1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ người khác trong luật hình sự việt nam và đấu tranh phòng chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh thanh hoá

93 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 9,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thời điểm này các tội phạm cụ thể, trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác đã được quy định một cách hoàn chỉnh và tương đối cụ thể trong một văn

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư P H Á P

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Lê Thị Nga

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TổN HẠI s ứ c KHỎE NGƯỜI KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SựV IỆ T NAM

VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM NÀY

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

«íOi»«ộc LÃ 6 ỷ o

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Tinh hình nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

4 Điểm mới và'ý nghĩa của luận án

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

6 Kết cấu của luận án

1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác theo Bộ luật hình sự hiện hành

1.3 Một số tình tiết định khung tăng nặng hoặc giảm nhẹ

1.3.1 Các tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 2 Điều 109

1.3.2 Tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 3 điều 109 Bộ luật hình sự

1.3.3 Các tình tiết định khung giảm nhẹ theo khoản 4 Điều 109

1.4 Thực tiễn xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác :

1.4.1 Phân biệt tội c ố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác với m ột s ố tội phạm khác.

Trang 4

2.1.1 Xét về hành vi phạm tội

2.1.2 Xét vể nhân thân người phạm tội

2.2 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác ở tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua

2.2.1 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác ở tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua

2.2.2 Những nguyên nhân về kinh tế - xã hội

2.2.3 Những nguyên nhân về văn hóa, giáo dục

2.2.4 Những nguyên nhân về pháp luật cũng như từ cơ quan pháp luật

2.3 Dự báo tình hình phát triển tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

2.4 Một số giải pháp đấu tranh phòng chống tội cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở Thanh Hóa

Trang 5

2.4.1 Các biện pháp về kinh tế - xã hội

2.4.2 Các biện pháp về giáo dục, văn hóa, tư tưởng

2.4.3 Các biện pháp tăng cường hiệu quả của cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xử lý tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

2.4.4 Các biện pháp tăng cường hiệu quả của cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xử lý tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

2.4.5 Các biện pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật

K ết lu ậ n

D a n h m ụ c t à i liệ u th a m k h ả o

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

I TÍNH CẢP THIẺT CƯA ĐẺ TAI

Con người là chủ nhân của xã hội Nghị quyết Đại hội VII, Đại hội VIII của Đảng ta đã chỉ rõ: Phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa con người được bảo vệ, phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực Sức khỏe là vốn quý của con người Nó là tiền đề cơ bản để con người vươn tới những mục đích cao cả khác Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, thân thể con người đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn về nhân quyền năm (1788) Điều 71 Hiến pháp 1992 của nước ta đã chỉ rõ công dân có quyền bất khả xâm phạm

về thân thể, được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm

Bảo vệ con người, bảo hộ quyền được sống khỏe mạnh của con người là mục tiêu của nhiều lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, trong đó công cụ sắc bén có tính cưỡng chế pháp lý cao nhất là luật hình sự Trong thời gian qua luật hình sự đã góp phần to lớn vào việc bảo vệ quyền con người, giữ vững trật

tự, kỷ cương xã hội Tuy nhiên, công tác đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, đặc biệt là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng còn nhiều vấn đề phải đặt ra để nghiên cứu một cách nghiêm túc

Là một tỉnh lớn và hình thành lâu đời ở nước ta, Thanh Hóa có diện tích11.138 km2, dân số trên 3 triệu người với 27 huyện, thị (trong đó có 1 thành phố, 2 thị xã) Thanh Hóa có đủ các vùng núi trung du, đổng bằng, thềm lục địa ven biển; trên địa bàn có nhiều thắng cảnh tự nhiên và những di tích lịch

sử độc đáo Tỉnh có đường auốc lộ IA đi qua, có nhà ga, bến cảng Đây là một

Trang 7

tỉnh có vị trí địa lý; tình hình kinh tế xã hội và thành phần dân cư phức tạp Cùng với sự phát triển của cả nước, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ở tỉnh bên cạnh mặt tích cực cũng đã bộc lộ những mặt trái Nó tác động lớn đến nhiều quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh trên cả phương diện rộng cũng như từng quan hệ xã hội cụ thể Do vậy các quan hệ xã hội nói chung, các quan hệ hôn nhân, quan hệ gia đình, quan hệ tài sản v.v mang nhiều nét mới Đặc điểm này tác động lớn đến tình hình tội phạm cố ý gây thương tích và tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác trên địa bàn tỉnh trong những năm qua.

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác có xu hướng tăng nhanh về số lượng, thủ đoạn, phương pháp, công cụ phạm tội ngày càng tinh vi, phức tạp Số vụ đánh ghen bằng cách tạt axít, dùng dao lam rạch mặt, dùng kéo cắt trụi tóc v.v ngày càng nhiều Tính chất các mối quan hệ giữa bị cáo và người bị hại cũng khác trước Đã xuất hiện nhiều vụ anh em trong gia đình đâm chém nhau, chổng đánh vợ, con đánh bố mẹ, học sinh đánh thầy, cô giáo Đây là sự báo động về hiện tượng sa sút đạo đức, vi phạm đạo lý nghiêm trọng Phim ảnh bạo lực từ nước ngoài tràn vào đã tác động không nhỏ đến cơ chế điều khiển hành vi của tầng lớp thanh niên, nhất là học sinh Chúng thường bắt chước phim ảnh, nổi máu anh hùng hết sức coi thường tính mạng, sức khỏe người khác, thường xuyên xử sự với nhau bằng dao, đâm chém người không cần nguyên nhân hoặc chỉ vì những nguyên nhân tưởng chừng như rất vô lý

Kinh tế thị trường với những quy luật khắt khe của nó phần nào đã đẩy con người lao vào công cuộc làm ăn kiếm tiền Trước sự thôi thúc của đồng tiền,

m ột số không nhỏ người đã quên đi những giá trị nhân bản của con người, những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Chỉ vì tranh chấp một chỗ ngồi bán hàng, một rãnh thoát nước, tranh chấp vài chục phân ngõ đi, người ta có thể đâm chém nhau gây thương tích nặng Có những vụ anh em ruột nợ nhau

Trang 8

vài trăm ngàn đồng mà xô xát cầm dao chém nhau phải vào viện chữa trị hết vài chục triệu đồng.

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác chiếm một phần không nhỏ trong tổng số tội phạm đã xẩy ra ở tỉnh Thanh Hóa và đang là mối lo ngại cho toàn xã hội

Dưới góc độ xã hội và góc độ pháp luật, vấn đề này cần được xem xét một cách nghiêm túc để tìm ra những giải pháp đúng đắn góp phần hạ thấp tỷ lệ tội phạm, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi nhân tố con người, quyền và lợi ích

cơ bản của họ (đặc biệt là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe) được đặt lên hàng đầu thì yêu cầu này đã trở thành cấp thiết

Bởi lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài: "Tội c ố ỷ gây thương tích hoặc gây tổn

hại cho sức khoẻ người khác trong luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" là một yêu cầu cấp bách và

có tính thiết thực hiện nay

II TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u

Có thể nói tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ trước đến nay chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ

thống Cuốn "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe" của tác giả Đinh Văn

Quế do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 1993 cũng chỉ mới dừng lại ở việc phân tích các đặc trưng cơ bản của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe mà chưa đề cập được một cách đầy đủ, toàn diện tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe

Các sách báo pháp lý viết về tội này cũng chưa nhiều Các bài viết tập trung ở Tạp chí Tòa án nhân dân cũng như Tạp chí Kiểm sát Các bài viết này chủ yếu tranh luận về các trường hợp phạm tội cụ thể Một số bài phân tích về

sự khác nhau giữa tội cố ý gây thương tích và tội giết người, về một số hạn chế

Trang 9

của Điều 109 Nhìn chung, các tài liệu trên mới chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh hình sự mà chưa có một đề tài, một cuộc hội thảo hay một sách chuyên khảo nào đề cập đến một cách đầy đủ,toàn diện những góc độ khác nhau về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác cũng như

về thực trạng, nguyên nhân, những giải pháp đấu tranh, tuyên truyền phòng

chống tội phạm này trên phạm vi toàn quốc cũng như ở một địa phương cụ thể

một cách có hệ thống

Bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, sức khỏe của con người là một yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ của nhiều cơ quan chức năng, từ việc nghiên cứu lý luận giải thích luật đến việc áp dụng đúng đắn các quy định của Bộ luật hình sự trong thực tiễn Bên cạnh đó việc điều chỉnh các chính sách kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, việc làm đóng vai trò không nhỏ

Trong phạm vi bản luận án này chúng tôi không có tham vọng giải quyết một cách toàn bộ, triệt để trên phương diện rộng tất cả những vấn để nêu trên,

ở đây chúng tôi chỉ đặt ra và giải quyết một số vấn đề về lý luận và thực tiễn,

đưa ra một số biện pháp nhằm đấu tranh phòng chống có hiệu quả tội "cố ý

gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác".

III MỤC ĐÍCH, NHIỆM v ụ CỦA LUẬN ÁN • 7 • • •

Trên cơ sở phân tích dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ người khác trong luật hình sự Việt Nam, đánh giá tình hình phạm tội, phân tích nguyên nhân và điều kiện phạm tội, dự báo tình hình phạm tội trong thời gian tới, đưa ra nhữns biện pháp nâng cao hiệu quả

đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm này trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

Trang 10

N hiệm vụ của luận án bao gồm:

1 Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác theo luật hình sự Việt Nam

2 Đánh giá khái quát tình hình phạm tội tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong thời gian qua ở tỉnh Thanh Hóa

3 Phân tích nguyên nhân và điều kiện phạm tội

4 Dự báo tình hình phạm tội của tội này trong thời gian tới

5 Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này

IV ĐIỂM m ớ i v à ý n g h ĩ a c ủ a l u ậ n á n

- Qua phân tích dấu hiệu pháp lý đã nêu và đề ra hướng giải quyết những hạn chế, vướng mắc của Điều 109 Bộ luật hình sự khi áp dụng vào thực tiễn xét xử

- Khái quát được một cách có hệ thống tình hình, nguyên nhân, điều kiện của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác,

từ đó đã kiến nghị được nhiều giải pháp cho cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Tác giả hy vọng luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho hoạt động thực tiễn,cũng như trong việc nghiên cứu, giảng dạy chuyên đề về các tội phạm xâmphạm tính mạng, sức khỏe

V Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tội phạm học, về luật hình sự, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, về bảo vệ quyền con người

Trang 11

Luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, để đánh giá thực trạng và nguyên nhân của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Kết hợp phương pháp hệ thống với phương pháp logic lịch sử, phương pháp so sánh nhằm phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe và xác định các biện pháp đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.

VI KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm Phần mở đầu, 2 chương và Phần kết luận Cụ thể:

C hương 1: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác trong luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Đấu tranh phòng chống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

Trang 12

CHƯƠNG 1TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY T ổN HẠI • • •

CHO SỨC KHỎE NGƯỜI KHÁC TRONG LUẬT HÌNH s ự

VIỆT NAM

1.1 S ơ lược lịc h sử p h á t tr iể n củ a lu ậ t h ìn h sự V iệt N amI * • • •

tr o n g v iệ c q u y đ ịn h tộ i c ố ý gâ y th ư ơ n g tíc h h o ặ c g â y tổ n h ại

ch o sứ c k h o ẻ người k h á c

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đời Trong thời kỳ này do Nhà nước công nông còn non trẻ, chưa thể xây dựng kịp thời hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, cho nên trong một số lĩnh vực, Nhà nước đã phải tạm thời sử dụng có chọn lọc một số quy định của pháp luật phong kiến Trong đó có những quy định về hành vi phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác

Việc sử dụng những quy định này được duy trì cùng với việc cho phép áp dụng án lệ trong rất nhiều năm sau đó Năm 1955 Thông tư 442 ra đời, tổng kết việc áp dụng luật cũ và án lệ Trên cơ sở tổng kết này, Thông tư 442 cũng

đã hướng dãn thống nhất việc xét xử những hành vi cố ý gãy thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe người khác Cụ thể: " Đánh người bị thương bị

phạt tù từ ba tháng đến năm năm Đánh người bị thương có tổ chức, gây thành

c ố tật hay chết người có thể phạt tù đến hai mươi năm".

Năm 1970 Tòa án nhân dân tối cao ra Bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét

xử về tội giết người (kèm theo công văn số 452 ngày 10/8/1970) Trong bản chuyên đề này tội cố ý gây thương tích đã được đề cập đến qua việc phân tích

để phân biệt tội này với tội giết người

Trang 13

Năm 1976, khi nước nhà được thống nhất, sắc luật số 03 ngày 15/3/1976

đã thay thế các quy định về hình sự trước đây Trong sắc luật này tội cố ý gây thương tích được quy định còn rất đơn giản Theo Điều 5 của sắc luật này, phạm tội cố ý gây thương tích bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm Trường hợp nghiêm trọng bị phạt tù đến hai mươi năm Văn bản này đã được sử dụng đến khi Bộ luật hình sự (1985) ra đời và có hiệu lực Như vậy, có thể khẳng định rằng: Trước khi có Bộ luật hình sự việc quy định về tội phạm cố ý gây

thương tích mới chỉ ở trên các văn bản dưới luật Việc quy định còn quá chung

chung, không cụ thể Điều đó đã làm cho việc áp dụng khó thống nhất, xét xử gặp không ít khó khăn và do vậy cũng đã ảnh hưởng phần nào đến chất lượng xét xử cũng như hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này

Bộ luật hình sự (1985) ra đời đánh dấu một bước phát triển mới về chất của công tác lập pháp nói chung cũng như công tác lập pháp trong lĩnh vực hình sự nói riêng Từ thời điểm này các tội phạm cụ thể, trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác đã được quy định một cách hoàn chỉnh và tương đối cụ thể trong một văn bản luật

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác được quy định trong Bộ luật hình sự tại Điều 109 với 4 khoản khác nhau

Từ khi được quy định đến nay Điều 109 đã được bổ sung một lần, năm

1989 Tuy chưa được giải thích chính thức, nhưng cũng đã có nhiều văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao đề cập đến các nội dung khác nhau của điều luật này Cụ thể:

- Nghị quyết số 04/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 29/11/1986;

- Nghị quyết số 01/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 19/4/1989 cũng như

- Công văn số 03 của Tòa án nhân dân tối cao ngày 22/10/1987

Trang 14

Mặc dù vậy, trong khi áp dụng Điều 109 vẫn còn những vướng mắc nhất định, đòi hỏi cần phải được xem xét, nghiên cứu để hoàn thiện hơn Đó cũng

là một hướng để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

Với suy nghĩ như vậy, trong chương I của Luận án, tác giả muốn qua việc trình bày một số nội dung của Điều 109 ,phân tích những vướng mắc, chưa hợp lý của Điều luật cũng như những khó khăn khi áp dụng,đề xuất hướng giải quyết những vướng mắc,khó khăn đó

1.2 Các d ấu h iệ u p h áp lý

1 2 1 K h á c h t h ể

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Khoa học luật hình sự xã hội chủ nghĩa phân biệt 3 loại khách thể của tội phạm: Khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp

Theo các ý kiến thống nhất hiện nay, khách thể trực tiếp của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác là quyền được tôn trọng

và bảo vệ về sức khỏe Nhưng không phải sức khỏe của chính kẻ phạm tội Nếu người phạm tội tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của

chính mình thì có thể cấu thành các tội phạm khác Ví dụ: Tội trốn tránh nghĩa

vụ quân sự (Điều 206), tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 260)

Sức khỏe của con người là gì? Đó là tình trạng thoải mái của con ngứời về các mặt thể lực, tinh thần và xã hội (định nghĩa của tổ chức y tế thế giới) Như vậy, quyền được sống trong tình trạng thoải mái, bình thường về mặt thể lực chính là khách thể trực tiếp của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Sức khỏe con người là đối tượng của tội phạm được quy định ở Điều 109

Bộ luật hình sự, nhưng không phải chỉ ở riêng tội này mới có việc gây thương

Trang 15

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà còn có thể ở nhiều tội

khác Ví dụ: Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải (Điều

186), tội dùng nhục hình (Điều 234) Nhưng vấn đề chính ở đây là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe không phải là khách thể trực tiếp (chính) của các tội này

Việc xác định khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định tội danh Hiện nay, thực tiễn xét xử gặp không ít trường hợp vướng mắc có liên quan đến vấn đề này Trong đó có trường hợp: Hành vi hành hung để tẩu thoát ở một số tội phạm đã gây thương tích hay gây tổn hại cho sức khỏe người khác

ở mức đủ để truy tố thành một tội riêng biệt Xung quanh vấn đề này còn có rất nhiều quan điểm khác nhau Theo hướng dãn tại Nghị quyết 01/89 - HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao thì: Nếu hậu quả của việc dùng vũ lực (trong hành vi hành hung để tẩu thoát) là cố tật nặng hoặc chết người thì kẻ phạm tội

bị kết án thêm về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 109 Bộ luật hình

sự Như vậy, hành vi "hành hung đ ể tẩu thoát" chỉ gây thương tích hay gây tổn

hại sức khỏe cho người khác dù cấu thành tội này ở khoản 1 hoặc khoản 2 sẽ chỉ bị coi là tình tiết định khung của các tội quy định ở các điều: 131, 132,

154, hoặc 155 Bộ luật hình sự

Chúng tôi cho rằng, muốn giải quyết vấn đề này phải xem xét đến tầm quan trọng của khách thể được bảo vệ Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phụ thuộc trước hết vào tính chất quan trọng của khách thể Khách thể càng quan trọng thì chính sách xử lý đối với hành vi xâm phạm nó càng nghicm khắc Xuất phát từ đó chúng tôi đồng ý với những quan điểm cho rằng: Không thể quy định hành vi cấu thành một tội chỉ là tinh tiết tăng nặng định khung của một tội khác có tính chất nghiêm trọng tương đương Như vậy,

hành vi "hành hung đ ể tẩu thoát" khi đã cấu thành một tội cố ý gây thương

Trang 16

tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của ngưòi khác theo khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 109 còn có thể được quy định chỉ là tình tiết tăng nặng định khung của các tội: cướp giật, công nhiên chiếm đoạt hay tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản công dân được không?.

Nếu lấy khung hình phạt làm cơ sở để xác định và so sánh tính nghiêm trọng của loại tội này so với loại tội phạm khác thì có thể thấy: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 109 khoản 2) nghiêm trọng hơn so với tội cướp giật, công nhiên chiếm đoạt cũng như trộm cắp tài sản công dân theo khoản 1 (các điều 131, 132, 154, 155), vì mức tối đa của khoản 2 Điều 109 là bảy năm tù, trong khi đó mức tối đa của khoản 1 các điều 131, 132, 154, 155 chỉ là ba hoặc năm năm tù Như vậy, không thể quy định hành vi hành hung để tẩu thoát đã cấu thành tội theo khoản 2 Điều 109 chỉ là tình tiết tăng nặng của các tội theo khoản 1 các điều trên để chuyển từ khoản 1 lên khoản 2 Nếu so sánh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác theo khoản 1 Điều 109 với các tội cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, hoặc trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa cũng như tài sản của công dân theo khoản 1 (các điều 131, 132, 154, 155) thì thấy rằng: Khung hình phạt của các điều này và khung hình phạt của khoản 1 Điều 109 là tương đương (hoặc chênh lệch không đáng kể) Do vậy cũng không thể coi hành vi hành hung để tẩu thoát đã cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác theo khoản 1 Điều 109 chỉ là tình tiết tăng nặng định khung của các tội quy định ở các điều 131, 132, 154, 155 để chuyển từ khung 1 lên khung 2

Từ cơ sở đánh giá đúng đắn tầm quan trọng của khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hai sức khỏe người khác, trong sự so sánh với các tội khác như vậy, chúng tôi cho rằng phải giải quyết vấn đề đã nêu ra theo hướng: Nếu hành vi hành hung để tẩu thoát khi đã gây ra thương tích hay tổn hại sức

Trang 17

khỏe người khác đủ để cấu thành tội quy định tại Điều 109 thì cần xử lý kẻ phạm tội thêm về tội này.

1 2 2 M ă t k h á c h q u a n

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm: Hành vi, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó cũng như một số dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội V.V

* D ấu hiệu hành vi khách quan:

Hành vi khách quan của cấu thành tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc

gây tổn hại sức khỏe người khác thông thường biểu hiện bằng "hành độn%"

Người phạm tội thực hiện những động tác cơ học mà luật cấm, tác động đến thân thể người khác làm cho người này bị thương tích, hoặc tổn hại đến sức khỏe Đối tượng của hành vi phạm tội này là thân thể con người, là sức khỏe của họ Hành vi khách quan của tội này thường thổ hiện ở việc dùng vũ lực

Đó là việc dùng tay đấm, tát, bóp cổ, hoặc dùng chãn đạp, đá vào người nạn nhân Hậu quả của những hành vi này thường là thương tích hay tổn hại không nghiêm trọng Nhưng cá biệt có những trường hợp tuy chỉ dùng tay, chân để phạm tội nhưng kẻ phạm tội đã đánh vào chỗ hiểm yếu trên cơ thể nạn nhân nên đã gây thương tích hay tổn hại nặng đến sức khỏe người khác Hành vi dùng tay, chân tác động vào thân thể nạn nhân còn thể hiện ở dạng: Kẻ phạm tội xô đẩy nạn nhân ngã xuống các nơi nguy hiểm như ao, hồ, hố đang tôi vôi hoặc ngã vào chỗ có vật sắc, nhọn, cứng Một dạng biểu hiện của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là kẻ phạm tội dùng súc vật để gây hại cho nạn nhân như thả chó, rắn để cho cắn, cho trâu bò dẫm, húc ở đây có thể coi kẻ phạm tội đã dùng súc vật như công cụ pham tội.Hành vi phổ biến nhất ở tội này là kẻ phạm tội dùng công cụ để tác động

Trang 18

dao, lê, côn, súng, gậy, đá Những thứ này có thể được chuẩn bị sẵn, hoặc kẻ phạm tội có được ngay ở hiện trường.

Trong những trường hợp có sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội, có những trường hợp do tính chất đặc biệt của công cụ, phương tiện mà những hành vi phạm tội được xem là có tính nguy hiểm cao, như thuốc nổ, axít hoặc

là nguồn nguy hiểm cao độ (ôtô)

Liên quan đến vấn đề hành vi khách quan của tội phạm này còn phải kể đến dạng hành vi gây thương tích hay gây tổn hại sức khỏe người khác do người phạm tội không tự mình thực hiện mà thông qua hành vi người khác

Kẻ phạm tội tác động vào người khác để người này trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm theo ý mình Người bị tác động ở đây trở thành như một công cụ, phương tiện phạm tội Những người bị tác động này không phải bất kỳ ai mà chỉ là những người không phải chịu trách nhiệm hình

sự hoặc không chịu trách nhiệm về cùng một tội với người tác động Những người này có thể là:

- Người không có năng lực trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định hoặc do bị bệnh tâm thần hay một bệnh khác làm mất khả năng nhân thức hoặc điều khiển hành vi của mình

- Người không có lỗi hoặc có lỗi vô ý do sai lầm

Một dạng hành vi cố ỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác là hành vi lợi dụng nghề nghiệp để phạm tội Khi xem xét hành vi này phải phân biệt với các hành vi vi phạm các quy định về chữa bệnh gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 196 Bộ luật hình sự) Hai dạng hành vi này chỉ khác nhau ở dấu hiệu lỗi

Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau nhưng chúng vẫn

Trang 19

mang một đặc điểm chung là đều có thể gây ra thương tích hay tổn hại cho sức khỏe của người khác.

* D ấu hiệu hậu quả:

Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe chongười khác được biểu hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất, cụ thể là sự biến đổi

Mức độ thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe là căn cứ để định tội và đồng thời làm căn cứ để quyết định hình phạt cũng như quyết định việc bổi thường thiệt hại Theo luật hình sự hiện hành, chúng ta quy định những mức

độ thương tích sau:

a Thương tích với tỉ lệ thương tật dưới 11% là thương tích không đáng kể, không xử lý về hình sự trừ một số trường hợp(1)

b Thương tích nặng (tỉ lệ thương tật từ 31% đến dưới 61%)

c Thương tích rất nặng (tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên)

Về mặt nguyên tắc, khi xác định tỉ lệ thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe đòi hỏi phải có kết luận giám định Năm 1987 Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn cho phép không phải có kết luận của giám định pháp y trong một

số trường hợp(2)

(1) Những trường họp đó được nêu rõ trong Công văn sô 03 của Tòa án nhân dán tối cao

ngày 22 tháng 10 năm 1987.

Trang 20

Hướng dẫn này có điểm không hợp lý và mâu thuẫn với khoản 5 Điều 44

Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, tạo ra nhiều khả năng tùy tiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế để giải quyết tình hình cấp bách trong một giai đoạn nhất định do công tác giám định còn khó khăn ở nhiều địa phương Từ khi có hướng dẫn này đến nay đã 10 năm,

hiện nay các tổ chức giám định ở trung ương và địa phương đã hoạt động rất

nề nếp Chúng tôi cho rằng, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn lại để đảm bảo thực hiện nghiêm túc khoản 5 Điếu 44 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

* D ấ u h iệu q u a n hệ n h â n quả:

Để xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy

ra ở tội cố ý gây thương tích hơcặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác cần phải xác định được:

- Hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ về mặt thời gian;

- Hành vi trái pháp luật độc lập hoặc trong mối quan hệ tổng hợp với một hoặc những hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả thương tích hay tổn hại cho sức khỏe

- Hâu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật

Điều kiện thứ ba này phải đặc biệt được chú ý trong thực tiễn xét xử,vì trong thực tế không phải bất cứ một hành vi trái pháp luật nào khi có chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả đều gây ra hậu quả và trong nhiều trường hợp hậu quả thương tích hay tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân lại là hậu quả của hành vi khác

Trang 21

Trong thực tiễn xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, vấn đề quan hệ nhân quả cũng là vấn đề phức tạp Để giải quyết tốt vấn đề này, đòi hỏi các cơ quan chức năng nhất là người thẩm phán phải xem xét tổng hợp nhiều yếu tố, tìm hiểu kỹ diễn biến vụ việc, có kiến thức và cách phân tích đánh giá tổng hợp Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của các nhà giám định là điều không thể thiếu được.

1 2 3 C h ủ t h ể

Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác trước hết phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện một hành vi nguy hiểm trong xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy

Người có năng lực trách nhiệm hình sự để có thể trở thành chủ thể của tội phạm nói chung và tội phạm được quy định ở Điều 109 nói riêng còn phải đạt đến môt độ tuổi theo quy đinh tai Điều 58 Bộ luật hình sự:

"1- Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hỉnh sự về những tội phạm nghiêm trọng do c ố ỷ.

2- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự vê mọi tội

phạm ".

Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự thì: "Tội phạm nghiêm

trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình".

Như vậy, đối chiếu với các khung hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác chúng ta thấy chủ thể của tội phạm này phải thoả mãn độ tuổi như sau :

Trang 22

- Người từ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của tội phạm được quy định ờ

Điều 109 khi hành vi phạm tội thuộc khoản 1 hoặc khoản 4;

- Người từ 14 tuổi trở lên có thể trở thành chủ thể của tội phạm này khi hành vi phạm tội thuộc khoản 2 hoặc khoản 3

1.2 4 M ă t c h ủ q u a n

Bất kỳ một tội phạm nào đều là một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội Nội dung của mặt chủ quan của tội phạm bao gồm: Lỗi, động

cơ và mục đích phạm tội

* D ấ u h iệ u lỗi:

Lỗi của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được ghi rõ trong điều luật là cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp, có thể là cố ý xác định hoặc là cố ý không xác định

Người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở dạng lỗi cố ý trực tiếp là người khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe người khác và mong muốn hậu quả đó xẩy ra ở đây hậu quả thương tích hay tổn hại cho sức khỏe người khác là mục đích của kẻ phạm tội Người phạm tội lựa chọn xử sự phạm tội bởi vì xử sự đó và kết quả của nó phù hợp với mục đích của chính họ

Đa phần các vụ án phạm tội theo quy định tại Điều 109 được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp thấy trước hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình thực hiện và ở nhiều trường hợp hậu

quả này là mục đích cụ thể của họ Ví dụ: Đánh gẫy tay, cắt gân chân, cắt tai

nhưng không phải tất cả mọi trường họp kẻ phạm tội đều thấy trước được hậu quả thương tích hay tổn hại sức khỏe cụ thể mà sự thấy trước này chỉ là dự

Trang 23

kiến về sự phát triển của hành vi Sự dự kiến này chỉ đòi hỏi trên những nét chung nhất Người phạm tội có thể dự kiến hành vi tất nhiên sẽ gây ra hậu quả hoặc dự kiến hành vi có thể gây ra hậu quả.

Trong trường hợp cố ý gián tiếp, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra Ở đây hậu quả của tội phạm không phải là mục đích của kẻ phạm tội nhưng hậu quả này đáp ứng được mục đích của họ

Chúng ta cần phân biệt sự "thấy trước" hậu quả của chủ thể ở hai trường

hợp - trường hợp có lỗi cố ý trực tiếp và trường hợp có lỗi cố ý gián tiếp, ở trường hợp lỗi cố ý trực tiếp sự thấy trước hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khỏe người khác là thấy trước hậu quả đó tất nhiên xẩy ra hoặc có thể xẩy

ra Còn ở trường hợp lỗi cố ý gián tiếp sự thấy trước hậu quả đó chỉ là có thể xẩy ra Thái độ bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra chỉ có thể có được trong trường hợp thấy trước hai khả năng- khả năng hậu quả xẩy ra và khả năng hậu quả không xẩy ra

Khi đề cập đến vấn đề lỗi trong các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, cũng cần phải nói đến vấn đề lỗi cố ý xác định và lỗi cố ý không xác định

Người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác với hình thức lỗi cố ý xác định đã thấy trước được hậu quả cụ thể

sẽ gây ra cho nạn nhân (khi thực hiện hành vi phạm tội), ví dụ : Bị cáo có ý

định sẽ đánh gẫy tay nạn nhân và khi hành động y đã đạt được kết quả đúng như đã xác định trong ý thức chủ quan của mình từ trước.Ngược lại , người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác với hình thức lỗi cố ý không xác định không thấy trước hậu quả cụ thể mà họ

sẽ gây ra (khi thực hiện hành vi phạm tội) Trong ý thức của họ chỉ định hình

Trang 24

việc sẽ gây thương tích mà không hoặc chưa định hình thương tichl' cụ thể sẽ như thế nào v ề lý thuyết,trong trường hợp này chúng ta phải giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự theo nguyên tắc : Hậu quả cụ thể xảy ra như thế nào thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự như thế Tuy nhiên trong thực

tế việc xác định là lỗi cố ý xác định hay là lỗi cố ý không xác định cũng là vấn

đề không đơn giản

* D ấu hiệu động cơ p h ạ m tội:

Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy ngươi phạm tội thực hiện hành vi phạm tội ở tội phạm này động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc Động cơ phạm tội nói chung không có ý nghĩa quyết định đến tính chất nguy hiểm của tội phạm không thể làm thay đổi hẳn tính chất của hành vi nhưng có thể làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Do vậy, ở tội này một số động cơ phạm tội đã được quy định là tình tiết định khung của khoản 2 điểm b (để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân) và khoản 4 (do bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặc trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng)

Ngoài ra còn một số động cơ khác đã được quy định ở Điều 38 hoặc Điều

39 Bộ luật hình sự sẽ được xem xét trong khi quyết định hình phạt

* D â u h iệ u m ụ c đ ích p h ạ m tội:

Mục đích phạm tội là "cái mốc" trong ý thức của người phạm tội được đặt

ra cho hành vi phạm tội phải đạt đến Như trên đã phân tích, ở trường hợp có

lỗi cố ý trực tiếp, mục đích phạm tội thường là rõ ràng, người phạm tội muốn gây thương tích hay gây tổn hại sức khỏe cho người khác Còn ở trường hợp lỗi cố ý gián tiếp thì việc gây thương tích hay gây tổn hại cho sức khỏe người khác chỉ là phương tiện để đi đến mục đích khác

Trang 25

Đế cập đến vấn đề mục đích phạm tội chúng ta cũng cần phân biệt nó với hậu quả của tội phạm Hậu quả của tội phạm là hiện tượng thuộc thế giới khách quan có quan hệ với mục đích Hậu quả là kết quả thực tế mà người phạm tội đã gây ra khi họ thực hiện hành vi để đạt mục đích Mục đích được đặt ra trước khi người đó bắt tay vào việc thực hiện tội phạm Hậu quả thương tích hay tổn hại sức khỏe đạt được đến mức độ nào là tùy thuộc vào khả năng chủ quan của người phạm tội và những điều kiện bên ngoài khác Hậu quả này

có khi thể hiện được đầy đủ mục đích của người phạm tội nhưng cũng có khi chỉ thể hiện được một phần mục đích

1.3 M ột s ố tìn h t iế t đ ịn h k h u n g tă n g n ặ n g h o ặ c g iả m

n h ẹ

1 3 1 C á c t ì n h t i ế t đ i n h k h u n g t ă n g n ă n g th e o k h o ả n 2

Đ i ề u 1 0 9

Khoản 2 Điều 109 quy định: "Phạm tội thuộc một trong các trường hợp

sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm":

a Gây thương tích nặng, hoặc ẹậy tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác.

b Đ ể cản trỏ người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

c Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm.

d Gây thương tích cho nhiều nqười hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người".

Các tình tiết tăng nặng trên đây, tuy chưa được giải thích chính thức, nhưng cũng đã được Tòa án nhân dân tối cao giải thích có tính chất hướng dẫn nghiệp vụ cho các tòa án trong nhiều văn bản khác nhau Đó là Nghị quyết số

04 ngày 29/11/1986 và Nghị quyết số 01 ngày 19/4/1989 của ủy ban thẩm

Trang 26

phán Tòa án nhân dân tối cao, Công văn số 03 ngày 22/10/1987 của Tòa án nhân dãn tối cao.

* Về tình tiết thương tích nặng hoặc tổn hại nặng cho sức khỏe:

Về tình tiết này các văn bản hướng dẫn đều thể hiện: Trường hợp có tỉ lệ thương tật trên 30% là trường hợp thương tích nặng hoặc tổn hại nặng cho sức khỏe Bên cạnh đó các văn bản này cũng khẳng định một số trường hợp vẫn được coi là thương tích nặng, hoặc tổn hại nặng đến sức khỏe, mặc dù tỉ lệ thương tật chưa đến mức trên 30%(1)

* Về tình tiết đ ể cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công

vụ của n ạ n n h â n :

Trước hết, cần phải hiểu thế nào về khái niệm: "Người thi hành công vụ"?

Người thi hành công vụ là những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hay bất kỳ một công dân nào thực hiện nhiệm vụ do pháp luật hay cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội giao vì lợi ích chung Việc thi hành công vụ không phụ thuộc vào thời gian ban ngày cũng như ban đêm, trong giờ làm việc cũng như ngoài giờ làm việc, không phụ thuộc vào không gian (ở cơ quan xí nghiệp hay ngoài đường phố) Nhiệm vụ của người thi hành công vụ được giao có thể là đương nhiên do nghề nghiệp quy định như cán bộ chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ bảo vệ, thầy thuốc đang điều trị ở bệnh viện, thầy giáo đang giảng bài, thẩm phán đang xét xử tại phiên tòa, chấp hành viên đang cưỡng chế thi hành án Hoặc có thể do đoàn thể, tổ chức xã hội

giao, ví dụ: tổ chức dân phòng, an ninh khối phố

Có quan điểm cho lằng, người không được giao nhiệm vụ nhưng tự nguyện tham gia vào việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộicũng được coi

(1) Xem cụ th ể Nghị quyết s ố 01 ngày 191411989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhãn dân

tối cao.

Trang 27

là người thi hành công vụ, như tham gia bắt kẻ phạm tội, tham gia can ngăn, dàn xếp những vụ đánh nhau ở nơi công cộng V.V

Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này, vì như vậy đã hiểu về khái niệm người thi hành công vụ một cách quá rộng Ngưòi thi hành công vụ phải

là người thực hiện công vụ do cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có thẩm quyền giao phó trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, điều lệ

của tổ chức xã hội đó còn trường hợp nói ở trên có thể gọi là "người can

thiệp".

Vậy tại sao quy định việc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhằm cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân là tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 109 ?

Vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm Hành động chống đối pháp luật bằng phản ứng gây thương tích cho người thi hành công vụ là loại hành vi có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với những hành vi gây thương tích hay gây tổn hại cho sức khỏe thông thường Tinh tiết này nói lên động cơ của hành vi phạm tội mà khi có động cơ này mức nguy hiểm cho xã hôị của hành vi phạm tội tăng lên một cách đáng

kể Việc phân tích để được hiểu rõ tình tiết này là rất cần thiết, nhất là đối với

cán bộ áp dụng pháp luật Điểm b khoản 2 Điều 109 có 2 vế: v ế thứ nhất: "Đ ể

cản trở người thi hành công vụ", vế thứ hai: "Vì lý do công vụ của nạn nhân"

Người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong trường hợp thuộc vế thứ nhất của điểm b là người phạm tội với mục đích cản trở, làm cho người đang thi hành công vụ không thực hiện được hoặc không thực hiện được đầy đủ nhiệm vụ của mình Người phạm tội trong trường hợp thuộc vế thứ hai là với mục đích trả thù người đã thi hành công vụ hoặc với mục đích đe dọa, cản trở người sắp thi hành công vụ Việc thi hành

công vụ này có thể là đối với kẻ phạm tội hoặc đối với người khác Ví dụ, Trần

Trang 28

Văn Toàn là công an bảo vệ chợ bắt được tên Cao đang móc túi Nguyên Văn Nam là bạn của Cao đã chạy đến đánh anh Toàn nhằm mục đích đánh tháo cho Cao.

Giữa hai vế một và hai có từ ''hoặc".Điều đó có nghĩa chỉ cần phạm tội

thuộc một trong hai trường hợp được qui định tại hai vế đó đã phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2

Mặc dù vậy,hiện nay vẫn tồn tại hai cách hiểu khác nhauvề điểm b của khoản 2 này

Theo quan điểm thứ nhất, để cản trở người thi hành công vụ phải bao hàm

cả vì lý do công vụ của nạn nhân Bởi lẽ, vì lý do này mà kẻ phạm tội cản trở việc thi hành công vụ của nạn nhân Còn người phạm tội mà mục đích cản trở người thi hành công vụ nhưng không vì lý do công vụ của nạn nhân thì không được áp dụng khoản này

Ví dụ 1: Hà Viết Anh là nhân viên thu thuế, Nguyễn Văn Bao là chủ hộ

kinh doanh Khi Anh đến cùng đoàn cán bộ lập biên bản xác định doanh thu Bao không thống nhất, cãi vã rồi lấy dao chém anh Anh Trường hợp này thuộc vế thứ nhất điểm b, khoản 2 Điều 109

Ví dụ 2: Lê Văn Hải là thẩm phán Tòa án huyện Quảng Xương - Thanh

Hóa nhà ở gần nhà tên T Do hai nhà có mâu thuẫn từ lâu về ranh giới đất nên ngày 20/10/1994 anh Hải đang xử án, T cùng đồng bọn đến đánh anh Hải khi anh cùng hội đồng xét xử nghị án Trường hợp phạm tội này không thuộc điểm b, khoản 2 Điều 109

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc hiểu nội dung điều luật như trên là suy

diễn Theo quan điểm thứ hai, sở đĩ nhà làm luật quy định tình tiết "để cản trở

người thi hành công vụ" là nhằm trừng trị những kẻ gây thương tích hoặc gây

tổn hại sức khỏe cho người đang thi hành công vụ, đảm bảo cho họ thực hiện

Trang 29

tốt nhiệm vụ của mình Việc cản trở này có thể do bất kỳ một lý do gì, trong

đó có lý do công vụ của nạn nhãn Chúng tôi đồng ý với quan điểm này

Một vấn đề nữa cần phải xem xét là ở tội chống người thi hành công vụ (Điều 205), kẻ phạm tội cũng dùng vũ lực chống lại người thi hành công vụ, cho nên vấn đề được đặt ra là trong trường hợp nào thì xét xử về tội cố ý gây thương tích, trường hợp nào thì xét xử về tội chống lại người thi hành công vụ.Tại Công văn số 03/TATC năm 1987 Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn: Kẻ phạm tội dùng vũ lực chống người thi hành công vụ mà không gây thương tích hoặc không gây tổn hại sức khỏe của nạn nhân một cách đáng kể thì bị xử theo Điểu 205 về tội chống lại ngưòi thi hành công vụ ở đây Tòa án nhân dân tối cao cũng không quy định thương tích hay tổn hại sức khỏe đến bao nhiêu phần trăm là đáng kể Do vậy, trong thực tiễn việc hiểu và áp dụng quy định này còn chưa thống nhất

Có quan điểm cho rằng, thương tích không đáng kể hay tổn hại không

đáng kể là trường hợp tỷ lệ thương tât là 0%, vì khi đã có tỷ lệ thương tât thì với động cơ "cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn

nhân", hành vi xâm phạm sức khỏe đã đủ cấu thành tội cố ý gây thương tích

hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác theo khoản 2 Điều 109

Chúng tôi cho rằng : Nếu hành vi chưa đủ dấu hiệu của cấu thành cơ bản thì hành vi đó chưa cấu thành tội phạm ,mà khi chưa đủ dấu hiệu định tội thì không thể áp dụng tình tiết định khung được Do đó hành vi phạm tội chỉ có

thể bị xử theo khoản 2 với tình tiết định khung "để cản trở người thi hành

công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân" khi thương tích, tổn hại sức khỏe

của nạn nhân ít nhất cũng phải là 11% Những trường hợp tỉ lệ thương tật dưới

11% sẽ bị coi là phạm tội theo Điều 109 khoản 1, nếu có thêm tình tiết "cản

trở người thi hành cônq vụ hoặc vì lý do côniỊ vụ của nan nhản" Như vậy, chỉ

những trường hợp tỉ lệ thương tật thấp không đủ cấu thành tội phạm theo Điều

Trang 30

109 khoản 1, mặc dù có tình tiết "cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do

công vụ của nạn nhân", mới bị coi là cấu thành tội phạm theo Điều 205 Bộ

luật hình sự Nhưng tỉ lệ thấp này là bao nhiêu vẫn là câu hỏi đang được đặt

ra Tuy nhiên, không thể phải dứt khoát là 0% Chúng tôi đồng ý với quan

điểm này

* Tình tiết có tính chất côn đồ:

Trước khi có Bộ luật hình sự (1985) trong luật hình sự Việt Nam đã tổn tại

khái niệm "lưu manh côn đồ" Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích khái niệm này dùng để chỉ nhân thân người phạm tội "Lưu manh côn đồ" là những tên

coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẩn sàng dùng vũ lực và hay dùng vũ lực để uy hiếp bắt người khác phải phục vụ mình, vô cớ đánh người, đâm chém Hành động của chúng thường là xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của người khác nhưng cũng có trường hợp chúng ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác(1)

Năm 1995 trong kết luân Hôi nghi tổng kết công tác tòa án, Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao đã giải thích: "Khái niệm côn đồ được hiểu là hành động

của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùníỊ vũ lực và thường hay dùng vũ lực đ ể uy hiếp người khác phải khuất phục Chỉ vì vô cớ hoặc vì một nguyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người, những kẻ đâm thuê chém mướn phải coi là biểu hiện côn đồ".

Vậy khái niệm có tính chất côn đồ được đề cập trong Điều 109 khoản 2 điểm c dùng để chỉ nhân thân kẻ phạm tội hay dùng để chỉ tính chất của hành

vi phạm tội ? Quan điểm của chúng tôi cho rằng, phải hiểu có tính chất côn đồ

là khái niệm dùng để chỉ tính chất của hành vi phạm tội Khi hành vi phạm tội của kẻ phạm tội mang tính chất côn đổ thì mức độ nguy hiểm cho xã hội của

(l) Công văn sô'38 - NCFL ngày ó /1! 1976 của Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 31

hành vi phạm tội cao hơn so với bình thường Do vậy đường lối xử lý phải nghiêm khắc hơn.

Kẻ phạm tội cố ý gây thương tích có thể có nhân thân là lưu manh côn đồ, nhưng hành vi phạm tội của y có thể lại không mang tính chất con đồ Trong

trường hợp này chỉ được phép xem "lưu manh côn đồ'1 là tinh tiết để đánh giá

nhân thân kẻ phạm tội mà không thể coi là tình tiết định khung được Do vậy, hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác

có tính chất côn đồ theo quan điểm của chúng tôi phải là hành vi phạm tội có tính chất coi thường quá đáng pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, đã dùng vũ lực vô cớ hoặc vì một duyên cớ rất nhỏ nhặt

Vụ án sau đây là một ví dụ: Vào 7 giờ tối ngày 11611994, Trần Văn Hà ải

xe máy Honda 70 từ nhà bạn về nhà mình Khi đi đến ngã tư Bưu điện Thanh Hóa, do phóng nhanh, cua gấp Y đã đụng vào xe đạp của anh Nguyễn Hải Hòa đi ngược chiều, cả hai người cùng ngã Mặc dù là người có lỗi, đã vi phạm quy định về an toàn giao thôn ẹ nhưng Hà sau khi dựng xe vào lề đường

đ ã xông vào đấm đá anh Hòa túi bụi, mặc dù anh Hòa đã van xin và nhân dân can ngăn Tiếp đó, tên Hà còn chạy sang lề đường nhặt đá đập nhiều nhát vào đầu anh Hòa gây chấn thương sọ não phải đi cấp cứu điều trị Ngày

20/8/1994, Tòa án Thành phố Thanh Hóa đã xử phạt Trần Văn Hà 2 năm tù giam về tội cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 2 Điều 109

* Về tình tiết tái p h ạ m nguy hiểm:

Điều 40 Bộ luật hình sự đã quy định cụ thể những dấu hiệu của trường hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm Tuy nhiên, trong khi áp dụng đã nảy sinh một số vấn đề đòi hỏi Điều 40 cần phải được giải thích rõ hơn Trong đó có

vấn đề phải hiểu dấu hiệu "dã bị phạt tù" như thế nào?

Trang 32

Chúng tôi cho rằng: Cần hiểu khái niệm "đã bị phạt tù" là sự kiện pháp lý

(không đổng nhất với phạm trù thời gian) Một bản án khi tuyên xong không

có kháng cáo, kháng nghị thì hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án được đưa ra thi hành và có nghĩa là tới thời điểm này, bản án có giá trị quy hồi hiệu lực vể mặt thời gian, kể từ ngày ký bản án Điều này cũng được áp dụng cho trường hợp bản án phúc thẩm y án sơ thẩm Do đó, chúng ta có thể quy định

rõ thời điểm bắt đầu để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm là lúc đã tuyên án phạt tù, nhưng với điều kiện sau đó bản án phải có hiệu lực (không bị kháng cáo, kháng nghị; hoặc bản án không bị sửa qua xử phúc thẩm)

Trong thực tiễn nếu có trường hợp một người sau khi bị tuyên một bản án phạt tù và trong thời gian án chưa có hiệu lực pháp luật lại phạm tội mới thì khi xử lý tội phạm mới, cơ quan áp dụng pháp luật sẽ chò cho đến khi bản án trước có hiệu lực pháp luật hoặc khi có quyết định của cấp phúc thẩm mới xác định bị cáo có tái phạm hay tái phạm nguy hiểm không, v ả lại, thời gian điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử của vụ án mới thường kéo dài hơn thời hạn kháng cáo, kháng nghị hoặc thời gian có kết quả xét xử phúc thẩm

* T ình tiết gây thương tích cho nhiều người hoặc gây tổn hại sức khỏe cho nhiều người:

Đãy là tình tiết mới được bổ sung năm 1989 v ề tình tiết này, việc hiểu và

áp dụng trong thực tiễn hiện nay cũng đang còn những ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, tình tiết này được áp dụng không phụ thuộc vào tỷ lệ thương tật của thương tích hoặc tổn hại sức khỏe đã gây ra Mọi trường hợp đã gây ra thương tích dù chỉ vói tỷ lệ là 1% mà có tình tiết này đều bị coi là phạm tội theo Điều 109 khoản 2(l)

(l) Xem kết luận của Chánh án Tòa án nhãn dân tôi cao tại Hội nghị tổng kết ngành tòa án

năm 1996.

Trang 33

Chúng tôi cho rằng, chỉ cho phép áp dụng tình tiết gây thương tích cho

nhiểu người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe nhiều người là tình tiết định khung

theo Điều 109 khoản 2, khi hành vi phạm tội không cần đến tình tiết này đã đủ

cấu thành tội phạm theo Điều 109 Trường hợp đã sử dụng tình tiết này để coi

hành vi là cấu thành tội phạm (vì tỷ lệ thương tật dưới 11%) thì sẽ không được

coi tình tiết này là tình tiết định khung nữa

1 3 2 C á c t ì n h t i ế t đ i n h k h u n g t ă n g n ă n g th e o k h o ả n 3

đ i ê u 109 B ộ l u ậ t H ì n h s ự • • «

Khoản 3 điều 109 quy định : Phạm tội gây cố tật nặng, dẫn đến chết

người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 5 -

20 năm

1.3.2.1- Phạm tội gây cố tật nặng:

Cố tật là một thuật ngữ dùng trong y học Hiện nay Bộ y tế chưa có văn

bản nào định nghĩa cố tật và phân biệt cố tật với cố tạt nặng Đối với cơ quan

pháp luật thì việc xác định cố tạt, ranh giới giữa cố tật nhẹ và cố tật nặng là

hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng Nó không những giúp xác định

khung hình phạt được đúng và còn giúp cho việc quyết định hình phạt được

đúng đắn và công bằng

Hiện tại về vấn đề này thực tiễn xét xử có nhiều vấn đề vướng mắc.Theo

chúng tôi, Cơ quan Y tế và Toà án nhân dân tối cao cần phối hợp với nhau để

có hướng dẫn cụ thể thế nào là cố tạt nặng ,trên cơ sở xét tỉ lệ thương tích đã

gây ra, xét thương tích gây ra đối với bộ phận nào của cơ thể, chức năng và ý

nghĩa của bộ phận đó, xét khả năng thương tích gây ra làm mất một phần chức

năng nhưng của nhiều bộ phận cơ thể.v.v

Trang 34

1.3.2.2- P hạm tội trong trường hợp dẫn đến chết người:

Thế nào là thương tích hay tổn hại sức khoẻ dẫn đến chết người ? Nghị

quyết 01 - 89 của Toà án Tối cao đã hướng dẫn: "Thương tích dẫn đến chết

người trước hết là thương tích nặng làm cho nạn nhân chết vì thương tích này Nghĩa là giữa thương tích và cái chết của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả Ví dụ : Đâm vào hông nạn nhân làm nạn nhân bị đứt tĩnh mạch hông và

do bị mất nhiều máu nên nạn nhân chết Củng coi là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người trong trường hợp gây thươnẹ tích không phải là thương tích nặng nhưng vị nạn nhân là người quá ẹiá yếu, có bệnh nặng, việc gây thương tích làm cho nạn nhản bị chết sớm hơn Nếu không bị gây thương tích thì nạn nhân chưa chết".

Như vậy thương tích dẫn đến chết người trước hết phải đạt điều kiện là

thương tích nặng, tức tỉ lệ % thương tật phải từ 31 % trở lên Điều kiện thứ 2

là: giữa hậu quả chết người và thương tích gây ra phải có mối quan hệ nhân quả, tức giữa chúng có mối quan hệ nội tại, tất yếu Thương tích đó là nguyên nhân dẫn đến cái chết cho nạn nhân Tuy nhiên trong thực tế, tuỳ theo tình hình sức khoẻ, thể trạng của từng người, tuỳ theo điều kiện cứu chữa người bị gây thương tích có thể chết ngay sau khi bị gây thương tích hoặc một thời gian sau mới chết, do vậy để khẳng định hậu quả chết người có phải do hành vi gây thương tích gây ra hay nhất thiết phải giám định nguyên nhân chết Òs^ một số

trường hợp ngoại lệ tuy thương tích không nặng ( dưới 31 % ) nhưng vẫn coi là

thương tích dẫn đến chết người do người bị hại là bệnh nhân nặng, người quá già yếu, việc gây thương tích làm cho nạn nhân chết sớm hơn

/ ở đây hành vi phạm tội của bị cáo là một trong những nguyên nhân gây

ra cái chết của nạn nhân.Nạn nhân chết không chỉ VI một nguyên nhân bị gây thương tích mà còn vì tình trạng sức khoẻ không bình thường của họ ( người già yếu, bệnh hiểm nghèo ).Tình trạng này tự thân nó cũng đã chứa sẵn nguy

Trang 35

cơ tiềm tàng dẫn đến hậu quả xấu Nhưng nếu không có hành vi phạm tội trên thì nạn nhân chưa chết, chính hành vi này đã làm cho nạn nhân chết sớm hơn bình thường.

Trong trường hợp thương tích dẫn đến chết người , việc xác định đúng mối quan hệ nhân quả là vô cùng quan trọng Thực tiễn có nhiều trường hợp mặc dù nạn nhân có bị gây thương tích nhưng họ đã chết vì một bệnh khác Ví

dụ : Nạn nhân bị đánh gẫy tay nhưng chết vì uốn ván ) Bên cạnh đó, về mặt khách quan tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người và tội giết người hoàn toàn giống nhau Do vậy khi đề cập đến vấn đề này ngoài mối quan hệ nhân quả, cần thiết phải xác định ý thức chủ quan của bị cáo đối với hậu quả chết người./( vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập kỹ ở phần sau )

Một vấn đề cần được lưu ý ở đây là : thương tích dãn đến chết người là thương tích nặng hoặc tổn hại nặng hoặc là thương tích không nặng (trong trường hợp nạn nhân là người già, người bị bệnh hiểm nghèo ) Giữa thương

tích nhẹ ( từ 11 đến 30 % ), thương tích nặng ( từ 31 đến 60 % ), thương tích rất nặng ( trên 61 % ) có khoảng cách rất xa nhau Và khung hình phạt ở

khoản 3 cũng có khoảng các rất dài ( từ 5 năm đến 20 năm ) Như vậy việc gây thương tích hay tổn hại sức khoẻ cho bị hại ( ví dụ tỉ lệ 32 % ) mà dẫn đến chết người thì hình phạt phải khác với việc gây thương tích cho bị hại với

tỉ lệ, ( ví dụ : là 60 % ) dẫn đến nạn nhân chết Để giúp việc cá thể fioá hình

phạt được chính xác thì tỉ lệ phần trăm thương tích cũng rất quan trọng Trong những trường hợp này thì có cần thiết phải giám định không ? Nếu nạn nhân

bị gây thương tích mà chết sau một thời gian ngắn thì giải quyết như thế nào

về việc giám định ? Đây là một vấn đề rất khó Vì vậy trong những trường hợp này khả năng tuỳ tiện trong việc quyết định hình phạt là rất lớn Trước mắt cơ quan áp dụng pháp luật cũng chí căn cứ vào các vết thương cụ thể để đánh gia mức độ thương tích mà việc đánh giá này thường theo ý thức chủ quan của người đánh giá Mặt khác, trong nhiều trường hợp không dễ gì

Trang 36

không qua giám định mà xác định được tỉ lệ thương tích nhiều hay ít Do vậy vấn đề này cần thiết phải đặt ra cho cả những người làm công tác nghiên cứu

và cả những người làm công tác thực tiễn để tìm ra hướng giải quyết tối ưu nhất

1.3.2.3- P hạm tội trong trường hợp nghiêm trọng khác:

Đây là một trong những tình tiết định khung tại khoản 3 Vậy cần hiểu

như thế nào là " trường hợp nghiêm trọng khác" ? Đây là một quy định "mỏ

Mặt ưu điểm của qui định này thể hiện ở chỗ : Thực tiễn các tội cố ý gây thương tích và gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác xẩy ra vô cùng đa dạng và phức tạp mà nhà làm luật không thể dự liệu được hết các trường hợp phạm tội cụ thể để ghi nhận trong điều luật cần xử lý với mức hình phạt từ 5 năm đến 20 năm, trong khi đó, khoản 3 mới chỉ qui định 2 trường hợp phạm tội gây cố tật nặng và phạm tội dẫn đến chết người Do vậy việc qui định những trường hợp nghiêm trọng khác là để sử dụng trong trường hợp kẻ phạm tôị thực hiện hành vi gây thương tích hoăc gây tổn hai sức khoẻ cho người khác rất nguy hiểm cần phải áp dụng mức hình phạt cao mà không thuộc 2 trường hợp nêu trên Mặt nhược điểm là : Cho đến nay chưa có hướng dẫn

chính thức nào về " trường hợp nghiêm trọng khác Chính điều này dẫn đến việc tuỳ tiện trong áp dụng pháp luật Cũng vì không có hướng dẫn cụ thể nên

một số trường hợp phạm tội, ở cấp xét xử này thì coi là nghiêm trọng ngược

lại, ở cấp xét xử khác lại cho là không nghiêm trọng

Căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết 04 - 86 thì có thể thấy tỉ lệ thương tật từ 61 % trở lên là thương tích rất nặng hoặc tổn hại rất nặng cho sức khoẻ cần phải xét xử theo khoản 3 của Điều 109 Khoản 3 Điều 109 có 3 trường hợp: Gây cố tật nặng, dẫn đến chết người, trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác

Trang 37

Như đã phân tích ở phần "cố tật nặng" , kẻ phạm tội gây cố tật nặng cho nạn nhân không cần phải bảo đảm tỉ lệ thương tật 61 % trở lên vẫn bị truy cứu

và xét xử theo khoản 3 Thương tích dẫn đến chết người thì chỉ cần tỉ lệ từ 31

% trở lên ( trường hợp nạn nhân là người quá giá yếu, người bị bệnh hiểm

nghèo thì có thể dưới 31 % ) Như vậy từ đây ta có thể rút ra rằng: Trường họp

đặc biệt nghiêm trọng khác là trường hợp bị cáo phạm tội nhưng không thuộc trường hợp gây cố tật nặng; không thuộc trường hợp dẫn đến chết người

nhưng có tỉ lệ % thương tật là 61% trở lên.

T ó m l a i : Căn cứ vào quy định của điều luật cùng với Nghị quyết 04

của HĐTP chúng ta có thể hiểu : Phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác là trường hợp gây thương tích cho nạn nhân không thuộc dạng gây cố tật nặng cũng như không thuộc dạng dẫn đến chết người và có tỉ lệ thương tật từ 61 % trở lên

Trong khi chờ hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền , tạm thời vãn phải chấp nhận cách hiểu và vận dụng như trên

1.3.3 T ìn h ti ế t đ in h k h u n g g i ả m n h e th e o k h o ả n 4 Đ iê u 109

Khoản 4 Điều 109 quy định: ''Phạm tội trong trường hợp quy định ở điểm

a khoản 2 hoặc ở khoản 3 điều này mà do bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặc trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm".

Trước hết, phải khẳng định đây không phải là tình tiết giảm nhẹ định khung so với các trường hợp bình thường, mà là tình tiết giảm nhẹ định khung cho những trường hợp đã thỏa mãn tình tiết định khung tăng nặng theo khoản

2 hoặc khoản 3 Đó là những trường họp gây thương tích nặng cho sức khỏe

Trang 38

hoặc là trường hợp đã gãy cố tật nặng, dẫn đến chết người hoặc là trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

* Tình tiết p h ạ m tội trong trường hợp bị kích động m ạnh vì hành

vi trái phá p luật nghiêm trọng cuả nạn nhân.

Người phạm tội trong trường hợp này là người đã có hành vi phạm tội trong tình trạng bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân.về nội dung của trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chúng ta có thể hiểu tương tự như tình trạng tinh thần bị kích động mạnh đã được qui định tại Điều 101 BLHS Nội dung này đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân

tối cao giải thích: "Tình trang tinh thần bi kích động manh là tình trang người

phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kìm ch ế được hành vỉ phạm tội của mình Nói chung, sự kích động đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên phản ứng dẫn tới hành vi giết người Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén,

áp bức tươnq dối năng nề, lăp đi lăp lai, sư kích đônq đó đã âm ỉ kéo dài, đến thời điểm nào đỏ hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bi kích độnẹ không tự kìm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng xét cả quá trình phát triển của sự việc thì lại được coi là mạnh hoặc là rất mạnh Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó tuy làm cho người phạm tội bị kích động mạnh nhưng nói chung chưa đến mức là tội phạm Trong trường hợp cá biệt, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân cấu thành tội phạm nhưng là tội ít nghiêm trọng

Trang 39

(như: Tội làm nhục người khác, tội vu khống ) thì cũng được coi là giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh “ (1).

Như vậy, tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của một người là trạng

thái cảm xúc đặc biệt của tâm lý xuất hiện bất ngờ và đi qua rất nhanh, ở trạng

thái tâm lý này, con người không còn nhận thức được đầy đủ về hành vi của

mình, ở đãy chúng tôi nhấn mạnh khái niệm "nhận thức đầy đủ" Có nghĩa là,

họ vẫn chưa mất hẳn khả năng nhận thức Đặt vấn đề như vậy để chúng ta có thể phân biệt với hành vi của nhũng người không có năng lực trách nhiệm hình

sự Khi ở tình trạng tinh thần bị kích động mạnh, con người mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi của mình Tuy nhiên, trạng thái này cũng chỉ xẩy ra trong chốc lát và sau đó tinh thần của họ lại trở lại bình thường Sự kích động ở đây phải là kích động

"mạnh", mang tính đột xuất, tức thời, phản ứng liền sau khi có hành vi trái

pháp luật của nạn nhân Nếu giữa thời điểm người phạm tội nhận thức được hành vi trái pháp luât nghiêm trọng của nạn nhân và thời điểm họ có phản ứng bằng hành vi phạm tội có một khoảng cách đáng kể về thời gian, thì không thể nói đến việc phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh được Nếu người phạm tội đã có ý nghĩ và kế hoạch từ trước nhưng lúc hành động vì một nguyên cớ nào đó có bị kích động hơn lúc bình thường thì cũng không thuộc trường hợp bị kích động mạnh

Luật hình sự của nước ta quy định hai mức độ tinh thần bị kích động:

- Bị kích động tinh thần (điểm b khoản 1 Điều 38) và

- BỊ kích động mạnh về tinh thần (khoản 4 Điều 109, khoản 3 Điều 101)

(1) Nghị quyết s ổ 04IHĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày

29/J 1/1986;

Trang 40

Để có thể xác định tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh hay chỉ bị kích động cần xem xét một cách khách quan, toàn diện các mặt thời gian, hoàn cảnh, địa điểm, diễn biến, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của sự việc, mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội, trình độ văn hóa, tính tình, cá tính của mỗi bên, mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân

Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của một con người có thể do nhiều nguyên nhân gây nên Nhung pháp luật chỉ quy định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho những người phạm tội theo quy định tại Điều 109 trong trường hợp trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây ra Vậy cần hiểu như thế nào là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng? Điều tnrớc tiên có thể nói hành vi này không phải là hành vi sai trái về mặt đạo đức như đã được thừa nhộn trong thực tiễn xét xử của nước ta trước khi có Bộ luật hình sự(l) Pháp luật là một từ có nội dung rất rộng Theo quan điểm của chúng tôi : Hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể là hành

vi vi phạm hành chính, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình Hành vi này có thể cấu thành tội phạm (tội nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng) hoặc chưa cấu thành tội phcạm nhưng phải là trái pháp luật với mức độ nghiêm trọng

Tuy nhiên, việc phân định giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng và hành

vi trái pháp luật ít nghiêm trọng là lất khó, vì ranh giới ở đây tương đối trừu tượng Để phân định được ranh giới này cần phải xem xét, đánh giá một cách toàn diện

Cần chú ý rằng giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân và trạng thái bị kích động mạnh về tinh thần phải có mối quan hệ nhân quả Trạng thái bị kích động mạnh vế tinh thần phải là kết quả của hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân

(n Xem: Hệ thống hóa luật lệ hình sự, Tập I, tr.346.

Ngày đăng: 14/08/2020, 15:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm