N h iệm vụ và pham vi n g h iên cứu của để tài: Đề tài hướng tới hai nhiệm vụ cụ thể: một là làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngo
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO• • • B Ộ T ư P H Á P
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ MAI ANH
NHỮNG VẤN ĐỂ Cơ BAN VỂ TRÁCH NHIỆM
TRONG BỘ LUẬT DÂN s ự• • •
LUẬN ÁM THẠC s ĩ LUẬT HỌC * • • •
T H Ư V I Ễ N
TRỊ/ÕNG ĐẠI HỌC I.U Ạ Ĩ H À MÔI“** * 1 * A " / " '* T
PKOKG ĐCC
Trang 3BỘ GIÁO D Ụ C VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư P H Á P
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Lê M ai Anh
NHŨNG VẤN ĐỀ Cơ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM
B ồ í THUỒNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐồNG
TRONG BỘ LUẬT DÂN s ụ
C huyên ngành: L uât dân sư
Ma số: 5.05.07
LUẬN ÁN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯÓNG DẪN KHOA HỌC PTS ĐINH VĂN THANH
Trang 5MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP c ụ THỂ CỦA Bồl THƯỜNG THIỆT HẠI
3.1 V ân đề bồi th ư ờ n g th iê t h a i do người có th ẩm
qu yền của cơ quan tiế n h à n h tô tu n g gây ra 80
3.1.1 K h á i n iệ m v ề người có tb Á m q u y ề n tiế n h à n h các
hoạt động tố tụng và cơ quan tố tụng 81
Trang 63.1.2 Giải quyết p h ầ n bồi thường thiệt hại và việc hoàn
trả khoản tiền bồi thường thiệt hại ở trường hợp người có 8 3
thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gdy ra \ ■ C Y'
3.2 G iải q u y ế t b ồ i th ư ờ n g th iệ t h ạ i do n g u ồ n n gu y
3.2.1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ 90
3.2.2 Nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 92
Trang 7Lời m ở đ ầ u
1 T ín h cấp th iế t củ a v iệ c n g h iê n cứ u đề tài:
Vấn đề trách nhiệm nói chung là một vấn đề rất thông thường của đời sống một quốc gia cũng như đời sống sinh hoạt quốc tế.
Luật pháp của nước nào cũng đều đế cập đến vấn đề trách nhiệm của người
có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác.
Khi một quy phạm của luật pháp không được tôn trọng thì không có nghĩa
là quy phạm đó không còn giá trị, mà trái lại, cần phải có những biện pháp thích ứng để đối phó với kẻ đã không tôn trọng pháp luật M ọi sự đối phó có
tính chất trừng phạt này đều bao hàm ý nghĩa "trách nhiệm" của pháp luật Và
vai trò căn bản của sự trách nhiệm ấy được thể hiện trong m ọi hệ thống luật thực định của quốc gia, nhằm bảo vệ những quan hệ và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân, của xã hội.
Lý luận về trách nhiệm pháp lý trong hệ thống pháp luật của các quốc gia tiến bộ ngày nay rất đa dạng và phong phú bao gồm nhiều loại trách nhiệm khác nhau nhưng cơ bản vẫn là trách nhiệm hình sự và trách nhiêm dân sư, trong đó trách nhiệm dân sự luôn đòi hỏi sự bồi thường thiệt hại đã gây ra Sự bồi thường thiệt hại được xác định ở hai quan hệ: quan hệ bồi thường từ việc xác lập một hợp đồng dân sự và quan hệ bồi thường từ hành vi trái pháp luật (gọi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng).
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định độc lập của luật dân sự các nước nói chung cũng như của Luật dân sự Việt Nam nói riêng Trong Bộ luật dân sự Việt Nam (có hiệu lực ngày 1/7/1996), lần đầu tiên, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng được ghi nhận một cách cụ thể Nó là một trong những nội dung thể hiện bước đổi mới iớn trong lĩnh vực xây tíựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của các quan
hệ dân sự trong nước Nó là căn cứ Dháp lv chủ yếu để Tòa án áp dụng khi giải
Trang 8quyết các khiếu kiện về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được thấu tình, đạt lý, thực thi được sự nghiêm minh của pháp luật.
/ Song, khi đi vào những nội dung chi tiết cụ thể của chế đinh bổi thường
thiêt hại ngoài hợp đồng mà Bộ luật dân sự Việt Nam đã ghi nhận ở chương V,
mục 3 và rải rác ở các phần khác trong Bộ luật này, vẫn nhiều điều cần được làm sáng tỏ cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng Nhiều điều luật mới chỉ
dừng lại ở tính chất định hướng mà chưa có tính chất đinh lượng V iệc nghiên
cứu để iàm sáng tỏ các quy định trong Bộ luật dân sự phải là một việc làm thường xuyên và cần thiết, nhất là trong điều kiện chưa có văn bản hướng dẫn
cụ thể việc thi hành Bộ luật dân sự như hiện nay.
Vì vậy, tác giả cho rằng tiến hành nghiên cứu vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việc làm hữu ích cần thiết trong khuôn khổ chương trình đào tạo hệ Thạc sỹ Luật dân sự Với nhận thức phù hợp đó, tác
giả đã lựa chọn đề tài: "N hững v ấ n đ ề cơ b ả n v ề tr á c h n h iệ m b ồ i th ư ờ n g
th iệ t h ạ i n g o à i hợp đ ồ n g tr o n g B ộ lu ậ t d â n sự" là đề tài tốt nghiệp cho
chương trình đào tạo Thạc sĩ luật học của mình.
2 Sơ lư ợ c tìn h h ìn h n g h iê n cứu củ a đề tà i này:
Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một nội dung quan trọng trong pháp luật dân sự của các nước.
Ở nước ngoài, chế định này được nhiều nhà nghiên cứu khoa học pháp lý
đề cập, trong đó có những công trình đã được công bố như công, trình của một loạt các tác giả S.Mimov, M.M Agarkov, V.P.Pobdopylo (Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết cũ), Palemana (Cộng hòa Pháp), Vicodavarkallo (Balan)
Còn ở Việt Nam, trước khi Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự thì thòng qua một số tạp chí ngành và bài viết của một số tác giả, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng cũng đã được quan tâm tới, nhưng còn hạn chế và mới chỉ dừng lại ở giảng dạy trong một số trường đại học.
"Từ khi Bộ luật dân sự bắt đầu có hiệu lực, chế định đó đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều người, nhưng mới chỉ là một vài bước đi mạnh
Trang 9dạn ban đầu Tình hình đó đặt ra cho bước đi tiếp của luận án này những nhiệm vụ sau:
3 N h iệm vụ và pham vi n g h iên cứu của để tài:
Đề tài hướng tới hai nhiệm vụ cụ thể: một là làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng để giúp việc áp dụng, hiểu biết các quy định của Bộ luật dân sự thêm phần hiệu quả, từng bước hoàn thiện chế định này trong pháp luật dân sự V iệt Nam.
Hai là nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng nghiên cứu, giảng dạy pháp luật dân sự trong trường đại học đào tạo các chuyên khoa luật Từ thực tiễn nghiên cứu đề tài, xây dựng và đề xuất một số ý kiến sát thực tế nghiên cứu, giảng dạy, áp dụng phần chế định này, nhằm giảm bớt những khó khăn trong giải quyết bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hiện nay.
Đây là chế định rất đa dạng và phức tạp của luật dân sự nên để tài chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu những quy định cơ bản chung của Bộ luật dân sự, có kết hợp xem xét một vài hình thức cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng, chẳng hạn bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, hoặc bổi thường thiêt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
4 Cơ sở lý lu ận về phư ơng pháp n g h iên cứu
•Cơ sở phương pháp luận tổng quan chung của toàn bộ luận án là dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và khoa học lý luận chung về Nhà nước và pháp luật.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể để tiến hành luận án gồm: phương pháp phân tích, chứng minh, thống kê, từ những quy định chung để đi đến giải quyết những lĩnh vực cụ thể, rồi từ đó quay lại phân tích và khẳng định những quy định chung.
Trong khi nghiên cứu, tìm hiểu và tiến hành luận án, sẽ cố gắng tìm hiểu
và tham khảo các tài liệu xét xử, và giải quyết việc bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở Việt Nam, kết hợp tham khảo quy định của pháp luật một số nước
về vấn đề này.
Trang 105 Đ iểm m ới và ý n g h ĩa th ự c tiễ n củ a v iệc th ự c h iệ n đ ề tà i
5.1 Đ iể m m ớ i củ a lu ậ n á n : Luận án là một công trình cá nhân nghiên
cứu một cách có hệ thống về quy định của Bộ luật dân sự đối với chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng Phương pháp nghiên cứu vừa khái quát, vừa chuyên sâu các quy định cơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
Bộ luật dân sự của tác giả cùng với một số đề xuất mới phần nào đem lại những hiểu biết đúng và cần thiết về vấn đề này Trên nền kiến thức cơ bản, tác giả cố gắng không lặp lại những gì mà một số công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến.
5.2 Ỷ n g h ĩa thực tiễn
'Trên cơ sở tham khảo những án văn có tính chất điển hình tại ngành tòa án nhân dân, tác giả đã cố gắng phác thảo những nét chung và những vấn đề có tính chất đặc thù trong việc thực thi pháp luật Hy vọng của người thực hiện đề tài này là mong được góp một phần rất nhỏ vào tiếng nói chung của những người có tâm huyết và khả năng nghiên cứu để hoàn thiện dần chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tương lai xây dựng nhà nước pháp quyển Việt Nam.
6 N ội d u n g cơ bản củ a luận án
Luận án được kết cấu theo những chương mục sau đây:
Luận án gồm lời nói đầu, 3 chương, một vài ý kiến kết luận và trao đổi rút
ra từ quá trình nghiên cứu đề tài.
Phần mở đầu nên rõ lý do chọn đề tài cũng như những vấn đề về tình hình ngbiên cứu đề tài, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài, cơ sở lý luận cùng phương pháp nghiên cứu, những nét mới và ý nghĩa của việc thực hiện đề tài này.
Chương 1: "Một s ố v ấ n đ ề cơ b ả n v ề trá c h n h iệm b ồ i th ư ờ n g th iệ t
h ạ i n g o à i hợp đ ồ n g "
Nội dung chủ yếu của chương này nhằm làm sáng tỏ khái niệm cơ bản về trách nhiệm dân sự nói chung và khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng với các đặc điểm pháp lý chủ yếu, so sánh với một
Trang 11số chế đinh trách nhiệm dân sự khác Chương 1 tác giả còn nêu rõ nguyên tắc của giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng cũng như việc xác định rõ năng lực chịu trách nhiệm bồi thưòng của cá nhân để từ đó có tiền đề lý luận giải quyết những vấn đề trong chương 2.
Chương 2: "Vấn đ ề xá c đ ịn h v à tín h to á n bồi th ư ờ n g th iệ t h ạ i n g o à i
h ợ p đồng"
Ở chương này, trước hết tác giả đề cập đến những căn cứ của việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên những yếu tố có tính điều kiện như
có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan
hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật và hành vi gây thiệt hại là hành vi có lỗi, để từ đó xác định các loại thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Qua phân tích các căn cứ để xác định những thiệt hại nói trên, luận án nêu rõ các hình thức bồi thường và mức bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự Sau khi giải quyết những vấn đề mấu chốt này, tác giả tìm hiểu một số trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cụ thể
M ộ t s ố ý k iến ở p h ầ n cu ối củ a lu ậ n án:
Trong phần này tác giả đưa ra một vài ý kiến vừa có tính chất kết luận đề tài đồng thời vừa trao đổi những vấn đề mà tác giả thấy cần phải làm rõ hơn nữa trong quá trình thực hiện Bộ luật dân sự ở nước ta hiện nay.
Trang 12CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỂ Cơ BẢN VỂ B ồ i THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HƠP đ ồ n g
•1.1 K hái n iệm trách n h iệm b ồi thư ờng t h iệ t h ạ i n g o à i hợp đ ồn g
1.1.1 V ề tr á c h n h iệm d â n s ự
Xã hội, như Mác nói, là tổng hòa của các mối quan hệ đa dạng, phức tạp
Sự tổn tại của cơ cấu phức tạp đó đòi hỏi phải được bảo đảm điều tiết bằng một thứ công cụ hữu hiệu, đó là pháp luật Và cũng chính từ cơ chế điều chỉnh
đa dạng ấy của pháp luật mà nhiều mối quan hệ giữa các cá nhân con người được thiết lập, trong đó có mối quan hệ về nghĩa vụ dân sự ''Có thể hiểu nghĩa
vụ dân sự trong quan hệ pháp luật dân sự là một bộ phận không thể tách rời của nội dung quan hệ pháp luật, trong đó một bên (người có nghĩa vụ) bắt buộc phải thực hiện một hay một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia Ch.o nên, khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết, kể cả thực hiện không đúng những nghĩa vụ do luật định thì phải gánh chịu về mình những hậu quả bất lợi về vật chất, hoặc tinh thần Sự gánh chịu hậu quả bất lợi này
được thực hiện thông qua việc giải quyết "trách nhiệm dân sứ' giữa người có
quyền và người có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm theo nguyên tắc bên có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Bồi thườn2 thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là một chế định được hình thành
từ cổ xưa trong luật dãn sự của một số nước.
Về nghĩa vụ, luật dân sự La Mã ngay từ xưa đã định nghĩa: "Là những ràng
buộc pháp lý và theo đó chúng ta buộc phải làm một việc g ì đó phù hợp với pháp luật Nhà nước của chúng ta" Và theo một nghĩa khác thì nghĩa vụ cũng
Trang 13được hiểu là "buộc một người nào đó phải đem lại hay làm m ột cái gì đó cho
chúng t à ' Nghĩa vụ theo luật La Mã được phân biệt thành nghĩa vụ từ hợp
đồng và nghĩa vụ từ việc vi phạm pháp luật Sự vi phạm pháp luật dân sự là sự
vi phạm pháp luật có liên quan đến quyền lợi của công dân, nên người vi phạm phải có trách nhiệm đền bù hoặc chịu hình phạt Các dạng vi phạm pháp luật dân sự trong luật dân sự La Mã là hành vi xúc phạm nhân cách, xâm phạm thân thể, trộm cắp hoặc làm hư hỏng, hủy hoại tài sản của người khác, kể cả hành vi sử dụng đồ vật mà không có quyền sở hữu đồ vật đó Theo luật xn bảng, kẻ trộm cắp quả tang hoặc bị phát hiện sau khi khám xét đều bị hình phạt đánh đập và giao cho kẻ bị hại xử lý Nếu ăn trộm về ban đêm hoặc bằng
vũ khí thì có thể bị giết ngay tại chỗ nếu bị bắt Sau này, pháp luật La Mã mới cấm người bị hại tự xử lý đối với kẻ ăn cắp Người bị hại được pháp luật dành cho quyền khiếu nại để lấy lại tài sản bị đánh cắp và kiện phạt đền.
Chế định trách nhiệm dân sự xuất phát từ thực hiện nghĩa vụ cũng để lại dấu ấn khá rõ trong luật cổ Việt Nam, điển hình là hai Bộ luật Hổng Đức và Gia Long.
Điều 591 Bộ luật Hồng Đức ghi: "Người đòi nợ không trình quan mà tự ý
bắt đồ đạc của cải của người mắc nợ, nếu quá s ố tiền trong văn tự thì xử ph ạt
80 trượng, tính những của cải ấy trả cho người có nợ, còn thừa thỉ trả cho người mắc nợ" chứng tỏ, Bộ luật Hồng Đức cho phép bắt đồ đạc để trừ nợ nếu
việc trừ nợ không vượt quá số tiền cho vay.
Tương tự, Điều 134 của Bộ luật Gia Long cũng cấm các chủ nợ không được tự tiện bắt gia súc hay tài sản của con nợ và không được bắt thân nhân của con nợ làm nô tỳ Người gây thiệt hại có thể nộp một số tiền chuộc để tránh sự trả thù.
Quy định về tiền bồi thường trong Bộ luật Hồng Đức kèm theo tính chất
của hình phạt, ví dụ như Điều 29 ghi rõ: Tiền đền mạng ấn định tùy theo phẩm
trật của kẻ bị chết, cụ thể: Nhất phẩm, tòng nhất phẩm được đến 15.000 quan;
Trang 14nhị phẩm, tòng nhị phẩm 9.000 quan; tam phẩm, tòng tam phẩm 7.000 quan;
tứ phẩm, tòng tứ phẩm 5.000 quan cứ như vậy cho đến thấp nhất là thứ nhân trở xuống là 150 quan.
Trường hợp kẻ vi phạm đánh người gây thương tích, thì ngoài phải chịu
hình phạt đánh roi; còn phải bồi thường cho nạn nhân như sau: "Sưng phù thì
đền thương tổn 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy ngón tay một răng thì đền 10 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan, Nếu là đọa thai chưa thành thì
30 quan, đ ã thành hình thì 50 quan, gãy một chân một tay, mù một mằt thì 50 quan, đứt lưỡi, hỏng âm, dương vật thì đền 100 quan Với người quyền quỷ thì
xử khác" (Điều 466).
So với Bộ luật Hồng Đức, thì quy định về bồi thường ở Bộ luật Gia Long
có khác Điểu 201 của Bộ luật cũng có quy đinh về tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân trong trường hợp tội giết người, tiền chuộc đó giao cho gia đình
để lo chôn cất Nếu phạm nhân bị phạt tội giảo thì tiền chuộc là 12 lạng bạc, người điên giết người số tiền phạt cũng như vậy.
Trường hợp gây thương tích thì Bộ luật Gia Long quy đinh tương đối tỉ mỉ các hình phạt, song đó là chế tài hình sự chứ không đề cập đến bồi thường như luật Hồng Đức.
Một số điều quy định nêu trên của hai Bộ luật cho thấy, thòi kỳ này, luật
cổ Việt Nam chưa có sự phân biệt rõ ràng "trách nhiệm dân sự' với "trách
nhiệm hình s ự ' Nói cách khác, "trách nhiệm dân sứ' trong luật cổ Việt Nam
chưa tồn tại với tư cách là một chế định độc lập Nhưng nó cũng thể hiện một điều thực tế là: Khái niệm trách nhiệm dân sự không phải hoàn toàn xa lạ trong cổ luật Việt Nam Từ những ý niệm manh nha đó, dẫn đến sau này chế định trách nhiệm dân sự được làm rõ trong quá trình phát triển của luật pháp Việt Nam hiện đại, trở thành một chế định độc lập của luật dân sự.
Hiêu theo nghĩa thông thường thì: ''Trách nhiệm dân sự là việc băt buộc
phải sửa chữa một thiệt hại do không thực hiện hoặc thực hiện không đủng
Trang 15nghĩa vụ dân s ự '^ Nhưng ngoài nghĩa bắt buộc phải làm hoặc phải sửa chữa
một thiệt hại nào đó thì trách nhiệm dân sự còn có thể hiểu theo một nghĩa rộng nào khác đó là phải gánh chịu hậu quả bất lợi vì những việc đã làm Sự gánh chịu những hậu quả này cũng có nghĩa là chịu sự phản ứng của Nhà nước đối với hành vi trái pháp luật gây hậu quả xấu Chính sự phản ứng này đã tạo điều kiện cho những quan hệ xã hội tích cực phát triển, góp phần phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục, cải tạo người vi phạm luật pháp Ý nghĩa
đó của trách nhiệm dân sự xuất phát từ những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý:
- Là một trong những hình thức cưỡng chế của Nhà nước.
- ÁD dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật.
- Được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi pháp luật cho phép.
- Sử dụng một số biện pháp chế tài nhất định do luật định để buộc người vi phâm phải gánh chịu hậu quả bất lợi.
Bôn cạnh các đặc điểm chung đó, vì đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của ngành luật dân sự khác với các ngành luật khác nên trách nhiệm dân sự có đặc điểm riêng của nó.
Bản chất của quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản nên đặc điểm của trách nhiệm dân sự trước hết là trách nhiệm mang tính chất tài sản, bởi những quan hệ tài sản giữa các chủ thể gắn liền với việc sử dụng những hình thức tiền - hàng trong hoạt động kinh tế
xã hội Tính chất tài sản của trách nhiệm dân sự thể hiện ở việc chủ thể vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì tòa án buộc bên vi phạm phải bồi thường bằng chính tài sản của mình.
(1) Các thuật ngữ cơ bản trong luật dân sự Việt Nam - Ngô Văn Thâu, Nguyễn Hữu Đ ắc -
Trang 16Mặt khác, quan hệ dân sự giữa các chủ thể là quan hộ bình đẳng trong mối tương quan quyền chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia, và vì thế sự vi phạm nghĩa vụ của chủ thể này kéo theo quyền của chủ thể kia bị xâm phạm Sự vi phạm đó dẫn đến sự xác định trách nhiệm của người vi phạm trước người bị thiệt hại Nếu sự vi phạm còn động chạm đến quyền lợi không những của người bị hại mà cả đến Nhà nước, thì biện pháp dân sự được áp dụng sẽ gắn liền với chuyển tài sản vào ngân sách nhà nước.
Xác định trách nhiệm dân sự bởi hành vi vi phạm gây thiệt hại phải tương xứng với tính chất của sự vi phạm Do đó, trách nhiệm dân sự mang tính chất đền bù, xác lập lại nhằm mục đích khôi phục lại các quyền, lợi ích bị xâm
phạm tj
Các đặc điểm này/ cho thấy trách nhiệm dân sự đồng nhất với thực hiện nghĩa vụ dân sự trong; trật tự cưỡng chế Sự bắt buộc thực hiện nghĩa vụ này do nội dung quan hệ pháp luật mà hai bên tham gia quy định.
Chính vì vậy khoản 1 Điều 308 Bộ luật dân sự đã quy định: "Người có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người có quyền" Dưới góc độ của một quan
hệ pháp luật dân sự cụ thể ta có thể thấy rằng trách nhiệm dân sự theo khoản 1 của Điều 308 Bộ luật dân sự chính là trách nhiệm của chủ thể này trước chủ thể kia khi có sự vi phạm nghĩa vụ mà họ đã tự nguyện cam kết Nhưng mặt khác cũng cần thấv rằng mặc dù đã có sự vi phạm nhưng nếu không có tác động bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước thì trách nhiệm đó cũng không thể được thực hiện trong thực tế Như vậy, mặc dù cơ sở của trách nhiệm có thể được các bên cam kết trước (hoặc do pháp luật quy định trước) nhưng chỉ được thực hiện bằng sức mạnh cưỡne; chế.
Vì vậy "trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự là sự cưỡng c h ế
của Nhà nước buộc bên vi phạm phải tiếp tục thực hiện đúng những nghĩa vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra
Trang 17cho phía bên kia"(1) Trách nhiệm dân sự có thể được coi là một phương tiện
pháp lý để bảo vệ các quan hệ dân sự, bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự không bị xâm phạm bởi các hành vi trái pháp luật.
Điều 12 Bộ luật dân sự Việt Nam quy đinh:
'7 Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ th ể khác
phải được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2 Khi quyền dân sự của m ột chủ th ể bị xâm phạm, thì chủ th ể đó có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc bên vi phạm phải:
b Chấm dứt hành vi vi phạm.
c Xin lỗi, cải chính công khai.
d Thưc hiên nghĩa vu dân sự.
đ Bồi thường th iệt hại.
1.1.2 K h á i n iệ m tr á c h n h iệ m b ồ i th ư ờ n g th iệ t h ạ i n g o à i hợp đ ồ n g
v à 'đ ặ c đ iể m p h á p lý
Trong thực tiễn đời sống hàng ngày, các thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức có thể xảy ra dưới nhiều tác động rất khác nhau, trong đổ phần lớn là do các hành vi trái pháp luật của cá nhân mang lại Hiến pháp của mỗi nước đều ghi nhận nguyên tắc về việc Nhà nước bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự,
Trang 18nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, pháp nhân và các tổ chức Điều 22 Hiến pháp 1992 nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam quy định: "Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành
phẩn kinh t ế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ" Đ ối
với tài sản của công dân Điều 58 Hiến pháp 1992 xác định "Nhà nước bảo hộ
quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa k ế của công dân" Điều 71 Hiến pháp
1992 còn ghi rõ: "Công dân có quyền bất khả xâm phạm v ề thân thể, được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm ".
Đổng thời với việc ghi nhận sự bảo hộ của Nhà nước trong Hiến pháp, Nhà nước còn sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để ngăn chặn và khắc phục hậu quả của những hành vi vi phạm gây thiệt hại/ Điều 609, Bộ luật dân sự nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy đinh: "Người nào do có lỗi c ố ỷ
hoặc vô ý mà xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm đến danh dự,
uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của các chủ th ể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường" Điều quy định này được hiểu là một người khi gây thiệt hại
i
cho người khác thì giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại phát sinh quan
hệ pháp luật mà người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị hại (gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng)XTrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà
trước đó không có quan hệ hợp đồng (ví dụ: A gây thương tích cho B), hoặc
tuy có quan hệ hợp đổng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc
về nghĩa vụ chấp hành hợp đồng đã ký, bởi trước đó giữa họ chỉ có các quyền
và nghĩa vụ do pháp luật quy định, phát sinh từ quan hệ sẵn cố và từ sự kiện có
hành vi xâm phạm quyền đó (v/ dụ, ở vụ án ngày 18/1/1996 Bộ và Phú cùng
cư trú ở thị xã Bảo Lộc - Lâm Đồng, có thỏa thuận với nhau là Phú mang gỗ đến để bán cho Bộ với giá 180.000đ/m3 dùng làm nhà Khi Phú mang gỗ đến
Trang 19thì Bộ chê gỗ xấu không mua nữa, sau nhiều phút đôi co, Phú tức quá giật lấy cây cọc đập vào đầu Bộ làm Bộ chết ngay).
Trong ví dụ thực tế nêu trên, loại trừ trách nhiệm hình sự mà Phú phải chịu,
thì ở góc độ giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ta thấy
rõ mặc dù nguyên nhân chính dẫn đến thiệt hại vể tính mạng của Bộ là do hành vi vi phạm hợp đồng của anh ta, nhưng việc thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật của Phú là ngoài hợp đồng chứ không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng.
Như vậy, vấn đề đặt ra là những quan hệ nào được coi là quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Về cơ bản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh không phải từ hợp đồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có quan hệ mật thiết với vấn đề nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng Dù nghĩa vụ được xác lập theo sự thỏa thuận trong hợp đồng hay ngoài hợp đổng thì cũng
là nghĩa vụ dân sự Khi có sự vi phạm nghĩa vụ (do cam kết hay do pháp luật quy định) cũng đều phải gánh chịu những hậu quả xấu về tài sản theo một trách nhiệm dân sự cụ thểỵ^Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự chỉ
áp dụng khi có những vi phạm nghĩa vụ từ những giao dịch hợp pháp mà các chủ thể đã cam kết Một giao dịch dân sự được coi là hợp pháp khi tuân thủ đầy đủ các điều kiện sau đây theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự:
- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi.
- Mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.
Các giao dịch dân sự hợp pháp này sẽ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng.
Nhưng giao dịch dân sự mà vô hiệu, thì sẽ dẫn đến nghĩa vụ dân sự gì?
Trang 20Từ thực tiễn giải quyết vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chúng tôi thấy rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được áp dụng trong một số các trường hợp khác Đ ó là: Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hành vi chiếm giữ tài sản, hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, kể cả việc thực hiện công việc không có ủy quyền.
Trong đời sống dân sự, có nhiều quan hệ liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu là quan hệ nghĩa vụ ngoài hợp đồng Chẳng hạn, trường hợp tài sản thuộc
sở hữu của một người bị người khác chiếm đoạt Hoặc như trường hợp quyền
sở hữu bị cản trở thực hiện trái pháp luật thì người chủ sở hữu có quyền buộc người vi phạm phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đó.
Ở đây, có sự tương ứng giữa quyền yêu cầu của chủ sở hữu mang tính chất
là biện pháp có tính pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu với nghĩa vụ bồi thường của người vi phạm và sự tương ứng này làm cho quan hệ sở hữu trong nhiều trường hợp trở thành quan hệ nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng.
Như vậy, về cơ bản,ĩ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh không phải từ hợp đồng mà chủ yếu từ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật
Điều 609 Bộ luật dân sự đã quy đinh: "Người nào do lỗi c ố ý hoặc vô ý xâm
phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhãn phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhản hoặc các chủ th ể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường' Ngoài
ra, các giao dịch dân sự vô hiệu cũng có thể làm phát sinh nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng, nếu hành vi gây thiệt hại không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.
Nhưne nếu khẳng đinh một cách cứng nhắc rằng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh không phải từ hợp đồng, thì sẽ là sai lầm và phiến diện.
Bởi vì, ngay cả "giao dịch dân sự hợp p h á p ' cũng không loại bỏ khả năng
xuất hiện các nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng mà xuất phát điểm lại là từ quan
Trang 21hệ hợp đồng giữa hai bên chủ thể Vì việc vi phạm nghĩa vụ trong một số trường hợp không liên quan gì đến việc thực hiện hợp đồng.
Ngoài ví dụ thực tế trong vụ án Bộ và Phú ở Lâm Đồng đã nêu trên, còn có nhiều trường hợp mà ngay hợp đồng mua bán giữa đôi bên khi thực hiện cũng làm xuất hiện khả năng phát sinh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đ iế u 4 3 6 Bộ luật dân sự có quy định về quyền của bên mua được yêu cầu bồi thường thiệt hại khi người thứ 3 đòi tài sản thuộc sở hữu của mình Trong trường hợp này, nghĩa vụ của bên bán trước bên mua là phải bổi thường thiệt hại khi hợp đồng mua bán bị hủy bỏ do đối tượng mua bán là tài sản thuộc sở hữu của người thứ ba.
•Đối với trường hợp thực hiện hợp đồng thuê nhà cũng vậy, khả năng xuất hiện trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng cũng có thể xảy ra (Đó là nghĩa vụ dân sự chấm dứt hợp đồng do thực hiện quy hoạch xây dựng nhà ở bị phá dỡ
Ở trường hợp này, quan hệ giữa tổ chức xây dựng và người thuê nhà là quan
hệ nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng).
Ngay cả quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ quyền ưu tiên ký hợp đồng thuê
tiệp, ưu_tiên_mua nhà đang thuê, hoặc quyền lưu cư, cũng chính là quan hệ trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Mặc dù có thể các bên đã đưa ra các quy định này vào nội dting của hợp đồng, nhưng xét ra thì thực chất các quan hệ này do luật định và nó phát sinh không phụ thuộc vào việc hợp đồng có đề cập đến nội dung đó hay không?
Ụj Rồi trong trường hợp, hợp đồng vận chuyển hành khách thực chất là quan
hệ hợp đồng xuất phát từ sự thỏa thuận giữa 2 bên: người vận chuyển và hành khách Vấn đề bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho hành khách mà các Tòa án giải quyết là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vì tính mạng, sức khỏe của hành khách do pháp luật bảo vệ chứ không phải bằng hợp đồng mặc
dù có sự thực hiện hợp đồng giữa hai bên.
Trang 22Như vậy, xung quanh vấn đề quan hệ trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phát sinh từ hợp đồng khá đa dạng, đó là chưa kể đến trường hợp trách nhiệm ngòài họp đồng còn có thể phát sinh từ việc giao kết hợp đồng khi bên đề nghị giao kết hợp đồng rút lại đề nghị một cách không có căn cứ thì cũng phải chịu trách nhiộm (Điều 396 Bộ luật dân sự).
Không những thế, ngay trong giao dịch đơn phương như việc hứa thưởng
và thi có giải (theo các điều từ 595 đến 598 Bộ luật dân sự) cũng tạo ra trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
N ói tóm lại, nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,
theo những quy định của Bộ luật dân sự không chỉ bó hẹp ở chương V, mục 3,
mà còn phải vận dụng nhiều quy định khác trong nội dung mới của Bộ luật để làm sáng tỏ vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thông qua các quy định đó, cho ta một nhận xét khái quát vệ7 trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không
có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đổng nhưng hành vi của người
gây thiệt hai không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã ký kết Quan hệ
hợp đổng không là căn cứ nhưng có thể đưa lại khả năng làm phát sinh quan
hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng % — 7
Đây cũng là nét đặc điểm bao trùm của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đổng Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng nói riêng và quan hệ nghĩa vụ ngoài hợp đồng nói chung còn có một đặc điểm khác nữa là chúng ổn định, tổn tại theo quy luật khách quan, và hầu hết đều mang đặc tính
là quy phạm mang tính chất biện pháp bảo vệ, giữ gìn sự phát triển bình thường của quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân Trong trường hợp sự phát triển của các quan hệ pháp luật này bị phá vỡ thì quy định về trách nhiệm dân sự'ngoài hợp đồng sẽ bảo đảm cho việc khôi phục lại các quan hệ đó Nhìn toàn bộ, thì các quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc đều là quy định bắt buộc tuân thủ.
Trang 23Muốn làm rõ vấn đề trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần
có sự so sánh nó với một số chế định trách nhiệm có nội dung tương tự.
1.1.3 So sánh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với một sô'chế định trách nhiệm khác
i Trưóc hết, nên phân biệt rõ trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
Nét khái quát cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do một bên đã không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ mà các bên đã cam kết trong hợp đồng Đặc điểm của loại trách nhiệm này thể hiện ở chỗ giữa hai bên phải có quan hệ hợp đổng có hiệu lực và sự thiệt hại xảy ra là do hành vi không chấp hành, chấp hành không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng đã giao kết Trước thời điểm vi phạm và áp dùng trách nhiệm pháp lý, giữa hai bên đã tổn tại một quan hệ pháp luật hợp pháp theo ý chí của cả hai bên.
Qua nét khái quát về trách nhiệm hợp đồng, ta thấy trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong và ngoài hợp đổng trước hết là hai hình thức của trách nhiệm
dân sự nên chúng có điểm giống nhau nhất định, theo đó, thì người gây thiệt hại phải gánh chịu hậu quả đã xảy ra bằng chính tài sản của mình.
Tuy có điểm giống nhau, song giữa hai loại trách nhiệm này cũng có sự khác nhau:
- Trách nhiệm theo hợp đồng là trách nhiệm được đặt ra do việc vi phạm một nghĩa vụ mà các bên đã cam kết thực hiện Còn trách nhiệm ngoài hợp đồng phái sinh do hành vi vi phạm pháp luật của người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại.
- Khi thực hiện trách nhiệm ngoài hợp đồng, thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại (cả trực tiếp lẫn gián tiếp), ngược lại với người gây thiệt hại trong hợp đồng chỉ phải bổi thường thiệt hại trực tiếp và những thiệt hại có thể tiên liệu được khi ký kết hợp đồng.
Trang 24- Một điểm khác đáng lưu ý nữa giữa hai loại trách nhiệm trong và ngoài hợp đồng là những người gây thiệt hại ngoài hợp đồng đa phần phải gánh chịu liên đới nếu có đủ các điều kiện mà luật yêu cầu Trong trách nhiệm dân sự theo hợp đồng thì trách nhiệm liên đới chỉ phát sinh nếu có thỏa thuận trước.
- Khi so sánh hai loại trách nhiệm này, ta cần hiểu rằng không phải cứ hai bên có quan hệ hợp đồng thì mọi thiệt hại gây ra đều đưa đến trách nhiệm theo hợp đồng, và ngược lại trách nhiệm ngoài hợp đổng cũng không phải chỉ phát sinh khi giữa hai bên hoàn toàn không có quan hệ hợp đổng Đặc biệt có sự phận biệt về thời điểm phát sinh nghĩa vụ và trách nhiệm theo họp đổng với thời điểm nghĩa vụ, trách nhiệm ngoài họp đồng để định rõ đâu là trường họp bồi thường trong hợp đồng, đâu là bổi thường ngoài hợp đồng
Trong bồi thường theo họp đổng, xác định nghĩa vụ và thực hiện trách
nhiệm bổi thường phát^sinh ở hai thời điểm khác nhau, có nghĩa là, vào trước
lúc phát sinh trách nhiệm bổi thường thiệt hại theo hợp đổng thì các chủ thể ký kết đã thỏa thuận với nhau về một nghĩa vụ phải bổi thường thiệt hại do bên nào có vi phạm họp đồng và việc phạt vi phạm chỉ xảy ra khi m ột bên vị phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia Đến lúc đó mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo họp đồng Cho nên, đối với quan hệ hợp đổng thì thiệt hại_xảy ra chỉ ỉà điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nỏ trái với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng do thời điểm phát sinh nghĩa vụ và trách nhiệm bổi thường cùng xuất hiện một lúc nên thiệt hại vừa là điều kiện phát sinh nghĩa vụ bổi thường, vừa là điều kiện phát sinh trách nhiệm bổi thường thiệt hại
Nhộn thức đúng về thời điểm phát sinh nghĩa vạ, trách nhiệm trong và
ngoài họp đồng giúp người cán bộ trực tiếp xét xử có phương án xử lý đúng đắn, công bằng, bảo đảm được sự nghiêm minh của pháp kiệt Cũng cần phải nói thêm rằng: Đối với trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài họp đổng thì trách nhiệm bổi thường mặc nhiên chấm dứt khi chủ thể phai bồi thường đã
Trang 25hoàn thành nghĩa vụ •bồi thường của mình Trong khi đó, ở trách nhiệm thực hiện hợp đổng, mặc dù đã chấm dứt trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng không được chấm dứt nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của chủ t h ế -
> 0 / i ẹ c tìm hiểu trách nhiệm ngoài hợp đổng, cũng không thể bỏ qua một số/
c h ế định trách nhiệm khác trong hệ thống chế định trách nhiệm pháp lý nói chung như chế định trách nhiệm vật chất của công dân viên chức đối với tài sản của Nhà nước và trách nhiệm hình sự cụ thể Đối với trách nhiệm vật chất của người lao động theo hợp đổng lao động tuy cũng là dạng trách nhiệm về tài sản nhưng theo quy định của pháp luật lao động vì giữa người gây thiệt hại
và người i.ị thiệt hại ràng buộc nhau bởi quan hệ lao động nên được áp dụng theo quy định riêng^K hi thực hiện trách nhiệm vật chất của người lao động theo hợp đổng lao đông thì một mặt nhằm bù đắp nhũng mất mát, hư hỏng, giáo dục ý thức tôn trọng bảo vệ của công, còn nhằm một mục đích khác là giáo dục và bảo đảm tôn trọng kỷ luật lao động Hai nhiệm vụ song sona; này được kết hợp chặt chỗ với nguyên tắc bảo đảm chế độ tiền lương Việc quy định trách nhiệm vật chất là để đề cao trách nhiệm quản lý bảo vệ tài sản của Nhà nước và người sử dụng lao động, đồng thời coi trọng đúng mức chính sách cán bộ của Đảng và Nhà nước, thực hiện đúng pháp luật lao động Đi sâu vào nội dung của trách nhiệm vật chất theo luật lao động thì vẫn có một số điểm khác so với trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài họp đồng:
- Về đối tượng để áp đụng trách nhiệm vật chất là riêng đối với người lao động còn trách nhiệm dân sự ngoài hợp đổng áp dụng với mọi công dân, mọi pháp nhân và mọi chủ thể khác
, diý'
- Nguyên tắc giải quyết bồi thường theo trách nhiệm vật c h ấ t-theo những
quy định riêng sau đây: Việc bồi thường chỉ áp dụng đối với thiệt hại trực tiếp gây ra chứ không tính toán những thiệt hại gián tiếp do việc tài sản bị mất mát,
hư hỏng đưa lại Tùy theo tình hình cụ thể m à bôi thường toàn bộ hay một phần, nhưng không quá 3 tháng lương kể cả phụ cấp khu vực nếu có (không
Trang 26tính phụ cấp độc hại, hao mòn sức khỏe, thương tạt ) Việc trừ lương để bồi thường không ít hơn 10% và không quá 30% tổng số lương và phụ cấp khu vực hàng tháng Khác với chế độ trách nhiệm vật chất, bồi thường thiệt hại ngọài họp đổng là bồi thường toàn bộ và bồi thường trong một lần.
N hũng điểm khác nhau như vậy của hai chế định trách nhiệm vật chất và trách nhiệm bổi thường ngoài hợp đổng, cho thấy, trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng là một chế định hoàn toàn độc lập của luật dân sự, mặc dù nó
có mối quan hệ với m ột số các chế định trách nhiệm khác Ngay như trong một vụ án hình sự, nếu đặt ra cả việc giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì không thể giải quyết gộp làm một mà phần trách nhiệm ngoài họp đồng phải được tách khỏi trách nhiệm hình sự Vì, giữa hai loại trách nhiệm này có sự khác nhau khá co' bản Chế tài trong hình sự trước
ti ôn và chủ yếu được áp dụng nhằm tác động vào bản thân kẻ phạm tội C hế tài nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào mức độ phạm pháp của cá nhân Sự trừng phat luôn tương xúng với mức độ của lỗi nặng hay nhẹ Ngược lại, trách nhiệm bổi thường í hiệt hại ngoài hợp đồng lại dựa trên cơ sở thiệt hại, tức cứ có thiệt hại thì phải đặt ra trách nhiệm bồi thường Lỗi trong bổi thường thiệt hại ngoài hợp đổng là cơ sở của trách nhiệm chứ không phải là thước đo của trách
nhiệm và nếu có xem xét đến mức độ lỗi thì cũng chỉ đặt ra ở trường hợp thiệt
hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt cũng như lâu dài của người gây thiệt hại Sự khác biệt của yếu tố lỗi trong trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp đổng là một vấn đề sẽ được làm rõ
hơn ở phần sau của luận văn (phần "các điều kiện làm p h á t sinh trách nhiệm bồi thưùiỉq thiệt hại nọ nài hợp đồna") ^
1.2 N h ữ n g n g u y ê n tắ c g iả i q u y ế t b ồ i th ư ờ n g thiệt h ạ i
n g o à i hợp đ ồ n g
đã biết đôn những biện pháp nhằm xử lý những trường họp vi phạm í rật tư
Trang 27công cộng và gây thiệt hại cho người khác như: trừng phạt người gây thiệt hại, bổi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại, khôi phục trật tự công cộng V.Y Sự thay đổi của xã hội theo chiều hướng ngày càng phức tạp càng khẳng định rõ chức năng quan trọng của chế định trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng Sự cần thiết phải có chế định "trách nhiệm bồi thườnẹ thiệt hại ngoài họp đồng" trong đời sống xã hội là một tất yếu khách quan không thể thiếu, nó
là công cụ có hiệu quả, để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, pháp nhân và Nhà nước trước nguy cơ đe dọa của các hành vi trái pháp luật Sons, việc ngăn ngừa thiệt hại, giúp đỡ người bị thiệt hại, điều chỉnh các quan hệ giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại phải được giải quyết dựa trên những nguyên tắc pháp luật nhất định Đối với pháp luật dân sự các nước, các nguyên tắc giải quyết bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao giờ cũng được quy định rõ trong Bộ luật dân sự
Những nguyên tắc cụ thể áp dụng trong giải quyết bổi thường thiệt hại ngoài họp đổng, bao giờ cũng xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự như các nguyên tắc tôn trọng lợi ích công cộng, quyền, lợi ích họp pháp của người khác (Điều 2 Bộ luật dân sự); nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền nhân thân, quyền sở hữu, các quyền khác đối với tài sản (Điều 5, ó); nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận (Điều 7); nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự (Điều 10) Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, và các chủ thể khác được tôn trọng và bảo vệ, khi quyền dân sự bị vi phạm, thì chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ hoặc hoặc khắc phục
Và cũng như các nguyên tắc khác của Bộ luật dân sự, nguyên tắc bổi thường thiộí hại ngoài hợp đổng mang đặc tính cơ bản của pháp luật dân sự là tính tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ dân sự
Trong quan hệ bồi thường thiệt hại, Điều 610 quy định áp dụng nguyên tắc:
Trang 28" / T hiệt hại ph ả i được bồi thườnq toàn bộ và kịp thời Các bên có tỉ lê tỉiỏa thuận về mức bồi tìiiíờnq, hình thức bồi thường bằng tiên, bằn% hiện vật hoặc thực hiện m ật công việc, về phương thức bồi thường trừ trường hợp có quy định kỉ lác.
2 Người ẹày thiệt hại có th ể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ỷ
m à ẹây thiệt hợi quá lớn so với khả năng kinh t ế trước m ắt và lâu dài của mình.
3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tê, thì m>ười hi thiệt hai hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc c:ơ quan nhà nước có thẩm quyển kì ì ác thay đổi mức bồi thường".
Khoản 1 Điều 610 xác định rõ nguyên tắc bồi thường kịp thời và toàn bộ là nền tảng để giải quyết xác định trách nhiệm và mức bồi thường (trừ một số trường hợp cá biệt), bởi vì mục đích của trách nhiệm bổi thường là khôi phục lại quyền và những lợi ích hợp pháp bị xâm hại, bảo đảm sự công bằng giữa các bên có tranh chấp để giải quyết tbỏa đáng các tranh chấp đó
Viộc bổi thường trong quy định của khoản 1 Điều 610 đươc hiểu là sự đền
bù những thiệt hại mà cá nhân phải chịu trách nhiệm Khoản 1 Điều 610 không chỉ nêu nguyên tắc phải bổi thường khi gây ra thiệt hại mà còn quy
định rõ việc bồi thường phải là "toàn bộ, kịp thời", tức là sự đền bù toàn bộ
nhũng thiệt hại đã gây ra bằng tài sản hoặc thực hiện một công việc nào đó
một cách nhanh chóng Ngoài ra "thiệt hại ph ả i được hồi thường toàn bộ" còn
có ý nghĩa là thiệt hại bao nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu.
Trong xác định nguyên tắc của bồi thường, khoản 2 Điều 610 có đề cập đến việc xem xét mức độ lỗi của các bên khi giải quyết bồi thường(Lỗi Ịầ yếu
tố có tính điêu kiệu đẩ xác định trách nhiệm bổi thường (Điều 609 Bộ luật dân sự) Lỗi được xem xét theo quy định này là lỗi vô ý cửa bên gây thiệt hại và được đặt trong tình trạng thiệt hại xảy ra quá !ởn so với khả năng kinh tế trước
m ắt cũng như lâu dài của người gâv thiệt hại Vỉ vậy, việc quy định giảm mức
Trang 29bổi thường như khoản 2 Điều 610 là nhằm thực thi một cách thực tế các phấn quyết của tòa án, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Bôn cạnh những nguyên tắc nêu trên, nội dung Điểu 6J0 còn toát lên một nguyên tắc rất quan trọng ỉà: Tôn trọng sự thỏa thuận của đương sự Khi giải quyết bồi thường thiệt hại, các bên có thể tự do thỏa thuận vói nhau về mức bổi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường trừ trường hợp luật có quy định khác Như vậy, Nhà nước sẽ chỉ can thiệp, buộc người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt, hại khi giữa các bên không đạt được thỏa thuận cần thiết, hoặc không có sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ bổi thường của bên gây thiệt
Ngoài ra, nghiên cứu Điêu 610 Bộ luật dân sự ta thấy rõ một nguyên tắc
khác được ghi nhận ờ khoản 3 là: "Khi mức bồi thường không còn phù họp vói
ihiic tế, thì nqười bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyên yêu cầu tòa (ỉn hoặc cơ quan nì là nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường" Mức
bổi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế có thể là sự không phù họp vói thời hạn bồi thường, về khả năng bồi thường hay mức bổi thường do biến động của giá cả thị trường Yêu cầu thay đổi mức bồi thường có thể được đặt
ra với cả hai phía, cụ thể: Với người bị hại yêu cầu thay đổi mức bồi thường
theo hướng tăng mức bồi thường, và cũng có thể là yêu cầu về thay đổi Ihời
hạn bồi thường (như trường họp diễn biến xấu đi của tình trạng sức khỏe dãn đến mất hoàn toàn khả năng lao động do hậu quả tất yếu của tai nạn trước đó
để lại) Còn yêu cầu thay đổi mức bổi thường đưa ra từ phía người gây thiệt hại là trường hợp người gây thiệt hại không còn khả năng tiếp tục bồi thường hoặc có những yếu tố khách quan làm thay đổi trách nhiệm bồi thường (như người bị thiệt hại về sức khỏe, mất khả năng lao động đã phục hồi sức khỏe và
có một phần thu nhập)
Tóm lại, nội dung Điều 610 Bộ luật dân sự về nguyên tắc bối 5hường thiệt hại ngoài hợp đồng ỉ à sự k ế thừa và phát triển của nguyên tắc đã được quy
Trang 30định ỏ' Thông tư 173 ƯBTP do Tòa án nhân dân tối cao quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
So với Thông tư 173, ta thấy Bộ luật dân sự thể hiện một nội dung mới hơn trong xác định nguyên tắc cơ bản giải quyết bổi thường thiệt hại ngoài họp
đổng, đó là xác định tính "kịp thời" của trách nhiệm bổi thường thiệt hai Sự
"kịp thời" ở đây không chỉ nhằm bảo đảm sự nhanh chóng về mặt thời gian,
mà cần phải tạo cho người bị thiệt hại được nhận bồi thường đúng lúc, tránh cho người bị thiệt hại khỏi phải chịu tiếp những thiệt hại mới có thể phát sinh
từ thiệt hại ban đầu (ví dụ như trường hợp cha mẹ bị tai nạn giao thông chết,
con cái còn lại không có chỗ nương tựa, nuôi dưỡng, giải quyết bổi thường khônơ kịp thời dẫn đến tạm thời phải nghỉ học)
Trên cơ sở các nguyên tắc đã quy định, trước khi tính toán và xác định lõ thiệt hại để giải quyết việc bồi thường, một vấn đề không kém phần quan trọng cần được làm sáng tỏ đó là vấn đề năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân
1.3 V ấ n đê n ả n g lưc c h iu t r á c h n h iệ m bổi t h ư ờ n g c ủ a c á
n h â n
Trong xã hội hiện đại, khi cạnh tranh được coi là một trong số các yếu tố tích cực để thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ xã hội thì đồng thời cũng tạo ra nhiều khả năng gây thiệt hại cho người khác từ phía các hành vi cá nhân Điều đó có nghĩa là bất kỳ ai cũng có thể gây ra thiệt hại cho xã hội Nhưng không phải hễ cứ ai gây thiệt hại thì cũng đều phải bổi thường hay nói theo nghĩa lý luận khoa học pháp lý thì không phải ai gây thiệt hại cũng có năng lực chịu trách nihệm bổi thường Bởi bất kỳ một con người cụ thể nào
đó, khi muốn tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự thì người đó phải có
cái gọi là "năng lực chủ th ể ' (mà năng lực chủ thể lại được xác định bởi hai
yếu tố cơ bản là năng lực pháp luật và năng lực hành vi) Một cá nhân, khi có
đủ năng lực chủ thể thì mới có năng lực chịu trách nhiệm bổi thường thiệt hai
Trang 31Bộ luật dân sự Việt'Nam xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một người căn cứ vào độ tuổi, vào năng ỉực hành vi và khả năng kinh
tế của người đó Điều 61 l.Bộ luật dân sự quy định:
"7 Nqười từ đã ỉ 8 tuổi trở lên ẹâv thiệt hại, thì phải tự bồi thường.
2 Khi người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây ra thiệt hại mà cỏn cha mẹ,
thì cha mẹ phải hồi thường toàn bộ thiệt hại N ếu tài sản của cha m ẹ khô no
đủ đ ể bổi thường mà con chưa thành niên gây ra thiệt hại có tài sản riêỉiỉỊ, thì lấy tài sản đố đ ể bồi thường phần cỏn thiếu, trừ trường hợp quy đinh tại, Đ iểu
625 Bộ luật dân sự (do trườn ẹ học, bệnh viện, các tổ chức khác có lỗi trong việc quản lý, thì phải liên đới cùng với cha mẹ bồi thường do hành vi của người dưới 15 tuổi gây ra cho người khấc trong thời ẹian trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý những người đó).
Trong trường hợp người từ đủ 75 tuổi đến dưới 18 tuổi gây thiệt hại, thì
phải bồi thườn íỉ bằnẹ tài sản của mình, nếu không đủ tài sản đ ể bồi tìiườnẹ, thì cha mẹ phải bồi thường phần còn tliiếu bằng tài sản của mình.
3 Khi người chưa thành niên, người m ất năng lực hành vi' dân sự gầy thiệt hại mà có củ nhăn, tổ chức giám hộ, thì cá nhân, tổ chức giám hộ đó được dùng tài sản của nqười được giám hộ đ ể bồi thường N ếu người được giám hộ không có tài sản hoặc tài sản không đủ đ ể hồi thường, thì người giấm hộ p h ả i bồi thường hằng tài sản của mình N ếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì không phải lấy tài sản của m ình bồi thường".
Nếu căn cứ vào nội dung quy định của Điều 611 Bộ luật dân sự thì người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ có các cá nhân mà còn là CO' quan nhà nước, các pháp nhân, các tổ chức xã hội cũng phải chịu trách
nhiệm bổi thường Song ở đây, trong phạm vi của đề tài, chứng tôi chỉ muốn
đề cập đến trước hết là năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân gáy thiệt hại
Trang 32Pháp ỉuật dân sự đã' phân biệt năng lực chịu trách nhiệm bổi thường của cá nhân căn cứ vào lứa tuổi, khả năng kinh tế và năng lực hành vi dân sự của họ,
cụ thể: Người từ đủ 18 tuổi (theo quy định của luật thực định) trở lên, nếu không bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác có ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của họ hay không bị tòa án tuyên bố là người hạn chế năng lực hành vi, thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ, thì cha, mẹ phải bồi thường thiệt hại Cha, mẹ của người dưới 15 tuổi phải chịu trách nhiệm bồi thường vì theo quy định của pháp luật người dưới 15 tuổi chưa có cả năng lực hành vi dân sự lẫn năng lực hành vi )ao động để tham gia lao động có thu nhập
và tài sản riêng Vì vậy thế phần lớn người dưới 15 tuổi không có tài sản và khả năng kinh tế độc lập để tự chịu trách nhiệm bổi thường thiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên, thực tế cũng có trường hợp người dưới 15 tuổi có tài sản riêng (do được hưởng thừa kế) nhung trách nhiệm bổi thường pháp luật vẫn xác định là thuộc về cha, mẹ hoặc người giám hộ Việc sử dụng tài sản của người dưới 15 tuổi để bổi thường chỉ là bù vào phần bồi thường còn thiếu do tài sản của cha mẹ hoặc người giám hộ không đủ
Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, theo quy định của Bộ luật lao động họ có thể được tham gia vào quan hệ lao động nào đó, để có thu nhập và
có tài sản riêng Do đó, Bộ luật dân sự mới quy định việc họ phải chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản của mình Nhưng về mặt năng lực dân sự đầy
đủ, thì họ chưa có nên họ vẫn cần phải có người đại diện cho mình trong việc xác lập và thực hiện các giao địch dân sự (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Vì thế, cha, mẹ của họ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con minh gây ra nhưng chỉ khi con họ không có tài sản hoặc tài sản không đủ bồi thường
So với hai trường họp thiệt hại do người dưới 15 tuổi và người từ 15 tuổi tròn đến dưới 18 tuổi gây ra, thì đối với trường hợp thiệt hại do người chưa
Trang 33thành niên, người m ất năng lực hành vi dân sự mà có cá nhân, tổ chức giám hộ thì Bộ luật dân sự lại có quy định khác Tức là, trong mọi trường hợp có thiệt hại do những người này gây ra, thì người giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để đền bù thiệt hại Chỉ khi người được giám hộ không có tài sản hoặc tài sản không đủ bồi thường, thì người giám hộ mới phải dùng tài sản của mình để đền bù thiệt hại Cách quy định này của Bộ luật dân sự cũng giống như cách xác định của Bộ luật dân sự nhiều nước khác Ở đây nếu người
giám hộ chúng minh được sự "không lơ là nghĩa vụ giám sát của m ình", thì
không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của người được giám hộ
Thông qua việc xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, quyền và nghĩa vụ của người gây thiệt hại được pháp luật xác định một cách rõ ràng Họ phải có nghĩa vụ bổi thường toàn bộ và kịp thời những thiệt hại xảy
ra Trong quá trình giải quyết bồi thường, họ có nghĩa vụ phải chứng minh mình có lỗi hay không đối với thiệt hại xảy ra Ngoài ra, người gây thiệt hại còn có nghĩa vụ chấm cỉút hành vi vị phạm, xin lỗi, cải chính công khai trong trường hợp xâm phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác Trong khi thực hiện nghĩa vụ bồi thường, người gây thiệt hại được quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế
Pháp luật dân sự khi xác định năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân cũng có quy định việc không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với người
đã gây ra thiệt hại Thông thường về nguyên tắc, khi có bốn yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài họp đồng, thì ngưò'ị gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ và kịp thời cho người bị thiệt hại Nhưng thiệt hại xảy
ra có khi lại nằm trong mối quan hệ với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định mà
dựa vào các điều kiện, hoàn cảnh đó sẽ không thổ xác định trách nhiệm bồi
Trang 34thường cho chủ thể'gây thiệt hại được Thực tế cho thấy dựa vào những căn cứ sau đây người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường:
- Do có sự bất khả kháng Ta thấy rõ hoàn cảnh khách quan bên ngoài cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gây thiệt hại, như bão lụt, hạn hán, động đất hay các thay đổi khác của tự nhiên mà con người' không kiểm soát được
- Do người gây thiệt hại thực hiện quyền tự vệ hợp pháp (phòng vệ chính đáng) Pháp luật đã quy định nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân, tổ chức, pháp nhân và Nhà nước Nhiệm vụ này không chỉ thuộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mọi người
công dân: "Công dân có nghĩa vụ tuân theo H iến p háp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tư, an toàn x ã hội, giữ gìn bí m ật quốc gia, chấp hành quy tắc sinh ỉìoạt cồng cộng" (Điều 79 Hiến pháp 1992 nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam) "Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài
sản của nhà nước và lợi ích công cộng" (Điều 78 Hiến pháp 1992 nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Từ những quy định trên đây của Hiến pháp, khi quy định việc bảo vệ quyền sở hữu, khoản 2 Điều 175 Bộ luật dân sự đã chỏ phép "chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành
vi xâm phạm quyền sở hữu của mình "
Để bảo đảm thực hiện nhũng quy định đã được ghi nhạn trong Hiến pháp,
bảo đảm cho công dân có điều kiện tự bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình và của xã hội, pháp luật quy định cho công dân có quyền phòng vệ chính đáng Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập lhể, bảo vệ quyền và lợi cĩh chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả m ột cách cần thiết gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm hại các quyền và lợi ích nói trên, v é hình thức, hành vi phòng vệ chính đáng cũng gây ra cho người khác thiệt hại về tài sản hay sức khỏe, tính mạng Nhưng hành vi này không bị coi là trái pháp luật, mà trái lại đó là hành
Trang 35vi tích cực, có ích cho xã hội, được xã hội khuyên khích Hành vi gây thiệt hại được coi là tích cực, ỉà phòng vệ chính đáng khi: Nó nhằm để bảo vệ quyền lợi họp pháp của nhà nước, của tập thể hoặc của công dân, gây ra thiệt hại cho đúng người có hành vi trái pháp luật xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp nêu trên, người sử dụng quyền tự vệ đúng lúc và phù hợp với mức độ phạm pháp của người bị thiệt hại.
định "tình th ế cấp thiết là tình th ế của người đứng trước nguy cơ đe dọa trực tiếp lợi ích của N hà nước, của tập thể, của người khác, của bản thăn m à đê tranh, đ ể ngăn chặn, khônq còn cách nào khác là ph ả i gây ra m ột thiệt hại nhỏ hơn" Đây là trường hợp vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa
lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải gây ra
m ột thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa Nguyên nhân đưa đến tình thế cấp thiết có thể do hành vi trái pháp luật của con người gây ra, có thể do yếu
lô khách quan tạo ra (như bão, lụt, động đất ) Khác với phòng vệ chính đáng, ở trường hợp tình thế cấp thiết, lợi ích bị hy sinh là lợi ích của người thứ
ba, không có quan hệ đến tình thế cấp thiết đang xảy ra Một tình thế đừợc coi
là cấp thiết thì phải có nguy hiểm đang thực tế đe dọa lợi ích của cá nhân, của tập thể, của Nhà nước (đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra ngay tức khắc) và để ngăn
chặn, khắc phục thiệt hại xảy ra, không còn cách nào khác ngoài cách gây
thiệt hại cho một lợi ích hợp pháp (được coi như sự lựa chọn biện pháp xử sự cuối cùng) Nhưng cũng có trường hợp khi lựa chọn biện pháp mà theo như cách suy đoán của người ử trong tình thế cấp thiết là biện pháp cuối cùng, thì thực tế, nếu như người đó thật sự bình tĩnh hơn sẽ có thể có một phương án khác hữu hiệu hơn là việc lựa chọn gây thiệt hai Vây, trường hợp này có tính đến khả năng miễn trách nhiệm bồi thường cho người gáy thiệt hại hay không? theo chúng tôi trường hợp này cũng có thể được xem xốt sau khi loại
Trang 36trừ yếu tố có lỗi Điều kiện cuối cùng của tình thế cấp thiết ỉà thiệt hại xảy ra phải nhỏ hơn so với thiệt hại cần ngăn ngừa Tính chất nhỏ hơn này phải rõ ràng, hiển nhiên căn cứ vào giá trị tổng thể của tài sản và các quyền lợi khác chứ không quy về số lượng hay khối lượng Đó là đối với tài sản dễ đánh giá
về giá trị, còn những tài sản khó đánh giá về giá trị thì phải xem xét, cân nhắc
m ột cách thận trọng
M ột điều lưu ý khi nhận định về tình thế cấp thiết là, trong mọi trường hợp không được dùng tính mạng, sức khỏe của người khác để ngăn chặn bất cứ
thiệt hại nào (V í dụ như người lái xe cơ giới trong lúc đang cua gấp với tốc độ
lớn chọt phát hiện phía trước có một ông già và một em bé đang đi, để tránh
em bé, lái xe lựa chọn phương án để xe đâm vào ông già Hành vi này không thể là hành động trong tình thế cấp thiết)
•- Căn cứ cuối cùng để xác định người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường, đó là trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người
bị thiệt hại
Như vậy, để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối vói người đã có hành
vi trái pháp luật, bên cạnh việc xác định thiệt hại, Tòa án còn phải xét đến năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của người đó Trên cơ sở đã xác định toàn diện, Tòa án sẽ áp dụng hình thức bồi thường và ấn định cụ thể mức bồi thường tương đương vói thiệt hại đã xảy ra
Trang 372.1 Các c ả n cứ đ ế x ác đ i n h t r á c h n h i ê m bồi thư ờn g t h i ệ t
h a i n g o à i hỢp đ ồ n g
Mục đích của việc truy cứu trách nhiệm dân sự là buộc những chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả xấu, bất lợi về tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân, Nhà nước
Điều 74, Hiến pháp 1992 nước Cộng hòa xã hội chủ nghía Việt Nam quy
định: "Mọi hành vi xâm phạm lợi ích hợp phấp của công dân phải được kịp
íỉìời xử lý nghiêm minh Người bị hại có quyên bồi thường vê vật chất và phục
hồi danh d ự ' Thêm vào đó, Điều 609, Bộ luật dân sự xác định trách nhiệm
của "người nào do lỗi c ố ỷ hoặc vô ỷ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác gây
thiệt hại thì p h ả i bồi th ư ờ n g '.
Nhưng việc quy định trách nhiệm bổi thường do gây thiệt hại cho người khầc không thể xác định một cách tùy tiện, vô căn cứ Pháp luật dân sự và khoa học pháp lý nói chung đã quy định việc giải quyết vấn đề bổi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra (còn gọi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đổng) phải căn cứ trên các dâu hiệu có tính điều kiệríi Nhũng dâu hiệu có tính điều kiện để xác định trách nhiệm bổi thường thiệt hại ử pháp luật dân sự
từng nước không thống nhất và giống nhau V í dụ., ở pháp luật dân sự của
Cộng hòa Pháp thì để xem xét trách nhiệm của một người, để cho một nghĩa
Trang 38vụ ngoài hợp đồng phát sinh đối với người đó, từ hành vi của người đó nhải có
3 điều kiện hội tụ:
1 Có thiệt hại
2 Xuất hiện một sự kiện (sự kiện cố ý hoặc không cố ý)
3 Quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và sự kiện
Như vậy, các dấu hiệu để xác định trách nhiệm bổi thường thiệt hại của người vi phạm gây ra của pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp chỉ cần 3 điều kiện
đã nêu trên Trong khi đó, điều kiện để xác định trách nhiệm vi phạm của pháp luật dân sự Nhật Bản lại tương đối cụ thể hơn và nhiều yếu tố hơn, chẳng hạn để xác định trách nhiệm vi phạm, trước tiên đòi hỏi phải có lỗi cố ý hay
vô ý khi xảy ra thiệt hại, rồi có năng lực trách nhiệm là điều kiện thứ hai vì người không có khả năng trí tuệ bình thường, thì không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình Điều kiện thứ ba là hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật vi phạm đến các quyền vế tài sản và quyền về nhân thân Những điểu kiện tiếp theo là phải phát sinh thiệt hại và phải có mối quan hệ nhân quả thực tế giữa hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại với thiệt 'hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu /
Qua một số cách xác định về các yếu tố có tính điều kiền khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự một vài nước, ta dễ dàng nhận thấy việc quy định điều kiện đổ'phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam cũng cổ nhiều điểm tương đồng và thể hiện xu thế phát triển tất yếu của pháp luật dân sự hiện đụi
Cạ thể, trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi
có chi những yếu tố (điều kiện) sau: có thiộí hại có hành vi trái phấp luật của người gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái nháp luật và hậu quả xảy ra, người gây thiệt hại có lỗi Xem xét khoa học, íỉ mỉ các điều
Trang 39kiện này tạo thuận lợi cho việc giải q u y ế t đúng yêu cầu b ổ i thường đ ặ t ra giữa các bên.
Trước hết, cần đề cập đến yếu tố "thiệt hại".
2.1.1 Có thiệt hại xảy ra:
Là một yếu tố cấu thành cơ bản của trách nhiệm bổi thường thiệt Tiại ngoài họp đổng, thiệt hại được coi là điều kiện bắt buộc và là tiền đề để quyết định
có phát sinh trách nhiệm bổi thường hay không Nó khác với trách nhiệm hình
sự vì trách nhiệm hình sự được đặt ra do tính chất nguy hiểm của hành vi có
khả năng gây hậu quả mà phải chịu trách nhiệm hình sự, còn đối với trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài họp đồng chỉ cần có thiệt hại, mặc dù thiệt hại không nghiêm trọng nhung người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường
Thông thường "thiệt hụi" được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất
hay linh thần của một người do có sự kiện gây thiệt hại của người khác được xác định bằng m ột khoản tiền cụ theẠThiệt hại đổng thời m ang ý nghĩa pháp
lý và xã hội Nhìn từ góc độ xã hội, thiệt hại động chạm và làm ảnh hường đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ C ò n 4 ó c độ pháp lý của thiệt hại,
tự nó nói lên một điều rằng: hành vi trái pháp luật đã làm hư hỏng hoặc hủy hoại tài sản, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, pháp nhân cũng như Nhà n ư ớ c /ý nghĩa này làm cho thiệt hại trở thành tiền đề quan trọng để xác định trách nhiệm bổi thường ngoài hợp đồng, v ả lại, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự trước hết và cơ bản vẫn là quan hệ về tài sản.Cho nên, pháp luật dân sự quy định những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại, thì phải đặt ra trách nhiệm bồi thường là hoàn toàn hợp ỉ ý vì hành vi
đó de dọa những điều kiện tồn tại bình thường của các quan hệ xã hội Nhưng cũng cần phải thấy rằng, tính chất của thiệt hại phải như thế nào mới đặt ra bồi thường thiệt hại Yêu cầu đầu tiên đối với nhà làm luật và cán bộ áp dụng luật khi đánh giá một thiệt hại làm cư sỏ' cho quy trách nhiệm bồi thường là phải nhìn nhân thiệt hại m ột cách khách quan và không được suy diễn chủ quan
Trang 40Có xảy ra thiệt hại,'có thể trị giá được bằng tiền (nếu là thiệt hại vật chất - tài sản) và tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm bị xâm hại (nếu là thiệt hại tinh thần) thì mới đặt ra trách nhiệm bồi thường Pháp luật dân sự phân chia các thiệt hại thành thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần để tiện cho việc xác định và tính toán giải quyết bổi thường vì bản thân hai loại thiệt hại này có những đặc điểm riêng của nó Vậy, khoa học pháp lý quan niệm như th ế nào
về thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần
+ Trước hết, nói về thiệt hại vật chất:
'Theo Thông tư 173 - ƯBTP/TANDTC (23/3/1972) trước đây, thiệt hại vật chất (thiệt hại tài sản) là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất có thể tính toán được thành một số tiền nhất định, bao gồm các khoản
- Nhũng hư hỏng, mất mát về tài sản.
- Những chi phí phải bỏ ra (như chi phí để ngăn chặn, hạn chế hoặc khắc phục thiệt hại như tiền thuốc, tiền điều trị, tiền mai táng phí, tiền sửa chữa tàisản
thiệt hại sẽ thu được nếu không xảy ra việc gây thiệt hại Thu nhập không thuđược bao gồm thu nhập bị mất và thu nhập bị giảm sút
Đề cập đến thiệt hại, Điều 612 Bộ luật dân sự đã xác định cụ thể thiệt hại
về tài sản như sau: "Trong trường họp tài sản bị xâm phạm , thì thiệt hại được bồi thường bao gồm tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị h ư hỏng, lợi ích gắn liên với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi p h í họp lý đ ể ngăn chặn và khắc
ợ phục thiệt hại" Từ việc xác định thiệt hại trên đây, khoản 2 Điều 310 đã xác
định trách nhiệm bổi thường thiệt hại về mặt vật chất (trách nhiệm tài sản) là
'trách nhiệm bù đắp tôn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây ra, bao gồm tổn thất v ề tài sản, chi p h í ngăn chặn, hạn c h ế thiệt hại, thu nhập thực t ế bị mốt, bị giảm sú t".