc một hoặc một số người sản xuất kinh doanh đạt được sự độc quyền quy định giá cả sẽ dẫn tới việc hạn chế sức sáng tạo và nãng

Trang 33

động của thị trường và cản trở nền kinh tế phát triển Vì vậy, Nhà nước phải

có luật lệ phù hợp để hạn chế tác động kìm hãm của độc quyền Nhiều nước trên thế giới hiện nay đã ban hành và thực hiện các đạo luật chống độc quyền và thực hiện các chính sách điều chỉnh

Thứ ba, một hộ quả tất yếu và điển hình của cơ chế thị trường là sự

phân hóa giàu, nghèo và dẫn đến những hậu quả xã hội khác Điều đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước và vai trò của pháp luật để bảo đảm

sự công bằng và tính nhân đạo xã hội Trong thị trường có những người thu nhập cao nhận phần lớn hơn trong tổng sản phẩm xã hội, có những người thu nhập thấp, đồng thời còn có những người già mất sức lao động, người tàn tật, người thất nghiệp Trong cơ chế thị trường, những người này không

đủ khả năng để có được những hàng hóa thiết yếu Trong khi đó, họ cũng cần được nhận những hàng hóa và dịch vụ để duy trì cuộc sống của mình Bản thân cơ chế thị trường không giải quyết được viộc này Nhà nước cần phải can thiệp vào sự phân phối thu nhập xã hội bằng pháp luật về thuế, giá

cả, thực hiện các chương trình bảo trợ, chuyển khoản, trợ cấp

Thứ tư; trong nền kinh tế thị trường, mức độ rủi ro trong hoạt động kinh

tế là rất lớn "Bàn tay vô hình" của kinh tế thị trường đã đem lại những may rủi trong sản xuất kinh doanh, nhiều khi không tính đến tiềm lực kinh tế và năng lực hoạt động trên thương trường Dựa vào tín hiệu tự nhiên của giá cả, một

số người trở nên giàu có nhanh chóng vì đã dự đoán đúng thời cơ và xác định đúng loại hàng hóa, dịch vụ cần phát triển Nhưng cũng không ít người vì dự đoán không đúng và không gặp thời cơ nên bị thua lỗ và phá sản Tình hình

đó đòi hỏi Nhà nước phải tạo hành lang pháp lý đúng đắn để giúp các doanh nghiệp hạn chế thấp nhất rủi ro, tăng cường khả nâng ổn định kinh tế

Quan hệ giữa Nhà nước, pháp luật với kinh tế thị trường thể hiện quan hệ giữa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô Có ý kiến nghiên cứu đồng nhất kinh tế vĩ mô với kinh tế thị trường vì đối tượng nghiên cứu là những vấn đề

Trang 34

tiêu dùng cá nhàn, quan hộ cung cầu, chi phí sản xuất, giá cả thị trường, lợi

nhuận, canh tranh, các hãng và các doanh nghiệp từng cá thể [43, tr 32-33]

Kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô là hai bộ phận không thể chia cắt, tách rời

mà bổ sung cho nhau, trong đó kinh tế vĩ mô là hành lang, là môi trường, là

các điều kiện phát triển của kinh tế vi mô Nhà nước quan tâm đến mô hình

đinh hướng chiến lược và các mục tiêu kinh tế quốc gia, như: Tổng sản phẩm,

thu nhập quốc dân, việc làm, lương, thất nghiệp, lạm phát, đầu tư, môi

trường những quan tâm đó là đòi hỏi khách quan của chính cơ chế thị trường

I.I.2.4 Đổi mới cơ chế quản lý kỉnh tế của Nhà nước Cộng CHDCND Lào

Cơ chế quản lý kinh tế là một hệ thống những nguyên tắc, hình thức

phương pháp quản lý trong những giai đoạn phát triển khác nhau của nền

sản xuất xã hội

ở CHDCND Lào trước đây trong một thời gian dài kinh tế hàng hóa

và cơ chế thị trường không được coi trọng đúng mức Cơ chế tập trung quan

liêu bao cấp của nền kinh tế chỉ huy phần nào cũng có ưu điểm giải quyết

được một số lợi ích công cộng và nhu cầu xã hội, tập trung được nguồn lực

để giải quyết một số nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh, có hạn

chế ở mức độ nào đó về sự phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội, v.v

Nhưng cơ chế đó bộc lộ rất nhiều nhược điểm và yếu kém:

- Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài nhiều năm đã hạn chế

việc sử dụng và phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, kìm hãm sản

xuất và lưu thông hàng hóa, không tạo ra động lực phát triển kinh tế, nảy

sinh nhiều hiện tượng xã hội phức tạp và tiêu cực

- Chế độ trách nhiệm không rõ ràng Sự can thiệp và quản lý trực

tiếp của Nhà nước vào những hoạt động cụ thể của doanh nghiệp làm cho

các doanh nghiệp vừa không phát huy được quyền tự chủ về kinh tế vừa

không bị ràng buộc về trách nhiệm pháp lý trước kết quả sản xuất kinh

Trang 35

doanh Các cơ quan quản lý can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về kinh tế và pháp lý trước quyết định quản lý.

- Hình thức quản lý là "cấp phát - giao nộp" Đó là một nền "kinh tế hiện vật" (cấp phát hiện vật, giao nộp hiện vật, lương hiện vật), còn hạch toán kinh tế chỉ là hình thức Tình trạng "lãi giả, lỗ thật" là hậu quả nghiêm trọng của kiểu hạch toán này

- Phương pháp quản lý chủ yếu dựa vào mệnh lệnh hành chính, không xuất phát từ những yêu cầu khách quan của quan hệ cung - cầu, lợi nhuận, giá cả, trách nhiệm vật chất,

Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước Lào đã tiến hành công cuộc đổi mới trong mọi lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Nội dung cơ bản của đường lối cải tạo và phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ Lào được thể hiện ở chính sách đổi mới cơ cấu kinh tế Nội dung cơ bản của chính sách kinh tế là đổi mới cơ cấu kinh tế nhằm cải biến nền kinh tế tự nhiên tự túc tự cấp thành kinh tế hàng hóa, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản

lỷ của Nhà nước [34] Chính sách kinh tế của Lào sử dụng thực sự và lâu dài cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, mở rộng liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế với nhau Sự thay đổi này đã tạo ra khả năng phát triển kinh tế hàng hóa, tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quản lý kinh tế Nền kinh tế thị trường ở Lào qua mấy năm đổi mới có các đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được hình thành

trong cơ chế bao cấp, rất xa lạ với kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân, cá thể

bị lãng quên trong một thời gian dài đến nay mới đang được phục hồi lại

Cơ chế thị trường chỉ mới hình thành ở Lào trong vài ba năm nay Các

thành phần kinh tế mới bắt đầu làm quen và chịu sự tác động manh mẽ của các yếu tố tích cực lẫn tiêu cực của cơ chế thị trường, trong điều kiện đổi

Trang 36

mới vai trò quản lý của Nhà nước Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế cũ sang cơ chế mới, Đảng và Chính phủ Lào đã có nhiều chính sách nhằm sắp xếp lại kinh tế quốc doanh và khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển Song không phải có thể gạt bỏ được ngay những đinh kiến hẹp hòi và tính bảo thủ trong việc quản lý kinh tế quốc doanh cũng như sự đối

xử bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Đây là nguyên nhân kùn hãm tiến trình đổi mới khu vực lcinh tế quốc doanh và chưa tạo được lòng tin đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, khuyên khích họ bỏ vốn đầu

tư vào sản xuất kinh doanh Đặc điểm này chỉ rõ việc sắp xếp lại kinh tế quốc doanh cũng như việc khôi phục, khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đòi hỏi phải chống khuynh hướng nôn nóng, cực đoan (muốn xóa bỏ kinh tế quốc doanh) Mặt khác, phải chống khuynh hướng định kiến hẹp hòi, dẫn đến bảo thủ trì trệ trong việc sắp xếp lại kinh

tế quốc doanh và mở rộng các thành, phần kinh tế ngoài quốc doanh, làm cho các thành phần kinh tế này vươn lên đủ sức đảm nhiệm cung cấp một phần lớn sản phẩm cho xã hội

Thứ hai, CHDCND Lào phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành

phần trong điều kiện nền kinh tế chậm phát triển, sản xuất còn mang nặng tính chất tự cung tự cấp Điều này được thể hiện trên các mặt sau:

+ Cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn, nguyên liệu, vật liệu, năng lượng, máy móc, phụ tùng không đáp ứng được yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất của các thành phần kinh tế

+ 90% lực lượng lao động làm thủ công, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm và tỷ suất hàng hóa thấp, không đủ sức canh tranh với hàng nhập ngoại và thị trường thế giới

+ Nông nghiệp trong những năm qua tuy có phát triển một bước nhưng chưa đủ sức làm cơ sở cho phát triển công nghiệp Công nghiệp cũng chưa đủ sức trang bị công cụ, máy móc, phân bón, nhất là công cụ chế biến

Trang 37

cho nông nghiệp, kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc còn lạc hậu chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Đặc điểm này chỉ rõ khả năng hạn hẹp về vốn, trình độ kỹ thuật và kết cấu hạ tầng lạc hậu dẫn đến tính kém hấp dẫn của nền kinh tế đối với việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài và các thành phần kinh tế trong nước

Thứ ba, nền kinh tế thị trường ở Lào có vai trò chủ đạo của kinh tế

quốc doanh Kinh tế quốc doanh có mục đích là đảm bảo cho sự phát triển

ổn đinh và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Để thực hiện được vai trò đó, cần phải bẫo đảm cho kinh

tế quốc doanh chiếm vị trí then chốt trong nền kinh tế, có đủ lực lượng vật chất chi phối thị trường và là tấm gương về năng suất, chất lượng, về công nghệ và công tác quản lý, về quan hệ hợp tác và canh tranh Trong điều kiộn của nền kinh tế thị trường có canh tranh, tự do, bình đẳng, để đảm bảo vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh, về mặt pháp lý phải xử lý nhiều mối quan hộ kinh tế - xã hội phức tạp Nếu không nghiên cứu kỹ để

đề ra những phương hướng giải quyết đúng đắn thì sẽ làm mất tính lành manh của nền kinh tế thị trường, nhất là của sự canh tranh thực sự, dẫn đến

sự quay trở lại cơ chế cũ: Tập trung - quan liêu - bao cấp

Thứ tư, nền kinh tế thị trường ở Lào là nền kinh tế thị trường đinh

hướng XHCN Với đặc điểm như vậy, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường không phải đơn thuần là một quá trình kinh tế mà bao giờ cũng phải gắn liền với những thay đổi lớn căn bản về mặt xã hội, thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung của hệ thống pháp luật quản lý kinh tế mới phải đảm bảo hai mặt chủ yếu: Một mặt, bảo đảm nguyên tắc mọi người được tự do kinh doanh, tự do canh tranh, bình đẳng trước pháp luật, được quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp (Điều 14, 15 Hiến pháp 1991 của Lào) Mặt khác, do canh tranh mà dẫn đến sự phân hóa

Trang 38

những người sản xuất kinh doanh, kích thích người sản xuất kinh doanh chạy theo lợi nhuận trước mất, không tính đến lợi ích toàn cục, xem nhẹ các yêu cầu xã hội, phá vỡ môi sinh và để lại những hậu quả về mặt xã hội Vì vậy, hơn lúc nào hết phải đề cao vai trò của pháp luật nhằm bảo đảm lợi ích của xã hội, bảo vệ người lao động, người tiêu dùng

Thứ năm, nền kinh tế của Lào đang trong xu thế hội nhập với nền

kinh tế thế giới "Mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện với Việt Nam, Trung Quốc, làm cho sự hợp tác đó ngày càng đi vào chiều sâu, vừa có chất lượng, vừa có hiệu quả Đồng thời cũng cũng mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và toàn thế giới nhằm tranh thủ nguồn vốn, kỹ thuật và bài học tiến bộ trong quản lý kinh doanh" [61] Kinh tế thị trường chỉ được coi là phát triển toàn diện khi nền kinh tế không còn nằm trong phạm vi hạn hẹp của mỗi quốc gia Giao lưu kinh tế quốc tế là một trong các đặc trưng của kinh tế thị trường Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, không phải nền kinh tế của Lào không có giao lưu quốc tế, nhưng các quan

hệ giao lưu đó có nội dung khác hẳn với giao lưu kinh tế hiện nay Khi Lào chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế thì nền kinh tế thế giới đã hình thành nhiều tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, mà trước đây, đối với nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung là hoàn toàn xa lạ Mặt khác, phải hội nhập kinh tế với các nước thông qua việc tham gia các điều ước quốc tế có liên quan đến kinh tế, thương mại Các sự kiện đáng chú ý nhất phải kể đến việc CHDCND Lào đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN (tháng 7/1997) Ngoài ra, Lào chuẩn bị tham gia khối mậu dịch tự do (AFTA), sẽ xúc tiến tham gia diễn đàn kinh tế Thái Bình Dương (APEC), tổ chức thương mại thế giới (WTO), từng bước tham gia các hoạt động của hộ thống toàn cầu về ưu đãi thương mại đối với các nước đang phát triển

Chính sách kinh tế quyết định cơ chế quản lý kinh tế Việc đổi mới chính sách cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế hàng hóa

Trang 39

đòi hỏi Nhà nước Lào phải có cơ chế quản lý kinh tế phù hợp Cơ chế quản

lý kinh tế đã được Đại hội IV Đảng NDCM Lào khẳng định: "Kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa" [11, tr 45] Đại hội lần thứ V và lần thứ VI tiếp tục khẳng đinh đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế do Đại hội IV đề

ra Nội dung cơ bản của cơ chế quản lý lảnh tế mới bao gồm:

- Chuyển sang sử dụng đầy đủ và đúng đắn các quan hệ hàng hóatiền tộ;

- Chuyển các đơn vị kinh tế cơ sở sang tự chủ hạch toán kinh doanh;

- Đổi mới cơ chế quản lỷ thương nghiệp, giá cả, tài chính, ngân hàng;

- Xây dụng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế

- Đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế

Việc xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp được tiến hành cùng với quá trình chuyển nền kinh tế theo hướng thị trường cho thấy đây là

nét đặc trưng cơ bản của cải cách kinh tế ở Lào.

Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới ở Lào những năm vừa qua, trong đó có đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng XHCN Nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN tiếp tục được xây dựng Đáng chú ý trong cơ chế mới là tính năng động, sáng tạo của nhân dân được khơi dậy, người lao động chủ động hơn trong việc tìm kiếm việc làm Theo cơ chế mới này, Nhà nước không can thiệp thô bạo vào hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế Nhà nước tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp theo nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm

về hoạt động của mình trước pháp luật

Trang 40

Có thể nhận xét một cách tổng quát rằng để đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, đảm bảo cho kinh tế thị trường vận động đúng hướng, đem lại hiệu quả kinh tế cao, phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, trước hết là phát huy đầy đủ vai trò và hiệu lực của kinh tế vĩ mô, coi thị trường vừa là căn cứ vừa là đối tượng của kế hoạch Kế hoạch đó thu hẹp tính mệnh lệnh, mở rộng tính hướng dẫn, điều tiết tính tự phát của thị trường,phát huy đầy đủ vai trò của các đòn bẩy kinh tế, như: giá cả, thuế, tín dụng, tiền lương Đồng thời, coi trọng công cụ pháp luật, tăng cường sự kiểm, tra, giám sát của Nhà nước, củng cố và phát triển kinh tế quốc doanh trong những ngành then chốt ở một số địa bàn trọng điểm; thực hiện tốt các chính sách xã hội, hạn chế sự phân cực giàu nghèo, phát triển các sự nghiệp phúc lợi công cộng, đảm bảo công bằng xã hội.

1.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ KINH TẾ

1.2.1 Một sô đặc điểm của pháp ỉuật trong cơ chế thị trường

Hiện nay, những vấn đề đặc trưng cơ bản của pháp luật trong cơ chế thị trường chưa được kết luận rõ ràng Chuyển từ kinh tế chỉ huy, tập trung quan liêu sang kinh tế thị trường là quá trình thay đổi căn bản tính chất và phương thức quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế, trong đó pháp luật có những đặc điểm mới khác với trước đây Vì vậy, trong cơ chế thị trường pháp luật

có những đặc điểm mới Trong cơ chế thị trường, pháp luật có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, pháp luật trong cơ chế thị trường hình thành và vận động

chịu sự quy định trực tiếp của những quy luật kinh tế khách quan Trong một thời gian dài, tư duy pháp lý kinh tế của cơ chế quan liêu bao cấp chỉ nhấn mạnh pháp luật là ý chí giai cấp, là công cụ đấu tranh giai cấp, thể hiộn lợi ích giai cấp Thực ra, việc tìm kiếm nguồn gốc pháp luật kinh tế phải chính từ trong các quan hệ kinh tế chứ không phải ở trong đầu con

Ngày đăng: 14/08/2020, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w