Với sư ra đời của Nhà nước Viêt Nam Dàn chủ cộng hoà và bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta 1946, mối qua hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước với công dân chính thức được xác lập và được cụ t
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN ANH TUẤN
MỘT SỐ VẤN ĐỂ VỂ HOÀN THIỆN VÀ CỦNG CÔ ■ ■ MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƯỚC ■
VÀ CỔNG DÂN TRONG ĐIỂU KIỆN HIỆN NAY■ m
LUẬN ÁN T H Ạ C Sĩ KHOA HỌC LUẬT
Hà Nội -1 9 9 6
Trang 3NGUYỄN ANH TUẤN
MỘT s õ VÂN ĐÊ VẼ HOAN THIỆN VA CÚNG c o■ •MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƯỚC
VÀ CÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY• ■
ở VIỆT NAM
Chuvẻn ngành : Lý luận Nhà nước và Pháp luật
LUẬN ÁN THAC s ỉ KHOA HOC LUẬT
Người hướng dẫn khoa học :
PTS Lê Minh Thông
Hà Nội -1996
Trang 4MỤC LỤC
T rang
Chương 1 : Cơ sở lý luận và pháp lý của mối quan hệ giữa 7
Nhà nước và công dân
1.1 Khái quát mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và công 7dân trong các kiểu Nhà nước
1.2 Bản chất và các nguyên tắc cơ bản của mối quan hệ 11
pháp lý giữa Nhà nước và cồng dân dưới xã hội xã hội
chủ nghĩa
1.3 Hiến pháp 1992 - Bước phát triển về mối quan hệ pháp 29
lý giữa Nhà nước và công dân
1.4 Những đảm bảo đối với việc thực hiện môi quan hệ 73giữa Nhà nước và công dân
Chương 2 : củn g cô và hoàn thiện mối quan hệ giữa Nhà 85
nước và công dân ở nước ta hiện nay.
2.1 Khái quát về thực trạng việc thực hiện mối quan hệ 85
giữa Nhà nước và công dàn ở nước ta hiện nav
2.2 Phương hướng củng cố và hoàn thiện mối quan hệ giữa 97Nhà nước và công dân ở nước ta hiện nav
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
* 1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) dất nước ta
bắt đầu tiền hành cồng cuộc đổi mới toàn diện trên mọi mật của đời Sống
chính trị - kinh tế - xã hội Một trong những mục tiêu cùa công cuộc đổi
mới là xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, một
xã hội công dân, thực hiện triệt để nguyên tắc toàn bộ quyền lực Nhà nước
thuộc về nhân dân, phát huy dàn chủ xã hội chủ nghĩa Cương lĩnh xây
dưng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta đã
khảng.định: ."Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân Thực hiện đầy đủ quvền dân chủ của
nhân dân "
Quan hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước và công dân là quan hệ được
điều chỉnh bằns; Hiến pháp và luât Với sư ra đời của Nhà nước Viêt Nam
Dàn chủ cộng hoà và bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (1946), mối qua
hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước với công dân chính thức được xác lập và
được cụ thể một bước trong các đạo luật Người dân nước ta từ địa vị thấp
hèn dưới c h ế độ thực dân phong kiến đã trở thành chủ nhân của một nước
độc lập tự do Qua các thời kỳ đấu tranh siành độc lập dân tộc và xây
d ự n2 chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ đó không ngừng được củng cố và
phát triển, góp phđn quan trọns vào thắng lợi của Cách mạng Việt Nam
Điều đó đã được phản ánh sinh động trong 4 Hiến pháp nước ta (1946 -
1959 - 1980 - 1992) và các đạo luật cụ thể hoá nhữns quv định quan trọng
của Hiến pháp
Tuy nhiên, bước vào côna cuộc dổi mới toàn diện đất nước, môi
quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân đã bộc lộ những han chê ở
mấy điểm sau đây:
* T r o n s xây dựng pháp luật, hạn ch ế chủ yếu là chưa kịp thời cụ thể hoá những quy dịnh của Hiến pháp về các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm
Trang 6pháp lý của cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước và của công dủn khi
vi phạm các quyền, lợi ích của nhau N s a y trong những quy định của Hiến pháp 1992 về quyền và nshĩa vụ của cồ n s dân và của Nhà nước cũnc còn
* Côns tác tổ chức thực hiện những quv định Hiến pháp và luật về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước và công dủn cũng có những biểu hiện đánc lo ngại cả ờ trong bộ máy Nhà nước và ngoài xã hội Trong
bộ máy Nhà nước, ý thức tôn trọng thực sự quyền làm chủ của công dân chưa được cao; tệ tham’ nhũng, quan liêu,, hách dịch, cửa quvển, coi thường dân, vi phạm quyền công dàn, hối lộ vẫn còn diễn ra, có nơi rất nghiêm trọng; bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng lớp trung gian, thủ tục hành chính rườm rà, rắc rối gây nhiều phiền hà cho dân; năng lực của cônc chức Nhà nước, đặc biệt là trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế; ở ngoài xã hội, ý thức pháp luật của công dân nhìn chung còn thấp, vi phạm pháp luật chưa có chiều hướng giảm; công dân còn có thái độ thờ ơ với công việc Nhà nước, ý thức thực hiện các nghĩa vụ pháp
lý chưa cao; có tình trạng vừa thiếu dân chủ vừa thiếu kỷ cương
* Trong tình hình đó, việc xử lý những vi phạm quyền làm chủ của công dân từ phía cơ quan Nhà nước và nhàn viên Nhà nước cũng như
nh ữn s vi phạm pháp luật của công dân còn chưa kịp thời, nhanh chóng., chưa thực sự duns; pháp luật; nhiều quyền của còrm dân đã được Hiến pháp và luật khẳng định vẫn chưa được tôn trọn? đ ú n2 mức, nhiểu nỗi oan
ức của co ns dân chưa được giải toả, thậm chí còn tình trạng bắt oan, xử oan ncười vô tôi
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội của Đảng đã nói; “Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân ” Tuy nhiên, Nhà nước
c ũ n s cần phải có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị
tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công dân ” Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt lý luận, thực tiễn mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân giúp ch úng ta khảng định được rằn Sĩ quyền và nghiã vụ của cá nhân côn 2 dân kh ôn g phủi do
Trang 7nước, nhưng nếu Nhà nước không làm tròn bổn phạn và vai trò của mình thì Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm với nhân dân, xã hội.
Chúnc ta đariG xây dựne một Nhà nước của dân, do dân, vì dăn với quyền lực thống nhất Nhân dân, xct về khái niệm vừa là một thực thể cụ thể - từng công dân; vừa là một thực thể trừu tượng, gổm tất cả mọi công dân trong một quốc gia Nguyên tắc “ Mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhàn dân” chỉ được thực hiện khi chúng ta hiểu sát ý nghĩa khái niệm, trên cơ sở mỗi công dân nhận thức đúng đắn và giải quyết mọi quan hệ của công dân (Khái niệm cụ thể về nhàn dân) với xã hội (Khái niệm trừu tượng về ’nhân dân) và Nhà riước (đại diện chỏ nhân dân) Mối quan hệ giữa công dân và Nhà nước là mối quan hệ giữa hai trong bạ chủ thể, nếu giải quyết đúng đắn các mối quan hệ trên, thực tế chúng ta đã giải quyết được vấn đề quyền lực thuộc về nhân dân và vấn đề tổ chức Nhà nước
Củng cố và hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và cống dân, đảm bảo sư bình đẳng của các chủ thể trong mối quan hê mà ở đó, công dân (được hiểu từ khái niệm cụ thể nhân' dân) bình đẳng với Nhà nước (là đại diện của nhân dân) là một trong nhữnơ mục tiêu của công cuộc đổi mới Cùng với việc thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, cải cách bộ máv Nhà nước, chuyển đổi nền kinh tế theo cơ ch ế mới, xây dựns tư cách con người mới Việt Nam, củng cố và hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân đều hướns tới việc xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Đó cũng là lý do mà chúng tôi lựa chọn vấn đề để làm luận án tốt nchiộp Cao học Luật
2 Mục đích nghiên cứu :
Tiếp cận nshiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và còng dân, từ đó, đề xuất những đảm bảo pháp lý để đổi mới mối quan hệ này trong điều kiện ở nước ta hiện nay Nhằm tạo ra động lực phát triển cho mỗi cá nhân và toàn bộ xã hội
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
+ Bản chất của mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và cỏne dân qua các kiểu Nhà nước
+ Bản chất mối quần hệ pháp lý giữa Nhà nước và cổng dản qua lịch sử lập hiến của nước ta
+ Nội dung cơ bản của mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân theo Hiến pháp 1992
4 Những đóng góp của luận án :
4- Từ việc phân tích bản chất mối quain hệ pháp lv giữa Nhà nước và còng dân qua các kiểu Nhà nước, dưới góc độ khái quát và đánh giá nhằ m tìm ra n h ữ n s đặc trưng cơ bản trons việc hình thành mối quan hệ pháp lý siữa Nhà nước và công dân
+ Tổng quan và đánh giá phân tích bản chất của mối quan hệ pháp
lý giữa Nhà nước và công dân qua lịch sự lập hiến ở Việt Nam
+ Nêu những thực trạng của mối quan hệ này trong hoàn cảnh Việt
N a m thời gian vừa qua, dưới góc độ khảo sát điều tra, có tổn2 kết để đánh giá những mặt được và chưa được
+ Đề xuất những đảm bảo pháp lý nhằm đổi mới và hoàn thiện mối
quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và côns dân trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu :
Sử d ụ n s các phương pháp phân tích, tons hợp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, phương pháp trừu tươns hoá khoa học để làm rõ vấn dề cần nghiên cứu
6 Kết cáu của luận án :
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận
án kết cấu 2 chương, 6 mục
Trang 9Chương 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA M ố i QUAN HỆ
GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG DÂN
1.1 Khái quát mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân trong lịch s ử phát triển của các kiểu nhà nước.
Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhủn con người là những vấn đề
có tính lịch sử lâu đời, nó là mối quan tâm của nhân loại ở mọi thời kỳ ph,át triển Mỗi bước phát triển của mối quan hệ này đều gắn liền và là thành quả của đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, phản ánh quá trình nhân loại tự giải phóng mình
Để xã hội thừa nhận, khẳng định cá nhân con người là công dân, có quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ với Nhà nước là cả bước tiến dài của lịch sử, bởi lẽ có thời kỳ, con người đã khòng được thừa nhận có tư cách bình đẳng trong mối quan hệ với Nhà nước
Trong Nhà nước chủ nô, mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân dược xác định theo thiên hướng phủ định cácrgiá trị của cá nhân, xem cá nhân là đối tượng bị thống trị của bộ máy bạo lực Những người nô lệ - thành phẩn đông đảo nhất của c h ế độ chiếm hữu nô lệ - không được xem
là những con người Họ, dưới con mắt của giai cấp chủ nô, chỉ là những con vật biết nói, số phận của họ nàm trong tav chủ nò và do chủ nô định đoạt Bản chất của mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân đó là quan hệ vô quyền của cá nhàn nô lệ đối với Nhà nước chủ nô Nỏ lệ khòng được thừa nhận là chủ thể của các quan hệ pháp luỊLt, trong xã hội chiếm hữu nô lệ chỉ có một thiểu số giai cấp chủ nô là được Nhà nước thừa nhận, bảo hộ, bởi Nhà nước chinh là cồng cụ bạo lực của giai cấp chủ
nồ, là bộ máy do giai cấp chủ nô tổ chức ra để duy trì sự áp bức bóc lột của mình đối với giai cấp nô lệ và các tầng lớp nhàn dàn lao động khác trong xã hội Cả một thời kỳ lịch sử dài hàng nghìn năm, c h ế độ chiếm hữu nô lệ đã tổn tại phủ nhận quyền con người và quyền công dân một cách tuyệt đối và tàn bạo nhất Đứng ở phương diện lợi ích của giai cấp
Trang 10giữ địa vị thống trị xã hội, giai cấp cẩm quyền chủ nỏ đã đặt lợi ích của họ
là tuyệt đối tronc xã hội, đó chính là giới hạn lịch sử khách quan Xã hội chiếm hữu nô lệ rung chuyển và sụp dổ do các 'cuộc khởi nghĩa của nhữne ncười nô lệ nhằm eiành lại quvén làm ncười mà giai cấp chủ nỏ đã tước
bỏ Ờ đó, vấn đề trội lẽn là quyền làm người, quyển tự do chứ chưa phải là lợi ích kinh tế trực tiếp, mà nhà nước phải thừa nhận, đó là bước tiến tất yếu của lịch sử
Xã hội thần dân phong kiến với cơ chế kinh tế - chính trị và hệ thống luật lệ sùng đẳng cấp, địa vị pháp lý của con người thuộc các tầng lớp bị trị trong chế độ nhà nước phong kiến tuy có được cải thiện hơn, nhưng vẫn không vượt ra ngoài phạm vi của sự áp bức bất công Quần chúng nhàn dân đông đảo dưới con mắt của các bậc vua chúa cũng chỉ là các “thán d â n ” , nhà vua tự cho mình là “ thiên tử” đại diện cho Chúa trời với tính cách là đấng tối cao của quyền năng thế tục trị vì thiên hạ, cai quản muôn dân, các “ thần dân” đều bị xem là hạng con cháu, là tôi tớ của
“ thiên tử” , số phận cuộc đời của họ tuỳ thuộc ở cách ứng xử của nhà vua
Địa vị pháp lý của con người được chia ra nhiều thứ bậc khác nhau, các đặc quyền, đặc lợi có được phụ thuộc vào địa vị thứ bậc của mình Quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân con người có được những phạm vi, mức độ quan hệ khác nhau phụ thuộc vào đẳng cấp của mình Trong Nhà nước quân chủ chuyên chế, quyền lực nhà nước tối cao tập trung trong tav một người là vua Nhà vua không phải chịu trách nhiệm pháp lý với bất kỳ một cơ quan, cá nhân nào, dù họ thuộc đẳng cấp nào
Đ ặc trưnẹ cơ bản của mối quan hệ ẹiữa cá nhân và Nhà nước
p h o n ẹ kiến là quan hệ lệ thuộc, m ột chiểu, bất bình đẳng Nhà nước có
quyền lực không bị hạn c h ế trong quan hệ với cá nhân Những quyền hạn rất ít ỏi mà con người có, được xcm là những ân huê do Nhà nước ban phát Địa vị pháp lý của cá nhân rất mong manh, không có tính ốn định Một thiểu số giai cấp địa chủ phong kiến trong xã hội có quyền lợi gắn với Nhà nước phong kiến được hưởns nhữns đặc ân, đặc quyền, được phong tước vị, công, hầu, bá, tử, nam Cùng với tước vị là gắn với điển trang, thái ấp ở mức độ khác nhau, còn nghĩa vụ thì họ được hạn chế ờ
Trang 11mức độ tôi thiểu Đại đa sô nông dân, do cơ sờ kinh tế bị lệ thuộc vào phon e kiến, thân phận người nồng dân tuy có khá hơn nồ lê trong chế độ chiếm hữu nô lệ, vì khác với chủ nô, phong kiến không có quvền giết hại
nô ne dân Nỏng dân trong chế độ phong kiến có kinh tế cá thể (ruộng đất, nhà ờ, sức kéo, công cụ canh tác) làm cho người n ổ n s dân quan tâm tới ruộnc đất Nhưng phong kiến bóc lột nông dản bằnc hình thửc kinh tế và
cả phi kinh tế, phải nộp tô, thuế cho địa chủ phon" kiến, phải thực hiện các hình thức lao dịch cưỡng bức Người nông dân sống được bằng sức lao động của mình với ruộng đất và cũng bị trói buộc vào ruộng đất, bị nhiều tầng áp bức bóc lột Những hình thức và mức độ phụ thuộc của nông dân vào phong kiến có sự khác nhau nhất định ở mỗi nước, trong mỗi thời kỳ của ch ế độ phong kiến, ỏ đây, Nhà nước phong kiến đã đảm bảo cho các quan hệ bóc lột của địa chủ phong kiến được thực hiện, xác định quyền của giai cấp địa chủ phong kiến và xác định nghĩa vụ của giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động Địa vị pháp lý của cá nhân rất
m ong manh, không ổn định vì Nhà nước có thể tuyên bố cho dân được hưởng quyền này, quyền khác, nhưng cũng có thể tuyên bò huỷ bỏ các quyền ấy, một khi thấy không có lợi cho sự thống trị bạo lực của Nhà nước
Xã hội loài người đã trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến, đám mây đen thời trung cổ làm cho dòng chảy của lịch sử vẽ lên bức tranh ảm đạm trong mối quan hệ Nhà nước với cá nhân và địa vị pháp lý của con người trong xã hội Cá nhân con người chỉ được coi là thần dân với những ns h ĩa vụ nặng nề, bị đè đầu cưỡi cổ từ thế hệ này sang thế hệ khác, với một vài quyển ít ỏi là quyền được lao động trên mảnh mộng của mình và quyển không bị giết hại về mặt thân thể Nếu như trong ch ế độ chiếm hữu nô lệ, nô lệ là kẻ vô quyền, thì trong xã hội phong kiến cũng
k h ô n s thể nói đến tự do của con người Nó đã làm cho tiến trình phát triển
c ủ a xã hội cũng không kém phần chậm chạp như c h ế độ chiếm hưũ nô lệ
Nhu cầu cần được giải ph ó n s ngày càng trở nên bức bách Vì lẽ đó, khi giai cấp tư sản GÌương ngọn cờ dân chủ, tự do, bình đảng thì cả xã hội
Trang 12đã dứng dưới ngọn cờ ấy để lật đổ ch ế độ chuyên chế phong kiến, xoá bò
xã hội thần dân, xác lập xã hội còng dân
Cuộc cách m a n s tư sản đã đưa lại nhữníi biến đổi sâu sắc trone việc xác định địa vị pháp lý mới của con ncười, làm thay đổi tính chất các quan hệ ciữa Nhà nước và cònc dàn Lẩn đầu tiên con ncười từ địa vị
“ thán dâ n” trở thành đia vi “cônc dâ n” Con người với tính cách là còne>—■ c
dân đã bước đầu được hường những quvển tự do dãn chủ nhất định Với thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản, Nhà nước tư sản đã phải tuyên bố thừa nhộn vể mặt pháp lý các giá trị nhân bản của con nsười với tính c-ách
là quvền tự nhièn thièns liêng mà “ tạo hoá” đã trao cho họ Các quỵén tự
do, binh đẳng, bác ái đã được tuyẻn bô trong c á c T u v è n ngòn nhàn quyền, trong Hiến pháp và các đạo luật của Nhà nước tư sản, đó chính là thành quà đấu tranh cách mạng do chính quần chúna lao đ ộns tự giành lấy, chứ tuvệt nhiên không phải là quà tặng hay sự hảo tâm của các thế lực cầm quyền
Con người trong kết quả của cuộc cách m ạ n s tư sản đã được giảiphóng trên hai phương diện thân thể và pháp lý, đã giành được một địa vịpháp lý căn bản trong mối quan hệ với công quyền Mối quan hệ qua lạigiữa còng dân và Nhà nước trên một mức độ nào đó đã được dân chủ hoá
và đat đến một mức đô nhất đinh của sư bình đẳnơ Tuv nhiên, cũn s cần 7
phải thấy rằng, quá trình phát triển đầy màu thuẫn của các Nhà nước tư sản đã làm cho mối quan hệ giữa Nhà nước và công dàn cũng mans đầy mâu thuẫn
Dưới áp lực của nhu cáu tự do, lẽ đươnsi nhiên giại cấp tư sản và Nhà nước của nó không thể khôn c ghi nhận ở mức độ nhất định các quyền con nsười, quvền cỏnc dân, thể hiện tập trunỉi ở chẽ’ định về địa vị pháp lý của còng dân trong Hiến pháp và các dạo luật, ơ nehĩa đó giai cáp tư san
đã xác lập một nấc thang mới trong sự phát triển cho tiến bộ xã hội
Tuy vậy, do bàn chất cúa ch ế độ tư hữu và nền dân chú thiểu số, siai cấp tư sản chì có thể thừa nhộn quyền của con ncười, quvển c òns dàn
ở giới hạn đảm bảo lợi ích và địa vị thôn2 trị của nó Vì vậy, khó có thể
Trang 13nước và c ônc đản không thể không trờ nên hình thức khi trong xã hội đó, con ncười được phàn loại eiá trị theo sự giàu nghèo Troníi lúc đó, nhu cẩu phát triển nhàn cách, nhu cầu vé tự do của mỗi cá nhàn con neưừi ncày càrm tănc lên c ùn e sự phát triển của đời sống kinh tê dân trí và các mặt xã hội khác Tự bàn thân nó, xã hội tư sản luôn tồn tại tiềm ẩn màu thuản giữa những nhu cầu ngày càng lớn về địa vị pháp lý cônc dàn với khả năng đáp ứng, đảm bảo nó của giai cấp và Nhà nước tư sản.
Chính vì bản chất đó trons các bản Hiến pháp của Nhà nước tư sản đều chi nhận tràn trọnc c h ế định về địa vị pháp lv của còng dàn, về quyén con người, quyền công dân Điều đó phản ánh thực tế khách quan, địa vị pháp lỹ của công dân trong đó quyền con người, quyền còng dân được nêu lên như là mục tiêu mặ các giai cấp cầm quyển khỏng thể trì hoãn đảm bảo tính hợp pháp về sự thống trị của chúng Mặt khác, giai cấp cầm quvền đã sử d ụ n s việc ghi nhận này như một phương tiện thúc đẩy sự phát triển xã hội mà nó đai diện
Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, sự phản bội của các thế lực tư sản phản độnc và sự thao túng của ch ú n s đối với quvền lực Nhà nước trons nhiều’ thời kỳ đã làm cho các quvền tự do dân chủ của côns dàn đứns; trước các nguv cơ bị thủ tiêu Ngày nay, dưới ảnh hưởng và tác động của các biến đổi có tính thời đại, nhiều Nhà nước tư sản dans chuvển sang mô hình Nhà nước pháp quyền tư sản, mối liên hệ giữa Nhà nước và c ô n s dân đang có những biến dổi tích cực Mặc dù vậy, Nhà nước
tư sàn đươc xây d ưn s trẽn nền tảne cơ sở kinh tế - xã hỏi là chế độ tư hữu^
C-về tư liệu sản xuất, vẫn thể hiện bản chất là công cụ chuyên chính của iiiai cấp tư sản Cho nên, dù có được pháp luật ghi nhận về quvền con ncười quvền còn e dân tronc xã hội tư sản, mỏi quan hệ bình đáng giữa Nhà nước và c ônc dân vẫn chủ vếu manc nặng tính hình thức và khònc có được các bào đảm thực tế
1.2 Bản chất và các nguyên tắc cơ bản của mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân dưới xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trang 141.2.1 Bản chất của mối quan hệ ph áp lý giưa N ha nước và còng dán dưới
x ã hội x ã hội chủ nghĩa.
Cách mạng xã hội chủ nchĩa với mục tiêu giải phóng con người khói ách áp bức bóc lột đã làm thay đổi về chất mối quan hệ giữa Nhà nước và cỏníi dân Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời có bàn chất và mục tiêu hoạt động khác hẳn với các kiểu Nhà nước chù nô, phong kiến và tư sàn Đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Một Nhà nước dàn chú thực
sự, coi việc phục vụ lợi ích của nhân dân là mục đích cao nhất trong hoạt
đ ộ n s của mình Và lần đầủ tiên trong lịch sử, quần chúng nhân 'dân lao độnc tư lập lên Nhà nước - Người đại diện cho quvền lợi của chính họ
Khác hoàn toàn với các kiểu Nhà nước trước đây, trong Nhà nước
xã hội chủ nchĩa như V.I Lènin đã chỉ rõ rằng, dưới chủ n s h ĩ a xã hội, không còn quyền lực nào khác ngoài quyền lực của chính những người lao động liên hiệp lại [25/ tr.83] Nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dàn được ghi nhận trang trọng trong tất cả các Hiến pháp của các Nhà nước xã hôi chủ nghĩa Nhân dân lao động làm chủ đất nước, mọi người đều có cuộc số ns ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân, côn2 b ằ n s xã hội và dân chủ được bảo đảm Với thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, con neười lao động từ địa vị “ nô lệ” , “lệ
th uộ c” trở thành địa vị người làm chủ trong đời sống xã hội và đời sống Nhà nước Nhà nước từ vai trò là c ô n s cụ bạo lực kìm kẹp và trói buộc con ncười đã trờ thành cỏnơ cụ phụng sự các giá trị nhân bủn của con người
Đê làm rõ bản chất pháp lý mối quan hệ giữa Nhà nước và cỏ n s dân dưới
xã hội xã hội chù nghĩa, ta cẩn đi sâu phàn tích và làm rõ nó ờ một số đặc điếm cơ ban sau dày:
Thứ nhất: Môi quan hệ qiữa N hà nước và cônq dân dược xây dựng, CÙỈĨÍỊ c ố và p h ú t triển trẽn nẹuvẻn tấc tất cả quyền lực N hà nước thuộc vè nhản d á n , do dân, vì dân.
Nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhàn dàn, do nhân dàn và vì nhân dân đều được ghi nhận trong Hiến pháp của các Nhà nước
xã hội chủ nghĩa, ơ Việt Nam ns uy ên tắc này được quỵ định từ Hiến
Trang 15pháp 1946 (Điểu 1) đến Hiến pháp 1959 (Điều 4), Hiến pháp 1980 (Điéu 6) và hiện nay được khẳng định một lần nữa tại Hiến pháp 1992 - Điều 2:
“ Nhà nước Cộng hoà xã hội chù nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhàn dàn, do nhản dủn và VI nhàn dân Tất cà các quyền lực Nhà nước thuộc về nhàn dân rnà nền tảng là liên minh giữa giai cấp cònc nhân với giai càp nônc dân và tầng lớp trí thức” Nguyên tác tất cà quyền lực thuộc về nhàn dàn chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình hình thành và phát triển mối quan hệ giữa Nhà nước vạ công dân dưới chủ nghĩa xã hội, nó
đã trở thành vấn đề nền tảng làm- thay đổi căn bản vị trí của Nhà nước trong mối quan hệ với công dân Điều này được thể hiện bời các yếu tố sau: >
* Nhân dân là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực Nhà nước Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã đưa nhàn dân ta từ vị trí “ thần
dâ n” trở thành địa vị người làm chu quyền lực Nhân dân thực sự là người chủ của quyền lực Nhà nước thòng qua việc tự mình định đoạt ra cơ c h ế thực hiện quyền lực, lập ra các cơ quan đại diện cho mình để thực thi quyền lực, tự mình giám sát, kiểm tra việc thực hiện quyển lực Bộ máy Nhà nước được nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp lập ra theo một cơ ch ế bầu cử dân chù, tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước được tổ chức theo một cơ chế đảm bảo tuân thủ quyền lực nhân dàn
* Nhàn dân sử dụng quyền lực của Nhà nước để tạo lập một xã hội trong đó không có ai bị bóc lột, bị áp bức, một xã hội ở đó, các tư tướng tự
do, binh đẳrm và bác ái, nhân quyền trở thành hiện thực Nhà nước phụ n2
•sự neuvện vọn2 và ý chí của nhân dân trong việc thực hiện hiệu quả các mục tiêu cao cả của một xã hôi tất cả vì con ncười Nhà nước chăm lo những vấn đề hàng ngày của dời sống nhân dân như cơm ăn, áo mặc, nhà
ở, học hành, sức khoẻ, việc làm và hàns loạt các vấn đề bức thiết khác có liên quan đến đời sống vật chất, văn hoá, tinh thẩn của nhân dân Nhà nước Cộns hoà xã hội chù nghĩa Việt Nam là Nhà nước từ nhàn dân mà
ra, gắn bó mật thiết với nhàn dân, phụnc sự V chí và neuyện vọns của đỏng dủo quán chúng nhân dàn
Trang 16lv Nhà nước của cônc dủn Còn đội n2 Ũ cônc chức Nhà nước phải có nghĩa vụ tòn trọns lắng nghe V kiến của nhàn dãn quan tâm đến lợi ích của nhân dân Giữa Nhà nước và còng dân luôn luôn có sự liên hệ chạt chẽ, cùng phối kết hợp với nhau để giải quyết nhữns nhiệm vụ ch u n s
c ũ n e như vấn đề riêng liên quan trực tiếp đến lợi ích của từng cá nhân riêns biẽt.*—-
Như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dàn đã làm biến đổi tính chất, nội dung mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân Nhà' nước xã hội chủ nghĩa là một tổ chức chính trị do nhân dân thiết lập nên
và được nhân dàn uỷ quyền thực thi quyền lực của toàn xã hội Trong quan hộ giữa Nhà nước và công dàn, Nhà nước vừa có quyền, vừa có nghĩa
vụ và công dân được hưởng quyền cũng phải làm nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội Nhà nước và công dân có sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Thứ hai: Môi quan hệ qiữa N hà nước và cônẹ dán dưới x ã hội x ã hội chủ nghĩa là quan hệ thốn'ị nhất v ề quyền và nqhĩa vụ pháp /v ẹiữa các chủ thể.
Trong mối quan hộ giữa Nhà nước (theo n sh ĩa chunc nhất) bao cồm các cơ quan Nhà nước và các nhàn viên cơ quan trọn2 bộ máv Nhà nước với còng dân đều có các quyền và nsh la vụ tươns xứng với nhau do pháp luật quy định và đảm bảo dược thực hiện Điều 51 - Hiến pháp 1992 quv định: “ Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; cônc dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hộ i” Tính thống nhất về
qu yể n và nghĩa vụ trong quan hệ giữa Nhà nước và c ô n2 dân nếu được tòn trọng sẽ đảm bảo cho quyền lợi của cả phía Nhà nước và từ phía công dân đểu kh ôn c bi xâm hai Tính thốn2 nhất ấv luôn luôn đươc duy trì, củnc cố
và bảo vệ, phát triển để đám bảo lợi ích của Nhà nước, xã hội và của cả
Trang 17công dàn Tính theme nhất về quvền và nehĩa vụ của mòi quan hệ ciữa Nhà nước và công dân ờ nước ta được thể hiện rõ trorm chẽ định “ Qu ye n
và nghĩa vụ của công dân" và các ch ế định khác trong Hiến pháp 1992
Sư thay đổi bủn chất của Nhà nước tronc chù nchĩa xã hỏi đã và đan<z làm thay đổi bản chất mối quan hè £Ìữa Nhà nước và còn c dãn tronc lĩnh vực quyển và nchĩa vụ Sự thav đổi ấy đã phù định quan niệm xưa nav cho rằ ns các quyền tự do dân chủ của cò n s dân đéu bắt nguồn từ Nhà nước, do Nhà nước quy định, tuv thuộc cách nhìn nhận của Nhà nước đôi với thần dân Với quan niệm như vậy, dã biến iNhà nước thành kẻ có quyền ban phát các ân huệ cho nhân dàn Sự thật quyẹn tự do dân chủ của nhàn dân chính là thành quả đấu tranh và lao độ n s của bản thân quán chúng nhân dân, họ tự giành lấy các quyền tự do dân chủ vốn là sản phẩm lao đ ộn" của chính-họ trong sự phát triển xã hội
Quyển làm người vốn là các quyền cùa tạo hoá, nó thuộc về chính bản thân con người không thể bị tước đoạt Trải qua sự phát triển củ a lịch
sử, bằng lao động sáng tạo của mình trong lao động sản xuất vật chất và tinh thần quần chúng lao động không ngừng làm phong phú thêm về số lượng và nội dung các quvền con neười, nâng chúng lên thành các quyền
tự do dân chủ trong các lĩnh vực chính trị kinh tế, văn hoá, xã hội Như vậy các quvền tự do dân chủ là nh ữn s quyền thuộc về bản chất củ a con người nó không nảy sinh lừ Nhà nước, không là đối tượng định đoạt của Nhà nước Các Nhà nước bóc lột trước đây đã dùng bạo lực tước đoạt các quyền đó từ tay quần chúng nhàn dân, rồi tự mình phân phát các quyền
ấy Chính sự trớ trêu ấy của lịch sử đã tạo ra sự bất công tronc mối quan
hệ ciữa Nhà nước và cònc dân [ 16/ tr 23, 24],
Dưới Nhà nước xã hội chủ nghĩa, vị trí vai trò của Nhà nước đã thay đổi, từ địa vị của kẻ áp đặt Nhà nước đã chuvển sang địa vị củ a đối tác bình đảng tronc quan hệ với công dàn Quyển tự do dân chủ của cô ng dàn không còn tuỳ thuộc vào Nhà nước mà tuỳ thuộc vào thực trạng của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Mỗi bước phát triển tăng cường và
mở rộng các quyền tự do dân chù của nhàn dân về số lượnc và nội dung các quyền ấy
Trang 18do dân chủ củ a còng dàn phù hợp với trình độ phát triển của đời sống chính trị, kinh tế văn hoá của xã hội Mặt khác, bằng tất cả sức mạnh của mình, Nhà nước đảm bảo cho các quyển tự do dân chù của cô n s dân không chi được ghi nhặn mà còn dược ih'tc hiện và tôn trọng trẽn thực tế Nhà nước tạo các điều kiện thuận lợi về chính trị, kinh tế, văn hoá, tổ chức pháp lý để mỗi công dân, mỗi nhóm người thực hiện đúng đắn có hiệu quả các quyền của mình, đồng thời ngăn ngừa, trấn áp moi hành vi xâm hại đến quyề n tự do dân chủ của công dân.
Tính chất bình đẳng và tôn trọng lãn nhau giữa Nhà nước và công công dàn trong mối quan hệ về quyền, nghĩa vụ của Nhà nước và công dân được pháp luật quy định một cách chặt chẽ Theo locic thông thường, quyền củ a còng dân bao giờ cũng là nghĩa vụ tương ứng của Nhà nước và nsươc lại n c h ĩa vụ của còna dàn cũng chính là quyền tương ứng của Nhà nước Dưới chù neh ĩa xã hội, Nhà nước mà biếu hiện cụ thể là các cơ quan N h à nước và các nhân viên trong cơ quan Nhà nước với tư cách là một chù thể trong mối quan hộ với bèn kia là cá nhân công dàn, cá hai loại chủ thể này đều có quyền và nchĩa vụ do pháp luật quy định Trong mối quan hệ đó, Nhà nước coi quyền của cá nhân còng dân là níihĩu vụ pháp lý của mì nh mà các cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước phái có trách nhiệm thực hiện Ngược lại dối với cá nhân công dân cũn-ỉi vậy, trong quan hệ giữa Nhà nước và cá nhâii dưới chủ nghĩa xã hội khònc cho phép tổn tại quan hệ một bên chỉ có quyển bên kia chỉ có 11 chĩa vụ Vì thế khi nói tới hệ th ốn c các quyền và nghĩa vụ cùa côns dân c ũ n s chính là nói đến hệ t h ố n s các quvền và nghĩa vu tươrm ứnc của Nhà nước
Trang 19T r o n ẹ hệ thônc pháp luật nước ta, mòi quan hệ Nhà nước và cá nhãn c ò n e dân chưa có sự kết hợp thốns nhất thành hệ thống các quyền và nghĩa vụ ph áp lý giữa các chú thể Chế định trách nhiệm pháp lý của cơ quan N h à nước và nhàn vièn Nhà nước cũng chưa dược quy định cụ thê
Vì vậv tình trạns; vi phạm các quvển của cá nhân con người từ phía Nhà nước vẫn cò n xảy ra Do nhận thức khòns d uns mối quan hộ biện chứng giữa N h à nước và cá nhân c ônc dàn sẽ dẫn tới tách đỏi môi quan hệ này trẽn thực tế, từ đó đẻ ra tình trạng nhàn danh Nhà nước để vi pham các
mì nh nó trở thành phương tiện để chuyển hoá làm cho quvền và nchĩa vụ pháp lý được thực hiện Điều đó đòi hỏi Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan và 'nhân viên Nhà nước phải có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho
cá nhàn cô n g dân tham gia tích cực vào các quan hệ pháp luật bằns các hành vi hợp pháp
Q u a n hệ pháp luật giữa Nhà nước và công dân nội duns của nó là các qu y ể n và nghĩa vụ pháp lý của mỗi bên do pháp luật quv định chính
là điều kiện thưc tế để c ô n2 dân thoát ra khỏi nhữns cấm đoán vỏ lv, đươc thực hiện nhữníi gì mà pháp luật không cấm, chônc lại sự lộníi quyền từ phía Nhà nước, cản trở và lạm dụng quyền của họ Như vậv khi trao cho các thành viên của xã hội các quyền và quy định trách nhiệm pháp lý cùa
họ, các quy phạm pháp luật ấy trở thành biện pháp tự do của họ trong
q u a n hệ pháp luật Do đó việc nâng cao văn hoá pháp lý tronc nhàn dân là nhu cẩu cấp bách để nâng cao tính tích cực pháp luật của cônc dân trong mối quan hệ với Nhà nước
Trang 20Thứ tư: Dán chủ lù nét dặc trưng, lừ mục đích đồn (Ị thời cũng là
độ nạ lực xuyên suốt mối quan hệ Nhà nước và cỏnq dán dưới chù nghiã
x ã hội.
Dân chủ, nếu xét về ncuổn 2ỐC lịch, sử, dược hiểu là “Chính, quyển nhàn d â n ” , từ gốc chữ La tinh “ demon” - nhãn đủn và “ kratoa” - chính quvén Đến nay, dân chú được coi như là một phươnc thức, cơ ch ế quản lý
xã hội tronc đó nhân dân làm chủ quyền lực Nhà nước, đồnc thời là nguyên tắc hoạt động quản lý và sinh hoạt xã hội Dân chủ là nét đặc trưns, mục đích, động lực của mối quan hệ giữa Nhà nước và công dãn dưới chủ nghĩa xã hội
Tính chất dân chù xã hội chủ nghĩa của mối quan hệ giữa Nhà nước
và công dân, được phản ánh trên các mặt sau:
* Bộ máy Nhà nước được tổ chức và hoạt động dựa trên ncuyèn tắc bảo đảm sự tham gia ngày càng đông đảo của công dân vào quản lý Nhà nước (Điểu 53 - Hiến pháp 1992)
Các Cơ quan hành pháp, tư pháp phải báo cáo c ô n s tác trước cơ quan quvền lực Nhà nước (cơ quan do dân bầu ra), chịu sự giám sát của các cơ quan đó và của mọi công dân Nếu vi phạm nguyên tắc này, thì bộ máy Nhà nước sẽ trở nên quan liêu, xa rời quần chúng và không có sức mạnh
Ngoài ra, còng dàn còn có các quyền khác như khiếu nại, tố cáo với
cơ quan có thẩm quvền về nhữnc việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước; tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi cơ quan Nhà nước trưng cầu V kiến nhân dân Sư tham gia của còng dân vào quản lv Nhà nước còn là phươnc pháp tốt nhất để ngăn chặn tệ quan liêu, hách địch, cửa quvền tham nbũns và lạm quyền trong bộ máy Nhà nước
* Nhà nước xã hội chú nghĩa luôn luòn tôn trọng và bào dám thực hiện quyền con người, quyển công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp
và pháp luật Với tư cách là tổ chức quvền lực chính trị, một tổ chức c ô n2 quyền phục vụ xã hội, Nhà nước xã hội chủ ns:hĩa là Còn2 cụ thực hiện,
Trang 21bào vệ qu về n con ncười của cônc dàn, chiu trách nhiệm trước còne dàn và
có na hĩa vụ đối với còng dàn Trong hoạt độrm hàng ngàv cùa các cơ quan Nhà nước, nguvèn tắc ứng xử của các cơ quan Nhà nước đôi với dân được xác định là “ chỉ được làm những gì pháp luật cho phép” Các cơ quan Nhà nước chỉ được hoạt độnc trong giới hạn thẩm quyền được pháp luật quy- định Sự hạn ch ế khả năng tự do hành độn<z cùa các cơ quan công quyền trong điều kiện xã hội dan chủ là nhàm loại bỏ nguy cơ lạm quvển khi các
cơ quan này xử lý các côns việc có liên quan đến quyén lợi của cône dân, đảm bảo sự tôn trọng các quvền và lợi ích chính đánc cho công dân trong mọi lĩnh vực mà pháp luật đã quy định Quan điểm này được thể hiện rõ nét ờ Điểu 50 - Hiến pháp 1992: “ ỏ nước Cộns hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bác quyề n con người về chính trị, dân-sự, kinh tế, vãn hoá và xã hội được tồn trọng, thể hiện ở các quvển côns dân được quy tụ trong Hiến pháp và L u ậ t”
* N h à nước và cụ thể là các cơ quan Nhà nước, cán bộ, nhàn viên
N hà nước phải chịu trách nhiệm pháp lý khi có những hành vi trái pháp luàt xâm pham quyền và lợi ích hợp pháp của cồng dân Điều 12 - Hiến pháp 1992 quy định: “Mọi hành động xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp củ a công dân đều bị xử lý theo pháp luật”
* Trong phạm vi xã hội, côns dân được tự do ý chí và Nhà nước thừa 'nhận b a n s pháp luật Phạm vi tự do của con người trong xã hội chủ nchĩa cắn liển với trách nhiệm pháp lý, họ phải chịu trách nhiệm về hành
vi cùa họ Công dân được tự do hành độnc trons giới hạn mà pháp luật đã định ra Sự “ tự do ” là quyền được làm tất cả nhữns điều mà pháp luật khỏ nc cấm Nếu một cônc dân làm một việc trái pháp luật, thì khi đó anh
ta không còn sự tự do nữa Bằng pháp luật, Nhà nước ấn định các quyén tự
do cho công dân, xác địn.h rõ những phạm vi xã hội mà ờ đó, công dân dược tự do V chí, tự do hành động nhàm dạt dược V nguyện của mình Mọi công dàn đều phải tôn trọng quvcn tự do cá nhân của nhau [10/ tr 6]
Như vậy, quyển tự do của công dân chỉ trở thành thực tế khi được Nhà nước thừa nhận, bão đảm và bảo vệ Nsược lại, quvền tự do của công dàn dược Nhà nước thừa nhận sẽ là điều kiện quan trọns đế củng cố cơ sở
Trang 22Pháp c h ế Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một chè độ đặc biệt của dời
so ns chính trị - xã hội, nội d u n s cơ bản cùa nguvên tác pháp chế xã hội chù nghĩa tronc mối quan hệ giữa Nhà nước và côn" dân là phài thiết lập được trạng thái mà ở đó, Nhà nước (gồm các cơ quan Nhà nước, các nhân viên trons các cơ quan Nhà nước) phải tuân thủ pháp luật và tạo điều kiện cho cá nhân côn c dân làm đúnc pháp luật Mặt khác, công dân cũng phải nghiêm chỉnh tuàn theo pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật của cơ quan và nhân viên trong cơ quan Nhà nước
Đối với đời sống Nhà nước, pháp ch ế là một trong những nsuyên tắc cơ bản để tổ chức và hoạt động bộ máy Nhà nước Trong đời sống xã hội, pháp c h ế là một trong những nguyên tắc cơ bản để tổ chức và hoạt động các tổ chức xã hội, là nguyên tắc xử sự giữa các công dân với nhau
và là cơ sở để thiết lập, củng cố và phát triển nển dân chủ xã hội chủ nghĩa Điểu 12 - Hiến pháp 1992 quy định: “ Nhà nước quản lý xã hội bầng pháp luật, khồnơ ns;ừng tănc cưỜTỊS pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật Có thể nói, pháp c h ế xã hội chủ nchĩa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình thực hiện mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và côns dân Thông qua phươnc tiện pháp luật, được biểu hiện dưới hình thức pháp luật, mối quan hệ ciữa Nhà nước và cò n s dân mà nòi du nc của nó là quyến và nch ĩa vu ciữa hai>— • » / 1 J '—- • 1—bên được bảo đảm thực hiện Pháp luật k h ô n s chỉ quy định rõ ràrm các chức năng, nhiệm vụ, quvền hạn, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, côna chức Nhà nước, quvền và nghĩa vụ của công dân, mà còn xác lập những điều kiện đủm bảo cho việc thực hiện nó trong mối quan hệ giữa Nhà nưóc và cổng dân Pháp luật là cônc cụ có hiệu quả trorm tay Nhà nước nhầm tổ chức, quàn lý và điều hành xã hội, điều chỉnh những hành
vi của c ô n s chức Nhà nước, của công dân, song đổng thời, pháp luật cũn2
Trang 23Tuy nhiên, để pháp luật thực sự có hiệu quà và mọi cơ quan, tổ
chức, cá nhân còna dân thực sự hiểu nó, chấp hành nghiêm chỉnh, cần
phải có sự phổ biến, giáo dục và tuyên truyền sâu rộng Có như vậy thì
pháp c h ế xã hội chủ nghĩa, mới kh ỏn s n s ừ n s được tăng cường và củng cố
còng dàn trong môi quan hệ ph á p lý g iữ a Nhà nước và còng dàn theo
lịch sứ lập hiến Việt Nam.
Hiến pháp - đạo luật cơ bản của mỏi quốc gia xét vể mặt lịch sử ra
đời nó gắn liền với cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ quân chủ chuvên
chế ơ nước ta tư tưởng về một nền lập hiến đã xuất hiện từ năm 1926 khi
Hổ Chủ Tịch khẳng định "nếu được độc lập, Việt Nam sẽ xếp đặt một
Hiến pháp về phươnơ diên chính tri và xã hội theo lý tưởns dân quyền"
Xuất phát từ tư tưởng đó, ngay sau ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
được thành lập, Quốc hội khoá I nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã
thônơ qua Hiến pháp năm 1946
'Việc tnành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà giành độc lập ùân
tộc đã làm thay đổi địa vị pháp lý của nGười dân Việt Nam Trước cách
m ạ n s T h á n e Tám, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, v ề
mặt chính trị cũng như pháp lý người dân Việt Nam lúc đó khôns có
quốc tịch k h ô n s được gọi là côns dàn v ề mặt lịch sử ở các nước tư bán
quyền con ncười, quyền cône dân gắn liền với cách mạng tư sản, thì ờ
Việt N am quyén làm người và quyề.n công dân gắn liền với cuộc cách
m ạng giành lại độc lập dân tộc, xoá bỏ ch ế độ thực dân phong kiến Lán
đầu tiên trone lịch sử Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 đã chi nhặn quyền
và nghĩa vụ c ô n2 dàn - một trong những nội dung cơ bản nhất của Hiến
pháp
Lịch sử lập hiến của nước ta được thể hiện qua bốn bản hiến pháp,
kể từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Qua mỗi bản Hiến pháp ch ế độ quyền
Trang 24và nghĩa vụ của cône dân lại được sự phát triển mới phản ánh tiến trình xày dựnc một xã hội dân chủ và công dân Xuvèn suốt quá trình phát triển
ấy là những vấn đề có tính nguyên tắc, thể hiện bủn chất của xã hội ta tronc ván đề quvền con người Nghiên cứu lịch sử phát triển cua chế độ quvển và nghĩa vụ cơ bản của còng dàn được thể hiện qua 4 bản hiến pháp
Sự nhất trí giữa quyển và lợi ích riêng của cá nhân công dân với lợi ích chung củ a toàn xã hội trước hết thể hiện ờ mục tièu của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo đó là xây dựng một xã hội thực sự mang lại tính nhàn bản, một xã hội như vậy đòi hỏi phải xử lý hài hoà các quan
hệ về lợi ích cá nhân công dân với xã hội Điều 54 Hiến pháp 1980 quy định "kết hợp hài hoà những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân, bảo đảm sự nhất trí về lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và
cá nhàn theo nc uyè n tắc mỗi người vì mọi người và mọi người vì mỗi neười"
Trong ch ế độ ta, Nhà nước thuộc về nhàn dân, các mục tiêu và lợi ích của Nhà nước và xã hỏi khònc có 21 ncoài vièc tao ra moi khả năng và
cơ hội cho sự phát triển của mọi cá nhàn Sự phát triển của mỗi con người
là điều kiện cho sự phát triển của toàn xã hội Sự suns túc, ấm no, hạnh phúc của mỗi con neười là điều kiện cho sự phồn thịnh, cho phúc lợi Chuns và cho sự phát triển ván minh của xã hội Hiến pháp 1992, Điều 3 khàn c đinh muc tiêu của cách mans Viêt Nam là: "Xây dưn.2 một đất nước giàu mạnh, thực hiên công bàng xã hội, mọi người có cuộc sống ấn
no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện" Trong còng cuộc
Trang 25đổi mới trẽn đất nước ta hiện nav phương chàm "đùn giàu, nước mạnh, xã hội công bằng vãn minh" đã thể hiện mọt cách khái quát mối quan hẹ hài hoà siữa lợi ích của con ncười với sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển của cá nhân phủi đàm bào hài hoà với phát triển chunc của toàn xã hội Mọi sự phát triển của cá nhàn kể cà làm giàu khỏnc thể thực hiện đối lập với lợi ích c h u n s của xã hội, của cộng đỏng,
vì nếu thực hiện điều đó sẽ làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các còn c dân khác' Mọi hành vi lợi d ụ n s quyền tự do cá nhàn để thực hiện các lợi ích ích kỷ của mình, bất chấp lợi ích hợp pháp của người khác, chà đạp lên lợi ích chung của Nhà nước và của xã hội đểu phải bị pháp luật nghiêm trị Pháp luật Nhà nước ta đòi hỏi ở mỗi công dân tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện các quyển tự do dàn chủ của mình sao cho quyền và lợi ích hợp pháp cùa công dân khác không
bị xâm hại, lợi ích chung của Nhà nước, củ a xã hội được tôn trọns
♦ Sự thốnq nhất qiữa quyền và nqhĩa vụ cônẹ dân.
Sự thống nhất giữa quyển lợi riêng và cá nhàn công dàn với lợi ích chunc của xã hội dẫn đến sự nhất quán ơiữa quyền và nghĩa vụ của công dân
Quyển công dàn và nghĩa vụ của cô ng dân là hai mặt không thể tách rời mặt này khòns thể tồn tại nếu thiếu mặt kia tronc mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thànỉi phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đều bình đảng vớị nhau về quyền và nghĩa vụ Sự hạn c h ế lớn nhất trong tư tườníi tư sán về bình đáng giữa các cỏns dãn là nó chì thừa nhận sự bình đảng vè quyền mà không đề cập đến sự bình đản c của nghĩa vụ Còn quan niệm của chúne ta về sự bình đẳng của cônc dân là bình đẳng về quyển và nghĩa vụ Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa k h ô n s thể có hai loại công dàn - một loại chi được hưởns quyền và loại khác chỉ gánh vác nchĩa vụ, trách nhiệm Thực tế cho thấy quyền công dân chỉ có thể được đàm bảo trên cơ
sờ c ỏ n2 dân thực hiện, bời vi chính sự thực hiện nchĩa vụ ấy là để phục vu cho sự phát triển cá nhàn mình và tạo điều kiện cần thiết cho sự phát triển của cá nhân khác Mối quan hệ qua lại cùng có trách nhiệm giữa Nhà
Trang 26nước và c ònc dàn và giữa cône dân nàv với công dàn khác chi tôn tại và
bào dảm khi mỗi người, tronc khi được hường các quyền phải thực hiện
nhữnc nch ĩa vụ mà pháp luật đã quy định
Với tinh thần ấy, cả bôn bản Hiến pháp nước ta đổu ghì nhận
nguyên tắc quvền còng dàn khônc tách rời nghĩa vụ còng dân, coi đó là
một trons những điều kiện tiên quyết để xác lập và thực hiện mối quan hệ
pháp lv nói chung, quan hệ pháp lý cơ bản nói riêng giữa Nhà nước và
công dàn dưới chủ nghĩa xã hội (Điểu 6 Hiến pháp 1946; Điều 22 Hiên
pháp 1959; Điều 54 Hiến pháp 1980; Điều 51 Hiến pháp 1992) Ngoài ra,
một trons những quy định mới của Hiến pháp 1992 mà ba Hiến pháp
trước chưa có, là quy định về cơ sở pháp luật để xác lập quvền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân Điều 51 Hiến pháp 1992 quy định: “ Quvền và nshla
vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” Như vậy, chỉ có Hiến
pháp - đạo luật cơ bản và các luật khác quy định các quyền và nghĩa vụ
của còng dân, còn các văn bản pháp luật khác cụ thể hoá và hướng dẫn
thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó Quy định này của Hiến pháp còn
nh ằm ngăn ngừa và loại bỏ tình trạng cơ quan Nhà nưóc, nhàn viên Nhà
nước tuỳ tiện đưa ra n s h ĩ a vụ này, nghĩa vụ kia của công dân, cố tình gày
phiển h à cho họ khi họ đến các cơ quan Nhà nước
của dàn chủ và x ã hội cônq dân.
C ô n s dân bình đẳng trước pháp luật k h ò n s phủi là một đòi hỏi, một
nhu cầu mang tính tư tườnc cách mạng mà là một nguyên tắc hiến định
dược quy định trong nhiều bàn Hiếri pháp của các quốc gia phát triển
Hiến pháp 1946, Hiến pháp dđu tièn ở nước ta đã quy định ờ điều 7: "Tất
cả các c òne dàn Việt Nam đều bình đảng trước Pháp luật, đéu dược tham
nia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của
mình" Điều 22 Hiến pháp 1959 quy định : "Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà đều bình đảng trước pháp luật" Hiến pháp 1980 quy
định ở điều 55: "Mọi côn c dân đều bình đảng trước pháp luật " Các diều
quy định này tiếp tục được khảng định tại điều 52 của Hiến pháp 1992
Trang 27nước đối xử giông như cỏnc dân khác trong những điều kiện, hoàn cảnh như nhau: mọi công dân đều hường các quvền và đều phải làm nghĩa vụ như nhau, khô ng phân biệt nsười đó là ai, thuộc thành phần xã hội nào tình trạng tài sản ra sao, theo tôn giáo nào, giữ chức vụ gì trong bộ máy Nhà nước; bất cứ ai vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật.
Binh đẳng không chỉ thuần tuý là một quyền của công dàn mà đồng thời là n s u y ê n tắc chung đối với mọi quyển và n s h ĩ a vụ của công dân, là
ns u y è n tắc cần quán triệt trong quá trình lập hiến, lập pháp, lập quy cũng như trona việc chấp hành pháp luật, do đó nó là một ncuyên tác của pháp chế Quvền bình đẳng trước pháp luật với tính cách là một tư tưởng xuvên suốt chế định quyền và nghĩa vụ của còng dân được thể hiện ở các mặt sau
r - Bất cứ cônc dân nào cũ n s có những quyền và nghĩa vụ Hiến pháp
Tuv vậy, sư bình đẳng trước pháp luật củầ-cônc dàn khòne cỗ nchĩu
là mọi công dân đều đươc đôi xử giốn s nhau mòt cách máy móc Mỗi cá nhàn đều có đặc điểm riẻng về thể chất và tinh thần, về tuổi tác, hoàn cảnh
2 Ĩa đình, điều kiện làm việc, trình độ học vấn, kinh nchiệm nchổ nshiệp, thu nhập sự khắc biệt đó là tất nhiên phải được tính tới khi áp dụng pháp luật để đàm bảo công bằng xã hội và tính nhàn đạo của pháp luật xã hội chù nghĩa Chính vì thế mà Hiến pháp Việt Nam, từ Hiến pháp đầu tiên đến Hiến pháp hiện hành đều có nhữne quy định ưu tiên cho nhữns dối tượng, nh ữn g nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt như thương bệnh binh
Trang 28ilia đình liệt sĩ, phụ nữ, trẻ cm, dặc biệt là những trẻ em mổ cỏi không nơi
nươne tựa, người già, người tàn tật, người chảng may mác bệnh xã hội
ncuy hiểm
Bình đ ản c trước pháp luật còn bao hàm nội duns quyển bình dang
íziữa các dân tộc trone quan hệ với Nhà nước Các dân tộc sòng trẽn đất
nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Đày là nguyên tác
bao trùm, xuyê n suốt toàn bộ lịch sử lẠp hiên Việt Nam và được ghi nhộn
ở tất cả các Hiến pháp (Điều 6 Hiến pháp 1946; Điệu 4 Hiên pháp 1959;
Điều 5 Hiến pháp 1980; Điều 5 Hiến pháp 1992-) Ngoài ra, nó còn thể
hiện ờ qu yền bình đẳng nam nữ trong mọi lĩnh vực (Điểu 9 Hiên pháp
1946; Điều 24 Hiến pháp 1359; Điều 63 Hiến pháp 1980; Điều 63 Hiên
pháp 1992) thể hiện thái độ và trách nhiệm của Nhà nước quyết tâm giải
phónc phụ nữ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phụ nữ đóng góp xứng đáng
hơn vào cô ng cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
N s u y ê n tắc hiến định về quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi
công dàn được cụ thể hoá ở nhiều đạo luật, bộ luật của các ngành luật
khác nhau Ví dụ, bộ luật tố tụng hình sự quy định, tố tụng hình sự dược
tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,
không ph àn biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị
xã hội; bất cứ neười nào pbạm tội đều bị xử lý trước pháp luật (Điểu 4)
Bộ luật dân sự ghi nhận nguyên tắc bình đẳng giữa các bên trons quan hệ
dân sự; các bên không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành
phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá,
nghề nghiệp dể đối xử khônc bình d a n s với nhau Luật hôn nhân và gia
đình c ũ n s xác nhận và bảo vệ nguyên tấc bình đảng giữa vợ, chổne trẽn
mọi phương diện nhầm xây dựng gia đình dân chủ hoà thuận, hạnh phúc,
bền vững (các điều 1,10-18)
bản của c h ế định quyển và nqhĩa vụ cứa cỏnq dân có ỷ nqhĩa thực tiễn.
Trình độ phát triển kinh tế xã hội của đất nước bao giờ cũng quv
định trình độ phát triển các quyền và nch ĩa vụ của công dân Quyền cônsi
dàn nhiều hay ít, cao hay thấp cơ bủn khỏnc; phụ thuộc vào V chí của Nhà
Trang 29Trình độ phát triển kinh tế xã hội của đát nước bao giờ cũng quy định trình độ phát triển các quyén và nghĩa vụ cùa còng dàn Quyển cồng dân nhiều hav ít, cao hay thấp cơ bàn kh ỏns phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước mà phụ thuộc vào trình độ trạng thái phát triển khách quan của xã hội Xã hội càng phát triển thì tính chất, trình độ, nội dung, phạm vi các quyển của cònc dân càng được tăng cườrm Một khi các quyén và nghĩa
vụ của còng dân được quy định phù hợp với trinh độ phát triển kinh tế xã hội thì các quy định đó có tính khả thi cao vì lúc đó tronH xã hội có đủ các điểu kiện cơ sờ vật chất để đảm bảo cho công dân thực hiện có hiệu quả các quyền và nchĩa vụ theo quv định của Pháp luật Trong xã hội trật tự pháp luật được đảm bảo, pháp ch ế được thực hiện thì cống dân mới yên tàm tin tưcms vào Pháp luật Nsược lại nếu xuất phát từ chủ quan duy ý chí mà quy định các quvền của công dàn quá cao, quá rộng thoát ly trình
độ phát triển điều kiện hiện thực của xã hội; lúc đó các quyền này sẽ trở nên hình thức Với quy định duy ý chí, mang nội dung tuyên truyền nhất
là trong giai đoạng hiện nay trình độ dân trí và thông tin đang có những bước phát triển thì việc quy định những quycn như vậy sẽ đẩy cồng dân đến thất vọng, mất lòng tin vào tính khả thi và giá trị nhân bản của pháp luật trong chế độ ta
Nhìn tổng quát, các bản Hiến pháp nước ta đã cố gắng thể hiện được tính hiện thực của quyển, nghĩa vụ cơ bản của Nhà nước và công dân
ở mỗi giai đoạn phát triển cùa đất nước Tuy vậy, nếu nghiên cứu kỹ các quyền cơ bản của công dân trong từng lĩnh vực cụ thể, ở mỗi thời kỳ lịch
sử cụ thể thì có thể thấy rằng tính hiện thực đó khôn c phải lúc nào cũnc được bào đảm, thậm chí k h ỏ n s có ở một số quvén cơ bủn như quyền có việc làm (Điều 58), quvển học tập không phải trả tiền (Điều 60), quyền được chữa bệnh không mất tiền (Điều 61), quvền có nhà ở (Điều 62) của Hiến pháp 1980 Khi Hiến pháp đã quy định nhữnc quyền cơ bản của cỏn e dân mà không có cơ sở vật chất bảo đảm thực hiện thì cũng đặt Nhà nước vào tình trạng lúng túns, không biết xoav sờ ra sao để thực hiện những cam kết dối với còng dân mà đạo luật cơ bàn đã ghi nhận Cho nên, đàm bảo tính hiện thực của các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và cons
Trang 30vươt bàc tronc vièc bảo đảm tính hièn thưc của các quyên và nghía vụ cơ
bản của Nhà nước và cỏnc dàn Cùnc với việc sửa dổi bổ sung những quy
dinh đã có của Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 còn xác lâp thèm những
quv định mới, nhất là trong cầc chương về c h ế độ kinh tè, văn hoá, khoa
học, giáo dục, về quyền và nghĩa vụ cơ bản của còng dàn, phù hợp với
trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội và dân trí ở nước ta hiện nay
N hà nước và cônẹ dân.
Khác với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 1992 đưa vào một
điều-mới về quvển con nsười Điều 50 quy định: “ơ nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người vể chính trị, dân sự, kinh tế,
văn hoá và xã hộỉ được tôn trọng, thê hiện ở các quyền công dân và được
quy định trong Hiến pháp và Luật” Việc ghi nhận quyển con người trong
Hiến pháp, đổng thời cũng gắn liền quyển con người với qu yề n cồng dân
là một trong những bằns chứng; thuyết phục bác bỏ các luận điệu của các
thế lực thù địch trong và ngoài nước xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta xung
quan h vấn đề “ quyền con người” Tư tường về quyền được sống, quyền tự
do và mưu cầu hạnh phúc của con người đã được Hồ Chủ tịch khởi thảo
trong bản Tuyèn nsôn độc lập đọc trước quốc dân đổng bào, khai sinh ra
nước Việt Nam độc lập, tự do từ ngày 2/9/1945 Tư tưởng lập hiến vì con
người, cho con nsười của Bác Hổ được Nhà nước ta thấm nhuần và trở
thành mục tiêu đấu tranh phấn đấu Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở thời
chiến hay thời bình mọi hoạt động của Nhà nước đều lấy quyền con
người, lợi ích của con ncười làm cơ sờ để hoạch định và thực hiện các chủ
trươne chính sách pháp luật
Trước đây, trone tư duy chính trị pháp lý ở các nước xã hội chủ
nghĩa, khái niệm về quyền con ncười “ Nhân qu yền” không được dùng tới
vì những: lý do có tính lịch sử Một mặt, do các thế lực thù địch luôn
chống phá, xuyên tạc trèn lĩnh vực này, mặt khác, trone nhận thức ở các
nước xã hội chù nchĩa vấn đề quyền con nsười chưa được đặt đúng tâm
của nó, họ đơn siản hoá, đổng nhất giữa quvền con người với quyền cone
dân, khòng quan tàm nghiên cứu vấn đề quvền con neười với tính cách là
Trang 31một khái niệm độc lập so với quyền công dân Việc ghi nhận quyền con ncười khi đi vào quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bàn của công dân tronc Hiến pháp 1992 đã thể hiện một bước tiến mới về nhận thức của Nhà nước ta tronc việc tiếp thụ những giá trị tiến bộ của tư duy chính trị pháp lý nhãn loại.
Việc ghi nhận quyền con ncười vào tronc Hiến pháp còn thể hiện sự hoà nhập của nước ta vào việc giải quyết những vấn đề chung của cộng đổng quốc tế Đây cũng là bước chuyển-cam kết quốc tê thành luật quốc gia, tiếp tục xác định ở cấp độ Hiến pháp những vấn đề mang tính nhàn loại mà Nhà nước ta là một thành viên
Ghi nhận quyền con người, nhưnc Hiến pháp 1992 không tách rời quyén con người với quyển công dân vì nội dung cơ bản của quyền con người ở mỗi quốc gia chính là quyền công dân Mặc dù về chủ thể thì quyền con người và quyển công dân không đổng nhất, nhưng đó không phải là hai chủ thể độc lập riêng biệt mà chủ thể quyền con người rộng hơn vì nó bao gồm cả những người côns dân và những người không phải
là cônc dân như người ngoại quốc, những người bị pháp luật tước quyền còng dân Chủ thể của quyền công dân là một bộ phận lớn, tuyệt đại đa số trong dân cư Khi nói đến quyền con người, không phải là nói đến con người trừu tượng mà nó gắn liền và được thể hiện ở quyền công dân
1.3 Hiên pháp 1992 - Bước phát triển mới về mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân.
Mối quan hệ pháp lv eiừa Nhà nước và c ỏ n s dân xét đến cùne là việc xác lập quyền và nghĩa vụ của các chù thể tron" mối quan hệ ấy như thế nào ? Như đã đề cộp khi nói tới nsuvèn tác tất cả quyên lực thuộc về nhàn dân “được xét trons mối quan hệ 2 Ĩữa Nhà nước - xã hội - cỏns
d â n ” Với tư duy pháp lý mới, dựa trên nền tảng của dân chủ xã hội chủ nchĩa thì các chủ thể được đặt trong mối quan hệ với tư cách bình đẳns, bời lẽ Nhà nước là dại diện của nhàn dủn Mối quan hệ pháp lý giữa Nhà
Trang 32nchĩa thi các chù thể được đặt trong mối quan hệ với tư cách bình đảng, bời lẽ Nhà nước là dại diện cùa nhủn dủn Mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và côn c dàn khi xét tronc tương quan binh đảng của các chù thể thì phủi xét các quyền và nsh ĩa vụ cùa còn<z dàn được quy định trong Hiến pháp như thế nào?
Các quyền và nchĩa vụ của c ô n s dân ờ nước ta ncàv càns được mở
r ộ n s và hoàn thiện hơn trons các bản hiến pháp So với các Hiên pháp
1946, 1959, 1980, chế-định về quyền và n chĩa vụ của công dân trong Hiến pháp 1992 m a n s tính hoàn chỉnh và cụ thể hơn, thể hiện một quá trình phát triển liên tục về phương diện chính trị, pháp lý cũng như phương diện kỹ thuật lập hiến
Sau khi công cuộc đổi mới do Đáng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta có nhữna biến đổi quan trọng trên các mặt đời số ns chính trị, kinh
tế - xã hội Đặc biệt, ý thức dân chủ đựơc nâng lên, nhu cầu về tự do dân chủ trờ lên bức xúc, trở thành nhân tố độn g lực quan trọng thúc đẩy sự
p h á t triển của đời sống kinh tế - xã hội Phản ánh nhữns biến đổi đó, địa
vị pháp lý của cô n s dân - thể hiện bàng quyền và nshĩa vụ công dàn dược hiến pháp ghi nhân và quy định đầy đủ, hợp lý và m an s tính khả thi hơn
Vè kỹ thuật lập hiến, quyền và nghĩa vụ cônc dàn tron" Hiến pháp
1992 được thể hiện rõ ràng hơn, các quyền được shi nhận cụ thể với ngôn ngữ pháp lý chặt chẽ, chuẩn xác Ỏ chươns quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trons Hiến pháp 1946 có 18 điều, Hiến pháp 1959 có 21 điều, Hiến pháp 1980 có 28 điều thì Hiến pháp 1992 shi nhận và quy định 34 điều tr o n s tổna số 147 điều cùa toàn bộ Hiến pháp
Hiến pháp 1992 đã phản ánh nhận thức cùa Nhà nước ta có bước phát triển mới, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội tron2 2 Ĩai đoạn đổi mới Hiến pháp 1992 ra đời đánh dấu một bước hết sức quan tronỉi đối với c h ế định quyên và nahĩa vụ cơ bủn của cỏns; dân trong các
Trang 33điều kiện lịch sử nước ta Hiến pháp 1992 dành một chương V dể ghi nhận các quyên và nghĩa vụ cơ bàn cùa còn<z dãn Quan niệm là các quyên
và nghĩa vụ cơ bán vì Hiến pháp khôna thể ghi nhộn hết các quyền và nchĩa vụ cùa côn s dàn mà chi chi nhận dươc các quyền và nghĩa vụ cơ bàn nhất íiọi là các quvền, nghĩa vụ Hiến pháp Những quyền cùa công dàn được 2 hi nhận trons Hiến pháp là nchĩa vụ cùa Nhà nước, Nhà nước
có trách nhiệm thực hiện hoặc bào hộ việc thực hiện các quyền đó và qua
đó thể hiện rõ mối quan hệ eiữa Nhà nước với cônc dàn Trone Hiến pháp
1992 các quv phạm pháp luật quv định các quyền của cộng dàn có thể khái quát thành các nhóm sau đây :
* Nhóm các quy định ch uns
* Nhóm các quyền về chính trị
* Nhóm các quyền về tự do cá nhàn
* Nhóm các quyền về kinh tế xã hội
* Nhóm các quyền về neười Việt nam ờ nước n20 ài và nsười nước ngoài ở Việt nam
Trong 5 nhóm trên, khi nghiên cứu bản chất và các nguyên tắc cơ bán trons mối quan hệ pháp iý giữa Nhà nước và côns dân, ta đã nghiên cứu thòng qua các đặc điểm và ncuvèn tấc được ghi nhận ờ nhóm các quy định chung, do đó ở phấn này ta chỉ nehiên cứu các nhóm còn lại: đó là các quyền về chính trị, tự do cá nhàn, quyền kinh tế - xã hội và quyền của neười Việt Nam ớ nước ncoài và ncười nước ncoài ờ Việt Nam
♦ N h ú m cúc quyên vẻ chính trị :
Các quvền tự do về chính trị trons lịch sử lụp hiến là quvền xuất hiện sớm nhất Loại quyên này sán liên với ch ế dộ dân chủ, ch ế độ thừa nhận quvền lực nhân dân tronc quàn lý đời sống xã hội
Trone cách rnạn2 tư sản với neọn cờ dãn chù íiiai cấp tư sản dã tập truns được quần chúng nhân dân đấu tranh lật đổ Nhà nước quán chủ
Trang 34xã hôi tư sản, những người lao độnc bình thường chỉ được tham dự đời
số ns chính trị xã hội ờ siới tiạn không làm tổn hại đến trật tự vá lợi ích của 2Ìai cấp tư sản
Dưới chế độ ta, các quyền tự do chính trị được coi là cơ sở để hình thành chế độ Nhà nước dàn chủ Khi quan niệm trong xã hội ta quyền lực thuộc về nhàn dân, nhàn dân là chủ thể quản lý cao nhất của Nhà nước và
xã hội thì các quyền về chính trị trở thành tiền đề để thiết lập và bảo đảm các quyền khác
Trước đây, do áp dụng máy móc, giáo điều quan niệm quyết định luận kinh tế vào lĩnh vực quyền công dân, cho nên trong nhận thức xã hội
c ũ n s như trong tư duy pháp lý, các quyền kinh tế Ịuôn được nhấn mạnh
hà n s đầu, còn các quvền chính trị được xếp sau với logic là có các quyền kinh tế thì các quyền khác mới có cơ sở thực hiện Và như vậy, Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa thường đề cao các quyển kinh tế, coi các quyền kinh tế là cơ sở để hình thành các quyển khác Trên thực tế quyền con người, quyền công dân luôn luôn là một thể thống nhất, khó có thể coi quyền nào quan trọng hcm quyền nào, đặt quyền nào lên trước quyền nào Việc nhấn mạnh các quvền kinh tế thườnc dẫn tới coi nhẹ các quyền chính trị, xã hội, văn hoá và tư do cá nhàn, làm cho các quvển này khồntĩ tránh khòi hình thức
Trons nhận thức và tư duy chính trị - pháp lý hiện nay về quyền con người, quyền cỏng dân thì việc “ ưu tiên” các quvển về chính trị, dân sự là nhân tố làm cho các quyền về kinh tế - xã hội được thể hiện và thực hiện;
và “các quvển về chính trị, dân sự, do vậy, được quan niệm là hạt nhãn
Trang 35quan trọnc nhất đổ xảy đựnc xã hội cònc dùn Đó là những quyền đàm bào cho sự phát triển tự do của con ncười, bào đàm quyển làm chủ của còng dàn đối với chính quyổn Nhà nước của mình Đó cũng là cách tốt nhất để tănc cườns nhữne 2 Ìá tri và truyen 'thống dản chủ trước khi các tiền đề kinh tế chín muồi”
Bầu cừ và tự ứns cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước (Điéu 54 Hiến pháp 1992) là một quyền chính trị quan trọng nhất của công dân, một trong nhữns đặc trưng quan trọns nhất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa Nhờ quyền bầu cử, mà nhàn dân có thể lựa chọn những người ưu tú nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của mình vào các cơ quan quvển lực Nhà nước để giải quyết những vấn đề quan trọng nhất của đất nước liên quan tới quốc kế dân sinh Đó là phương thức văn minh, tiến bộ nhất để xác lập Nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa, qua đó công dân thực hiện quyền của mình trên phạm vi toàn xã hội
Quyén bầu cử và ứng cử của còng dân được quy định từ Hiến pháp
1946 (Điều 18) Các Hiến pháp sau này - Hiến pháp 1959 (Điều 23), Hiến pháp 1980 (Điểu 57) và Hiến pháp 1992 (Điều 54) - tiếp tục ghi nhận quvền bầu cử và ứng cử của công dân và các nsuyên tắc của chế độ bầu
cử, nhưng quy định rõ hơn nguyên tắc phổ thòng đầu p h iế i r - một trons những nguyên tắc quan trọng nhất của ch ế độ bầu cử xã hội chủ nghĩa, không đặt ra bất cứ điểu kiện gì về kinh tế, văn hoá, xã hội Điểu 54 Hiến pháp 1992 quy định: “ Cônc dân, không phân biệt dân tộc nam nữ, thành phấn xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn
cư trú (Hièn pháp 1946 chi quy định " K h ò n s phàn biệt gái trai”), đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bẩu cừ và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồnc nhân dân theo quy định của pháp luật Việc mở rộng, không hạn chế nàv của Hiến pháp đối với quvền báu cử vù ứng cử của công dân thể hiện tính chất dàn chủ,- tiến bộ, sự ưu viết cùa chế độ báu
cử trons Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Quvền tự do bầu cử và ứns cử theo nGuvên tác phổ thôns: bình đảnu được Hiến pháp tư sản ehi nhận mậc dù vậy trons luật bầu cử của nhiều nước tư sản vẫn đặt ra nhiều điều kiện để hạn chế trên thực t ế quyên bầu
Trang 36cừ ứn s cừ Ví du theo diêu kiện về cư trứ quyền bàu cừ chi thuộc về người thườnc trú ờ một địa phươrm nào dó nhất định, diều kiện này hiện đang đươc nhiêu nước tư sàn quy định như Canada, muốn có quyền bàu cử phủi thườns trú ờ khu vực bàu cừ 12 thán s (ờ Đức 3 tháng, ờ Nauy 5 năm .)
Vè điều kiện tài sản, ờ Niudilủn vẫn giữ quy định người có tài sàn dưới
1000 b àne có 1 phiếu bầu, từ 1000 - 2000 bảng có 2 phiếu bầu, trên 3000
b àn c có 3 phiếu bâu
Q u yên ứng cử trorm xã hội tư sản bị khống chế bời các điêu kiện khát khe hơn Vè mức tuổi để được ứnc cử vào Hạ nshị viện phải từ 23 -
25 tuổi trở lên, Thượng nghị viện từ 30 - 40 tuổi trở lên’' Điều kiện ờ một
số nước, người muốn ứns cử phải đặt ra một số tiền cược nhất định Trên thực tế đa số ứng cử viên là các nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp, các nh à kinh doanh, luật sư được sự ủng hộ của các Đảng tư sản Những người lao động bình thườns, những người thuộc tầng lớp dưới chiếm tỷ lệ
h ế t sức th ấp trong S.Ố nhữ ng người ứng cử
Ỏ nước ta thể hiện bản chất của nền dàn chủ đa số, dân chủ cho người lao động, thống nhất với các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 1992 tiếp tục ghi nhận quvền bầu cử và ứng cử của côna dàn một cách rộng rãi không đặt ra bất cứ điều kiện nào, điều đó thể hiện bản chất dân chủ và tính nhàn dàn của chế đô chính tri ở nước ta đảm bảo để nh ữn s ngừơi lao đ ộ n s binh thườns tham gia vào cơ quan quyên lực Nhà nước cao nhất, bàn bạc và quyết định nhữrm công việc quan trọns nhất trons đời s ố n s của đất nước, đời so ns xã hôi Đáy là biểu hiện khỏns thể có
tr o n2 chế độ bầu cử của nền dân chủ tư sản
Trong các quyền chính trị của công dân thì quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội (Điều 53 Hiến pháp 1992) là một trons những quvền quan trọne đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ của mình đối với Nhà nước và xã hội Đổng thời nó cũng thể hiện sinh độrm bản chất
Trang 37dản chủ và nhàn dân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong đó nhản dân là chủ thể tối cao cùa quyền lực Nhà nước (Điều 2 Hiỏn pháp 1992).
Trorm lịch sử lập hiến Việt Nam, quyền của còng dân được tham cia quàn lý Nhà nước và xã hội được quỵ định tai Hiên pháp đau tiên - Hiến pháp 1946 Điều 7 Hiến pháp 1946 quy định: “Tất củ cỏng dân Việt Nam đều bình đảng trước pháp luật, đéu dược tham gia chính quyển và còng cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mì nh” Nội dung điều luật này phản ánh bản chất dân chủ nhân dàn của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnc hoà - Nhà nước công nònc đầu tiên ở Đông Nam châu
Á Trong Hiến pháp 1959 không có quy định về quyển tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của công dân Hiến pháp 1980 khôi phục lại quyền này bàn s điểu 56: “Công dân có quyền tham gia quản lý công việc chung của Nhà nước và của xã hội” Tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá quyền này của công dân, Điều 53 Hiến pháp 1992 quy định: “ Công dân có quyền tham sia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn để chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dà n” Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, sự tham gia của nhàn dân là một trong nhỡn? nguyên tắc cơ bàn, sự tham gia của công dân vào quản lý Nhà nước và xã hội, một mặt đảm bảo cho Nhà nước luôn giữ được bủn chất dân chủ và nhân dân, thật sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Mặt khác, sự tham gia của côns dân vào quản lý Nhà nước còn là một biện pháp quan trọng để ncăn ngừa, hạn chế, đi tới loại bỏ tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyển, tham nhũne trong bộ máy.Nhà nước
Còng dân thực hiện quyền tham gia quủn lý Nhà nước và xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau: c ò n2 dân bầu những rmười có đức, tài vào các cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội và Hội đổng nhàn dân các cấp) hoặc tư ứns cử vào những cơ quan này; thảo luận aóp ý kiến xây dựns Hiến pháp và pháp luật; đề dạt với cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội những vấn đề thuộc lợi ích chung hoặc cóp V kiến xây dims để cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội cải tiến hoạt độn" của mình nhằm đạt hiệu quả cao hơn; done góp ý kiến về xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá,
Trang 38xã hội cùa Nhà nước; tham gia hoạt động ở các đơn vị cơ sở như cơ quan
xí nghiệp, trườnc học, khu dủn cư; tham gia kiểm trã, giám sát sự hoạt động cùa các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
Ghi nhận quvèn tham sia quản lý Nhà nước và xã hội của công dàn trorm Hiến pháp, Nhà nước' ta quán triệt bàn chất dân chù nhàn dàn của
ch ế độ dàn chủ XHCN Cùrm với quvền bầu cử, úng cử, quyền tham gia quàn lý Nhà nước của cô ns dàn, Hiến pháp khảng định quyên dân chú về chính trị của công dàn nhàm thựe hiện nguyên tác quyền lực thuộc về- nhàn dân
Quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của công dàn thể hiện tính trực tiếp của quyền lực nhàn dân trons đời s o n s quản lý Ncoài nhữnc phươns thức đại diện ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nsh la thể hiện ở phươns thức trực tiếp, mỗi công dàn tự mình tham gia quyết định các vấn đề quan trọns trong đời sống cộns đồng Vê hình thức quyền nàv thể hiện rất p h o n s phu đa dạns như : quyền tham gia thảo luận vấn đê chuns, quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước, quyền đónơ góp ý kiến Trong thực tế đời sốns xã hội ở nước ta, các hình thức này đã trở thành thônẹ lệ trong đời sốne sinh hoat chính tri của nhàn dân Với các hình thức này, mỗi côns dân tự mình trực tiếp đ ổ n s só p V kiến vào các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước Thôna qua đó mà V chí, trí tuệ của nhàn dân ảnh hưởnc đến các quyết dinh của Nhà nước Thực tiễn xác nhận đó là một kinh rishiệm, một hình thức dàn chủ được Nhà nước ta thực hiện một cách nhất quán và có hiệu quả Chỉ riêng đợt sinh hoạt chính trị lấy ý kiến đ ó n s 2Óp chuẩn bị cho việc thôna qua Hiến pháp
1992, cả nước đã có trên 9 triệu lươt nạừơi tham 2 Ìa vào thảo luân đón2 2Óp ý kiến và kiến nghị xây clựns Hiến pháp mới
Để côn<z dân thực hiện có hiệu quả quyền tham sia quản lv Nhà nước và xã hội, Hiến pháp cũng xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan Nhà nước và công chức Nhà nước Đối với Nhà nước nói
Trang 39chuim thì nghĩa vụ cơ bàn là báo dàm và không ngừng phát huy quyền
làm chủ về mọi mặt của công dân Đối với cơ quan Nhà nước'và công
chức Nhà nước thì nghĩa vụ chính là phủi tổn trọng đủn, tận tuỵ phục vụ
dàn, liên hệ chặt chẽ với dân láne nghe ý kiến và chịu sự giám sát của
dân, phải kiên quyết đấu tranh chốnc mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch,
cửa quyền, tham nhũng
Để cụ thể hoá những quy định này của Hiến pháp trong các luật vổ
tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, như Luật tổ chức Quốc
hội ngày 15/04/1992, Luật tổ chức Chính phiu nsày 30/09/1992,-Luật tổ
chức Toà án nhân dân ngày 06/10/1992, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân
dân nsà y 07/10/1992, Luật tổ chức Hội đổng nhàn dân và ũ ỷ ban nhàn
dãn ngày 21/06/1994, Nhà nước đã xác định nhữnc quyền và nghĩa vụ cơ bản của các cơ quan này trong việc bảo đảm quyền cuả công dân được
tham gia quản lý Nhà nước và xã hội
được hội họp, lập hội vù biểu tình là những quyền thuộc n h ó m quyền dân
chủ về chính trị được quy định tại Điều 69 Hiến pháp 1992 Đày là nhữns
quyền mà một xã hội dân chủ không thể thiếu được, là chuẩn mực để xác
nhận xã hội đó nhân dân có tư do, có quyền lực thật sự hav khôns Nhữns
quyền quy định ở Điều 69 có ý nchĩa quan trọne trons cơ cấu các quvền
con người, quyền cône dân
Trone lịch sử phát triển, mỗi khi xã hội ở vào giai đoạn trì trệ, các
quyền con ncười bị vi phạm nghiêm trọns thì nhu câu về các quyền tự do
ngòn luận, tự do báo chí nổi lên, thể hiện tinh thần phán kháng, yêu tự do
và sự tiến bộ, do dó trở thành một nhân tố 2 Ĩúp xã hội vượt khỏi sự trì trệ
Mặt khác, mỗi khi các quyền nói trên khòng được tôn trọns, xã hội luòn ờ
vào tình tr ạn s bào thủ trì trệ, các quyền con nsừơi bị vi phạm Điều đó thể
hiện tính chất chính trị của các quvền tự do ncôn luận, báo chí, lập hội,
biểu tình Và thực chất, dây là hình thức biểu hiện quyền lực của nhân dãn
khi các quyền và lợi ích hợp pháp của CÔI12 dân bị xàm phạm
Trang 40Nhà nước xã hội chù nghĩa tôn trọnc và bào đàm các quyển tư do dàn chù về chính trị của công dủn là để thực hiện tư tường của Mác: "Sự phát triển tự do của mỗi ncười là điều kiện phát triển tự do của tất cà mọi neười" Các văn bàn pháp lý quan trọng về quyền con người đều ghi nhận quyền của con ncười được tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp
tự do lập hội, biểu tình như tuyên ncôn toàn thế giới về nhàn quyển (các điểu 19, 20, 21); Công ước quốc tế về các quvền dân sự và chính trị (các điều 19, 21, 22); Cóng ước quốc tế về các quyển kinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 8)
Các quýền tự do dân chủ về chính trị của công dân được ghi nhận tronc tất cả 4 bản Hiến pháp Việt Nam Hiến pháp 1946 naay từ đầu rất chú trọng đến việc quy định các quyền tư do dân chủ về chính trị cho công dân, những chủ nhân mới của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, phù hợp với nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là “ Bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ” (Lời nói đầu Hiến pháp 1946) và với nguyên tắc lập hiến là “ đảm bảo các quyền tự do dân chủ” (Lời nói đầu Hiến pháp 1946) Các quyển tự do dân chủ về chính trị đó đã góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và phát triển nền dân chủ nhân dân Hiến pháp 1959 tại Điều 25, bổ suns quyền tự do biểu tình và sửa tên một số quyền cho chính xác hơn về mặt ngôn từ, cụ thể là đổi tên quyền tự do xuất bản thành quyền tự do báo chí,
tự do tổ chức thành tự do lập hội Ncoài ra, Điều 25 còn xác định nghĩa vụ của Nhà nước là phái “ Bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để c ô n2 dân được hưởng các quyển đ ó ” Những điểm bổ sung mới này của Hiến pháp 1959 vừa thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội mới, vừa phản ánh trình độ phát triển cao hơn của xã hội Việt Nam so với thời kỳ kháne chiến chống Pháp Hiến pháp 1980 được xây dựng theo quan điểm về quyền làm chủ tập thể của nhân dàn lao đ ộ n2 , kết hợp hài hoà những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân, bảo đảm sự nhất trí về lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và cá nhàn theo nguyên tấc mỗi người VI mọi người, mọi người vì mỗi ncười (Điều 54) Do đó, Hiến pháp
1980 một mặt tiếp tục ghi nhận năm quyền tự do của cônc dân - tự do